Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
Phân trang 53/100 Trang đầu Trang trước [51] [52] [53] [54] [55] [56] [57] [58] [59] [60] Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
Mùa đông do thời tiết lạnh, con người hay mắc các loại bệnh lây nhiễm như cúm, bệnh về đường hô hấp hay cảm lạnh... Để hạn chế nguy cơ mắc bệnh mùa đông, các chuyên gia MSS vừa giới thiệu 9 cách phòng tránh đơn giản và hiệu quả.

 
1. Duy trì cuộc sống tích cực

Khi điều kiện xung quanh bất lợi, virus, vi khuẩn và các môi chất gây bệnh phát triển, dễ lan truyền từ người sang người thì việc phòng bệnh đóng một vai trò quan trọng.

Những người có cuộc sống tích cực, lạc quan, ưa hoạt động, ăn uống khoa học là nhóm có hệ thống miễn dịch tốt, ít mắc bệnh hơn.

Ngược lại, những người có cuộc sống thiếu khoa học, lười vận động, ăn uống không cân bằng, không đủ chất, ưa thực phẩm khoái khẩu, chất kích thích, sống u sầu, lúc nào cũng buồn rầu chán nản là nhóm dễ mắc bệnh và khi mắc bệnh còn làm cho những người khác trong gia đình bị lây bệnh theo.  

2. Tăng cường thể dục

Theo nghiên cứu mới nhất đăng tải trên tạp chí y học AJM do các chuyên gia ở Trung tâm Y khoa Fred Hutchinson ở Seatle, Mỹ thực hiện ở 115 phụ nữ, một nhóm tập thể dục 45 phút ngày, 5 ngày/tuần và nhóm tập 45 phút, tần suất 1 lần/tuần trong thời gian kéo dài 1 năm.

Kết quả nhóm đầu giảm được nguy cơ mắc bệnh cảm lạnh, cúm tới 4 lần so với nhóm sau.

Ngoài luyện tập, việc duy trì cuộc sống hoạt động còn có nhiều tác dụng khác giúp con người minh mẫn, năng động và làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa.

Ngược lại, nếu duy trì cuộc sống tĩnh tại, ngại vận động sẽ làm cho cơ thể nặng nề, chậm chạp và phát sinh nhiều căn bệnh nan y vào cuối đời.

3. Rửa tay thường xuyên

Đây không chỉ là cách tốt nhất hạn chế các loại bệnh lây nhiễm mà còn được xem là một cuộc cách mạng lớn nhất trong lĩnh vực y học của nhân loại trong những năm gần đây, nhất là khi các loại bệnh lây nhiễm đang có chiều hướng gia tăng.

Một nghiên cứu đăng tải trên tạp chí y học của Anh BMJ số ra gần đây cho thấy, việc rửa tay thường xuyên còn có tác dụng tốt hơn cả các loại thuốc kháng virus mà con người đang sử dụng.

Nhưng để đảm bảo hiệu quả phải rửa tay bằng xà phòng hoặc xà phòng diệt khuẩn với thời gian trên 20 giây/lần, nhất là sau hoặc trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi ho hắt hơi hoặc dùng các môi chất gây bệnh hoặc tiếp xúc trực tiếp với những người đang mắc bệnh, đang điều trị như các nhân viên y tế làm việc trong các bệnh viện hoặc các cơ sở y tế, trung tâm dưỡng lão, chăm sóc người thiểu năng v.v...

4. Tăng cường ăn sữa chua

Theo nghiên cứu của các chuyên gia ở ĐH California Mỹ (UOC), các probiotics (các vi khuẩn có ích cho cơ thể, nhất là hệ tiêu hóa) được xem là rất hữu ích giúp cho hệ thống miễn dịch cơ thể tấn công lại virus, vi khuẩn hoặc các tác nhân gây bệnh cảm cúm, cảm lạnh cũng như các loại bệnh thường gặp trong mùa đông.

Qua nghiên cứu ở các vận động viên được bổ sung probiotics, các chuyên gia ở UOC phát hiện thấy nhóm được tăng cường probiotics đã làm giảm được một nửa nguy cơ mắc các loại bệnh về đường hô hấp so với những người không được bổ sung.

Tuy nhiên để mang lại lợi ích thì mức bổ sung probiotics phải đạt từ 1-10 tỷ đơn vị (gọi theo chuyên môn là CFUs), trong đó sữa chua là nguồn thực phẩm giàu probiotics nhất.

5. Tăng cường ăn bông cải xanh

Bông cải xanh, bắp cải, cải xoăn và nhóm rau xanh dạng mầm, lá thẫm hoặc các loại quả có màu sáng là nhóm thực phẩm có chứa nhiều dưỡng chất, giúp cơ thể khỏe mạnh, hệ thống miễn dịch làm việc tốt, ngăn ngừa các nguy cơ gây bệnh do các gốc tự do hoặc các phản ứng bất lợi gây ra.

Nên ăn thường xuyên, đặc biệt là các loại rau được trồng bằng phương pháp hữu cơ, không dùng hóa chất, thuốc trừ sâu mà người ta quen gọi là rau sạch.

6. Liệu pháp thảo dược

Mới đây các nhà khoa học ở Ontario, Canada đã kết thúc một nghiên cứu khoa học và phát hiện thấy các loại thảo dược, thuốc nam, thuốc bắc mà người châu Á thường dùng có tác dụng rất tốt trong việc tăng cường hệ miễn dịch, hạn chế các loại bệnh phát triển trong mùa đông.

Ví dụ như nhân sâm sử dụng ngay sau khi có triệu chứng phát bệnh sẽ có tác dụng tích cực hoặc sử dụng các loại dược thảo dùng trong nước uống, xông hơi cũng có tác dụng tốt đối với các loại bệnh cảm cúm.

Sử dụng các loại rong biển cũng là giải pháp phòng bệnh tốt. Mới đây, các nhà khoa học Đức đã kết thúc một nghiên cứu và phát hiện thấy loại tảo xanh có tên là Spirulina có chứa rất nhiều hợp chất chữa bệnh như kẽm, vitamin C, chất chống ô xi hóa, chất chống viêm nhiễm.. và nếu dùng dài kỳ sẽ tăng cường sức khỏe hệ miễn dịch và giảm thiểu các loại bệnh cảm cúm.

Hiện nay người ta đang nghiên cứu, sản xuất các loại thuốc chữa bệnh từ loại tảo này.

7. Bổ sung vitamin D

Các nhà khoa học Phần Lan vừa công bố nghiên cứu mới về Vitamin D và phát hiện thấy những người cơ thể có hàm lượng vitamin D thấp thường có tỷ lệ mắc các loại bệnh về đường hô hấp cao gấp 1,5 lần so với những người được bổ sung đầy đủ nguồn dưỡng chất này. Cũng trong thời gian trên các chuyên gia ở bệnh viện ĐH Winhorop (Mỹ) cũng kết thúc nghiên cứu về tác dụng của vitamin D đối với bệnh xương, cảm cúm ở những người phụ nữ gốc Phi.

Những người tình nguyện tham gia nghiên cứu được chia thành 2 tốp, một nhóm bổ sung vitamin D tới 2.000 IU (đơn vị quốc tế)/ngày và nhóm kia dùng giả dược để đối chứng.

Kết quả nhóm đầu giảm được trên 3 lần nguy cơ mắc bệnh về xương, cảm cúm so với nhóm dùng giả dược (placebo). Tại Canada hiện nay người ta khuyến cáo nên bổ sung 200 IU/ngày cho người lớn dưới 50 tuổi và 400 IU cho người trên 50 tuổi.

8. Tăng cường thực phẩm giàu vitamin nhóm B

Chúng ta đã nghe thấy nói đến việc tiêm vitamin B12 để tăng cường sức khỏe cho hệ miễn dịch nhưng đến nay chưa hề có bằng chứng nào chứng minh được điều này là tối ưu.

Vì vậy mà các nhà khoa học cho rằng chỉ cần ăn uống thực đơn khoa học có đủ vitamin nhóm B là có thể giúp cơ thể khỏe mạnh còn việc tiêm B12 là không cần thiết, đôi khi còn gây tốn tiền.

9. Tiêm phòng vắcxin đầy đủ

Mặc dù việc tiêm chủng vắcxin mới chỉ đạt mức hiệu quả ngừa bệnh 80% nhưng công bằng thì đây vẫn là liệu pháp ngăn ngừa bệnh tốt nhất hiện nay, đặc biệt là nhóm người có sức đề kháng kém như mắc các loại bệnh mãn tính, trẻ em, người già, phụ nữ có thai, vì vậy để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh mùa đông, đặc biệt là các loại bệnh lây lan thì việc tiêm phòng vắcxin là hết sức cần thiết.

Nên tiêm đủ liều, đúng lịch và tiến độ theo quy định của chuyên môn.

Khắc Nam - home.vnn.vn

[b]Địa chỉ khám chữa bệnh bằng đông y[/b]: http://thaythuoccuaban.com
Tại sao có chuyện "trên bảo dưới không nghe"?

Cơ chế sinh lý của hiện tượng cương: Là quá trình giãn nở các động mạch nhỏ trong thể hang và thể xốp để tống máu vào các xoang hang của dương vật, khi máu dồn về xoang hang nhiều làm tăng áp lực lên các tĩnh mạch hang làm cho máu ứ lại và không thoát ra được gây nên hiện tượng cương. Sau đạt được khoái cực, các cơ trơn và động mạch của xoang hang bị co lại, sự co lại này giúp tống dần máu ra khỏi xoang hang và dẫn tới hiện tượng xìu. Quá trình cương là sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ chế thần kinh nội tiết sinh hóa, tâm lý...

Quá trình này hoạt động một cách bài bản và trơn chu nên bình thường "trên bảo dưới nghe", khi bị trục trặc tức "trên bảo dưới không nghe" sẽ dẫn tới rối loạn cương (RLC).

Và việc dùng thuốc...

Các thuốc chữa rối loạn cương dương đều tác động vào ít nhất một trong những cơ chế trên gồm có:

Nhóm tác động lên cơ chế thần kinh tâm lý: Nhóm này gồm các thuốc đã được sử dụng từ lâu. Đó là các loại thảo dược và đông dược có tác dụng làm cương dương vật qua việc tăng hưng phấn thần kinh, tăng sản xuất hormon và bổ sung các acid amin cho quá trình cương là: nhân sâm, linh chi, đông trùng hạ thảo, dâm dương hoắc, cá ngựa, bìm bìm... Chế phẩm điển hình tham gia vào nhóm này là apomorphine (uprima), chúng kích thích sản xuất dopamin vùng dưới đồi. Người ta cho rằng việc ra tăng dopamin ở vùng này sẽ gia tăng đáp ứng tình dục. Thuốc có chế phẩm viên nén và dạng nhỏ giọt ngậm dưới lưỡi. Dạng này có tác dụng nhanh chỉ sau 5 phút tác dụng kéo dài khoảng một tiếng nhưng qua sử dụng cũng như thử nghiệm trên diện rộng uprima cho thấy hiệu quả trên quá trình cương không cao nên hiện nay cũng ít được dùng.

Nhóm ức chế PDE5: Có thể nói đây là nhóm thuốc ra sau cùng và có tác động tốt nhất, cho tới tận bây giờ thì vẫn chưa có thuốc nào sánh được nhóm thuốc này. Phiên bản đầu tiên được thương mại hóa và đưa ra thị trường là sildenafil với tên biệt dược là viagra ra đời năm 1998, là một cuộc cách mạng trong điều trị bệnh RLC. Chỉ 5 năm sau một loạt phiên bản khác lần lượt được ra đời là vardenafil và tadalfil với tên thương hiệu tương ứng là levitra và cialis. Các dòng sau khắc phục được tác dụng phụ của sildenafil trên tim và mắt vì chúng chỉ tác động chú trọng vào PDE5 mà rất ít tác động tới PDE6 (hiện diện nhiều ở mắt) và PDE3 (hiện diện nhiều ở tim). Hai thuốc ra sau này còn có tác dụng nhanh và kéo dài hơn. Tác dụng phụ của nhóm này là đỏ mặt, đau đầu thoáng qua, ngạt mũi, rối loạn thị giác thường không phân biệt được màu xanh và màu lam, không nên dùng các thuốc này trên người có bệnh mạch vành và những người đang dùng các thuốc giãn mạch vành vì nếu dùng sẽ làm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và làm cho tổn thương trầm trọng hơn.

Nhóm giãn mạch ngoại vi: Bao gồm caverject (alprostadil), prostaglandin E1, phetolamin... Trước khi viagra ra đời các thuốc nhóm này được các bác sĩ niệu khoa dùng khá phổ biến. Chúng có hai dạng chính là dạng đặt niệu đạo và tiêm trực tiếp vào vật hang. Ngoài ra, thuốc này còn được dùng vào việc chẩn đoán nguyên nhân RLC (loại trừ nguyên nhân do yếu tố mạch máu). Nhược điểm của nhóm này, bệnh nhân không tự dùng được mà phải đến nhân viên y tế tiêm hoặc đặt cho, hơn nữa thời gian tác dụng nhanh và mất tác dụng cũng nhanh (caverject tác dụng cương sau 5 phút và hết tác dụng trong vòng một giờ, trong khoảng thời gian một giờ trên bệnh nhân lúc nào cũng cương cứng dù không có kích thích tình dục). Tác dụng phụ dễ bị viêm loét niệu đạo, gây cương đau, xơ hóa vật hang, đặc biệt là cương đau dương vật kéo dài. Đây là một cấp cứu ngoại khoa - tiết niệu, yêu cầu phải xử trí trước 6 tiếng nếu không sẽ bị tổn thương vật hang không hồi phục... Chính vì thế mà hiện nay nhóm thuốc này ít được sử dụng.

Nhóm nội tiết: Bổ sung testosteron trực tiếp và gián tiếp thông qua hormon tuyến yên LH (chế phẩm là pregnyl dùng tiêm bắp có tác dụng tăng sinh testosteron nội sinh). Dòng testosteron bổ sung hiện nay có nhiều loại: Dạng testosterone dùng ngoài da dán vào da bìu, dạng xoa vào da bụng và bẹn (androgel 50mg). Tuy nhiên, tác dụng phụ là dễ bị kích ứng da nhưng ưu điểm của thuốc này là chúng hấp thu vào máu và không đi qua gan do đó không bị chuyển hóa ở gan nên bảo tồn được tác dụng của testosteron. Dạng đường uống gồm nhiều loại: provironum (mesterolon), andriol... thuốc bị chuyển hóa qua gan nên giảm tác dụng đáng kể. Dạng tiêm cũng có nhiều loại testosteron tác dụng nhanh (testosteron propionat, testosteron phenylpropionate...) hay tác dụng kéo dài (nandrolone decanoate, nandrolone phenyl propionate biệt dược durabolin, decadurabolin), hay nhóm hỗn hợp các dòng testosteron như sustanon tiêm bắp sâu có tác dụng trong vòng 3 tuần.

Nhược điểm của việc sử dụng testosteron vào điều trị RLC là làm giảm sự sản sinh tinh trùng nên điều này phải cân nhắc đến việc điều trị cho những người còn muốn có em bé, nguy cơ phì đại tiền liệt tuyến...

BS. Nguyễn Bá Hưng-(suckhoe&doisong)
Để phòng căn bệnh nguy hiểm này, chúng ta cần thay đổi thói quen xấu trong sinh hoạt; hạn chế đưa vào cơ thể những chất gây ung thư...
Những điều cần tránh

1. Điều trước tiên được nhắc đến nhiều nhất là tránh hút thuốc lá, vì chất 3 - 4 benzopyren trong khói thuốc có thể gây ung thư phổi, ung thư thận, ung thư bàng quang.

2. Kế tiếp là không lạm dụng rượu.

3. Việc sử dụng liên tục thuốc ức chế tiết acid dạ dày, hoặc thói quen uống nước, ăn thức ăn còn quá nóng, đều có thể gây ra ung thư đường tiêu hóa.

4. Tiếp nữa cũng cần hạn chế các thức ăn được bảo quản bằng diêm tiêu (muối nitrat, nitrit) như thịt muối... Vì nitrat, nitrit cùng những sản phẩm phân hủy của nó có khả năng kết hợp với một số chất trong cơ thể tạo ra nitrosamin - là chất đã bị "kết án" gây ung thư.

5. Không dùng các thực phẩm có lượng 3 - MCPD vượt quá mức cho phép.

6. Cũng cần biết, các loại thịt quay, thịt nướng ở nhiệt độ cao bị cháy khét, khi đó lớp dầu mỡ trên thịt rơi xuống lửa sẽ bị đốt cháy tạo ra chất benzopyren có khả năng gây ung thư tuyệt đối không nên ăn!

7. Các loại bánh tiêu, dầu cháo quẩy, bánh cay, bánh phồng tôm, các món ăn được chế biến bằng dầu đã dùng nhiều lần sẽ sản sinh chất glycerol gây ung thư. Món nhiều người thường dùng là bò bíp tết, có một lượng rất ít dầu mỡ luôn còn đọng trên khay đầu bò do các quán đông khách, bán liên tục, rửa không sạch hết, chúng bị cháy nhiều lần cũng dễ tạo chất sinh ung thư.

8. Trong dịp Tết, khi bánh chưng đã mốc nhiều người tiếc rẻ đem cắt bỏ lớp ngoài bị mốc, phần còn lại đem chiên ăn cứ ngỡ rằng quá an toàn nhưng độc tố aflatoxin từ nấm mốc đã thấm vào cả bánh và đặc biệt nó không bị phân hủy ở nhiệt độ cao khi chiên, nên khi ăn xong nó sẽ vào tận gan, dạ dày và gây ung thư tại đó. Ngoài ra độc tố này cũng rất thích cư ngụ trên đậu phộng nên trước khi ăn, chúng ta cần quan sát kỹ xem có mốc không.

Cần làm

1. Thường xuyên dùng các loại rau củ quả tươi, trái cây, nhưng phải sạch không có dư lượng thuốc trừ sâu, chất bảo quản.

2. Sau khi sử dụng nồi, xoong, chảo cần phải cọ rửa sạch, để loại bỏ lớp dầu mỡ còn đọng lại ở dụng cụ qua lần dùng sau sẽ dễ tạo nên những độc chất gây ung thư.

3. Khám sức khỏe định kỳ có thể tầm soát, phát hiện sớm một số bệnh ung (50% số bệnh nhân ung thư có thể điều trị khỏi nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng cách).

4. Nên thường xuyên vận động cơ thể, tập dưỡng sinh điều độ nhằm tăng sức đề kháng cho cơ thể, chống chọi bệnh tật nói chung và ung thư nói riêng…

BS Tấn Hưng - (thanhnien.com.vn)
Trong gia đình ong mật gồm có ong chúa, ong thợ, ong đực (còn gọi là ong rối). Công việc đặc biệt nhất của ong là kiếm mật hoa và phấn hoa, nhồi đầy vào cái dạ dày thứ hai của mình, mang về tổ để cho các nàng ong thợ ở nhà "tôi luyện" trong cái miệng của mình thành ra một thứ mật rất ngọt và sánh đặc như sirô, sẽ được chứa đầy trong các ngăn và vít kín bằng một thứ sáp mầu trắng, là thức ăn dự trữ cho cả đàn vào những ngày đông tháng giá. Ngoài ra, chúng lại còn có một nhiệm vụ quan trọng như một vú em, nghĩa là từ tuyến họng của ong thợ, sẽ tiết ra một chất đặc biệt có màu trắng như sữa và sền sệt như kem, với lượng rất nhỏ, song có chất lượng dinh dưỡng rất cao, được dùng cho việc nuôi dưỡng các ấu trùng (mầm non của ong thợ sau này) và ong chúa. Tuy nhiên, ong thợ cũng chỉ được phép sử dụng trong có 3 ngày đầu của cuộc đời ngắn ngủi 4-6 tuần lễ của mình, còn ong chúa thì được chăm bẵm suốt cả một cuộc đời dài tới 5-6 năm. Cũng với lý do đó mà người ta gọi cái chất đặc biệt này là sữa ong chúa.
Thường những cái gì hiếm thì rất quý, sữa ong chúa cũng theo quy luật đó. Để có khoảng 100g sữa ong chúa, người ta phải thu gom từ vài trăm tổ ong mật một lần. Tuy nhiên ngày nay với phương pháp nuôi ong hiện đại, người ta đã tạo sẵn các gốc mũ chúa để lũ ong thợ nhanh chóng hoàn thành tiếp phần còn lại. Con người sẽ giúp chúng cấy vào đó các ấu trùng để rồi hàng ngày chúng tiếp tục tiết sữa vào đó. Và như vậy sẽ thu hoạch chúng được nhiều hơn. Nếu cứ 2-3 tuần thu một lần ở một tổ ong mật thì con số đó cũng có thể được tới vài kg trong một năm. Khi tiến hành thu hoạch sữa ong chúa, những tiêu chuẩn kỹ thuật cần được đặt ra mới có thể đảm bảo được chất lượng của nó. Chẳng hạn, người ta phải tuân thủ một quy trình nghiêm ngặt, như sau khi thu hoạch, sữa cần được bảo quản ngay ở điều kiện lạnh, tránh ánh sáng để tránh bị ôxy hóa và tuyệt nhiên sữa ong chúa không được mốc, không được có mùi chua... Vì sữa ong chúa chứa rất nhiều chất bổ, rất giàu protein và acid béo, ngoài ra rất nhiều vitamin: B5, B1, B2, C...  các nguyên tố vi lượng: đồng, kali, sắt, can xi... là những chất rất bổ ích và cần thiết cho sức khỏe của con người.
Dùng sữa ong chúa, con người bắt chước thiên nhiên
Phải nói, loài người có ưu thế đặc biệt về việc bắt chước thiên nhiên để phục vụ cho bản thân mình. Khi quan sát một đàn ong mật, ngoài các loại ong, có dáng dấp về thể hình sàn sàn như nhau ra, suốt ngày tất bật, vội vã với công việc, người ta còn phát hiện ra một con ong chúa, có thân hình to lớn nhất đàn, có chiều dài thân đến 20 - 25mm, có dáng dấp bệ vệ, tư thế khoan thai, thanh thản, trong bộ cánh ngắn màu mận chín, suốt ngày lại được cung phụng bởi một món ăn tuyệt hảo là sữa ong chúa. Và chính thứ thức ăn này đã làm cho ong chúa khỏe mạnh và trường thọ, lại có những nhu cầu đặc biệt về chuyện "chăn gối". Con người cũng đã thử nghiệm thứ thức ăn đặc biệt này cho chính mình và điều kỳ diệu đã đến. Đó là sữa ong chúa có tác dụng làm tăng khả năng tình dục và sinh sản, cải thiện khả năng bất lực của phái mày râu, làm gia tăng số lượng và chất lượng của tinh trùng. Ngoài ra, nó  còn thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát dục của cơ thể, nâng cao sức đề kháng, chống lão hóa, kích thích tế bào thần kinh, làm cho trí óc minh mẫn, làm tăng cường trí nhớ, tăng khả năng tư duy, làm giảm đi các triệu chứng của bệnh Parkinson, hỗ trợ trong điều trị bệnh ung thư, chống phóng xạ, có tác dụng tiêu viêm và kháng khuẩn.
Sữa ong chúa có thể dùng cho nhiều lứa tuổi
Là một chất bổ có nguồn gốc tự nhiên, sữa ong chúa có thể sử dụng được cho nhiều lứa tuổi khác nhau,  từ trẻ em chậm lớn (cũng cần nói rõ thêm, với trẻ sơ sinh hoặc thanh thiếu niên bình thường thì không nên dùng để tránh khả năng bị kích dục sớm) đến các trường hợp người già có sức khỏe yếu, đặc biệt là các đấng nam nhi thường hay bị phu nhân phàn nàn về "chuyện ấy", hoặc "muộn mằn" vì quân số của "bọn đàn em” yếu và không đủ. Hãy dùng sữa ong chúa mà đa phần là chế phẩm có sữa ong chúa. Vì sữa ong chúa sẽ giúp cho bạn mạnh mẽ và đông đủ số tinh trùng mà bạn cần thiết. Có nhiều chế phẩm từ sữa ong chúa, sữa ong chúa chế với mật ong, sữa ong chúa chế với nhân sâm, với dầu gấc... song có lẽ dạng rượu vẫn là thứ làm cho bạn hài lòng hơn cả. Chỉ cần một tỷ lệ không lớn, độ 1% sữa ong chúa trong hỗn hợp mật ong (100g) và 1 lít rượu 30 - 35 độ, lắc đều trước khi dùng. Ngày 2-3 lần, mỗi lần độ 30-50ml, uống liền 3-4 tuần lễ vào trước các bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ. Ngoài ra, các người bị đái tháo đường, cholesterol máu cao, tăng huyết áp vẫn có thể sử dụng được sữa ong chúa.  

GS.TS. Phạm Xuân Sinh (suckhoe&doisong)

Vị thuốc tăng cường sức khoẻ nam giới
Nghiên cứu mới phát hiện trong dưa chuột có chất cucurbitacin C có tác dụng chống viêm và ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư.

Dưa chuột tính mát, vị ngọt, tác dụng giải nhiệt trừ thấp, lợi thủy, thông ruột, giải độc, thích hợp cho các chứng bệnh người nhiệt sinh khát, tiểu tiện khó, họng sưng đau, bỏng nước, lửa, rôm sảy. Trong dưa chuột có chứa vitamin A, B1, B2, C và các chất vi lượng như sắt, mangan, iod...

Dưa chuột tươi, non thường nhiều nước (95%), ít calo, nhiều chất xơ, ít chất mỡ và có chỉ số gây chán ăn rất cao nên  tác động gây chán ăn rất hữu hiệu theo cơ chế tự nhiên, vì vậy là loại thức ăn lý tưởng cho những người muốn giảm cân.

Đặc biệt, các công trình nghiên cứu của Nhật Bản đã phân tích về chỉ số nhai của hơn một trăm loại thức ăn thông dụng, trong đó dưa chuột là một trong những thức ăn thiết yếu nhất của sự nhai.

Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phóng thích histamin và gây chán ăn, giúp làm giảm mỡ bụng. Ngoài ra, dưa chuột còn có chất có thể ức chế sự chuyển hóa đường thành mỡ trong cơ thể, người béo ăn nhiều dưa chuột rất có lợi.

Dưa chuột chứa nhiều chất xơ, có thể thúc đẩy nhu động ruột, tăng khả năng bài tiết chất cặn bã trong ruột. Ăn nhiều dưa chuột có thể giúp cho đại tiện dễ dàng.

Dưa chuột là một thức ăn bổ dưỡng khi còn vỏ. Ảnh: Bepgiadinh

Nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy, dưa chuột có chứa cucurbitacin C. Điều khác biệt giữa chất cucurbitacin trong dưa chuột với các loại bí rợ khác là cucurbitacin ở đó là một chất độc có vị đắng, thuộc loài triterpen, không nên ăn vì có thể gây ngộ độc.

Nhưng chất cucurbitacin C trong dưa chuột lại là một chất không độc, có tác dụng chống viêm và đặc biệt còn có tác dụng ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư.

Dưa chuột chỉ thực sự là một thức ăn bổ dưỡng... khi còn vỏ. Vỏ dưa chuột chứa rất nhiều chất phenolic - đây là những chất có tác dụng chống oxy hóa mạnh - chất kháng khuẩn, tiêu viêm, tăng cường khả năng chống bệnh của bạch cầu.

Ăn liên tục dưa chuột cả vỏ có tác dụng nhất định, chống cảm nhiễm đường hô hấp. Vì vậy, nếu dưa chuột được trồng bảo đảm, ăn cả quả rất có lợi cho sức khoẻ.

Theo những nghiên cứu gần đây, nước ép dưa chuột có thể hoà tan axit uric và muối urat nên có tác dụng lợi tiểu, bài sỏi, phòng chống bệnh thấp khớp, thống phong, đồng thời còn là một vị thuốc an thần, giảm sốt, chữa một số bệnh ngoài da như nứt nẻ da, tàn nhang, nếp nhăn... nên có giá trị như một loại mỹ phẩm.

BS Vĩnh Phúc - Bee.net.vn
Tham khảo thông tin chữa bệnh tại địa chỉ
Sỏi thận tiết niệu là bệnh lý rất thường gặp, do nhiều nguyên nhân gây nên. Trong thực tế lâm sàng thường phát hiện muộn nên nhiều biến chứng. Nguyên nhân tạo ra sỏi có nhiều nhưng trong đó có một lý do quan trọng là việc không đủ lượng dung dịch hòa tan các chất cặn bã hữu cơ và vô cơ đường tiết niệu. Vì vậy các chất này tích tụ lại và hình thành nên các viên sỏi.

Khi thiếu nước dễ tạo ra sỏi thận

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Uống nhiều nước phòng tránh sỏi thận.

Khi máu đi qua thận, máu đến cầu thận và nước sẽ thấm qua mạch máu vào khoang nhỏ gọi là khoang Bowman. Tại đây nước được chảy vào hệ thống ống thận dày đặc. Một phần nước sẽ được tái hấp thu lại, phần khác tiếp tục đi vào đường ống. Cuối cùng chúng được đổ vào một bể lớn gọi là bể thận, sau đó, từ thận nước tiểu được dẫn xuống bàng quang bằng một ống gọi là niệu quản, và từ bàng quang nước tiểu sẽ được thải ra ngoài qua niệu đạo. Quá trình tạo ra nước tiểu vô cùng phức tạp và có sự tham gia của rất nhiều yếu tố lý, hóa, thần kinh. Khi nước tiểu được tạo ra, chúng hòa tan các chất độc và “làm trôi” các chất cặn bã trên đường đi. Vì một lý do nào đó, số lượng nước không đủ hay có sự ứ trệ trên đường đi, các chất cần thải loại sẽ lắng lại, tích tụ theo thời gian và tạo thành sỏi.

Sỏi  hệ thống tiết niệu là  một cấu trúc phức tạp dạng rắn được tạo ra từ các chất vô cơ như calci, phospho và hữu cơ như ammonium, urat... cấu tạo của viên sỏi là một cấu trúc theo từng lớp đồng tâm. Sỏi tiết niệu có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng được phát hiện nhiều nhất là khoảng từ 20 đến 50 tuổi. Sỏi tiết niệu có thể gặp ở mọi vị trí trên đường đi của hệ thống tiết niệu. Có thể phân chia vị trí như sau: sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang, sỏi niệu đạo. Tuy nhiên, từng đoạn cũng lại qui định chi tiết hơn như ở thận có sỏi nhu mô thận, sỏi bể thận; ở niệu quản là sỏi 1/3 trên, sỏi 1/3 giữa, sỏi 1/3 dưới. Có thể chỉ bị sỏi ở một vị trí nhưng cũng có thể sỏi ở nhiều vị trí. Các loại sỏi: sỏi calcium oxalate: hay gặp nhất, gặp nhiều ở người trưởng thành hơn những người có sỏi calci thường có vấn đề tăng calci niệu và có liên quan tới yếu tố di truyền, bệnh tuyến cận giáp, mắc bệnh gút, các bệnh đường ruột, béo phì và bệnh thận. Sỏi struvite: cấu tạo bởi magne và ammoni. Thường thứ phát do nhiễm khuẩn  tiết niệu.  Đặc biệt là những người dẫn lưu ống thông đường niệu kéo dài. Sỏi uric: do biến loạn chuyển hóa làm tăng acid uric trong nước tiểu, sỏi cystine. Hiếm gặp, cấu trúc sỏi là amino acid cystine, đây là bệnh có tính di truyền.

Phòng tránh sỏi thận bằng cách uống nhiều nước

Sỏi niệu quản.
Để phòng tránh sỏi thận vì vậy phải uống thật nhiều nước. Nước được cung cấp đủ sẽ không chỉ làm máu lưu thông tốt hơn, hòa tan các chất mà còn làm nhiệt độ cơ thể được điều hòa tốt hơn đặc biệt trong mùa hè oi bức. Hơn thế nữa nó giúp thải trừ các chất cặn bã để ngăn ngừa bệnh tật. Nếu tính theo hoạt động bình thường của cơ thể thì lượng nước tiểu khoảng 1.500ml, lượng nước qua đường mồ hôi và đường tiêu hóa khoảng 500-1000ml, như vậy nhu cầu về nước là từ 1.500 đến 2.500 ml mỗi ngày. Nhu cầu này tăng lên hay giảm đi tùy theo tính chất công việc và đặc biệt là theo thời tiết. Tuy nhiên dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, xây dựng cho mình một thói quen uống nhiều nước là vô cùng hữu ích.

Nước uống cần đảm bảo vệ sinh. Trong thực tế có nhiều loại nước có thể sử dụng hàng ngày có lợi cho sức khỏe như các loại nước ép hoặc sinh tố làm từ cà rốt, cà chua, dưa leo, dưa hấu...; nước chanh cam chứa nhiều vitamin C, rất tốt cho da, giúp cơ thể thanh nhiệt, sát khuẩn, trị ho...; nước ngâm từ quả dâu, mơ hay sấu pha. Sữa chua là loại đồ uống không thể thiếu trong mùa hè, nhất là đối với chị em phụ nữ. Mùa hè nóng nực, khi lao động thể lực nhiều có thể thêm chút muối vào nước uống. Nước muối loãng giúp làm cơ thể bớt khát nước hơn và cung cấp muối mất qua mồ hôi.

Không nên uống các loại nước uống nhiều đường, nhất là đối với người béo phì, tiểu đường, tăng huyết áp. Hạn chế sử dụng nước đá vì nó có thể gây hỏng men răng.

Với một số trường hợp đặc biệt cần thận trọng khi uống nước như người bị suy tim, suy thận... chú ý phải hỏi  kỹ bác sĩ điều trị để có một chế độ nước phù hợp.

BS. Nguyễn Vĩnh Hưng (Khoa Thận tiết niệu, Bệnh viện E)

Nguồn: Sức khỏe & đời sống
Theo một cuộc thăm dò mới đây được tiến hành tại Pháp, chúng ta không khỏi giật mình vì sự thiếu hiểu biết của nhiều người đối với bệnh ung thư cổ tử cung.

Dưới đây là trả lời những thắc mắc thường gặp về bệnh ung thư cổ tử cung:



1. Nguyên nhân gây bệnh ung thư cổ tử cung



Ung thư cổ tử cung là do quá trình viêm nhiễm kéo dài (khoảng 20 năm) các loại vi rút nhóm papilloma, còn được gọi là HPV (Human Papilloma vi rút). Loại vi rút này tập trung nhiều nhất vào những năm đầu sau khi quan hệ tình dục lần đầu tiên.



Những loại vi rút này sẽ bị “đánh bật” khỏi cơ thể trong vòng 12 - 24 tháng. Nhưng một số phụ nữ không thể loại bỏ được chúng và đây là nhóm người có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung về sau này.



Vi rút HPV lây lan qua đường tình dục. Không giống các bệnh lây qua truyền qua con đường này, bao cao su không thể bảo vệ nam giới hoàn toàn vì chỉ cần có sự tiếp xúc da với da ở khu vực này là đủ để nhiễm vi rút HPV.



Loại vi rút này có thể truyền từ nữ sang nam và ngược lại.



2. Tác hại của loại vi rút này đối với sức khỏe sau này? Liệu có thể chữa khỏi được hoàn toàn?



Những người mang trong mình vi rút HPV đều có thể phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe trong một thời gian ngắn hay lâu dài.



Trong một thời gian ngắn, loại vi rút này có thể gây ra những vết loét - yếu tố gây ra bệnh ung thư cổ tử cung sau này. Những vết thương này có thể được điều trị rất đơn giản: cắt một phần cổ tử cung. Tuy phương pháp điều trị này đơn giản nhưng nó có thể gây ra những biến chứng đối với phụ nữ sau này, khi mang thai: sảy thai hoặc đẻ non.



Sau khi cắt bỏ một phần cổ tử cung, vi rút HPV vẫn có thể quay trở lại và gây ra bệnh ung thư cổ tử cung sau nhiều năm. Đi khám bác sỹ thường xuyên sau phẫu thuật là điều bắt buộc phải làm.



3. Những tác động bên ngoài nào có thể là nguyên nhân gây nên bệnh ung thư cổ tử cung?



Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây nên căn bệnh này.



Ngoài ra những người mang căn bệnh thế kỷ AIDS hoặc dùng thuốc dành cho những người được ghép tủy.



4. Bệnh ung thử cổ tử cung có di truyền?



Không. Đây không phải loại bệnh di truyền.



5. Triệu chứng lâm sàng và dấu hiệu giúp phát hiện bệnh ung thư cổ tử cung?



Khi có thể chẩn đoán bệnh ung thư cổ tử cung qua cảm quan thì những dấu hiệu lâm sàng rất đa dạng, tùy vào mức độ bệnh, bản chất của bệnh và giai đoạn phát triển của những khối u ác tính.



Những dấu hiệu sớm cho thấy cơ thể mắc căn bệnh này hầu như không có, đặc biệt là giai đoạn đầu (trước khi xuất hiện những khối u). Đôi khi dấu hiệu chỉ là những cơn đau xuất hiện khi quan hệ tình dục hoặc ngay cả lúc không quan hệ.



Khi đã nhìn thấy các khối u thì lúc này sức khỏe của người bệnh đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu khối u lớn, nó sẽ chèn ép các vùng xung quanh và gây ra hiện tượng tiểu buốt, hoặc đi tiểu khó khăn, táo bón...



6. Tuổi nào hay nhiễm vi rút này?



Vi rút HPV xuất hiện nhiều vào những lần quan hệ tình dục đầu tiên. Và theo điều tra, ở độ tuổi từ 20 - 25, khoảng 1/3 các cô gái bị nhiễm loại vi rút này nhưng tỉ lệ tồn tại của loại vi rút này sau 20 - 30 năm chỉ còn 1/10.



7. Nhiễm HPV lâu dài sẽ dễ tử vong?



Đúng. 1/3 phụ nữ mắc căn bệnh này chết vì nó.



Tại Pháp, khoảng 3.000 - 4.000 phụ nữ mắc bệnh ung thư cổ tử cung được phát hiện hàng năm.



8. Phương pháp nào giúp phát hiện ung thư cổ tử cung chính xác nhất?



Để phát hiện bệnh ung thư cổ tử cung, các bác sỹ sẽ cho bệnh nhân đi làm xét nghiệm phụ khoa. Họ sẽ lấy những tế bào ở cổ tử cung của bệnh nhân để làm sinh thiết. Phương pháp này cho phép phát hiện những tế bào bất thường trước khi căn bệnh ung thư đang trong giai đoạn đầu.



Hãy đi khám định kỳ từ năm 25 tuổi (3 năm/lần) để sớm phát hiện căn bệnh này.



9. Tuổi nào nên tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung? Vắc xin bảo vệ được trong bao lâu? Chúng ta có thể tiêm vắc xin này khi đã từng quan hệ tình dục?



Theo thống kê ở Pháp, trung bình các thanh thiếu niên bắt đầu quan hệ tình dục lần đầu tiên vào năm 17 tuổi. Các bác sỹ khuyên họ nên tiêm loại vắc xin này vào năm 14 tuổi, trước khi quan hệ tình dục lần đầu.



10. Có loại vi rút nào khác gây nên bệnh ung thư cổ tử cung?



Vi rút thuộc họ HPV là nhóm duy nhất gây nên bệnh ung thư cổ tử cung: có khoảng 15 loại vi rút HPV.



Mai Dung
Nguồn: dantri
Tôi bị viêm xoang từ lâu có thể tự chữa được không,những thói quen nào là xấu với bệnh viêm xoang? (Nguyễn Sơn)

Trả lời:

Viêm xoang là một bệnh mãn tính, nhưng nếu phát hiện sớm và có cách điều trị phù hợp thì chúng ta hoàn toàn có thể khống chế bệnh này. Sau đây là một vài lưu ý quan trọng với những người bị mắc bệnh viêm xoang.

Xì mũi đúng cách

Xì mũi là phản ứng tự nhiên của cơ thể nhằm tống các chất ứ đọng, giúp lấy lại sự thông thoáng. Động tác này tuy đơn giản, nhưng nếu không đúng cách sẽ rất nguy hiểm vì có thể khiến tình trạng viêm xoang trở nên nghiêm trọng hơn. Mũi luôn tiết ra dịch. Chất nhầy từ các xoang chảy tới mũi cũng chứa dịch. Khi bị kích thích bởi một yếu tố (lạnh – ấm, hơi khí, bụi…), mũi và xoang sẽ tiết ra nhiều dịch đặc hơn, gây ứ đọng.

Để giúp chất nhầy dễ thoát ra ngoài xoang, nên bịt một lỗ mũi, một bên thoáng, hơi cúi đầu, miệng ngậm, thở mạnh ra, xì từng bên một. Đổi bên và làm lại như vậy 2-3 lần cho sạch. Không nên bịt cả hai bên lỗ mũi xì cùng lúc, vì như thế sẽ làm tăng áp suất ở tai trong, đồng thời chất ứ đọng cùng đi ngược vào xoang hay xuống họng, gây viêm họng, viêm khí- phế quản. Khi xì mũi, nên sử dụng khăn hoặc giấy vệ sinh che ở trước lỗ mũi nhằm ngăn các chất xì tung toé, làm bệnh lan truyền (chú ý dùng một lần rồi vứt bỏ).

Xông hơi nóng

Tắm hơi nước nóng dưới vòi hoa sen, mỗi lần khoảng 5-10 phút. Hơi nóng có tác dụng làm thông xoang, thông mũi, cảm giác khó thở, đau nhức, cũng dịu lại. Thực hiện liên tục hằng ngày sẽ đem lại hiệu quả rất tốt.

Ngoài ra, bạn cũng có thể hít hơi nóng (xông hơi)bằng cách mua một ít lá xông, trong đó có bạc hà về nấu, xông cả người haymúc ra một bát lớn nước, hít hơi nóng bốc lên. Chú ýphải trùm kín người, hoặc đầu phủ một khăn tắm lớn, hơi nóng hít vào sẽ nhiều hơn. Khi không mua được lá xông, dùng vài giọt dầu gió, hoặc dầu bạc hà thay thế cũng cho tác dụng tương tự. Khi ấy, nhu động tại nhung mao niêm mạc xoang được duy trì, chất nhờn lưu thông theo đó các xoang dẫn lưu dễ dàng hơn.

Rửa hốc mũi

Bạn nên chuẩn bị một vài lọ nước muối sinh lý 0,9% có bán tại các nhà thuốc để “vệ sinh” hốc mũi hằng ngày, việc này nhằm ngăn vi khuẩn thâm nhập sâu vào xoang trong, gây đau nhức, khó chịu. Nếu có điều kiện thì tự pha một thìa cà phê muối vào hai tách nước ấm, kèm theo một nhóm bicarbonat. Trước hết rót nước muối vào một bát đủ rộng, ngửa đầu ra sau, rồi bịt một bên lỗ mũi, hít nước vào lỗ bên kia, nhẹ nhàng xì mũi ra. Đổi bên và làm ngược lại.

Massage

Ngồi thoải mái trên ghế, xoa nóng hai bàn tay, lấy tay trái xoa vuốt từ phải sang trái vầng trán, đổi bên, mỗi động tác từ 4-5 lần. Sau đó, dùng đầu ngón tay vuốt mạnh từ huyệt ấn đường xuống hai cánh mũi, day nhẹ ngón trỏ 20 lần. Hằng ngày làm 3 lần vào các buổi sáng sớm, trước khi nghỉ trưa và tối.

Thỉnh thoảng, bạn nên massge, đắp nước nóng tại chỗ hai bên sống mũi giữa hai lông mày, có thể đắp khăn mặt nóng lên mắt, trán, hai gò má nếu xoang vùng đó đau.

Chế thuốc từ hoa ngũ sắc

Từ lâu trong nhân dân đã lưu truyền tác dụng chữa viêm mũi xoang của cây hoa ngũ sắc (hoa cứt lợn, cây cỏ hôi, hoa ngũ vị…). Trong cây chứa 0,16% tinh dầu đặc, màu vàng nhạt hay vàng nghệ, mùi thơm dễ chịu. Tinh dầu lại có cadine, caryophyllen, geratocromen, demetoxygeratocromen cùng nhiều thành phần hoá học khác. Chọn cây tươi về ngâm rửa sạch, để ráo, giã nát, vắt lấy nước, tẩm bông. Dùng bông này nhét vào lỗ mũi bên đau khoảng 15-20 phút thì bỏ, để dịch mủ từ xoang và mũi thoát ra ngoài, rồi xì nhẹ nhàng, tránh xì mạnh vì lúc đó mủ trong mũi xoang có thể qua (vòi nhĩ) giữa mũi và tai gây viêm tai giữa cấp.

Để không xảy ra “sự cố” hay các biến chứng khó lường, bạn cần tham khảo ý kiến của thầy thuốc. Hy vọng những cơn đau nhức sẽ không gây phiền toái, khó chịu cho bạn nhiều như trước.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo – không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Chúc bạn mau khoẻ.

“Từ điển Y Dược trực tuyến”

Tham khảo điều trị triệt để bệnh viêm xoang tại: http://www.benhviemxoang.com
Các nhà khoa học Singapore đã tìm ra một biện pháp hữu hiệu làm lành các vết rạn nứt trên đốt sống bằng xi măng sinh học. Dụng cụ cần cho cuộc phẫu thuật là một xi lanh, một kim tiêm, một lượng nhỏ xi măng sinh học, một lượng thuốc gây mê và giảm đau vừa đủ cho 3 ngày. Mỗi ca phẫu thuật chỉ kéo dài 1 giờ. Khi bệnh nhân tỉnh lại cũng là lúc xi măng đã gắn cố định vào vết rạn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Xương của những người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ, ngày một mỏng hơn do chứng loãng xương. Một số trường hợp xương trở nên quá giòn, dễ gãy đến nỗi khi hoạt động mạnh, 1-2 đốt xương sống sẽ bị rạn nứt. Cho đến nay, giải pháp duy nhất đối với các trường hợp rạn đốt sống là dùng thuốc giảm đau và nghỉ ngơi. Nếu có tiến hành phẫu thuật thì tỷ lệ rủi ro cũng rất cao. Lý do là các vết nứt thường xuất hiện ở mặt trước xương sống, phía trong khoang bụng. Nếu mổ từ phía lưng, các bác sĩ phải làm gãy một số xương và đẩy các bộ phận trong khoang bụng sang một bên để tạo khoảng trống cho hoạt động giải phẫu.

Phương pháp điều trị bằng xi măng sinh học khắc phục được hoàn toàn những nhược điểm này. Nhờ công nghệ X-quang hiện đại, các chuyên gia giải phẫu có thể xem xét toàn bộ phần trong của cơ thể. Sau khi xác định vết nứt mà không làm ảnh hưởng đến các dây thần kinh dọc xương sống cũng như các bộ phận trong khoang bụng, họ tiêm một lượng nhỏ xi măng để gắn vết rạn. Sau khi gắn kết, xi măng sẽ là phần đệm đỡ phần xương bị nứt. Thành công của phương pháp này có thể giúp cho hàng trăm người già thoát khỏi sự hành hạ của bệnh đau lưng mỗi năm.

Đã có 36 ca phẫu thuật theo hướng này được thực hiện thành công ở Singapore. Gần đây nhất là cụ bà Tim Woon Yee 91 tuổi, được 2 bác sĩ Goh và Tsou phẫu thuật. Bác sĩ Tsou cho biết nếu không tiến hành phẫu thuật, vết nứt sẽ lớn dần, gây cong xương, khiến cho bệnh nhân bị gù và vẹo xương. Ngoài ra nó còn gây khó thở và tổn thương hệ hô hấp.

KH&ĐS (theo The Strait Times)
Ykhoa.net
TTO - Có thể bạn đã biết nhiều về công dụng của dầu ô liu, song những công dụng do tạp chí Real Simple chỉ ra dưới đây vẫn mang lại cho bạn đôi điều mới mẻ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Dầu ô liu là một chất bôi trơn rất tốt vì những phân tử của nó dễ dàng trượt qua vật thể khác, bằng cách đó mà loại dầu này chống lại được sự ma sát. Một lớp màng dầu ô liu phủ lên trên sẽ giúp những mặt phẳng thô ráp trở nên nhẵn mịn, sáng bóng. Những đặc tính ấy của dầu ô liu chính là nền tảng để có thể ứng dụng vào nhiều mẹo vặt làm cho cuộc sống của bạn thú vị hơn.

1. Cạo râu. Công dụng đầu tiên cũng là công dụng bạn ít ngờ đến nhất: dùng dầu ô liu để... cạo râu! Dầu ô liu khiến thao tác cạo râu của bạn êm ái nhẹ nhàng hơn khi sử dụng thay thế kem cạo râu.

2. Đánh bóng thép không gỉ. Nhiều chất làm sạch khác, chẳng hạn như khí amoniac, có thể làm mất độ bóng và ăn mòn cả những vật dụng bằng thép không gỉ. Riêng dầu ô liu lại là một loại chất lỏng làm sạch bóng những vật dụng bằng chất liệu thép không gỉ trong nhà bạn một cách an toàn nhất, không hề làm ăn mòn hay sứt mẻ chút nào.  

3. Tẩy trang mắt. Xoa nhẹ một ít dầu ô liu vào những đường trang điểm quanh mắt, rồi dùng bông tẩy trang chùi sạch nhẹ nhàng.

4. Ngăn sáp nến chảy dính vào giá nến. Phết một lớp mỏng dầu ô liu lên bề mặt giá nến trước khi cắm nến vào giá nến. Những giọt sáp chảy trên giá nến sẽ được lột bỏ một cách dễ dàng.

5. Chăm sóc bộ lông mượt của chó, mèo cưng. Thêm vào đĩa thức ăn yêu thích của những chú chó và mèo lông dài khoảng 1/8 - 1/4 muỗng nhỏ dầu ô liu để giữ cho bộ lông dài mượt của chúng không dễ bị đóng thành từng cục tròn khó gỡ.

6. Làm bóng đẹp móng tay, chân. Thoa đều một chút dầu ô liu lên bề mặt móng tay hoặc chân để giữ móng mềm mại và bóng mượt.

7. Chăm sóc da khô. Đơn giản chỉ cần thoa một lớp mỏng dầu ô liu lên da bạn sau khi tắm hoặc tẩy lông.

8. Làm trơn dây khóa kéo. Dây phecmơtuya quần áo hoặc giỏ xách của bạn kém trơn tru ư? Hãy dùng một bình xịt có mũi xịt nhỏ để tra một ít dầu ô liu làm chất bôi trơn cho dây khóa kéo của bạn. Chú ý chỉ nhỏ dầu ô liu vào phần răng dây kéo, tránh quệt dầu vào phần vải của quần áo hoặc túi xách. Bảo đảm bạn sẽ hài lòng với sợi dây khóa kéo đã trở lại trơn nhẹ như mới.

9.  Đánh bóng đồ gỗ. Thấm một ít dầu vào tấm áo cũ không mặc nữa, lau chùi lên bề mặt đồ gỗ để làm cho sáng bóng lên.

10. Giữ cho cánh cửa không kêu cót két. Bạn tra dầu cho những chiếc bản lề của cánh cửa gỗ nhanh chóng và nhẹ nhàng bằng cách thấm đẫm dầu ô liu vào một tấm áo cũ, sau đó lau vào trên chóp bản lề, dầu sẽ tự động chảy xuống bôi trơn khắp bản lề để giữ cho nó khỏi kêu cót két nữa.  

KH.NGỌC
Nguồn: Tuoitre-online
TTO - Quầng thâm nơi vùng mắt khiến bạn mất tự tin khi trang điểm và xuất hiện trước đám đông. Bạn đừng quá lo lắng, những mẹo nhỏ đơn giản với những nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên sẽ giúp bạn mau chóng loại bỏ được nó.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Nguyên nhân:

- Quầng mắt được hình thành đôi khi là do yếu tố di truyền

- Dị ứng là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến biến đổi sắc tố da và gây ra bọng mắt hay quầng thâm mắt.

-  Thiếu ngủ khiến nước da của bạn nhợt nhạt và do đó làm xuất hiện quầng thâm dưới mắt.

Mẹo nhỏ mách bạn:

- Cần ngủ ít nhất 7 tiếng mỗi đêm

- Khi làm việc với máy tính, cứ nửa giờ nên chớp mắt từ 3 đến 4 lần.

- Uống từ 8 đến 10 cốc nước mỗi ngày.

- Ăn nhiều hoa quả tươi và rau tươi.

- Hạn chế hay tốt nhất là tránh xa thuốc lá và đồ uống có cồn.

- Không sử dụng các loại mỹ phẩm có chất tẩy trắng hay lột da xung quanh vùng mắt.

- Xả stress bằng cách này hay cách khác. Stress là nguyên nhân chính gây mất ngủ, khiến mắt bạn bị thâm quầng.

- Nên hạn chế ăn đồ ngọt và socola

Bên cạnh những phương pháp trên, bạn cũng có thể dùng những loại nguyên vật liệu có sẵn trong tự nhiên để trị quầng thâm.

1.  Mỡ cừu và dầu quả hạnh.

Thành phần:

-         1 thìa mỡ cừu

-         1,5 thìa dầu quả hạnh

-         1 thìa bột đậu tương

-         2 thìa nước lạnh

Cách làm:

Đun chảy mỡ cừu. Thêm dầu quả hạnh vào, sau đó cho tiếp bột đậu tương và nước lạnh vào. Khuấy đều trong vòng 10 phút.

Thoa đều dung dịch của hỗn hợp trên lên vùng da dưới mắt. Nằm thư giãn khoảng 20 phút, rửa sạch với nước ấm và khăn vải mềm. Tốt nhất nên làm đều đặn trước mỗi khi đi ngủ.

Lưu ý không để hỗn hợp trên qua đêm, vì nó sẽ rất dễ rơi vào mắt và gây nguy hiểm.

2. Dưa chuột.

Nạo dưa chuột và ép lấy nước. Sau đó dùng 2 miếng bông gòn thấm nước dưa chuột ép và đắp lên vùng mắt thâm quầng. Nằm nhắm mắt và thư giãn trong vòng nửa tiếng. Đây được xem như là phương pháp hữu hiệu nhất giúp loại trừ quầng thâm.

Ngoài ra, bạn cũng có thể dùng dưa chuột cắt khoang và đắp lên mắt. Nằm thư giãn trong vòng 30 phút.

Hoặc thay bằng dưa chuột, có thể sử dụng cà chua cắt khoanh hoặc nghiền nát lấy nước để đắp lên vùng da mắt. Cách làm này cũng đem lại hiệu quả cao như ý muốn.

3. Cà chua, chanh và bột nghệ:

Ép lấy nước cà chua, nước chanh, và trộn lẫn vào nhau, cho thêm bột nghệ và thoa lên vùng da dưới mắt. Sau đó 15 phút thì rửa sạch với nước lạnh. Lưu ý bạn phải chắc chắn rằng bạn không bị dị ứng với bột nghệ.

4. Nước hoa hồng

Đun nước hoa hồng và dùng 2 chiếc bông gòn thấm nước, đắp lên vùng da mắt.

5. Trái bơ

Quả bơ gọt vỏ, tách hạt, nghiền thật nhuyễn. Mỗi tối trước khi ngủ, đắp một ít bơ lên chỗ quầng thâm và để đến khi thức dậy. Sau 1 tuần, sẽ thấy được công dụng.

KHỔNG THU HÀ (Theo MB)

Nguồn: Tuoitre-online

Ai cũng biết muối có nhiều công dụng hữu ích, nhất là đậm đà thêm những món ăn, là thứ không thể thiếu trong các gian bếp. Tạp chí Real Simple chỉ ra thêm những công dụng tuyệt vời khác của muối mà có thể ngay cả những bà nội trợ đảm đang cũng chưa biết.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Muối giúp cho món trứng hoặc kem nổi xốp nhanh hơn và cao hơn khi bạn đánh trứng và kem bằng máy. Cho vào một nhúm muối trước khi bạn sử dụng máy đánh tạo nổi cho trứng hoặc kem.

Muối giữ cho món thịt gà ta lẫn gà tây săn chắc, không bị nhão thịt. Xát muối vào khoang bụng của con gà đã làm sạch ruột trước khi chế biến.

Món rau xào sẽ không bị nhũn, săn cọng lá hơn nếu có một chút muối "huýt còi" ngăn chặn. Rắc đều ít muối lên mớ rau trước khi xào.

Làm sạch bề mặt bàn ủi là công dụng tuyệt vời khác của muối. Để tẩy những vết dơ trên bề mặt bàn ủi, hãy rắc ít muối lên mặt phẳng một tờ giấy, đẩy bàn ủi được bật nóng (nhưng không mở chế độ phun hơi nước) chạy qua mặt tờ giấy đó, sẽ thấy ngay hiệu quả.

Muối còn tỏ ra hữu ích trong việc làm sạch đường cống nhà bạn. Dội xuống ống cống một lít nước muối nóng hoà tan với tỷ lệ một tách muối pha trong một lít nước, rồi chờ kết quả tốt đẹp.

Loại bỏ những chất dơ trên rau củ là một công dụng khác của muối. Hãy ngâm và rửa rau củ trong một chậu nước muối trước khi nấu hoặc dùng sống.

Muối cũng giúp bạn đánh bật vết bẩn do những thức uống có màu hoặc rượu vang đỏ lỡ dính trên quần áo bạn. Căng phần vải muốn tẩy sạch trên một cái chén, rắc muối phủ lên vết bẩn, rồi cẩn thận rót nước sôi lên trên vết bẩn đã rắc muối.

Và những quả trứng luộc của bạn sẽ không bị nứt vỡ nữa, nhờ muối. Cho vào nồi nước luộc trứng một nhúm muối trước khi nổi lửa, muối sẽ giữ cho vỏ những trái trứng không bị rạn vỡ.

Khách dự tiệc đã đến đầy nhà mà chai rượu khai tiệc vẫn chưa kịp ướp đá ư? Không có gì phải lo lắng! Chai rượu sâm banh đãi khách của bạn sẽ nhanh chóng được ướp lạnh nhờ muối. Xếp những viên đá vòng quanh đáy xô, rắc vào vài muỗng muối. Đặt chai rượu sâm banh vào giữa xô đá, tiếp tục chất đá và rắc muối vào chung quanh chai rượu cho đến khi đầy lên tận cổ chai. Đổ thêm vào xô đá ít nước cho đầy tận miệng xô. Chỉ việc chờ trong 10 phút là có thể rót ra chiêu đãi khách quý được rồi.

KH.NGỌC
Nguồn: Tuoitre-online
Cúc hoa trắng chỉ to bằng cái khuy áo, còn tên gọi là bạch cúc, tên khoa học là Chrysanthenum thuộc họ cúc (Compositeae). Cúc hoa giàu dược tính nên còn là vị thuốc quý.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Người ta thường thu hoạch vào lúc hoa còn chưa nở và phơi khô trong bóng râm hay sấy khô từ từ ở nhiệt độ thấp, cất bảo quản sử dụng dần. Tốt nhất mỗi khi sử dụng làm thuốc thì nên dùng cúc hoa trắng đang còn tươi sẽ có hiệu quả hơn cúc hoa trắng khô.
a
Hằng ngày sử dụng kim cúc trắng tức bạch cúc pha trà uống lâu dài sẽ làm mắt sáng ra và trẻ lâu.

Theo Đông y, cúc hoa trắng có vị ngọt hơi đắng, tính hơi hàn, quy vào các kinh phế, can, thận, tác dụng tán phong, thanh nhiệt, mát gan, sáng mắt, chữa trị phong nhiệt cảm mạo, đau đầu, tăng huyết áp, chóng mặt nhức đầu, mắt đỏ sưng đau, chảy nước mắt.

Liều sử dụng trung bình từ 9 - 15g cho dạng thuốc sắc, có thể sử dụng tươi, giã nhỏ đắp vào chỗ đau, mụn nhọt, ghẻ lở...

Sau đây xin giới thiệu vài phương thuốc trị liệu từ bạch cúc để tham khảo và áp dụng khi cần thiết.

- Làm sáng mắt: Hằng ngày sử dụng kim cúc trắng tức bạch cúc pha trà uống lâu dài sẽ làm mắt sáng ra và trẻ lâu.

- Chữa hoa mắt, chóng mặt: Cúc hoa trắng 10g, ngải cứu 12g, rau má 8g, hoa thiên lý 10g, lá đinh lăng (loại lá nhỏ dùng gói nem) 8g sắc lấy nước thuốc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống 5 ngày liền.

- Chữa chứng cao huyết áp: Bạch cúc 10g, hoa hòe 8g, lạc nhân 3g sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Cần uống 10 thang liền.

- Chữa đau đầu: Bạch cúc 9g, hoa nhài 3g, rau má 10g, cúc bách nhật 5g. Sắc thuốc uống ngày 1 thang, chia 3 lần trong ngày. Cần uống 3 - 5 ngày liền.  

BS Hoàng Xuân Đại - BEE.NET.VN

CHỮA BỆNH ĐAU ĐỀU HIỆU QUẢ

Phòng khám đông y Nguyễn Hữu Toàn
Địa chỉ: 116B Phố Đà nẵng Quận Ngô quyền thành phố Hải phòng  Điện thoại: 84.031.3852577
Bác Sĩ Nguyễn Thị Nhuận, Chuyên Khoa Nhi Đồng

Hầu như không một người Việt Nam nào không từng nghe nói tới bệnh sởi. Ðứa bé nào bị mọc nhiều nốt đỏ trong người cũng được cho là đang bị “ban sởi”. Một đứa bé dưới 5 tuổi có thể bị rất nhiều bệnh có kèm theo triệu chứng nổi những vết đỏ khắp người và lần nào cũng cho là lên ban, phải cữ ra nắng gió, phải cữ nước, nếu không thì sẽ bị “chạy hậu”… Vậy ban đỏ là gì?
Bệnh sởi là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp gây ra bởi một con siêu vi có mặt trên toàn thế giới. Những vết đỏ khắp người có thể làm người ta chú ý tới bệnh sởi. Nhưng thực ra đây chỉ là một trong những triệu chứng bên ngoài, những thay đổi bên trong mới nguy hiểm hơn. Bệnh sởi có thể nguy hiểm chết người, nhất là ở những trẻ nhỏ.
Từ vài chục năm nay, với thuốc chích ngừa sởi, bệnh sởi ít sẩy ra ở những quốc gia tiến bộ như Mỹ chẳng hạn, nhưng vẫn còn là một ám ảnh kinh hoàng cho những người dân các nước chậm tiến. Do đó, người Việt thường lo sợ khi nghe nói tơí bệnh sởi.
Bệnh lại rất hay lây và dễ dàng lan ra từ những người du lịch quốc tế. Hiện nay trên thế giới có đến 30 tới 40 triệu trường hợp bệnh sởi xẩy ra, gây ra hơn 750,000 cái chết.
Triệu Chứng - Khoảng 10 tới 12 ngày sau khi tiếp xúc với siêu vi sởi, những triệu chứng sau đây có thể xẩy ra:
1. Sốt
2. Ho khan
3. Chảy nước mũi
4. Mắt đỏ
5. Không chịu được ánh sáng
6. Những nốt nhỏ xíu với trung tâm mầu xanh trắng xuất hiện bên trong miệng nơi gò má. Những nốt này có tên là đốm Koplik.
7. Người mọc ra những đốm đỏ lớn, phẳng, chập vào nhau
Diễn Biến Của Bệnh
Bệnh sởi thường bắt đầu với một cơn sốt khá nhẹ, kèm theo những triệu chứng như ho, chảy mũi, mắt đỏ và đau cổ họng. Khoảng 2, 3 ngày sau, đốm Koplik nổi lên, đốm này là dấu hiệu đặc biệt của bệnh sởi. Sau đó, bệnh nhân có thể bị sốt cao lên tới 104 hay 105 độ F. Cùng lúc đó, những mảng đỏ nổi lên, thường là ở trên mặt, theo đường tóc và sau tai. Những vết đỏ hơi ngứa này có thể dấn lan xuống ngực, lưng và cuối cùng xuống tới đùi và bàn chân. Khoảng một tuần sau, những vết nhỏ này sẽ nhạt dần, vết nào xuất hiện trước sẽ hết trước.
Nguyên Nhân
Bệnh sởi gây ra do siêu vi sởi. Bệnh này hay lây đến nỗi 90% những người tiếp xúc với bệnh nhân sẽ bị lây sởi nếu chưa chích ngừa. Siêu vi sởi có ở mũi và cổ họng của bệnh nhân.
Họ thường đã có thể lây bệnh cho người khác 4 ngày trước khi vết đỏ xuất hiện. Khi bệnh nhân ho, hắt xì, hay nói chuyện, những giọt nước nhỏ xíu có chứa siêu vi sẽ bắn ra không khí và người khác có thể hít vào hoặc những giọt này có thể rơi xuống một nơi nào đó như mặt bàn, điện thoại…Khi ta sờ vào những nơi này và đưa tay lên mũi hay miệng, ta sẽ bị lây bệnh
Một khi siêu vi sởi vào cơ thể bệnh nhân, chúng thường mọc vào trong những tế bào đằng sau cổ họng và phổi. Sau đó bệnh sẽ lan khắp cơ thể kể cả hệ hô hấp và da.
Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chúng ta sẽ có kháng thể chống bệnh nên ta sẽ không mắc bệnh sởi lại nữa. Nếu bạn sinh trước năm 1957, bạn thường đã có kháng thể chống bệnh dù chưa hề chủng ngừa. Ðó là vì bạn đã sống qua nhiều thời kỳ mà bệnh sởi hoành hành rất nhiều và nhiều phần bạn đã có nhiễm siêu vi dù có thể không lộ ra. Do đó bạn đã có miễn nhiễm.
Bệnh sởi ít có ở Mỹ nhưng vẫn xảy ra ở nhiều các nước khác và bệnh rất nặng nếu bệnh nhân bị thiếu vitamin A, một điều dễ thấy ở những nước chậm tiến, do dân chúng thường thiếu ăn.
Biến Chứng
Bệnh sởi thường kéo dài từ 10 tới 14 ngày. Ở vài nơi trên thế giới, bệnh sởi là một bệnh nặng có thể gây ra chết người. Ở các nước tiến bộ Tây phương, ít khi xẩy ra cái chết.
Bệnh nhân có thể bệnh nặng nhưng thường qua khỏi. Tuy nhiên biến chứng có thể xẩy ra:
1 - Nhiễm trùng tai xẩy ra ở 1 trong 10 trẻ bị sởi.
2 - Viêm não: xẩy ra ở khoảng 1 trong 1000 người mắc bệnh sởi. Não bị nhiễm siêu vi trùng gây ra ói mửa, giật kinh, có khi hôn mê. Viêm não có thể xẩy ra sau bệnh sởi hoặc có thể xẩy rất nhiều năm sau, vào tuổi vị thành niên, do một loại siêu vi mọc chậm, rất hiếm.
3 - Sưng phổi: khoảng 1/20 trườg hợp bị sởi. Có thể nguy hiểm chết người.
4 - Tiêu chảy và ói mửa: thường xẩy ra cho trẻ nhỏ.
5 - Sưng cuống phổi, sưng thanh quản hay “croup”.
6 - Ðàn bà co thai mắc bệnh sởi có thể hư thai, sanh sớm hay sanh trẻ nặng cân.
7 - Thiếu tiểu cầu (platelets) khiến khó đông máu.
Ngăn Ngừa Sởi
Thuốc chích ngừa sởi rất công hiệu. Trước khi có thuốc ngừa, có chừng 450,000 trường hợp bệnh gây ra khoảng 450 cái chết mỗi năm trên đất Mỹ. Việc chủng ngừa rộng rãi đã giảm con số này 99%. Vào những năm 80 khi số trường hợp bệnh hơi tăng lên, việc chích ngừa đã được đẩy mạnh hơn khiến hiện nay con số bệnh xuống thấp nhất từ trước đến giờ.
Thuốc ngừa sởi thường được gồm chung trong một loại thuốc tên MMR chứa 3 thứ: sởi, quai bị và ban Ðức. Thuốc được chích cho trẻ em từ 12 tới 15 tháng và thêm liều thứ hai chích lúc 4, 5 tuổi. Các em bé mới sinh được kháng thể của mẹ truyền qua nên được bảo vệ từ 4 tới 6 tháng. Nếu em bé được bảo vệ trước 12 tháng, thí dụ như sẽ đi du lịch những vùng nhiều bệnh, em có thể được chích ngừa nhưng phải chích lại lúc được 12 tháng.
Ai cần Chích Ngừa MMR (Sởi, Quai Bị và ban Ðức)?
Bạn sẽ KHÔNG cần chích nếu bạn
1. Là đàn ông sinh trước 1957
2. Thử nghiệm máu chứng tỏ có kháng thể bệnh trong máu
3. Là đàn bà sanh trước năm 1957 và không định sanh con nữa, đã có miễn nhiễm bệnh ban Ðức hay đã chích ngừa ban Ðức.
4. Lúc bé đã được chích ngừa liều MMR sau 1 tuổi.
Bạn cần chích ngừa nếu bạn không có một trong những điều kiện trên và bạn:
1 - Là đàn bà trong tuổi có thể mang thai và hiện đang không có thai.
2 - Ðang đi học đại học.
3 - Làm việc ở những cơ quan y tế hay trường học, nhà giữ trẻ…
4 - Ðang dự định đi du lịch.
Những người sau đây không nên chích ngừa:
1) Đàn bà có thai hoặc dự định có thai trong vòng 4 tuần kế tiếp.
2) Người đã từng có phản ứng dị ứng nặng nguy hiểm đến tính mạng với chất gelatin hay chất trụ sinh neomycin.
Nếu bạn đang bị ung thư, bệnh về máu hay một bệnh miễn nhiễm nào đó, bạn cần nói chuyện với bác sĩ trươc khi chích ngừa.
Phản Ứng Phụ Của Thuốc Ngừa:
Ða số người được chích ngừa không bị phản ứng nào cả. Có khoảng 10% sẽ bị sốt từ 5 tới 12 ngày sau khi chích và khoảng 5% bị nổi đỏ nhẹ. Ít hơn 1 phần triệu bị phản ứng dị ứng nặng.
Trước kia người ta thường tin rằng người bị dị ứng với trứng không nên chích ngừa sởi. Tuy nhiên điều này không đúng. Ngưòi dị ứng với trứng có thể chích ngừa sởi hay MMR.
Gần đây thường có dư luận liên kết việc chích ngừa sởi với bệnh “tự kỷ” autism. Tuy nhiên, báo cáo từ nhiều cơ quan y tế chính của Mỹ đều cho thấy không có sự liên hệ nào giữa hai việc này. Ða số những trẻ em bị autism được định bệnh vào khoảng 18 tới 30 tháng, vài tháng sau khi chích MMR. Do đó người ta dễ liên kết hai sự việc. Tuy nhiên, không có dữ kiện khoa học nào hiện nay cho thấy có sự liên kết cả.

Bs Nguyễn Thị Nhuận, Chuyên Khoa Nhi Đồng
(YDuocNgayNay)[i][/i]
Thời tiết hiện nay đang là thời điểm thuận lợi cho các bệnh sốt phát ban bùng phát, điển hình là bệnh Rubella, vì vậy phải có sự phân biệt để tránh nhầm lẫn giữa sởi và các bệnh sốt phát ban khác.

Rubella - Bệnh sốt phát ban chủ yếu ở nước ta


Bệnh Rubella hay còn gọi là bệnh sởi Đức, do vi rút Rubella gây ra. Đây là bệnh sốt phát ban lành tính nhưng rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai.



Bệnh rất dễ lây lan, chủ yếu là qua đường hô hấp và người nhiễm bệnh là nguồn bệnh duy nhất. Trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là nguồn truyền nhiễm rất cao cho người tiếp xúc, vi rút có thể đào thải nhiều tháng sau khi sinh.


Những triệu chứng của bệnh Rubella rất nhẹ nên rất khó được phát hiện, đặc biệt ở trẻ em.


Bệnh khởi phát sau 10 ngày đến 15 ngày kể từ lúc tiếp xúc với người bệnh. Triệu chứng thông thường là mệt mỏi, sốt nhẹ, nhức đầu, sưng hạch kéo dài từ 1 - 7 ngày. Những nốt ban màu hồng mịn, bắt đầu từ mặt và nhanh chóng lan xuống thân, sau đó xuống cánh tay và chân trước trước khi biến mất. Ban tồn tại từ 1-5 ngày, nhưng thường gặp nhất là 3 ngày. Trong khoảng thời gian từ 7 ngày trước phát ban và trong lúc phát ban là thời gian mà người bệnh có khả năng lây bệnh cao nhất.


Sự nguy hiểm ở đây là bệnh rất dễ lây lan và nguồn lây bệnh không thể phát hiện được cho đến khi người bị nhiễm có triệu chứng phát ban 7 ngày sau đó. Biện pháp cách ly người bệnh đến thời điểm này cũng được xem là đã quá trễ.


Bệnh Rubella rất nguy hiểm cho phụ nữ mang thai đặc biệt là trong 3 tháng đầu của thai kỳ. 90% phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ sẽ sinh ra em bé bị hội chứng Rubella bẩm sinh như: điếc, đục thủy tinh thể, tật mắt nhỏ, tăng nhãn áp bẩm sinh, tật đầu nhỏ, viêm não, màng não, chậm phát triển tâm thần, gan to, lách to... Đối với những người bị bệnh cần phải được cách ly một tuần lễ kể từ lúc phát ban để tránh lây nhiễm cho những người tiếp xúc. Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh Rubella. Biện pháp phòng bệnh duy nhất là tiêm chủng. Loại vắc xin đang sử dụng hiện nay là vắc xin phối hợp ngừa 3 bệnh: sởi, quai bị, Rubella.


Lịch tiêm chủng của vắc xin ngừa 3 bệnh Rubella, sởi, quai bị được áp dụng như sau: Trẻ em: mũi thứ 1: 12 tháng tuổi; mũi thứ 2: 4-6 tuổi. Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản: một liều duy nhất (phụ nữ chỉ được có thai sau khi tiêm vắc xin được 3 tháng).


Phân biệt sởi với các sốt phát ban khác


Tác nhân gây bệnh Sởi là vi rút thuộc giống Morbillivirus của họ paramyxoviridae. Bệnh Sởi là tình trạng nhiễm vi rút cấp tính với sự lây truyền cao. Sau khi vi rút xâm nhập vào cơ thể, biểu hiện khởi đầu là sốt, viêm kết mạc, chảy nước mũi, ho và có nốt kiplik ở niêm mạc miệng.


Ban đỏ xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh. Ban bắt đầu mọc ở mặt, sau lan ra toàn thân và kéo dài từ 4 - 7 ngày, có những trường hợp bệnh kết thúc trong tình trạng tróc vảy. Trong thời gian mang bệnh, xét nghiệm máu sẽ tháy lượng bạch cầu giảm.


Sự nguy hiểm của bệnh Sởi chính là những biến chứng của bệnh, đó là do sự nhân lên của vi rút hoặc do bội nhiễm vi khuẩn gây ra các bệnh viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, viêm thanh quản, phế quản, khí quản và viêm não. Tất cả mọi người chưa mắc bệnh hoặc được gây miễn dịch chưa đầy đủ đều có nguy cơ bị nhiễm bệnh. Trẻ em là đối tượng nhiễm bệnh dễ dàng và có thể xuất hiện những biến chứng nặng nề. Trẻ sinh ra từ những người mẹ đã bị bệnh sởi trước đây sẽ được miễn dịch thụ động do mẹ truyền cho trong vòng 6 - 9 tháng.


Hầu hết tử vong khi bệnh sởi xuất hiện thường không do vi rút Sởi gây ra mà do những biến chứng. Sự lây nhiễm của bệnh Sởi do vi rút từ những giọt nước bọt li ti của người bệnh bắn ra khi nói và người lành hít phải khi tiếp xúc, do vậy bệnh rất dễ lây thành dịch.


Chẩn đoán bệnh thường căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học. Tuy nhiên cách xét nghiệm mẫu bệnh phẩm trong phòng thí nghiệm là đặc biệt cần thiết để phân biệt với các bệnh sốt phát ban khác như Rubella.


Vắc xin là biện pháp dự phòng tốt nhất


Trước khi có vắc xin sởi phòng bệnh thì đây là căn bệnh mà tuổi ấu thơ hầu như ai cũng mắc phải. Phòng bệnh bằng vắc xin được khuyến cáo khi trẻ đủ 9 tháng tuổi, tuy nhiên người ta thấy rằng việc tiêm một mũi vắc xin duy nhất không đủ tạo ra miễn dịch bền vững và rộng rãi trong cộng đồng vì tỷ lệ trẻ tiêm phòng bệnh sót cũng như tỷ lệ đạt được miễn dịch của vắc xin này cũng chỉ đạt xung quanh 90%. Do vậy cần phải tiêm nhắc lại mũi thứ 2, thời gian tiêm là khi trẻ đủ 6 tuổi, độ tuổi bước vào lớp 1. Việc tiêm liều thứ 2 có thể tạo miễn dịch tới 99%. Chương trình TCMR Việt Nam đã thực hiện mũi nhắc lại này trên cả nước từ năm 2006. Tại các địa phương còn xuất hiện những vụ dịch sởi nhỏ, khi đối tượng mắc không chỉ trẻ em thì cần thiết phải thực hiện những chiến dịch tiêm nhắc cho người dân khu vực này để tạo miễn dịch lớn và bền vững trong cộng đồng trong nhiều năm.


Hiệu quả của tiêm phòng vắc xin sởi còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng bảo quản, vận chuyển vắc xin. Nhiệt độ bảo quản vắc xin lý tưởng là từ 2-8oC. Có thể dùng loại vắc xin kết hợp sởi - quai bị - rubella (MMR) để phòng được 3 bệnh một lúc. Tất cả bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch và tại các cơ sở y tế. Trước khi tiêm cán bộ y tế cần khám sơ loại, nếu trẻ đang mắc các bệnh khác thì có thể hoãn lịch tiêm đến khi trẻ khỏe mạnh bình thường.


Theo BS. Nguyễn Văn Dũng

Sức khỏe & Đời sống

Các nhà khoa học Anh - Mỹ đã phát hiện ra rằng: uống vitamin liều thấp hoặc tắm nắng có thể giúp giảm nguy cơ tiểu đường tuýp 2.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Trong một khảo sát tại ĐH Mary Queen (London, Anh), hơn 300 người có nguy cơ mắc bệnh đã được uống vitamin D dưới dạng bổ sung.


Khảo sát kéo dài 4 tháng của 1 nghiên cứu tại ĐH Chicago (Mỹ) cho thấy những bệnh nhân thiếu vitamin D có mức đường huyết cao hơn, nguy cơ kháng cự insulin, huyết áp và bệnh tim nhiều hơn.


Các nhà khoa học tin rằng vitamin sẽ duy trì sự khỏe mạnh của hệ miễn dịch và bảo vệ các tế bào khỏi nguy hiểm - bao gồm cả tuyến tụy, nơi sản xuất insulin.


“Vậy nên, việc phòng ngừa thiếu vitamin D bằng cách tắm nắng hoặc uống vitamin bổ sung là một cách đơn giản và hiệu quả để kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng do tiểu đường”, các nhà nghiên cứu cho biết.


Tại sao giảm cân tốt cho não?
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Cắt giảm lượng calo có thể giúp tăng cường trí nhớ, theo một nghiên cứu tại Đức.


Các nhà nghiên cứu đã chia các đối tượng tham gia nghiên cứu (có độ tuổi trung bình là 60) thành 3 nhóm: nhóm đầu tiên tuân thủ chế độ dinh dưỡng hạn chế calo, giảm 30% lượng thực phẩm so với thông thường; nhóm thứ 2 có chế độ ăn tương tự nhưng lượng thực phẩm chứa chất béo không no nhiều hơn; nhóm thứ 3 chế độ ăn không thay đổi.


Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều sẽ thực hiện test trí nhớ ở thời điểm bắt đầu và kết thúc nghiên cứu. Kết quả cho thấy ở nhóm hạn chế lượng calo nạp vào, số điểm dành cho trí nhớ tăng khoảng 20%.


Các nhà khoa học cho rằng việc cắt giảm lượng calo sẽ giúp giảm viêm nhiễm trong cơ thể, haợc giảm số lượng các phân tử gây hại (các gốc tự do) vốn sản sinh một cách tự nhiên.


Những thay đổi này đã giải thích cách làm thế nào để cải thiện trí nhớ và giữ cho các tế bào não luôn khỏe mạnh.


Phương Uyên


Theo Dailymail- Dantri
Các vị khách mời đến từ Bệnh viện Đống Đa (Hà Nội): Thạc sỹ Nguyễn Thái Minh và bác sỹ Phạm Bá Hiền- bác sỹ điều trị tại khoa Truyền nhiễm, nơi chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân HIV/AIDS.
* Tôi đọc 1 số tài liệu nói về HIV thấy nói đến khái niệm "phơi nhiễm". Mong Bác sỹ giải thích về khái niệm này và cho biết trong trường hợp nào thì được coi là đã bị " phơi nhiễm " và cách xử trí. Xin cảm ơn.? (Phan Quỳnh Nga, 32 tuổi)



- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Khái niệm phơi nhiễm là những trường hợp mà người chưa mắc bệnh không may bị tiếp xúc với máu của bệnh nhân bị nhiễm HIV và có bị tổn thương da hoặc niêm mạc nơi tiếp xúc với máu.

Cách xử trí khi trường hợp này xảy ra là: Nếu tổn thương do vật sắc nhọn đâm vào, ta phải nặn máu ở chỗ tổn thương, sau đó rửa sạch chỗ tổn thương bằng xà phòng và nước. Nếu chỗ tổn thương là niêm mạc thì ta phải rửa bằng nước sạch. Sau đó người bị phơi nhiễm nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được hướng dẫn cách điều trị. Cụ thể là có thể đến Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Đống Đa, 178 Nguyễn Lương Bằng, Hà Nội. ĐT: 04.5115039.

*Cháu có người bạn bị kim tiêm trong bụi cây đâm vào khi đi đường hôm 1/5/2006 (để lại vết sẹo). Đáng nói, bạn đó không sát trùng ngay sau khi bị thương, sáng hôm sau mới nghĩ đến. Hiện giờ bạn đó rất lo lắng và không thể làm việc được. Bác sỹ cho cháu hỏi với tình trạng như bạn cháu thì khả năng bị lây nhiễm HIV có cao không. Từ trước đến giờ liệu đã có trường hợp nào tương tự chưa? Cháu xin cảm ơn bác sĩ nhiều? (Nguyễn Thị Thuý Hạnh, 19 tuổi)

Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Trường hợp như bạn hỏi, từ ngày 1/5 đến nay đã quá 72 giờ đồng hồ, do vậy, theo chúng tôi, tốt nhất bạn nên đi làm xét nghiệm HIV và gặp bác sĩ để được tư vấn thêm, bởi vì tình trạng của bạn, chúng tôi không biết được mức độ tổn thương ra sao. Hiện nay, chúng tôi chưa có thống kê chính thức về tình trạng phơi nhiễm như trường hợp bạn nói, vì vậy người bạn của bạn cần đến cơ sở y tế để làm xét nghiệm sớm nhất.

* Xin kính chào bác sĩ, chuyên gia tư vấn. Tôi có đứa con, vì xác định cháu nghiện nên mang đi cai. Trung tâm cai nghiện xét nghiệm trong máu cháu đã có HIV dương tính, ngoài ra cháu còn bị viêm gan C nữa. Thật lòng tôi rất buồn và bối rối, vì trong nhà còn có hai em của cháu, tôi không biết cách nên làm thế nào để phòng cho các cháu còn lại. Mong bác sĩ tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cám ơn.? (LTT, 56 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Khi con bác bị nghiện và trung tâm cai nghiện xét nghiệm có HIV trong máu của cháu như thế là đã chính xác cháu nhiễm căn bệnh này rồi. Ngoài ra cháu còn bị viêm gan C, trường hợp này là bình thường vì những người nhiễm HIV qua con đường tiêm chích thì có thể đồng nhiễm thêm cả viêm gan C và viêm gan B. Sau khi con của bác cai nghiện xong bác có thể đưa cháu đến Khoa truyền nhiễm Bệnh viện Đống Đa để được tư vấn thêm về góc độ điều trị HIV và viêm gan C.

Khi trong nhà có người bệnh, để phòng tránh cho những người thân của bệnh nhân (trong đó có hai em của người bệnh), tốt nhất là bác nên khuyên cho các cháu không nên dính vào ma tuý. Trong quá trình sinh hoạt chung với cháu đã bị nhiễm, trừ trường hợp tiếp xúc với máu của cháu đã bị nhiễm, còn những sinh hoạt khác đều bình thường như: ăn uống, ngủ chung, chơi đùa đều không có khả năng lây nhiễm bệnh.

Trong khi chăm sóc người bệnh, khi người bệnh có lở loét ngoài da thì nên đi găng tay để chăm sóc.

Bác sĩ Nguyễn Thái Minh

*Xác suất lây nhiễm từ chồng sang vợ (từ vợ sang chồng) là bao nhiêu phần trăm? Có trường hợp nào chồng (vợ) nhiễm bệnh nhưng người còn lại may mắn không nhiễm không ạ? Rất mong câu trả lời của bác sĩ? (Quách Quỳnh, 33 tuổi)

Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Xác suất lây nhiễm HIV từ chồng sang vợ hiện vẫn chưa có thống kê nào. Tuy nhiên, theo tài liệu, xác suất lây nhiễm HIV từ nam sang nữ qua sinh hoạt tình dục là 8/1 (khả năng lây từ nam sang nữ là gấp 8 lần) và xác suất lây nhiễm qua đường tình dục từ 0,1 - 0,3%. Trong câu hỏi, chồng hoặc vợ bị nhiễm bệnh nhưng người còn lại may mắn không nhiễm, xin trả lời bạn rằng chúng tôi đã gặp rất nhiều trường hợp chồng bị nhiễm nhưng vợ thì không bị nhiễm và có một trường hợp vợ bị nhiễm nhưng chồng lại không bị nhiễm.

* Mẹ của cháu làm ở bệnh viện phòng cấp cứu. Cháu lo cho mẹ lắm. Máu của người HIV bắn vào mắt là ta có thể bị lây đúng không? Giả sử trong trường hợp này nên xử trí ra sao? (Kim Chi, 20 tuổi)

- Bác sỹ Phạm Bá Hiền: Nếu máu của một người bị nhiễm HIV bắn vào niêm mạc mắt thì đó là một nguy cơ lây nhiễm. Nhưng trong các phòng cấp cứu cũng như các phòng điều trị của các bệnh viện thì việc chăm sóc và điều trị cho các bệnh nhân, các bác sĩ và nhân viên y tế đều có phương tiện phòng hộ nhằm ngăn chặn nguy cơ lây nhiễm HIV cũng như các bệnh truyền nhiễm khác lây qua đường máu.

* Cháu đang sinh sống và học tập tại nước ngoài. Mấy hôm trước có một người bạn của cháu sắp về Việt Nam. Vì vậy, trước khi về bạn cháu có mời cháu đi sauna, và chúng cháu có quan hệ với 2 cô gái làng chơi. Thật không may, khi đang "dở chừng" cháu phát hiện ra bao cao su của cháu bị thủng 1 lỗ khoảng bằng đầu tăm. Hiện cháu đang rất lo lắng và sợ sệt. Cô chú giúp cháu với ạ...?(Xyz (giấu Tên), 23 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Chúng tôi đã gặp rất nhiều trường hợp như của bạn ở Việt Nam. Có thể coi như bạn đã bị phơi nhiễm vì vậy để yên tâm bạn nên đi làm xét nghiệm đúng định kỳ theo yêu cầu của bác sĩ.

Thứ hai là trường hợp phơi nhiễm như của bạn có xác suất vô cùng thấp, theo tài liệu là từ 0,1% đến 0,3% vì vậy bạn cũng không nên lo lắng quá vì chưa chắc hai cô gái mà bạn quan hệ đã nhiễm HIV, hơn nữa chúng tôi cũng chưa biết được sau khi phát hiện ra bao cao su bị thủng thì bạn đã xử trí ra sao, vì vậy tốt nhất là bạn nên đi khám và làm xét nghiệm ở các cơ sở y tế để được tư vấn thêm.


* Em bị phơi nhiễm và đã điều trị ARV sau 24 giờ. Vậy có muộn quá không? Em điều trị 4 tuần, nay đã 6 tuần trôi qua rồi. Em lo lắng quá? (Đỗ Văn Trọng, 28 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Để điều trị phơi nhiễm HIV, thì cần có trong thời gian 72 giờ kể từ khi có nhiễm. Vậy thường tốt nhất trong 6 giờ đầu, bạn điều trị sau 24 giờ là trong thời gian cho phép. Bạn đã điều trị trong 4 tuần và hãy nên đi xét nghiệm trong thời gian 3 tháng, là kết quả cho phép trong thời gian không bị nhiễm HIV.

* Sữa mẹ có truyền HIV sang con không? Bao nhiêu phần trăm bé sơ sinh bị nhiễm từ người mẹ mang virus HIV ạ?(Trần Thanh Hải, 28 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Các nhà khoa học đã chứng minh rằng sữa mẹ có mang virus HIV. Tỷ lệ những cháu bé bị lây nhiễm HIV từ những bà mẹ có HIV vào khoảng 30-40%. Lây truyền từ các bà mẹ cho các cháu bé sẽ có thể ở ba giai đoạn: trong thời kỳ mang thai (25%), trong khi sinh nở (50%) và giai đoạn cho con bú (25%).

* HIV có thể lây qua bể bơi không ạ? Ví dụ những người bị lở loét mà họ lại đến bể bơi? (Trịnh Minh Huyền, 21 tuổi)

Bác sĩ Phạm Bá Hiền: HIV/AIDS không lây qua khi tắm chung cùng một bể bơi với những người bị nhiễm HIV. HIV là một bệnh lây những cũng rất khó lây nếu chúng ta biết cách phòng tránh. HIV là một virus tồn tại yếu ở môi trường ngoại cảnh. Cho nên khi tắm chung cùng bể bơi với những người bị nhiễm HIV chúng ta không sợ bị lây nhiễm.

* Cháu muốn hỏi bác sĩ, bệnh lây nhiễm HIV xuất phát từ đâu? Khi nào? Virus này khi ra môi trường ngoài có thể sống được bao lâu? Tại sao virus HIV lại không lây nhiễm khi bị muỗi hút? Cháu mong bác sĩ trả lời giúp cháu. Cháu xin cảm ơn? (Nguyễn Mạnh Thắng, 21 tuổi)

Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: HIV thường bị lây nhiễm qua các con đường sau: Quan hệ tình dục không an toàn; Tiêm chích ma tuý (có sử dụng bơm kim tiêm chung); từ người mẹ bị nhiễm HIV lây sang con. Khi virus HIV ra môi trường bên ngoài, thời gian tồn tại của virus này tuỳ thuộc vào môi trường bên ngoài. Ở nhiệt độ 56 độ C, virus chỉ tồn tại được khoảng 2 phút và bị tiêu diệt nhanh bằng cồn 70 độ và các hoá chất sát khuẩn. Theo tài liệu, khi muỗi hút máu người bị nhiễm HIV, virus theo máu vào dạ dày của muỗi, do môi trường trong dạ dày của muỗi không phù hợp cho sự tồn tại của virus HIV, do đó virus HIV nhanh chóng bị tiêu diệt. Do vậy, khi bị muỗi đốt, không có khả năng bị lây nhiễm HIV.

* Tự dưng không hiểu sao em bị viêm gan B!!! Em nghĩ mãi chắc có thể em bị lây khi đi cắt tóc, mặc dù em toàn mang lưỡi dao cạo đi nhưng có thể là cái mút phủi tóc. Sợ thật đấy, em đã cẩn thận thế mà còn bị Viêm gan B thì có thể nhiễm HIV/AIDS như chơi!? (Hải Hoà, 29 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: HIV và viêm gan B đều là những bệnh do virus gây ra. Trong đó, nguy cơ lây nhiễm viêm gan B cao hơn khoảng 100 lần so với nguy cơ lây nhiễm HIV. Đường lây của hai virus trên là giống nhau, đó là lây qua đường máu, qua quan hệ tình dục và lây truyền từ mẹ sang con. Khi chúng ta sử dụng dao cạo râu hoặc bàn chải đánh răng có dính máu thì có nguy cơ lây nhiễm từ người này sang người khác. Tuy nhiên, nguy cơ đó sẽ xảy ra dễ hơn khi lây nhiễm virus viêm gan B.

* Ngày 30/4 vừa rồi tôi bị tai nạn giao thông, bị ngã và chảy máu chân. Sau đó tôi phát hiện thấy ở gần chỗ tôi ngã có chiếc kim tiêm. Thời gian gần đây không hiểu do tôi quá lo lắng hay đã nhiễm bệnh mà bị sụt cân. Tôi muốn hỏi là làm thế nào để xác định mình có mắc bệnh hay không và đến nơi nào để xét nghiệm? (một bạn đọc gọi qua điện thoại, 34 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Bạn không nói rõ là bạn bị ngã và chảy máu chân nhưng có bị bơm kim tiêm đâm vào không. Cũng có thể bạn bị ngã và chảy máu do tai nạn giao thông chứ không phải do bị kim tiêm đâm vào. Trường hợp này bạn không nên lo lắng như vậy. Vấn đề bạn hỏi là bạn bị sụt cân và để xác định mình có bị nhiễm bệnh hay không, bạn nên đến các cơ sở y tế để được xét nghiệm và tư vấn thêm. Bạn có thể đến Khoa Truyền nhiễm Bệnh viện Đống Đa, Hà Nội hoặc các Trung tâm Y tế Dự phòng của tỉnh nơi bạn sinh sống để được xét nghiệm và tư vấn.

*Gần đây em nghe kể câu chuyện có người không bị HIV lấy người đã bị nhiễm HIV. Vậy điều này có nên không ạ? (Theo em nghĩ thì không nên khuyến khích vì quá nguy hiểm). Và nếu người vợ không nhiễm thì họ có thể có 1 đứa con chung không?(Thanh Hằng, 26 tuổi)

-Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Ở Việt Nam cho đến nay có rất nhiều người bị nhiễm HIV và cũng có rất nhiều người khi biết bạn tình của mình bị nhiễm HIV và họ vẫn quyết định chung sống cùng nhau nếu như họ không quyết định có con thì những tiếp xúc thông thường hàng ngày sẽ không có nguy cơ lây nhiễm. Nếu thực sự họ muốn có con thì họ vẫn có nguy cơ lây nhiễm từ chồng hoặc ngược lại.

* Vừa qua chúng tôi chăm sóc 1 em bé có HIV bị bỏ rơi ở bệnh viện. Bé không lở loét nhiều mà chỉ bị hăm do đóng bỉm. Khi tắm cho cháu găng tay cao su của tôi bị rách, mà tôi có mấy vết kim châm ở tay. Tôi có phải điều trị không ạ và địa chỉ điều trị ở đâu?(Khải Đính, 34 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Trong trường hợp của chị, theo tôi, đó là một trường hợp chăm sóc thông thường đối với những người nhiễm HIV nói chung và trẻ bị nhiễm HIV nói riêng. HIV không lây qua đường tiếp xúc. Khi da của trẻ lành lặn, trẻ không bị chảy máu thì chị hoàn toàn có thể yên tâm khi chăm sóc cho trẻ mà không phải đi khám và điều trị.

* Hôm trước tôi can 2 thanh niên đánh nhau, họ đều chảy máu và khi về nhà tôi phát hiện tay mình cản họ cũng bị xước. Tôi phân vân quá chẳng biết họ là ai… Chắc 3 tháng sau tôi cũng phải đi xét nghiệm thử. Tôi muốn hỏi rằng nếu chẳng may bị chảy máu và máu người HIV bắn vào thì cần xử trí ngay lập tức thế nào? (Trần Mạnh Đình, 37 tuổi)


- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Thưa bạn Trần Mạnh Đình, khi bạn có vết thương bị chảy máu và vết thương đó có tiếp xúc với máu của người nhiễm HIV thì đó được gọi là một nguy cơ lây nhiễm. Trong trường hợp đó, cần phải rửa sạch vết thương bằng nước sạch và xà phòng có thể sử dụng cồn để sát trùng vết thương. Sau đó, bạn đến các cơ sở chăm sóc và điều trị hoặc cơ sở tư vấn về HIV để kiểm tra xem từ trước bạn đã bị nhiễm HIV hay chưa? Nếu HIV được khẳng định là dương tính, có nghĩa là bạn đã bị nhiễm HIV từ trước rồi. Còn nếu kết quả xét nghiệm HIV là âm tính, bạn sẽ được các bác sĩ khuyên uống thuốc (ARV) trong vòng 1 tháng. Sau đó, các bác sĩ sẽ kiểm tra kết quả xét nghiệm sau 3 tháng kể từ khi phơi nhiễm. Đây là các trường hợp cụ thể, còn nếu như trường hợp của bạn, bạn nên đến các cơ sở nêu trên để có câu trả lời chính xác.

* Thưa bác sĩ, HIV cũng có nghĩa là AIDS đúng không ạ? (Caco, 16 tuổi)

- Bác sĩ: Thực ra, HIV để chỉ tình trạng bị nhiễm virus HIV. Còn AIDS là giai đoạn cuối của người bị nhiễm HIV. Khi một người bị nhiễm HIV, diễn biến lâm sàng của người nhiễm thường trải qua 4 giai đoạn: Giai đoạn đầu là tình trạng nhiễm HIV cấp, thời gian thường kéo dài khoảng 2 tuần với các biểu hiện giống như bệnh cảm của nhiễm các virus thông thường, cũng bị sốt, đau đầu, đau mỏi cơ khớp toàn thân, có thể có viêm long đường hô hấp.

Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn nhiễm virus HIV không triệu chứng. Nghĩa là ở giai đoạn này, người nhiễm hoàn toàn không có các triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài, chỉ trừ xét nghiệm máu mới phát hiện được. Giai đoạn này có thể kéo dài nhiều tháng.

Giai đoạn ba là giai đoạn nhiễm HIV có triệu chứng. Lúc này, bệnh nhân xuất hiện một số các bệnh nhiễm trùng cơ hội đặc trưng (là các bệnh nhiễm trùng xâm nhập vào cơ thể khi người bệnh có tình trạng suy giảm miễn dịch). Giai đoạn này thường kéo dài từ 1-2 năm và sau đó bệnh nhân chuyển sang giai đoạn cuối là giai đoạn AIDS. Thời gian diễn tiến trung bình từ lúc bị nhiễm HIV đến khi chuyển sang giai đoạn AIDS thường là từ 4-7 năm.

* Sao HIV lại lây qua kim tiêm được? Cái kim tiêm nhỏ xíu vậy có chứa bao nhiêu máu đâu? Xin bác sĩ giải thích? (Nguyễn Hồng Nhi, 15 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Như bạn biết, HIV/AIDS lây qua đường sử dụng chung bơm kim tiêm với người bị nhiễm HIV. Khi ta sử dụng chung bơm kim tiêm, máu mang virus HIV sẽ truyền cho những người sử dụng chung bơm kim tiêm đó. Thực ra, cái kim tiêm trông nhỏ vậy nhưng trong nó có nòng rỗng. Và khi trong nòng rỗng đó có chứa máu của người nhiễm HIV thì nó hoàn toàn có khả năng lây nhiễm sang người khác.

* Ở cổng xưởng may nơi tôi làm việc có một chị công nhân hình như bị nhiễm HIV do lây qua chồng. Chị là một công nhân làm việc rất năng suất và có hiệu quả, nhưng luôn bị mọi người xa lánh. Là một cán bộ đoàn trong công xưởng, tôi rất mong bác sĩ hướng dẫn cho tôi “Đường lây và không lây nhiễm HIV” để tôi giải thích với anh chị em công nhân và mong muốn họ có cách nhìn nhận tích cực hơn với chị công nhân bị lây nhiễm? (Hà Dũng, 28 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Chúng tôi cũng đã gặp rất nhiều trường hợp như bạn nói là bị lây nhiễm HIV qua chồng. Những trường hợp này rất đáng thương bởi họ chỉ là nạn nhân vì vậy càng nên được giúp đỡ nhiều hơn trong xã hội. Những con đường có thể dẫn tới lây nhiễm HIV là: dùng chung bơm kim tiêm khi tiêm chích ma tuý; quan hệ tình dục không an toàn và từ người mẹ bị nhiễm HIV truyền sang con. Còn những sinh hoạt thông thường như ăn uống, ngủ chung, sử dụng chung các vật dụng sinh hoạt đều không có khả năng lây nhiễm HIV. Như vậy trong quá trình làm việc chung với chị công nhân kia hoàn toàn không bị lây nhiễm HIV.

* Xét nghiệm HIV như thế nào, em thấy có xét nghiệm nhanh và chậm, vậy cái nào chính xác hơn? Sau 3 tháng quan hệ mà đi xét nghiệm không thấy dương tính đã có thể yên tâm chưa? Em chỉ quan hệ 1 lần thôi liệu có khả năng lây nhiễm không? (Nguyễn Minh Hải, 26 tuổi)

- Bác sĩ  Phạm Bá Hiền: Xét nghiệm HIV là những phương pháp xét nghiệm máu để tìm kháng nguyên hoặc kháng thể, kháng virus HIV có ở trong máu. Xét nghiệm nhanh hiện nay thường sử dụng những phương pháp tìm kháng thể kháng virus HIV có ở trong máu. Xét nghiệm này mang tính chất sàng lọc có độ nhạy cao. Tuy nhiên, còn có những trường hợp âm tính giả. Vậy những xét nghiệm để khẳng định HIV người ta phải làm lại bằng phương pháp khác với những chế phẩm và nguyên lý khác nhau (3 phương pháp). Nếu kết quả đều dương tính thì mới được phép kết luận mẫu máu đó bị nhiễm HIV.



Thông thường sau khi có nguy cơ phơi nhiễm, sau thời gian từ 6 đến 8 tuần trong cơ thể sẽ sinh ra lượng kháng thể chống lại HIV với mức bằng các phương pháp xét nghiệm thông thường có thể phát hiện được (thời kỳ cửa sổ). Vậy sau khi 3 tháng, bạn xét nghiệm kết quả âm tính, bạn có thể yên tâm là không bị nhiễm HIV. Tuy nhiên, có một vài trường hợp hạn hữu thời kỳ cửa sổ kéo dài hơn bình thường nếu bạn cẩn thận sẽ xét nghiệm sau thời gian 6 tháng, nếu kết quả yên tâm thì bạn có thể yên tâm.

Đương nhiên, nếu bạn quan hệ không sử dụng các biện pháp phòng tránh lây nhiễm an toàn thì dù chỉ quan hệ một lần cũng có nguy cơ lây nhiễm.

* Khi nào thì biết HIV chuyển thành bệnh AIDS? Em có HIV rồi (buồn quá, em mới phát hiện ra), nhưng không muốn gia đình biết nên không thể đến bệnh viện thường xuyên được (bố mẹ em hay theo dõi em từ dạo em nghiện). Em muốn tự chăm sóc cho mình thì làm như thế nào? Dùng thuốc ra sao, có tốn kém lắm không và mua ở đâu? (xin giấu tên, 26 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: AIDS là giai đoạn cuối của nhiễm HIV. Khi đó, sức đề kháng của cơ thể đã suy giảm trầm trọng, là thời kỳ xuất hiện các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Bạn nên đến các trung tâm tư vấn và điều trị HIV/AIDS để được khám, tư vấn, biết được giai đoạn bệnh, từ đó sẽ có kế hoạch điều trị phù hợp, mang lại sức khoẻ tốt và kéo dài cho bạn.

Bạn hãy yên tâm, cho đến nay đã có rất nhiều loại thuốc sử dụng để điều trị bệnh AIDS nhằm ngăn chặn tối đa sự phát triển của virus trong cơ thể, và đã có rất nhiều chương trình hỗ trợ thuốc điều trị miễn phí cho người bệnh. Bạn sẽ không phải mất tiền mua thuốc, sẽ được cấp thuốc miễn phí, được theo dõi sức khoẻ định kỳ nếu bạn đến tiếp cận các trung tâm điều trị HIV/AIDS tại nơi bạn sinh sống. Bạn không nên tự chăm sóc mình và tự đi mua thuốc uống vì điều đó rất nguy hiểm cho sức khoẻ của bạn. Bạn nên tìm đến sự tư vấn của bác sĩ và điều trị theo hướng dẫn.

* Nếu phát hiện ra cơ quan mình có người bị nhiễm HIV/AIDS, nên làm cách nào để phòng tránh lây nhiễm? (Hải Hà, 30 tuổi)

Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Như bạn đã biết qua các phương tiện thông tin đại chúng về các con đường lây nhiễm của HIV là qua 3 con đường, cụ thể là quan hệ tình dục không an toàn, tiêm trích ma tuý có sử dụng chung bơm kim tiêm và từ người mẹ bị nhiễm HIV lây sang con. Do vậy, nếu trong cơ quan bạn có người bị nhiễm HIV thì trong sinh hoạt hàng ngày, các tiếp xúc thông thường không có khả năng lây nhiễm HIV. Do vậy, mọi người trong cơ quan không nên có thái độ kỳ thị phân biệt đối xử với người bị nhiễm (bởi vì bản thân người nhiễm HIV họ đã được tư vấn để tránh lây nhiễm sang cộng đồng). Nếu trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, người nhiễm bị kỳ thị thì dễ dẫn đến những hành động tiêu cực, không tốt cho bản thân người nhiễm và cộng đồng xung quanh.

* Trẻ bị HIV ở Việt Nam có được chăm sóc y tế miễn phí không? Có cần yêu cầu giấy tờ gì không?(Hồng Ánh, 30 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Ở Việt Nam, trẻ bị nhiễm HIV đều được chăm sóc miễn phí. Tuy nhiên, những trẻ bị nhiễm HIV thường được chăm sóc tại các bệnh viện nhi. Quá trình chăm sóc chỉ cần có giấy tờ khẳng định là trẻ bị nhiễm HIV. Hiện nay, cái khó là thuốc điều trị kháng virus cho trẻ em còn rất hạn chế. Do đó, trẻ bị nhiễm HIV ít có cơ hội để dùng loại thuốc đó. Chăm sóc cho trẻ bị nhiễm HIV là điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội và dự phòng nhiễm trùng cơ hội.

* Tôi làm nghề cắt tóc nam nữ nên khi làm việc phải tiếp xúc với rất nhiều người - đây có phải là một nguy cơ khiến tôi bị nhiễm HIV không? Trong lúc cạo râu cho các khách hàng nam thỉnh thoảng tôi hoặc khách hàng cũng bị chảy máu, vậy những người làm công việc như tôi có cách nào để phòng tránh lây nhiễm căn bệnh này? (Quỳnh Anh, 25 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Bạn làm nghề cắt tóc và phải tiếp xúc với rất nhiều người nhưng nếu bạn tuân thủ đúng các biện pháp phòng ngừa thì bạn sẽ không bị nhiễm HIV. Ví dụ như trong lúc cạo râu cho khách hàng bạn phải sử dụng lưỡi dao cạo riêng cho từng khách hàng. Trong trường hợp khách hàng bị chảy máu bạn nên hướng dẫn khách hàng cách tự xử trí cầm máu, hạn chế tối đa việc tiếp xúc với máu của khách hàng. Còn nếu phải trực tiếp xử trí chỗ chảy máu cho khách hàng bạn nên đeo găng tay. Còn trong trường hợp tay bạn có đứt tay hoặc xước da trước khi cắt tóc bạn nên dùng băng dính băng kín vết thương của bạn.

* Trong nhà máy sản xuất, người công nhân bị nhiễm HIV và người công nhân có sức khỏe bình thường có thể mặc chung quần áo bảo hộ lao động? (Nguyễn Đình Toán, 24 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Trong trường hợp người công nhân bị nhiễm HIV vẫn lao động được và anh ta không bị các tổn thương lở loét ở ngoài da thì vẫn có thể mặc chung quần áo bảo hộ lao động với những công nhân khác.

* Cuộc đời em rất buồn. Em lấy người chồng tử tế thế mà không ngờ anh ta bị HIV. Mãi đến khi em đi cắt khối u phải thử máu em mới biết. Em bỏ anh ta rồi, vì căm giận, chắc anh ta phải sống thế nào mới bị HIV. Em nghĩ giá như Nhà nước yêu cầu tất cả các cặp vợ chồng khi kết hôn phải đi thử HIV thì tốt hơn, tránh được cho 1 vài cô gái gặp hoàn cảnh như em. Nay em chả thiết sống nữa, chỉ muốn xin vào trại để chăm sóc cho trẻ HIV hoặc nếu em xin vào bệnh viện làm thì có được không?(Nguyễn Phong Lan, 36 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Hiện nay, ở Hà Nội cũng như các tỉnh, thành trong cả nước có rất nhiều nhóm người bị nhiễm HIV/AIDS, ví dụ ở Hà Nội có nhóm "Hoa Sữa", "Hoa Hướng Dương", nhóm "Cho bạn và cho tôi"... là các nhóm mà các thành viên là những người nhiễm HIV. Những thành viên này tham gia vào những công việc tư vấn, chăm sóc, hỗ trợ cho những người nhiễm HIV tại cộng đồng. Họ được trang bị những kiến thức về HIV/AIDS, những kỹ năng tư vấn, giúp cho họ có kiến thức cơ bản nhằm hỗ trợ cho những người nhiễm HIV/AIDS khác, góp phần ngăn chặn sự gia tăng của đại dịch HIV/AIDS. Theo tôi, bạn hãy đến các trung tâm tư vấn và điều trị HIV tại địa phương bạn sinh sống để có những lời giải đáp rõ hơn cho nguyện vọng của bạn. Đối với tất cả các cặp vợ chồng, tôi cho rằng, trước khi kết hôn cũng như trước khi quan hệ nếu đi xét nghiệm HIV để khẳng định chưa bị nhiễm HIV, điều đó cũng làm giảm đi sự gia tăng của đại dịch HIV/AIDS.

* Thưa Bác sĩ, có phải người nhiễm HIV ở giai đoạn cuối sẽ ho rất nhiều không. Khi ho có phải là cơ hội cho virus lây truyền cho người xung quanh không? (Trần Nho, 26 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Khi người nhiễm HIV ở giai đoạn cuối (đã chuyển sang AIDS), người bệnh có thể mắc rất nhiều bệnh nhiễm trùng cơ hội khác và ho chỉ là một triệu chứng của một bệnh nhiễm trùng cơ hội mà người nhiễm HIV ở giai đoạn cuối bị mắc. Không nhất thiết là người nhiễm HIV ở giai đoạn cuối phải bị các bệnh gây ho. Tuy nhiên ở Việt Nam khi người nhiễm HIV ở giai đoạn cuối rất hay bị nhiễm lao phổi do vậy có thể bạn thấy họ ho rất nhiều. Khi tiếp xúc với những trường hợp này thì chỉ có khả năng bạn sẽ bị lây nhiễm lao chứ không bị lây nhiễm virus HIV.

* Các bạn trong Công ty của tôi thường khi trúng được hợp đồng lớn có khi rủ nhau đi mát-xa và đủ cả mọi công đoạn. Họ trả tiền nhiều để chọn các cô trẻ và "quê quê" để cho an toàn. Tôi muốn hỏi để biết, có phải có những cô bị HIV mà trông vẫn béo tốt khoẻ mạnh không có biểu hiện gì cho ta biết được? (Toàn Thắng, 34 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Để khẳng định người nào bị nhiễm HIV thì chỉ khi chúng ta tiến hành xét nghiệm máu. HIV có thể lây nhiễm ở mọi người, mọi lứa tuổi, mọi đối tượng khác nhau. Nhìn bên ngoài, chúng ta rất khó phát hiện hoặc khẳng định người đó có thể bị nhiễm HIV hay không.  

* HIV và bệnh AIDS khác nhau như thế nào, xin bác sĩ giải thích? (Trần Nam Hải, 27 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: HIV là chữ viết tắt của virus gây suy giảm miễn dịch ở người. Còn AIDS là chữ viết tắt của Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. HIV là muốn nói một người nào đó bị nhiễm HIV, tức là trong máu của người đó có sự tồn tại của virus HIV. Còn AIDS là giai đoạn cuối của nhiễm HIV, biểu hiện sự suy giảm miễn dịch trầm trọng trong cơ thể, là cơ hội cho sự xuất hiện của các bệnh nhiễm trùng cơ hội, sự xuất hiện của các khối u, cũng như những biểu hiện của rối loạn tâm thần.

* Em có người em trai bị nghiện ma tuý từ 2 năm trước đây, đến nay đang cai nghiện tại gia đình. Mặt mũi và cả tay chân cậu ấy có nhiều nốt nhỏ, đỏ và sưng như mụn trứng cá. Có phải đấy là dấu hiệu của HIV/AIDS? Em muốn khuyên cậu ấy đi thử máu nhưng không biết nói thế nào, tự dưng nói ra sợ sứt mẻ tình cảm làm bố mẹ em phiền lòng. Em phải làm sao bây giờ? (Ngô Uyển Phương, 28 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Trường hợp của em bạn có biểu hiện lâm sàng như bạn nói, điều này chưa thể khẳng định đấy là dấu hiệu của HIV/AIDS. Muốn khẳng định người em trai của bạn có bị nhiễm HIV không thì buộc phải làm xét nghiệm máu. Trong trường hợp này, bạn nên khuyên người em trai đi khám chuyên khoa Da liễu và ở đó các bác sĩ sẽ tư vấn cho cậu em trai của bạn.

* Hôn nhau cũng sẽ lây HIV đúng không ạ? Nhỡ ta bị chảy máu răng hay xước lợi? Thế nếu ăn cơm hàng bình dân mà đũa không sạch, rồi nhỡ người ta bị nhiệt ở mồm thì sẽ lây lung tung cả phải không? Em muốn hỏi nếu hôn người có HIV thì có lây không? Trong nước bọt có virus không? (Nghiêm Thị Minh Hằng, 22 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Theo các tài liệu chúng tôi được nghiên cứu thì trừ trường hợp hôn sâu còn những cái hôn giao tiếp thông thường đều không có khả năng lây nhiễm HIV. Mặt khác trong nước bọt của người nhiễm HIV có nồng độ virus vô cùng thấp, ít có khả năng lây nhiễm cho người khác. Do vậy nếu hôn người có HIV thì khả năng lây nhiễm rất ít. Còn việc ăn uống chung, sử dụng chung bát đũa hoàn toàn không có khả năng lây nhiễm virus HIV.

* Kinh nguyệt của phụ nữ có HIV chắc là phải mang virus. Vậy ngồi chung bồn cầu ở công ty thì chắc chắn nguy hiểm rồi. Công ty tôi có một cô lăng nhăng lắm, làm tôi thấy sợ hãi và nhiều khi không dám dùng nhà vệ sinh nữ ở sở mà cứ nhịn về đến nhà. Nỗi sợ hãi của tôi phải chăng là vô lý? (Nguyễn Thị Mơ, 24 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Bạn thân mến, việc bạn lo lắng cũng đúng thôi. Bạn nên biết, không phải những người "lăng nhăng" thì mới bị nhiễm HIV mà ngay cả những người bình thường cũng có thể bị nhiễm HIV. Cho nên, mọi lúc mọi nơi bạn nên cẩn thận đừng để máu của người khác dính vào máu của cơ thể bạn.

* Xin bác sĩ cho biết những biện pháp cần thiết để phòng tránh lây nhiễm HIV khi chăm sóc người bệnh mang virus này? (QM, 58 tuổi)


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Những biện pháp phòng tránh HIV, đó là trong quá trình chăm sóc đảm bảo không để cho máu hoặc dịch của người bệnh bắn vào những vùng da bị tổn thương hoặc niêm mạc của người chăm sóc. Vì vậy, những chăm sóc thông thường như: thay quần áo, lau người, tắm...  cho bệnh nhân, nếu da cơ thể của bệnh nhân không có những tổn thương chảy máu thì sẽ không có nguy cơ lây  nhiễm HIV. Nếu người bệnh có những vết thương có máu thì người chăm sóc phải có các phương tiện phòng hộ, ví dụ phải đeo găng tay trong quá trình chăm sóc để đảm bảo máu của người bệnh không dính vào cơ thể mình. Trước và sau khi chăm sóc cho người bệnh, người chăm sóc phải rửa tay sát trùng.

* Trẻ nhiễm HIV từ mẹ có thể sống lâu không? Có thể nuôi các cháu trong gia đình không hay phải đưa đến bệnh viện? (Trần Thị Mai, 31 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thế Minh: Trẻ bị nhiễm HIV từ mẹ vẫn có thể nuôi các cháu trong gia đình như bình thường và đi khám định kỳ theo quy định của bác sĩ. Trường hợp, các cháu bị bệnh thì nên đưa các cháu đến khám bác sĩ ngay để điều trị kịp thời các nhiễm trùng cơ hội cho các cháu.

Nếu trẻ nhiễm HIV từ mẹ không được điều trị thuốc kháng và các nhiễm trùng cơ hội kịp thời thì thông thường trẻ chỉ tồn tại không quá 6 năm. Còn những trường hợp nếu được điều trị bằng thuốc kháng virus thì thời gian tồn tại của trẻ sẽ lâu hơn.

* Nhiễm HIV có ảnh hưởng đến nam và nữ khác nhau không? Phụ nữ chịu đựng tốt hơn hay nam giới? (Hải Thịnh, 34 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Theo thống kê ở Việt Nam thì tỷ lệ người nhiễm là nam giới cao hơn rất nhiều bởi vì các trường hợp nhiễm HIV ở Việt Nam thường là do tiêm chích ma tuý, chỉ có một số ít là lây nhiễm qua đường tình dục và từ mẹ sang con. Theo kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình tư vấn và điều trị cho người nhiễm HIV/AIDS thì phụ nữ có khả năng chịu đựng tốt hơn nam giới và tuân thủ điều trị tốt hơn.  

* Thưa bác sĩ, hiện nay đang có những loại thuốc nào có thể kháng lại virus HIV? Người bệnh mang virus này cần được chăm sóc như thế nào? (Ct, 48 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền:  Hiện nay, có rất nhiều loại thuốc có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của virus HIV trong cơ thể như: lamivudin (3TC) , Zidovudin (AZT), Stavudin (D4T)… Người bệnh bị nhiễm HIV cần đến các cơ sở chăm sóc điều trị và tư vấn về HIV để được tư vấn, quản lý và điều trị một cách hợp lý. Nếu bạn ở Hà Tây thì nên đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tây, khoa Truyền nhiễm để có những tư vấn cụ thể cho bạn.

* Tôi đã một lần quan hệ với bạn gái nhưng không đeo bao cao su, sau đó tôi biết cô này vẫn đôi khi đi khách, hiện giờ tôi rất lo lắng không biết mình có bị nhiễm HIV không, nhưng tôi không dám đi xét nghiệm, làm sao để biết mình bị nhiễm HIV? (Tuan, 29 tuổi)

- Bác sĩ Phạm Bá Hiền: Việc quan hệ không an toàn là có nguy cơ lây nhiễm HIV nếu bạn tình của mình bị nhiễm HIV. Cách tốt nhất là bạn có thể mời người bạn của mình đến các cơ sở y tế để xét nghiệm HIV. Nếu kết quả xét nghiệm máu của cô ấy là âm tính, thì bạn có thể hoàn toàn yên tâm không bị nhiễm HIV qua lần quan hệ đó. Còn nếu kết quả của cô ấy là dương tính thì việc quan hệ của bạn là có nguy cơ. Về phía bạn, bạn hãy mạnh dạn đến các trung tâm xét nghiệm để xác định xem mình có bị nhiễm HIV hay không. Thời gian xét nghiệm tốt nhất là sau 3 tháng kể từ lần quan hệ.

* Bạn trai em dạo này có vài biểu hiện kỳ lạ. Em cứ lo lắng ám ảnh có thể anh ấy bị HIV thì sao, vì anh ấy làm lái xe và sống cũng hơi bị thoải mái. Khi giao hợp, nếu chỉ đến khi sắp xuất tinh anh ấy mới dùng bao cao su thì em có khả năng bị lây không (nếu anh ấy đã nhiễm)? (Nguyễn Hồng Vân, 25 tuổi)

- Bác sĩ Nguyễn Thái Minh: Để chắc chắn, bạn nên khuyên anh ấy đi xét nghiệm máu ở các cơ sở y tế và để được tư vấn thêm. Ở câu hỏi sau, tốt nhất để phòng tránh lây nhiễm cho bạn, bạn nên đề nghị anh ấy sử dụng bao cao su ngay từ đầu. Trường hợp như bạn nói, chỉ có thể phòng tránh có thai chứ không thể phòng tránh được việc lây nhiễm HIV.



VOVNews: Các câu hỏi có nội dung trùng lặp, đã được bác sĩ trả lời rồi, vì thời gian có hạn, chúng tôi rất mong bạn đọc xem kỹ ở phần nội dung cuộc tư vấn

Nếu các bạn tiếp tục có các thắc mắc  về phòng chống HIV/AIDS muốn được giải đáp, xin mời gửi qua địa chỉ email: vovnews@hn.vnn.vn, chúng tôi sẽ chuyển tới các bác sĩ.

Xin cảm ơn các bác sĩ Phạm Bá Hiền và Nguyễn Thái Minh đã tham gia cuộc tư vấn.

Cuộc giao lưu/tư vấn này được thực hiện với sự hỗ trợ của dự án Phòng chống HIV/AIDS tại nơi làm việc- thuộc Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI).

(phongmach.vovnews)
Trước hết phải khẳng định một điều rằng: người có quan hệ tình dục (QHTD) đồng giới MSM (Men Sex Men: nam giới có quan hệ tình dục với nam giới) không phải là nguyên nhân gây ra căn bệnh nguy hiểm HIV/AIDS. Sự thiếu hiểu biết về hiện tượng này khiến cho đến nay vẫn có người cho rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh gieo rắc HIV trong cộng đồng (!). Thực ra, HIV/ AIDS là căn bệnh không chừa một ai, kể cả những người được cho là sống đạo đức nhất, luôn luôn QHTD theo kiểu truyền thống và không biết thế nào là tình dục đồng giới.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

MSM là đối tượng nguy cơ cao

Khi bị nhiễm HIV từ nhiều con đường khác nhau như lây nhiễm qua tiêm chích ma túy mà không dùng bơm tiêm riêng, lây nhiễm do quan hệ với gái mại dâm có mầm bệnh HIV, những đứa trẻ bị lây nhiễm từ người mẹ mang thai có HIV …thì những người này hoàn toàn không phải là đối tượng có QHTD đồng giới. Tuy nhiên phải công nhận rằng, cùng với đối tượng người nghiện chích ma túy và gái mại dâm, MSM cũng được coi là đối tượng nguy cơ cao lây nhiễm HIV/AIDS.

Đời sống tình dục của con người là một vấn đề nhạy cảm và rất phức tạp. Trong khi đa số có QHTD khác giới, như một lẽ tự nhiên, để duy trì nòi giống và mang lại khoái cảm cho nhau giữa một người nam và một người nữ, thì vẫn có một tỉ lệ không nhỏ những người chỉ có xu hướng tình dục với người cùng giới hoặc QHTD cả đồng giới và khác giới tùy theo từng hoàn cảnh. MSM không phải là một bệnh, cũng như những người có QHTD đồng giới không phải là những người mang bệnh. Trong lĩnh vực này, không thể lấy áp đảo số đông để nói rằng QHTD khác giới mới đúng, còn QHTD đồng giới là sai.

Trong lịch sử, đã có khá nhiều nhân vật lịch sử, những người nổi tiếng là đối tượng QHTD đồng giới. Những người này hoàn toàn bình thường về mặt tâm lý, và đôi khi họ còn là những nhân vật quan trọng, có ảnh hưởng đến sự phát triển đi lên của lịch sử nhân loại. Vì vậy, xã hội không nên kỳ thị, phân biệt đối xử với những người có xu hướng QHTD đồng giới. Hiện nay, y học nhiều nước cũng chưa bao giờ coi QHTD đồng giới là một bệnh. Đó chỉ là một xu hướng tình dục của một nhóm người không đông đảo như nhiều người QHTD khác giới, vốn chiếm đa số trong xã hội loài người.

Trên mạng internet, một số trang web của giới đồng tính nam, những người MSM, đầy rẫy những hình ảnh của họ trong các tư thế QHTD mà có lẽ sẽ gây sốc cho nhiều người mô phạm. Điều đáng nói là chính với cách QHTD như vậy, họ là đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV rất cao. Nếu những người tiêm chính ma túy hoặc quan hệ với gái mại dâm, ít nhiều cũng đã được các phương tiện thông tin đại chúng cảnh báo về nguy cơ lây nhiễm HIV, để biết cách sử dụng bơm tiêm 1 lần hoặc dùng bao cao su, thì đối với những người MSM, họ dường như chưa bao giờ được tuyên truyền và biết cách tự bảo vệ mình trước nguy cơ nhiễm HIV khi QHTD qua hậu môn hoặc tiếp xúc dương vật bằng miệng.

Đa số các MSM, QHTD với nhau bằng cách thủ dâm lẫn nhau, quan hệ qua đường miệng - sinh dục hoặc sinh dục - hậu môn. Đây đều là những hành vi có nguy cơ rất cao lây nhiễm HIV, vì hầu như họ không sử dụng các biện pháp bảo vệ. Những người nam MSM không chỉ gói gọn trong thế giới của họ, mà còn có tác động với cộng đồng bởi nhiều người vẫn còn có vợ và bạn gái. Tuy vậy, trong khi mọi người đã có những kiến thức phổ thông về phòng chống HIV/AIDS đối với người nghiện chích ma túy và gái mại dâm, thì dường như sự quan tâm dành riêng cho MSM ở nhiều nơi vẫn còn bị bỏ ngỏ biện pháp bảo vệ khỏi lây nhiễm HIV/AIDS.

Cần bảo vệ họ khỏi nguy cơ HIV/AIDS

Có một nghịch lý đang tồn tại là, xã hội càng có thái độ cực đoan với đồng tính luyến ái thì người đồng tính nam càng có xu hướng QHTD đồng giới bí mật. Theo một kết quả điều tra tại TP Hồ Chí Minh, tình trạng QHTD lưỡng giới là khá phổ biến, 22% người đồng tính nam có QHTD với cả nam và nữ. Người có QHTD đồng giới nam đang hoạt động ở nhiều dạng phức tạp: QHTD với cả nam và nữ, mại dâm nam và người có QHTD đồng giới do sống tập trung trong môi trường thiếu nữ giới (như nhà tù, trường học đông nam sinh….). Họ đều được xếp chung vào nhóm MSM.

Mảng tối nhất trong thế giới MSM là số lượng hành nghề mại dâm nam. Những người này thường làm ở các trung tâm massage nam, các dịch vụ tẩm quất, đấm bóp, cắt tóc nam… Hiện chưa có con số thống kê nào về số lượng đối tượng này, nhưng theo những người trong thế giới MSM, mại dâm nam được thay đổi liên tục và thậm chí còn chịu quy luật đào thải khắc nghiệt hơn mại dâm nữ. Họ chủ yếu là những chàng trai trẻ từ nông thôn ra thành phố kiếm sống, không phải là người đồng tính và QHTD đồng giới vì mưu sinh. Sau khi kiếm được một khoản tiền, mại dâm nam sẽ về quê lấy vợ và sinh con như những người đàn ông bình thường khác. Vì thế, nguy cơ HIV/ AIDS lây lan rộng ra cộng đồng từ đối tượng mại dâm nam là càng đáng báo động. Điều đó cho thấy, MSM nói chung rất khó được can thiệp giúp đỡ khi họ có vấn đề về sức khỏe tình dục. Nếu một người đồng tính có kết quả xét nghiệm HIV dương tính thì sự kỳ thị ngay tại bệnh viện sẽ càng nặng nề khiến cho các đối tượng MSM không dám trở lại lần thứ hai.

Ngay tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, những điểm sinh hoạt dành cho người đồng tính vẫn quá ít so với nhu cầu thực tế. Tại Câu lạc bộ sức khỏe Hải Đăng - một trong số rất ít những nơi sinh hoạt của người đồng tính nam hoạt động, theo Dự án Can thiệp sức khỏe tình dục nam giới tại Hà Nội do HFI tài trợ, phần lớn MSM đều ít hiểu biết về tình dục an toàn. CLB Hải Đăng có các hoạt động hỗ trợ cho tất cả đối tượng là MSM, nhưng việc can thiệp giúp đỡ họ rất khó khăn. Đặc biệt, đối tượng mại dâm nam dễ bị tổn thương trong việc lây nhiễm HIV/AIDS. Họ bị lôi kéo vào QHTD đồng giới từ khi còn rất trẻ, chưa có hiểu biết và sau đó, họ hoàn toàn bị động trong các mối quan hệ với người đồng tính. Trong khi đó, đây chính là đối tượng trung gian có thể làm lây lan HIV trong thế giới MSM và cộng đồng sau khi lấy vợ, sinh con.

Theo một kết quả điều tra tại TP Hồ Chí Minh, 6 - 8% MSM có HIV/AIDS, trong khi con số này ở gái mại dâm chỉ có 4%, 78% MSM có QHTD không có biện pháp bảo vệ với bạn trai tình cờ. Điều tra cũng khẳng định, MSM thường xuyên có QHTD không an toàn do thiếu hiểu biết về HIV/AIDS, họ còn nhiều rào cản về sử dụng bao cao su và chất bôi trơn, không có sẵn khi cần dùng, không dám đề nghị bạn tình dùng, chỉ dùng chất bôi trơn mà không dùng bao cao su, dùng bao cao su với chất bôi trơn không tan trong nước, ngại mua chất bôi trơn ở các nhà thuốc...

Việc can thiệp dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS cho đối tượng MSM là đúng về cả dịch tễ học và nhân đạo, nhằm ngăn chặn sự bùng nổ của dịch và tăng quyền bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ tư vấn sức khỏe, khám chữa bệnh nói chung. Hơn nữa, do đặc thù riêng, MSM rất dễ bị lây các bệnh lây truyền qua đường tình dục nếu không có kiến thức và sử dụng đúng biện pháp bảo vệ. Tuy vậy, hiện nay MSM chưa được quan tâm đúng mức, họ mới chỉ được can thiệp dự phòng HIV/AIDS từ một vài dự án ít ỏi của các tổ chức phi chính phủ. Nếu tình trạng này còn kéo dài, MSM chính là tảng băng chìm bùng nổ HIV/AIDS.


Theo (ThS. Lê Anh, Sức khoẻ&Đời sống)

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Hút thuốc là nguyên nhân được biết đến nhiều không những gây ung thư phổi mà nó còn gây ra nhiều bệnh phổi khác nữa.

Ở phần này chúng tôi sẽ điểm qua về ảnh hưởng của thuốc lá như thế nào đến chức năng phổi và sau đó sẽ tập trung chi tiết hơn vào những bệnh phổi hay gặp do hút thuốc.

1. Ảnh hưởng của thuốc lá đến chức năng phổi

Khi chúng ta hít vào, không khí sẽ vào đường hô hấp trên qua mũi và miệng, nơi không khí được lọc, sưởi ấm và làm ẩm. Không khí hít vào sẽ đi qua khí quản để vào phổi. Trong mỗi phổi đều có một hệ thống phế quản, phế quản gốc như là nhánh chính của cây với các cành cây nhỏ là những phế quản, sau 17- 20 lần phân chia thành các tiểu phế quản tận, từ các tiểu phế quản đó sẽ dẫn đến các túi nhỏ chứa khí gọi là phế nang, nó giống như là chùm nho. Ở phế nang quá trình trao đổi khí sẽ xảy ra. Máu sẽ đổi CO2 lấy O2 sau đó sẽ mang O2 đến các tổ chức của cơ thể.

Hệ thống hô hấp có một số hàng rào bảo vệ để chống lại các bệnh. Quá trình lọc ở đường hô hấp trên giúp ngăn chặn vi khuẩn, virus và các chất gây kích thích từ ngoài vào trong phổi. Khí quản và tổ chức phổi sản xuất ra chất nhầy giúp cho việc lấy và mang các chất bẩn ra ngoài. Hỗn hợp chất nhầy và chất tạp nhiễm sẽ được đưa ra ngoài nhờ các lông nhỏ li ti gọi là lông chuyển, những lông này lay động rất nhanh về phía trên, trong một số vùng tốc độ của lông chuyển rất cao tới 1.000 lần trong một phút.

Khi khói thuốc đi vào qua miệng thì người hút thuốc đã vô tình bỏ qua cơ chế bảo vệ thứ nhất đó là quá trình lọc ở mũi. Những người hút thuốc thường bài tiết nhiều đờm hơn những người không hút thuốc mà khả năng đưa đờm ra khỏi đường hô hấp lại kém hơn. Điều này là do hệ thống lông chuyển ở người hút thuốc bị liệt thậm chí bị phá huỷ. Khói thuốc cũng làm thay đổi cấu trúc các tuyến tiết nhầy và do vậy thành phần của chất nhầy cũng bị thay đổi. Đôi khi các tuyến tiết nhầy bị tắc lại làm giảm khả năng bài tiết đờm. Hậu quả cuối cùng là chất nhầy ở những người hút thuốc bị nhiễm bởi các chất độc hại, và bị giữ lại nhiều trong tổ chức phổi cản trở sự lưu thông trao đổi khí.

Những sự thay đổi cấu trúc phổi ở những người hút thuốc làm giảm khả năng lấy oxi của phổi. Khói thuốc gây phá huỷ phế nang làm giảm tính đàn hồi của phổi và làm giảm khả năng trao đổi oxi. Phổi của những người hút thuốc bị giảm diện tích bề mặt và giảm mạng mao mạch, điều này có nghĩa là dòng máu lưu thông qua phổi bị giảm. Dẫn đến làm giảm cung cấp chất dinh dưỡng và ôxy cần thiết cho cả nhu mô phổi và các tổ chức khác trong cơ thể để duy trì sự khoẻ mạnh và chức năng bình thường của chúng.

Hút huốc cũng gây ra hiện tượng gọi là tăng tính đáp ứng đường thở. Do ảnh huởng của các chất độc hại trong khói thuốc, đường thở bị co thắt. Khi điều này xảy ra thì luồng khí hít vào và thở ra đều bị cản trở ở người hút thuốc, và do đó hình thành các tiếng ran rít, ran ngáy và có thể bị khó thở.

Ở những người hút thuốc có nhiều thông số chức năng thông khí thay đổi, trong đó thể tích khí thở ra gắng sức trong giây đầu tiên (FEV1) giảm rất nhiều.

Khói thuốc làm giảm sự phát triển của phổi và gây viêm tổ chức phổi ở trẻ nhỏ và thiếu niên biểu hiện bằng tốc độ tăng FEV1 chậm lại. Ở lứa tuổi từ 20-30 khi hút thuốc thì tổn thương phổi lại khác. Khi ở giai đoạn này của cuộc sống thì phổi tăng trưởng kiểu cao nguyên. Ở người hút thuốc giai đoạn phát triển này ngắn lại và làm các bệnh lý gây ra do hút thuốc sớm xuất hiện. Ở lứa tuổi trên 30 nếu hút thuốc tốc độ giảm FEV1 sẽ tăng gấp đôi (khoảng 40 ml/năm) so với người không hút thuốc (khoảng 20 ml/năm). Những người hút thuốc ở tuổi càng trẻ thì thời gian hút để gây ra bệnh liên quan đến đường hô hấp càng ngắn so với những người bắt đầu hút ở tuổi muộn hơn.

2. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là thuật ngữ để chỉ những tổn thương ở phổi có liên quan đến sự tắc nghẽn đường thở. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đặc trưng bởi sự rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn, được khẳng định chẩn đoán dựa vào đo hô hấp ký đồ với nghiệm pháp giãn phế quản không hồi phục hoàn toàn. Theo WHO, trên thế giới năm 2001 có khoảng 600 triệu người mắc BPTNMT. Bệnh tiến triển kéo dài trong nhiều năm và cuối cùng dẫn đến tâm phế mạn và tử vong. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ 4 trên toàn thế giới. Mối liên quan giữa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hút thuốc cũng mạnh như với ung thư phổi. Thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra BPTNMT, có 15% những người hút thuốc lá sẽ có triệu chứng lâm sàng BPTNMT và 80%-90% người mắc BPTNMT là nghiện thuốc lá.

Hút thuốc lá làm cho các yếu tố nguy cơ khác của bệnh này trở nên mạnh hơn. Đặc biệt những người hút thuốc lá bị ảnh hưởng xấu hơn bởi ô nhiễm môi trường, nhiễm trùng và phơi nhiễm với các chất khói độc so với người không hút thuốc. Người hút thuốc có tỉ lệ tử vong do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao gấp 10 lần so với người không hút thuốc.

3. Bệnh Hen

Hen được đặc trưng bởi tính phản ứng quá mức của đường dẫn khí. Sự phản ứng quá mức này dẫn đến các cơn hen, bệnh nhân có thở khò khè, ho và/hoặc khó thở.

Hút thuốc không phải là nguyên nhân gây ra cơn hen nhưng nó làm cho tình trạng bệnh hen nặng lên. Những người bị hen hút thuốc sẽ có tăng tiết đờm, giảm cử động của lông chuyển phế quản, tăng nhạy cảm với nhiễm trùng, tăng giải phóng các chất dị ứng tác dụng nhanh và phá huỷ các đường dẫn khí nhỏ. Tỉ lệ tử vong ở người bị hen đang hoặc đã từng hút thuốc thì tăng gấp trên 2 lần so với những người không hút thuốc.

4. Nhiễm trùng đường hô hấp

Những người hút thuốc hay bị nhiễm trùng đường hô hấp hơn những người không hút thuốc và thường bị nặng hơn. Trẻ em có bố mẹ hút thuốc lá bị bệnh đường hô hấp nhiều hơn trẻ em có bố mẹ không hút thuốc.

Những người hút thuốc không chỉ hay bị viêm phổi hơn mà còn bị tử vong nhiều hơn. Những phụ nữ có thai bị viêm phổi mà hút hơn 10 điếu thuốc/ngày, có tiên lượng xấu hơn những người không hút (chết mẹ- con,...).

Những người hút thuốc cũng hay bị cúm.Vaccin phòng cúm ít hiệu quả đối với người hút thuốc, và tỉ lệ tử vong do cúm ở những người hút thuốc cao hơn nhiều so với nhóm người không hút thuốc.


Theo Vinacosh
(phongmach.vovnews)
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Hai chuyên gia về hô hấp của Bệnh viện Nhi Trung ương: Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, Phó Giám đốc, Trưởng Khoa Hô hấp và Tiến sĩ, bác sĩ Lê Thị Minh Hương trả lời những câu hỏi của độc giả liên quan đến các vấn đề về phòng, chữa bệnh đường hô hấp của trẻ em
Phần trả lời của Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc, Phó Giám đốc, Trưởng Khoa Hô hấp Viện Nhi Trung ương

Tôi đã nhận được rất nhiều câu hỏi của các phụ huynh ở nhiều nơi khác nhau gửi đến, xa nhất là thành phố Hồ Chí Minh và gần nhất là Hà Nội. Các câu hỏi đều liên quan đến bệnh hô hấp ở trẻ em. Vì thời gian có hạn, đồng thời một số câu hỏi trùng nhau nên để tiện theo dõi, tôi tóm tắt lại và xin trả lời như sau:

1- Tại sao trẻ em lại hay mắc các bệnh đường hô hấp?

Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới, hằng năm có khoảng 4-5 triệu trẻ em tử vong vì bệnh đường hô hấp, phần lớn là dưới 5 tuổi và đặc biệt ở các nước đang phát triển. Một công trình nghiên cứu cấp nhà nước do Giáo sư Nguyễn Trung Nhạn chủ trì về mô hình bệnh tật trẻ em cuối thế kỷ XX ở Việt Nam, bệnh đường hô hấp chiếm 23-38% ở trẻ em, và 40% tử vong là do bệnh về đường hô hấp. Vì vậy, đối với trẻ em rất dễ mắc bệnh đường hô hấp là vì:

- Hệ thống hô hấp ở trẻ em liên quan đến môi trường bên ngoài rất dễ dàng (Các tác nhân có thể qua hai lỗ mũi, miệng, tai, da…) vì vậy vi trùng, siêu vi trùng có thể qua các con đường đó vào cơ quan hô hấp trẻ em dễ dàng.

- Ở bên ngoài môi trường, có nhiều tác nhân gây bệnh đường hô hấp như siêu vi trùng (cúm, phó cúm, gần đây có cúm A H5N1…). Vi trùng đứng hàng đầu là phế cầu khuẩn Heamophilus Inffluenzae, tụ cầu, Ecoli trực khuẩn màu xanh…)

- Nấm - Ký sinh trùng (sán, giun)

Các chất gây dị ứng bệnh viêm phế quản trẻ em (nấm mốc, phấn hoa, bụi nhà, lông thú, tôm, cua…). Khi đứa trẻ đến tháng thứ 6, các chất chống lại các tác nhân vi khuẩn và vi trùng do mẹ truyền sang đã hết và như vậy trong cơ thể trẻ không còn đủ các chất chống đỡ nên các tác nhân gây bệnh dễ đi vào trẻ em và gây ra viêm phổi.

- Đường hô hấp trẻ em còn nhỏ, các chất tiết không có chất chống đỡ, hệ thống lông rung hoạt động còn yếu nên tác nhân gây bệnh đi vào đường hô hấp rất dễ dàng, do đó các cháu rất dễ bị bệnh đường hô hấp.

2.Cách phát hiện bệnh đuờng hô hấp qua các triệu chứng của trẻ?

- Chán ăn, quấy khóc, chảy nước mũi, nước mắt là những dấu hiệu đầu tiên báo hiệu là các cháu sẽ bị nhiễm khuẩn hoặc nhiễm trùng.

- Ho, có thể ho khan, ho có đờm, ho từng cơn hoặc ho liên tục.

- Sốt, nếu trẻ sốt cao trên 40 độ thì dễ sinh co giật.

- Khó thở, nhịp thở tăng so với lứa tuổi, cánh mũi phập phồng, co kéo các cơ hô hấp.

- Tím tái ở môi và các đầu chi.

- Bỏ ăn, bỏ uống

- Li bì hoặc mê sảng.

- Nếu đứa trẻ trên 6 tháng tuổi trở lên mà nhịp thở trên 45 lần/phút là các cháu bị viêm phổi. Khi thấy các cháu có triệu chứng co kéo các cơ hô hấp, li bì, bỏ ăn uống là dấu hiệu bệnh nặng, nhất thiết phải đưa các cháu tới bệnh viện nhi để điều trị.

3. Khi nào thì dùng kháng sinh?

Chỉ khi viêm phổi do vi khuẩn mới được dùng kháng sinh. Và nhất thiết phải được sự hướng dẫn của thầy thuốc nhi khoa. Còn các loại viêm phổi khác thì phải dùng các loại thuốc khác để điều trị như do nấm: phải dùng thuốc chống nấm. Giun, sán thì dùng thuốc giun, sán. Dùng kháng sinh loại nào phải căn cứ vào xét nghiệm vi sinh và kháng sinh đồ để dùng kháng sinh cho đúng thì bệnh mới khỏi được. Bởi vì nếu chưa có kháng sinh đồ, thì có thể dùng các loại kháng sinh rất đắt tiền nhưng bệnh lại không khỏi. Ở một số phòng khám, các thầy thuốc nhi khoa sau khi khám xét bệnh nhân, đồng thời căn cứ vào tình trạng kháng kháng sinh của một vài loại vi khuẩn thường gặp và qua kinh nghiệm nhiều năm dùng thuốc và chẩn đoán bệnh thì có thể người thầy thuốc sẽ chọn những loại kháng sinh thích hợp để điều trị cho các cháu trong một khoảng thời gian nhất định thì các cháu đó phải đến để khám và xem xét lại. Cho nên, các bà mẹ và các phụ huynh không nên tuỳ tiện mua thuốc kháng sinh để cho các cháu uống bởi vì rất nguy hiểm, có thể làm cho vi khuẩn dễ nhờn thuốc và kháng lại kháng sinh. Hơn nữa, các cháu bệnh có thể nặng thêm, đồng thời lại tốn kém nhưng bệnh không khỏi.

4. Khi nào thì dùng thuốc ho?

- Ho là một phản xạ rất tốt để trẻ khạc ra những chất nhầy, cho khỏi bị bít tắc đường thở. Nhưng nếu đứa trẻ ho quá nhiều, cơn ho rũ rượi, có khi lại chảy máu mắt hoặc máu ở họng thì cần phải uống thuốc ho để giảm bớt những cơn ho nặng như vậy. Khi dùng thuốc ho, đối với trẻ em, nhất là những trẻ dưới 5 tuổi cũng phải rất cẩn thận và phải được thày thuốc nhi khoa hướng dẫn. Đối với các loại thuốc ho có chất moóc phin (thuốc phiện) như là Teprin Codein (có chất thuốc phiện) nên tuyệt đối không được dùng cho trẻ dưới 5 tuổi vì rất dễ gây ngừng thở và đi đến tử vong. Có thể dùng các loại thuốc ho Đông y như: bổ phế thuỷ (5-15 ml) cho trẻ uống 2 lần/ngày; hoặc cho trẻ uống nhiều nước để làm long đờm hay dùng các thuốc như Mucomist để làm long đờm…

Một số phụ huynh có hỏi, có nên dùng Stérimar dạng xịt cho trẻ em hay không? Chúng tôi trả lời là được, và đây là loại thuốc có thể dùng được cho trẻ em nhỏ và lớn. Dùng nhiều lần trong một ngày cũng không gây độc cho các cháu. Vì đây là loại nước biển lấy ở độ sâu và xa, đã được tinh khiết cho nên không gây độc.

5. Đối với các cháu bị viêm đường hô hấp thì rất cần quan tâm đến vấn đề ăn uống và vệ sinh. Phải cho trẻ ăn nhiều bữa, các chất dễ tiêu, không nên cho các cháu ăn no quá vì khi ho dễ bị nôn. Tránh cho trẻ ăn các loại thức ăn kích thích quá (chua quá, ngọt quá, mặn quá) bởi vì những chất đó dễ làm cho các cháu bị nôn.

Nếu không may các cháu nôn, ngay lập tức phải để đầu các cháu nghiêng về 1 bên, một tay giữ đầu, một tay giữ người, sau khi nôn cần lau sạch cho bé. Đối với các cháu nhỏ, khi nôn các cháu dễ sặc ra mũi, ngay lập tức bà mẹ phải dùng miệng của mình hút các chất bẩn đó ra, lau sạch để các cháu dễ thở. Tuyệt đối không được chần chừ mất thời gian tìm vật này, vật khác để lau, bởi vì các cháu rất dễ hít các chất này vào gây sặc, rất dễ tử vong.

Đối với các cháu trong thời kỳ bị viêm đường hô hấp, rất cần được vệ sinh sạch sẽ, thậm chí cần phải tắm rửa cho các cháu nhưng cách tắm như thế nào cho đúng?: Phải để các cháu ở chỗ kín gió, nước vừa đủ ấm, tắm từng bộ phận, đầu, chân, tay, bụng rồi mới đến ngực. Tắm phần nào xong lau khô phần ấy.

- Hỏi: Bé nhà em được 15 tháng tuổi, bị ho và viêm mũi khoảng 3 tuần nay. Nhưng cháu ho không thường xuyên, chủ yếu về tối và đêm. Em mới chỉ cho nhỏ nước muối sinh lý, uống siro COje, nhưng không khỏi. Ban đêm cháu ngủ ra rất nhiều mồ hôi ở lưng và đầu. Vậy theo bác sĩ cháu bị làm sao, có cần thiết phải uống thuốc kháng sinh không? Cảm ơn bác sĩ. ( Nguyen Ngoc Tu, 25tuổi, Ha Dong)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Cháu này không cần thiết phải uống kháng sinh và phải đến bác sĩ để theo dõi xem cháu có khởi điểm của hen hay không, vì cháu hay ho vào ban đêm và lại không sốt. Cháu ra nhiều mồ hôi ở lưng và đầu thì cần phải theo dõi xem cháu có bị còi xương hay không.

- Hỏi: Cháu bé nhà tôi thường bị ho, sổ mũi và đổ mồ hôi khi thời tiết thay đổi. Tôi muốn hỏi bác sĩ đó có phải là biểu hiện của bệnh hen phế quản không? Mỗi đợt cháu bị như vậy tôi có dùng kháng sinh, thấy đỡ nhưng không dứt điểm, đợt khác thời tiết thay đổi, cháu lại bị mắc ngay. Như mấy hôm nay, cháu lại bị như vậy, cháu ho theo từng đợt, thường về đêm, tôi đã không dùng kháng sinh mà cho cháu uống bổ phế. Tôi rất lo lắng và chưa có cách điều trị nào thích hợp, vì mỗi lần bị như vậy lại dùng kháng sinh thì e rằng cháu sẽ không lớn nổi mất, vì có khi cháu bị 2 lần trong tháng. Xin bác sĩ cho tôi lời khuyên về cách phòng và trị khi bé bị như vậy. Xin chân thành cảm ơn bác sĩ. (Hoang Thu Thuy, thuytn77@yahoo.com)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Chúng tôi khuyên bà nên đưa cháu đến viện Nhi hoặc những phòng khám nhi để phát hiện cháu có bị hen hay không. Và nếu cháu bị hen thì ở đó sẽ hướng dẫn cách điều trị và theo dõi cho cháu từ nhỏ cho đến lớn. Không nên dùng kháng sinh bởi vì chưa phát hiện được đúng nguyên nhân gây bệnh về đường hô hấp.

- Hỏi: Con tôi 7,5 tháng tuổi, thỉnh thoảng khi cháu chơi, ngủ hoặc ăn... nghe có tiếng khò khè trong hơi thở của cháu. Tôi cảm giác như là có đờm ở trên vòm họng (chỗ lỗ mũi thông xuống). Như vậy là cháu bị sao? Có phải là viêm đường hô hấp trên không? Cách chữa trị như thế nào xin bác sĩ chỉ giúp. Tôi cảm ơn rất nhiều. (Thoan Minh, tuổi, minhthoan79@yahoo.com)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Theo tôi thì con chị rất dễ bị hen. Chị phải đến ngay Bệnh viện Nhi trung ương, phòng Tư vấn hen để được hướng dẫn cách điều trị cho cháu.

- Hỏi: Chào bác sĩ, con cháu bây giờ được 9,5 tháng, rất dễ bị viêm mũi sau khi bị trớ bột. Mỗi lần như vậy, cháu đều hút mũi sạch sẽ, lau sạch và xịt nước biển Sterimar. Nhưng bé vẫn bị viêm mũi và viêm họng. Vậy bác sĩ cho hỏi, làm cách nào để tránh viêm mũi? Xin cảm ơn bác sĩ (Nguyen To Mai, 28tuổi, Yen Hoa - Cau giay – Hanoi)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Đối với cháu này phải cho ăn làm nhiều bữa nhỏ trong ngày, hết sức tránh không để cháu bị sặc lên mũi như chị vừa nói. Bởi vì chị nói là lau sạch nhưng không thể lau được sâu trong hốc mũi. Chính những chất này rất dễ bị lên men và là điểm kích thích gây viêm. Cho nên cháu rất dễ bị viêm mũi tái phát nhiều lần.

- Hỏi: Khi con tôi bị sổ mũi, dược sỹ bán thuốc thường gợi ý mua thuốc Coje về uống, chỉ cần uống chừng 3 ngày là cháu đã đỡ hẳn mũi chảy. Liệu Coje có tác dụng phụ gì không, và dùng nhiều lần có hại gì không? Xin cảm ơn. ( Nam Thắng, 28 tuổi, Cầu Giấy)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Khi dùng thuốc Coje, bạn cần phải căn cứ vào liều lượng và số lượng người ta đã hướng dẫn trong đơn thuốc. Không nên dùng quá nhiều Coje bởi vì thuốc nào cũng vậy, nếu dùng quá nhiều sẽ gây nên tác dụng phụ và gây độc.

- Hỏi: Xin bác sỹ cho biết cách phòng chống bệnh đường hô hấp cho trẻ như thế nào là tốt nhất? Sau khi bé 10 tháng tuổi mắc bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp điều trị dùng kháng sinh đã khỏi thì cần bổ sung Vitamin gì cho bé? Dùng Vitamin C liều lượng thế nào là phù hợp ạ. Xin cám ơn.( Ha Le, 30tuổi, 265 Giang Vo)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Muốn tránh được viêm đường hô hấp cho cháu thì không nên cho trẻ tiếp xúc với những người bị cúm hay những trẻ đang bị bệnh viêm đường hô hấp. Vì đấy là nguyên nhân gây cho cháu nhiễm trùng đường hô hấp. Nếu cháu ăn uống bình thường, tinh thần phát triển tốt thì không nên dùng các loại Vitamin. Nhưng nếu thấy cháu biếng ăn, thì chị nên dùng các loại Vitamin sau: Poli-hydrozon (mỗi ngày cho cháu uống 10 giọt, chia 2 lần); không nên dùng Vitamin C liều lượng cao vì đấy là nguyên nhân dễ gây ỉa chảy.

- Hỏi: Các bác cho mẹ cháu hỏi nếu bị sốt virus thì có dẫn đến chảy nước mũi không? Khi đi khám, bác sĩ chuyên khoa hỏi nước mũi trong hay vàng. Vì nếu trong thì nhỏ Otrivin, Omelie; đục thì nhỏ nước muối sinh lý argyron. Nhưng khó nói vì lúc sáng thì trong về buổi trưa đã đục rồi. Rồi có lúc thì bị tịt mũi nhưng không thấy nước mũi chảy ra ngoài. Trường hợp này phải xử lý thế nào ạ? Tại sao ngày nào mẹ cháu cũng nhỏ nước muối sinh lý để đề phòng mà cháu vẫn thường xuyên bị chảy nước mũi, tịt mũi. Bé tịt mũi sẽ dẫn đến rất nhiều tai hại như đêm quấy khóc, ăn vào nôn ra, ngủ không ngon,... Rất mong được các bác sĩ trả lời giúp ( NganAnh, tuổi, 115 BTXuan, HN)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Đối với các cháu bị nhiễm virus thì thường chảy nước mũi và nước mũi trong. Nếu nước mũi đã biến màu có thể là màu vàng, xanh, màu gỉ sắt thì đó là triệu chứng đã bị nhiễm khuẩn cần phải đến bác sĩ để điều trị.

- Hỏi: Trẻ bị bệnh đường hô hấp kéo dài có thể gây ra những biến chứng gì thưa bác sĩ? Tôi nghe nói bị hô hấp lâu dài có thể bị khớp dẫn đến bệnh tim, có đúng không ạ? (Ngọc Quỳnh, Ngõ Thịnh Hào, Đống Đa, HN)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Viêm họng đối với trẻ em ở lứa tuổi từ 3 tuổi trở lên thì rất dễ gây ra biến chứng về tim nếu tác nhân đó là do liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A gây nên. Vì vậy đối với các cháu từ 3 tuổi trở lên mà hay bị viêm họng thì phải được bác sĩ nhi khoa khám xét kỹ để dùng các loại thuốc kháng sinh thích hợp trị bệnh, nhất là nguyên nhân do liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A, bới vì đó là nguyên nhân chính gây ra bệnh thấp tim.

- Hỏi: Có cách nào để cháu bé ho mà không uống kháng sinh vẫn khỏi không ạ, thưa bác sĩ ? (Nguyễn Phương Lan, 33 t, Hà Nội)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Tất cả các loại ho mà không phải do vi khuẩn thì không cần dùng một loại kháng sinh nào các cháu vẫn khỏi.

- Hỏi: Bác sĩ có thể giới thiệu một số thuốc kháng sinh thông dụng trị viêm đường hô hấp trẻ em? Tôi đọc một bài báo thấy nói rằng thuốc kháng sinh Am-pi-xi-lin nay đã không còn công dụng vì bị lạm dụng nhiều và vi khuẩn trở nên nhờn thuốc... Điều này chắc không đúng với các cháu bé không ạ? (Trần Thị Minh Hoa, Hà Nội)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Sử dụng thuốc kháng sinh nhất thiết phải được chỉ dẫn của người thày thuốc. Đối với từng bệnh và đối với từng đứa trẻ không thể dùng kháng sinh một cách chung chung được. Và tôi cũng khuyên chị không nên dùng thuốc kháng sinh cho cháu khi cháu mới bị ho hoặc có các triệu chứng về đường hô hấp, vì làm như vậy vi khuẩn sẽ nhờn kháng sinh và lại rất có hại cho cháu.

- Hỏi: Bác sĩ cho tôi hỏi, vì sao bé bị chảy nước mũi màu xanh? Nước mũi đặc hay loãng thì bệnh nặng hơn ạ? (Bình Nguyên, Hà Nội)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Cháu bị chảy nước mũi màu xanh tức là cháu đã bị nhiễm khuẩn đường mũi họng, cần phải đến ngay bác sĩ để khám và cho kháng sinh thích hợp.

- Hỏi: Xin chào bác sĩ. Tôi hiện có một cháu đã được 21 tháng tuổi và cháu thường hay biếng ăn và nhất là mỗi khi trời chuyển mùa hơi se se lạnh là bé lại sổ mũi. Mỗi khi như vậy cháu uống thuốc rất lâu mới khỏi. Tôi rất sợ cháu bị viêm mũi nhưng không biết làm cách nào để điều trị cho dứt và phòng ngừa tái diễn tình trạng sổ mũi liên tục như thế(Bé của tôi 21 tháng nhưng chỉ nặng có 10 kg và cao 90 cm thôi. Như thế có bị suy dinh dưỡng không vậy?). Cảm ơn bác sĩ nhiều lắm. ( Le Minh Xuan, 26tuổi, Cu Chi TPHCM)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Theo tôi cháu có triệu chứng của bệnh hen phế quản. Chị phải cho cháu đến bệnh viện Nhi đồng 1 để khám và điều trị cho cháu. Cháu đã 21 tháng mà nặng có 10kg thì đã bị suy dinh dưỡng. Khi đưa cháu đến bệnh viện Nhi đồng 1, chị sẽ được các bác sĩ khám và tư vấn về cách bổ sung chất dinh dưỡng cho cháu.

- Hỏi: Xin hỏi, trẻ con sau lưng có môt vài đốm trắng là bị làm sao? (Nguyen Xuan Ba, 27tuổi, 45 batrieu - Hà Nội)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Xin mời anh đưa cháu đến chuyên khoa da liễu khám. Có thể cháu bị bệnh nấm.

- Hỏi: Xin bác sĩ cho biết một số loại kháng sinh thường dùng để điều trị viêm đường hô hấp: mũi, họng, phế quản, phổi... Cách phòng bệnh viêm đường hô hấp trong mùa này? Chân thành cảm ơn bác sĩ!(Lan, 31tuổi, Hai phong)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Các bà mẹ nên chú ý: dùng kháng sinh cho con nhất thiết phải có sự hướng dẫn của thày thuốc chứ không dùng tuỳ tiện được. Việc này rất nguy hiểm, tốn tiền mà không hiệu quả. Hiện vi khuẩn đường hô hấp đã kháng lại một số loại kháng sinh ở Việt Nam!

- Hỏi: Bác sĩ làm ơn cho hỏi, làm cách nào để phòng được bệnh sổ mũi theo mùa? Có nên cho bé 1 tuổi đi chơi bằng xe máy không?(Nguyen Hong Van, 29tuổi, 26 Hàng Mã- HN)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Con của bạn rất dễ bị viêm mũi dị ứng, vậy bạn phải đưa cháu tới khoa Dị ứng miễn dịch để làm một số xét nghiệm và ở đó bác sĩ sẽ khuyên bạn dùng loại thuốc gì cho thích hợp cho cháu.

- Hỏi: Khi bé bắt đầu có biểu hiện hắt xì hơi, chảy nước mũi trong thì tôi cần phải làm gì để ngăn chặn ngay lập tức? Uống siro ho, chanh hấp mật ong, nhỏ mũi bằng nước muối 0,9%? (Nguyen Hong Van, 29tuổi, 26 Hàng Mã)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Khi cháu của bạn bị chảy nước mũi trong thì anh chị nhỏ mũi bằng nước muối 0,9% là rất tốt hoặc nước biển Sterimar. Chưa nên dùng siro ho, có thể cho cháu uống một chút chanh hấp mật ong cũng rất tốt.

- Hỏi: Con tôi 22 tháng tuổi, đã nạo VA được 2 tháng nay, từ hôm đó cháu khỏe hơn nhưng cháu ăn lại hay bị nôn trớ. Nôn xong cháu lại chạy chơi bình thường. Trước đây, chỉ khi bị viêm họng cháu mới bị như vậy. Không hiểu cháu bị sao vậy thưa bác sĩ?( Le Hong Lien, tuổi, Trung tâm Tin học - Bộ Giáo dục)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Xin mời chị phải đưa ngay cháu tới chỗ nạo VA để được khám lại và có lời khuyên của bác sĩ.

- Hỏi: Con trai tôi gần 2 tuổi. Thỉnh thoảng cháu hay bị ho, không xổ mũi, không sốt, chắc ho do bị lạnh.Tôi thường cho cháu uống thuốc ho atussin hoặc hấp lá húng chanh, lá hẹ với quất và mật ong nhưng có lần đỡ lần không. Lần nào không đỡ, ho nặng hơn là lại phải dùng kháng sinh. Xin bác sĩ chỉ cho 1 vài loại thuốc ho hoặc các thuốc khác có thể sử dụng trong trường hợp này. Xin cảm ơn.( Phạm Ngọc Hà, 29 tuổi, 2A Nguyễn Đình Chiểu- HN)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Chị có thể dùng những thuốc ho Đông Y, ho bổ phế cho trẻ dưới 2 tuổi hoặc là dùng lá húng chanh, mật ong với chanh như chị thường dùng. Nếu thấy cháu ho có đờm thì chị có thể dùng Mucomist để làm long đờm cho cháu. Chị cần cho cháu uống nhiều nước hoa quả, vì dùng nhiều nước hoa quả sẽ làm cho đờm của cháu bị loãng ra, cháu có thể nuốt hoặc khạc ra ngoài dễ dàng hơn.

- Hỏi: Xin chào bác sĩ, cháu nhà tôi bị viêm VA một lần, từ đó đến nay cứ 10 ngày đến nửa tháng là cháu bị chảy mũi, bác sĩ thường cho cháu uống Celtel và Siro Brohemxine 3 ngày thì khỏi. Vậy có nên nạo VA không ạ? (hiện nay cháu mới được 9 tháng tuổi). Rất mong được bác sĩ giải đáp ( Pham Thi Thanh Hai, 33 tuổi, 190 Hoang Quoc Viet)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Cháu mới bị viêm VA một lần mà uống thuốc đã thấy khỏi thì không nên nạo VA nữa, và chị phải đến bác sĩ để tiếp tục theo dõi và chữa.

- Hỏi: Bé nhà em hay sổ mũi lại ho có đờm mỗi khi thời tiết thay đổi, nhất là từ lúc bé đi học đến giờ. Xin bác sĩ cho biết làm thế nào để phòng bệnh? (bengocngo, tuổi,)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Đối với trẻ em, một năm trung bình phải vào bệnh viện từ 1 đến 5 lần. Và chắc cháu cũng rất dễ bị sổ mũi và ho. Tôi khuyên chị, khi các cháu bị như vậy thì nên sử dụng thuốc Đông y và thuốc ho Đông y để điều trị cho cháu. Chưa nên dùng kháng sinh và các thuốc ho đắt tiền khác

- Hỏi: Con gái tôi 19 tháng tuổi. Mùa đông năm ngoái bị chẩn đoán hen trẻ con. Bác sĩ có khuyên nên tiêm phòng cúm (chúng tôi đang sống ở Pháp) vì tôi được nghe nói rằng nhiễm bệnh cúm dễ kích thích hen, không hiểu điều đó có đúng không??? Xin cảm ơn bác sĩ (Thao)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Con chị bị hen mà nếu bị cúm thì rất dễ bị kích thích hen, cho nên cần tiêm phòng cúm cho cháu.

- Hỏi: Bé nhà tôi được 1 tuổi, hay ho lúc nằm ngủ, sổ mũi trong. Đi khám bác sĩ thì uống mấy đợt kháng sinh cũng không bớt. Tôi phải làm sao? Bé hay ra mồ hôi, vậy nằm quạt được hay không. Cảm ơn BS.( Loan, tuổi, Đà Nẵng)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Khuyên chị là không nên cho uống kháng sinh tuỳ tiện và phải đến bác sĩ để tìm nguyên nhân để điều trị cho cháu.

- Hỏi: Cháu nhà em sinh mổ. Đến nay cháu được 5 tháng 19 ngày. Từ lúc sinh đến giờ cháu luôn có hiện tượng nghẹt mũi. Mọi người thường nói các cháu sinh mổ thường hay bị như vậy, không biết có đúng không, xin bác sĩ giải thích giùm. Hơn nữa, mấy ngày hôm nay cháu có hiện tượng mũi khò khò và húng hắng ho. Xin hỏi có cần phải đến khám tại bệnh viện không và khi nào thì coi là bệnh nặng? (Nguyen Thuy Anh, 27tuổi, Ha Dinh - Thanh Xuan – HN)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Không phải cháu nào sinh mổ cũng bị nghẹt mũi như con chị. Bị nghẹt mũi có nhiều nguyên nhân: do bị dị tật đường hô hấp, bị viêm... vì vậy chị nên cho cháu đến bác sĩ để thăm khám, đặc biệt là khám tai mũi họng

- Hỏi: Kính gửi các bác sĩ. Khoảng một tháng lại đây, cháu nhà em hay có hiện tượng khò khè về đêm (nghe rất rõ mỗi khi cháu ngậm mồm vào ti mẹ để bú). Lúc bình thường thi không nghe thấy hiện tượng đó. Thỉnh thoảng cháu cũng hay bị trớ khi ăn sữa (sữa với chất hơi nhầy, mặc dù cháu vừa ăn xong). Bác sĩ cho em hỏi: Hiện tượng hay thở khò khè về đêm của cháu? Và có phải cháu có nhiều đờm trong cổ họng không? Cảm ơn bác sĩ rất nhiều. (Mẹ Chau Pham Xuan Hieu, tuổi, BanMai Co., Ltd)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Tôi khuyên chị nên đưa cháu đến viện Nhi, phòng Tư vấn hen để khám. Các bác sĩ ở đó sẽ hướng dẫn chị cách điều trị cho cháu.

- Hỏi: Kính gửi bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: con gái tôi tròn 1 tuổi, bé bị cảm lạnh và chảy nước mũi trong, không sốt, thỉnh thoảng khó thở, xin bác sĩ tư vấn giùm tôi nên sử dụng loại thuốc gì? Mặc dù tôi rất cẩn thận và giữ gìn, tôi luôn mặc quần áo, quàng khăn… cho bé khi thời tiết chuyển mùa nhưng tại sao bé vẫn bị bệnh, có phải còn do nguyên nhân nào khác không? xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách phòng chống để bé không bị cảm lạnh. Tôi chân thành cảm ơn. ( Tran Thuy Hoa)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Cảm mà hay bị chảy nước mũi là đúng rồi, cho nên, trước khi ra đường, nhất là mùa rét, chị phải mặc áo ấm cho cháu, khẩu trang, khăn quàng cổ, chân phải đi giầy, tất… Khi áo trong của cháu có mồ hôi thì phải thay ngay. Ban đêm, mùa nóng cũng như mùa lạnh, nhiệt độ phòng ngủ phải ổn định. Không được nóng quá và cũng không được lạnh quá.



Phần trả lời của Bác sĩ Lê Thị Minh Hương, Khoa Hô hấp, Viện Nhi Trung ương

Hỏi: Thưa bác sĩ, trẻ em thường mắc bệnh về hô hấp khi nào? Xin bác sĩ cho biết cách phòng bệnh? (Lan Minh, tổ 42, Khương Trung, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương: Trẻ em thường mắc các bệnh về đường hô hấp vào thời điểm giao mùa, khi thời tiết thay đổi thất thường. Khi có các bệnh dịch cảm cúm kèm theo. Cách phòng bệnh tốt nhất cho trẻ là tăng cường sức đường kháng cho trẻ bằng các biện pháp sau: chăm sóc trẻ tốt, vệ sinh cá nhân và môi trường, đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ theo từng độ tuổi, tăng cường vitamin C, tiêm phòng cúm cho trẻ hàng năm vào đầu mùa Thu- Đông, tránh cho trẻ tiếp xúc với những người đang bị ốm.

* Hỏi: Cháu tôi năm nay 2 tuổi, được bác sĩ chẩn đoán là hen phế quản từ nhỏ. Thời tiết thay đổi cháu hay khó thở và phải dùng tới thuốc hỗ trợ (tôi không nhớ rõ là thuốc gì). Xin bác sĩ cho biết khi lớn lên cháu có hết bệnh này không? (Hà Minh, 30 tuổi, Vĩnh Hồ, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương: Hen phế quản là một bệnh mãn tính đường thở. Hiện nay trên thế giới mới chỉ kiểm soát bệnh hen bằng các thuốc dự phòng chứ chưa chữa khỏi hẳn được. Tuy nhiên nếu con bạn mới 2 tuổi và tiền sử gia đình không có ai bị hen, nếu cháu được dự phòng tốt và kiểm soát các nguyên nhân gây kích phát cơn hen như viêm nhiễm đường hô hấp trên, tránh được các dị nguyên, khi lớn lên cơn hen có thể thưa dần và dịu đi.

- Hỏi: Thưa bác sĩ, trẻ con bị viêm đường hô hấp khi uống thuốc phải kiêng thức ăn tanh có đúng không? (Mai Anh, Thọ Xuân, Thanh Hoá)

- Bác sĩ Minh Hương: Nếu trẻ không bị dị ứng với các thức ăn tanh, thì vẫn cho trẻ ăn bình thường

- Hỏi: Thưa bác sĩ, con nhà cháu năm nay 4 tuổi, thay đổi thời tiết cháu thường hay bị ho, sốt, viêm họng. Nếu dùng kháng sinh là thuốc Amoxinlinhay Cephalin thì có được không vì có bác sĩ nói trẻ con không nên dùng Cephalexin? (Thanh Bình, tập thể Ngân hàng, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương: Khi trẻ bị viêm hỏng cấp có thể dùng kháng sinh Amoxilin với liều 50 mg/cân nặng/ngày trong vòng 5 đến 7 ngày. Tốt hết là khi cháu bị ốm cha mẹ nên cho cháu đi khám bác sĩ để có chẩn đoán chính xác và có pháp đồ điều trị thích hợp. Tránh tự ý dùng kháng sinh cho trẻ khi chưa có chỉ định của bác sĩ.

- Hỏi: Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân về viêm tai giữa ở trẻ, có liên quan đến đường hô hấp phải không ạ? Bác sĩ cho cháu biết cách phòng tránh với? (Lê Hằng, TT Nghĩa Tân, Hà Nội).

- Bác sĩ Minh Hương: Đúng. Viêm tai giữa nếu không được điều trị dẫn đến viêm lan xuống đường hô hấp. Vì giữa tai và vòm họng có ống thông. Cách phòng tránh khi trẻ bị viêm tai giữa bạn cho cháu đến khám bác sĩ chuyên khoa Tai – Mũi- Họng để điều trị. Ngoài ra, bạn có thể tăng cường sức đề kháng cho trẻ bằng các phương pháp chung như: dinh dưỡng tốt, uống thêm vitamin C, rửa sạch đường hô hấp trên bằng các dung dịch muối sinh lý (natri clorit 0,9 phần nghìn).

- Hỏi: Bác sĩ ơi, nhiều người cho rằng trẻ nhỏ thường mắc các bệnh về hô hấp một phần là do cha mẹ “giữ” con quá, không cho trẻ tiếp xúc với môi trường bên ngoài nhiều. Nói vậy có đúng không, thưa bác sĩ? (Nguyễn An, Thanh Xuân, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương: Nếu trẻ ít được tiếp xúc với môi trường bên ngoài, đến khi trẻ tiếp xúc với môi trường mới như đi nhà trẻ, mẫu giáo.... thì khả năng lây nhiễm các bệnh sẽ cao hơn các trẻ đã từng được tiếp xúc nhiều. Nguyên nhân là do trẻ chưa có miễn dịch đối với các loại virus, vi khuẩn trong môi trường. Theo tôi, sau khi trẻ được hơn 1 tháng, cho trẻ tiếp xúc dần với môi trường xung quanh bằng cách cho đi dạo hàng ngày 5-10 phút vào buổi sáng… Khi trẻ lớn hơn cho trẻ tiếp xúc với các trẻ khoẻ xung quanh cùng lứa tuổi.

- Hỏi: Khi cháu bé bị viêm đường hô hấp, bị sốt thì có nên tắm rửa bình thường không, thưa bác sĩ? (Thanh Nga, Hàng Bạc, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương: Trong trường hợp này, các bà mẹ nên vệ sinh lau rửa hàng ngày cho cháu bằng nước ấm đến khi trẻ hết sốt, không có triệu chứng suy thở thì hãy tắm cho trẻ trong phòng kín gió, tránh nơi gió lùa.

- Hỏi: Thưa bác sĩ, con tôi hiện nay được 13 tháng tuổi, đã tiêm phòng các mũi trong chương trình tiêm chủng như: viêm gan B, Pentact Hib (bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm màng não mủ…) Lao, Sởi. Vậy tôi nên tiêm cho cháu các loại vaccine nào nữa? (Minh, 28 tuổi, Thanh Xuân, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương: Trẻ 1 tuổi ngoài tiêm chủng 6 bệnh như: lao, bạch hầu, uốn ván, ho gà, bại liệt, sởi. Hiện nay còn khuyến cáo tiêm thêm cho trẻ các vaccine như viêm gan B, quai bị, rubella, HiB và phòng cúm hàng năm. Nếu vậy con bạn nên tiêm phòng quai bị, rubella, và phòng cúm.

- Hỏi: Xin bác sĩ cho biết, bệnh hô hấp hay gặp, cách phòng chống. Xin cảm ơn bác sĩ (Trần Văn Tuyên, 35tuổi, 236 Bưu điện trung tâm Sai gon - TP.HCM)

- Bác sĩ Minh Hương: Bệnh hô hấp thường gặp ở trẻ nhỏ là bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp. Ước tính hàng năm có khoảng từ 30 đến 50% trẻ em dưới 5 tuổi đến khám bệnh vì nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp. WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) đã có chương trình toàn cầu về phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp.

Tại Việt Nam, chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp được thực hiện từ năm 1984, bao gồm: chăm sóc bà mẹ từ khi có thai để tránh đẻ non, tổ chức cuộc đẻ an toàn, dinh dưỡng phù hợp các lứa tuổi của trẻ, tiêm chủng đúng đủ, theo lịch, phải vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường, rèn luyện thân thể và cách ly trẻ với những người bị nhiễm bệnh.

- Hỏi: Thưa bác sĩ, con tôi năm nay 3 tuổi. Đã 3 tháng cháu đi học mẫu giáo và thường xuyên bị sốt, viêm họng.. Cứ khỏi được 3 ngày lại bị lại. Cháu đã uống rất nhiều loại thuốc nhưng không dứt. Tôi đưa cháu đi khám tại một nhà khám tư (bác sĩ Viện Nhi), có kê đơn cho cháu dùng kháng sinh 2 tháng. Kê đơn như vậy có hợp lý không thưa các bác sĩ? (Minh Hồng, Thái Hà, Hà Nội).

- Bác sĩ Minh Hương: Trẻ mới đi học mẫu giáo là giai đoạn trẻ phải tiếp xúc với rất nhiều các yếu tố nguy cơ, viêm nhiễm cao, nếu con chị bị rất nhiều đợt viêm nhiễm và dùng rất nhiều loại kháng sinh và không dứt, thì chị nên cho cháu đến bệnh viện để làm xét nghiệm chẩn đoán và tìm thuốc điều trị thích hợp. Trường hợp bác sĩ tư kê cho cháu dùng kháng sinh 2 tháng là chưa hợp lý.

- Hỏi: Thưa bác sĩ, con tôi năm nay 4 tuổi, nặng 18 kg. Cháu bị ho và sổ mũi (không sốt) đã 10 ngày nay. Tôi đã cho cháu uống thuốc cephalexin 250 mg ngày 3 viên, chia 2 lần. Sau 7 ngày uống thuốc, cháu đã hết sụt sịt nhưng thỉnh thoảng vẫn còn ho. Cháu dừng thuốc và cho cháu uống thuốc Bé ho. Dùng thuốc như vậy có đúng không, thưa bác sĩ? Tôi có phải mang cháu đến khám hay chụp phổi không? (Minh Hà, A8, Vĩnh Hồ, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương:Sau khi viêm đường hô hấp trẻ có thể còn ho húng hắng trong vòng 1- 2 tuần. Trong những trường hợp như thế, cha mẹ chỉ cần cho cháu uống thêm một vài ngày sirô bé ho hoặc uống nhiều nước, hay dùng mật ong và quất (trộn đều) sau đó hấp để cháu uống dần trong vài ngày, ho sẽ giảm dần và khỏi hẳn. Nếu cháu sốt, ho nhiều, khó thở... nên cho cháu đi khám và chụp phổi tại các trung tâm y tế gần nhất.

- Hỏi: Con tôi 11 tháng tuổi, bị viêm phế quản, bác sĩ đang cho uống kháng sinh (Ceclor) và thuốc ho Bricanyne. Cháu uống thuốc được 3 ngày nhưng ho vẫn rất dữ dội, tôi vô cùng lo lắng. Vậy tôi có nên cho bé đi hút đờm, chấm họng hay làm gì khác không? (Chị Nguyễn Hồng Vân, hỏi qua điện thoại)

- Bác sĩ Minh Hương: Nếu con chị bị viêm phế quản đã được dùng kháng sinh và Bricanyne mà vẫn ho dữ dội thì chị nên cho cháu khám lại tại viện, để bác sĩ chẩn đoán lại và cho thêm khí dung, các thuốc chống co thắt phế quản hoặc hút đờm dãi thông thoáng đường thở.

- Hỏi: Lao sơ nhiễm ở trẻ nhỏ là bệnh như thế nào? Cách nhận biết và phòng chống? Trẻ đã tiêm phòng lao có đảm bảo không mắc bệnh hay không? (Củ Cải, 28 tuổi, Hà Nội)

- Bác sĩ Lê Thị Minh Hương: Lao sơ nhiễm là một bệnh nhiễm lao hạch cuống phổi hoặc có một điểm lao khu trú tại phổi. Cách nhận biết bệnh như sau: trẻ chậm lên cân, hay sốt về chiều, ho kéo dài và có thể có tiền sử tiếp xúc với người bị bệnh lao. Nếu trẻ đã được tiêm phòng lao tốt thì tỷ lệ mắc bệnh ít hơn nhưng điều đó còn phụ thuộc vào đáp ứng miễn dịch của tuỳ từng trẻ.

- Hỏi: Cháu nhà em hay ho nhưng không ho rõ, chỉ eeee một tý rồi thôi, nhưng mà bị nhiều lần trong ngày. Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân nào và làm thế nào giải quyết được? Xin cảm ơn bác sĩ (Kim Thanh Tú, 23tuổi, Thanh Hà- Hải Dương)

- Bác sĩ Minh Hương: Nếu chỉ mới chỉ eee một tý có thể là triệu chứng của viêm họng nhẹ gây ngứa cổ. Nếu triệu chứng đó kéo dài, chị nên cho cháu đến bác sĩ tai-mũi- họng để khám.

- Hỏi: Tôi bị ho nhiều nhưng không bị cúm, tôi đã dùng nhiều loại thuốc nhưng không khỏi. Tôi đi làm buổi tối nhưng đều đeo khẩu trang, vậy nhờ bác sĩ xem giúp ( Nguyen hoa binh, 19tuổi, Lê Thanh Nghị)

- Bác sĩ Minh Hương: Ho bị nhiều nhưng không cúm thì có thể do viêm dị ứng. Ban nên đi kiểm tra ở khoa dị ứng miễn dịch, Bệnh viện Bạch Mai để tìm nguyên nhân và cách điều trị.

- Hỏi: Bác sĩ cho tôi hỏi bệnh hen sữa ở trẻ em có triệu chứng như thế nào? có chữa khỏi được không? và có liên quan như thế nào với bệnh hen mãn tính (Nguyễn Thị Hải, 27tuổi, Phường Ninh xá-TX Bắc Ninh-Tỉnh Bắc Ninh)

- Bác sĩ Minh Hương: Hen ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi do nguyên nhân viêm nhiễm đường hô hấp nhiều lần làm tăng mẫn cảm đường phế quản. Các triệu chứng ho kéo dài, khò khè khó thở của trẻ thường liên quan đến viêm đường hô hấp do virus hoặc vi khuẩn. Nếu trẻ được kiểm soát tốt các yếu tố gây viêm, phòng chống hen kịp thời thì bệnh hen sẽ được cải thiện rõ rệt. Nếu trong gia đình không có ai bị hen, sau 5 tuổi các yếu tố viêm nhiễm được kiểm soát thì bệnh hen có thể khỏi. Nếu trẻ không được điều trị tốt và kịp thời thì tình trạng viêm nhiễm xảy ra mãn tính tại phế quản sẽ làm thay đổi cấu trúc thành phế quản, dẫn tới hen mãn tính ở trẻ khi lớn.

- Hỏi: Thưa bác sĩ, bệnh nghiến răng khi ngủ ở trẻ em có liên quan đến đường hô hấp không? Làm thế nào để chữa căn bệnh này? (Mai Thu, Gia Phú, Gia Viễn, Ninh Bình).

- Bác sĩ Minh Hương: Hiện nay, vẫn chưa có nghiên cứu về vấn đề này ở trẻ em.

- Hỏi: Mỗi lần thay đổi thời tiết, con tôi lại bị ho, sổ mũi và nếu không dùng kháng sinh cháu lại bị sốt. Vậy phải phòng chống như thế nào, thưa bác sĩ? (Lê Thị Mai, B4, ngõ 41/4, Thái Hà, Hà Nội).

- Bác sĩ Minh Hương: Nếu mỗi lần thay đổi thời tiết, con bạn bị ho và sổ mũi, có thể con bạn bị bệnh viêm mũi dị ứng do thời tiết. Phòng chống bệnh bằng cách: giữ ấm cho trẻ sau những ngày thay đổi thời tiết, tránh ra đường hoặc tiếp xúc với những người đang bị ốm, cho trẻ uống sữa ấm có pha chút mật ong, rửa mũi hàng ngày cho trẻ (bằng dung dịch muối sinh lý hoặc sterimar dạng xịt). Nếu bệnh không đỡ, bạn nên cho trẻ đi khám để xác định nguyên nhân gây viêm nhiễm.

- Hỏi: Thưa bác sĩ, cháu nhà tôi bị viêm phế quản cấp, bác sĩ kê cho uống thuốc Cifex, nhưng sau khi uống 3 ngày thì bị nổi mề đay ở hai cánh tay (trên người không có). Như vậy có phải cháu đã bị dị ứng thuốc không? và nếu đúng như thế thì có ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của cháu sau này không? Và phải cho cháu uống thuốc gì ngay sau khi phát hiện? (Phạm Quang Minh, Thanh Xuân, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương: Có thể cháu đã bị dị ứng với kháng sinh Cifex. Cháu chỉ bị nổi mề đay ở cánh tay thì chưa có ảnh hưởng gì đến sự phát triển của cháu sau này. Chị nên ghi lại tên thuốc gây dị ứng để lưu ý sau này không nên cho cháu uống lại lần thứ 2.

- Hỏi: Bé nhà tôi 4,5 tháng tuổi có hiện tượng thở khò khè, ho nặng tiếng. Bác sĩ chẩn đoán Viêm phế quản co thắt, chỉ định uống Zinnat 125mg ngày 2 lần (5ml/lần), Ventolin (ngày 2 lần, 2ml/lần), Celestene ngày 2 lần, 1/2 viên/lần, nhỏ mũi ngày 3 lần Otrivin, tất cả sử dụng trong 7 ngày. Mong bác sĩ giải thích thêm về bệnh VPQ co thắt, cách điều trị và phòng bệnh để tránh tái phát? Trong thời tiết giao mùa như ở miền Bắc nên chăm sóc trẻ như thế nào để hạn chế các bệnh hô hấp? Cho trẻ uống thêm Broncho Vaxom có tác dụng tốt không? Xin cảm ơn bác sĩ.( Phạm Anh Hương, 28tuổi, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương: Viêm phế quản co thắt là hiện tượng trẻ bị thở khò khè, thở rít, khi trẻ bị viêm phế quản. Nếu trẻ bị viêm phế quản co thắt trên 3 lần thì nguy cơ dẫn đến hen phế quản. Để phòng bệnh tái phát, nên chăm sóc trẻ toàn diện từ khâu dinh dưỡng cho đến tiêm chủng, vệ sinh cá nhân, môi trường, rèn luyện thân thể, cách ly trẻ với người bệnh. Trong những ngày giao mùa nên giữ ấm cho trẻ, thông thoáng vệ sinh đường thở bằng các dùng dịch muối sinh lý hoặc sterimar dạng xịt. Broncho Vaxom là vaccine đường ống có tác dụng điều trị tăng cường miễn dịch, phòng ngừa nhiễm khuẩn tái phát đường hô hấp. Chị nên cho cháu uống thuốc này theo phác đồ: mỗi tháng uống 10 ngày liền; mỗi ngày uống 1 gói trong vòng 3 tháng liên tục.

- Hỏi: Thưa bác sĩ, nếu trẻ nhỏ chỉ sổ mũi và ho (không sốt) thì có phải uống kháng sinh không? Nhỏ mũi bằng Ô-tri-vin có được không? (Hoài An, Bạch Mai, Hà Nội).

- Bác sĩ Minh Hương: Đa số các nguyên nhân gây nên hiện tượng sổ mũi, ho mà không sốt ở trẻ nhỏ là do virus hoặc cảm lạnh. Vậy kháng sinh trong những trường hợp này là không cần thiết mà chỉ nên rửa mũi cho cháu và uống các thuốc ho thông thường như bé ho, bổ phế… Ô-tri-vin 0,05% có tác dụng làm co mạch, không chảy nước mũi nhưng chỉ nên dùng cho trẻ trong vòng 5-7 ngày.

- Hỏi: Tôi muốn hỏi bác sĩ về thuốc Broncho-Vaxom. Đây là một loại thuốc dùng điều trị cho phòng các bệnh về đường hô hấp phải không ạ? (Linh Huong, 35tuổi, Láng Hạ)

- Bác sĩ Minh Hương: Đúng. Thuốc Broncho-Vaxom là loại vaccine dạng uống bao gồm các vi khuẩn đông khô: Haemophilus Influenzee, Diplococcus pneumoniae, Klebsiella pneumoniae, Khlebsiella ozaenae, Staphylococcus aureus, Streptococcus pyogenes, Streptococcus viridans và Neisseria catarrhalis. Thuốc dùng để điều trị tăng cường miễn dịch, phòng ngừa nhiễm khuẩn tái phát đuờng hô hấp. Bạn nên cho trẻ uống thuốc này theo phác đồ: mỗi tháng uống 10 ngày liền; mỗi ngày uống 1 gói trong vòng 3 tháng liên tục.

- Hỏi: Xin chào bác sĩ. Bác sĩ làm ơn cho hỏi, con gái tôi 17 tháng. Cách đây 2 tuần cháu có bị ho và đi khám được kết luận là viêm phế quản phải tiêm một loại thuốc kháng sinh và một loại thuốc chống viêm trong vòng 6 ngày, đồng thời bác sĩ cho uống thêm thuốc long đờm xiro và thuốc Celestene (6v). Tôi nghe nói thuốc giãn phế quản Celestene có ảnh hưởng đến thần kinh, vậy uống 6 viên trong vòng 3 ngày như con gái tôi có ảnh hưởng gì không? Bác sĩ cũng cho hỏi thêm, con gái tôi sau khi tiêm 6 ngày đã khỏi hẳn không còn ho 1 tuần, nay cháu lại bị ho lại, nhiều đờm nhưng không có tiếng rít, vậy uống kháng sinh không thì có được không? Bác sĩ cũng cho biết thêm hiện tượng viêm phế quản là như thế nào? Xin cảm ơn bác sĩ (Phương Anh, 30 tuổi, Hà Nội).

- Bác sĩ Minh Hương: Celestene là một loại thuốc chống viêm, chống phù nề. Nếu con bạn mới chỉ uống 3 ngày với liều lượng như trên thì không ảnh hưởng gì tới thần kinh. Thuốc này cần uống sau khi ăn no, nếu uống lúc đói có thể làm loét dạ dày. Sau khi đã khỏi ho một tuần, nay trẻ bị ho lại, có thể trẻ lại bị một đợt viêm mới. Theo tôi chị nên cho cháu đến bệnh viện để kiểm tra công thức máu và Xquang tim phổi để chẩn đoán tình trạng viêm nhiễm của cháu. Nếu cần thiết bác sĩ sẽ cho dùng kháng sinh.

- Hỏi: Thưa Tiến sĩ Minh Hương, xin chị cho biết, vaccine não Nhật Bản nên tiêm vào lúc mấy tuổi và vào thời gian nào trong năm thì tốt? (NHM, Hà Nội)

- Bác sĩ Minh Hương: Tiêm từ 12 tháng tuổi trở lên, tiêm 3 mũi. Mũi thứ 2 cách mũi 1 là 2 tuần, mũi thứ 3 cách mũi thứ 2 là 1 năm. Sau đó, cứ 3 năm thì tiêm lại một lần. Thời điểm thích hợp để tiêm là: từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau, vì dịch này thường phát vào tháng 4 hoặc tháng 5.

- Hỏi: Con tôi bị ngạt mũi, thở khò khè... có phải nhỏ thuốc kháng sinh không? (Lê Thu, 30 tuổi, Khương Trung)

- Bác sĩ Minh Hương: Ngạt mũi, thở khò khè là triệu chứng của viêm đường hô hấp. Việc quyết định có dùng kháng sinh hay không, chị nên cho cháu đến các cơ sở y tế để khám.

- Hỏi: Chau nho 1 tuoi, hay bi chay nuoc mui trong, sau do chuyen thanh ngat mui. Hoi bs nen nho cho tre thuoc gi de ngan chan ngay tu dau tranh bi ngat mui gay kho tho va tranh tinh trang nuoc mui chay nguoc vao trong gay viem phoi.( ThuanBB, 28tuổi, Ha noi)

- Bác sĩ Minh Hương: Hiện tượng trẻ bị viêm mũi xuất huyết có thể dùng muối sinh lý rửa hàng ngày để loại bỏ nguyên nhân gây viêm mũi như bụi bẩn hoặc các di nguyên. Dùng các loại thuốc như: Otrivin 0,05% hoặc Acgyrol 1% nhỏ 2-3 lần/ngày trong vòng từ 5-7 ngày. Nếu không đỡ, bạn nên cho trẻ đi khám bác sĩ chuyên khoa Tai-Mũi-Họng để được điều trị thích hợp.

- Hỏi: Xin hỏi bác sĩ, cháu bé 21 tháng, không sốt, chơi bình thường nhưng chảy nước mũi, sau đó chuyển sang mũi đặc, xanh. Điều đáng ngại là cả ngày cháu không ho nhưng khi ngủ (trưa hoặc tối) thì ho vài tiếng và nôn ra hết. Xin được hỏi cháu bị bệnh gì và nên điều trị như thế nào? (Nguyễn Thiếu Hoa, 27tuổi, 82 Ngoc Khanh, Ha Noi)

- Bác sĩ Nguyễn Văn Lộc: Như vậy cháu đã bị viêm mũi. Cho nên, cháu phải dùng kháng sinh nhưng phải đi khám để được hướng dẫn của bác sĩ Nhi khoa./.

(phongmach.vovnews)
Hạn chế dùng kháng sinh, nên dùng nước biển dạng xịt để phòng ngừa bệnh tái phát và loại bỏ những yếu tố gây dị ứng là các biện pháp quan trọng đối với bệnh đường hô hấp, GS-TS Nguyễn Hữu Khôi thuộc trường Đại học Y dược TP HCM, trao đổi trong buổi phỏng vấn trực tuyến với VnExpress.net sáng 12/12.

- Cháu bị viêm xoang khoảng 3 năm nay, cứ khi thời tiết thay đổi là mũi lại bị nghẹt, chảy tiết dịch đặc rất khó chịu, đặc biệt khi ngồi và đi ngủ. Giờ cháu đang có bầu hơn 3 tháng, mũi cháu lại tái diễn, cháu đã đi khám và điều trị rửa, xông thuốc kèm theo uống kháng sinh nhẹ. Tuy nhiên bệnh chỉ đỡ chứ không khỏi. Mong bác sĩ tư vấn? (Trần Lan Hương, 26 tuổi, TP HCM)

- GS-TS Nguyễn Hữu Khôi: Trước tiên, cần lưu ý khi mang bầu trong ba tháng đầu, bạn nên hạn chế sử dụng thuốc uống và thuốc tiêm chích, nếu không thực sự cần thiết, vì lúc này bào thai đang hình thành dễ có những bất thường, dị hình cho trẻ. Riêng trường hợp của bạn, viêm mũi xoang do dị ứng thời tiết, kháng sinh thường không giải quyết được mà ngược lại một số kháng sinh còn có hại cho thai nhi. Tốt nhất là nên dùng các thuốc tại chỗ để nhỏ, bơm, hoặc xịt vào mũi. Sự lựa chọn trước tiên là dung dịch nước muối sinh lý hoặc nước biển sâu đã xử lý để bơm rửa mũi hoặc xịt vào mũi. Điều quan trọng là phải thực hiện nhiều lần trong ngày.

- Cháu năm nay 17 tuổi, bị nghẹt mũi 4 tháng nay. Đã đi bệnh viện để chữa trị, nhưng bệnh tình không khỏi. Cháu uống thuốc riết giờ thấy là phát sợ (hơn 2 tháng). Triệu chứng của cháu là trời lạnh là nghẹt cứng cả mũi (có khi cả 2 bên). Cháu có nghe nói dùng chai xịt dạng nước sẽ giúp ngăn ngừa vi khuẩn và làm thông mũi. Mong bác sĩ tư vấn giúp cháu và nên dùng loại xịt nào cho phù hợp. (Tran Thuy Duyen, 17 tuổi, TP HCM)

- Dược sĩ Phan Thị Thanh Thúy: Bệnh tình của bạn đã chuyển sang giai đoạn mãn tính. Vậy điều cần thiết là bạn phải đến các cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa tai mũi họng để được chẩn đoán và có hướng điều trị thích hợp.

Các dạng chai xịt mũi bao gồm nhiều nhóm có tác dụng trị liệu khác nhau. Hiện tại trên thị trường cũng có nhiều sản phẩm với thành phần nước muối, nước biển sẽ giúp bạn phòng ngừa và hỗ trợ điều trị tốt. Ví dụ: Xisat, Natri clorid... Tuy nhiên, bạn nên chọn những loại thuốc có thành phần chứa nhiều khoáng chất sẽ làm tăng tác dụng kháng khuẩn và dạng chai xịt sẽ giúp đào thải hoàn toàn gỉ mũi, giúp mũi thông thoáng hơn.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Các bác sĩ đang tư vấn cho độc giả về các bệnh đường hô hấp. Ảnh: Đức Quang

- Bé nhà tôi năm nay 4 tuổi, bị sổ mũi 1 tuần, đi khám tại Viện Tai Mũi Họng và bác sĩ chẩn đoán bé bị viêm xoan. Tôi rất bất ngờ và lo lắng. Tôi băn khoăn không biết viêm xoang có chữa triệt để được hay không? Hàng ngày tôi vẫn nhỏ nước muối 0,9% cho bé ngày 2 lần. Nhỏ mũi liên tục như vậy có ảnh hưởng gì không? Xin cảm ơn bác sĩ! (Minh Thi, 31 tuổi, TP HCM)

- GS-TS Khôi: Cháu bé 4 tuổi bị sổ mũi một tuần thì chưa phải là viêm xoang, mà nhiều khả năng bị nhiễm siêu vi hô hấp. Bạn không nên bất ngờ và quá lo lắng vì nhiễm siêu vi hô hấp, cảm lạnh... là một bệnh lý đường hô hấp rất thường gặp ở trẻ.

Việc điều trị cũng đơn giản, không cần phải dùng nhiều thuốc, đặc biệt là không cần dùng kháng sinh. Nếu cháu có sốt cao trên 38,5 độ, cho uống thêm thuốc hạ sốt thông thường như Paracetamol gói. Nhỏ nước muối sinh lý 9/1.000 là cách điều trị đúng đắn nhưng phải nhỏ nhiều lần trong ngày (ít nhất cũng phải 4-5 lần trở lên). Đối với trẻ nhỏ thì xịt nước muối vào mũi là thích hợp hơn, hiện nay tại các nhà thuốc đã có loại bình xịt nước muối dùng cho trẻ em. Xịt nước muối sinh lý vào mũi là hoàn toàn không có hại.

- Tôi cứ sáng dậy, trời trở lạnh, ngồi máy lạnh, ngửi mùi khác lạ thì hay bị hắt hơi, sổ nước mũi trong, có khi cả tiếng đồng hồ sau mới hết. Đi khám thì có nơi nói lệch vách ngăn, có nơi nói viêm mũi dị ứng, có nơi nói viêm xoang. Xin bác sĩ cho biết tôi bị gì, chữa trị ra sao? (Hồ Thanh Hải, 28 tuổi, Đà Nẵng)

- GS-TS Khôi: Các triệu chứng mà bạn vừa mô tả, trước tiên phải nghĩ đến viêm mũi có rối loạn vận mạch và dị ứng. Chỉ khi nào thăm khám trong mũi thấy rõ vách ngăn mũi không ở vị trí bình thường, mới gọi là lệch vách ngăn. Lệch vách ngăn làm rối loạn thông khí trong mũi, dễ đưa đến viêm mũi vận mạch và dị ứng. Nhiều người không bị lệch vách ngăn vẫn bị viêm mũi vận mạch và dị ứng là do những chất kích thích của môi trường và sự thay đổi khí hậu đột ngột. Cách điều trị cần kết hợp các thuốc chống dị ứng, cải thiện môi trường khí thở và luyện tập hô hấp để tăng khả năng thích nghi. Bạn chỉ mổ chỉnh vách ngăn khi bị lệch rõ rệt.

- Các cháu bé 1-3 tuổi khi dị ứng với thời tiết thường có biểu hiện ban đầu là hắt hơi, sổ nước mũi trong, sau đó là chuyển nước mũi dịch đặc và ho. Vậy dùng thuốc nào, chăm sóc ra sao để có thể chặn ngay từ lúc biểu hiện ban đầu, tránh bị nặng hơn như mũi dịch đặc, ho, khó thở... (Nguyễn Sơn Trà, 32 tuổi, TP HCM)

- DS Thúy: Điều quan trọng là phải có những biện pháp phòng ngừa cho bé như: mang khẩu trang khi ra đường, giữ ấm cổ họng, vệ sinh răng miệng thường xuyên, tránh tiếp xúc với các yếu tố có thể gây dị ứng như lông vật nuôi, phấn hoa, bụi bẩn...

Ngoài ra nên tạo thói quen vệ sinh mũi hàng ngày cho bé bằng cách nhỏ các dung dịch vệ sinh mũi với thành phần nước muối, nước biển sâu. Hiện tại trên thị trường cũng có rất nhiều loại thuốc dạng này, tuy nhiên bạn cần chọn những sản phẩm có bổ sung thêm các thành phần khoáng chất như: đồng, kẽm sẽ giúp bé phòng ngừa hữu hiệu hơn.

- Tôi có nghe nói, nước biển sâu có thể ngăn ngừa viêm mũi dị ứng và viêm xoang. Xin hỏi, điều này có đúng không? Nước biển sâu có vai trò như thế nào? Hiện tại đã có sản phẩm nào có chứa thành phần này trên thị trường chưa?

- DS Thúy: Nước biển sâu giàu khoáng chất, đặc biệt có chứa các nguyên tố vi lượng như Đồng, Kẽm… có tác dụng săn se niêm mạc, sát khuẩn và kháng viêm tốt nên có vai trò trong việc ngăn ngừa sổ mũi, ngạt mũi và viêm xoang. Hiện tại, trên thị trường vừa mới xuất hiện một sản phẩm có tên là Xisat có thành phần là nước biển sâu, sản phẩm có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc.

- Tôi bị viêm xoang nhiều năm với triệu chứng nhức đầu, nghẹt mũi chảy nước mũi liên tục xuống họng. Tôi mổ xoang ngày 28/5/2008. Tới nay không còn nhức đầu, nhưng những ngày gần đây có triệu chứng viêm mũi dị ứng: nghẹt mũi, sổ mũi trong, chảy mũi nhất là khi ngủ dậy. Tôi rất mệt mỏi và nản. Mong bác sĩ tư vấn giúp có cách nào khỏi hẳn không? (Nangtho, 32 tuổi, Hà Nội)

- GS-TS Khôi: Cần hiểu rằng mổ xoang không phải là biện pháp duy nhất để điều trị khỏi viêm xoang mãn tính mà cần phải kết hợp nhiều cách điều trị như: vừa chống nhiễm trùng vừa chống dị ứng giúp cho niêm mạc mũi phục hồi chức năng của mình và luyện tập để thích nghi với sự thay đổi về thời tiết. Đồng thời phải chú ý cải thiện môi trường khí thở mà chúng ta đang sống, loại bỏ những yếu tố độc hại đến đường hô hấp như các hóa chất kích thích: khói bụi, thuốc lá...

Sau mổ xoang cần được chăm sóc hố mổ định kỳ để phòng ngừa tái phát, trong đó xịt mũi bằng nước mũi sinh lý hoặc nước biển là một biện pháp đơn giản không độc hại, ít tốn kém, giúp cho sạch mũi xoang, loại bỏ một phần những chất độc hại bám trong mũi để mũi phục hồi nhanh hơn.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
GS-TS Nguyễn Hữu Khôi: điều trị viêm xoang phải phối hợp nhiều cách. Ảnh: Đức Quang

- Cháu được biết là viêm xoang bắt nguồn từ viêm mũi, vậy thì viêm mũi là do đâu mà có? Giữa Viêm mũi - Viêm họng - Viêm xoang, mối quan hệ là thế nào? Hiện nay cháu cũng bị viêm xoang (chảy nước mũi đục, ngạt mũi, nặng mặt, thỉnh thoảng đau đầu, lại ho nữa, thường hay bị vào mùa lạnh khô) cháu không biết là có chữa khỏi được không hay là chỉ hạn chế bệnh tiến triển. Cháu bị từ hồi lớp 9, năm nay 22 tuổi rồi. (Phuong Thuy, 22 tuổi, Nghe An)

- GS-TS Khôi: Mũi - xoang - họng là một hệ thống, là phần đầu tiên của bộ máy hô hấp, là cổng vào của khí thở để cơ thể sử dụng. Mũi - xoang và họng cũng là nơi thanh lọc không khí ngăn chặn những chất gây bệnh, không cho xâm nhập vào cơ thể, do vậy nó dễ bị nhiễm bệnh nhất. Mỗi ngày cơ thể hít vào 8.000-9.000 lít không khí, vậy thì những chất kích thích và độc hại có trong không khí theo vào mũi phải ngăn chặn lại.

Xoang là các hốc phụ cạnh mũi, giúp mũi hoạt động; họng là phần tiếp nối phía sau của mũi để dẫn không khí xuống khí phế quản vào phổi. Vì vậy, một viêm mũi mạn tính, đến một lúc nào đó sẽ đưa đến viêm xoang và viêm mũi xoang chắc chắn tác hại đến họng và ảnh hưởng xấu đến phế quản và phổi. Viêm mũi xoang mạn tính là bệnh dai dẳng rất khó chữa khỏi hoàn toàn, nhưng có thể chế ngự được nếu biết kết hợp các cách điều trị như: điều trị tại chỗ, dùng thuốc toàn thân, tập luyện thở và cải thiện không khí mà chúng ta đang sống.

- Một năm nay, cứ đến lúc giao mùa, khi cháu hắt xì hơi mũi cháu bị chảy máu và rất khó chịu. Sau đó nhiều lúc máu chảy ra và bị đông lại trong mũi. Cảm giác mũi lúc nào cũng ngứa và đau. Năm trước cháu đã uống 5 thang thuốc nam nhưng không đỡ. Hiện nay hằng ngày cháu đang xịt mũi bằng thuốc xịt mũi Dophazolin. Mong bác sĩ tư vấn cho cháu. Cháu xin cảm ơn! (Trần Thùy Dung, 22 tuổi, Thành phố Hà Tĩnh.)

- Dược sĩ Thúy: Các triệu chứng này chứng tỏ ngoài việc cơ địa mẫn cảm với thời tiết, thành mạch mũi của cháu còn kém bền. Vì vậy bạn cần đưa cháu đến các cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa tai mũi họng để được các bác sĩ chẩn đoán và điều trị. Không nên tự ý dùng các loại thuốc nam khi chưa biết rõ thành phần và công dụng của nó.

Theo khuyến cáo thì tất cả các loại thuốc gây co mạch (Dophazolin, Naphazolin...) không được dùng trong thời gian dài quá 7-10 ngày vì có thể làm mất tính đàn hồi của niêm mạc mũi, polyp mũi...Sau này nếu bệnh tái phát sẽ rất khó chữa trị.

Có một cách phòng ngừa đơn giản nhưng hiệu quả là vệ sinh mũi bằng các dung dịch nước muối, nước biển có bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng như đồng và kẽm (Xisat). Bạn có thể tìm mua ở các nhà thuốc trên toàn quốc.

- Lúc trước tôi mắc bệnh viêm xoang, thường là một năm bị 2 lần. Sau này tôi dùng thuốc rửa mắt, mũi Natri clorid 0.9% để vệ sinh hàng ngày và hơn 1 năm qua tôi không bị viêm nữa. Tôi cũng thường nhỏ mũi cho con tôi (2 tuổi) để phòng bệnh. Tuy nhiên, tôi phải nhỏ rất nhiều mới có hiệu quả, có khi 2 cha con nhỏ hết 1 chai 10 ml trong 1 ngày (khoảng 8-10 giọt, 1 lần x3) trong khi hướng dẫn chỉ nhỏ 1-3 giọt và 1-3 lần trong ngày. Dùng nhiều như vậy có hại không ? (Lý Minh Văn, 34 tuổi, Hà Đông)

- GS-TS Khôi: Dùng nước muối sinh lý Natri clorid 0,9% để vệ sinh mũi hàng ngày hoàn toàn không có hại nhưng phải dùng đúng cách thì hiệu quả mới rõ rệt. Trước hết là phải dùng nhiều lần trong ngày, đặc biệt ở trẻ em thì nhỏ mũi ít khi vào sâu cho nên tốt nhất là bơm thuốc vào mũi hoặc dùng thuốc dưới dạng bình xịt. Nước muối chứa trong bình xịt khi sử dụng do có van áp lực cho nên đưa được một lượng nước đủ thấm trong mũi và vào được các ngóc ngách trong mũi, các chất gây bệnh thường ứ đọng ở trong các ngách mũi. Xịt nước muối dưới áp lực vào sâu sẽ tống suất được các chất kích thích gây bệnh bám ở trong mũi giúp cho niêm mạc mũi phục hồi chức năng của mình. Đối với trẻ em trong những đợt viêm mũi cấp tính cần xịt tối thiểu là 5 lần một ngày.

- Em bị bệnh phì đại cuống mũi từ hai năm nay, cứ mỗi lần thời tiết thay đổi là hay nghẹt mũi và rất khó chịu. Xin bác sĩ cho biết bệnh này có chuyển sang viêm xoang không? Tại sao lại bị phì đại cuống mũi? Có cách nào chữa trị khỏi hẳn không? Xin cảm ơn bác sĩ ! (Le Thanh Tanh, 32 tuổi, Nha Trang-Khanh Hoa)

- GS-TS Khôi: Trong mũi, mỗi bên có 3-4 cuốn mũi để tạo nên sự khúc khuỷu làm cho không khí đi từ từ qua mũi, nhờ vậy, mũi có thể sưởi ấm, tăng độ ẩm, làm sạch, giữ lại các yếu tố gây bệnh. Phì đại cuốn mũi là một bệnh, nhưng nghẹt mũi không hoàn toàn là do phì đại cuốn mũi, còn có thể do những đợt viêm mũi xoang cấp tính hoặc mạn tính; còn có thể do những bất thường về cấu trúc trong mũi như lệch vẹo vách ngăn mũi; cũng có khi do một khối u đang lớn dần lên trong mũi mà thường gặp là polype mũi. Bạn cần đến phòng khám chuyên khoa tai mũi họng để soi mũi, nội soi và làm các xét nghiệm cần thiết mới xác định nguyên nhân nghẹt mũi là do phì đại cuốn mũi hay do nguyên nhân khác. Mỗi nguyên nhân có cách chữa trị thích hợp. Đối với phì đại cuốn mũi, cách điều trị từ đơn giản đến phức tạp là dùng thuốc tại chỗ; tiêm vào cuốn mũi; đốt để thu nhỏ lại hoặc cắt bỏ một phần hoặc toàn phần. Những điều này phải do bác sĩ chuyên khoa thực hiện.

- Cháu mới được hơn 1 tháng tuổi, có rất nhiều gỉ mũi. Tôi thường lấy tăm bông nhỏ để lấy những rỉ mũi gần nhưng cũng không hết và vì sợ đau cháu. Khi cháu hắt hơi gỉ mũi nhỏ thường theo ra. Điều tôi lo hơn cả là cháu khi ngủ hay thức, tiếng thở rất to như ngáy và cảm giác rất khó chịu. Xin bác sĩ chỉ giúp cách để cháu đỡ hơn. Tôi chân thành cảm ơn! (Quang Lợi, 25 tuổi, BQLDA Khu đô thị bờ đông sông đáy TP Phủ lý tỉnh Hà Nam)

- Dược sĩ Thúy: Khi gỉ mũi đã đóng cứng, nếu bạn cố dùng tăm bông để lấy ra có thể làm tổn thương niêm mạc mũi của cháu. Vì vậy trước lấy gỉ mũi, bạn nên nhỏ mũi cho cháu bằng các dung dịch nước muối, nước biển để các dung dịch này thấm sâu vào niêm mạc mũi giúp loại bỏ chất bẩn dễ dàng hơn. Chứng nghẹt mũi cũng có thể làm cháu thở khó và phát ra âm thanh lớn. Vì vậy nên phòng ngừa cho cháu bằng cách vệ sinh mũi hàng ngày theo cách trên.

- Bé 2 tuổi thường xuyên bị chảy nước mũi xanh, khi đặc khi loãng. Xin bác sĩ cho biết cháu bị bệnh gì, cách phòng và chữa? Cảm ơn bác sĩ! (Văn Phạm Trung Mạnh, 22 tuổi, Đà Nẵng)

- DS Thúy: Cháu bị chảy nước mũi xanh chứng tỏ đã có hiện tượng viêm mũi xoang do bội nhiễm. Vì vậy bạn nên đưa cháu đến các cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị phù hợp, không nên tự ý dùng các loại thuốc kháng sinh, co mạch khi chưa được bác sĩ tư vấn. Về cách phòng bệnh bạn có thể tham khảo ở trên.

- Tôi là giáo viên, do phải dạy rất nhiều nên tôi thường xuyên bị viêm mũi và họng. Xin bác sĩ cho biết có cách nào phòng bệnh cho những người thường xuyên phải nói và hít bụi phấn như tôi không? Xin cám ơn bác sĩ! (Nguyen Thi Lanh, 26 tuổi, Truong cao dang bach nghe-Hai Phong)

- GS-TS Khôi: Trước tiên nếu thực sự do bụi phấn thì bạn nên chuyển sang dùng loại phấn không bụi hoặc loại bảng dùng bút lông. Nếu không có điều kiện thay đổi việc tiếp xúc với bụi phấn thì cần lưu ý, khi viết bảng, nên đứng trên luồng gió để hạn chế việc hít nhiều bụi phấn vào mũi, sau mỗi buổi giảng, nên xịt rửa mũi bằng nước muối sinh lý hoặc nước biển sâu.

- Tôi bị viêm mũi dị ứng khoảng 8 năm nay, mỗi sáng thức dậy đều bị sổ mũi. Khoảng 6 tháng gần đây, ngoài sổ mũi rất khó chịu, tôi còn bị cảm giác ngứa ở xung quanh môi, mũi, họng và tai (khoảng 3 lần một tuần) nhưng sau đó khoảng 1 giờ là hết. Triệu chứng này là sao? Có nghiêm trọng không? Có chữa khỏi được không? (Ngọc Thảo, 34 tuổi, Hà Nội)

- GS-TS Khôi: Viêm mũi dị ứng có nhiều biểu hiện khác nhau tùy theo phản ứng của từng cơ thể đối với chất kích thích, chất gây dị ứng và tùy theo sự tiến triển của bệnh, điều trị đã có trước đó. Các triệu chứng viêm mũi dị ứng thường gặp là: ngứa mũi, họng, tai, mắt, hắt xì hay gọi là nhảy mũi, sổ mũi hay chảy mũi thường là nước trong về sau mới chuyển thành nước nhầy kèm theo nghẹt mũi. Nhưng không phải bệnh nhân nào cũng có đầy đủ các triệu chứng trên mà ở mỗi người có khi chỉ một vài triệu chứng nổi bật.

Trường hợp của bạn: ngứa mũi, môi, họng tai có thể do dị ứng, cũng có thể do chất kích thích có trong môi trường bạn sống và không thực sự nghiêm trọng nhưng lại gây khó chịu làm giảm chất lượng cuộc sống. Điều đầu tiên bạn phải kiểm tra lại môi trường sống có những chất gây kích thích hay không, có dị ứng với những chất gì để mình tránh, đồng thời đến khám tai mũi họng để bác sĩ hướng dẫn về dùng thuốc uống cũng như xịt tại chỗ. Bạn không nên tự dùng thuốc xịt và thuốc uống nếu không hiểu rõ cơ chế tác dụng và tác hại vì có những loại thuốc xịt mũi chỉ cải thiện lúc đầu, về sau thì lại nặng hơn.

- Chồng cháu bị viêm xoang, cháu bị viêm mũi dị ứng, con gái cháu mới 2 tuổi, nhưng cứ hôm nào trở trời là lại chảy nước mũi trong vào ban ngày, đêm thì ngạt mũi. Bé cứ bị khoảng 3-4 ngày thì hết, có khi bị đến chục ngày. Cháu cho uống thuốc cảm Tify thì đỡ nhưng thấy hại gan. Cho cháu xin bác lời khuyên phải uống thuốc gì, có cách gì chữa khỏi được không ạ, Có sợ con cháu bị di truyền bệnh hay lây bố mẹ không ạ? (Nguyễn Khánh Linh, 28 tuổi, Quảng Ninh)

- GS-TS Khôi: Ở một số người có cơ địa dễ bị dị ứng, khoa học gọi là Atopy như là nổi mề đay, viêm mũi dị ứng, chàm ngoài da... và người ta thấy nếu bố mẹ cũng bị thì con cũng dễ bị.

Nhưng cơ địa dị ứng chỉ mắc bệnh khi tiếp xúc nhiều lần với một chất nào đó có thể là thức ăn, bụi trong khí thải, mỹ phẩm bôi ngoài da... vì vậy bệnh viêm mũi dị ứng có thể chữa được bằng cách đơn giản nhất là phát hiện những chất nào khi mình tiếp xúc thì gây bệnh để tránh. Bệnh viêm mũi dị ứng không lây vì cùng một chất mà có người bị, người không.

Khi có một cơn hay đợt viêm mũi dị ứng do tiếp xúc chất kích thích thì có thể dùng một loại thuốc chống dị ứng, hiện nay có rất nhiều loại trên thị trường do vậy cần có sự tư vấn của bác sĩ để dùng thuốc không gây hại cho trẻ em, không gây buồn ngủ cho những người làm nghề nghiệp cần tỉnh táo như: lái xe, công nhân đứng máy...

Paracetamon có trong các loại thuốc cảm như Tify chẳng hạn không phải là thuốc chống dị ứng, không được lạm dụng vì sẽ gây hại cho gan. Cần lưu ý, hiện nay có một số thuốc cảm người ta có cho thêm thuốc chống dị ứng vào cho nên khi sử dụng cần phải biết rõ thành phần của nó.

Cách chữa đơn giản nhất là bơm rửa nước muối hoặc xịt nước muối, nước biển với những bình xịt thích hợp giúp cho viêm mũi ở trẻ em nhanh khỏi hơn nếu chỉ dùng thuốc đơn thuần.

- Tôi bị viêm mũi mỗi tháng 2-3 lần, mỗi lần kéo dài 3-4 ngày. Chỉ sau khi uống thuốc Decolgen thì bệnh mới thuyên giảm và khỏi. Sau khi uống Decolgen khỏi bệnh được 2-3 ngày lại tái phát. Tôi đã đi khám và dùng nhiều loại thuốc nhỏ mũi nhưng không có tác dụng. Tôi phải làm gì và có nên uống nhiều Decolgen như vậy không? (Ngô Quốc Lương, 28 tuổi, Thái Bình)

- DS Thúy: Nếu để tình trạng viêm mũi tái đi tái lại có thể dẫn đến viêm xoang và nhiều hậu quả khác. Vì vậy bạn cần đi khám chuyên khoa tai mũi họng để xác định rõ nguyên nhân gây viêm mũi (do dị ứng, vi khuẩn, vẹo vách ngăn mũi...) thì mới có hướng điều trị hiệu quả.

Sở dĩ bạn uống Decolgen nhưng cứ bị tái phát là do thuốc này chỉ điều trị triệu chứng (cảm, sổ mũi, nghẹt mũi) mà không can thiệp triệt để nguyên nhân gây bệnh. Decolgen có chứa hoạt chất kháng Histamin thế hệ cũ nên sẽ làm cho người bệnh có cảm giác ngầy ngật, buồn ngủ, mệt mỏi... không nên lạm dụng.

- Mỗi khi mùa đông về, cổ họng tôi có cảm giác như bị ngạt mỗi khi nuốt. Tôi có cảm giác như có vật gì cản lại trong họng mặc dù không đau nhưng cảm giác rất khó chịu. Rất mong nhận được tư vấn của bác sĩ. (Trần Thị Hiền, 42 tuổi, Đà Nẵng)

- GS-TS Khôi: Theo bạn miêu tả, có thể bạn bị thể viêm họng chịu ảnh hưởng của dị ứng và thay đổi thời tiết. Cần lưu ý trong họng có rất nhiều mầm bệnh mà lúc cơ thể khỏe mạnh thì nó không gây bệnh được nhưng khi thay đổi thời tiết, khi nhiễm lạnh, khi căng thẳng quá mức, khả năng tự điều chỉnh của cơ thể giảm xuống, chúng sinh sôi nảy nở làm mất sự cân bằng vốn có trong họng và gây nên một số triệu chứng khó chịu như bạn miêu tả. Tốt nhất và đơn giản nhất là bạn nên rèn luyện thể lực, tập luyện để thích nghi với khí hậu, tránh để cơ thể bị nhiễm lạnh. Một biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả, không tốn kém là súc họng thường xuyên bằng nước ấm có pha thêm muối ăn. Lưu ý cách súc, trong dân gian thường gọi là "khò" chứ không phải súc miệng thông thường. "Khò" trong khoảng 5 phút với nước ấm pha muối mỗi lần, tối thiểu ngày 3 lần sẽ giúp hạn chế việc viêm họng.

- Tôi thường xuyên bị viêm họng, ra mũi đặc, đau nửa đầu bên trái, trên my mắt trái khoảng 5 năm trở lại đây. Nhưng cách đây hơn 1 năm tôi lại bị đau tai trái. Tôi đã đi chụp phim nhiều lần nhưng không phát hiện bị viêm xoang. Tôi có hỏi bác sĩ về tai trái thì được trả lời là do viêm họng nên dẫn đến đau tai. Cho tôi hỏi tôi bị bệnh gì? (Lê Thị Thu Hằng, 31 tuổi, K97/18 Lý tự trọng - Đà nẵng)

- GS-TS Khôi: Viêm họng hay đúng hơn là viêm amidan thì thường là gây đau ở tai. Amidan là hai khối bạch huyết lympho nằm ở hai bên họng và dưới tai, viêm amidan mãn tính làm cho viêm mũi xoang nếu có sẽ nặng lên và khó chữa do vị trí ở giữa mặt và dưới hộp sọ cho nên viêm mũi xoang thường gây đau nhức mặt, nhức hốc mắt, vùng thái dương và nhức đầu.

Để chấn đoán chính xác viêm xoang, ngoài những triệu chứng gây khó chịu như bạn miêu tả thì cần được nội soi mũi và chụp phim CT (chụp x quang cắt lớp điện toán) mới có thể loại trừ một cách chính xác bạn không bị viêm xoang.

Bạn nên đến những cơ sở chuyên khoa tai mũi họng có điều kiện để chuẩn đoán chính xác và lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp.

- Khi trẻ bắt đầu ho, sổ mũi có nên dùng luôn kháng sinh không ạ, vì sợ để lâu lại vào phế quản? (Đào Thị Dung, 31 tuổi, Số 4, ngõ 142/1 Kim Giang, Hoàng Mai, Hà Nội)

- DS Thúy: Các triệu chứng ho, sổ mũi có thể do rất nhiều bệnh lý mang lại, trong đó có những trường hợp hoàn toàn không có nhiễm khuẩn. Việc dùng kháng sinh trong những trường hợp ho, sổ mũi không do vi khuẩn chẳng những không cải thiện bệnh tình mà còn có thể gây ra tình trạng đề kháng thuốc rất nguy hiểm.

Khi bắt đầu có triệu chứng ho, sổ mũi bạn nên đi khám để được bác sĩ tư vấn kịp thời, tránh những biến chứng cho đường hô hấp dưới như phế quản, phổi. Bạn không nên tự ý dùng thuốc, nhất là kháng sinh khi chưa được bác sĩ hướng dẫn.

Ngoài ra, để hỗ trợ điều trị bạn có thể dùng những dung dịch nhỏ mũi có thành phần nước muối, nước biển bổ sung nhiều khoáng chất như đồng, kẽm sẽ giúp tăng hiệu quả của các thuốc đi kèm.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Dược sĩ Phan Thị Thanh Thúy suy tư trước một câu hỏi khó của độc giả. Ảnh: Đức Quang

- Tôi vẫn hay dùng các sản phẩm xịt mũi mỗi khi có triệu chứng ngạt thở và chảy nước mũi. Gần đây, tôi thấy có sản phẩm Xisat giúp ngăn ngừa viêm mũi dị ứng và viêm xoang. Tôi muốn hỏi, sản phẩm này khác gì so với những sản phẩm xịt mũi khác và nên dùng nó trong những trường hợp nào?

- DS Thúy: Tùy từng sản phẩm mà thành phần sẽ khác nhau. Hiện các sản phẩm xịt mũi của Việt Nam trên thị trường thông thường là những sản phẩm có công thức nước biển với thành phần chính là muối NaCl và một số muối thông dụng khác như MgCl2, KCl. Riêng Xisat là dung dịch vệ sinh mũi với thành phần nước biển sâu giàu khoáng chất hơn, đặc biệt có chứa đồng và kẽm, có tác dụng săn se niêm mạc, phục hồi niêm mạc suy yếu, sát khuẩn và kháng viêm tốt. Ngoài ra, Xisat còn chứa tinh dầu bạc hà tạo cảm giác mát dịu và giúp mũi thông thoáng. Xisat được khuyên dùng để vệ sinh mũi hàng ngày, nhằm ngăn ngừa sổ mũi, ngạt mũi và viêm xoang. Ngoài ra, nó còn được dùng kèm với các thuốc khác để phối hợp điều trị khi đã mắc bệnh.

- Tôi thỉnh thoảng có hiện tượng ù tai và buốt ở phía trong tai trái. Hiện nay tôi vẫn chưa dùng thuốc gì để điều trị. Xin bác sĩ cho biết cách điều trị bệnh này. (Nguyễn Thị Thuý, 45 tuổi, Sao Đỏ- Chí Linh Hải Dương)

- GS-TS Khôi: Ù tai và nhức tai là một triệu chứng chủ quan và có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân trước tiên phải tìm đó là các bệnh ở tai như: nút ráy tai gây nghẹt ống tai; viêm tai giữa hoặc bệnh ở tai trong. Ù tai và nhức tai cũng có thể do những nguyên nhân ngoài tai mà người xưa từng nói là "thận khai khiếu" ở tai, có nghĩa là thận đau thì tai "kêu". Thận theo đông y là hệ thống nội khoa chứ không phải là quả thận thuần túy. Những bệnh ở bộ phận kế cận ở vùng cổ mặt như viêm xoang, viêm amidan, ung thư vòm họng, ung thư đáy lưỡi, thanh quản... thường cũng gây đau tai. Đặc biệt là viêm mũi xoang và viêm họng mũi, gây bít tắc con đường thông khí từ mũi họng lên tai có thể gây ù tai và nghe kém. Do nhiều nguyên nhân đưa đến ù tai nhức tai, bạn cần đến các bác sĩ chuyên khoa để được soi tai, khám mũi họng, đo sức nghe, xét nghiệm máu... để tìm ra được nguyên nhân và có điều trị thích hợp. Bạn không nên uống thuốc theo sự mách bảo của những người đã từng bị ù và nhức tai.

- Con cháu được 4 tuổi, khi thời tiết chuyển mùa thường xuyên bị ho viêm họng nhưng không sốt. Nhưng lại có cơn rít như hen. Vậy cháu phải làm gì để ngăn được bệnh này? (Lê Thu Thương, 30 tuổi, 305 - C8 - Giảng Võ)

- DS Thúy: Cháu thường bị triệu chứng trên do cơ địa của cháu mẫn cảm với thời tiết. Để phòng ngừa tình trạng này phải mang khẩu trang khi ra đường và giữ ấm cổ họng... Ngoài ra bạn nên vệ sinh mũi hàng ngày cho cháu (tham khảo các câu trên).

Nếu cháu bị cơn rít như hen, bạn nên đưa cháu đi khám để biết chắc cháu có thực sự bị hen hay không. Từ đó có biện pháp điều trị phù hợp và kịp thời, tránh những hậu quả nguy hiểm cho cháu như khó thở thậm chí có thể ngưng thở.

- Chào bác sĩ, con cháu 12 tháng tuổi, cháu nằm máy lạnh từ nhỏ, thời gian gần đây thời tiến hơi se lạnh nhưng con cháu vẫn nằm máy lạnh, vì nếu cháu tắt máy lạnh đi thì con cháu đổ mồ hôi đầu rất nhiều, nhưng theo cháu biết thì nằm máy lạnh không tốt cho phổi và dễ bị viêm họng vào mùa này. Xin bác sĩ tư vấn cho cháu. Và mấy ngày nay con cháu bị ho có đờm. Xin cảm ơn bác sĩ. (Hồ Vân, 29 tuổi, Q,1, TP HCM)

- GS-TS Khôi: Nằm ngủ trong phòng máy lạnh hiện nay là phương tiện nhiều người sử dụng, có mặt tốt là mát mẻ, nhiệt độ thích hợp giúp cho ngủ ngon nhưng phải lưu ý sự thông khí trong máy lạnh không phải lúc nào cũng hoàn hỏa cho nên bộ lọc của máy lạnh cần phải được kiêm tra thường xuyên nếu không trong phòng sẽ bị ứ đọng khí không tốt cho cơ thể, khi đó không khí chúng ta thở không còn là tươi mát và trong lành như ta tưởng.

Một điều cần chú ý chúng ta không thể sống trong môi trường máy lạnh 24h, mà càng lớn lên thì phải ra môi trường sinh hoạt học tập, vui chơi, và đó chính là môi trường sống tự nhiên của con người.

Lời khuyên ở đây: phải cải tiến thế nào mà phòng ốc các cháu ở, chơi, ngủ, học phải có không thoáng khí, thông khí càng tự nhiên càng tốt. Nếu nằm máy lạnh thì lưu ý càng về đêm càng ngủ sâu thì cơ thể trẻ thiếu sự vận động nên dễ bị cảm lạnh nên máy lạnh nên có điều chỉnh theo giờ và tăng nhiệt độ lúc đêm khuya.

Việc con chị bị ho và có đàm cũng không hoàn toàn do máy lạnh, nhưng vì từ nhỏ cháu đã được sống trong môi trường máy lạnh cho nên càng lớn khi ra ngoài thì khả năng thích nghi của cháu không được tốt, vậy nên giảm thiểu máy lạnh từ từ để cháu thích nghi được.

Đối với cơ thể có 2 nguồn cung cấp sinh lực quan trọng là thực phẩm ăn uống và khí thở. Thực phẩm ăn uống đã được quan tâm quảng cáo rất nhiều nhưng khí thở chưa được chú ý đúng mức nhưng lại vô cùng quan trọng vì mỗi ngày chúng ta chỉ ăn 3-4 lần nhưng thở thì một phút khoảng 20 lần. Và theo không khí thở thì những yếu tố gây bệnh sẽ đột nhập vào mũi, họng và mượn mũi họng là địa điểm tập kết tấn công cơ thể. Khi chuyển mùa, thay đổi thời tiết, sự tự điều chỉnh và chống đỡ của cơ thể giảm sút nhất là trẻ em. Đó chính là thời điểm các bệnh đường hô hấp trên tăng lên như viêm mũi, viêm họng với các biểu hiện thường thấy là sốt nhẹ, mệt mỏi, biếng ăn, sổ mũi, hắt xì, nghẹt mũi, ho...

Bệnh đường hô hấp trên là một bệnh thường xuất hiện trong các thời điểm giao mùa. Chúng ta không nên coi thường vì hô hấp tốt khí thở đưa vào cơ thể trong sạch sẽ giúp cho sự hoạt động hiệu quả của các cơ quan nội tạng, mang lại sức khỏe tốt. Bệnh tuy không gây nguy hiểm tức thì, nhưng nếu tái phát nhiều lần sẽ ảnh hưởng đến phổi như gây nên hen suyễn, viêm phế quản mãn tính... Lúc ấy việc điều trị rất tốn kém. Phòng ngừa và điều trị sớm các bệnh đường hô hấp trên cũng là một biện pháp phòng bệnh tích cực giúp cho cơ thể luôn khỏe mạnh.

Biện pháp phòng ngừa đầu tiên là giúp cho cơ thể làm quen với sự thay đổi khí hậu là tập luyện thể lực, tập thở, chú ý không để bị nhiễm lạnh đột ngột, súc họng bằng nước ấm có pha muối thường xuyên, bơm rửa mũi hoặc xịt mũi bằng dung dịch nước muối sinh lý hoặc nước biển sâu để giúp cho mũi họng tăng khả năng chống nhiễm bệnh của mình.

Rất cám ơn sự quan tâm của bạn đọc và chúc các bạn có một sức khỏe tốt, đặc biệt là có bộ máy hô hấp khỏe mạnh, dành được nhiều thành công trong năm mới 2009 và đón Tết nguyên đán Kỷ Sửu an lành. Xin chào.

VnExpress
Mật ong là loại thuốc bổ truyền thống mà từ rất lâu đời đã được con người sớm biết sử dụng làm thuốc để bồi bổ cơ thể và chữa trị bệnh có nhiều kết quả tốt.
Trong mật ong có chứa nhiều loại đường như fructoza, glucoza, các acid hữu cơ, cùng nhiều loại vitamin và nguyên tố vi lượng. Đông y cho rằng mật ong có tác dụng bổ trung, nhuận tràng, an thần, dưỡng vị, có khả năng thúc đẩy quá trình chuyển hóa protein, lipid, đường trong cơ thể, có tác dụng bồi bổ cơ tim, tăng cường thể chất, chống lại bệnh tật.

Chính vì vậy, mật ong được xem như một loại thuốc quý mà hầu như các gia đình đều có dự trữ mật ong trong nhà để làm thuốc nếu như không may có sự bất trắc xảy ra dùng làm thuốc cứu chữa được kịp thời. Cũng cần nói thêm là mật ong rừng bao giờ cũng tốt hơn mật ong nuôi tại nhà, vì ở rừng có rất nhiều loài hoa quý ong có thể đi xa để lấy nhiều nhụy hoa đem về làm mật, còn ong nhà thường vì lợi nhuận người ta cho ong ăn thêm đường mật nên ong lười không chịu đi xa để kiếm phấn hoa như ong rừng do đó chất lượng tự nhiên bị giảm hẳn so với mật ong rừng. Mật ong quý làm vậy do đó lợi dụng sự tín nhiệm này mà mật ong đã được kẻ xấu làm giả bán kiếm lời. Để có thể phân biệt loại mật ong giả, xin giới thiệu cụ thể như sau.

Thoạt tiên cần nắm được tính trạng của mật ong thật là thể lỏng đặc sánh, màu trắng đến màu vàng nhạt hoặc màu hổ phách, vàng quýt (mật vàng). Khi còn tươi mật ong trong đục, nhưng khi cất giữ hơi lâu sẽ hết trong, đồng thời xuất hiện các hạt kết tinh màu trắng (chính là đường fructoza và glucoza tách ra). Lấy chiếc đĩa ra cho chút mật vào sử dụng ngón tay quệt mật rồi giơ ngón tay ấy lên sẽ thấy tơ mật chảy liền gấp khúc, mùi thơm, vị ngọt sắc và không thấy có tạp chất hay mùi lạ là loại mật tốt.

Khi ta thử, nếu như các hạt kết tinh đường glucoza không rõ và khi nhỏ trên giấy thấy có thấm qua được giấy chứng tỏ trong mật có mạch nha.

Nếu khi lấy sợi sắt bóng nung đỏ và chọc vào trong mật ong để một lát, sau đó rút sợi sắt ra mà thấy không còn bóng nữa thì chứng tỏ mật ong này đã có pha trộn.

Hoặc khi lấy 2 giọt mật ong rồi hòa tan với nhau, sau đó cho 1 giọt iốt vào thử nghiệm nếu như thấy xuất hiện màu lam, hay màu lục hoặc màu nâu đỏ thì chứng tỏ trong mật ong này đã có lẫn chất bột hay hồ.

Sau đây xin giới thiệu vài cách chữa trị từ mật ong

Tỳ vị hư, mệt mỏi: Sữa bò 300ml, mật ong 30g. Cho vào đun sôi uống ngày 1-2 lần.

Chữa viêm loét dạ dày: Mật ong 1 chén cho hấp cách thủy rồi uống vào trước bữa ăn. Uống ngày 3 lần liền trong 1 tháng chỗ viêm loét dần biến mất.

Các bệnh về tim mạch: Hòa 3 thìa mật ong với nước ấm, uống vào trước bữa ăn. Ngày uống 2-3 lần.

Phế hư ho lâu không khỏi: Dùng mật ong 15g, bột xuyên bối mẫu 2 . Lấy nước đun sôi để nguội hòa ra uống, mỗi ngày uống 2 lần.
   Hoặc lấy một quả lê to, khoét bỏ lõi, rồi cho 30g mật ong vào trong quả lê hấp chín ăn.

Chữa ruột nóng táo bón: Mật ong 30-60g, lấy nước đun sôi để nguội hòa ra uống, mỗi ngày uống 2-3 lần.
   Hoặc lấy mật ong 60g, dầu thơm 30g (thay bằng sữa bò tươi 250ml cũng được), đun sôi uống vào bổi sáng, tối khi bụng đói.



Nguồn: Sức khỏe đời sống
Hạ nhiệt cơ thể bằng thảo dược

Mất nước, thiếu nước, ăn uống nhiều chất cay hoặc áp lực công việc, khiến cơ thể sinh "nội nhiệt". Căn bệnh này có thể được giải tỏa nhanh bằng những loại hoa cỏ vốn có sẵn trong cuộc sống.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Dược thảo vốn có trong thực đơn hằng ngày. Ảnh: Thiên Chương.

Tại hội thảo "Thảo mộc trong xử lý nội nhiệt của cơ thể" chiều 11/12, Tiến sĩ Nguyễn Thị Bay, Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM, cho biết, các triệu chứng thường thấy của căn bệnh "nóng trong người" là sốt, bứt rứt, mệt mỏi, mạch nhanh, tiểu ít, nước tiểu vàng, táo bón. Nguyên nhân gây lên tình trạng nội nhiệt có thể do tác động từ bên ngoài của môi trường hoặc do chế độ ăn uống.

Trong những trường hợp này, dùng thảo dược để hạ nhiệt cơ thể, theo tiến sĩ Bay, là phương pháp mang lại hiệu quả nhanh, ít tốn kém nhất lại không gây phản ứng phụ. "Thảo dược có sẵn ở quanh vườn hoặc trong tủ lạnh nhà bạn, chỉ cần hiểu rõ công dụng và chế biến, những căn bệnh do nhiệt thông thường sẽ thuyên giảm chỉ sau vài giờ", bà Bay nói.

Lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hội Dược liệu TP HCM, cũng khẳng định, với bệnh lý nóng do nhiệt, thảo dược luôn là cách cân bằng nhiệt nhanh chóng và hiệu quả.

Những trường hợp cơ thể nóng gan mật gây nhức đầu, kiết lỵ, mắt đỏ sưng đau, cao huyết áp, vàng da, viêm họng... người bệnh có thể dùng một trong những loại thảo dược như rau má, rau đắng, atisô, nhân trần, dành dành (chi tử), cúc hoa, kim ngân hoa, bố tra diệp, hạ khô thảo, sương sâm... để chữa.

Với bệnh bứt rứt, mất ngủ, mỡ trong máu tăng, khó tiểu, tiêu đàm, sát trùng... có thể dùng các loại thảo mộc như: lá sen, lạc tiên (nhãn lồng), hoa sứ đỏ, trúc diệp, đỗ xanh, hoa thiên lý, hoa dâm bụt, giúp nhanh chóng hạ hỏa. Ngoài ra, các loại trái cây như dừa, dưa hấu, thanh long, mủ trôm, hạt é cũng dùng rất tốt để làm mát cơ thể, định tâm thần.

Đối với những người bị nóng nhiệt gây cảm, sưng hầu họng, thai phụ nôn ọe, lương y Đinh Công Bảy khuyên nên dùng rau diếp cá, mía lau, đậu ván trắng và sắn dây. Riêng bệnh nhân mắc sỏi niệu, thận suy, viêm thận, thì mã đề, bí đao, đậu đen và bông súng là những loại thảo dược rất có ích.

Các loại thảo dược trên có sẵn trong thiên nhiên, được bày bán ở chợ hoặc tại các cửa hàng đông dược. Ưu điểm của loại thuốc cỏ cây là ít gây dị ứng và giá thành lại không cao. Tuy nhiên, cũng theo ông Bảy, để không dùng quá liều và hiệu quả cao, người bệnh cần được lương y tư vấn.

(Theo Vnexpress.net)
yhoccotruyen.vn) Một số công thức bôi da, đắp mặt hay bài thuốc uống của đông y sẽ giúp bạn có làn da trắng hồng, mịn màng mà lại rất an toàn.

Người phương Đông rất chú trọng làn da vì cho rằng "một cái trắng che được ba cái xấu". Lương y Trần Hoàng Bảo giới thiệu một số công thức làm đẹp giúp bạn có làn da rạng rỡ.

Đắp, bôi ngoài da

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Lá dâu và ngải cứu có tác dụng tốt trong việc dưỡng da

Lấy 600 gr lá dâu phơi qua sương, 16 gr lá ngải cứu, sắc lấy nước tắm hằng ngày, nếu kiên trì làm thật lâu có thể chữa  khỏi các chứng bệnh ngoài da và đau thần kinh, lại làm trắng sạch da.

Nếu mặt sần sùi, nổi mụn cơm đen, lấy hạnh nhân bỏ vỏ nghiền nhỏ, hòa với lòng đỏ trứng gà, tối thoa lên mặt, sáng hôm sau dùng rượu gạo hoặc nước ấm rửa sạch, lâu ngày giúp da trắng sạch.

Nếu bị tàn nhang, dùng hạnh nhân 3 cái giã nhỏ, dùng một cái lòng trắng trứng gà hòa đều, trước khi đi ngủ thoa lên mặt, sáng hôm sau dậy rửa sạch, cứ như thế kiên trì 2-3 tháng sẽ thấy hiệu quả.

Cũng có thể chữa tàn nhang bằng cách dùng dấm 500 gr, bạch truật 50 gr, ngâm 7 ngày rồi lấy dung dịch thoa lên mặt mỗi ngày vài lần.


Thuốc uống trong Mật ong

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Cúc hoa tươi cho nước vào đun sôi, sắc đặc, thêm một chút mật ong chế thành cao dùng để uống có tác dụng đẹp da

Mỗi ngày lấy 10 gr rau sam khô sắc uống ba lần trước bữa ăn 30 phút. Dùng làm rau ăn cũng được, nhưng không nên ăn quá nhiều. Món này giúp làm trắng da.

Hạt sen, khiếm thực mỗi vị 30 gr, ý dĩ nhân 50 gr, long nhãn nhục 8 gr, thêm nước 500 ml, sắc lửa nhỏ một tiếng đồng hồ, cho thêm lượng mật ong là ăn được. Công hiệu: Ích khí bổ huyết, nhuận da, tăng trắng.

Cúc hoa tươi 30 gr, cho nước vào đun sôi, sắc đặc, thêm một chút mật ong chế thành cao. Mỗi lần lấy 15 g, dùng nước sôi pha quấy đều để uống. Công hiệu: Làm nhuận sáng da dẻ, chống suy lão.

Nếu da sần sùi, lấy nhân hạt ý dĩ sao khô, nghiền thành bột, ngày dùn ba lần, mỗi lần hai thìa cà phê, kiên trì hai tuần có thể làm cho da dẻ mịn màng.

Mùa đông da khô, nhão, sần sùi, bạn có thể lấy 15 quả hồng táo và một ít nhân sâm, cho vào siêu đất ngâm nước nửa giờ, dùng lửa nhỏ sắc 30 phút là uống được. Loại trà dược này giúp ích khí dưỡng huyết, làm đẹp da. Lúc uống nhân sâm không nên uống trà và ăn củ cải.


(Theo: Sức khỏe & Đời sống)


  
Lâu xuất tinh có phải là bệnh?
Cập nhật lúc : 9:53 AM, 12/03/2009
"Mỗi lần làm chuyện ấy, bạn trai tôi có thể 'hành sự' hàng tiếng đồng hồ mà không xuất tinh. Anh ấy chưa bao giờ đạt đỉnh trước tôi, mà thường làm cho tôi thỏa mãn trước, chỉ khi nào tôi bảo dừng thì anh ấy mới tìm cách xuất tinh. Có phải bạn trai tôi bị bệnh gì không? (Hoahaiduong11...@yahoo.com)

Trả lời:

Hiện tượng mà bạn miêu tả được xem là bệnh rối loạn xuất tinh ở nam giới. Hiện tượng xuất tinh chậm hoặc không xuất tinh khi quan hệ là hai trường hợp điển hình nhất của bệnh lý này.

Ảnh: Corbis.

Có thể người yêu bạn lúc còn trẻ thường lạm dụng thủ dâm bằng tay hoặc cọ sát dương vật trên nền cứng. Khi quan hệ tình dục thực sự, với âm đạo và âm hộ của người phụ nữ, lực ma sát không đủ mạnh bằng những cách thủ dâm thông thường trên. Do đó, người đàn ông rất khó hoặc không xuất tinh được, khiến họ có thể kéo dài thời gian "yêu" rất lâu như bạn nói.

Nhiều bạn gái nhầm tưởng và tự hào khi thấy bạn trai kéo dài thời gian quan hệ, cho rằng anh ấy tài giỏi hơn những nam nhi khác, không hiểu rằng đó là một bệnh lý có thể dẫn đến lãnh cảm trong chuyện chăn gối và gây ảnh hưởng tâm lý trong đời sống vợ chồng sau này. Khi gặp hiện tượng bất thường như thế bạn nên khuyên bạn tình tìm đến các trung tâm khám nam khoa để được chữa trị và tư vấn.
Bác sĩ Nguyễn Bá Hưng
Bạn đang muốn tìm hiểu về ngày an toàn trong chu kỳ kinh nguyệt của bạn gái. Chúng tôi phần nào hiểu được băn khoăn đó của bạn. Bạn và bạn gái đã thảo luận về việc lựa chọn biện pháp tránh thai chưa? Điều gì khiến hai bạn không muốn sử dụng bao cao su và thuốc tránh thai hàng ngày? Hai bạn dự tính chỉ tránh thai cho một lần tới hay sẽ tránh thai thường xuyên? Hiện nay, chu kỳ kinh nguyệt của bạn gái bạn như thế nào? Các chu kỳ có đều đặn không bạn? Việc dự định tránh thai và lựa chọn biện pháp tránh thai phù hợp trước khi bước vào quan hệ tình dục như bạn đã nghĩ đến là rất tốt. Không phải đôi bạn nào cũng làm được điều đó. Bạn có thể thấy nếu chỉ để tránh thai cho một lần quan hệ tình dục thì hai bạn có khá nhiều lựa chọn như bao cao su, thuốc diệt tinh trùng, phim tránh thai, thuốc tránh thai khẩn cấp… Còn nếu cần tránh thai thường xuyên thì có thêm các biện pháp khác như thuốc tránh thai hàng ngày, thuốc tiêm tránh thai, …Mỗi biện pháp này có ưu điểm và hạn chế riêng, bạn có thể tìm đọc thông tin cụ thể tại đường link sau đây: Còn đối với các biện pháp tránh thai tự nhiên như tính ngày kinh hay xuất tinh ngoài âm đạo không được khuyến khích sử dụng, bởi hiệu quả tránh thai thấp, nhiều rủi ro và đôi khi không chủ động, bạn ạ. Đặc biệt tính ngày kinh chỉ được áp dụng đối với các bạn gái có chu kỳ kinh nguyệt đều đặn, không chênh nhau quá 2 ngày. Và trong chu kỳ kinh, thời điểm được coi là an toàn nhất là khoảng hai ngày trước khi bạn gái có kinh nguyệt. Còn lại, có thể dự tính thời điểm an toàn tương đối dựa theo công thức sau đây: Bạn theo dõi từ 6-8 chu kỳ kinh nguyệt của mình gần đây để biết được số ngày của chu kỳ kinh dài nhất là bao nhiêu và số ngày của chu kỳ kinh ngắn nhất là bao nhiêu. Số ngày của chu kỳ kinh được tính từ ngày đầu tiên có kinh của chu kỳ này đến ngày đầu tiên có kinh của chu kỳ kế tiếp. Nếu chúng không chênh nhau quá 2 ngày thì mới được áp dụng cách tính này, bạn nhé. Bạn lấy số ngày của chu kỳ ngắn nhất trừ đi 20, được ngày không an toàn đầu tiên.Lấy số ngày của chu kỳ dài nhất trừ đi 10, được ngày không an toàn cuối cùng. Ví dụ, bạn theo dõi kinh nguyệt của bạn gái mình và thấy: • Chu kỳ thứ nhất dài 29 ngày • Chu kỳ thứ hai dài 30 ngày • Đến chu kỳ thứ tám, bạn thấy các chu kỳ dao động rất ít, chỉ từ 29 đến 31 ngày. • Bạn sẽ tính như sau: lấy 29 trừ đi 20 được 9; 31 trừ đi 10 được 21. Vậy thời kỳ không an toàn là từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 21 trong mỗi chu kỳ. Có nghĩa là từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 21 của chu kỳ, bạn không nên có quan hệ tình dục, hoặc nếu có thì nên sử dụng bao cao su, thuốc diệt tinh trùng, phim tránh thai... Tuy nhiên cách tính này chỉ mang tính chất tương đối và chỉ có hiệu quả khoảng 65% nên vẫn có tới 35% khả năng mang thai khi áp dụng phương pháp này. Thực tế ngày rụng trứng của bạn gái có thể thay đổi, trong trường hợp hai bạn không thường xuyên quan hệ tình dục, khi hưng phấn của bạn gái quá cao cũng có thể gây rụng trứng đột ngột. Bạn có thể thảo luận tiếp với chúng tôi về việc lựa chọn biện pháp tránh thai nhé. Chúc hai bạn hạnh phúc!
GIẢI PHÁP ĐIỀU TRỊ TOÀN DIỆN
CHO BỆNH NHÂN GOUT

Gout là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa purine làm tăng acid uric máu dẫn đến ứ đọng tinh thể muối urate tại khớp gây viêm khớp, biểu hiện lâm sàng đặc trưng là sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội  tại 1 hay nhiều khớp. Đa phần bệnh nhân khi điều trị dứt được cơn đau đều tự cho là đã khỏi bệnh mà không biết rằng bệnh vẫn đang âm thầm tiến triển. Nếu không được điều trị tiếp tục, các cơn đau sẽ xuất hiện trở lại ngày càng nhiều và nặng hơn, giai đoạn muộn hơn có thể xuất hiện những u, cục gọi là tophi xung quanh khớp, ảnh hưởng rất lớn đến thẩm mỹ, có nguy cơ gây  biến dạng khớp và có thể dẫn đến tàn phế.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bàn chân bệnh nhân Gout đang bị cơn gout cấp

Trong hơn 2 năm qua, các bác sỹ Viện Gút đã tập trung nghiên cứu tìm ra giải pháp điều trị hữu hiệu, áp dụng phác đồ điều trị bằng đông, tây y kết hợp, đạt hiệu quả cao. Hầu hết các bệnh nhân nếu tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị của Viện Gút đều cho kết quả tốt, cơn đau không tái phát trở lại, bệnh ổn định lâu dài, kể cả những bệnh nhân nặng, mắc bệnh lâu năm. Những bệnh kèm theo như tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn mỡ máu cũng được cải thiện tốt. Ngoài ra, bệnh nhân cũng tránh được các tác dụng không mong muốn thường gặp phải khi dùng một số loại thuốc khác, như viêm loét dạ dày, rối loạn chức năng gan, thận…Khi kết thúc điều trị, bệnh nhân không còn phải ăn uống quá kiêng khem như trước. Đặc biệt, về lâu dài, cục tophi có thể nhỏ lại, thậm chí mất hẳn.

Tuy đã tạo được bước đột phá trong việc điều trị bệnh gout, nhưng khó khăn lớn nhất lại thuộc về  sự quyết tâm của bệnh nhân trong việc điều trị. Trong số hơn 3000 bệnh nhân đã kết thúc điều trị tại Viện Gút tính đến tháng 10/2009, vẫn còn hàng trăm bệnh nhân không đủ kiên trì điều trị theo đúng phác đồ, ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Quyết tâm của bệnh nhân và sự hợp tác chặt chẽ giữa bác sỹ với bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị chính là giải pháp điều trị toàn diện và hiệu quả cho bệnh nhân gout.  

Hai bài thuốc đông y đã được các bác sỹ Viện Gút tin cậy, lựa chọn áp dụng trong  phác đồ  điều trị đông, tây y kết hợp vì có kế quả tổng kết chứng minh trên hiệu quả trên hàng ngàn  bệnh nhân :

  1- KHANG THỤY I  có nguồn gốc từ thảo dược quý vùng Tây Tạng do các giáo sư, bác sỹ  viện Trung y - Thành Đô, Tứ Xuyên, Trung Quốc, nghiên cứu và bào chế  dưới dạng viên nhộng.

Tác dụng : Hoạt huyết, trừ phong, nâng cao khả năng miễn dịch, giải độc, kháng viêm, làm tan muối urat trong các cục tophi, hỗ trợ ổn định mỡ máu, ổn định lượng đường trong máu, ổn định huyết áp.

Đối tượng sử dụng : Bệnh nhân gút (gout) cấp và mãn tính

 2 - GÚT SAMAN có nguồn gốc từ thảo dược, được các bác sỹ Việt Nam nghiên cứu bào chế từ bài thuốc gia truyền của một dòng họ đồng bào dân tộc Mán ở tỉnh Hà Giang.

Tác dụng : Giảm đau, chống viêm, tác động vào chuyển hóa cơ chất purin trong bệnh Gút nguyên phát
Đối tượng sử dụng : Bệnh nhân gút (gout) cấp và mãn tính.


Chỉ đạo chuyên môn
Bác sỹ Nguyễn Hồng Thu
Nguyên GĐ Bệnh viện Chấn Thương, chỉnh hình TP.HCM
Giám đốc Viện Gút


(http://benhgout.net/)
Bệnh nhân gút không nên ăn nhiều thịt bò.

Sau một bữa tiệc thịnh soạn với đầy rượu thịt, nếu có cơn đau dữ dội nổi lên ở các khớp, nhiều khả năng là bạn đã bị bệnh gút (thống phong). Bệnh xuất hiện do hàm lượng axit uric trong máu tăng cao, triệu chứng điển hình là nổi u cục hoặc viêm ở các khớp.  

Tiến sĩ Nguyễn Thị Bay, Đại học Y dược TP HCM, cho biết, các u cục có đường kính từ vài mm đến nhiều cm, không đau, thường xuất hiện ở khớp ngón chân, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, sụn vành tai... Đôi khi, chỗ da bọc khối u bị loét và chảy nước vàng. Còn tình trạng viêm thường xuất hiện ở các khớp bàn chân, bàn tay, cổ tay, khuỷu tay, đầu gối, diễn tiến chậm và gây đau nhẹ (trừ những cơn đau cấp sau bữa ăn có nhiều rượu thịt).

Bệnh gút tiến triển trong 10-20 năm. Đến giai đoạn cuối, bệnh nhân mất khả năng vận động, có nhiều biến chứng ở thận, suy kiệt dần, có thể dẫn đến tử vong.

Để phòng tránh và hạn chế sự phát triển của bệnh gút, cần kiêng rượu và các chất kích thích như cà phê, ớt. Hạn chế dùng bia và các thức ăn nhiều đạm như thịt đỏ, phủ tạng động vật, hải sản. Nên ăn nhiều hoa quả và rau; uống các loại nước khoáng thiên nhiên chứa bicarbonat. Ngoài ra, cần tránh làm việc quá sức và ăn uống quá mức, không để cơ thể bị nhiễm lạnh hoặc táo bón.

Những người bị gút có thể làm giảm triệu chứng bệnh bằng cách hái lá sake già để nấu nước uống thay trà hằng ngày (hoặc nhúng lá tươi vào nước sôi rồi đem phơi khô, nấu lấy nước uống).

(Thanh Niên )
Bệnh gút (gout) được coi là bệnh của xã hội văn minh, liên quan đến lối sống hiện đại - ăn uống quá độ và thiếu vận động... Việc điều chỉnh chế độ ăn uống có thể giúp bạn phòng ngừa bệnh này.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Gout là một bệnh rối loạn về chuyển hóa liên quan đến việc tăng sản xuất hoặc giảm đào thải chất acid uric trong cơ thể. Các tinh thể urat lắng đọng ở khớp và các tổ chức xung quanh khớp gây nên phản ứng viêm. Bệnh thường gặp ở nam giới tuổi trung niên.

Bệnh xảy ra vào ban đêm, biểu hiện bằng những đợt viêm khớp cấp, thường nhất là khớp bàn ngón chân cái. Việc sử dụng thuốc phải do bác sĩ chuyên khoa hướng dẫn để sử dụng cho đúng. Bệnh có thể tạm ổn nếu điều trị đúng cách.

Một số biện pháp phòng ngừa bệnh gút:

- Ăn uống điều độ, không được nhịn đói, bỏ bữa, không dùng các chất kích thích như ớt, hạt tiêu, các loại dưa muối và cà muối. Hạn chế tối đa ăn các loại thực phẩm như gan, tim, lưỡi động vật, nấm, trứng cá, kem, bánh ga tô có kem. Tránh ăn các đồ thịt cá rán, thịt chó, nước canh xương hầm, canh cá; tránh ăn một số loại rau quả như các loại đậu đỗ, súp lơ, các loại cà, củ cải. Có thể ăn các loại thịt màu trắng như thịt lườn gà, thịt thỏ.

- Không uống rượu, hạn chế uống bia, không uống nước chè, cà phê đặc và các đồ uống có ga. Trong một công trình nghiên cứu, người ta thấy rằng ở nhóm người uống khoảng 1 lít bia trở lên trong một ngày có tỷ lệ bị gút gấp 2,5 lần so với nhóm người uống hạn chế.

- Sữa và các sản phẩm của sữa như sữa chua; dưa chuột, dưa hấu... là các thức ăn tốt cho việc phòng và chữa bệnh gút. Bánh mì, trứng, đa số các loại trái cây, rau quả (khoai tây, bí đao, bí đỏ, cải bắp, hành, tỏi... trừ cà chua) bệnh nhân gút đều có thể sử dụng.

- Uống nhiều nước (2-3 lít/ngày), các loại nước khoáng có tỷ lệ chất khoáng thấp và có tính kiềm có tác dụng thải bớt lượng acid uric thừa trong cơ thể cũng rất tốt cho bệnh nhân gút (có thể uống 1-3 cốc/ngày trước bữa ăn 1 giờ trong giai đoạn tái phát của bệnh).

- Điều chỉnh cân nặng về mức hợp lý, tập luyện các bài tập rèn sức bền vừa có tác dụng tăng cường sức khỏe chung, giảm cân và điều hòa các quá trình trao đổi chất. Tuy nhiên cần nghỉ tập trong giai đoạn tái phát của bệnh.

(Theo Sức khỏe & Đời sống)

Bố chồng tôi năm nay ngoài 70 tuổi, tuần vừa rồi có đi khám bệnh bác sĩ bảo bị thoái hóa cột sống, thần kinh tọa, vậy xin hỏi cần phải dùng phối hợp những loại thuốc gì để chữa bênh. (lâm thị thúy)

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo - không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Trả lời:

Thoái hoá cột sống và đau thần kinh toạ là một bệnh lý thường gặp trong các bệnh thầnkinh, thể hiện bằng đau lưng vùng thắt lưng, lan dọc theo đường đi của dây thần kinh này.

Đau thần kinh toạ ở người trẻ thường do tổn thương đĩa đệm, ở người có tuổi có thể do các căn nguyên khác cuả cột sống thắt lưng cùng (thoái hoá, ung thư nguyên phát hay di căn cột sống…). Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng và các  xét nghiệm như chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân, điện cơ đồ…

Điêut trị đau thần kinh toạ, thoái hoá cột sống cho người có tuổi cần phải chú ý những điểm sau:

-         Điều trị nhằm mụcđích giảm đau, hãn chế các cơn đau tái phát, và hận chế sự phát triển của thoái hoá.

-         Điều trị cần kết hợp điều trị toàn thân, tại chỗ đau, và điều trị nguyên nhân gây bệnh.

-         Trong cơn đau dữ dội đột ngột, phải tìm cách nằm yên, bất động chỗ đau. Không nên  xoa nắn, đấm bóp, kích thích nhiều vào chỗ đau, có thể dùng thêm các thuốc giảm đau và giãn cơ.

-         Về thuốc men, dùng nên thận trọng vì đa số bệnh nhân thường mắc phải những bệnh như cao huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường, bệnh xuất huyết, tiêu hóa, béo phì…

-         Các thuốc giảm đau thường là dòng họ của cocticoit, hay gây xuất huyết, dùng quá nhiều, quá liều dẫn đến loãng xương, đái đường, huyết áp cao…

-         Dung thuốc phải chú ý đến liều lượng, không nên quá máy móc vì cơ thể người già thường khả năng đào thải thuốc kém hơn so với người trẻ. Liều nên cho từ từ tăng dần đến khi có đáp ứng với thuốc thì dừng, không nên cho thuốc dài ngày. Cũng có thể dùng thuốc Đông y nhưng cần chú ý vì thuốc đông y thường là thuốc bổ nên bệnh  nhân dễ tăng cân, nhất là bệnh nhân cân nặng đã cao.

-         Chế độ ăn cũng rất quan trọng, nên ăn đủ chất như vậy mới giúp cho cơ thể khoẻ và mau hồi phục. Thịt nạc, trứng, tôm, cua, sữa chua rất tốt vì nhiều Canxi, magie, mà không làm tăng cholesterol…

-         HẠn chế đường và tinh bột, hạn chế ăn mặn, tránh các chất kích thích, gia vị, nước uống trung bình 1 lit/ ngày

-         Các loại hoa quả tươi nên khuyến khích , nên uống nhiều nươcd chanh, cam, táo, bưởi. Ăn nhiều các loại rau xanh như: rau cải, dền, muống, giá đỗ….

-         Nên phối hợp với biện pháp dùng thuốc với diều trị vật lý trị liệu như dùng nhiệt, chườm lá ngải cứu, chườm muối nóng, đắp bùn, thuỷ liệu, bơi lội, xoa bóp bấm huyệt…

Chúc bố của bạn khoẻ mạnh

BS Phạm Thanh Thuỷ
(thuocbietduoc)

Đau lưng là biểu hiện của khá nhiều các chứng bệnh khác nhau trong cơ thể con người. Nhưng nguyên nhân rõ rệt nhất, phổ biến nhất gây đau lưng là thoái hoá cột sống.

Và nếu như con người ta, ai cũng được sinh ra, lớn lên, già nua đi thì thoái hoá cột sống cũng là đương nhiên theo tuổi tác và năm tháng. Quan trọng là phải biết sinh hoạt, luyện tập ra sao để hạn chế tối đa những hậu quả do bệnh để lại.

Thoái hoá cột sống là gì?

Cột sống là khung đỡ của toàn bộ cơ thể. Theo năm tháng, do ảnh hưởng từ môi trường, chế độ ăn uống, tư thế vận động, sinh hoạt, luyện tập và chịu sức nặng cơ thể mà bị yếu đi, lão hoá và sức nâng đỡ kém.


Những yếu tố nào đã đẩy nhanh quá trình thoái hoá cột sống của con người?

- Điều kiện sống khó khăn, ăn uống không đầy đủ.

- Làm việc, lao động nặng quá sớm và quá sức. Ví dụ như mang vác, gồng gánh nặng từ lúc 12, 13 tuổi, khi mà khung xương còn đang trong giai đoạn phát triển, chưa định hình, hoàn thiện.


- Tập luyện thể dục, thể thao không hợp lý.


- Thường xuyên mang, vác, đẩy, kéo các vật nặng không đúng tư thế.


- Ngồi quá nhiều hoặc luôn luôn làm việc ở một tư thế ít thay đổi.


- Trọng lượng quá mức cho phép khiến cột sống luôn phải gắng đỡ cơ thể.


- Thông thường, bệnh xuất hiện ở người có tuổi từ 35, 40 trở lên. Tỷ lệ bị thoái hoá cột sống ở nam và nữ là gần như nhau mặc dù nguyên nhân là tương đối khác nhau ở hai giới. Nếu như ở nam giới phần lớn là do lao động nặng, chơi thể thao quá độ, thì nữ giới là do thiếu hụt canxi, hậu quả của việc mang thai và sinh nở mà không được bù đắp kịp thời và đầy đủ.

Bạn cần đến gặp bác sĩ ngay nếu có các biểu hiện sau đây:


- Lưng đau đột ngột, không có nguyên nhân rõ ràng.

- Đau lưng kèm các triệu chứng khác như sốt, đau ngực, khó thở, co dạ dày.

- Đau dữ dội kéo dài 2 – 3 ngày không hết.

- Đau âm ỉ kéo dài 2 tuần.

- Đau lưng nhanh chóng lan xuống chân, đầu gối và bàn chân.

Biểu hiện của thoái hoá cột sống

- Biểu hiện rõ rệt nhất là những cơn đau lưng xuất hiện thường xuyên, cảm giác khó chịu, bức bối trong cơ thể, dáng đi không bình thường, vẹo vọ hoặc lưng còng xuống... Nếu gặp phải những hiện tượng như vậy, có thể bạn đã bị thoái hoá cột sống.

- Nếu như đau lưng do bị thận hoặc một số bệnh khác thường diễn ra theo cơn, dữ dội, thì đau lưng do thoái hoá cột sống lại thường âm ỉ, rả rích ngày này qua tháng khác. Đau chủ yếu ở vùng thắt lưng và cổ, gáy. Cảm giác khó chịu kèm theo khiến bạn mất ăn, mất ngủ, gầy rộc đi, sức làm việc giảm sút và ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của cả mọi người xung quanh.

- Đôi khi có những cơn đau cấp tính khiến bạn cảm thấy nhói buốt, đau cả sang những vùng khác như vai, thần kinh toạ, đau hông và đùi đến mức không thể đi lại lâu được.


Khống chế những cơn đau lưng và khó chịu do thoái hoá cột sống bằng cách nào?


- Có nhiều phương pháp được sử dụng hiện nay tại các bệnh viện là: Dùng thuốc, thuỷ châm, châm cứu, kéo giãn cột sống, vật lý trị liệu v.v... Tất cả các phương pháp này đều phải được bác sĩ chuyên khoa thăm khám và chỉ định thực hiện.


- Khi ở nhà, nếu bị đau lưng, bạn nên lập tức nằm nghỉ, thư giãn. Nhưng cũng không được nằm quá lâu khiến máu khó lưu thông, tăng cảm giác mệt mỏi. Chỉ cần cảm thấy đỡ đau là bạn đã phải đi lại đôi chút. Nói chung, người bị thoái hoá cột sống không nên ngồi một chỗ mà nên vận động nhẹ nhàng, tập thể dục vừa phải.


- Chườm nóng và xoa bóp được coi là biện pháp hữu hiệu tức thời. Tuy nhiên, có một sai lầm lớn là khi bị đau lưng, ta thường bóp dầu nóng, mật gấu và rượu. Làm như vậy sẽ khiến vùng bị đau có phản ứng co cơ, khiến cơn đau càng trầm trọng hơn.


- Khi đã cảm thấy khá hơn, bạn hãy bơi lội một chút. Theo các bác sĩ thì bơi lội chính là môn thể thao thích hợp nhất để chữa đau lưng, đặc biệt với các cơn đau cấp thì việc bơi trong bể nước ấm sẽ rất có hiệu quả.

- Khi đã từng bị đau lưng do thoái hoá cột sống một lần thì nên giữ gìn, không để tái phát. Vì nếu những cơn đau lặp đi lặp lại sẽ càng ngày càng nặng hơn. Đến một lúc nào đó, bạn chỉ cần đi, đứng, sinh hoạt trong tư thế hơi khác thường là đã bị đau lưng buốt nhói dữ dội.


- Cần ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và phải kiêng rượu, bia.


Phòng bệnh từ khi còn nhỏ và ngay trong cách thức sinh hoạt hàng ngày


- Các bậc làm cha, làm mẹ cần quan tâm đến con trẻ trong việc ăn uống sao cho đủ chất, học tập và thể thao đúng mức. Ngày nay, những yếu tố dễ dẫn đến thoái hoá cột sống sau này nếu không để ý từ khi còn bé là: trẻ có thể ngồi hàng giờ chơi games trước màn hình vi tính, xem tivi quá nhiều, ăn uống vô độ dẫn đến béo phì v.v...


- Với những người lao động trí óc, cứ ngồi làm việc khoảng 1 - 2 tiếng phải đứng dậy đi lại, tập một vài động tác có lợi cho lưng.


- Với người lao động chân tay, chú ý không mang vác quá sức. Với những vật quá nặng, không bao giờ được đứng cúi lưng để nhấc vật lên mà phải ngồi xổm xuống, nâng vật lên từ từ.



- Tập thể dục thường xuyên, đều đặn. Tập Thái cực quyền, bơi lội là rất tốt để phòng ngừa đau lưng do thoái hoá cột sống.


- Với phụ nữ có thai, việc luyện tập đúng phương pháp lại càng cần thiết để giúp cho cột sống thêm dẻo dai, tránh đau do phải đỡ thêm một phần trọng lượng lớn nữa ngoài cơ thể của chính người mẹ.


Theo Dược sĩ Lê Thị Hồng, Xí nghiệp Dược Hà Tĩnh, điều trị bệnh thoái hoá cột sống có thể dùng thuốc uống hoặc thuốc tiêm.


Thuốc uống: Hiện có hai loại thuốc viên được sử  dụng phổ biến là Hirmen của Hàn Quốc và Diclofenac của Việt Nam. Thuốc tiêm: Ticotin của Pháp. Thông thường khi dùng các loại thuốc trên đều phải dùng kết hợp với nhiều loại thuốc khác.


Khi bị thoái hoá cột sống, người bệnh cần được bác sĩ chuyên khoa khám, chỉ định chính xác dùng loại thuốc gì. Không phải lúc nào thuốc ngoại cũng tốt, mà bác sĩ  sẽ căn cứ vào tình trạng bệnh để kê đơn thuốc kết hợp sao cho có hiệu quả nhất trong điều trị.


Các thuốc kể trên đều có tác dụng phụ đến dạ dày. Người bệnh phải ăn no trước khi tiêm, uống thuốc, và phải luôn nhớ uống thuốc với nhiều nước. Người bị đau dạ dày thường được bác sĩ cho dùng thêm loại thuốc dạ dày để bổ trợ giảm đau hoặc chuyển sang phương pháp điều trị khác.


Kiều Nga thực hiện
(Dân trí)
PGS. TS. BS Võ Văn Thành , trưởng khoa cột sống A Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP.HCM, cho biết: Chúng ta cần phân biệt thoái hóa cột sống ở cổ, lưng hay thắt lưng. Ở ba vùng bệnh, tính chất khác nhau. Lưu ý là ở những vùng nào có đĩa đệm (cổ, lưng, thắt lưng) mới có vấn đề thoái hóa cột sống, còn ở vùng xương thiêng (từ dưới thắt lưng xuống - dính thành khối, không đĩa đệm), xương cụt không có thoái hóa cột sống.

* Nguyên nhân chính của bệnh từ đâu?

- Hiện nay chúng ta chưa có một thống kê chính xác để nói về tỉ lệ mắc bệnh thoái hóa cột sống, tuy nhiên đây là một bệnh lý cột sống rất phổ biến, chiếm khoảng trên 60% bệnh lý chỉnh hình cột sống. Thường sau tuổi 40 trở đi, càng lớn tuổi bệnh càng xảy ra nhiều hơn, có những người thoát vị đĩa đệm ở tuổi 30-40,thoái hóa thân đốt sống ở tuổi 50-60. Nguyên nhân chính là do sự lão hóa.

Có thể có những tác động, yếu tố khác nhau khiến bệnh lý phát triển sớm hoặc muộn, như lao động nặng nhọc quá mức lúc còn trẻ, hoặc sự thiếu vận động, không huấn luyện cơ bắp (cơ bụng, cơ thắt lưng) để chịu lực, các tư thế sai của cổ, lưng, thắt lưng trong sinh hoạt hằng ngày làm phát triển nhanh tiến trình lão hóa.

Thoai hoa cot song Nhung dieu can biet
PGS. TS. BS Võ Văn Thành
* Làm việc văn phòng ngồi nhiều có dễ mắc bệnh?

- Những người lao động văn phòng nên ngồi tư thế đúng, phải có lưng ghế tựa và hơi nhô ra ngay thắt lưng, ngồi đầu gối hơi cao hơn háng một chút là tốt. Sau 45 phút đến một giờ cần làm những động tác thể dục nhẹ nhàng.

Người lái xe đường dài sau khoảng hai giờ phải nghỉ ngơi 10-15 phút để tập cơ cổ, cơ lưng thì làm việc mới lâu bền được.

Những người buôn gánh bán bưng, khuân vác phải thận trọng, không làm việc quá mức. Có những thanh niên ỷ sức khuân vác 50-70kg là không hợp lý, chưa kể tư thế không đúng, những yếu tố rủi ro làm nặng thêm tiến trình lão hóa. Làm nặng sai tư thế cũng thúc đẩy tiến trình thoái hóa cột sống, thoái hóa đĩa đệm tăng lên.

Tóm lại, phải phòng ngừa bằng cách biết tư thế đúng khi làm việc nặng và làm việc thời gian dài. Tuy giữa lý thuyết và thực hiện trên thực tế có khoảng cách, nhưng chúng ta cần biết để tránh những động tác sai.

* Thưa bác sĩ, đối với học sinh làm thế nào để có được tư thế đúng với bàn ghế hiện nay?

- Phải có những kiểu mẫu bàn ghế phù hợp từng lứa tuổi khác nhau. Trẻ cao lớn mà ngồi bàn quá thấp sẽ bị vẹo cột sống, ngược lại bé thấp mà bàn quá cao, phải niểng cổ dẫn đến các tư thế cổ sai.

* Bác sĩ có thể giới thiệu một số sai lầm trong chẩn đoán?

- Nhiều người khi đi khám bệnh cầm theo phim X-quang và cho rằng bị gai cột sống nên gây đau. Đây là một sai lầm trong chẩn đoán. Những biểu hiện gai cột sống chỉ là một trong các triệu chứng nghĩ đến thoái hóa cột sống giai đoạn sớm, nhưng gai cột sống không phải là nguyên nhân chủ yếu gây ra đau trong giai đoạn này.

Vấn đề chính là phải chẩn đoán cho được có hay không có thoái hóa cột sống. Cần phải chẩn đoán rõ ràng các loại bệnh lý thoái hóa khác nhau (thoái thân đốt sống, thoái hóa đĩa đệm, thoái hóa khối mấu khớp...), tầng bệnh khác nhau (cổ, lưng, thắt lưng).

* Nhiều người nghe quảng cáo và chi hàng chục triệu đồng để điều trị thoái hóa cột sống với phương pháp mới - giảm áp bằng laser. Đây có phải là phương pháp tối ưu?

- Hầu như phương pháp giảm áp bằng laser không nên áp dụng cho các bệnh lý thoái hóa cột sống. Một số ít trường hợp thoát vị đĩa đệm nhẹ, chưa phá rách dây chằng dọc sau, có thể được áp dụng một cách thận trọng phương pháp này. Các trường hợp thoát vị đĩa đệm nặng gây đau thần kinh tọa, có biểu hiện trên hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) sự xé rách dây chằng dọc sau hay khối thoát vị lọt vào ống sống thì chỉ định phẫu thuật ít xâm nhập là phù hợp nhất.

* Có khi nào bị thoái hóa cột sống mà bác sĩ chẩn đoán nhầm đau dây thần kinh tọa, uống thuốc thời gian dài không khỏi ?

- Đau thần kinh tọa chỉ là một triệu chứng của nhiều nhóm bệnh khác nhau: thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, hẹp ống sống thắt lưng, viêm rễ thần kinh tọa hay do bướu chèn ép vùng thắt lưng... Vì vậy phải chẩn đoán chính xác. Nếu chẩn đoán ra nguyên nhân, cần phẫu thuật thì phải tiến hành phẫu thuật mới giải quyết vấn đề được.

Còn nếu là dạng mãn tính (bệnh lý thoái hóa khối mấu khớp, bệnh lý hẹp ống sống thắt lưng, bệnh lý thoái hóa thân đốt sống, lồi đĩa đệm...) mới dùng thuốc lâu dài trước khi quyết định phẫu thuật.

* Nếu đến một cơ sở y tế, bác sĩ cho chụp MRI ngay để chẩn đoán, có hợp lý không ?

- Với sự thăm khám lâm sàng cẩn thận và hình ảnh X-quang thường qui rõ (nếu được, nên chụp X-quang thường qui kỹ thuật số) đã đủ hướng đến chẩn đoán chính xác có hay không có thoái hóa cột sống để bắt đầu hướng dẫn điều trị bảo tồn trong đa số trường hợp.

Chỉ khi nào bệnh nhân có các triệu chứng biểu hiện bệnh lý rễ thần kinh, bệnh lý tủy cổ hay lưng mới nên chụp MRI để quyết định hướng điều trị phẫu thuật. Không nên cho chỉ định chụp ngay MRI mà không qua X-quang thường qui nếu không thấy các triệu chứng bệnh lý nặng.

* Xin cảm ơn bác sĩ.

KIM SƠN
(Theo VietBao)

Một thành phần trong chè xanh gọi là EGCG có khả năng tiêu diệt các tế bào gây ra bệnh ung thư bạch cầu nguyên bào lymphô mạn tính. Đây là phát hiện mới của các nhà khoa học Mỹ.

Ung thư bạch cầu nguyên bào lymphô mạn tính là một dạng phổ biến của bệnh ung thư bạch cầu, thường gặp ở những người trên 60 tuổi. Hiện nay khoa học chưa tìm ra phương pháp trị bệnh triệt để, ngoài những cách tạm thời như liệu pháp bức xạ hoặc các loại thuốc gây độc tế bào nhằm hạn chế sản sinh các tế bào bất thường.

Tuy nhiên, phòng thí nghiệm Mayo Clinic (Mỹ) mới đây đã tìm thấy chất EGCG (epigallocatechin-3-gallate) trong chè xanh có khả năng tấn công trực tiếp các tế bào gây bệnh. Phân tích ban đầu cho thấy chất này làm gián đoạn đường truyền tín hiệu liên lạc giúp các tác nhân tồn tại. Kết quả thử nghiệm cho thấy, 8 trong số 10 bệnh nhân ung thư bạch cầu nguyên bào lymphô mạn tính đã có tế bào bạch cầu bị tiêt diệt dưới tác động của EGCG.

Trưởng nhóm nghiên cứu Neil E. Kay cho biết, phát hiện về EGCG của chè xanh là một sự khởi đầu tốt đẹp trong quá trình tìm kiếm các phi độc tố có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư của nhóm. Hiện Kay và đồng sự tiếp tục tìm hiêu sâu hơn cơ chế hoạt động của EGCG và sẽ sớm ứng dụng kết quả này vào việc phát triển những loại thuốc trị bệnh hiệu quả.


Nguồn: VNexpress.net
Mỹ Linh (theo HealthDayNews)
Thưa bác sĩ năm nay tôi 20 tuổi, tôi đã bị hắc lào 2 năm nay rồi. Tôi có dùng một số các loại thuốc bôi ngoài da thì Tôi muốn hỏi là làm cách nào để chữa bệnh này tận gốc không?

Và nếu mà chữa tận gốc thì có mất đi vùng bị thâm do hắc lào để lại không? Tôi bị hắc lào lúc đầu ở bên phải hông sau đó nó chạy xuống bẹn, ở hông thì không thấy xuất hiện ngứa trở lại nữa còn ở bẹn thì nó cứ được một thời gian rồi lại bị lại. (nguyễn ngọc sơn)


Trả lời:


Biểu hiện của bệnh hắc lào còn gọi là bệnh lác. Đây là bệnh do vi nấm cạn gây nên thuộc nhóm dermatophytes, hay gặp nhất là hai loại trychophyton và epidermophyton. Dấu hiệu nổi bật nhất của bệnh là ngứa, nổi mẩn đỏ, có mụn nước, vùng có nấm thường tròn như đồng tiền. Cảm giác ngứa ngáy rất khó chịu ở vùng da bị tổn thương, cả ngày lẫn đêm, ngứa nhiều hơn khi về đêm, đổ mồ hôi, thời tiết nóng bức... Nổi mẩn đỏ một vùng có giới hạn rõ, trên bề mặt xuất hiện những mụn nước, tập trung ở phần rìa vùng nổi mẩn. Bệnh có thể gặp ở bẹn, chân tay, mặt, bụng, ngực...Nếu không can thiệp kịp thời, bệnh sẽ ngày càng lan rộng. Ngoài vùng da bị nhiễm ban đầu sẽ từ từ lây lan ra toàn thân và kèm theo nhiều triệu chứng rất khó chịu cho bệnh nhân như ngứa, có khi bị bội nhiễm, bị nhiễm trùng ngoài da, dẫn tới tình trạng viêm da bội nhiễm do vi nấm.

Điều quan trọng nhất vẫn là ngăn ngừa bệnh không xảy ra và tránh tái phát. Thứ nhất, không dùng khăn tắm, khăn mặt hay quần áo ướt. Về thuốc thì các loại thuốc kháng nấm thông thường và ít có tác dụng phụ hiện nay như ketoconazol hoặc là bôi tại chỗ hoặc dùng đường uống toàn thân kháng nấm. Để điều trị hiệu quả, tránh bộc phát và lây lan, vấn đề phòng ngừa và giữ vệ sinh da vẫn là quan trọng hàng đầu.

Thuốc bôi cần thoa ngày 2 lần ở những vùng da bị bệnh. Yêu cầu cơ bản là giữ cho vùng da đó không bị ẩm ứơt. Đối với các loại thuốc kháng nấm thì điều cơ bản là không được dùng rượu bia trong thời gian dùng thuốc.

Bạn phải cần đến sự chẩn đoán xác định bệnh của bác sĩ chuyên khoa da liễu. Bác sĩ sẽ cho đơn thuốc điều trị thích hợp với từng bệnh nhân. Khi bệnh nhân tự đoán bệnh và tìm thuốc chữa trị có khi không chính xác, không đúng bệnh thì việc điều trị không kết quả.

Chẳng cần thuốc gì hết để điều trị hết vết thâm vùng da bị tổn thương do hắc lào. Bạn có thểlấy búp ổi non sát vào ngày nhiều lần là khỏi, búp hồng xiêm cũng được.

Chúc bạn thành công.
(Tinnhanh.com)
Mình có người quen bị bướu cổ khá nặng, nhưng hôm bữa có dịp ghé thăm thì rất ngạc nhiên vì bệnh hầu như không còn nữa.
Mình có hỏi thăm thì biết là người quen mình uống 1 loại thuốc gì đó xách tay từ Pháp về.
Ai thật sự muốn tìm hiểu thì liên hệ mình để mình giới thiệu người quen mình cho, rồi tìm hiểu kỹ thêm.
Số mình: 0121.235.8898 (Vy) hoặc
Nick chat yahoo: newchance4vn
Bướu cổ đơn thần hay sưng tuyến giáp trạng đơn thuần là tổn thương bệnh lý khi tình trạng hấp thu iod không đầy đủ, tăng sinh dạng phản ứng bù đắp phát sinh ở tổ chức tuyến giáp trạng mà dẫn tới.

Khi trong ăn uống thiếu iod dài ngày, không đáp ứng đầy đủ nhu cầu hợp thành chất của tuyến giáp trạng, khiến nó kích thích tuyến giáp trạng tiết quá nhiều dài ngày, kích thích tổ chức tuyến giáp trạng tăng sinh, sưng to, đến giai đoạn cuối, tế bào tuyến giáp phì đại, có thể phát sinh hoại tử, xuất huyết hoặc vôi hóa.

Nguyên tắc ăn uống

Sưng tuyến giáp dạng địa phương thường do ăn uống thiếu iod gây nên, vì thế cần bổ sung thêm thức ăn có hàm lượng iod cao như hải sản sò, ngao, hải đới... và quan trọng nhất là muối iod cần dùng thường xuyên.

Sưng tuyến giáp trạng dạng phân tán tiêu hao iod trong cơ thể, trong các thời kỳ kinh nguyệt, thời kỳ mang thai, giai đoạn dậy thì... thường phát sinh bệnh, do đó trong thời kỳ này cần bảo đảm cung cấp đủ iod cho cơ thể qua các thức ăn có nhiều iod nhất là hải sản và sử dụng muối iod thường xuyên.

Nguyên nhân bệnh sưng tuyến giáp trạng dạng đơn thuần, Đông y cho rằng đó là sự ngưng kết của đờm ẩm, cách chữa nên tiêu đờm, làm mềm khối rắn, tan kết, thức ăn như hải tảo, sò biển, mẫu lệ, xuyên bối...

Một vài thức ăn có thể dẫn tới phát sinh bệnh nên ăn ít như cải củ, rau cải trắng...

Một số món ăn, bài thuốc

Bài 1: Hải đới 100g, rửa sạch, nấu chín, ăn mỗi ngày 1 lần, dùng chữa sưng tuyến giáp trạng dạng địa phương.

Bài 2: Sứa 50g, rửa sạch, thịt mẫu lệ 50g, thêm gia vị, có thể ăn thường xuyên, dùng chữa sưng tuyến giáp trạng dạng địa phương.

Bài 3: Đậu tương 150g, thịt mẫu lệ 50g, thêm gia vị nấu ăn thường xuyên, dùng chữa bướu cổ đơn thuần.

Bài 4: Sò biển 50g, tử thái 50g, rửa sạch cho vào nồi nấu canh, có thể ăn thường xuyên, dùng cho người bị sưng tuyến giáp trạng dạng địa phương.

Bài 5: Hẹ 150g, thịt ngao sò 100g, rửa sạch thái vụn, xào chín, dùng cho người bướu cổ rõ rệt.

Bài 6: Hồng xanh 1.000g, rửa sạch giã nát, nước hồng cho vào nồi đun tới chín đặc, thêm mật ong bằng số lượng nước hồng vào, sắc tới đặc, đợi nguội dùng ăn, ngày 1 lần, mỗi lần 1 thìa canh, liệu trình 1 tháng, dùng cho người sưng tuyến giáp trạng rõ rệt.

Bệnh bướu cổ đơn thuần hay sưng tuyến giáp trạng dạng đơn thuần, việc phòng bệnh và điều trị không thể coi nhẹ. Lấy ăn uống để phòng và chữa trị có hiệu quả rất tốt, lấy nguyên tắc là tăng thêm hấp thu thức ăn chứa iod, làm mềm khối rắn kêt tụ, thông khí giải uất.

(Theo Sức khỏe & Đời sống)
Benh Eczema va cach dieu tri
Hỏi:Em bị bệnh Eczema hơn một năm nay, đã đi chữa nhiều nơi nhưng chưa khỏi. Em xin hỏi nếu chữa bằng thuốc tây có khỏi được không? Ở Hà Nội thì chỗ nào chữa có kết quả tốt nhất và triệu chứng của bệnh này như thế nào? (Nguyễn Xuân Quyết)

Đáp:Bệnh Eczema (chàm) là trạng thái viêm lớp nông của da, cấp hay mạn tính, tiến triển thành từng đợt, hay tái phát.

Triệu chứng của bệnh: nổi đám mảng đỏ trên da, mụn nước, ngứa. Nguyên nhân của bệnh phúc tạp do cả yếu tố bên trong lẫn bên ngoài và liên quan đến vai trò thể địa dị ứng.

Bệnh phát triển qua 4 giai đoạn: đỏ da, mụn nước, lên da non, liken hóa (hăm cổ trâu).

Các thể Eczema: Eczema tiếp xúc; Eczema thể địa; Eczema nhiễm khuẩn; Eczema đồng tiền và Eczema da dày.

Phương pháp điều trị: Điều trị theo từng giai đoạn của bệnh, nhưng có nguyên tắc chung là:

- Giai đoạn cấp cần nghỉ ngơi, hạn chế kích thích rượu, cà phê; tránh tiếp xúc với các nguyên nhân gây dị ứng; tránh cào gãi, trà sát, rửa bằng xà phòng; nếu có nhiễm khuẩn thì nên dùng kháng sinh (Erythromyein, Tetracylin - uống một đợt 7-10 ngày).

- Điều trị tại chỗ: Dùng các thuốc dịu da như thuốc tím pha loãng 1/4.000, nước muối sinh lý 9 phần ngàn, Rivanol 1 phần ngàn trong 5-7 ngày đầu, sau đó bôi thuốc tím Metyl 1%.

- Khi tổn thương khô, bôi tiếp mỡ corticoid.

- Dùng kháng sinh như cream synalar-neomycin; cream celestoderm-Neomyein.

- Với Eczema mãn tính: có thể dùng Goudron, mỡ corticoid, mỡ Dipsosalic.

Ở Hà Nội bạn có thể đi khám và chữa bệnh tại Trung tâm Da liễu (BV Bạch Mai).

BS Bạch Long
Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)
Tôi năm nay 30 tuôị tôi bị bệnh chàm, hay gọi là eczema..Vậy tôi xin hỏi có thuốc đặc trị không? Vì tôi đã bị mấy năm rồi, uống nhiều thuốc mà không khỏi. (trần thu trang)

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo - không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Trả lời:

Bệnh Eczema (chàm) là trạng thái viêm lớp nông của da, cấp hay mạn tính, tiến triển thành từng đợt, hay tái phát.
Triệu chứng của bệnh: nổi đám mảng đỏ trên da, mụn nước, ngứa. Nguyên nhân của bệnh phúc tạp do cả yếu tố bên trong lẫn bên ngoài và liên quan đến vai trò thể địa dị ứng.
Bệnh phát triển qua 4 giai đoạn: đỏ da, mụn nước, lên da non, liken hóa (hăm cổ trâu).
Các thể Eczema: Eczema tiếp xúc; Eczema thể địa; Eczema nhiễm khuẩn; Eczema đồng tiền và Eczema da dày.
Bệnh có thể trở thành mạn tính, da dày lên, ngứa gãi nhiều. Nhiều trường hợp bội nhiễm gây viêm da mủ, hoặc nhiễm trùng ác tính, thậm chí có thể dẫn tới tử vong. Bệnh tiến triển từng đợt, kéo dài 1-2 năm.
Điều trị bệnh eczema còn là một vấn đề khó khăn. Phải tùy theo tuổi và tổn thương của bệnh mà có cách điều trị phù hợp. Trong trường hợp eczema có viêm da mủ, cần điều trị chống bội nhiễm bằng cách cho uống kháng sinh penicilin, ampixyclin... và bôi các dung dịch sát khuẩn mạnh như xanh metylen, milian... Khi tắm rửa, cần tránh dùng các chất gây kích thích như xà phòng giặt, chanh... Có thể dùng chè tươi, lá bàng tươi nấu lấy nước để tắm.
Để chống ngứa, nên dùng một trong các thuốc chống dị ứng như sirô phenargan, sirô théralèn, chlorpheniramin... sử dụng theo chỉ dẫn.
Các thuốc mỡ chứa corticosteroid như flucina, cidermex... có thể sử dụng để bôi trên tổn thương eczema khô, không nên dùng để bôi trong các trường hợp eczema nhiễm khuẩn. Không nên bôi quá nhiều (diện tích rộng) vì có thể gây biến chứng do tác dụng phụ của thuốc.
Phương pháp điều trị: Điều trị theo từng giai đoạn của bệnh, nhưng có nguyên tắc chung là:
- Giai đoạn cấp cần nghỉ ngơi, hạn chế kích thích rượu, cà phê; tránh tiếp xúc với các nguyên nhân gây dị ứng; tránh cào gãi, trà sát, rửa bằng xà phòng; nếu có nhiễm khuẩn thì nên dùng kháng sinh (Erythromyein, Tetracylin - uống một đợt 7-10 ngày).
- Điều trị tại chỗ: Dùng các thuốc dịu da như thuốc tím pha loãng 1/4.000, nước muối sinh lý 9 phần ngàn, Rivanol 1 phần ngàn trong 5-7 ngày đầu, sau đó bôi thuốc tím Metyl 1%.
- Khi tổn thương khô, bôi tiếp mỡ corticoid.
- Dùng kháng sinh như cream synalar-neomycin; cream celestoderm-Neomyein.
- Với Eczema mãn tính: có thể dùng Goudron, mỡ corticoid, mỡ Dipsosalic.
Ở Hà Nội bạn có thể đi khám và chữa bệnh tại Viện Da liễu Trung Ương để bệnh sớm khỏi hoàn toàn.

Nguồn: Thuocbietduoc.com
Các tin tức dồn dập gần đây cho thấy một hiện tượng bùng phát các bệnh nhiễm virus ở trẻ em, bao gồm những bệnh lý đặc thù như quai bị và sốt xuất huyết và các dạng bệnh phát triển thành dịch gọi chung là nhiễm siêu vi mà tác nhân gây bệnh cần phải được xác định cụ thể hơn. Gây chú ý nhiều nhất là dịch “sốt siêu vi” đang hoành hành ở trẻ em và học sinh tại Hà Nội và một số tỉnh, thành, với biểu hiện chính là sốt và các triệu chứng đường hô hấp (ho, sổ mũi, đau họng...).


Có nhiều loại tác nhân siêu vi (trên 250 phân típ kháng nguyên thuộc 8 giống khác nhau) có thể gây hội chứng hô hấp. Có lẽ đây là nhóm bệnh lý cấp tính phổ biến nhất - mà mỗi người bình quân hằng năm mắc phải 3 - 5 lần, nhiều nhất là ở trẻ nhỏ. Đại đa số các bệnh nhiễm này liên hệ đường hô hấp trên, nhưng bệnh đường hô hấp dưới cũng có thể phát sinh, đặc biệt ở trẻ nhỏ và một số nhóm dịch tễ. Thường gặp nhất là:                                            

- Các rhinovirus, tác nhân chính gây hội chứng cảm lạnh (sổ mũi, nghẹt mũi, nhảy mũi), đôi khi gây biến chứng viêm tai, viêm xoang, viêm phổi hay các cơn kịch phát hen suyễn hoặc viêm phế quản.

- Coronavirus: cũng thường gây cảm lạnh.

- Adenovirus: gây cảm lạnh, viêm họng và đôi khi viêm phổi ở trẻ em, có thể phát thành dịch ở trường học và doanh trại quân đội.

- Virus cúm A, B: gây bệnh cúm, có thể gây biến chứng viêm phổi hay viêm mũi - họng.

- Phó cúm: viêm thanh quản, viêm phổi ở trẻ em, viêm họng, cảm lạnh, viêm khí phế quản ở người lớn.

- RSV (virus hợp bào hô hấp): viêm phổi và viêm tiểu phế quản ở trẻ em, cảm lạnh ở người lớn, viêm phổi ở người già...

- Enterovirus (các virus Echo và Coxsackie): gây bệnh sốt cấp tính không đặc thù (“cúm mùa hè”), bệnh Bornholm (sốt, tức ngực, đau bụng trên), bệnh sốt phát ban, bệnh tay - chân - miệng (nổi mụn nước, bóng nước, loét, phát ban)...

Nhưng dịch sốt siêu vi hiện nay là do tác nhân nào? GS. Đỗ Quang Hà, một chuyên gia về virus học ở Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP.HCM, nhận định: “Muốn xác định tác nhân gây bệnh, phải phân lập virus. Nhưng đó là những dạng bệnh nhẹ, với diễn tiến thường lành tính, cho nên các nơi thường không làm xét nghiệm phân lập...”. Và cho dù có nhận diện được một virus, thì điều ấy không có nghĩa là đợt bùng phát “sốt siêu vi” hiện nay chỉ do một tác nhân duy nhất gây nên. Trong khi đó, một giới chức y tế ở Hà Nội cho rằng tác nhân gây dịch sốt siêu vi hiện nay ở Hà Nội là một adenovirus. Là một virus thuộc giống Mastadenovirus, bao gồm ít nhất 47 típ huyết thanh, adenovirus của người thường gây bệnh cho trẻ em và nhũ nhi, đặc biệt vào thời điểm hiện nay (từ mùa thu đến mùa xuân). Một số típ adenovirus (4, 7, 3, 14, 21) có kết hợp với những cơn bột phát bệnh cấp đường hô hấp nơi các tân binh vào mùa đông và mùa xuân. Bệnh nhiễm adenovirus được điều trị theo triệu chứng cùng với các biện pháp hỗ trợ (không dùng thuốc kháng virus). Vaccin cho adenovirus 4 và 7 đã được triển khai nhằm phòng chống dịch trong các trại lính tân binh.



BS. Phạm Quốc Vỹ

Nguồn: Khoahocphothong


Các vị khách mời: Giáo sư Tiến sĩ Đặng Đức Phú (Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương) và Thạc sĩ Bác sĩ Nguyễn Tiến Lâm- Phó Trưởng khoa virus ký sinh trùng (Viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia) giải đáp những câu hỏi của bạn đọc xung quanh việc phòng, chống bệnh sốt xuất huyết; cách nhận biết, xử lý khi gia đình có người thân mắc bệnh sốt xuất huyết.
(VOV)_Bệnh sốt xuất huyết xảy ra quanh năm, đặc biệt vào mùa mưa, có thể bộc phát thành dịch, đe dọa sinh mạng trẻ em và sức khỏe cộng đồng. Bệnh có thể trở nặng bất ngờ, gây tử vong cao.  
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Trong vòng 1 tháng qua, có những lúc bệnh sốt xuất huyết đã lan rộng ra nhiều tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là các tỉnh miền Nam. Tại Hà Nội, tính đến ngày 11/8, đã có 215 bệnh nhân sốt xuất huyết rải rác tại địa bàn 90 phường, xã của 14 quận huyện, tăng 70,6% so với cùng kỳ năm trước.

Trước sự nguy hiểm của dịch bệnh này, Giáo sư Tiến sĩ Đặng Đức Phú (Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương) và  Thạc sĩ Bác sĩ Nguyễn Tiến Lâm- Phó Trưởng khoa virus ký sinh trùng (Viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia); tham gia chương trình Phòng mạch Online sẽ giải đáp mọi thắc mắc của bạn đọc xung quanh việc phòng, chống bệnh sốt xuất huyết; cách nhận biết, xử lý khi gia đình có người thân mắc bệnh sốt xuất huyết.
* Cháu muốn hỏi những triệu chứng nào để phát hiện bệnh SXH? Làm thế nào phát hiện bệnh sớm và nếu nghi bị SXH thì phải đưa đến bệnh viện ngay phải không?(Thái Anh, 20 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Những triệu chứng để phát hiện bệnh SXH là sốt cao đột ngột, rất đau đầu, đau mỏi người, đau mỏi cơ, khớp, mệt mỏi, có thể chảy máu mũi hoặc chảy máu chân răng.Người bệnh có biểu hiện các chấm nốt xuất huyết dưới da (nốt bầm đỏ, tím).
Để phát hiện sớm bệnh SXH thì khi có những triệu chứng trên trong vòng 1-3 ngày nếu người bệnh sống trong vùng có nhiều người đã được chẩn đoán là SXH thì cần nghĩ tới khả năng bị bệnh SXH. Trong trường hợp người bệnh sốt cao, mệt lả, nôn, đau bụng, xuất huyết nhiều, đi tiểu ít thì phải đưa bệnh nhân đến bệnh viện ngay.  
GS.TS Đặng Đức Phú: Ngoài ra, có những điều có thể dễ dàng hơn cho bác sĩ lâm sàng trong chẩn đoán nếu như bác sĩ dự phòng cung cấp những thông tin liên quan đến bệnh tại vùng xảy ra dịch.
* Bệnh sốt xuất huyết là do những nguyên nhân gì gây ra, thưa BS? Tại sao bệnh lại phát theo mùa?(Hà Quang, 36 tuổi)
GS. TS Đặng Đức Phú: Bệnh sốt xuất huyết xuất hiện do người bệnh bị nhiễm virus dengue, nhưng người bị nhiễm loại virus này thường do vật  trung gian, ở đây là muỗi cái, cụ thể là loại muỗi Ae.aegypti, Ae.albopictus đã hút máu của một người đã, đang bị nhiễm bệnh. Để đủ bữa ăn, con muỗi này thông thường phải hút máu của 4-5 người và cũng do vậy cho nên người ta cho rằng muỗi có thể truyền bệnh cho nhiều người một lúc. Do số lượng muỗi biến động theo mùa, chủ yếu vào mùa mưa muỗi sinh sôi nảy nở mạnh. Do vậy ở Việt Nam, bệnh thường phát triển mạnh vào tháng 7 đến tháng 10 hàng năm .
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
* Sốt xuất huyết ở người lớn và trẻ em khác nhau như thế nào? (Nguyễn Mạnh Hùng, 30 tuổi)
GS.TS Đặng Đức Phú: Sốt xuất huyết ở người lớn có nhiều sự khác nhau. Thứ nhất là khác theo miền. Ở miền Bắc thì số người lớn mắc chiếm có khi đến 80%, nhưng ở miền Trung và miền Nam thì có thể ngược lại.
Tuy nhiên, đối với trẻ em, có một số triệu chứng nguy hiểm của bệnh mà các nhà lâm sàng học cần quan tâm.
Sốt xuất huyết ở trẻ em nguy hiểm hơn ở người lớn vì: Sốt cao có thể gây ra co giật, lượng nước ở trong cơ thể trẻ em nhiều nên dễ mất nước khi sốt cao dẫn đến trụy tim mạch (hạ huyết áp). Trẻ em dễ có nhiều biến loạn khác nếu người lớn không chăm sóc và theo dõi chặt chẽ (do trẻ không thể biết được về tình hình diễn biến bệnh).
* Khi bị sốt xuất huyết, hình như phải kiêng uống thuốc gì đó, tôi không nhớ, xin bác sĩ cho biết và giải thích tại sao lại không được uống thuốc đó?(Nguyễn Thế, 26 tuổi)
ThS.BS Nguyễn Tiến Lâm: Đúng, khi bị sốt xuất huyết thì không được uống thuốc Aspirin vì thuốc này sẽ làm cho bệnh nhân bị chảy máu nặng, có thể dẫn đến tử vong. Bệnh sốt xuất huyết đã có triệu chứng xuất huyết và dễ có biểu hiện rối loạn đông máu, thuốc Aspirin làm máu khó đông nên dẫn đến tình trạng chảy máu nặng không cầm ở bệnh nhân sốt xuất huyết.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

* Bệnh này thường kéo dài bao lâu thì khỏi? Tự khỏi hay nhất thiết phải uống thuốc? Làm thế nào để biết bệnh có dấu hiệu nặng và nguy hiểm đến tính mạng?(Phạm Thị Ngọc Bích, 31 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Bệnh SXH thường kéo dài từ 7-10 ngày. Bệnh diễn biến tự khỏi, các thuốc sử dụng cho bệnh nhân SXH chủ yếu để điều trị triệu chứng như hạ sốt, bù nước và điện giải, chống chảy máu, chống suy tuần hoàn (nếu có).
Các dấu hiệu nặng và nguy hiểm đến tính mạng khi bệnh nhân mệt lả, chân tay lạnh, nổi vân tím trên da, đau bụng, nôn, các biểu hiện xuất huyết nhiều trên da hoặc nội tạng, tinh thần li bì, u ám, mạch nhanh, đi tiểu ít. Trong trường này, phải khẩn trương đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất để được cứu chữa.  
* Nghe nói bệnh sốt xuất huyết có thể gây chết người ? Như vậy bệnh này rất nguy hiểm đúng không? Hiện đã có thuốc đặc trị chưa, thưa BS?(Trần Hòa, 43 tuổi)
ThS.BS Nguyễn Tiến Lâm:  Bệnh sốt xuất huyết có thể dẫn đến tử vong trong những trường hợp bệnh nặng mà không được chẩn đoán và điều trị kịp thời hoặc dùng thuốc không theo hướng dẫn của thầy thuốc. Bệnh này sẽ không nguy hiểm nếu bạn biết cách phòng chống và khi nghi ngờ bị mắc bệnh cần phải thăm khám và theo dõi điều trị tại cơ sở y tế. Bệnh sốt xuất huyết do virus gây ra nên không có thuốc đặc trị tiêu diệt virus. Bệnh chỉ có thể phòng được bằng cách diệt muỗi và tránh muỗi đốt.
* Tôi được biết bệnh sốt xuất huyết do muỗi gây ra. Vậy xin hỏi có phải tất cả các loại muỗi đều là nguyên nhân gây ra bệnh sốt xuất huyết ở người?(Nguyen Huy Hoang, 30 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Đúng là bệnh sốt xuất huyết là do muỗi truyền virus gây bệnh đó từ người đang mắc bệnh sang người khỏe mạnh khi nó hút máu và chỉ có 2 loại muỗi Ae.aegypti và Ae.albopictus gây ra. Tuy nhiên, không phải tất cả các loại muỗi đều gây ra bệnh sốt xuất huyết. Các loại muỗi khác có thể làm lây truyền các bệnh như: Viêm não Nhật Bản, sốt rét, bệnh giun chỉ...
* Cần phải làm gì để không mắc bệnh? Nhà tôi ở thành phố, có nằm màn chống muỗi mà sao vẫn bị sốt xuất huyết?(Bích Thu, 31 tuổi)
GS.TS Đặng Đức Phú: Bạn thân mến, màn không thể giải quyết được tất cả vấn đề. Vì muỗi truyền virus gây bệnh này thường hay sống ở đô thị, sống gần người, trong nhà hoặc ngay cạnh nhà. Nó hoạt động mạnh vào sáng sớm và buổi chiều tối. Để giải quyết, phải chống đươc loại muỗi này. Muỗi này thường sống ở nước sạch, ở những thùng chứa nước bể chứa nước, các hốc, hõm có nước mưa đọng lai. Chính vì vậy, vấn đề nâng cấp hệ thống cấp nước để người dân không bị thiếu nước sinh hoạt là vấn đề rất quan trọng. Các bể chứa nước phải được đậy kín và thau rửa thường xuyên. Đối với những vật dụng có thể chứa nước thì phải úp xuống để nước không đọng lại được. Năm 2007, thời tiết khô hạn, thiếu nước dung cho sinh hoạt, người dân phải trữ nước, điều này là một trong những nguyên nhân làm cho dịch sốt xuất huyết trở nên phức tạp.
* Cháu muốn hỏi có thuốc tiêm phòng sốt xuất huyết chưa? Nếu có rồi thì đi tiêm ở đâu ạ?(Hoa Hoa, 16 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Hiện chưa có vaccine tiêm phòng SXH. Các nhà khoa học đang nghiên cứu để sản xuất vaccine phòng căn bệnh này. Để phòng tránh SXH, bạn cần diệt muỗi, chống muỗi đốt, và loại bỏ những nơi sinh sản của muỗi làm lây truyền bệnh như: bể vại chứa nước, lọ hoa, vỏ chai lọ vỡ có nước đọng, rãnh nước quanh nhà...
* Xin cho tôi hỏi mỗi năm ở nước ta có bao nhiêu trường hợp bị SXH và có khoảng bao nhiêu trường hợp tử vong vì bệnh này?(Hà Quang, 36 tuổi)
GS.TS Đặng Đức Phú: Theo thống kê cộng sơ bộ, mỗi năm, số người mắc sốt xuất huyết ở nước ta tới giờ phút này khoảng hơn 50.000 người, số tử vong là 49 người. Trong đó, 80% số người mắc bệnh ở phía Nam.
* "Sốc" trong bệnh SXH là như thế nào? Tại sao bệnh nhân lại sốc? Xin BS giải thích?(Quốc Quân, 41 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Sốc trong bệnh sốt xuất huyết là tình trạng người bệnh bị suy tuần hoàn do mất máu nhiều, hoặc do tình trạng bị thoát dịch cô đặc máu. Khi bị sốc người bệnh có biểu hiện: Mệt lả, da lạnh ẩm, nổi vân tím, mạch không bắt được, huyết áp thấp có thể không đo được. Ý thức u ám, li bì hoặc vật vả kèm theo đau bụng, nôn, đi tiểu ít.
* Cháu có những vết bầm dưới da nhưng không sốt cao, vậy có phải bị bệnh sốt xuất huyết không ạ?(Nhân Thành, 15 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Khi có biểu hiện vết bầm dưới da có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nếu kèm theo các triệu chứng như sốt cao, đau đầu, đau người, sống trong vùng có nhiều người bị SXH thì có khả năng bạn đã bị SXH. Trong trường hợp của bạn, triệu chứng không rõ nên cần đi đến bác sĩ để xác định.
* Bệnh nhân sốt xuất huyết vì sao lại dẫn đến tử vong? Thông tin bệnh SXH có thể bị chết thật là đáng lo ngại thưa các bác sĩ. Vậy xin hỏi chúng ta đã có biện pháp nào để giảm tử vong vì bệnh này chưa?(Lâm Viết Hải, 65 tuổi)

Tuy nhiên tỷ lệ tử vong ở bệnh sốt xuất huyết không cao nếu người bệnh được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời.
Khi có các biểu hiện sớm của sốt xuất huyết như sốt cao đột ngột, đau đầu dữ dội, đau mỏi toàn than, đau mỏi cơ khớp, sống ở trong vùng có người bệnh được chẩn đoán là sốt xuất huyết cần đi khám, điều trị và theo dõi tại cơ sở y tế. Ngoài ra, các biện pháp dự phòng mắc bệnh sốt xuất huyết (diệt muỗi, nằm màn chống bị muỗi đốt, bôi kem chống muỗi, hương diệt muỗi) sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ chết do bệnh.
* Khi gia đình tôi có người bị SXH thì có phải cách ly hoàn toàn với những người khác không?(Hoang Phuong, 32 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Bệnh sốt xuất huyết không lây trực tiếp từ người sang người. Bệnh chỉ lây từ người bệnh sang người khỏe thông qua muỗi. Vì vậy, khi trong nhà có người bị sốt xuất huyết thì không cần cách ly mà phải thực hiện các biện pháp tránh bị muỗi đốt (như phải nằm màn, bôi kem chống muỗi hoặc dùng hương diệt muỗi...).
* Ngành Y tế có can thiệp gì để giảm sốt xuất huyết không thưa giáo sư Phú, tại sao năm nào chúng ta cũng bị dịch bệnh này hoành hành như vậy?(Nhân Thành, 40 tuổi)
GS. TS Đặng Đức Phú: Sốt xuất huyết đã xuất hiện ở Việt Nam vào đầu những năm 80. Đây là một căn bệnh khẩn cấp, mang ý nghĩa xã hội lớn. Gần 30 năm trước, ở ta hiểu biết về căn bệnh này chưa nhiều, thuốc chữa trị đặc hiệu cũng chưa có. Phương tiên để chẩn đoán cũng chưa có. Lúc đó, ngành Y tế đã tập hợp rất nhiều nhà khoa học, các y bác sĩ hàng đầu trong nước như GS Hoàng Thuỷ Nguyên, GS Đặng Đức Trạch, những nhà lâm sàng như GS Đào đình Đức, GS Vũ Văn Ngũ… đồng thời cũng tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu căn bệnh này ở các luận án tiến sĩ như GS Lưu Minh Châu, GS Trương Nguyên Ninh, TS Trần Đắc Phu, GS Vũ Sinh Nam, TS Lê Thị Quỳnh Mai… phía Nam có GS Quang Hà, nhờ đó chúng ta đã mô tả cũng như định hình được chính xác căn bệnh sốt xuất huyết, đưa ra những công cụ chẩn đoán nhanh, chính xác; phân loại cấp độ bệnh và các phác đồ điều trị, các biện pháp dự phòng hữu hiệu nhờ thế chúng ta đã có thể khống chế ở một mức độ nào đó căn bệnh này và làm yên tâm dư luận xã hội. Để phối hợp giải quyết vấn đề bệnh sốt xuất huyết, Nhà nước đã thành lập một chương trình mục tiêu để theo dõi, quản lý và ứng phó kịp thời hàng năm.
Tuy nhiên, sự hiểu biết của các nhà y sinh học để đi đến giải quyết dứt điểm căn bệnh này vẫn chưa đạt được. Bên cạnh đó còn nhiều nguyên nhân nữa như vệ sinh môi trường chưa tốt, chưa thể khống chế được loại muỗi truyền bệnh. Trong khi đó, trên thế giới, mới chỉ có một loại vaccine đang dự tuyển thử nghiệm để gây miễn dịch chủ động đối với căn bệnh này. Chính vì những lý do trên, mà người mắc bệnh vẫn còn nhiều, vấn đề phát hiện và chữa trị cũng chưa kịp thời. Ngay trong chương trình này nhiều độc giả quan tâm đến hiện tượng sốc, chứng tỏ việc chữa trị cũng chưa thật sự hiệu quả… Tổng hợp các yếu tố đó làm cho ngành y tế nằm nào cũng phải lo đối phó với dịch sốt xuất huyết. Cũng phải nói thêm rằng, với số bệnh nhân bị mắc hiện tại khoảng 50.000 người thì vẫn chỉ ở mức thông thường. Nhiều năm trước đây số người mắc vào những vụ dịch có thể gấp 10 lần con số của năm nay.
* Bị sốt cao 2 ngày đã phải là sốt xuất huyết chưa, thưa bác sĩ?(Hà Trọng Phan, 32 tuổi)
Th.S, Bác sĩ Nguyễn Tiến Lâm: Sốt hai ngày thì có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau như: viêm đường hô hấp, do các loại virus khác. Nếu sốt hai ngày kèm theo các triệu chứng mà chúng tôi đã trả lời ở các câu hỏi trên thì có thể nghi ngờ bị SXH. Bạn nên đi khám để xác định rõ nguyên nhân.
* Làm thế nào để tránh lây bệnh SXH từ người đã bị mắc bệnh, thưa bác sĩ?(H. Ngọc Nguyên, 45 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Bệnh SXH không lây trực tiếp từ người sang người mà qua vật trung gian truyền bệnh là muỗi. Vì vậy, để tránh lây bệnh SXH từ người bệnh sang người khoẻ, cần thực hiện các biện pháp phòng, tránh muỗi đốt cho cả người bệnh và người khoẻ. Đồng thời phải thực hiện các biện pháp vệ sinh môi trường, phun thuốc diệt muỗi.
* Nhà tôi đã phun thuốc chống muỗi vậy sao vẫn có người bị sốt xuất huyết?Phải chăng không hoàn toàn do muỗi gây ra mà có nguyên nhân khác?(Hoàng, 47 tuổi)
GS.TS Đặng Đức Phú: Thứ nhất, hiệu lực của mỗi lần phun thuốc không phải là kéo dài mãi. Chính vì thế, Bộ Y tế cũng đã đưa ra chỉ định có thể phải phun đại trà lần thứ 2, sau lần thứ nhất 7-10 ngày.

Thứ hai, vào thời gian có dịch vẫn còn có người mắc bệnh tức là vẫn có khả muỗi đốt từ người có bệnh sang người khỏe mạnh. Ngoài ra, còn có lý do khác như: Có người năm nay mắc nhưng năm sau cũng lại mắc tiếp vì nhiễm virus khác so với năm trước. Cũng cần phải lưu ý rằng, những bệnh có một vector làm lây truyền từ người này sang người nọ bao giờ cũng khó phòng chống hơn những người khác.
* Sốt siêu virus và sốt xuất huyết có triệu chứng gần như nhau. Khi con tôi bị sốt cao, bác sĩ yêu cầu xét nghiệm máu để kiểm tra xem có bị sốt xuất huyết hay không. Tôi muốn hỏi tại sao kiểm tra máu?(Thu Hằng, 27 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Bệnh SXH do virus gây ra nên có triệu chứng gần giống như các sốt do virus khác. Tuy nhiên, chỉ có bệnh SXH mới gây giảm tiểu cầu (là một loại tế bào trong máu có tác dụng cầm máu). Vì vậy, phải xét nghiệm máu để phân biệt giữa SXH với các sốt do virus khác.
* Nguoi da bi SXH mot lan roi thi co mien dich cho nhung lan sa khong?(Hai Minh, 35 tuổi)
ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Khi bị SXH, cơ thể người bệnh sinh ra kháng thể chống lại virus SXH. Tuy nhiên, kháng thể này không có tác dụng bảo vệ suốt đời. Vì vậy, vẫn phải thực hiện các biện pháp dự phòng mắc bệnh ngay cả khi đã bị bệnh.
* Lam sao toi co the phat hien la minh bi sot xuat huyet ngay khi bi sot?(Hai Dang, 24 tuổi)
Th.S, Bác sĩ Nguyễn Tiến Lâm: Ngay khi bị sốt, chỉ có thể nghi ngờ là mình có khả năng bị SXH nếu có các biểu hiện sốt cao đột ngột, đau đầu rất nhiều, đau mỏi người mà không thể khẳng định chắc chắn, vì ngay cả xét nghiệm máu trong giai đoạn này cũng không thể xác định được.

**Cùng bạn đọc VOVNews

GS.TS Đặng Đức Phú: Những câu hỏi về điều trị, dự phòng mà độc giả gửi tới chỉ liên quan đến tây y. Nhưng từ xưa đến giờ, để bảo vệ chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, thì đông y cũng đóng vai trò quan trọng, nhiều khi là duy nhất trong quá khứ. Chính vì vậy cho nên thực hiện đường lối đông tây y kết hợp trong phòng bệnh và chữa bệnh thì ngành y học cổ truyền cũng đã vào cuộc để phục vụ cho công tác phòng, chống bệnh sốt xuất huyết. Chúng ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong việc chữa trị sốt xuất huyết thể nhẹ đô 1, 2. Với nguyên tắc là thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, giải độc, nâng cao thể trạng kết hợp với nghỉ ngơi, ăn nhẹ dễ tiêu. Những điều này đã nằm trong phác đồ điều trị sốt xuất huyết nằm trong công văn chỉ thị về việc tăng cường sử dụng thuốc cổ truyền phòng chống sốt xuất huyết của Bộ trưởng Bộ Y tế. Mong rằng sẽ có một dịp các độc giả sẽ được tiếp xúc qua mạng của VOVNews với những bậc thầy trong lĩnh vực y học cổ truyền!.

Ths. BS Nguyễn Tiến Lâm: Tôi thấy đây là cuộc giao lưu rất bổ ích. Thông qua buổi giao lưu này chúng ta đã trao đổi được với độc giả những thông tin cơ bản về cách phòng chống bệnh sốt xuất huyết.
Hy vọng rằng, qua buổi giao lưu này các bạn sẽ hiểu rõ thêm về bệnh sốt xuất huyết biết phát hiện sớm điệu trị đúng để giảm được các biến chứng nặng của bệnh góp phần bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người xung quanh. Đồng thời, hiểu rõ hơn về sự lây truyền của bệnh để thực hiện các biện pháp phòng bệnh tránh sự lan tràn của bệnh trong cộng đồng.
Tôi mong muốn sẽ có nhiều buổi giao lưu như thế này để trao đổi về các vấn đề thường thức trong bảo vệ sức khỏe. Nếu các bạn tiếp tục có câu hỏi, xin liên hệ qua VOVNews hoặc trực tiếp với Bác sĩ Nguyễn Tiến Lâm, Phó Trưởng khoa virus ký sinh trùng (Viện các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới quốc gia).

VOVNews trân trọng cảm ơn GS.TS Đặng Đức Phú và Ths.BS Nguyễn Tiến Lâm đã tham gia chương trình./.

ThS. BS Nguyễn Tiến Lâm: Bệnh sốt huyết có thể gây tử vong do bị sốc nặng vì chảy máu ồ ạt  (do rối loạn đông máu hoặc dùng thuốc Aspirin)  hoặc do thoát huyết tương nhiều.

Nguồn: VOV news
Mới đây, các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu ung thư - Trường đại học London - Anh và nhóm các đồng nghiệp Nhật Bản vừa chứng minh rằng ở những phụ nữ mắc bệnh ung thư mang thai, thai nhi trong bụng có nhiều nguy cơ bị nhiễm bệnh ung thư từ mẹ thông qua nhau thai.

Bằng cách phân tích DNA của một phụ nữ bị chết vì bệnh máu trắng và con gái mới sinh của bệnh nhân, các nhà khoa học nhận thấy rằng tế bào ung thư ở cả hai mẹ con đều chia sẻ chung một loại gen đột biến là BCR - ABL1. Tuy nhiên, đứa bé có tế bào ung thư này không phải là do di truyền gen từ mẹ. Phân tích mẫu máu sau đó đã chỉ ra rằng: ung thư đã lan truyền từ người mẹ sang bé gái ngay từ khi cô bé còn ở trong bụng mẹ. Các nhà khoa học cũng cho biết: thông thường, khi các tế bào lạ được truyền qua nhau thai vào thai nhi thì hệ miễn dịch sẽ phát hiện và tiêu diệt, điều này lý giải cho việc hiếm xảy ra hiện tượng truyền bệnh ung thư từ mẹ sang con. Tuy nhiên, trong trường hợp của một số bệnh nhân, một số tế bào bị lỗi gen, chẳng hạn như lỗi gen kiểm soát chức năng miễn dịch, thì tế bào ung thư vẫn có thể truyền qua và dẫn tới hiện tượng truyền bệnh ung thư từ mẹ sang con nêu trên.

                       Hoài Anh (Theo Science daily)  
Nguồn: Suckhoedoisong.vn

Ung Thư Vú

2010/01/07    17:22    {entryviewsnum}    Ung thư » Ung thư vú Ko chỉ định
I. Đại cương:
         Ung thư vú là loại Ung thư gây tử vong nhiều nhất ở phụ nữ. Hội ung thư Mỹ ước tính Ung thư vú chiếm 32% toàn bộ Ung thư mới và 18% số tử vong do Ung thư ở phụ nữ. Tỉ lệ bị Ung thư vú hàng năm ở Hoa kỳ tăng lên rất mạnh theo tuổi (5/100 000 ở tuổi 25 tăng lên 150/100 000 ở tuổi 50 và hơn 200/100 000 ở tuổi 75).
Tại Việt nam hiện vẫn chưa có số liệu thống kê đầy đủ, nhưng Ung thư vú đang  trở thành loại Ung thư đứng hàng đầu trong các loại Ung thư ở phụ nữ.
II. Nguyên nhân, bệnh sinh:
1. Nguyên nhân:
+ Đột biến Gen:
         Thường thấy đột biến ở Gen BRCA1 và Gen  p53 nằm trên Nhiễm sắc thể 17, Gen BRCA2 nằm trên Nhiễm sắc thể 13. Yếu tố gây đột biến Gen có thể là các Tia phóng xạ hay Virut.
+ Di truyền:
         Khoảng 18% Ung thư vú có yếu tố di truyền nhưng chỉ khoảng 5% là thực sự có yếu tố gia đình. Trong những gia đình này, nguy cơ bị Ung thư vú cả đời ở nữ  ít nhất là 50%.
+ Chế độ ăn và Hocmon:
         - Chế độ ăn nhiều mỡ và đường có tỉ lệ bị Ung thư vú cao hơn chế độ ăn ít đường và mỡ, đặc biệt là đối với lứa tuổi trẻ.
- Một số loại Hocmon như : Prolactin, Estrogen, Progestin (thường có trong các thuốc chống thai) khi dùng lâu dài có thể làm tăng nguy cơ Ung thư vú ở những phụ nữ trẻ.
2. Các yếu tố nguy cơ của Ung thư vú :
+ Các yếu tố có nguy cơ cao (làm tăng khả năng bị bệnh hơn 3 lần):
Tuổi trên 40; Đã bị Ung thư trước đây ở một bên vú; Ung thư vú gia đình; Tăng sản tuyến vú không điển hình; Không có con; Có thai lần đầu muộn (sau tuổi 31); Hội chứng Klinefelter; Bệnh phì đại tuyến vú ở nam giới; Tiền sử gia đình đã có nam giới bị Ung thư vú.
+ Các yếu tố nguy cơ trung bình (tăng khả năng bị bệnh 1,2-1,5 lần):
Bắt đầu có kinh nguyệt sớm; Mất kinh muộn; Uống nhiều Estrogens; Có tiền sử bị Ung thư buồng trứng, đáy tử cung hoặc đại tràng; Đái tháo đường; Dùng nhiều chất uống có cồn.
III. Mô bệnh học:
1. Phân loại mô bệnh học Ung thư vú theo tổ chức y tế thế giới:
a) Ung thư biểu mô tuyến tuyến vú:
         + Ung thư biểu mô tuyến không xâm nhập:
                  - Cacxinom nội ống tuyến ( intraductal carcinoma).
                  - Cacxinom thuỳ tuyến in situ (Lobular Carinoma in situ).
         + Ung thư biểu mô tuyến xâm nhập:
                  - Cacxinom ống tuyến xâm nhập (invasive ductal Carinoma).
                  - Cacxinom ống tuyến xâm nhập  chủ yếu thành phần nội ống.
                  - Cacxinom thuỳ tuyến xâm nhập (invasive lobular carcinoma).
                  - Cacxinom thể nhầy (mucinous carcinoma).
                  - Cacxinom thể tuỷ (medullary carcinoma).
                  - Cacxinom thể nhú (papillary carcinoma).
                  - Cacxinom thể trụ (tubular carcinoma).
                  - Cacxinom thể nang dạng tuyến (adenoid cystic carcinoma).
                  - Cacxinom  thể bài tiết tuổi thiếu niên (secretory (juvenile) carcinoma).
                  - Cacxinom thể tiết rụng đầu (Apocrine carcinoma).
                  - Cacxinom có tình trạng dị sản (carcinoma with metaplasia)
                            * Cacxinom dạng tế bào vẩy (squamous)
                            * Cacxinom dạng tế bào hình thoi (spindle)
                            * Cacxinom dạng tế bào xương và sụn.
                            * Cacxinom dạng các tế bào hỗn hợp.
                  - Các loại Ung thư biểu mô tuyến xâm nhập khác.
         + Bệnh Paget ở núm vú.
b) Ung thư hỗn hợp tổ chức biểu mô và tổ chức liên kết tuyến vú:
         + Ung thư  dạng tế bào lá (Cystosarcoma phylloides)
+ Caxinosacom tuyến vú (carcinosarcoma).
c) Các loại Ung thư khác (không phải của biểu mô tuyến vú):
         + Angiosarcoma
         + Các loại Sacom khác của tổ chức mỡ, xơ, thần kinh...
2. Đặc điểm giải phẫu bệnh lý một số Ung thư tuyến vú:
+ Cacxinom ống tuyến:
Chiếm khoảng 78% số Ung thư vú. Thường chỉ bị một vú. Có thể gặp Cacxinom ống tuyến xâm nhập hoặc Cacxinom ống tuyến không xâm nhập.
+ Cacxinom thuỳ tuyến:
Chiếm khoảng 9% số Ung thư vú. Thường bị ở cả hai vú. Thường được phát hiện thấy ở mức in situ (có người coi loại này là tiền Ung thư).
+ Cacxinom thể tuỷ:
Chiếm khoảng 4% số Ung thư vú . Gồm các tế bào không biệt hoá và xâm nhiễm Lympho rất mạnh.
         + Các thể đặc biệt có tiên lượng tốt:
Chiếm khoảng 10% số Ung thư vú. Gồm các Cacxinom thể Nhú đơn thuần, Cacxinom thể trụ, Cacxinom thể nhầy...
+ Bệnh vú Paget:
Biểu hiện dưới dạng tổn thương Eczema của đầu núm vú một bên, thường đi kèm với Cacxinom ống tuyến ở phụ nữ.
IV. Triệu chứng lâm sàng :
         Triệu chứng lâm sàng của Ung thư tuyến vú rất đa dạng, khi có các triệu chứng điển hình thì thường đã ở giai đoạn muộn của bệnh.
1. Các triệu chứng tại tuyến vú :
a) Khối to lên ở vú :
         Là triệu chứng có ở 90% số bệnh nhân Ung thư vú. Có thể xác định được các tính chất sau :
         + Vị trí : thường bị ở một vú nhưng có khi bị cả hai vú.
+ Các biến đổi ở da vùng có khối U:
- Dấu hiệu da trên khối U bị lõm xuống vì dính vào khối U: nhìn rõ khi cho bệnh nhân dang thẳng cánh tay bên có U ra và nhìn dưới ánh sáng tốt.
- Dấu hiệu da kiểu “vỏ cam”: nhìn rõ một mảng da bị phù nề, đổi màu đỏ xẫm và có những điểm bị lõm sâu xuống ở chỗ chân lông.
- Những trường hợp đến muộn có thể thấy da trên khối U đã bị loét ra, chảy máu, bội nhiễm...
         + Mật độ : thường chắc hoặc cứng.
+ Bề mặt : thường lồi lõm không đều.
+ Ranh giới : thường không rõ ràng vì tình trạng xâm nhiễm của U vào các tổ chức xung quanh.
+ Kích thước : to nhỏ tuỳ từng trường hợp.
+ Di động kém : do dính nhiều vào tổ chức xung quanh, nhất là da và cơ ngực lớn.
+ Thường không đau.
+ Cần chú ý là có loại Cacxinom tuyến vú biểu hiện giống như một viêm tuyến vú: da trên tuyến vú phù nề, đỏ, nhiễm cứng, đau...
b) Những biến đổi ở núm vú:
+ Chảy dịch đầu núm vú :
Chảy dịch đầu núm vú tự phát có thể gặp ở khoảng 20% số phụ nữ Ung thư vú. Trong các trường hợp này dịch núm vú có thể là : dịch nước trong, máu, dịch  thanh tơ lẫn máu, dịch thanh tơ...
+ Đầu núm vú co vẹo hoặc tụt sâu vào trong: do khối U xâm nhiễm và kéo rút các ống tuyến sữa về phía U.
+ Trong thể bệnh Cacxinom Paget: vùng núm vú thường có biểu hiện như một tổn thương Eczema của núm vú.
2. Hạch nách:
Hạch nách cùng bên to ra chứng tỏ đã có di căn Ung thư tới phạm vi khu vực. Cần xác định các tính chất của hạch nách về: số lượng, độ lớn, mật độ, tình trạng dính của hạch vào nhau và vào tổ chức xung quanh...
Chú ý khám cả hạch nách bên đối diện để xác định di căn xa.
V. Triệu chứng cận lâm sàng:
1. Sinh thiết chẩn đoán:
a) Với các khối U có thể sờ thấy rõ ràng:
+ Sinh thiết hút tế bào bằng kim nhỏ (Fine-needle aspiration biopsy):
         Là một xét nghiệm có thể thực hiện nhanh chóng và an toàn, có độ nhậy đạt tới 90-98% (phụ thuộc chủ yếu vào kỹ năng và kinh nghiệm của xét nghiệm viên).
         Bệnh phẩm được đưa đi xét nghiệm tế bào học và có thể được dùng để xác định các thụ cảm thể Estrogen và Progesterone bằng kỹ thuật hoá tế bào miễn dịch.
+ Sinh thiết lõi ( Core biopsy ):
         Dùng kim Tru-Cut (Baxter) để lấy ra một phần tổ chức khối U. Bệnh phẩm đưa đi xét nghiệm mô bệnh học và xác định các thụ cảm thể Estrogen và Progesterone.
+ Mổ sinh thiết một phần khối U (Incisional biopsy):
         Thường rạch da theo đường Langer (đường rạch cong, đi sát và song song với quầng núm vú). Bóc tách và cắt lấy một phần khối U đưa đi làm xét nghiệm.
Chỉ định khi muốn đánh giá một khối U vú lớn nghi ngờ là ác tính mà sinh thiết hút kim nhỏ hoặc sinh thiết lõi không xác định được chẩn đoán
+ Mổ cắt khối U sinh thiết (Excisional biopsy):
         Mổ bóc tách lấy khối U để đưa đi xét nghiệm.
b) Với các U không sờ thấy được rõ ràng:
+ Sinh thiết có định vị bằng kim (Needle localized biopsy):
         Dưới hướng dẫn của chụp vú, chọc kim kèm dụng cụ có dây móc đặc biệt vào tuyến vú nơi tiếp giáp với chỗ bệnh lý để định vị chỗ cần sinh thiết. Sau đó tiến hành mổ sinh thiết khối bệnh lý đúng chỗ đã được định vị.
+ Sinh thiết lõi bằng kim có định vị ba chiều (Stereotactic core needle biopsy):
         Sử dụng bộ định vị ba chiều bằng máy tính điện tử để định vị tổn thương, tiếp đó dùng dụng cụ bắn tự động xuyên một lúc nhiều kim sinh thiết lõi vào vùng tổn thương để lấy bệnh phẩm.
2. Chụp vú (Mammography):
Có thể phát hiện được 85% Ung thư vú, kể cả các U chưa sờ thấy trên lâm sàng. Những dấu hiệu có thể gặp trên phim chụp vú trong Ung thư vú là:
+ Các vết lắng đọng Canxi.
+ Hình các ống tuyến vú bị xoắn vặn hoặc không cân đối.
+ Da vùng tuyến vú và núm vú dày lên
+ Hình khối đặc tuyến vú.
3. Chụp siêu âm tuyến vú:
         Có thể dùng phối hợp với Chụp vú để chẩn đoán phân biệt U vú là một khối U đặc hay U nang.
4. Chụp CT tuyến vú:
         Thường để theo dõi tình trạng các hạch vú trong, lồng ngực và vùng nách sau khi mổ cắt tuyến vú.
5. Chụp MRI tuyến vú:
         Có thể dùng khi các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác không cho kết quả rõ nét.
6. Chụp nhiệt tuyến vú:
         Dựa trên sự phân bố nhiệt khác nhau của tổ chức vú bình thường và Ung thư để ghi lại hình ảnh nhiệt của Ung thư vú. Hiện nay ít dùng do hiệu quả chẩn đoán không cao.
VI. Các thể lâm sàng:
         Do biểu hiện lâm sàng của Ung thư vú rất đa dạng nên các thể lâm sàng của Ung thư vú cũng rất phức tạp.
1. Ung thư vú dạng U đặc đơn độc:
         Đây là loại hay gặp. Triệu chứng thường tương đối điển hình.
2. Ung thư vú dạng U nang:
         Khối U có thể dưới dạng một nang đơn độc, ranh giới rõ. Chọc hút nang có thể thấy dịch lẫn máu.
3. Ung thư vú dạng viêm:
         Biểu hiện giống như một viêm cấp ở tuyến vú: sưng nề, đỏ… tiến triển nhanh.
4. Ung thư vú dạng não:
         U phát triển nhanh gây hoại tử tổ chức tuyến vú giống như chất não.
5. Ung thư vú dạng xơ cứng:
         Tuyến vú ung thư phát triển tổ chức xơ hoá rất mạnh, teo quắt lại, dính chặt vào da và thành ngực. Có khi tạo thành một mảng nhiễm cứng rộng bó chặt lấy lồng ngực.
6. Ung thư vú ở Nam giới:
Chiếm khoảng 0,5-1% số Ung thư vú nói chung, thường ở người già.
7. Ung thư vú ở phụ nữ có thai:
Khoảng 2% số bệnh nhân Ung thư vú được chẩn đoán ra khi bệnh nhân đang mang thai
VII. Phân chia giai đoạn Ung thư vú theo hệ thống TNM:
         Phân chia giai đoạn Ung thư vú theo hệ thống TNM của Hiệp hội quốc tế chống Ung thư (International Union Against Cancer: UICC) năm 1992 như sau:
1. Hệ thống phân chia TNM trên lâm sàng:
         + Khối U nguyên phát ( T ):
                  - Tx    Không thể xác định được khối U
                  - T0    Không có khối U
                  - Tis   Cacxinom in situ (cacxinom nội ống tuyến, cacxinom thuỳ
tuyến in situ, bệnh Paget ở núm vú không có U)
                  - T1    U có đường kính lớn nhất  <  2 cm
                        * T1a    U có đường kính lớn nhất < 0,5 cm
                        * T1b    U có đường kính lớn nhất > 0,5 cm và < 1 cm
                        * T1c    U có đường kính lớn nhất > 1 cm và < 2 cm
                  - T2    U có đường kính lớn nhất > 2 cm và < 5 cm
                  - T3    U có đường kính lớn nhất > 5 cm
                  - T4    U có đường kính bất kỳ nhưng đã xâm nhiễm vào thành
ngực hoặc da
                        * T4a    U đã xâm nhiễm vào thành ngực
                        * T4b    U xâm nhiễm da gây phù nề da (có dấu hiệu da kiểu
“vỏ cam“), loét da hoặc có các khối cục nhỏ ở da
gắn chặt với tuyến vú.
                         * T4c   U có cả T4a và T4b
                         * T4d   Cacxinom tuyến vú thể viêm
         + Hạch bạch huyết khu vực ( N ):
                  - Nx    Không thể xác định được hạch khu vực
                  - N0   Không có di căn hạch khu vực
                  - N1   Đã di căn hạch nách cùng bên và hạch còn di động
                         * N1a    Chỉ di căn vi thể (hạch < 0,2 cm)
                         * N1b    Hạch nách di căn có kích thước > 0,2 cm
                              . N1bi      Có 1-3 hạch di căn, các hạch có đường kính lớn
                                             nhất > 0,2 cm và < 2 cm
                              . N1bii     Có > 4 hạch di căn, các hạch có đường kính
       lớn nhất > 0,2 cm và < 2 cm
                              . N1biii    Hạch di căn có đường kính < 2 cm nhưng
       tổn thương đã vượt ra khỏi bao của hạch.
                              . N1biv     Hạch di căn có đường kính lớn nhất > 2 cm
                  - N2   Đã di căn hạch nách cùng bên, các hạch này đã dính vào nhau
và vào các tổ chức xung quanh.
                  - N3   Đã di căn vào các hạch vú trong cùng bên
         + Di căn xa ( M ):
                  - Mx   Không thể xác định được có di căn xa
                  - M0   Không có di căn xa
                  - M1   Đã có di căn xa (kể cả di căn hạch trên đòn cùng bên)
2. Phân chia giai đoạn Ung thư vú theo hệ thống TNM:
         + Giai đoạn 0                   Tis               N0               M0
         + Giai đoạn I                   T1               N0               M0
         + Giai đoạn IIA                T0               N1               M0
                                               T1               N1               M0
                                               T2               N0               M0
         + Giai đoạn IIB                T2               N1               M0
                                               T3               N0               M0
         + Giai đoạn IIIA               T0               N2               M0
                                               T1               N2               M0
                                               T2               N2               M0
                                               T3               N1               M0
                                               T3               N2               M0
         + Giai đoạn IIIB               T4               Mọi N M0
                                               Mọi T           N3               M0
         + Giai đoạn IV                 Mọi T           Mọi N M1
VIII. Chẩn đoán phân biệt:
1. Các bệnh lý dưới dạng một khối to lên ở vú:
+ Khối cục tổ chức biểu mô tuyến vú do nội tiết (Lump)
+ Các U lành tính của tổ chức biểu mô hoặc tổ chức liên kết của tuyến vú: U nhú nội ống tuyến, U tuyến của núm vú, U tuyến thể trụ, U tuyến tiết sữa, U xơ tuyến, U tổ chức phần mềm tuyến vú, U tổ chức da tuyến vú, U mạch máu, U bạch mạch…
+ Các bệnh vú xơ nang và loạn sản.
+ Các tổn thương dạng u ở tuyến vú: giãn ống tuyến sữa, khối viêm giả u tuyến vú, hoại tử mỡ sau chấn thương, viêm hạch bạch huyết, phì đại tuyến vú Nam giới…
2. Các bệnh lý có chảy dịch núm vú:
+ U nhú nội ống tuyến
+ U nang tuyến sữa; Giãn ống tuyến sữa…
3. Các bệnh lý có biến đổi da và núm vú:
+ Viêm tuyến vú; Apxe tuyến vú…
+ Bệnh Mondor: viêm nghẽn tĩnh mạch nông vùng tuyến vú
IX. Dự phòng và phát hiện sớm:
1. Tự kiểm tra tuyến vú:
+ Hàng tháng đối với tất cả phụ nữ trên 20 tuổi.
+ Những phụ nữ tiền mãn kinh nên thực hiện kiểm tra 5 ngày sau ngày kết thúc của một chu kỳ kinh.
+ Những phụ nữ sau mãn kinh nên tự kiểm tra mình cũng vào những ngày như vậy mỗi tháng.
2. Đến khám lâm sàng tại cơ sở có bác sĩ:
+ Ba năm một lần cho các phụ nữ lứa tuổi 20-40.
+ Mỗi năm một lần cho các phụ nữ trên 40 tuổi.
3. Chụp vú:
+ Các phụ nữ 35-39 tuổi cần phải được chụp vú kiểm tra để làm số liệu cơ sở theo dõi sau này.
+ Các phụ nữ 40-49 tuổi cần được chụp vú 1-2 năm một lần.
+ Các phụ nữ trên 50 tuổi cần được chụp vú mỗi năm một lần.
4 Cắt tuyến vú dự phòng:
Có thể chỉ định cho các trường hợp sau :
+ Các bệnh nhân có bệnh vú lành tính và có tiền sử gia đình bị Ung thư vú hai bên tuổi tiền mãn kinh.
+ Bệnh nhân đã có tiền sử bị Ung thư vú và hiện nay đang có bệnh xơ nang trong tuyến vú còn lại.
+ Các bệnh nhân bị Caxinom thể thuỳ in situ.
X. Điều trị:
1. Ung thư vú giai đoạn I và II (giai đoạn bệnh còn khư trú tại chỗ):
Trong giai đoạn này, biện pháp điều trị quan trọng hàng đầu là phẫu thuật, các biện pháp điều trị khác đóng vai trò bổ xung và củng cố.
a) Các phương pháp phẫu thuật:
+ Cắt tuyến vú triệt để:
- Tiến hành cắt bỏ toàn bộ tuyến vú kèm các cơ ngực lớn và nhỏ, lấy bỏ toàn bộ hạch bạch huyết dọc theo tĩnh mạch nách lên đến dây chằng sườn đòn (dây chằng Halsted). Phẫu thuật này được Halsted đưa ra đầu tiên vào năm 1894 nên thường được gọi là phương pháp Halsted.
- Hiện nay ít dùng vì để lại khuyết hổng lớn ở thành ngực bệnh nhân và kết quả điều trị nói chung không khác các phương pháp cắt tuyến vú triệt để cải biên.
+ Cắt tuyến vú triệt để cải biên:
         - Tiến hành cắt bỏ toàn bộ tuyến vú kèm lấy bỏ hạch nách thành một khối, không cắt bỏ cơ ngực lớn. Các phương pháp hay dùng là:
                  * Phẫu thuật Patey: cắt bỏ toàn bộ tuyến vú, cắt bỏ cả cơ ngực bé để có thể lấy bỏ được các hạch nách ở cao trên đỉnh hố nách.
                  * Phẫu thuật Patey cải biên (Scanlon): cũng làm như phương pháp Patey nhưng không cắt bỏ cơ ngực bé mà chỉ bóc tách nó để có thể lấy bỏ các hạch nách ở cao và bảo tồn được dây thần kinh ngực bên (chi phối cơ ngực lớn).
                  * Phẫu thuật Auchincloss: thực hiện giống phương pháp Patey nhưng không cắt bỏ hay bóc tách cơ ngực bé để cố lấy bỏ các hạch nách ở cao.
- Hiện nay, đây là biện pháp phẫu thuật chuẩn đối với Ung thư vú ở giai đoạn bệnh còn khư trú. Lấy bỏ hạch nách vừa để điều trị vừa để chẩn đoán giai đoạn bệnh.
- Ưu điểm:
*  Là biện pháp đáng tin cậy và hiệu quả nhất để xử lý khối U tại chỗ và giải quyết triệt để nguy cơ phát triển các khối U nguyên phát mới.
* Nếu cần điều trị hoá chất bổ xung thì việc thực hiện nó sau điều trị phẫu thuật sẽ dễ hơn nhiều so với sau điều trị Chiếu xạ.
- Nhược điểm:
* Khuyết hổng về mặt thẩm mỹ.
* Có các biến chứng sau mổ: Phù bạch mạch, tổn thương dây thần kinh đám rối cánh tay...
+ Phẫu thuật cắt bỏ rộng tại chỗ kèm Chiếu xạ ngay sau mổ:
- Phẫu thuật cắt bỏ rộng tại chỗ còn gọi là phẫu thuật cắt một phần tuyến vú, phẫu thuật cắt thuỳ tuyến vú, phẫu thuật cắt khối U vú…Nội dung của phẫu thuật này là:
         * Cắt bỏ khối Ung thư cùng một phần tổ chức nhu mô tuyến vú lành xung quanh. Có thể cắt bỏ rộng ra 1-2 cm vào tổ chức lành quanh khối U kèm lấy bỏ cả tổ chức da nằm ngay trên khối U (phẫu thuật cắt một phần tuyến vú: quadrantectomy).
* Rạch một đường riêng để bóc tách lấy bỏ hạch nách.
- Chiếu xạ ngay sau mổ: thường dùng tia Gamma hiệu điện thế rất cao cho toàn bộ tuyến vú (khoảng 4500-5000 cGy bằng chùm tia điện tử hoặc ống phóng xạ Iridium192). Toàn bộ thời gian mổ và chiếu xạ ngay sau mổ là khoảng 6 tuần.
- Ưu điểm của phương pháp:
* Giữ được vẻ ngoài thẩm mỹ.
* Giữ lại được tuyến vú.
- Nhược điểm:
* Tổ chức tuyến vú còn lại có thể bị Ung thư tái phát hoặc phát triển Ung thư vú nguyên phát mới.
* Có các biến chứng do Chiếu xạ kéo dài như: ban đỏ da, loét, viêm xơ tuyến vú, gãy xương sườn, sinh Ung thư muộn, viêm phổi và viêm màng ngoài tim do tia xạ...
b) Điều trị bổ xung sau phẫu thuật:
Hầu hết các Cacxinom xâm nhiễm tuyến vú đều được coi là đã có “di căn vi thể” ở ngay thời điểm khởi đầu của việc điều trị. Do đó việc điều trị “bổ xung” phải được thực hiện ngay sau khi điều trị tại chỗ để có thể tác động tới các di căn vi thể còn lại.
+ Chiếu xạ:
- Sau phẫu thuật cắt bỏ tuyến vú triệt để cải biên thì việc Chiếu xạ bổ xung sau mổ nói chung không cần thiết, trừ các trường hợp có rất nhiều hạch nách di căn.
- Sau các phẫu thuật cắt bỏ rộng tại chỗ (cắt bỏ một phần tuyến vú) thì Chiếu xạ được coi là biện pháp bắt buộc đi kèm ngay sau mổ.
+ Hoá chất:
- Thường dùng các phác đồ phối hợp nhiều loại thuốc để có hiệu quả điều trị tốt hơn. Các phác đồ phối hợp thuốc hay dùng là:
         * CMF: Cyclophosphamide, Methotrexate,  5-fluorouracil
         * FAC: 5-fluorouracil, Adriamycin, Cyclophosphamide
         * CA: Cyclophosphamide, Adriamycin
- Thường dùng hoá chất điều trị bổ xung bắt đầu sau mổ 4 tuần và một đợt kéo dài khoảng 6 tháng.
+ Nội tiết:
- Các thuốc nội tiết thường được dùng là: Tamoxifen citrate (Nolvadex), Megestrol acetate (Megace), Aminoglutethimide (có tác dụng phá huỷ chức năng tuyến thượng thận), Estrogen (diethylstilbestrol),  Androgen (fluoxymesterone)...
- Việc chỉ định dùng thuốc Hocmon cần dựa vào xét nghiệm xác định thụ cảm thể Estrogen và Progestogene của tế bào Ung thư vú. Nói chung nếu các thụ cảm thể này dương tính thì điều trị bằng Hocmon sẽ có hiệu quả cao.
- Ngoài các thuốc Nội tiết nói trên, các biện pháp khác cũng có ý nghĩa điều trị nội tiết là:
         * Cắt bỏ buồng trứng: có hiệu quả điều trị rất tốt đối với những phụ nữ  tuổi trẻ.
         * Cắt bỏ Tuyến thượng thận hay cắt bỏ Tuyến yên.
+ Miễn dịch:
Có thể dùng các biện pháp điều trị miễn dịch như: tiêm chủng BCG, uống Levamisole… nhưng kết quả không rõ ràng.
+ Trong thực tế điều trị các biện pháp điều trị bổ xung nói trên luôn được sử dụng phối hợp với nhau, kết quả thu được cho thấy:
- Kết hợp điều trị Hoá chất và Nội tiết cho hiệu quả cao hơn dùng chúng đơn thuần.
- Điều trị hoá chất bằng các phác đồ kết hợp thuốc có hiệu quả cao hơn nhiều so với điều trị một loại thuốc đơn thuần.
2. Ung thư vú giai đoạn IIIA ( còn có thể phẫu thuật được):
Đường hướng chung là phải điều trị kết hợp:
+ Điều trị Chiếu xạ tại chỗ và khu vực để hạn chế bớt sự phát triển của khối U. Đồng thời dùng hoá chất để điều trị các di căn có thể có ở toàn thân. Sau đó tiến hành phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú kèm bóc tách lấy bỏ hạch nách.
+ Sau mổ tiếp tục điều trị bổ xung bằng Chiếu xạ, Hoá chất, Nội tiết…
3. Ung thư vú giai đoạn IIIB (không còn khả năng phẫu thuật):
Đường hướng điều trị chung là:
+ Điều trị ngay từ đầu bằng hoá chất. Dùng phác đồ kết hợp thuốc CMF, CA hay FAC trong 3 hoặc 4 tháng.
+ Tiếp đó điều trị Chiếu xạ tại chỗ và khu vực, rồi tiến hành mổ cắt bỏ toàn bộ tuyến vú.
+ Cuối cùng lại tiếp tục điều trị toàn thân bằng Hoá chất (phác đồ phối hợp thuốc CMF hoặc FAC), Nội tiết (Tamoxifen...)…
4. Ung thư vú giai đoạn IV (giai đoạn di căn toàn thân):
         Thường điều trị ngay bằng Hoá chất hay Nội tiết .
a) Điều trị Nội tiết:
+ Phải dựa vào xét nghiệm xác định thụ cảm thể  Estrogen (ER) và Progesterone (PgR) trong tiêu bản bệnh phẩm U để chỉ định dùng các thuốc Nội tiết. Khi các thụ cảm thể này dương tính thì điều trị bằng Nội tiết mới có thể có hiệu quả cao.
+ Các thuốc Nội tiết hay dùng là:
- Tamoxifen citrate (Nolvadex), 20 mg/ một ngày: được dùng liên tục cho đến khi bệnh nhân bị tái phát trở lại.
- Megestrol acetate (Megace), 40 mg dùng 4 lần/ngày.
- Aminoglutethimide, 250 mg uống 4 lần/ngày: được dùng cho các bệnh nhân có đáp ứng nhưng sau đó lại kém đáp ứng với điều trị nội tiết. Thuốc tạo nên tình trạng cắt bỏ tuyến thượng thận bằng thuốc. Phải dùng Hydrocortisone để dự phòng rối loạn trục Tyến yên-Thượng thận. Thường dùng Hydrocortisone uống sáng, chiều và tối, mỗi lần uống 10 mg.
- Các thuốc khác:  Estrogen (diethylstilbestrol, 5 mg dùng 3 lần/ngày) hoặc Androgen (fluoxymesterone, 10 mg dùng 4 lần/ngày). Thường dùng cho các bệnh nhân có đáp ứng nhưng sau đó lại không đáp ứng với điều trị bằng Tamoxifen, Megestrol acetate, hay Aminoglutethimide.
+ Cắt bỏ buồng trứng:
- Chỉ định dùng cho các bệnh nhân nữ dưới 50 tuổi, bị Ung thư vú tái phát với thụ cảm thể Estrogen dương tính. Có tác dụng cải thiện rõ rệt thời gian sống thêm và giảm tỉ lệ tái phát trên những bệnh nhân này.
- Có thể cắt bỏ buồng trứng trực tiếp bằng phẫu thuật, bằng chiếu xạ hoặc dùng thuốc (Leuprolide, Zolodex).
+ Mổ cắt bỏ Tuyến thượng thận hay cắt bỏ Tuyến yên: có thể gây ra những vấn đề khó khăn trong theo dõi và điều trị do đó chỉ định áp dụng rất hạn chế.
b) Điều trị Hoá chất:
         + Phác đồ CMF có hiệu quả tốt cho điều trị khởi đầu, nhất là khi kết hợp với Prednisone. Tỉ lệ đáp ứng là khoảng 60% với thời gian điều trị trung bình một năm hoặc hơn.
+ Các phác đồ kết hợp của CA và FAC cũng có hiệu quả rõ rệt.
+ Sau khi bệnh không đáp ứng với các phác đồ kết hợp thuốc nói trên nữa thì phải dùng đến các thuốc khác. Các thuốc có thể dùng cho bệnh nhân ở giai đoạn cuối là Taxol, Fluorouracil, Methotrexate, Vinblastine, Vincristine, Mitomycin C và  Prednisone.
c) Điều trị phẫu thuật :
         Trong giai đoạn này, phẫu thuật không đóng vai trò quan trọng. Trong một số trường hợp do khối Ung thư tại tuyến vú phát triển gây loét da, bội nhiễm... ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của bệnh nhân thì có thể chỉ định mổ để cắt bỏ và dọn sạch tạm thời các tổn thương tại chỗ đó.

Nguồn: Benhhoc.com
I. Đại cương:
         Theo hiệp hội quốc tế chống ung thư (Inernational Union against Cancer: IUAC) thì Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% các loại Ung thư. Tại các nước có bệnh Bướu cổ địa phương tỉ lệ này thường lớn hơn. Tần suất mắc bệnh chuẩn theo tuổi ở Nam là 3/100 000 dân/năm, trong khi ở nữ cao gấp 2-3 lần tỉ lệ đó. Theo số liệu của Bệnh viện K Hà nội,  Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 2% tổng số các Ung thư, trong đó tỉ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 0,3/100 000 dân/năm.
         Phần lớn Ung thư tuyến giáp tiến triển âm thầm, triệu chứng lâm sàng ngèo nàn, giai đoạn ẩn bệnh kéo dài. Bệnh nhân có thể sống 15-20 năm. Vì vậy, có thể nói rằng tiên lượng của đa số bệnh nhân Ung thư tuyến giáp là tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm và tích cực.
II. Nguyên nhân và bệnh sinh:
         Còn nhiều điểm chưa rõ ràng nhưng các yếu tố có liên quan đến xuất hiện bệnh là:
         + Tuổi: có thể gặp Ung thư tuyến giáp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp ở lứa tuổi 7-20 và 40-65.
         + Giới: Nữ giới mắc bệnh nhiều hơn Nam giới 2-3 lần.
         + Nơi sinh sống:
         - Tại những khu vực có bệnh Bướu cổ địa phương thì tỉ lệ mắc bệnh Ung thư tuyến giáp cao hơn các khu vực khác.
         - Bệnh nhân ở gần biển(ăn uống có đủ Iot) khi có Bướu giáp thể nhân thì nguy cơ bướu là ác tính cao hơn các vùng khác.
         - Tại những khu vực bị nhiễm xạ thì tỉ lệ mắc Ung thư tuyến giáp cao hơn các vùng khác.
         + Tiền sử đã có dùng tia xạ điều trị các bệnh lành tính khác ở vùng đầu mặt cổ thì khi có Bướu giáp nhân sẽ có nguy cơ cao bị ác tính.
         + Di truyền: Ung thư tuyến giáp thể tuỷ thường có tính chất gia đình. Đặc biệt, loại đa ung thư nội tiết tip II ( MEN II: Multiple endocrine neoplasia type II) có Ung thư tuyến giáp thể tuỷ kèm U tuỷ thượng thận  và có thể có U ở các tuyến nữa... đã  được xác định là có tính di truyền.
III. Giải phẫu bệnh:
         Theo tổ chức y tế thế giới, dựa vào mô bệnh học có thể phân chia Ung thư tuyến giáp ra 5 loại:
1. Ung thư biểu mô thể nhú:
Chiếm khoảng 60-70% các Ung thư tuyến giáp.
         + Đại thể: u thường là một khối đơn độc.
         + Vi thể: hình ảnh chiếm ưu thế là cấu trúc dạng nhú với lưới nội mô liên kết và mao mạch nâng đỡ. Đôi khi cũng thấy cấu trúc túi tuyến chiếm ưu thế.
2. Ung thư biểu mô thể nang:
         + Đại thể: có thể ở dạng một khối u nhỏ có vỏ bọc hoặc một khối u xâm lấn mạnh chiếm toàn bộ một thuỳ làm cho tuyến giáp to lên không đều.
         + Vi thể: có cấu trúc giống như trong nang tuyến đang hình thanh hay đã trưởng thành, nhưng có thể thấy các tế bào Hĩrthle hoặc các tế bào sáng ở từng vùng hay khắp khối u. Nếu u được cấu tạo hoàn toàn bởi các tế bào Hĩrthle hoặc tế bào sáng thì được coi là một biến thể đặc hiệu của thể này, đó là ung thư biểu mô tế bào Hĩrthle hoặc tế bào sáng. Có thể biệt hoá rõ hoặc loại biệt hoá Vita (còn gọi là Ung thư biểu mô bè).
3. Ung thư biểu mô thể tuỷ: phát sinh từ tế bào C của tuyến giáp.
         + Đại thể: có thể có một hoặc nhiều u ở cả hai thuỳ. U mềm hoặc có khi khá chắc, màu trắng xám hoặc vàng nâu. Có khi U bị hoại tử chảy máu và phá vỡ bao tuyến.
         + Vi thể: U cấu tạo bởi những tế bào tròn đa diện hoặc hình thoi, thường chứa chất dạng tinh bộ. Cấu trúc và chức năng của các tế bào u giống với tế bào C.
4. Ung thư biểu mô không biệt hoá:
         + Đại thể: thường là một khối u lớn ở vùng cổ vì bệnh tiến triển rất nhanh.
         + Vi thể: có 3 loại theo hình thái tế bào trong u, đó là loại u tế bào hình thoi,  u tế bào khổng lồ và u tế bào nhỏ.  
5. Ung thư dạng biểu bì:
         Vi thể thấy trong cấu trúc u có các cầu sừng, các cầu nối hoặc chỉ có Keratin.
IV. Triệu chứng lâm sàng:
1. Đặc điểm chung:
         Đại đa số ung thư tuyến giáp đều tiến triển âm thầm, chậm chạp và kéo dài nên bệnh nhân thường không nhận thấy được ngay những thay đổi của toàn thân, vẫn lao động và sinh hoạt bình thường. Cho đến khi xuất hiện những rối loạn tại chỗ do u chèn ép, xâm lấn(gây khó thở và không ăn uống được), khối u hoại tử, bội nhiễm và loét thì tình trạng toàn thân mới sa sút nặng.
2. Các triệu chứng sớm:
         + Khối U: thường do bệnh nhân hay người nhà tình cờ phát hiện ra. U to ra dần, di động theo nhịp nuốt, có thể nằm ở bất cứ vị trí nào của tuyến giáp. Thường chỉ có một nhân đơn độc nhưng cũng có khi có nhiều nhân và nằm ở cả hai thuỳ tuyến giáp. Mật độ thường chắc. Bề mặt thường gồ ghề.
         + Hạch cổ: có khi U chưa sờ thấy được nhưng đã có hạch cổ to. Tuy nhiên, những triệu chứng sớm này khó phân biệt với một bướu lành tính, do đó khi có hạch cổ kèm theo khối U với những tính chất như trên thì luôn phải cảnh giác và tìm các biện pháp chẩn đoán xác định Ung thư sớm.
3. Các triệu chứng muộn:
         + Khối U: có khi khá lớn, lấn ra phía trước, ra sau, lên hai cực trên sát hai góc hàm và xuống dưới vào trong trung thất (khám lâm sàng không sờ thấy được cực dưới của U). Bề mặt thường gồ ghề, mật độ có chỗ cứng chắc có chỗ mềm. Đặc biệt, khối U dính chặt và xâm lấn vào các cơ quan vùng cổ nên ranh giới không rõ và khả năng di động kém. Có khi khối U xâm nhiễm và loét sùi qua da vùng cổ, gây chảy máu và bội nhiễm tại chỗ.
         + Khàn tiếng, khó thở, khó nuốt, nuốt nghẹn. . . ở các mức độ khác nhau do khối U phát triển xâm lấn và chèn ép các cơ quan xung quanh. Các triệu chứng này gặp với tỉ lệ cao và sớm, nhất là ở Ung thư thể không biệt hoá.
         + Cảm giác vướng tức, bó chặt ở vùng cổ: là triệu chứng thường gặp. Có khi cảm giác đau tức tại U lan lên góc hàm, mang tai cùng bên do U chèn ép và kích thích đám rối thần kinh cổ.
         + Hạch to ở vùng cổ (dọc hai bên khí quản, theo các bờ trong, ngoài và sau hai cơ ức đòn chũm, góc hàm, hố thượng đòn. . . ).
V. Triệu chứng cận lâm sàng:
1. Chụp X. quang:
         + Thường chụp X. quang vùng cổ 2 tư thế (thẳng và nghiêng)không chuẩn bị hoặc có uống cản quang thực quản.
         + Xác định được hình ảnh khối U chèn ép khí quản và thực quản, hình khối U phát triển vào trung thất hoặc có di căn vào phổi (nếu có).
2. Chụp xạ hình tuyến giáp:
         + Thường dùng I131 phóng xạ để chụp tuyến giáp. Hiện nay nhiều nơi còn dùng những kháng thể đơn dòng có gắn đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình tuyến giáp nhằm phát hiện Ung thư tuyến giáp và các ổ di căn nhỏ.
         + Trên xạ hình đồ các khối Ung thư tuyến giáp thường có hình “nhân lạnh”. Tuy nhiên hình ảnh này không đặc hiệu cho Ung thư vì các nhân nang tuyến giáp cũng có hình nhân lạnh (có thể kết hợp với chụp Siêu âm để chẩn đoán phân biệt).
3. Siêu âm tuyến giáp:
         + Siêu âm thường được tiến hành sau khi đã khám lâm sàng và chụp xạ hình tuyến giáp.
+ Xác định được U là đặc hay Nang, đo được kích thước, thể tích và trọng lượng của U và tuyến giáp.
4. Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI):
         + Xác định được vị trí, hình dạng, kích thước...của khối Ung thư tuyến giáp.
+ Xác định được mức độ chèn đẩy, xâm lấn, tương quan giải phẫu... của khối Ung thư với các cơ quan xung quanh như: khí quản, thực quản, các mạch máu...          
5. Chẩn đoán tế bào học:
         + Chẩn đoán tế bào học khối U bằng sinh thiết hút kim nhỏ là một phương pháp chẩn đoán đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền. Với một xét nghiệm viên có kinh nghiệm thì độ chính xác của chẩn đoán có thể đạt tới 90 %.
         + Có thể chọc hút cả khối U và Hạch cổ, chọc nhiều vị trí và chọc nhiều lần để chẩn đoán chính xác hơn.
6. Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý:
         Đây là xét nghiệm cho giá trị chẩn đoán quyết định Ung thư tuýên giáp cả về bệnh lý và các type mô bệnh học. Tuy nhiên chỉ làm được sau khi đã mổ cắt hoặc sinh thiết khối U.
7. Xét nghiệm tìm chất đánh dấu khối U (Tumour marker):
         Các “chất đánh dấu khối U” là các chất đặc biệt do các khối U tiết ra mà bình thường không có trong cơ thể. Khi phát hiện thấy có các chất đó trong máu thì chứng tỏ các khối U đó đang có mặt trong cơ thể.
Trong Ung thư tuyến giáp có thể phát hiện thấy các chất đánh dấu khối U như: HTG (Human Thyroglobulin), CEA (Carcino Embrionic Antigen)...
VI. Chẩn đoán:
1. Chẩn đoán xác định: cần dựa vào
         + Nguyên nhân sinh bệnh: có các yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao (tuổi, giới, nơi ở, tiền sử. . . ).
         + Tính chất U và những rối loạn cục bộ do U gây ra: U rắn chắc, xâm nhiễm mạnh các cơ quan xung quanh, di động kém, nói khàn, đau tức lan lên vùng góc hàm cùng bên, loét da. . .
         + Kết quả chẩn đoán tế bào học và đặc biệt là xét nghiệm mô bệnh học khối U sau mổ cho giá trị chẩn đoán quyết định.
2. Chẩn đoán phân biệt:
         + Các viêm tuyến giáp không đặc hiệu (Hashimoto,  Riedel. . . ): thường xác định được bằng chẩn đoán tế bào học (sinh thiết hút kim nhỏ) và mô học sau mổ.
         + Bướu giáp thể nang biến chứng chảy máu trong nang: bướu giáp to ra nhanh, chắc cứng, đau và các biểu hiện chèn ép các cơ quan vùng cổ. Chọc hút khối U thấy có máu, không thấy tế bào Ung thư.
         + Viêm tuyến giáp đặc hiệu và Apxe tuyến giáp: tuyến giáp hay Bướu giáp to ra nhanh, đau, nóng, đỏ. Chọc hút sinh thiết không thấy có tế bào Ung thư mà là các tế bào viêm mủ. Điều trị kháng sinh có hiệu quả.
3. Chẩn đoán giai đoạn bệnh:
         Theo Hiệp hội quốc tế chống ung thư (1994) có thể phân loại Ung thư tuyến giáp  dựa theo T (Tumor),  N (Node) và M (Metastasis) như sau:
         +T: U tuyến giáp nguyên phát
- Tx : U nguyên phát không ghi nhận được.
- T0 : không có U nguyên phát.
- T1: U có đường kính < 1 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến                   giáp.
                   - T2: U có đường kính 1-4 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến   giáp.
                   - T3: U có đường kính > 4 cm nhưng vẫn còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
                   - T4: U có đường kính bất kỳ nhưng đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp.
         + N: Hạch to vùng cổ
                  - Nx: hạch vùng cổ không khám thấy.
                  - N0: không có hạch di căn vùng cổ.
                  - N1: di căn một hạch cùng bên, kích thước < 3 cm.
                  - N2: hạch di căn có kích thước 3-6 cm.
                            .  N2a: di căn một hạch cùng bên.
                            .  N2b: di căn nhiều hạch cùng bên.
                            .  N2c: di căn hạch hai bên hoặc bên đối diện.
                  - N3: hạch di căn có kích thước > 6 cm.
         + M: Di căn xa
                  - Mx: di căn không phát hiện thấy.
                  - M0: không có di căn.
                  - M1: có di căn xa.
VII. Một số đặc điểm thể bệnh của Ung thư tuyến giáp:
1. Thể nhú (Papillom carcinoma):
         + Là thể Ung thư tuyến giáp hay gặp nhất (chiếm 70% các Ung thư tuyến giáp). Là thể có tiên lượng tốt nhất.
+ Thường gặp ở tuổi trẻ (hơn 80% số bệnh nhân là dưới 40 tuổi). Thường biểu hiện ban đầu là một khối U đơn độc nhỏ ở tuyến giáp nên ít khi phát hiện được sớm. Sau đó khi đã có di căn hạch cổ hoặc khi U to ra và gây các hiện tượng chèn ép vùng cổ thì bệnh nhân mới đến khám để điều trị. Thể này có thể di căn vào phổi, xương và các nơi khác trong khi khối U nguyên phát vẫn còn nhỏ.
         + Tỉ lệ sống sau mổ 10 năm có thể đạt tới 70-80% nếu được phẫu thuật sớm, triệt để và điều trị bổ sung sau mổ đầy đủ.
2. Thể nang (Vesiculary carcinoma):
         + Chiếm khoảng 20-25% các Ung thư tuyến giáp. Tuy cũng là loại tiến triển chậm nhưng tiên lượng kém hơn thể nhú.
+ Thường ở tuổi 50-60 và ở vùng có bướu cổ địa phương. U thường ở một thuỳ, ít có di căn hạch cổ nhưng ở giai đoạn cuối thường có di căn xa theo đường máu, đặc biệt là hay di căn đến tổ chức xương.
3. Thể tuỷ (Medullary Carcinoma):
         + U phát sinh từ các tế bào C (tế bào cận nang có vai trò tiết Canxitonin). Chiếm khoảng 5-10% các Ung thư tuyến giáp. Tuy cũng thuộc loại tiến triển chậm nhưng tiên lượng kém hơn thể nhú và thể nang.
+ Thường gặp ở tuổi 50-60. Bệnh có tính di truyền và thường mang tính chất Bệnh đa U nội tiết ( Multiple endocrine neoplasia: MEN ). Trên lâm sàng có thể gặp Hội chứng Sipple hay MEN IIA ( Ung thư tuyến giáp thể tuỷ, U tế bào sắc tố tuỷ thượng thận hai bên và U hoặc tăng sản tuyến cận giáp).
         + Ung thư tuyến giáp thể tuỷ thường nằm ở vị trí tiếp giáp 1/3 trên và 1/3 dưới thuỳ tuyến giáp (nơi tập trung nhiều tế bào C) và có thể ở cả hai thuỳ tuyến. Di căn theo đường máu hoặc bạch huyết.
4. Thể không biệt hoá:
         Chiếm khoảng 10% các Ung thư tuyến giáp, thường thấy ở các bệnh nhân nhiều tuổi. Đây là loại Ung thư tuyến giáp tiến triển nhanh nhất và tiên lượng xấu nhất, ít bệnh nhân sống quá 5 năm.
5. Ung thư biểu mô tuyến giáp thể biểu bì:
         Chỉ chiếm khoảng 1% các Ung thư tuyến giáp. Cần phân biệt với các ổ dị sản Malpighi trong U tuyến giáp lành tính hoặc di căn của một Ung thư biểu bì từ đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá trên vào tuyến giáp.
VIII. Điều trị ngoại khoa:
         Trong Ung thư tuyến giáp, điều trị ngoại khoa đóng vai trò cơ bản. Điều trị hoá chất và phóng xạ được xử dụng kết hợp trước mổ và bổ xung sau mổ hoặc để điều trị mang tính chất tạm thời khi bệnh nhân không còn khả năng phẫu thuật nữa.
1. Chỉ định các phương pháp phẫu thuật:
         + Cắt bỏ thuỳ có U kèm cả Eo tuyến và cắt gần hoàn toàn thuỳ bên đối diện: khi u có đường kính < 1 cm, chỉ nằm gọn hoàn toàn trong một thuỳ và là Ung thư thể nhú. Nếu có hạch to vùng cổ thì phải tiến hành mổ lấy bỏ hoàn toàn các hạch đó.
         + Cắt hoàn toàn tuyến giáp: khi U có đường kính > 3 cm và đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp. Sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131 phóng xạ để tiêu diệt nốt tổ chức tuyến còn sót lại.
         + Trong mọi trường hợp đều phải mổ lấy triệt để các hạch di căn để hạn chế khả năng tái phát. Ngoài ra, sau mổ cắt toàn bộ tuyến giáp bệnh nhân thường được dùng Thyroxin kéo dài không những nhằm mục đích điều trị thay thế mà còn để làm giảm TSH trong máu, nhờ đó giảm được khả năng tái phát của bệnh.
2. Điều trị ngoại khoa một số thể Ung thư tuyến giáp:
         + Thể nang: chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp, sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131  phóng xạ.
         + Thể tuỷ: chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp vì U thường có ở cả hai thuỳ, chú ý điều trị tình trạng đa u nội tiết nếu có.
         + Thể không biệt hoá: nếu U còn nhỏ thì có thể mổ cắt hoàn toàn tuyến giáp. Tuy nhiên đa số bệnh nhân đều đến muộn và U đã phát triển xâm lấn mạnh các cơ quan xung quanh, do đó nhiều khi phẫu thuật chỉ mang tính chất tạm thời và không triệt để (nhiều khi mổ chỉ với mục đích khai thông và duy trì đường thở cho bệnh nhân). Phải kết hợp điều trị bằng hoá chất, tia xạ...
         + Ung thư tuyến giáp đã có di căn: có thể dùng tia xạ và hoá chất điều trị chuẩn bị mổ, sau đó mổ cắt bỏ khối U và lấy hạch di căn càng triệt để càng tốt theo điều kiện cho phép, sau mổ tiếp tục điều trị bổ xung bằng tia xạ, hoá chất...
IX. Tiên lượng chung về Ung thư tuyến giáp:
         Tiên lượng về Ung thư tuyến giáp phụ thuộc vào: thể bệnh (loại mô bệnh học), giai đoạn bệnh (u xâm lấn phá vỡ vỏ bao tuyến thì tiên lượng xấu),  tuổi bệnh nhân (tuổi càng cao tiên lượng càng xấu),  giới (nam tiên lượng xấu hơn nữ). Nhìn chung tỉ lệ sống sau 5 năm tính theo thể bệnh thấy như sau:
         + Thể nhú: 80-90%
         + Thể nang: 50-70%
         + Thể tuỷ: 40%
         + Thể không biệt hoá: dưới 5%.
Nguồn: Benhhoc.com
hưa bác sĩ, Mẹ em bị bệnh xuất huyết não, nằm viện cách đây 2 tuần trong tình trạng hôn mê, nhưng hiện nay đã tỉnh và có thể nói chuyện được. Vậy mẹ em có khả năng đi lại được không? Mẹ em năm nay 69 tuổi. Em xin chân thành cảm ơn! (Duong Suong)

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Trả lời:



Đột quỵ (còn gọi là tai biến mạch máu não, xuất huyết não) là tình trạng rối loạn chức năng thần kinh như hôn mê, liệt nửa người, nói đớ, nuốt bị sặc…


Đột quỵ thường để lại nhiều di chứng cho người bệnh. Hai di chứng quan trọng hay gặp nhất ở người đột quỵ là liệt vận động và rối loạn ngôn ngữ. Bệnh thường để lại hậu quả nặng nề như cấm khẩu, liệt nửa người, rối loạn thị lực. Trong phần lớn các ca, sự hồi phục rất hạn chế.


- Liệt vận động chỉ gặp ở một bên thân người nên gọi là liệt nửa người.


- Rối loạn ngôn ngữ: thường là không thể nói được, hoặc nói khó.


Khả năng phục hồi sau đột quỵ tùy thuộc vào mức độ thương tổn của thần kinh. Nếu vùng não thương tổn lớn khả năng phục hồi rất kém, nếu vùng não bị thương tổn là ít thì khả năng phục hồi sẽ cao.


Hiện nay, vấn đề điều trị và phục hồi chức năng (PHCN) cho người bệnh sau đột quỵ còn là một vấn đề khó khăn do đòi hỏi thời gian, công sức và tiền bạc. Tại các cơ sở y tế hiện nay việc thu dung điều trị và PHCN cho người bệnh sau đột quỵ cũng không được nhiều, chủ yếu còn phải dựa vào gia đình và cộng đồng.


Người bệnh nếu được điều trị và phục hồi chức năng sớm, khoa học và chuyên sâu sẽ có khả năng phục hồi cao hơn, khả năng tai biến lần sau cũng sẽ bị hạn chế đi.


Thường sau 6 tháng hồi phục chức năng cơ thể người bệnh tuy vẫn tiếp tục nhưng chậm lại và thường để lại ít nhiều di chứng, có di chứng khó hồi phục trở lại bình thường.


Đối với giai đoạn này, ngoài việc dùng thuốc ra, kết hợp các phương pháp luyện tập dưỡng sinh, xoa bóp, châm cứu… sẽ giúp hỗ trợ nhanh sự hồi phục các chức năng vận động, lao động trí óc và chân tay. 3 mặt điều trị cần thiết đối với người bệnh trong giai đoạn hồi phục và di chứng là: Tự tạo cho mình một tinh thần thanh thản, thoải mái, không để bị kích động tâm thần, tự xây dựng cho mình một chế độ sinh hoạt điều độ, ăn uống thanh đạm, làm việc vừa sức, không ham dục vọng, kết hợp với sự luyện tập nhẹ nhàng thường xuyên, đều đặn… sẽ giúp phục hồi sức khỏe, phòng chống tái phát bệnh.


Ngoài ra, ăn nhiều thực phẩm chứa canxi có thể giúp giảm nguy cơ bị đột quỵ và nâng cao khả năng phục hồi sau đột quỵ. Các chuyên gia thuộc khoa Thần kinh tại Đại học California (Mỹ) cho biết tỷ lệ canxi liên quan chặt chẽ tới mức độ nặng hay nhẹ của cơn đột quỵ và khả năng phục hồi của bệnh nhân sau khi xuất viện.


Nghiên cứu cho thấy, những bệnh nhân có hàm lượng canxi trong máu cao tại thời điểm bị đột quỵ thì mức độ nguy hiểm của cơn đột quỵ chỉ bằng 1/3 so với những bệnh nhân khi bị đột quỵ có tỷ lệ canxi trong máu thấp.


Bệnh nhân và gia đình bệnh nhân cần tuân thủ những hướng dẫn của bác sĩ, điều dưỡng về cách thức vệ sinh, chế độ ăn uống... Bệnh nhân phải cai rượu, thuốc lá, tăng cường mức độ luyện tập và hoạt động, uống thuốc đúng theo toa và tái khám đúng theo lời dặn của bác sĩ, tránh những yếu tố có thể xảy ra stress tâm lý, nóng, lạnh đột ngột nhằm tránh bệnh tái phát.


Chúc bạn và gia đình sức khỏe!


(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo - không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)

Nguồn: thuocbietduoc.com.vn
Não xuất huyết là do mạch não bị vỡ và máu chảy vào tổ chức não gây nên. Bệnh thường gặp ở tuổi trên 50 có huyết áp cao hoặc xơ cứng động mạch. Nam nhiều hơn nữ. Bệnh thường đột ngột, triệu chứng lâm sàng chủ yếu là hôn mê, liệt tay chân, méo miệng.

Triệu Chứng Lâm Sàng


Xuất huyết não thường xảy ra trong lúc bệnh nhân đang tỉnh táo, thường có liên quan đến trạng thái tâm thần bị kích động đột ngột (quá tức giận, quá lo lắng, quá vui, quá buồn hoặc dùng lực quá mạnh làm cho huyết áp tăng đột ngột… gây nên).

1) Giai đoạn cấp diễn:

Bệnh nhân đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn, một bên người yếu hoặc liệt, ý thức lú lẫn, dần dần đến hôn mê, sắc mặt nóng đỏ, cổ gáy cứng, liệt mặt, chảy nước dãi, thở dồn dập, cổ khò khè, bụng đầy, táo bón. Đa số có sốt, huyết áp cao, mặt lưỡi có nhiều điểm ứ huyết, dưới lưỡi nổi gân xanh, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ thẫm, rêu lưỡi vàng nhớt hoặc vàng khô, mạch Huyền, Sắc, Đại.

Bệnh nhẹ thì lúc tỉnh lúc mê, thân lưỡi cứng, nói không rõ tiếng, liệt nửa người, chân tay run giật. Bệnh nặng thì hôn mê sâu, sắc mặt tái nhợt, chân tay liệt mềm, cơ thể lạnh ướt, hơi thở ngắn, nhanh hoặc ngất quãng, huyết áp hạ, đồng tử giãn, phản xạ ánh sáng chậm hoặc mất hẳn, tiêu tiểu không tự chủ. Đối với những người có bệnh huyết áp cao, tiêu tiểu không tự chủ, mạch Hư, Đại, không có gốc.

Đối với những người có bệnh cao huyết áp, tiểu đường, bệnh tim, xơ cứng động mạch nào, béo phì, thường có những triệu chứng báo trước như đầu cổ đau, chóng mặt, chân tay tê dại, chảy máu cam, xuất huyết võng mạc v.v...

2) Giai đoạn hồi phục:

Sau một thời gian hôn mê từ mấy ngày đến mấy tuần thì bệnh nhân trở lại tỉnh táo, có thểâ nuốt và uống nước được, hơi thở ổn định, sức khỏe chung tốt dần, chân tay bên liệt có thể cử động dần.

3) Giai đoạn di chứng:

Thường 6 tháng sau, bệnh nhân hồi phục lại một cách từ từ và để lại những di chứng với mức độ khác nhau như liệt chi, chân tay cơ bắp teo gầy, run giật và đau nhức, trí nhớ giảm sút hoặc đần độn...

4) Chẩn đoán bệnh: Dựa vào các tiêu chuẩn sau:

a) Tuổi trên 40, bệnh phát đột ngột.

b) Có những triệu chứng: hôn mê, liệt nửa người, méo miệng.

c) Có tiền sử huyết áp cao.

5) Nguyên nhân và cơ chế bệnh theo Y học cổ truyền:

Bệnh xuất huyết não phát bệnh đột ngột nhưng hình thành bệnh là một quá trình. Theo Y học cổ truyền. sự hình thành bệnh có liên quan đến các yếu tố bệnh lý sau:

a) Phong (Tức Can phong): lâm sàng có triệu chứng hoa mắt, váng đầu, chân tay run giật do Can Thận âm hư, thủy không dưỡng mộc, Can dương thịnh hóa phong sinh bệnh. Ngoài ra, tình chí u uất hóa hỏa, đặc biệt lao tâm suy nghĩ nhiều, tâm hỏa thịnh, hoặc giận dữ làm cho Can hỏa bị kích động, hoặc ăn uống nhiều chất béo, mỡ tích trệ hóa hỏa, đều dẫn đến Can phong nội động.

b) Hỏa: Can dương thịnh. trường Vị kết nhiệt, thường biểu hiện mắt đỏ, bứt rứt, dễ cáu gắt, táo bón.

c- Đàm: Thường do thích ăn nhiều chất béo mỡ hoặc nghiện rượu, Tỳ Vị tích trệ, tân dịch tích tụ sinh đàm, hoặc uất giận ưu tư nhiều quá, khí trệ sinh đàm. Trên lâm sàng thường thấy tức ngực, buồn nôn, khạc ra đờm dãi, cơ thể hoặc chân tay tê dại hoặùc có những cơn hoa mắt, váng đầu.

d) Ứ Huyết: Nguyên nhân huyết ứ thườøng do khí trệ, ngoài ra âm hư, huyết ít, khí hư vận hóa suy giảm cũng gây nên huyết ứ. Thực ra 4 yếu tố gây nguy cơ tai biến xuất huyết não trên đây đều có liên quan ảnh hướng lẫn nhau và là nhân quả của nhau. Bệnh xuất huyết não là một bệnh mang tính chất chính khí hư, tà khí thực mà trong giai đoạn cấp biểu hiện chủ yếu là tà thực, nhưng do chính khí vốn hư nên tà khí dễ làm hao tổn nguyên khí mà dễ dẫn đến tử vong trong trạng thái hư thoát (dương hư, âm hư hoặc khí âm hư, âm dương đều hư). Đến thời kỳ hồi phục và giai đoạn di chứng thì tà khí đà bị đẩy lùi (nhờ các biện pháp cấp cứu và chính khí thắng tà khí). Nhân chính khí hư tổn là chính, chủ yếu là khí âm hư mà huyết ứ vẫn còn lưu tại kinh mạch.

6) Biện chứng luận trị:

Biện chứng luận trị chủ yếu theo 8 giai đoạn lâm sàng.

(l) Giai đoạn cấp tính: Thường trong thời gian 1-2 tuần đầu của bệnh mà triệu chứng chủ yếu là hôn mê. Thời gian hôn mê càng dài, càng sâu thì tiên lượng bệnh càng kém. Do thể chất người bệnh và tình hình bệnh lý khác nhau mà biểu hiện lâm sàng cũng khác nhau, có thể chia làm 2 thể bệnh: chứng bế và chứng thoát.

CHỨNG BẾ


Triệu chứng: Hôn mê, liệt nửa người, méo miệng, mắt trợn ngược, mặt đỏ, người nóng sốt, hàm răng nghiến chặt, đờm nước dãi nhiều, họng khò khè, chân tay co cứng, tiêu tiêu không thông, chất lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch Huyền, Hoạt, Sác, gọi là chứng ‘Dương Bế ', thường gặp trong giai đoạn cấp.

Điều trị: Khai bế, tỉnh não, hoạt huyết, chỉ huyết.

Châm ra máu các huyệt: Trung xung, Bá hội, Tứ thần thông (hoặc châm ra máu 12 huyệt Tỉnh), kết hợp châm Nhân trung, Thừa tương, Phong trì, Phong phủ, Hợp cốc, Lao cung, Thái xung, Dũng tuyền. Hoặc dùng Nội quan, Nhân trung, Tam âm giao, Hợp cốc, Ủy trung. Chủ yếu dùng phép tả, mỗi ngày 1 - 2 lần, không lưu kim, cho đến khi tỉnh, và tùy bệnh tình mà thay đổi chọn huyệt cho phù hợp.

Thuốc thường dùng 'An Cung Ngưu Hoàng Hoàn’, ‘Chí Bảo Đơn’ hoặc ‘Tử Tuyết Đơn’. Mỗi lần uống từ 1 – 2g đến 2-4g, ngày 2-4 lần, tán nhỏ hòa nước sôi uống hoặc bơm bằng xông.

+ Hoạt huyết, chỉ huyết: dùng bài ‘Tê giác Địa Hoàng Thang’ (Tê giác 20g, Sinh địa 16 - 20g, Xích thược 12-16g, Đơn bì 12-16g).

(Hiện nay, ở Trung Quốc, dùng nhiều các chế phẩm Đơn sâm dưới dạng thuốc tiêm, theo các báo cáo cho thấy kết quả rất tốt).

+ Chứng dương bế (nhiệt bế) có thể dùng bài thuốc sau có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, bình Can, tức phong, an thần, hoạt huyết: Sinh địa 10 - 15g, Chi tử (sao), Hoàng cầm, mỗi thứ 10g, Toàn qua lâu 15 - 20g, Mang tiêu 10g, bột Tê giác 15 - 25g (hòa uống), Thạch quyết minh 15g, Câu đằng 15g, Xích bạch thược mỗi thứ 15g, Đơn sâm 15g, Tam thất bột (hòa thuốc uống) 6g, Chích thảo 3g, Trúc lịch 30ml, ngày uống 1 thang, tùy chứng gia giảm.

+ Chứng âm bế (thường gặp ở bệnh nhân vốn dương hư, đàm thịnh, hàn đàm làm bế tắc thanh khiếu), dùng phép chữa: ôn thông, khai khiếu. Dùng bài Tô Hợp Hương Hoàn (Hòa Tễ Cục Phương) mỗi lần uống 2-4g, ngày 1-2 lần uống với nước sắc Tế tân 3g, Gừng tươi 3-5 lát.

Nếu dương hư nặng (sắc mặt tái nhợt, tự ra mồ hôi, chân tay lạnh, mạch Vi hoặc Phù Tế mà Huyền) thêm Phụ tử, Hoàng kỳ, Xuyên khung, Tô mộc, Đương qui, Bạch cương tàm, Ngưu tất, Tế tân để hoạt huyết thông lạc.

Nếu hôn mê, cấm khẩu, đờm nhiều, chính khí muốn thoát: cần dùng bài ‘Tam Sinh Ẩm (Nam tinh, Bán hạ, Phụ tử (đều dùng sống – sinh), mỗi thứ 10g), thêm Nhân sâm 15-30g, sắc uống ngay để chống hư thoát. Châm thêm Nhân trung, Hợp cốc, cứu Túc tam lý, Dũng tuyền để hồi dương, cứu nghịch.

CHỨNG THOÁT

Triệu chứng: Đột nhiên ngã quỵ hoặc do chứng bế chuyển thành, có triệu chứng hôn mê, sắc mặt tái nhợt, mắt nhắm, miệng há, hơi thở ngắn, gấp, hoặc có lúc ngưng thở, tay chân duỗi ra, lạnh, toàn thân ướt lạnh, tiêu tiểu không tự chủ, chân tay liệt mềm, lưỡi rút ngắn, mạch Vi muốn tuyệt hoặc Hư Đại vô căn, huyết áp hạ. Thường chứng thoát là âm dương và khí huyết đều hư hoặc do bệnh nhân nguyên khí vốn rất hư đột quị là xuất hiện chứng thoát, hoặc là sự diễn tiến xấu đi của chứng bế cho nên trong quá trình cấp cứu chứng bế nếu phát hiện 1 - 2 triệu chứng của chứng thoát cần chú tâm chữa cấp cứu kịp thời mới hy vọng cứu sống bệnh nhân.

Điều trị: Hồi dương cứu thoát, dùng bài ‘Sâm Phụ Thang’ (Nhân sâm, Phụ tử, mỗi thứ 15-30g), trường hợp ra mồ hôi không dứt, thêm Long cốt, Mẫu lệ mỗi thứ 80-60g.

Âm dương đều thoát: dùng ‘Sinh Mạch Ẩm’ hợp với ‘Sâm Phụ Thang,' thêm Sơn thù nhục, Bạch thược, Long cốt, Mẫu lệ.

Đây là trường hợp cấp cứu trụy tim mạch không thể dùng thuốc uống được mà phải tiêm truyền bằng đường tĩnh mạch. Ở Trung Quốc dùng thuốc chích Sâm Mạch (Nhân sâm, Mạch môn) mồi lần 4-10ml, cho vào 20ml dung dịch Gluco 50%, chích tĩnh mạch 2-8 lần, sau đó tiếp tục dùng dịch Sâm Mạch 10- 20ml cho vào dung dịch Gluco 10% - 250-500ml nhỏ giọt tĩnh mạch cho đến khi trạng thái choáng được cải thiện, huyết áp ổn định. Và sau đó tiếp tục dùng dung dịch Sâm Phụ mỗi lần 40-100ml, thêm vào 10% Gluco 250-500ml nhỏ giọt tĩnh mạch ngày 2 lần. Tùy tình hình bệnh mà duy trì dùng trong 7 đến 10 ngày.

- Kết hợp châm cứu: Chủ yếu cứu các huyệt Khí hải, Quan nguyên, Thần khuyết, Dũng tuyền.

b) Giai đoạn hồi phục: Sau thời gian cấp tính khoảng 1-2 tuần và qua điều trị tích cực chứng bế hoặc chứng thoát, bệnh nhân qua cơn nguy kịch chuyển sang giai đoạn hồi phục. Bệnh lý chủ yếu ở giai đoạn này là chứng hư kèm huyết ứ, đờm trệ ở kinh lạc mà phần lớn là thể khí hư, huyết ứ.

Triệu chứng: Tinh thần mệt mỏi, sắc mặt vàng sạm, liệt nửa người, chất lưỡi xám nhạt hoặc có điểm ứ huyết, mạch Tế Nhược hoặc Tế Sáp hoặc Hư Đại, huyết áp thường không cao hoặc hơi cao.

Phép chữa: Bổ khí, hóa ứ, thông lạc. Dùng bài ‘Bổ Dương Hoàn Ngũ Thang’ (Y Lâm Cải Thác): Hoàng kỳ (sống) 80-60g, Xích thược 8-12g, Đương qui 12g, Xuyên khung 8g, Đào nhân 8g, Hồng hoa 8g, Địa long 6- 8g, sắc uống.

Gia giảm: Thận hư thêm Can địa hoàng, Sơn thù, Nhục thung dung, Ngưu tất, Tang ký sinh, Đỗ trọng. Huyết áp cao thêm Thanh mộc hương, Thảo quyết minh, Hán phòng kỷ. Chân tay hồi phục chậm thêm Đan sâm, Xuyên giáp để hoạt huyết; Quất hồng, Thanh bì hóa đàm, thông lạc.

Một Số Bài Thuốc Tham Khảo

+ Thông Mạch Sơ Lạc Dịch (Thiểm Tây Trung Y Học Viện) gồm Hoàng kỳ, Xích thược, Xuyên khung, Đơn sâm, truyền tĩnh mạch.

+ Cố Bản Phục Nguyên Thang (Y Viện Long Hoa Thương Hải) gồm: Hoàng kỳ, Đan sâm, Kê huyết đằng, Hoàng tinh, Hải tảo, Huyền sâm, thích hợp với thể âm hư.

Ngoài ra, bệnh viện Bắc Kinh có chế bài thuốc uống gồm có độc vị Thủy điêït (con Đỉa) dùng có kết quả.

Đối với thể âm hư dương thịnh (liệt nửa người, sắc mặt đỏ, đau đầu, chóng mặt, bứt rứt, chất lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch Huyền Sác...) có thể dùng bài 'Kỷ Cúc Địa Hoàng Hoàn’ thêm Thạch quyết minh, Câu đằng, Đan sâm, Xích thược, Bạch thược để tư âm, tiềm dương, hoạt huyết, thông lạc.

c- Giai đoạn di chứng: Thường sau 6 tháng hồi phục chức năng cơ thể người bệnh tuy vẫn tiếp tục nhưng chậm lại và thường để lại ít nhiều di chứng, có di chứng khó hồi phục trở lại bình thường.

Bệnh ở giai đoạn này gần giống giai đoạn hồi phục, chủ yếu là hư chứng (tùy từng bệnh nhân mà biểu hiện thiên về khí hư, huyết hư, âm hư hoặc dương hư kiêm khí huyết ứ trệ hoặc đờm thấp trở trệ, vì vậy phép chữa vẫn cần chú ý bồ ích khí huyết, tư âm, tiềm dương, hành khí, hóa ứ, sơ thông kinh lạc. Đối với giai đoạn này cũng như giai đoạn hồi phục, ngoài việc dùng thuốc ra, kết hợp các phương pháp luyện tập dưỡng sinh, xoa bóp, châm cứu… sẽ giúp hỗ trợ nhanh sự hồi phục các chức năng vận động, lao động trí óc và chân tay. 3 mặt điều trị cần thiết đối với người bệnh trong giai đoạn hồi phục và di chứng là: Tự tạo cho mình một tinh thầùn thanh thản, thoải mái, không để bị kích động tâm thần, tự xây dựng cho mình một chế độ sinh hoạt điều độ, ăn uống thanh đạm, làm việc vừa sức, không ham dục vọng, kết hợp với sự luyện tập nhẹ nhàng thường xuyên, đều đặn… sẽ giúp phục hồi sức khỏe, phòng chống tái phát bệnh.

Nguồn: YKHOA.NET
BS. Lâm Thị Mai Liên

Trung tâm Dinh dưỡng TP. HCM


Tiểu đường là một bệnh mạn tính, có tác động của yếu tố di truyền, do hậu quả của sự thiếu hụt Insulin (một loại hóc môn do tụy hay còn gọi là lá mía của người tiết ra). Bệnh được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường ở trong máu và các rối loạn chuyển hóa khác.

Từ xa xưa, các thầy thuốc đã ghi nhận sự xuất hiện của bệnh tiểu đường. Đặc biệt, trong vài thập niên gần đây, số người mắc bệnh tiểu đường trên thế giới gia tăng với tốc độ rất nhanh chóng, do vậy hiện nay tiểu đường được xem như là một đại dịch của toàn cầu.

Tại Mỹ, năm 1993 có khoảng 7,8 triệu người được chẩn đoán là bệnh tiểu đường, chiếm tỷ lệ 3,1% tăng gấp 5 lần so với năm 1958; trong đó có đến 90-95% người thuộc tiểu đường típ 2 (là loại tiểu đường xuất hiện ở tuổi trung niên hay lớn hơn). Theo Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) năm 2000 số người mắc bệnh tiểu đường trên thế giới là 177 triệu, dự tính đến năm 2025 con số này sẽ là 300 triệu.

Riêng tại Việt Nam, năm 1991 tỉ lệ người mắc bệnh ở Hà Nội là 1,1%; ở Huế 0,96%; ở TP. HCM 2,3%. Năm 2002, tỉ lệ bệnh tiểu đường trên toàn quốc là 2,7%; riêng tại các thành phố tỉ lệ mắc là 4,4% trong khi ở các khu vực khác dao động từ 2,1 - 2,7%.


1. Nguyên nhân nào gây ra bệnh tiểu đường?

Hiện nay chưa rõ nguyên nhân chính xác gây ra bệnh tiểu đường. Tuy nhiên, người ta ghi nhận có yếu tố di truyền hoặc gia đình (tức là khi gia đình có người bị tiểu đường thì những người còn lại có nguy cơ dễ bị bệnh tiểu đường hơn). Yếu tố xã hội cũng góp phần gây ra bệnh tiểu đường như mập phì, cách ăn uống, lối sống ít hoạt động thể lực… đây là yếu tố mà chúng ta có thể cải thiện được.


2. Ai dễ mắc bệnh tiểu đường?


- Người mập phì

- Có cha, mẹ, anh chị em trong nhà bị tiểu đường

- Thuộc dân tộc có nguy cơ: da đen, da đỏ, châu Á

- Nữ sinh con nặng  hơn 4kg hoặc đã được chẩn đoán là tiểu đường trong thai kỳ

- Cao huyết áp

- Rối loạn mỡ trong máu (HDL ≤ 35mg/dl và hoặc Triglyceride ≥ 250mg/dl)

- Đã được chẩn đoán là rối loạn dung nạp đường hay rối loạn đường huyết lúc đói (mức đường trong máu chưa đến mức gọi là tiểu đường nhưng đã là cao so với người bình thường).


3. Triệu chứng của bệnh tiểu đường là gì?

- Tiểu đường típ 1: thường gặp ở người gầy, trẻ tuổi, có các biểu hiện tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều và gầy nhiều.

- Tiểu đường típ 2: thường gặp ở người mập, cũng có các triệu chứng tiểu nhiều, uống nhiều, mờ mắt, cảm giác kiến bò ở đầu ngón tay và chân…Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp triệu chứng bệnh thường âm ỉ nên bệnh thường phát hiện muộn, tình cờ.


4. Biến chứng của tiểu đường là gì?

- Tim mạch: cao huyết áp, xơ vữa động mạch, tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim

- Thận: đạm trong nước tiểu, suy thận

- Mắt: đục thủy tinh thể, mù mắt

- Thần kinh: dị cảm, tê tay chân

- Nhiễm trùng: da, đường tiểu, lao phổi, nhiễm trùng bàn chân…

- Tử vong.


5. Làm sao để phát hiện sớm bệnh tiểu đường?

·      Cần có hiểu biết về bệnh tiểu đường. Nên đi khám và làm xét nghiệm đường huyết đối với những người trên 45 tuổi. Nếu kết quả bình thường thì nên kiểm tra mỗi 3 năm.

·      Các đối tượng sau nên xét nghiệm đường huyết ở tuổi  trên 30 và mỗi năm 1 lần:

-         Trong gia đình có người thân bị tiểu đường (cha, mẹ, anh chị em ruột)

-         Mập phì

-         Ít hoạt động thể lực

-         Đã được chẩn đoán là rối loạn đường huyết lúc đói hay rối loạn dung nạp đường

-         Cao huyết áp

-         Rối loạn mỡ trong máu.


·      Trẻ béo phì từ 10 tuổi trở lên hoặc lúc bắt đầu dậy thì cần kiểm tra đường máu mỗi 2 năm 1 lần nếu có kèm theo một trong các yếu tố sau:

-         Trong gia đình có người thân bị tiểu đường (cha, mẹ, anh chị em ruột)

-         Sạm da vùng cổ, vùng nếp gấp da

-         Tăng huyếp áp

-         Rối loạn mỡ trong máu.


6. Điều trị tiểu đường như thế nào?


·      Để điều trị tiểu đường hiệu quả cần có sự đóng góp của nhiều chuyên khoa:

-         Bác sĩ nội khoa, nội tiết

-         Chuyên gia về dinh dưỡng

-         Điều dưỡng: chăm sóc trong bệnh viện và hướng dẫn việc chăm sóc tại nhà

-         Nhân viên y tế khác: bác sĩ vật lý trị liệu, chuyên khoa bàn chân, dược sĩ, bảo hiểm xã hội…

-         Sự hợp tác chặt chẽ của bệnh nhân và sự ủng hộ của người thân, gia đình, bạn bè.


·      Điều trị tiểu đường cần phải có:

-         Chế độ dinh dưỡng hợp lý

-         Rèn luyện cơ thể

-         Chương trình huấn luyện bệnh nhân

-         Thuốc giảm đường huyết khi cần thiết (thuốc uống, insulin).


7. Vai trò của chế độ ăn trong bệnh tiểu đường như thế nào?

Chế độ ăn hợp lý là nền tảng cho kế hoạch điều trị tiểu đường. Chế độ ăn hợp lý giúp cho bệnh nhân ổn định mức đường trong máu, giảm được liều thuốc cần sử dụng, ngăn chặn hoặc làm chậm xuất hiện các biến chứng, kéo dài tuổi thọ bệnh nhân. Chế độ ăn hợp lý còn giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái, tự tin trong cuộc sống, ít có cảm giác bị tách biệt trong đời sống xã hội.


Hiện nay, các nhà dinh dưỡng khuyến cáo chế độ ăn của người tiểu đường nên gần giống với người bình thường:

1)      Lượng bột đường (gạo, bắp, khoai…) gần với mức người bình thường (50-60%)

2)      Cho phép người tiểu đường được sử dụng đường đơn giản ở mức hạn chế (đường để nêm thức ăn, cho vào các loại thức uống…)

3)      Giảm lượng chất béo (nên ăn các loại dầu, mỡ cá): 20-30%

4)      Tăng chất xơ (có nhiều trong rau, trái cây).


Người tiểu đường nên có chế độ ăn gần như bình thường, ăn đều đặn, không bỏ bữa, chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày (4 - 6 bữa). Đây là yếu tố quan trọng giúp điều trị bệnh tiểu đường thành công.


Cần lưu ý là không có một thực đơn chung cho mọi bệnh nhân tiểu đường bởi vì mỗi bệnh nhân tiểu đường có sở thích ăn uống khác nhau, mức độ hoạt động thể lực khác nhau, mức đường trong máu khác nhau, hoặc cách sử dụng thuốc khác nhau.


8. Làm gì để phòng tránh bệnh tiểu đường?


1) Phòng tránh thừa cân, béo phì:

- Dựa vào chỉ số BMI (chỉ số khối của cơ thể)
BMI = CN:CC2   (trong đó cân nặng tính bằng kg, chiều cao tính bằng mét)

Chỉ số này nên giữ trong khoảng 18,5-23

- Vòng eo: nam < 90cm, nữ < 80cm

- Tỉ lệ mỡ cơ thể: nam < 25%

                            nữ < 30%.


2) Gia tăng hoạt động thể lực:

- Chơi thể thao hơn 30 phút trong hầu hết các ngày

- Tập thể dục khoảng 1giờ/ngày trong hầu hết các ngày

- Năng động trong mọi hoạt động, bước khoảng từ 5.000-10.000 bước chân/ngày.


3) Dinh dưỡng hợp lý:

- Ăn đa dạng: nên ăn trên 20 loại thực phẩm mỗi ngày bằng cách ăn các món ăn hỗn hợp, có nhiều món trong một bữa ăn, và món ăn nên thay đổi trong ngày, giữa các ngày, theo mùa… Nên hạn chế ăn những thức ăn cung cấp năng lượng rỗng như đường, nước ngọt, kẹo…

- Ăn chừng mực: không ăn bữa nào quá no hay quá đói, không ăn thứ gì quá nhiều.

- Ăn thức ăn nguyên vẹn, gần với thiên nhiên để ít bị mất đi các thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn.


Tóm lại:

* Tiểu đường là một bệnh mạn tính, nếu không được phát hiện và điều trị sớm dễ dẫn đến các biến chứng nguy hiểm ở tim, thận, mắt, não…

* Chế độ ăn và  vận động hợp lý là nền tảng trong điều trị.

* Bệnh có thể phòng ngừa được bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý, gia tăng hoạt động thể lực và giữ cân nặng vừa phải, tránh bị mập phì.

Nguồn: medinet.hochiminhcity
Thực phẩm rau đậu có thể ngăn ngừa hữu hiệu bệnh tật, đặc biệt là các bệnh thuộc về tim mạch, ung thư, và tiểu đường, đồng thời làm giảm tiến trình lão hóa con người. Ngoài ra, thực phẩm rau đậu còn có thể chữa trị được bệnh tiểu đường loại II. Trong chương này chúng tôi trình bày chi tiết về nguyên nhân và phương pháp chữa trị căn bệnh này bằng chế độ dinh dưỡng với thực phẩm rau đậu.

Được biết, bệnh tiểu đường xảy ra khi cơ thể con người không sản xuất hay sản xuất không đủ chất insulin, hoặc sản xuất đủ nhưng không hoạt động bình thường. Chất insulin là một loại kích thích tố (hormone) có nhiệm vụ hộ tống chất đường đi vào bên trong các tế bào. Khi vắng mặt chất này, chất đường không thể vào bên trong các tế bào, và vì thế đường phải được thải hồi ra ngoài qua đường tiểu, khi ấy con người cảm thấy mệt mỏi, khát nước và giảm cân.

Có hai loại bệnh tiểu đường. Tiểu đường loại I là loại phụ thuộc insulin và tiểu đường loại II không phụ thuộc insulin. Tiểu đường loại I thuờng khởi phát ở trẻ em và người lớn trẻ tuổi, nhưng cũng có thể khởi phát ở bất kỳ tuổi nào, loại này do cơ thể không thể tự sản xuất, hay sản xuất rất ít insulin; còn loại II thường chiếm đa số các bệnh nhân tiểu đường, do cơ thể có đủ khả năng sản xuất chất insulin, nhưng insulin lại không hoạt động bình thường. Bệnh này thường xảy đến với những người mập trên 30 tuổi, và phần lớn gây nên bởi ăn uống và cách sống, nhưng cũng có thể do di truyền.

Bệnh tiểu đường loại I cần phải chích insulin vào cơ thể để điều hòa lượng đường (glucose) trong máu, ngăn ngừa tình trạng nhiễm ketoacid do tiểu đường và duy trì sự sống.

Bệnh tiểu đường loại II có thể chữa trị một cách hữu hiệu bằng cách ăn thực phẩm rau đậu, đặc biệt ăn những loại thực phẩm rau đậu ít chất béo, có chỉ số đường thấp, đồng thời luyện tập thể dục đều đặn.

Theo bác sĩ Monroe Rosenthal, M.D., Giám đốc Y Khoa chương trình Pritikin Program ở Santa Monica bang California Hoa Kỳ, "chất béo là nguyên nhân chánh của bệnh tiểu đường, càng nhiều chất béo trong chế độ dinh dưỡng càng làm khó khăn cho insulin đưa đường vào trong tế bào. Insulin hoạt động dễ dàng trong điều kiện ít chất béo."

Các cuộc thử nghiệm điều trị bệnh tiểu đường bằng chế độ thực phẩm rau đậu ít chất béo của bác sĩ Monroe Rosenthal M.D., bác sĩ James W. Anderson, M.D., và bác sĩ RJ. Barnard, M.D., đều cho kết quả tốt. Một nghiên cứu cho thấy rằng 21 bệnh nhân trong số 23 bệnh nhân loại II và 13 trong số 17 bệnh nhân loại I đã không cần dùng thuốc để điều hòa lượng đường trong máu sau 26 ngày thực hiện chương trình ăn uống đặc biệt. Đặc điểm của phương pháp trị liệu này là tiêu thụ một số lượng thực phẩm ít chất béo, chỉ khoảng 10 phần trăm chất béo loại không bão hòa, 10 phần trăm chất đạm, nhiều chất xơ (35 phần trăm), nhiều complex carbohydrate và tập thể dục thường xuyên.

Để thưc hành, có 6 điểm quan trọng cần phải thực hiện nếu muốn đạt kết quả tốt: (1) không ăn các thực phẩm có chất cholesterol, (2) không ăn các thực phẩm có chứa chất béo bão hòa (saturated fats), (3) không ăn các thực phẩm chế biến, các loại tinh bột, các thực phẩm đóng hộp, và các trái cây quá chín, (4) Không nấu carbohydrates quá chín (overcooked), (5) không uống rượu, hút thuốc, và (6) chọn các thực phẩm có chỉ số đường glycemic index thấp.

Năm điều đầu trong sáu điều kể trên, quý bạn đã biết qua các chương trước. Trong chương này chúng tôi nói rõ hơn về điều thứ sáu, tức việc chọn lựa các loại thực phẩm có chỉ số đường thấp.

Chỉ số đường trong thực phẩm cao có nghĩa thực phẩm đó tạo ra nhiều đường trong máu. Thực phẩm có chỉ số đường 96, như chuối chín chẳng hạn sẽ tạo ra chất đường trong máu nhiều gấp hai lần loại thực phẩm có chỉ số 50 như spaghetti. Các nhà khoa học đã liệt kê hơn 200 loại thực phẩm có chỉ số từ thấp đến cao. Họ cũng cho biết chất béo không bão hòa thực vật có tác dụng làm giảm chỉ số đường khi được cho thêm vào một thực phẩm carbohydrate nào đó như bánh mì, có chỉ số 100, nếu thêm bơ (chất béo bão hòa), chỉ số tăng lên 120, trong khi đó nếu thêm dầu olive (chất béo không bão hòa) thì chỉ số giảm xuống còn 28. Ngoài ra, thực phẩm carbohydrate như gạo chẳng hạn, nấu quá chín làm tăng chỉ số đường. Các thực phẩm biến chế cũng làm gia tăng chỉ số đường, thí dụ như khoai tây, chỉ số 100 trong khi đo,ù khoai tây biến chế dạng instant potatoes là 156, gạo có chỉ số 100, instant rice là 178. Dưới đây là bảng liệt kê chỉ số đường được sắp loại theo nhóm thực phẩm. Nên chọn những loại có chỉ số thấp, càng thấp càng tốt.
Xem thêm tại- >
Nguồn : Thuvienhoasen
Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong cao nhất trong những bệnh nhân ung thư ở nam giới. Ở Việt Nam theo số liệu ghi nhận tại một số vùng ung thư phổi đứng hàng đầu và chiếm 20% trong tổng số hàng trăm loại ung thư.

Các triệu chứng nhận biết

Triệu chứng hay gặp nhất của ung thư phổi là ho kéo dài. Thở ngắn, ho có đờm lẫn máu và đau ngực cũng có thể là dấu hiệu chỉ điểm của ung thư phổi. Một thời gian sau bệnh nhân có thể gầy sút, mệt mỏi, thở nông, khàn giọng, khó nuốt, đau xương, thở khò khè và tràn dịch màng phổi.

Cần chú ý rằng có khoảng 13% bệnh nhân không biểu hiện bất cứ một triệu chứng nào như trên khi khối u của họ được phát hiện.

Phương pháp phát hiện

Có nhiều kỹ thuật được sử dụng để phát hiện ung thư phổi. Ung thư phổi thường được phát hiện đầu tiên bằng chụp Xquang lồng ngực. Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có thể xác định chính xác hơn vị trí của khối u, kích thước và biết được khối u đã phát triển ra ngoài phổi hay chưa. Có thể chẩn đoán bằng cách sinh thiết, phương pháp sinh thiết thông thường nhất là dùng ống nội soi phế quản. Đưa một ống nhỏ, mềm, dẻo qua mũi hay miệng sau khi đã gây tê, đi qua khí quản vào phổi. Phương pháp này được sử dụng trên 80% bệnh nhân và 2/3 có kết quả sinh thiết dương tính. Xét nghiệm đờm tìm tế bào ung thư chỉ có 1/3 số ca có kết quả dương tính. Nếu khối u ở rìa phổi hay ở xa phế quản thì nội soi phế quản hay xét nghiệm đờm có thể không phát hiện được. Hoặc dùng một kim nhỏ xuyên qua thành ngực vào vùng bất thường sau khi đã gây tê tại chỗ. Phương pháp này chẩn đoán được trên 90% bệnh nhân. Đôi khi cần thiết phải tiến hành sinh thiết thêm nếu các phương pháp trên không thành công. Những mẫu sinh thiết lấy được, được nhuộm và soi dưới kính hiển vi quang học.

Những nguyên nhân gây ung thư phổi

Hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây ung thư phổi. 90% bệnh nhân ung thư phổi do hút thuốc lá. Mặc dù còn 4% bệnh nhân bị ung thư phổi mà không hút thuốc, nhưng vài người trong số họ đã hít một số lượng đáng kể khói thuốc lá (hít khói của người hút thuốc lá). 90% bệnh nhân ung thư phổi đã hút hơn 10 điếu thuốc lá/ ngày trong 20 năm.

Những công nhân tiếp xúc với bụi silic có nguy cơ cao bị ung thư phổi. Nguy cơ này sẽ tăng lên nhiều lần nếu bệnh nhân có hút thuốc lá.

Những tiếp xúc nghề nghiệp khác liên quan tới ung thư phổi bao gồm tiếp xúc với quá trình luyện thép, ni-ken, crôm và khí than.

Tiếp xúc với tia phóng xạ có nguy cơ bị các bệnh ung thư trong đó có cả ung thư phổi. Những công nhân mỏ uranium, fluorspar và hacmatite có thể tiếp xúc với tia phóng xạ do hít thở không khí có chứa khí radon.

Ngoài ra,  nguy cơ ung thư phổi liên quan đến các chất gây ô nhiễm không khí. Các nghiên cứu gần đây thấy ung thư phổi có liên quan yếu tố gen.

Các phương pháp điều trị


Phẫu thuật loại bỏ khối u:

Có hiệu quả nhất khi khối u còn nhỏ và chưa có di căn. Bệnh nhân có thể trạng tốt để phẫu thuật. 20% bệnh nhân được điều trị theo phương pháp này. Những bệnh nhân được phẫu thuật lấy toàn bộ khối u có thời gian sống thêm lâu dài.

Điều trị tia xạ:

Phương pháp này được áp dụng cho 35% bệnh nhân. Mục đích là phá hủy khối u khi nó còn nhỏ (thường có đường kính 6 cm) và không có di căn. Đối với những khối u lớn thì nó làm giảm sự phát triển của khối u. Phương pháp điều trị này kéo dài đời sống của bệnh nhân nhưng ít khi chữa khỏi bệnh.

Điều trị bằng hóa chất:

Có tác dụng tốt ở hầu hết bệnh nhân ung thư phổi loại tế bào nhỏ và đôi khi ở những loại ung thư phổi khác. Những tiến bộ gần đây về hóa trị liệu đã làm giảm đáng kể những tác dụng phụ so với trước đây.

Điều trị hỗ trợ:

Chỉ áp dụng cho khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn không điều trị được bằng các phương pháp kể trên, bao gồm chăm sóc bệnh nhân, điều trị triệu chứng và làm giảm đau.

Cần có một chế độ ăn thích hợp, nghỉ ngơi, chăm sóc về mặt y tế và giải trí đôi khi giúp ích cho bệnh nhân.

Ở hầu hết các bệnh nhân ung thư, kết quả điều trị tốt nhất khi ung thư được phát hiện sớm và điều trị kịp thời.

Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị mới bao gồm đưa chất đồng vị phóng xạ vào phế quản, điều trị bằng tia xạ, điều trị bằng laser, các thuốc hóa chất mới, những nghiên cứu sinh học phân tử đang được tiến hành và đã thu được một số kết quả.

TS. Trần Văn Thuấn
(PGĐ Bệnh viện K - Phó trưởng ban điều hành dự án phòng chống ung thư)

- Theo SucKhoeDoiSong.vn
Đa số bệnh nhân ung thư phổi lúc đầu đều ho khan hoặc ho có đờm, thường vào buổi sáng. Ho kéo dài, các thuốc chống viêm, trị ho không có tác dụng. Một nửa số người bệnh ho ra ít máu lẫn đờm.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bệnh nhân ung thư cũng thường bị đau ngực. Thường không có điểm đau rõ rệt, đau bên có tổn thương giống viêm dây thần kinh liên sườn. Có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay.

Hiện tượng khó thở chỉ gặp khi khối u chèn ép hoặc làm tắc khí phế quản, gây xẹp phổi, hoặc ung thư đã di căn màng phổi gây tràn dịch màng phổi. Ngoài ra, bệnh nhân còn bị khó nói hoặc nói giọng khàn do khối u chèn ép vào dây thần kinh, khó nuốt do thực quản bị chèn ép, gầy sút, sốt nhẹ...

Việc chụp phổi bằng kỹ thuật X-quang thông thường, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ có thể cho thấy khối u ở vị trí nào của phổi, kích thước bao nhiêu. Để chẩn đoán đúng và phân loại ung thư, góp phần quyết định phương pháp điều trị, cần xét nghiệm mô bệnh học và tế bào học.

Để phát hiện sớm ung thư phổi, nam giới từ 40 tuổi trở lên nếu nghiện thuốc lá kèm ho khan hoặc có đờm kéo dài nên đến bệnh viện 4 tháng một lần để chiếu chụp phổi, lấy đờm, dịch phế quản làm xét nghiệm tế bào học (5-8% số người đi khám được phát hiện ung thư phổi sớm). Ở cả hai giới từ 40 tuổi trở lên, nếu có các dấu hiệu sút cân, ho kéo dài hoặc ho ra máu, đau ngực, khó thở, khó nói hoặc khó nuốt thì cần đi khám và làm các xét nghiệm.

Về điều trị, tùy theo từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật (cắt phân thùy phổi, thùy phổi, thậm chí toàn bộ lá phổi có khối u, lấy bỏ hạch di căn nếu có) hoặc điều trị tia xạ (đơn thuần hay phối hợp) và dùng thuốc.

Cách phòng ngừa ung thư phổi là tạo môi trường sống sạch đẹp, bầu không khí trong lành; không hút thuốc lá, điều trị khỏi những bệnh của phế quản, phổi như viêm phế quản mạn, lao phổi. Ở tuổi 40 trở lên, nên đi khám bệnh, chụp X-quang phổi định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm.

BS Nguyễn Phương, Sức Khỏe & Đời Sống
Ung thư không tự nhiên sinh ra, cũng không phát triển thình lình  mà là kết quả  của một sự tương tranh dai dẳng giữa hệ miển dịch của cơ thể đã bị suy yếu và quá trình tiếp xúc lâu dài với các nhân tố gây ung thư.  Do đó chống ung thư cũng phải dựa vào cơ chế đối kháng nầy.  Một mặt tăng cường hệ miển dịch và ngăn chận ung thư bằng các chất chống oxy hoá từ rau quả và ngủ cốc, mặt khác cần giảm bớt hoặc chấm dứt hẳn việc phơi nhiễm hoặc tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư.

Tương quan chính và tà trong cuộc chiến chống ung thư trong cơ thể

Thông thường, các tế bào trong cơ thể đều có một tuổi thọ nhất định và bị chi phối bởi một quy luật chung.  Sinh ra, phát triển và hư hoại.  Khi một tế bào chết đi sẽ  được thay thế bởi một tế bào mới sinh ra.  Quá trình phát triển ổn định và có giới hạn nhằm duy trì hoạt động sống của mọi tổ chức, cơ quan trong cơ thể.  Tuy nhiên trong những trường hợp nhất định, do sức đề kháng của cơ thể suy yếu và dưới tác động lâu dài của nhân tố gây ung thư, một số tế bào phát triển bất thường, sinh sôi tràn lan, gia tăng không hạn chế trở thành tế bào ung thư, khối u ung thư.  Tuỳ theo vị trí của khối u, sự phát triển bất thường nầy có thể xâm lấn, chèn ép hoặc phá huỷ cơ cấu hoặc làm rối loạn công năng của các cơ quan.

Theo các nhà khoa học, dù chưa xác định được cụ thể nguyên nhân gây ra ung thư nhưng chúng ta đã biết được hàng loạt nhiều yếu tố khác nhau có thể dẫn đến ung thư.  Những tác nhân gây ra ung thư có thể là rượu, khói thuốc, bức xạ, ánh nắng mặt trời, đặc biệt là những thức ăn thức uống bị nhiễm hoá chất độc hại trong quá trình nuôi trồng hoặc chế biến, vận chuyển, bảo quản.  Ung thư phát triển qua nhiều giai đoạn.  Giai đoạn tiềm ẩn có thể kéo dài nhiều năm trời, thậm chí 10 năm, 20 năm hay hơn nửa trước khi khối u to lớn đủ để được phát hiện.  Sự phơi nhiễm các yếu tố gây ung thư cũng không phải trong một gian đoạn ngắn .  Chẳng hạn đối với bệnh ung thư vú, một loại ung thư thường gặp ở nử giới, Bác sĩ John Muir, một chuyên gia về ung thư ở Trung Tâm Y khoa Walnut Creek, California cho rằng dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của loại ung thư nầy và “thực phẩm mà mà người bệnh ăn uống trong khoảng một năm trước khi được chẩn đoán có thể không có ý nghĩa bằng những loại thực phẩm mà họ sử dụng trong suốt 10 hay 20 năm trước đó.”   Ngoài ra, những người khoẻ mạnh đều có thể đã trải qua một đôi lần có sự phát triển rối loạn của những tế bào bất thường –tương tự như sự phát triển của tế bào ung thư- Tuy nhiên, những lúc đó sức đề kháng tự nhiên của cơ thể đã vượt thắng, khống chế và tiêu diệt chúng trước khi những tế bào nầy có điều kiện chuyển biến thành tế bào ung thư.

Những điều trên đã cho thấy ung thư không tự nhiên sinh ra, cũng không phát triển thình lình mà là kết quả của một sự tương tranh lâu dài giữa hai thế lực chánh và tà.  Chánh là hệ thống phòng vệ của cơ thể.  Tà là chỉ những tác nhân gây ra ung thư.  Trong quan hệ giữa chính khí và tà khí, Đông y cho rằng khi chính khí thắng tà khí tất sẽ rút lui và con người sẽ không còn bệnh tật.  Do đó, nếu ta có thể thông qua luyện tập dưỡng sinh, thông qua chế độ ăn uống để vừa tăng cường được chính khí lại vừa giảm bớt hoặc chấm dứt hắn việc bị phơi nhiễm tà khí thì việc bảo đảm thắng lợi trong cuộc chiến chống ung thư chỉ là một quy luật tự nhiên.
Tăng cường hệ thống phòng vệ cơ thể bằng chế độ ăn uống có nhiều chất chống oxy hoá

Trong 2 thập niên qua, các nhà khoa học đã đặc biệt quan tâm đến những hậu quả của những gốc tự do gây ra cho cơ thể và xem việc bổ sung những chất chống oxy hoá từ nguồn thực phẩm tự nhiên như là biện pháp chủ yếu để nâng cao sức miển dịch trong việc phòng chống bệnh tật bao gồm cả bệnh ung thư.
Cơ chế gây lão hoá và suy giảm hệ miển dịch của những gốc tự do

Bình thường, oxy tham gia vào quá trình chuyển hoá để tạo ra năng lượng giúp cơ thể hoạt động.  Tuy nhiên có khoảng một vài phần trăm oxy tham gia vào quá trình này đã không tạo ra năng lượng mà tạo ra các gốc tự do.  Có thể nói gốc tự do là một loại sản phẩm không hoàn hảo trong chu trình biến dưỡng bình thường của cơ thể.  Gốc tự do càng gia tăng nhiều hơn trong điều kiện ăn uống hoặc sinh hoạt trong môi trường bị ô nhiễm khói thuốc lá, bức xạ hoặc những hoá chất độc hại hoặc căng thẳng tâm lý.  Về mặt hoá học, gốc tự do là những thành phần phân tử có những nguyên tử bị thiếu mất l điện tử ở vòng ngoài cùng.  Do đó, phân tử nầy có khuynh hướng di chuyển tự do để chiếm đoạt một điện tử của một phân tử khác để tự ổn định.  Như vậy điều nguy hiểm của gốc tự do không phải là huỷ diệt tế bào mà là làm tổn thương tế bào để đến phiên tế bào bị tổn thương -một gốc tự do mới- lại oxy hoá một tế bào khác và phản ứng dây chuyền cứ tiếp tục xảy ra.  Qua cơ chế nầy, các gốc tự do đã tham gia phản ứng với các chất hửu cơ gây tổn thương màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi chất giữa tế bào với bên ngoài và nguy hiểm hơn, các gốc tự do có thể làm thay đổi cấu trúc gen của tế bào.  Do đó các gốc tự do là mầm mống quan trọng dẫn đến nhiều thứ bệnh tật khác nhau như tim mạch, parkinson, alzheimer và cả ung thư.
Rau quả có màu xanh đậm, vàng hoặc đỏ là nguồn cung cấp chất chống oxy hoá và ngăn chận ung thư quan trọng

Điều may mắn là thiên nhiên đã có sẳn một cơ chế để kềm hảm sự phảt triển của những gốc tự do.  Đó là những chất chống oxy hoá được cung cấp từ các loại rau quả và ngủ cốc trong tự nhiên.  Có hàng ngàn chất chống oxy hoá khác nhau. Chúng thuộc 2 nhóm chính, nhóm flavonoids và nhóm phytochemicals.  Những chất chống oxy hoá ngoài tác dụng trung hoà các gốc tự do bằng cách nhường một điện tử của mình cho chúng qua đó có thể cắt đứt phản ứng dây chuyền, ngăn chận tổn thương DNA do các độc chất gây ra còn có thể khống chế sự phát triển của tế bào ung thư.  Càng ngày càng có nhiều nghiên cứu về tác dụng kỳ diệu của những chất chống oxy hoá.  Nhiều sinh tố và khoáng chất là những chất chống oxy hoá.  Các chất quan trọng nhất là sinh tố A, beta caroten (một sắc tố thực vật sẽ được cơ thể chuyển hoá thành sinh tố A), sinh tố C, E, khoáng chất selenium.  Thứ đến là sinh tố B2, kẻm, đồng, magnesium, co-enzym Q10, các carotenoids lutein và lycopen.  Nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho biết ăn rau quả nhiều có thể giúp chống lại các loại ung thư, nhất là 2 loại ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến.  Các nhà khoa học đặc biệt lưu ý đến bông cải và các loại cải bắp.  Những loại thức ăn nầy đóng vai trò quan trọng giúp ngăn ngừa ung thư vú cho những phụ nử sắp mãn kinh.  Bông cải có chứa nhiều sinh tố C, acid folic, potasium, nhiều carotenoids và chất indole-3-carbinol, một chất cần thiết cho sự chuyển hoá các hormone sinh dục.  Cải bắp có nhiều sinh tố B1, C, E, acid folic, caroten và S-methylmethionine, một chất có tác dụng kháng viêm.  Bông cải và các loại cải bắp còn có hàm lượng chất isothiocyanates, một loại phytochemical có tác dụng hoạt hoá một số enzym có khả năng làm vô hiệu hoá những hoá chất gây ra ung thư.  Một báo cáo của trường đại học Illinois còn cho biết một loại isothiocyanate được tìm thấy trong các loại bắp cải và bông cải có tên là sulphoraphane có tác dụng ngăn chận sự phát triển của tế bào ung thư ở giai đoạn cuối.  Qua nghiên cứu chế độ ăn của 20.000 người, những nhà nghiên cứu thuộc viện ung thư quốc gia Mỷ ở Maryland cho biết những người ăn nhiều bông cải có thể giảm nguy cơ  ung thư tiền liệt tuyến từ 45% đến 52%.  Bông cải, cải bắp, các loại rau xanh, những loại đậu và những sản phẩm từ đậu nành còn có nhiều acid folic, một chất chống oxy hoá rất thiết yếu cho cơ thể.  Acid folic là một yếu tố quan trọng trong sự phân chia và phát triển tế bào mới, trong sự tổng hợp DNA, sản xuất enzym và sinh ra hồng cầu.  Acid cũng đặc biệt hiệu quả để chống lại các vết loét trong giai đoạn tiền ung thư.  Về tầm quan trọng của acid folic trong việc chống ung thư, Tiến sĩ Judith Christman, trường Đại học Nebraska cho biết “Khi thức ăn thiếu acid folic, cơ cấu DNA của tế bào sẽ bị phá vở.  Lúc đó, các tế bào sẽ phát triển trên cơ sở những thông tin sai lầm của cấu trúc mới nên ung thư  xảy ra.”

Nhiều loại rau qủa khác cũng có tác dụng ngăn chận sự phát triển của các loại ung thư ruột già, ung thư vòm họng,  ung thư phổi hoặc bao tử. Nhiều nghiên cứu đã đưa đến những kết quả giống nhau về những loại rau quả, củ có lá màu xanh đậm, màu vàng hoặc màu đỏ như cà chua, bông cải, cà rốt, sơ ri, gấc , bí đỏ, dưa hấu, khoai lang …Những loại rau quả nầy đều có khả năng làm giảm nguy cơ các loại ung thư.  Riêng trong quả gấc, những nghiên cứu của công ty  San Eigen FFI, một công ty phẩm màu hàng đầu của Nhật bản đã cho biết ngoài hàm lượng rất cao chất caroten, gấc còn có tỷ lệ chất lycopen cao gấp 10 lần so với rau quả thông thường.  Lycopen có trong cà chua, dưa hấu, dưa hồng, là hợp chất có tác dụng kềm hảm sự lan toả của tế bào ung thư.

Những nhà khoa học trường Đại học Ohio, Mỷ còn đặc biệt lưu ý đến những hợp chất tạo màu sắc sậm trong rau quả.  Những thí nghiệm trên chuột và người đều cho thấy chất tạo màu sẫm  có hợp chất anthocyanin trong các loại rau màu đỏ, màu tía và màu xanh có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.  Chẳng hạn, chất anthocyanin trong cà rốt và củ cải, quả dâu tây có thể làm giảm sự phát triển của tế bào ung thư từ 50 đến 80%.

Ngoài ra, tập quán uống trà cũng có ảnh hưởng tốt đến việc phòng chống ung thư.  Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Weisburger, cả trà xanh và trà đen đều có hàm lượng cao những chất phytochemicals là  những chất chống oxy hoá có khả năng hoá giải những gốc tự do và ngăn chận tổn thương tế bào do khói thuốc lá hoặc những độc chất hoá học.  Mới đây, một thí nghiệm khoa học tại trường Đại học Arizona, Mỷ do Tiến sĩ Sherry Chow chủ trì cũng cho thấy trà xanh có nhiều hoạt chất epigallocatechin gallate, một chất chống oxy hoá.  Những người uống từ 8 đến 16 tách trà xanh mỗi ngày có thể bổ sung một lượng chất epigallocatechin gallate đủ để làm gia tăng đến 80% loại enzym GST, một enzym có tính năng giải độc và chống ung thư.  GST có khả năng biến đổi những phân tử gây ung thư thành những phân tử trơ không ảnh hưởng đến chất liệu cấu tạo di truyền DNA.  Người ta cho rằng những dân tộc châu Á như Trung quốc, Nhật bản có tỷ lệ tim mạch và ung thư thấp hơn so với người Âu Mỷ một phần có thể là nhờ vào tập quán hay uống trà.

Vậy liệu ăn bao nhiêu thì đủ. Theo khuyến cáo của các chuyên viên dinh dưỡng Liên Hiệp Quốc, mỗi người nên ăn khoảng 400g rau quả mỗi ngày. Ngoài ra, điều cần lưu ý là giá trị của  các loại rau quả khác nhau không chỉ ở chủng loại mà còn ở  cách trồng trọt, chăm bón và cả qúa trình chế biến .  Một nghiên cứu kéo dài 10 năm của các nhà khoa học trường Đại học California, Mỷ đã cho biết cà chua được chăm bón bằng phân hửu cơ theo lối truyền thống  có hàm lượng hợp chất flavonoids, một chất chống oxy hoá, cao gấp 2 lần so với cách trồng trọt  thông thường hiện nay. (Cách trồng  hiện nay thường xử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu rầy hoặc hoá chất kích thích tăng trưởng)  Ngoài ra, Hội Ung thư quốc gia Mỷ cũng nghiên cứu thấy  những người dùng các loại thực phẩm tự nhiên có chứa các sinh tố  B6, B12 và Folate sẽ giảm nguy cơ ung thư tuỵ tương ứng là 81%, 73% và 52%.  Ngược lại những người dùng các viên sinh tố tổng hợp  có các sinh tố trên chẳng những không giảm mà còn tăng nguy cơ ung thư tuỵ lên đến 139%.  Những kết quả nầy cũng phù hợp với những khuyến cáo cách đây trên 40 năm của Giáo sư Oshawa khi ông đề ra Macrobiotics, một phương pháp chữa bệnh  dưỡng sinh bằng cách ăn các loại rau quả và ngủ cốc thô không có sự hổ trợ của hoá chất. Như vậy, cùng một loại rau quả hoặc ngủ cốc, cùng một loại thổ nhưởng, nhưng kết quả có thể khác nhau, hoặc có lợi hoặc có hại cho sức khoẻ tuỳ theo quá trình chăm bón, bảo quản, vận chuyển có qua xử lý bằng các loại hoá chất hay không.
Nguồn năng lượng chánh phòng chống ung thư đến từ ngủ cốc và các loại hạt toàn phần

Ngủ cốc thô hay còn gọi là ngủ cốc toàn phần là những loại ngủ cốc còn nguyên phần mài và lớp vỏ ngoài như gạo lức, lúa mạch, bắp nguyên hạt, bánh mì đen. Ngủ cốc thô nên được dùng để thay thế dần những loại gạo trắng hoặc thực phẩm tinh lọc như bún, mì, phở, hủ tiếu, các loại bánh.  Ngủ cốc thô là nguồn cung cấp năng lượng ở dạng carbohydrate phức hợp bao gồm nhiều chất xơ, các sinh tố nhóm B, khoáng chất và nhiều nguyên tố vi lượng  cần thiết cho sức khoẻ.  Đối với tính năng chống ung thư, những nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc trường Đại học London cho biết chế độ ăn nhiều các loại đậu và ngủ cốc thô có giá trị chống ung thư là do những thức ăn nầy chứa nhiều hợp chất Inositol Pentakisphosphate có tính năng ức chế được enzym phospho inositide 3-kinase vốn thúc đẩy sự phát triển các khối u ung thư.  Chất xơ có nhiều trong hạt và ngủ cốc toàn phần cũng có giá trị đặc biệt.  Chất xơ không bị hoà tan, không được hấp thu , góp phần tạo ra chất bả có tác dụng kích thích nhu động ruột , thúc đẩy nhanh sự lưu thông trong ruột già, chống táo bón, làm giảm thời gian tiếp xúc của các chất gây ung thư với niêm mạc ruột, chất xơ còn có thể kết dính những chất độc hại để bài tiết theo phân ra ngoài.  Do đó chất xơ cũng góp phần quan trọng trong việc phòng chống ung thư.

Đối với nguồn chất đạm, các nghiên cứu về dinh dưỡng khuyên nên dùng các loại đậu như đậu đen, đậu xanh, đậu đỏ, đậu Hoà lan, đặc biệt là đậu nành.  Đậu toàn phần là nguồn thực phẩm giàu chất đạm dễ chuyển hoá lại chứa nhiều chất xơ, nhiều sinh tố nhóm B, khoáng chất và những chất chống oxy hoá isoflovonoids góp phần chống lại các bệnh ung thư.

Ngoài ra, thực đơn phòng chống ung thư còn xử dụng một số loại hạt và quả hạch như quả óc chó , hạt lanh, hạt hạnh nhân, hạt dẻ, hạt mè, hạt bí rợ, hạt hướng dương.  Những loại hạt nầy là một nguồn cung cấp năng lượng dưới dạng acid béo hửu ích.  Trong nhiều loại hạt nầy có chứa  oestrogen thực vật thường gọi là lignan có tác dụng thu nhỏ khối u ung thư.  Một báo cáo tại cuộc hội thảo về ung thư vú vào tháng 12/2000 tại San Antonio, Mỷ đã cho biết các bệnh nhân ung thư vú dùng 25g hạt lanh mỗi ngày trong khỏang 38 ngày  đã có tác dụng làm  thu nhỏ khối u ung thư rõ rệt tương tự như những người đã dùng thuốc tamoxifen.  Ngoài oestrogen thực vật, các loại hạt nhiều chất béo còn cung cấp chất xơ, nhiều chất chống oxy hoá như selenium, magnesium, sinh tố E và acid béo omega 3 có lợi cho hoạt động của tim mạch và hệ thần kinh.  Cần dùng nhiều loại hạt cũng như nhiều loại đậu và rau quả, củ khác nhau nhằm tạo sự đa dạng sinh học để đáp ứng đủ những nhóm chất cần thiết cho nhu cầu biến dưỡng của cơ thể.  Liều các loại hạt và quả hạch được đề nghị là khoảng 25g đến 30g mỗi ngày.  Với chế độ dinh dưỡng lành mạnh, không dùng thịt cá, các nguồn thực phẩm chủ yếu được khuyến cáo ở tỷ lệ 50% ngủ cốc, 20% đậu, phần còn lại là rau quả, củ.
Giảm bớt hoặc chấm dứt hẳn việc tiếp xúc với các yểu tố gây ung thư hoặc làm suy giảm hệ miển dịch

Việc tăng cường sức phòng vệ cơ thể thông qua những loại thực phẩm có nhiều chất chống oxy hoá chỉ có ý nghĩa thiết thực khi được thực hiện song song với những biện pháp nhằm giảm việc tiếp xúc  với các yếu tố gây ung thư hoặc làm gia tăng các gốc tự do trong cơ thể.

·        Không hút thuốc. Thuốc lá là nguồn cung cấp những gốc tự do lớn nhất.  Có hàng ngàn chất độc hại trong những điếu thuốc lá.  Một so sánh còn nói rằng hút một hơi thuốc còn độc hại hơn gấp 600 lần so với hít phải một hơi khói thải từ xe cộ.  Hút thuốc không những gây hại cho bản thân  mà còn làm khói thuốc lan toả có hại cho những người chung quanh.

·        Không ăn các loại thực phẩm để qua đêm. Các loại thức ăn, thức uống thiu, ôi có nhiều nấm mốc có thể tiết ra độc tố aflatoxin dễ dẫn đến  ung thư.

·        Tránh ăn các loại thực phẩm đã qua chế biến với các phụ gia, hoá chất, các loại đồ hộp, nước uống đóng chai.  Các hoá chất nitrits, nitrats hoặc bất cứ loại nào  khác  được xử dụng để làm cho thực phẩm lâu hư, thêm độ dai, dòn, chất tẩy trắng hoặc chất tạo màu    đều là những tác nhân dễ dẫn đến các loại ung thư miệng, ung thư thực quản, dạ dầy.  Những loại dưa muối thường có hàm lượng cao chất nitrosamin cũng được cho là có liên quan dến ung thư vòm họng, dạ dầy.

·        Giảm thiểu các loại thức ăn nướng, quay, hun khói.  Các loại thức ăn trực tiếp với lửa  và những thực phẩm chiên, xào lâu hoặc với độ nóng cao trên 250o dù với mở động vật hay với dầu thực vật đều có thể sinh ra những chất độc hại dễ dẫn đến ung thư.  Khi chiên các loại thực phẩm, nên loại bỏ phần dầu thừa bằng cách dùng giấy thấm  chuyên dụng của nhà bếp để thấm qua một lần trên những thức ăn vừa chiên xong.

·        Giảm bớt việc ăn các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt ngựa,  thịt cừu.  Thống kê của tổ chức y tế thế giới cho biết bệnh tim mạch và ung thư thường tỷ lệ thuận với việc ăn nhiều các loại thịt đỏ.  Chẳng hạn ung thư ruột dễ xuất hiện ở các cộng đồng ăn thịt nhiều ở Bắc Mỷ và Tây Âu hơn là  những vùng ăn chay ở Ấn độ.  Dân Scotland ăn thịt bò nhiều hơn 20% so với người Anh cũng có tỷ lệ ung thư ruột cao nhất thế giới.  Các chuyên viên tại viên ung thư Dana Farber ở Mỷ đã tiến hành khảo sát 1009 bệnh nhân ung thư ruột già giai đoạn 3 đã trải qua điều trị phẩu thuật và hoá trị.  Kết quả cho thấy những người ăn nhiều chất béo và thịt đỏ có nguy cơ tái phát bệnh và tử vong cao gấp 3,3 lần so với những người ăn cá và rau quả.  Đối với người đang được điều trị ung thư tốt nhất là nên chấm dứt hẳn việc ăn thịt đỏ.  Nếu cần ăn chất đạm động vật, chỉ nên ăn cá và một ít thịt trắng như gà, bồ câu đã bỏ da và nội tạng.  Cá là một nguồn chất đạm dễ tiêu hoá lại chứa nhiều acid béo omega 3.  Người ta khuyên nên ăn cá ít nhất 3 lần một tuần.  Cá có tác dụng giảm trầm uất và điều hoà được lượng cholesterol trong máu.  Riêng với trứng, người ta khuyên không nên ăn nhiều.  Đối với người đang được điều trị ung thư càng không nên ăn.  Trứng là một nguồn đạm động vật có hàm lượng cholesterol rất cao.  Ăn trứng nhiều cũng có liên quan đến các bệnh ung thư ruột, ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến.

Ngòai ra, chế độ ăn uống phòng chống ung thư cũng bao gồm những khuyến cáo thông thường của một chế độ ăn uống lành mạnh như không ăn mặn, ăn ít đường, ít mở, hạn chế bia, rượu, năng vận động thân thể và duy trì một tinh thần lạc quan và tâm lý thoải mái.  Yếu tố tâm lý luôn được xem trọng trong mọi giai đoạn của bệnh tật.  Stress làm suy giảm hệ miển dịch và làm gia tăng nhu cầu chất chống oxy hoá.  Ngược lại, sự thư giãn và lạc quan giúp điều hoà nội tiết, nội tạng, gia tăng sức đề kháng và làm giảm nhu cầu chuyển hoá.  Tuy nhiên, một cơn giận có thể chưa đủ để gây ra bệnh tật.  Thỉnh thoảng ăn một bửa ăn thịnh soạn với thịt nướng hoặc vài món ăn có hoá chất phụ gia cũng khó đưa đến ung thư.  Điều quan trọng là sự hiểu biết và cảnh giác cần thiết trong chế độ ăn uống sinh hoạt thường nhật để xây dựng được một chính khí đủ mạnh để vượt thắng những tà khí bất chợt thỉnh thoảng vẫn gặp phải  trong cuộc sống.
Có trường hợp ung thư nào được chữa khỏi chỉ bằng liệu pháp tự nhiên?

Như đã nói ở phần đầu bài viết, nếu vừa  tăng cường được hệ miển dịch và chống lại sự phát triển của bệnh bằng những chất chống oxy hoá, vừa chấm dứt  việc tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư thì việc khỏi bệnh chỉ là một quy luật tự nhiên.  Ngày nay có rất nhiều người đã tự chữa khỏi bệnh chỉ bằng cách nầy.  Tại Việt Nam, thỉnh thoảng báo chí có đưa tin và bài về những trường hợp cụ thể đã khỏi bệnh ung thư bằng “gạo lức muối mè”.  Trên bình diện quốc tế có lẻ 3 trường hợp sau đây được nhắc đến nhiều nhất.

·        Giáo sư Oshawa (1893-1965) là một người Nhật, ông bị ung thư phổi và dạ dầy từ năm 17 tuổi.  Ông đã tự chữa khỏi cho mình bằng chế độ ăn uống cân bằng Âm Dương, nhiều ngủ cốc và rau quả toàn phần  không có hoá chất.  Sau đó ông đã viết sách và đi nhiều nơi trên thế giới để diển giảng và quảng bá về cách chữa bệnh nầy.  Cần nói thêm, những lý thuyết về gốc tự do và những chất chống oxy hoá chưa được đề cập đến trong thời gian nầy.

·        Bác sĩ Anthony Sattilaro, một người Mỷ, là Giám Đốc một Bệnh viện lớn Philadelphia.  Ông đã từng bị ung thư di căn đến nhiều bộ phận trong cơ thể, đã trải qua 3 lần giải phẫu.  Ông đã khỏi bệnh hoàn toàn sau 7 tháng được  hướng dẫn điều trị theo cách của ông Oshawa.

·        Ian Gawler là một Bác sĩ thú y người Úc.  Ông đã bị ung thư xương và đã bị cưa chân vào năm 1975 khi ông chỉ mới 25 tuổi.  Vào cuối năm đó, ông bắt đầu một chương trình tự điều trị ung thư cho mình bằng liệu pháp chỉnh thể của phương Đông dưới hình thức ăn chay, thái độ sống tích cực, thiền và sinh hoạt nhóm.  Đến năm 1978, Gawler hoàn toàn bình phục.  Trên cơ sở những kinh nghiệm của mình, ông đã lập nên nhóm hành động hổ trợ ung thư (Cancer Support Group).  Đến năm l983, tổ chức The Gawler Foundation, một tổ chức phi chánh phủ, phi lợi nhuận được chính thức ra đời nhằm tư vấn, giúp đở cho những bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân ung thư.  Đến nay trên 50.000 người đã tham dự những chương trình huấn luyện hoặc giới thiệu về thiền, về lối sống lành mạnh để phòng bệnh hoặc chữa bệnh của tổ chức nầy.

Lương y VÕ HÀ
(KhamChuaBenh)



Ung thư không tự nhiên sinh ra, cũng không phát triển thình lình  mà là kết quả  của một sự tương tranh dai dẳng giữa hệ miển dịch của cơ thể đã bị suy yếu và quá trình tiếp xúc lâu dài với các nhân tố gây ung thư.  Do đó chống ung thư cũng phải dựa vào cơ chế đối kháng nầy.  Một mặt tăng cường hệ miển dịch và ngăn chận ung thư bằng các chất chống oxy hoá từ rau quả và ngủ cốc, mặt khác cần giảm bớt hoặc chấm dứt hẳn việc phơi nhiễm hoặc tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư.

Tương quan chính và tà trong cuộc chiến chống ung thư trong cơ thể

Thông thường, các tế bào trong cơ thể đều có một tuổi thọ nhất định và bị chi phối bởi một quy luật chung.  Sinh ra, phát triển và hư hoại.  Khi một tế bào chết đi sẽ  được thay thế bởi một tế bào mới sinh ra.  Quá trình phát triển ổn định và có giới hạn nhằm duy trì hoạt động sống của mọi tổ chức, cơ quan trong cơ thể.  Tuy nhiên trong những trường hợp nhất định, do sức đề kháng của cơ thể suy yếu và dưới tác động lâu dài của nhân tố gây ung thư, một số tế bào phát triển bất thường, sinh sôi tràn lan, gia tăng không hạn chế trở thành tế bào ung thư, khối u ung thư.  Tuỳ theo vị trí của khối u, sự phát triển bất thường nầy có thể xâm lấn, chèn ép hoặc phá huỷ cơ cấu hoặc làm rối loạn công năng của các cơ quan.

Theo các nhà khoa học, dù chưa xác định được cụ thể nguyên nhân gây ra ung thư nhưng chúng ta đã biết được hàng loạt nhiều yếu tố khác nhau có thể dẫn đến ung thư.  Những tác nhân gây ra ung thư có thể là rượu, khói thuốc, bức xạ, ánh nắng mặt trời, đặc biệt là những thức ăn thức uống bị nhiễm hoá chất độc hại trong quá trình nuôi trồng hoặc chế biến, vận chuyển, bảo quản.  Ung thư phát triển qua nhiều giai đoạn.  Giai đoạn tiềm ẩn có thể kéo dài nhiều năm trời, thậm chí 10 năm, 20 năm hay hơn nửa trước khi khối u to lớn đủ để được phát hiện.  Sự phơi nhiễm các yếu tố gây ung thư cũng không phải trong một gian đoạn ngắn .  Chẳng hạn đối với bệnh ung thư vú, một loại ung thư thường gặp ở nử giới, Bác sĩ John Muir, một chuyên gia về ung thư ở Trung Tâm Y khoa Walnut Creek, California cho rằng dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh của loại ung thư nầy và “thực phẩm mà mà người bệnh ăn uống trong khoảng một năm trước khi được chẩn đoán có thể không có ý nghĩa bằng những loại thực phẩm mà họ sử dụng trong suốt 10 hay 20 năm trước đó.”   Ngoài ra, những người khoẻ mạnh đều có thể đã trải qua một đôi lần có sự phát triển rối loạn của những tế bào bất thường –tương tự như sự phát triển của tế bào ung thư- Tuy nhiên, những lúc đó sức đề kháng tự nhiên của cơ thể đã vượt thắng, khống chế và tiêu diệt chúng trước khi những tế bào nầy có điều kiện chuyển biến thành tế bào ung thư.

Những điều trên đã cho thấy ung thư không tự nhiên sinh ra, cũng không phát triển thình lình mà là kết quả của một sự tương tranh lâu dài giữa hai thế lực chánh và tà.  Chánh là hệ thống phòng vệ của cơ thể.  Tà là chỉ những tác nhân gây ra ung thư.  Trong quan hệ giữa chính khí và tà khí, Đông y cho rằng khi chính khí thắng tà khí tất sẽ rút lui và con người sẽ không còn bệnh tật.  Do đó, nếu ta có thể thông qua luyện tập dưỡng sinh, thông qua chế độ ăn uống để vừa tăng cường được chính khí lại vừa giảm bớt hoặc chấm dứt hắn việc bị phơi nhiễm tà khí thì việc bảo đảm thắng lợi trong cuộc chiến chống ung thư chỉ là một quy luật tự nhiên.
Tăng cường hệ thống phòng vệ cơ thể bằng chế độ ăn uống có nhiều chất chống oxy hoá

Trong 2 thập niên qua, các nhà khoa học đã đặc biệt quan tâm đến những hậu quả của những gốc tự do gây ra cho cơ thể và xem việc bổ sung những chất chống oxy hoá từ nguồn thực phẩm tự nhiên như là biện pháp chủ yếu để nâng cao sức miển dịch trong việc phòng chống bệnh tật bao gồm cả bệnh ung thư.
Cơ chế gây lão hoá và suy giảm hệ miển dịch của những gốc tự do

Bình thường, oxy tham gia vào quá trình chuyển hoá để tạo ra năng lượng giúp cơ thể hoạt động.  Tuy nhiên có khoảng một vài phần trăm oxy tham gia vào quá trình này đã không tạo ra năng lượng mà tạo ra các gốc tự do.  Có thể nói gốc tự do là một loại sản phẩm không hoàn hảo trong chu trình biến dưỡng bình thường của cơ thể.  Gốc tự do càng gia tăng nhiều hơn trong điều kiện ăn uống hoặc sinh hoạt trong môi trường bị ô nhiễm khói thuốc lá, bức xạ hoặc những hoá chất độc hại hoặc căng thẳng tâm lý.  Về mặt hoá học, gốc tự do là những thành phần phân tử có những nguyên tử bị thiếu mất l điện tử ở vòng ngoài cùng.  Do đó, phân tử nầy có khuynh hướng di chuyển tự do để chiếm đoạt một điện tử của một phân tử khác để tự ổn định.  Như vậy điều nguy hiểm của gốc tự do không phải là huỷ diệt tế bào mà là làm tổn thương tế bào để đến phiên tế bào bị tổn thương -một gốc tự do mới- lại oxy hoá một tế bào khác và phản ứng dây chuyền cứ tiếp tục xảy ra.  Qua cơ chế nầy, các gốc tự do đã tham gia phản ứng với các chất hửu cơ gây tổn thương màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi chất giữa tế bào với bên ngoài và nguy hiểm hơn, các gốc tự do có thể làm thay đổi cấu trúc gen của tế bào.  Do đó các gốc tự do là mầm mống quan trọng dẫn đến nhiều thứ bệnh tật khác nhau như tim mạch, parkinson, alzheimer và cả ung thư.
Rau quả có màu xanh đậm, vàng hoặc đỏ là nguồn cung cấp chất chống oxy hoá và ngăn chận ung thư quan trọng

Điều may mắn là thiên nhiên đã có sẳn một cơ chế để kềm hảm sự phảt triển của những gốc tự do.  Đó là những chất chống oxy hoá được cung cấp từ các loại rau quả và ngủ cốc trong tự nhiên.  Có hàng ngàn chất chống oxy hoá khác nhau. Chúng thuộc 2 nhóm chính, nhóm flavonoids và nhóm phytochemicals.  Những chất chống oxy hoá ngoài tác dụng trung hoà các gốc tự do bằng cách nhường một điện tử của mình cho chúng qua đó có thể cắt đứt phản ứng dây chuyền, ngăn chận tổn thương DNA do các độc chất gây ra còn có thể khống chế sự phát triển của tế bào ung thư.  Càng ngày càng có nhiều nghiên cứu về tác dụng kỳ diệu của những chất chống oxy hoá.  Nhiều sinh tố và khoáng chất là những chất chống oxy hoá.  Các chất quan trọng nhất là sinh tố A, beta caroten (một sắc tố thực vật sẽ được cơ thể chuyển hoá thành sinh tố A), sinh tố C, E, khoáng chất selenium.  Thứ đến là sinh tố B2, kẻm, đồng, magnesium, co-enzym Q10, các carotenoids lutein và lycopen.  Nhiều nghiên cứu khác nhau đã cho biết ăn rau quả nhiều có thể giúp chống lại các loại ung thư, nhất là 2 loại ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến.  Các nhà khoa học đặc biệt lưu ý đến bông cải và các loại cải bắp.  Những loại thức ăn nầy đóng vai trò quan trọng giúp ngăn ngừa ung thư vú cho những phụ nử sắp mãn kinh.  Bông cải có chứa nhiều sinh tố C, acid folic, potasium, nhiều carotenoids và chất indole-3-carbinol, một chất cần thiết cho sự chuyển hoá các hormone sinh dục.  Cải bắp có nhiều sinh tố B1, C, E, acid folic, caroten và S-methylmethionine, một chất có tác dụng kháng viêm.  Bông cải và các loại cải bắp còn có hàm lượng chất isothiocyanates, một loại phytochemical có tác dụng hoạt hoá một số enzym có khả năng làm vô hiệu hoá những hoá chất gây ra ung thư.  Một báo cáo của trường đại học Illinois còn cho biết một loại isothiocyanate được tìm thấy trong các loại bắp cải và bông cải có tên là sulphoraphane có tác dụng ngăn chận sự phát triển của tế bào ung thư ở giai đoạn cuối.  Qua nghiên cứu chế độ ăn của 20.000 người, những nhà nghiên cứu thuộc viện ung thư quốc gia Mỷ ở Maryland cho biết những người ăn nhiều bông cải có thể giảm nguy cơ  ung thư tiền liệt tuyến từ 45% đến 52%.  Bông cải, cải bắp, các loại rau xanh, những loại đậu và những sản phẩm từ đậu nành còn có nhiều acid folic, một chất chống oxy hoá rất thiết yếu cho cơ thể.  Acid folic là một yếu tố quan trọng trong sự phân chia và phát triển tế bào mới, trong sự tổng hợp DNA, sản xuất enzym và sinh ra hồng cầu.  Acid cũng đặc biệt hiệu quả để chống lại các vết loét trong giai đoạn tiền ung thư.  Về tầm quan trọng của acid folic trong việc chống ung thư, Tiến sĩ Judith Christman, trường Đại học Nebraska cho biết “Khi thức ăn thiếu acid folic, cơ cấu DNA của tế bào sẽ bị phá vở.  Lúc đó, các tế bào sẽ phát triển trên cơ sở những thông tin sai lầm của cấu trúc mới nên ung thư  xảy ra.”

Nhiều loại rau qủa khác cũng có tác dụng ngăn chận sự phát triển của các loại ung thư ruột già, ung thư vòm họng,  ung thư phổi hoặc bao tử. Nhiều nghiên cứu đã đưa đến những kết quả giống nhau về những loại rau quả, củ có lá màu xanh đậm, màu vàng hoặc màu đỏ như cà chua, bông cải, cà rốt, sơ ri, gấc , bí đỏ, dưa hấu, khoai lang …Những loại rau quả nầy đều có khả năng làm giảm nguy cơ các loại ung thư.  Riêng trong quả gấc, những nghiên cứu của công ty  San Eigen FFI, một công ty phẩm màu hàng đầu của Nhật bản đã cho biết ngoài hàm lượng rất cao chất caroten, gấc còn có tỷ lệ chất lycopen cao gấp 10 lần so với rau quả thông thường.  Lycopen có trong cà chua, dưa hấu, dưa hồng, là hợp chất có tác dụng kềm hảm sự lan toả của tế bào ung thư.

Những nhà khoa học trường Đại học Ohio, Mỷ còn đặc biệt lưu ý đến những hợp chất tạo màu sắc sậm trong rau quả.  Những thí nghiệm trên chuột và người đều cho thấy chất tạo màu sẫm  có hợp chất anthocyanin trong các loại rau màu đỏ, màu tía và màu xanh có khả năng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư.  Chẳng hạn, chất anthocyanin trong cà rốt và củ cải, quả dâu tây có thể làm giảm sự phát triển của tế bào ung thư từ 50 đến 80%.

Ngoài ra, tập quán uống trà cũng có ảnh hưởng tốt đến việc phòng chống ung thư.  Theo nghiên cứu của Tiến sĩ Weisburger, cả trà xanh và trà đen đều có hàm lượng cao những chất phytochemicals là  những chất chống oxy hoá có khả năng hoá giải những gốc tự do và ngăn chận tổn thương tế bào do khói thuốc lá hoặc những độc chất hoá học.  Mới đây, một thí nghiệm khoa học tại trường Đại học Arizona, Mỷ do Tiến sĩ Sherry Chow chủ trì cũng cho thấy trà xanh có nhiều hoạt chất epigallocatechin gallate, một chất chống oxy hoá.  Những người uống từ 8 đến 16 tách trà xanh mỗi ngày có thể bổ sung một lượng chất epigallocatechin gallate đủ để làm gia tăng đến 80% loại enzym GST, một enzym có tính năng giải độc và chống ung thư.  GST có khả năng biến đổi những phân tử gây ung thư thành những phân tử trơ không ảnh hưởng đến chất liệu cấu tạo di truyền DNA.  Người ta cho rằng những dân tộc châu Á như Trung quốc, Nhật bản có tỷ lệ tim mạch và ung thư thấp hơn so với người Âu Mỷ một phần có thể là nhờ vào tập quán hay uống trà.

Vậy liệu ăn bao nhiêu thì đủ. Theo khuyến cáo của các chuyên viên dinh dưỡng Liên Hiệp Quốc, mỗi người nên ăn khoảng 400g rau quả mỗi ngày. Ngoài ra, điều cần lưu ý là giá trị của  các loại rau quả khác nhau không chỉ ở chủng loại mà còn ở  cách trồng trọt, chăm bón và cả qúa trình chế biến .  Một nghiên cứu kéo dài 10 năm của các nhà khoa học trường Đại học California, Mỷ đã cho biết cà chua được chăm bón bằng phân hửu cơ theo lối truyền thống  có hàm lượng hợp chất flavonoids, một chất chống oxy hoá, cao gấp 2 lần so với cách trồng trọt  thông thường hiện nay. (Cách trồng  hiện nay thường xử dụng phân hoá học, thuốc trừ sâu rầy hoặc hoá chất kích thích tăng trưởng)  Ngoài ra, Hội Ung thư quốc gia Mỷ cũng nghiên cứu thấy  những người dùng các loại thực phẩm tự nhiên có chứa các sinh tố  B6, B12 và Folate sẽ giảm nguy cơ ung thư tuỵ tương ứng là 81%, 73% và 52%.  Ngược lại những người dùng các viên sinh tố tổng hợp  có các sinh tố trên chẳng những không giảm mà còn tăng nguy cơ ung thư tuỵ lên đến 139%.  Những kết quả nầy cũng phù hợp với những khuyến cáo cách đây trên 40 năm của Giáo sư Oshawa khi ông đề ra Macrobiotics, một phương pháp chữa bệnh  dưỡng sinh bằng cách ăn các loại rau quả và ngủ cốc thô không có sự hổ trợ của hoá chất. Như vậy, cùng một loại rau quả hoặc ngủ cốc, cùng một loại thổ nhưởng, nhưng kết quả có thể khác nhau, hoặc có lợi hoặc có hại cho sức khoẻ tuỳ theo quá trình chăm bón, bảo quản, vận chuyển có qua xử lý bằng các loại hoá chất hay không.
Nguồn năng lượng chánh phòng chống ung thư đến từ ngủ cốc và các loại hạt toàn phần

Ngủ cốc thô hay còn gọi là ngủ cốc toàn phần là những loại ngủ cốc còn nguyên phần mài và lớp vỏ ngoài như gạo lức, lúa mạch, bắp nguyên hạt, bánh mì đen. Ngủ cốc thô nên được dùng để thay thế dần những loại gạo trắng hoặc thực phẩm tinh lọc như bún, mì, phở, hủ tiếu, các loại bánh.  Ngủ cốc thô là nguồn cung cấp năng lượng ở dạng carbohydrate phức hợp bao gồm nhiều chất xơ, các sinh tố nhóm B, khoáng chất và nhiều nguyên tố vi lượng  cần thiết cho sức khoẻ.  Đối với tính năng chống ung thư, những nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc trường Đại học London cho biết chế độ ăn nhiều các loại đậu và ngủ cốc thô có giá trị chống ung thư là do những thức ăn nầy chứa nhiều hợp chất Inositol Pentakisphosphate có tính năng ức chế được enzym phospho inositide 3-kinase vốn thúc đẩy sự phát triển các khối u ung thư.  Chất xơ có nhiều trong hạt và ngủ cốc toàn phần cũng có giá trị đặc biệt.  Chất xơ không bị hoà tan, không được hấp thu , góp phần tạo ra chất bả có tác dụng kích thích nhu động ruột , thúc đẩy nhanh sự lưu thông trong ruột già, chống táo bón, làm giảm thời gian tiếp xúc của các chất gây ung thư với niêm mạc ruột, chất xơ còn có thể kết dính những chất độc hại để bài tiết theo phân ra ngoài.  Do đó chất xơ cũng góp phần quan trọng trong việc phòng chống ung thư.

Đối với nguồn chất đạm, các nghiên cứu về dinh dưỡng khuyên nên dùng các loại đậu như đậu đen, đậu xanh, đậu đỏ, đậu Hoà lan, đặc biệt là đậu nành.  Đậu toàn phần là nguồn thực phẩm giàu chất đạm dễ chuyển hoá lại chứa nhiều chất xơ, nhiều sinh tố nhóm B, khoáng chất và những chất chống oxy hoá isoflovonoids góp phần chống lại các bệnh ung thư.

Ngoài ra, thực đơn phòng chống ung thư còn xử dụng một số loại hạt và quả hạch như quả óc chó , hạt lanh, hạt hạnh nhân, hạt dẻ, hạt mè, hạt bí rợ, hạt hướng dương.  Những loại hạt nầy là một nguồn cung cấp năng lượng dưới dạng acid béo hửu ích.  Trong nhiều loại hạt nầy có chứa  oestrogen thực vật thường gọi là lignan có tác dụng thu nhỏ khối u ung thư.  Một báo cáo tại cuộc hội thảo về ung thư vú vào tháng 12/2000 tại San Antonio, Mỷ đã cho biết các bệnh nhân ung thư vú dùng 25g hạt lanh mỗi ngày trong khỏang 38 ngày  đã có tác dụng làm  thu nhỏ khối u ung thư rõ rệt tương tự như những người đã dùng thuốc tamoxifen.  Ngoài oestrogen thực vật, các loại hạt nhiều chất béo còn cung cấp chất xơ, nhiều chất chống oxy hoá như selenium, magnesium, sinh tố E và acid béo omega 3 có lợi cho hoạt động của tim mạch và hệ thần kinh.  Cần dùng nhiều loại hạt cũng như nhiều loại đậu và rau quả, củ khác nhau nhằm tạo sự đa dạng sinh học để đáp ứng đủ những nhóm chất cần thiết cho nhu cầu biến dưỡng của cơ thể.  Liều các loại hạt và quả hạch được đề nghị là khoảng 25g đến 30g mỗi ngày.  Với chế độ dinh dưỡng lành mạnh, không dùng thịt cá, các nguồn thực phẩm chủ yếu được khuyến cáo ở tỷ lệ 50% ngủ cốc, 20% đậu, phần còn lại là rau quả, củ.
Giảm bớt hoặc chấm dứt hẳn việc tiếp xúc với các yểu tố gây ung thư hoặc làm suy giảm hệ miển dịch

Việc tăng cường sức phòng vệ cơ thể thông qua những loại thực phẩm có nhiều chất chống oxy hoá chỉ có ý nghĩa thiết thực khi được thực hiện song song với những biện pháp nhằm giảm việc tiếp xúc  với các yếu tố gây ung thư hoặc làm gia tăng các gốc tự do trong cơ thể.

·        Không hút thuốc. Thuốc lá là nguồn cung cấp những gốc tự do lớn nhất.  Có hàng ngàn chất độc hại trong những điếu thuốc lá.  Một so sánh còn nói rằng hút một hơi thuốc còn độc hại hơn gấp 600 lần so với hít phải một hơi khói thải từ xe cộ.  Hút thuốc không những gây hại cho bản thân  mà còn làm khói thuốc lan toả có hại cho những người chung quanh.

·        Không ăn các loại thực phẩm để qua đêm. Các loại thức ăn, thức uống thiu, ôi có nhiều nấm mốc có thể tiết ra độc tố aflatoxin dễ dẫn đến  ung thư.

·        Tránh ăn các loại thực phẩm đã qua chế biến với các phụ gia, hoá chất, các loại đồ hộp, nước uống đóng chai.  Các hoá chất nitrits, nitrats hoặc bất cứ loại nào  khác  được xử dụng để làm cho thực phẩm lâu hư, thêm độ dai, dòn, chất tẩy trắng hoặc chất tạo màu    đều là những tác nhân dễ dẫn đến các loại ung thư miệng, ung thư thực quản, dạ dầy.  Những loại dưa muối thường có hàm lượng cao chất nitrosamin cũng được cho là có liên quan dến ung thư vòm họng, dạ dầy.

·        Giảm thiểu các loại thức ăn nướng, quay, hun khói.  Các loại thức ăn trực tiếp với lửa  và những thực phẩm chiên, xào lâu hoặc với độ nóng cao trên 250o dù với mở động vật hay với dầu thực vật đều có thể sinh ra những chất độc hại dễ dẫn đến ung thư.  Khi chiên các loại thực phẩm, nên loại bỏ phần dầu thừa bằng cách dùng giấy thấm  chuyên dụng của nhà bếp để thấm qua một lần trên những thức ăn vừa chiên xong.

·        Giảm bớt việc ăn các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt ngựa,  thịt cừu.  Thống kê của tổ chức y tế thế giới cho biết bệnh tim mạch và ung thư thường tỷ lệ thuận với việc ăn nhiều các loại thịt đỏ.  Chẳng hạn ung thư ruột dễ xuất hiện ở các cộng đồng ăn thịt nhiều ở Bắc Mỷ và Tây Âu hơn là  những vùng ăn chay ở Ấn độ.  Dân Scotland ăn thịt bò nhiều hơn 20% so với người Anh cũng có tỷ lệ ung thư ruột cao nhất thế giới.  Các chuyên viên tại viên ung thư Dana Farber ở Mỷ đã tiến hành khảo sát 1009 bệnh nhân ung thư ruột già giai đoạn 3 đã trải qua điều trị phẩu thuật và hoá trị.  Kết quả cho thấy những người ăn nhiều chất béo và thịt đỏ có nguy cơ tái phát bệnh và tử vong cao gấp 3,3 lần so với những người ăn cá và rau quả.  Đối với người đang được điều trị ung thư tốt nhất là nên chấm dứt hẳn việc ăn thịt đỏ.  Nếu cần ăn chất đạm động vật, chỉ nên ăn cá và một ít thịt trắng như gà, bồ câu đã bỏ da và nội tạng.  Cá là một nguồn chất đạm dễ tiêu hoá lại chứa nhiều acid béo omega 3.  Người ta khuyên nên ăn cá ít nhất 3 lần một tuần.  Cá có tác dụng giảm trầm uất và điều hoà được lượng cholesterol trong máu.  Riêng với trứng, người ta khuyên không nên ăn nhiều.  Đối với người đang được điều trị ung thư càng không nên ăn.  Trứng là một nguồn đạm động vật có hàm lượng cholesterol rất cao.  Ăn trứng nhiều cũng có liên quan đến các bệnh ung thư ruột, ung thư vú và ung thư tiền liệt tuyến.

Ngòai ra, chế độ ăn uống phòng chống ung thư cũng bao gồm những khuyến cáo thông thường của một chế độ ăn uống lành mạnh như không ăn mặn, ăn ít đường, ít mở, hạn chế bia, rượu, năng vận động thân thể và duy trì một tinh thần lạc quan và tâm lý thoải mái.  Yếu tố tâm lý luôn được xem trọng trong mọi giai đoạn của bệnh tật.  Stress làm suy giảm hệ miển dịch và làm gia tăng nhu cầu chất chống oxy hoá.  Ngược lại, sự thư giãn và lạc quan giúp điều hoà nội tiết, nội tạng, gia tăng sức đề kháng và làm giảm nhu cầu chuyển hoá.  Tuy nhiên, một cơn giận có thể chưa đủ để gây ra bệnh tật.  Thỉnh thoảng ăn một bửa ăn thịnh soạn với thịt nướng hoặc vài món ăn có hoá chất phụ gia cũng khó đưa đến ung thư.  Điều quan trọng là sự hiểu biết và cảnh giác cần thiết trong chế độ ăn uống sinh hoạt thường nhật để xây dựng được một chính khí đủ mạnh để vượt thắng những tà khí bất chợt thỉnh thoảng vẫn gặp phải  trong cuộc sống.
Có trường hợp ung thư nào được chữa khỏi chỉ bằng liệu pháp tự nhiên?

Như đã nói ở phần đầu bài viết, nếu vừa  tăng cường được hệ miển dịch và chống lại sự phát triển của bệnh bằng những chất chống oxy hoá, vừa chấm dứt  việc tiếp xúc với các yếu tố gây ung thư thì việc khỏi bệnh chỉ là một quy luật tự nhiên.  Ngày nay có rất nhiều người đã tự chữa khỏi bệnh chỉ bằng cách nầy.  Tại Việt Nam, thỉnh thoảng báo chí có đưa tin và bài về những trường hợp cụ thể đã khỏi bệnh ung thư bằng “gạo lức muối mè”.  Trên bình diện quốc tế có lẻ 3 trường hợp sau đây được nhắc đến nhiều nhất.

·        Giáo sư Oshawa (1893-1965) là một người Nhật, ông bị ung thư phổi và dạ dầy từ năm 17 tuổi.  Ông đã tự chữa khỏi cho mình bằng chế độ ăn uống cân bằng Âm Dương, nhiều ngủ cốc và rau quả toàn phần  không có hoá chất.  Sau đó ông đã viết sách và đi nhiều nơi trên thế giới để diển giảng và quảng bá về cách chữa bệnh nầy.  Cần nói thêm, những lý thuyết về gốc tự do và những chất chống oxy hoá chưa được đề cập đến trong thời gian nầy.

·        Bác sĩ Anthony Sattilaro, một người Mỷ, là Giám Đốc một Bệnh viện lớn Philadelphia.  Ông đã từng bị ung thư di căn đến nhiều bộ phận trong cơ thể, đã trải qua 3 lần giải phẫu.  Ông đã khỏi bệnh hoàn toàn sau 7 tháng được  hướng dẫn điều trị theo cách của ông Oshawa.

·        Ian Gawler là một Bác sĩ thú y người Úc.  Ông đã bị ung thư xương và đã bị cưa chân vào năm 1975 khi ông chỉ mới 25 tuổi.  Vào cuối năm đó, ông bắt đầu một chương trình tự điều trị ung thư cho mình bằng liệu pháp chỉnh thể của phương Đông dưới hình thức ăn chay, thái độ sống tích cực, thiền và sinh hoạt nhóm.  Đến năm 1978, Gawler hoàn toàn bình phục.  Trên cơ sở những kinh nghiệm của mình, ông đã lập nên nhóm hành động hổ trợ ung thư (Cancer Support Group).  Đến năm l983, tổ chức The Gawler Foundation, một tổ chức phi chánh phủ, phi lợi nhuận được chính thức ra đời nhằm tư vấn, giúp đở cho những bệnh nhân, đặc biệt là những bệnh nhân ung thư.  Đến nay trên 50.000 người đã tham dự những chương trình huấn luyện hoặc giới thiệu về thiền, về lối sống lành mạnh để phòng bệnh hoặc chữa bệnh của tổ chức nầy.

Lương y VÕ HÀ
(KhamChuaBenh)



Thuốc azacitidine có thể kéo dài đáng kể cuộc sống cho những người bị rối loạn tủy, nguyên nhân thường dẫn đến bệnh ung thư bạch cầu dạng tủy cấp tính (AML).

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Đây là phát hiện của các nhà nghiên cứu trường Đại học Paris, công bố trên tạp chí y học "The Lancet" của Anh ra ngày 18/2.

Trong nghiên cứu lâm sàng, nhóm đã thử nghiệm azacitidine trên 358 bệnh nhân có nguy cơ cao phát triển AML. Một nửa trong số này được tiêm azacitidine 7 ngày/tháng trong vòng 6 tháng. Số còn lại được điều trị bằng các phương pháp thông thường như sử dụng thuốc giảm đau và hóa trị liệu.

Kết quả cho thấy những bệnh nhân sử dụng azacitidine sống lâu hơn 9 tháng so với những bệnh nhân được điều trị bằng các phương pháp thông thường.

Các nhà nghiên cứu cho biết azacitidine phát huy tác dụng rõ ràng chỉ sau 3 tháng điều trị và thời gian kéo dài sự sống có thể tăng gấp đôi nếu bệnh nhân được sử dụng thuốc trong vòng hai năm.

Thuốc này còn có tác dụng làm chậm lại thời gian phát bệnh 6 tháng và làm tăng cơ hội không phát triển bệnh AML hoàn toàn hoặc một phần.

Tuy nhiên, thuốc azacitidine cũng gây tác dụng phụ giống các biện pháp điều trị AML khác. Tần xuất phát sinh sự cố nghiêm trọng liên quan đến máu ở bệnh nhân sử dụng azacitidine cao hơn một chút so với những bệnh nhân được chỉ định sử dụng thuốc giảm đau, nhưng thấp hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng hóa trị liệu./.

(Theo TTXVN/Vietnam+)
Cao huyết áp còn gọi là tăng huyết áp và khái niệm thường dùng trong dân chúng là bệnh tăng xông (tension)

Cao huyết áp là bệnh lý thuờng gặp trong cộng đồng và gia tăng theo tuổi. Chiếm 8-12% dân số.Một số yếu tố nguy cơ làm gia tăng nguy cơ cao huyết áp như tiều đường, thuốc lá, tăng lipid máu, di truyền.Cao huyết áp là bệnh lý gây tử vong và di chứng thần kinh nặng nề như liệt nữa người, hôn mê với đời sống thực vật, đồng thời có thể thúc đẩy suy tim ,thiếu máu cơ tim làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng sống ( không cảm thấy khoẻ khoắn, mất khả năng lao động) và gia tăng khả năng tử vong.Do đó điều trị huyết áp cao là vấn đề cần lưu ý trong cộng đồng vì những hậu quả to lớn của nó.

Ngày nay với sự tiến bộ về kỷ thuật chẩn đoán (máy đo huyết áp phổ biến rộng rãi) và càng có nhiều loại thuốc điều trị ít tác hại, việc điều trị đã mang đến cho bệnh nhân sự cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm đáng kể tử vong và các di chứng(liệt nữa người, suy tim) do cao huyết áp gây nên.

Người bệnh cao huyết áp cũng cần quan niệm rằng cần phải chấp nhận việc điều trị tốn kém lâu dài để đổi lấy một cuộc sống an toàn. Cao huyết áp thường không triệu chứng do đó nhiều người chỉ nhận ra bản thân họ bị cao huyết áp khi họ bị tai biến mạch máu não (còn gọi là đột quî). Không thể căn cứ vào triệu chứng nhức đầu, chóng mặt để uống thuốc hạ áp bởi vì nhức đầu, chóng mặt không phải thường xuyên xuất hiện khi huyết áp tăng cao đột ngột và các triệu chứng này có thể gặp ở bệnh lý khác( ví dụ nhức đầu do căng thẳng,viêm xoang, và chóng mặt có thể do tụt huyết áp...).Tốt nhất nên thường xuyên kiểm tra huyết áp định kỳ với những người chưa cao huyết áp và khi nghi ngờ cao huyết áp cần đo huyết áp nhiều lần .Nếu huyết áp vẫn cao thì nên bắt đầu biện pháp điều chỉnh cách sống(tập thể dục, cai thuốc lá, điều chỉnh chế độ ăn) và xem xét điều trị thuốc.

Huyết áp không phải là con số hằng định

Trị số huyết áp thay đổi rất nhiều khi có yếu tố tác động như tâm lý(lo âu, sợ hãi, mừng vui...) vận động(đi lại , chạy nhảy) hoặc môi trường (nóng lạnh), chất kích thích(thuốc lá, càphê, rượu bia) và bệnh lý (nóng sốt, đau đớn).Trong những trường hợp trên, huyết áp thường tăng cao hơn bình thường.Ví dụ huyết áp của bạn lúc nghỉ thường 130/80mmHg khi bạn lên cầu thang lầu 3,nếu bạn đo huyết áp ngay thì trị số huyết áp của bạn có thể 150/80-180/90mmHg.Trong những trường hợp này không thể cho rằng bạn bị cao huyết áp.Do đó tốt nhất bạn phải nghỉ ngơi ổn định trước khi đo huyết áp nếu bạn muốn có trị số huyết áp trung thực và phải đo nhiều lần sau đó tính trung bình sau 3 lần đo.Bạn cũng đừng thắc mắc nhiều nếu huyết áp trước đó khác với trị số bây giờ.

Nhịp sinh học huyết áp của bạn thường dao động rõ rệt, huyết áp thường cao dần từ lúc bạn thức giấc và gia tăng tùy theo bạn vận động hoặc căng thẳng hay không. Vào chiều tối khi bạn nghỉ ngơi thư giãn huyết áp xuống nhẹ và sẽ xuống thấp nhất khi bạn ngủ say vào ban đêm cho đến gần sáng.Các nghiên cứu ghi nhận rằng ở người cao huyết áp mà huyết áp không hạ vào ban đêm hoặc hạ quá mức hoặc tăng vọt vào buổi sáng đều là yếu tố bất lợi vì dễ bị đột quî do cao huyết áp.

Khi nào gọi là cao huyết áp ?

Người ta thường dùng khái niệm huyết áp tâm thu (hoặc huyết áp tối đa) cho trị số huyết áp trên và huyết áp tâm trương (hoặc tối thiểu) cho trị số huyết áp dưới.Ví dụ khi bác sĩ của bạn ghi huyết áp của bạn : 180/95mmHg tức là huyết áp tâm thu (hoặc tối đa của bạn là 180mmHg và huyết áp tâm trương (hoặc tối thiểu) là 95mmHg.

Khi trị số huyết áp tâm thu > 140mmHg và huyết áp tâm trương >90 mmHg được xem là cao huyết áp.Đối với người già, dạng cao huyết áp phổ biến là cao huyết áp tâm thu đơn thuần tức là chỉ số huyết áp tâm thu >160mmHg nhưng huyết áp tâm trương không cao(<90mmHg).

Ở trẻ em trị số huyết áp có thấp hơn quy ước của người lớn.

Cách đo huyết áp:

Để có trị số huyết áp đúng, việc đo huyết áp là bước chẩn đoán quan trọng nhất vì tránh được việc điều trị quá mức hoặc không đầy đủ.Cần đo nhiều lần và nhiều vị trí khác nhau (2 tay, 2 chân) để so sánh đôi khi phát hiện bệnh lý mạch máu ví dụ như trong teo hẹp eo động mạch chủ huyết áp chi trên cao hơn chi dưới.
Đo huyết áp cần thực hiện trong phòng yên tỉnh, trạng thái tinh thần thoải mái.Tư thế đo huyết áp thông thường là tư thế nằm và ngồi để làm sao băng quấn cánh tay ngang mức với tim.Băng quấn cánh tay(cuff) phải phù hợp kích thứơc cánh tay. Trẻ em cần có băng quấn cánh tay kích thước nhỏ hơn.

Hướng dẫn đo huyết áp:
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Nên sử dụng máy đo huyết áp nào?

Máy đo huyết áp thủy ngân được xem là tiêu chuẩn. Ngày nay người ta giảm dần việc sử dụng máy đo huyết áp thủy ngân vì độc tính với môi trường.Các loại máy dạng đồng hồ thường phổ biến sử dụng trong giới thầy thuốc,trong khi đó các máy đo huyết áp điện tử thường sử dụng rộng rãi trong dân chúng vì dễ đo.Theo Uỷ Ban phối hợp quốc gia về cao huyết áp Hoa Kỳ(JNC)ø và Tổ chức Y tế Thế Giới(WHO), đối với máy đo huyết áp điện tử, chỉ nên sử dụng loại băng quấn cánh tay,không nên sử dụng cổ tay và ngón tay vì không chính xác.

Bạn có thể chọn máy đo huyết áp đồng hồ hoặc có thể máy đo điện tử để tự đo huyết áp ở nhà. Máy đo huyết áp đồng hồ thường kèm theo ống nghe thường giá rẽ hơn máy đo huyết áp điện tử nhưng đòi hỏi bạn phải được nhân viên y tế huấn luyện cách đo . Đối với máy đo huyết áp điện tử ưu điểm là dễ sử dụng , nhưng nhược điểm là các máy tại thị trường Việt nam chỉ có số ít Hãng như Omron là được kiểm định theo tiêu chuẩn Anh Mỹ.Khi chọn máy đo huyết áp điện tử các bạn nên chọn các loại máy đo huyết áp đã được các tổ chức uy tín kiểm định chất lượng. Hiện nay 2 tổ chức có uy tín trong kiểm tra chất lượng máy đo huyết áp là Hiệp hội cao huyết áp Anh quốc (British Hypertension Society) và Hiệp hội Phát triển Dụng cụ y tế Hoa kỳ (Association for Advancement of Medical Instrumentation).

Sau đây là một số máy đo huyết áp điện tử được khuyên dùng:

Loại tự động :

AND UA-767,và Sunbeam 7652

Omron HEM-711, Omron HEX -712

Omron HEM-705CP, Omron HEM-735C, Omron HEM-713C, Omron HEM -737 Intellisense,

Loại bán tự động(bơm tay) giá thành rẻ hơn:

AND UA -702, Omron HEM- 412C, Lumiscope 1065, Sunmark 144.

Một số máy có thể chấp nhận sử dụng:

Omron HEM 703CP, Omron M4, Omron MX2, Omron HEM-722C

Một số máy không chấp nhận sử dụng:

Philips HP5332, Nissei DS-175

Omron HEM 706, Omron HEM 403C

Bên cạnh đó một số máy ra đời sau này được cải tiến về chất lượng tốt hơn đã được bày bán trên thị trường nhưng chưa được kiểm định bởi 2 tổ chức trên. Do đó bảng trên đây chỉ có giá trị tham khảo.

Các xét nghiệm cần làm khi bạn bị cao huyết áp:

Xét nghiệm cơ bản đối với tất cả các bệnh nhân:

Tổng phân tích nước tiểu

Công thức máu toàn phần

Sinh hoá máu (kali, natri. creatinin, glucose, cholesterol toàn phần, HDL cholesterol)

ECG

Xét nghiệm tối ưu:

Độ thanh thải creatinine,vi đạm niệu, protein nước tiểu 24 giờ, calcium, axit uric , triglyceride lúc đói,LDL cholesterol, glycosolated hemoglobin, TSH,

siêu âm tim.

Xét nghiệm tìm nguyên nhân:

Huyết áp cao xãy ra >90% không tìm thấy nguyên nhân hay còn gọi là vô căn. Chỉ một số ít bệnh nhân cao huyết áp có nguyên nhân gây ra.Cao huyết áp có nguyên nhân cần nghi ngờ ở những bệnh nhân trẻ tuổi hoặc quá lớn tuổi, kém đáp ứng điều trị hoặc khởi phát cao huyết áp đột ngột. Do đó bác sĩ của bạn sẽ cho thêm những xét nghiệm tầm soát tốn kém hơn để tìm nguyên nhân của cao huyết áp và như vậy mới có thể giải quyết tận gốc nguyên nhân cao huyết áp.

Nếu huyết áp dao động nhiều có những cơn kịch phát kèm nhịp tim nhanh,vả mồ hôi, nhức đầu nhiều bác sĩ của bạn sẽ nghi ngờ khối u ở thượng thận tủy sẽ cho thêm các xét nghiệm: siêu âm thận tìm khối u vùng thượng thận và xét nghiệm catecholamine nước tiểu 24 giờ và chất chuyển hoá vanillyl madelic acid (VMA), chụp đồng vị phóng xạ MIBG

Nếu cao huyết áp kèm chênh lệch huyết áp chi trên và chi dưới hoặc mạch đùi khó bắt cần xem xét hẹp eo động mạch chủ .Có thể sử dụng siêu âm Doppler mạch máu ,chụp mạch máu chọn lọc DSA. chụp mạch bằng cộng hưởng từ(Magnetic Resonance Angiography).Những kỷ thuật này có thể sử dụng khi nghi ngờ hẹp Động mạch thận.

Các xét nghiệm Renin, Aldosterone và Cortisone cũng giúp ích nhiều trong xác định cao huyết áp do bệnh lý nội tiết tố như hội chứng Conn và Cushing...

Tại sao phải điều trị huyết áp cao?

Huyết áp cao thường gây tai biến nghiêm trọng như tử vong và hôn mê do tai biến mạch máu não, di chứng liệt nữa người, suy tim, thiếu máu cơ tim, suy thận, phinh bóc tách động mạch chủ... Do đó mục đích chính của điều trị cao huyết áp là để phòng ngừa những biến chứng này.

Thông qua trị số huyết áp được hạ bằng thuốc hạ áp chúng ta có thể nhận biết huyết áp có thể kiểm soát tốt hay không. Tốt nhất nên đưa trị số huyết áp về < 140/85mmHg;đối với người gia,ø trị số huyết áp ban đầu có thể đưa về <160/90mmHg sau đó điều chỉnh tùy theo sự chịu đựng của bệnh nhân.

Điều trị huyết áp cao là điều trị suốt đời,do đó khi huyết áp đã trở về gần bình thường cũng không nên ngưng thuốc hạ áp mà phải điều trị tiếp tục vì huyết áp gia tăng trở lại khi ngưng thuốc.Cần tham vấn thường xuyên bác sĩ của bạn khi huyết áp quá cao hoặc quá thấp trong quá trình điều trị.

Điều trị thuốc hạ áp có thể phối hợp các nhóm thuốc khác nhau để tăng hiệu quả và giảm tác dụng phụ (do sử dụng liều thấp).Cần lưu ý đến tác dụng phụ của thuốc khi điều trị đặc biệt là tụt huyết áp ở người già. Ơû người già, bác sĩ điều trị thường cho thuốc hạ áp với liều khởi đầu chỉ bằng nữa liều người trẻ vì người già dễ tụt huyết áp do thuốc hơn.

Ngoàøi việc điều trị huyết áp, cần lưu ý điều trị các yếu tố nguy cơ khác kèm theo như tiểu đường , tăng lipid máu...

Bạn sẽ được bác sĩ điều trị gì khi bạn bị cao huyết áp?

Thông thường khi đo trị số huyết áp của bạn cao >140/90nnHg với nhiều lần đo trong nhiều ngày bạn có thể được xem là cao huyết áp.Nếu huyết áp của bạn không cao lắm tức khoảng 140/90-150/95nnHg và tình trạng chung tốt và không mắc các bệnh làm xấu thêm tình trạng tim mạch.Bạn có thể không dùng thuốc mà cần phải điều chỉnh cách sống. Nếu huyết áp cao hơn hoặc không cải thiện thì có thể xem xét điều trị thuốc ngay sau khi cân nhắc cẩn thận.

Việc điều chỉnh các sống bao gồm:

Điều chỉnh chế độ ăn uống như giảm ăn mặn (<6g natri chlorua), giảm mỡ,giảm đường (nếu có tiểu đường), không uống quá nhiều bia rượu mặc dù uống với số lượng hạn chế cũng giúp có lợi cho sức khoẻ của bạn (chừng 15ml rượu ethanol, 360ml bia/ngày)

Tập thể dục đều đặn là cách thức giảm cân, hoạt động thể lực aerobic hàng ngày 30-45 phút hầu hết các ngày trong tuần.

Ngưng hút thuốc lá.

Đời sống tinh thần thoải mái nghỉ ngơi giải trí hợp lý

Điều trị thuốc hạ áp:

Bác sĩ của bạn sẽ điều trị bệnh cao huyết áp bằng thuốc cho bạn khi trị số huyết áp khá cao, huyết áp cao có ảnh hưởng tim,mắt ,thận , não.hay chưa cũng như kèm theo các bệnh liên quan khác (tiểu đường, tăng mỡ trong máu.)

Một số thuốc hạ áp thường dùng:

Nhóm thuốc lợi tiểu:

Furosemid(Lasix, Lasilix)

Hydrochlorothiazid(Hypothiazid)

Indapamid(Natrilix SR)

Nhóm thuốc ức chế can xi:

Nhóm Dihydropyridine : Nifedipine(Adalat,Procardia) chỉ nên sử dụng chế phẩm tác dụng kéo dài không nên sử dụng các chế phẩm tác dụng ngắn đặc biệt là dạng ngậm dưới lưởûi vì không an toàn (gia tăng cơn đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim và tử vong).

Felodipine(Plendil), Amlodipine(Amlor.Amdepin, Amlopress)

Nhóm Không Dihydropyridine :Tildiem(Tildiazem), Verapamil(Isoptin)

Nhóm thuốc ức chế men chuyển:

Captopril (Lopril), Enalapril (Renitec), Lisinopril (Zestril), Peridopril (Coversyl)

Nhóm thuốc ức chế bêta giao cảm:

Propranolol (Avlocardyl, Inderal), Atenolol (Tenormin), Metoprolol (Lopresor),Acebutolol (Sectral), Pindolol (Visken)

Việc lựa chọn thuốc hạ áp nào là phụ thuộc vào tình trạng huyết áp và tình trạng bệnh lý saün có( tuổi, bệnh tim, bệnh phổi,bệnh thận.).Ví dụ người có bệnh phổi như hen suyễn hoặc nhịp tim chậm(<60 lần/phút) thì không nên sử dụng thuốc ức chế bêta.Nhưng thuốc ức chế bêta có lợi hơn ở những bệnh nhân huyết áp cao kèm thiếu máu cơ tim mà nhịp tim nhanh. Người có suy tim thì thuốc ức chế men chuyển có lợi hơn. Thuốc ức chế can-xi Dihydropyridine thường được chỉ định rộng rãi vì ít tác dụng phụ, nhưng tốt nhất sử dụng dạng tác dụng kéo dài.Nhóm không Dihydropyridine (verapamil, diltiazem) có tác dụng tốt cao huyết áp kèm bệnh mạch vành , nhưng làm chậm dẫn truyền và suy giảm sức bóp của tim do đó cần thận trọng với blốc A-V, và suy tim.

Theo dõi hiệu quả điều trị:

Các cách thức theo dõi điều trị:

Đo huyết áp tại phòng khám:

Đây là cách thức thường áp dụng cho bệnh nhân. Nhược điểm là trị số huyết áp tại phòng khám thường cao hơn trị số thực sự 20-30mmHg, dù kỷ thuật đo của bác sĩ là đúng. Hiện tượng này còn gọi là hiệu ứng áo choàng trắng.Sự gia tăng huyết áp này là do tâm lý bệnh nhân khi đến môi trường y tế.Điều này làm bác sĩ thay đổi thuốc hoăïc tăng liều sẽ gây bất lợi là tụt huyết áp do điều trị quá mức.

Đo huyết áp tại nhà: Thật là lý tưởng nếu bệnh nhân tự đo huyết áp ở nhà nhiều lần trong ngày để kết hợp với trị số đo tại phòng khám. Với các máy đo huyết áp điện tử hiện nay( đặc biệt những máy có kiểm định chất lượng tốt) sẽ hổ trợ lớn cho bác sĩ và bệnh nhân theo dõi điều trị.Một khó khăn thường gặp là làm sao để bệnh nhân đo tại nhà đúng kỷ thuật và không phải tất cả bệnh nhân đều có maý đo huyết áp tại nhà dù giá máy hiện nay tương đối chấp nhận.

Đo huyết áp với kỷ thuật theo dõi huyết áp liên tục 24 giờ (ABPM) trong điều kiện ngoại trú:

Ngoài ra, khi bạn không có máy đo huyết áp tại nhà, bác sĩ của bạn có thể đề nghị bạn mang 1 máy đo huyết áp theo dõi liên tục 24 giờ (ambulatory blood pressure monitoring-ABPM), là máy đo huyết áp trong điều kiện ngoại trú. Đây là loại máy hoàn toàn tự động, ban ngày máy có thể đo mỗi 15 phút 1 lần và ban đêm mỗi 30 phút -1 giờ 1 lần đo.Sau đó 24 giờ sẽ nạp vào máy vi tính và bác sĩ chuyên trách sẽ in ra cho bạn 1 bảng kết quả đo và biểu đồ huyết áp dao động trong ngày.Nhờ số lần đo >60 lần/ ngày mà bác sĩ của bạn sẽ biết được chính xác hơn huyết áp của bạn đã trở về gần bình thường chưa và biết được thời điểm nào huyết áp bạn lên cao hoặc có tụt huyết áp không để điều chỉnh thuốc hạ áp cho bạn.Chi phí cho một lần đo 24 giờ chừng 200.000 đồng là tương đối cao nhưng hiệu quả đánh giá tình trạng huyết áp trong khi điều trị là khá lớn và cho đến nay đây là biện pháp tốt nhất để đánh giá hiệu quả điều trị so với đo huyết áp tại phòng khám hoặc tự đo tại nhà.

Hình 2: Một người cao huyết áp đang mang máy theo dõi huyết áp 24 giờ (ABPM)
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Điều trị cao huyết áp chỉ thật sự ích lợi khi trị số huyết áp được đưa về gần như bình thường.Với trị số này mới có thể ngăn ngừa biến chứng do cao huyết áp.Vấn đề quan trọng là việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân và sử dụng thuốc hợp lý của bác sĩ.Trong nhiều khảo sát gần đây cho thấy chỉ 40-50% bệnh nhân được điều trị cao huyết áp có trị số huyết áp trở về gần bình thường .Người cao huyết áp không tuân thủ đúng điều trị một phần do chưa hiểu hết tầm quan trọng của điều trị huyết áp, do công việc không tái khám và uống thuốc đúng giờ, chi phí thuốc và các xét nghiệm kèm theo trong mỗi lần khám khá đắt và tác dụng phụ của thuốc.

Việc theo dõi điều trị có hiệu quả hay không là vấn đề quan trọng.Có thể bạn tự đo huyết áp ở nhà trung bình > 3lần /ngày sau đó ghi vào sổ theo dõi huyết áp. Khi tái khám bạn nên đem theo để bác sĩ của bạn tham khảo kết hợp với trị số đo huyết áp tại phòng khám bệnh.

Mặc dù huyết áp bạn có thể đã ổn định trong giới hạn cho phép nhưng điều đó không có nghĩa là bạn tự ý ngưng thuốc. Bạn cần khám định kỳ tại bác sĩ chuyên khoa tim mạch mà bạn tin tưởng và tái khám ngay khi bạn thấy có thay đổi bất thường như choáng váng, khó thở...

Luôn luôn tìm nguyên nhân gây ra cao huyết áp:

Hầu hết các trường hợp cao huyết áp đều là không rõ nguyên nhân, do đó ngoài việc điều trị bằng thuốc hạ áp phải lưu ý đến điều trị các yếu tố nguy cơ như tiểu đường ,tăng lipid máu, giảm ăn mặn,chế độ ăn kiêng hợp lý, tập thể dục đều đặn.

Ở người trẻ hoặc người quá già có cao huyết áp cần lưu ý một số nguyên nhân mà việc điều trị can thiệp phẩu thuật có thể chửa trị khỏi hoàn toàn như hẹp eo động mạch chủ, hẹp động mạch thận,u tủy thượng thận.

(medic.com.vn)
Mùa đông là mùa dễ gây ra “trở ngại” cho người mắc bệnh cao huyết áp và cũng là mùa khó khống chế huyết áp nhất.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Nhiệt độ thấp - Thủ phạm gây cao huyết áp

Thời tiết lạnh, huyết áp không dễ khống chế, nguy hiểm chủ yếu là gây ra bệnh biến chứng. Do mùa đông nhiệt độ thấp, cơ thể vì muốn duy trì thân nhiệt ổn định, giảm bớt sự toả nhiệt, các mao mạch sẽ co lại khiến lực cản huyết quản điều tiết bên ngoài tăng lên. Đồng thời, nhiệt độ thấp nên ra mồ hôi ít, khiến dung lượng máu tăng lên. Nếu ăn quá nhiều các chất đường, béo... sẽ khiến khả năng hấp thụ và trữ nước trong cơ thể tăng, làm cho dung lượng máu trong cơ thể tăng theo. Thêm vào đó là sự tồn tại của các trạng thái tình cảm xảy ra hàng ngày trong cuộc sống như lo lắng, căng thẳng, tức giận… tất yếu sẽ làm cho huyết áp không dễ khống chế.

Trong trường hợp thời tiết thay đổi, tính giao động của huyết áp tăng cao, nguy cơ chủ yếu là gây ra bệnh biến chứng, đặc biệt là xuất huyết não, đứt mạch máu do thiếu máu và tử vong do nhồi máu cơ tim.

Thế nào là huyết áp bất thường?

Huyết áp của chúng ta thường có hai thời khắc “cao điểm”, đó là khoảng 9 giờ sáng và 6 giờ chiều.

Huyết áp tăng cao hay xuống thấp là tuỳ theo sự thay đổi của tinh thần và cơ thể, thông thường trong khi ngủ khoảng 3 - 4 giờ đêm là thấp nhất, sáng sớm dần dần tăng cao, đến 9 giờ sáng là ở đỉnh cao nhất. Buổi chiều xuống khá thấp, đến 6 giờ chiếu lại trở lại cao điểm và trước khi ngủ lại về “đáy”.
Nếu sự thay đổi huyết áp của một ngưòi không phù hợp với quy luật này, điều đó đã nói rõ huyết áp của người đó đã không khống chế được, cần phải điều chỉnh uống thuốc.

Vì thế, trước khi đi khám bác sỹ, nên ở nhà tự đo huyết áp của mình trước 1 tuần. Mỗi ngày kiểm tra 4 lần vào các thời điểm: sau khi thức dậy, 9 giờ sáng, 6 giờ chiều và 9 giờ tối. Ngoài ra cần chú ý: nếu vừa vận động thì nên nghỉ 10 phút,  sau đó mới kiểm tra huyết áp để có kết quả chuẩn xác.

5 nguyên tắc sống không thể bỏ qua

Ngoài yếu tố khí hậu, các thói quen sinh hoạt không tốt cũng có thể gây ra nguy hại cho người mắc bệnh cao huyết áp. Theo các chuyên gia, người bị bệnh cao huyết áp nên chú ý các nguyên tắc trong sinh hoạt hằng ngày sau:

1. Chú ý phòng lạnh giữ ấm, tránh gió lạnh.

2. Nghiêm khắc hạn chế lượng muối nạp vào cơ thể, mỗi ngày không nên ăn quá 6g. Nên ăn những thực phẩm giàu dinh dưỡng như thịt nạc, gà, cá, sữa và chế phẩm từ đậu. Hạn chế ăn những món ăn dầu mỡ, không hút thuốc, hạn chế uống rượu, và nên giữ cho đại tiện được thông suốt.

3. Kiên trì tập luyện thể thao, nâng cao khả năng chống lạnh, cố gắng hết sức để tham gia một số môn thể thao ngoài trời có lợi cho huyết áp như đi bộ, tập thái cực quyền và khí công...

4. Khống chế tâm trạng, tránh để thể lực và tinh thần rơi vào tình trạng quá mệt mỏi. Tức giận và lo lắng cực độ đều có thể gây ra đứt mạch máu não. Cần duy trì tâm trạng lạc quan vui vẻ, không đuợc quá vui vẻ, quá tức giận, lo lắng, buồn phiền, bi thương, sợ hãi.

5. Kiên trì uống thuốc, duy trì huyết áp ổn định. Người bị bệnh cao huyết áp uống thuốc giảm huyết áp không nên tuỳ tiện dừng uống bởi sẽ dễ tăng huyết áp đột biến sau 40 giờ ngừng uống thuốc.

(DanTri)
Ung thư gan là một loại ung thư đường tiêu hóa thường gặp. Tỷ lệ phát bệnh

cao ở vùng Châu Á và Châu Phi, tuổi trung niên và nam giới thường mắc bệnh cao hơn. Đặc điểm lâm sàng là vùng gan đau, gan to, cứng, bề mặt gồ ghề kèm theo sốt

vàng da, rối loạn tiêu hóa và xuất huyết.

Ung thư gan theo y học cổ truyền thuộc phạm trù chứng ‘Hoàng Đản’, ‘Cổ Trướng’, ‘Trưng Hà’, ‘Tích Tụ’...

Ung thư thường phân ra 3 thời kỳ:

- Kỳ I: Không có triệu chứng ung thư rõ rệt, biểu hiện sớm nhất là rối loạn tiêu hóa.

- Kỳ II: nặng hơn kỳ I nhưng chưa có triệu chứng đặc trưng.

- Kỳ III: cơ thể suy kiệt rõ, vàng da, bụng nước, có di căn. Thực tế lâm sàng, ung thư gan kỳ I và II rất ít được phát hiện và trên 90% là ung thư kỳ III vì thế bệnh kéo dài thường chỉ độ 3-4 tháng.

Triệu Chứng


1- Đau vùng gan: đau vùng hạ sườn phải, thường gặp vào thời kỳ giữa và cuối, đau tức hoặc như dao đâm. Thường trên nửa số bệnh nhân có đau vùng gan, đau xuyên lên vai phải và lưng.

2. Bung trên đầy tức, xuất hiện sớm, thường kèm theo những triệu chứng rối loạn tiêu hóa nhưng ít được chú ý, đến lúc muộn thì đã có nước bụng và cổ trướng.

3. Chán ăn là triệu chứng sớm nhất của bệnh nhưng ít được chú ý và dần dần xuất hiện buồn nôn, nôn, tiêu chảy nặng lên đã là giai đoạn cuối.

4. Những triệu chứng khác như mệt mỏi, sút cân, sốt và xuất huyết là nhúng triệu chứng của thời kỳ cuối mà tiên lượng đã rất xấu.

5. Gan to (khối u vùng bụng trên) trên 90% số bệnh nhân đến khám là gan to, cứng, mặt gồ ghề hoặc ấn đau.

6. Lách to thường kèm theo và là kết quả của xơ gan.

7. Cổ trướng là triệu chứng của thời kỳ cuối, nước bụng thường màu vàng cỏ úa hoặc màu đỏ (có máu), thuốc lợi tiểu thường không có hiệu quả.

8. Hoàng đản (vàng da) do tắc mật và do tế bào hủy hoại nặng dần lên, mạch sao, thường xuất hiện vào thời kỳ cuối biểu hiện của xơ gan.

Chẩn Đoán Và Phân Biệt Chẩn Đoán

Các triệu chứng lâm sàng trên đây được quan sát và thăm khám đầy đủ giúp chẩn đoán bệnh được chính xác.

- Các phương tiện chẩn đoán hiện đại:

1- Siêu âm ký có giá trị chẩn đoán cao và không hại cho người bệnh.

2. Sinh thiết tế bào gan, soi ổ bụng, mổ bụng thăm dò là các phương pháp có thể thực hiện để xác định chẩn đoán.

3. Xét nghiệm máu: nồng độ phosphataza kiềm tăng.

4. Bản đồ rà gan bằng đồng vị phóng xạ.

5. CT (computed tomography).

Cần phân biệt chẩn đoán với:

a. Áp xe gan: đau nhiều, sốt cao, bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao...

b. Xơ gan: thường gan không to nhiều hoặc nhỏ hơn...

c. Ung thư gan thứ phát do di căn: có các triệu chứng của các loại ung thư, cần hỏi kỹ tiền sử bệnh và khám kỹ để phân biệt.

Điều Trị


Phẫu trị là phương pháp tốt nhất hiện nay đối với ung thư gan nhưng cắt bỏ phần gan bêïnh lý phải là tổn thương còn khu trú, chưa có di căn. Cho nên trên thực tế những trường hợp ung thư gan có chỉ định phẫu thuật tốt rất hiếm, tỷ lệ tái phát rất cao. Đối với xạ trị thì các tổn thương bệnh lý của ung thư ít nhạy cảm với tia và độ chịu đựng tia của gan thấp. Hóa trị cũng chỉ cho kết quả rất tạm thời, cho nên ở Trung Quốc, trên 90% bệnh nhân dùng Đông y hoặc Đông Tây y kết hợp.

Đíều trị ung thư gan bằng Đông y có thể chia làm 2 loại: biện chứng luận trị và dùng bài thuốc kinh nghiệm.

Có thể căn cứ theo các thời kỳ ung thư để có phương pháp biện chứng luận trị như sau:

1-Đối với ung thư gan kỳ l: Phẫu trị là chủ yếu, kết hợp dùng thuốc Đông y điều trị triệu chứng và ngăn chận tế bào ung thư phát triển. Có thể dùng bài Lục Vị Địa Hoàng Hoàn gia giảm.

2. Đối với ung thư kỳ II: Bệnh phát triển nhanh, phản ứng của cơ thể mạnh như gan to, cứng, nôn, tiêu chảy, sốt, ra mồ hôi... do can khí trệ, huyết ứ, can vị bất hòa.

Điều trị: Sơ can, lý khí, hoạt huyết, hóa ứ kiêm dưỡng âm, thanh nhiệt. Dùng bài Sài Hồ Sơ Can Tán gia giảm: Sài hồ 12g, Đương quy 20g, Bạch thược 20g, Chỉ xác 8g, Sinh địa 16g, Xuyên khung 8g, Hương phụ 8- 12g, Mẫu lệ 20g, Si nh Cam thảo 6g.

- Gia giảm: Sườn đau tức nhiều: thêm Đan sâm, Tam lăng, Nga truật, Địa miết trùng để hoạt huyết, hóa ứ. Bụng đầy, táo bón, rêu vàng, mạch Hoạt thêm: Sinh đại hoàng 6g, Chỉ thực, Hậu phác. Nhiệt độc thịnh, (sốt, miệng đắng, ra mồ hôi, bứt rứt, tiểu đỏ, mạch Huyền Sác thêm Đơn bì, Chi tử, Long đởm thảo, Thanh đại. Khí trệ nặng (ngực sườn tức đau, đầy, rêu trắng, mạch Huyền) thêm Uất kim, Diên hồ sách, Thanh bì Trần bì, Mộc hương. Âm hư thêm Nữ trinh tử, Câu kỷ tử, Địa cốt bì...

3. Đối với ung thư kỳ III: Cơ thể suy kiệt, gầy ốm, vàng da, cổ trướng, xuất huyết... Khí huyết đều suy tán thì khó trị.

Điều trị: Phù chính, khu tà, bổ khí âm kiêm hoạt huyết, chỉ huyết. Dùng bài Lục Vị Địa Hoàng Hoàn gia vị: Nhân sâm (sắc riêng) 8- 10g, Sinh hoàng kỳ 20g, Thục địa 16g, Sơn thù 10g, Hoài sơn 12g, Phục linh 12g, Đơn bì 12g, Trạch tả 12g, Sinh mẫu lệ 20g, Miết giáp 16g, Trần bì.

- Gia giảùm: Trường hợp âm hư nội nhiệt: Nhiêït thương huyết lạc gây huyết chứng như sốt thấp, người nóng âm ỉ, tiêu đỏ, nôn ra máu, tiêu có máu, lưỡi đỏ thẫm không rêu, mạch Hư, Tế, Sác, thêm Thanh hao, Quy bản, Miết giáp, Bạch mao căn, Trắc bá diệp (đốt thành than). Trường hợp nhiệt độc thịnh (miệng lưỡi loét, miệng đắng, lưỡi khô, kết mạc mắt xung huyết, răng, lợi, mũi chảy máu, lưỡi đỏ, rêu vàng, nhớt, mạch

Huyền Hoạt Sác) thêm Long đởm thảo, Sơn chi, Hoàng cầm, Sinh địa, Xa tiền tử. Nếu nôn, buồn nôn, chất lưỡi đỏ, sạm đen, ít rêu, khô, mạch Tế Sác, thêm Trúc nhự, Bán hạ, Tuyền phúc hoa, Đại giả thạch. Lý nhiệt uất kết sinh vàng da, chất lưỡi đỏ thẫm, rêu vàng nhớt, mạch Nhu, Sác thêm Nhân trần, Kim tiền thảo. Trường hợp bụng căng, nhiều nước, thêm Trư linh, Xa tiền tử, Thương lục. Tỳ dương hư yếu gây ra tiêu chảy, thân lưỡi bệu, rêu mỏng, nhớt, mạch Trầm Trì thêm Bào can khương, Thảo khấu, sao Bạch truật, Ý dĩ nhân. Thận dương hư suy, cơ thể và chân tay lạnh, mạch Trầm Trì thêm Phụ tử, Quế nhục...

MỘT SỐ BÀI THUỐC KINH NGHIỆM

Kiện Tỳ Lý Khí Hợp Tễ (Bệnh Viện Ung Thư Thuộc Y Học Viện Thượng Hải): Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh, Bát nguyệt trác.

Kết quả lâm sàng: Điều trị 48 ca ung thư gan, bệnh nhân sống trên 1 năm và 5 năm có 21 và 8 (Tổ đối chiếu sống trên 1 năm chỉ 2 ca và không có ca nào sống trên 5 năm).

Ích Khí Bổ Thận Phương (Sở Nghiên Cứu Trung Y Dược Triết Giang): Tây sâm (sống), Hoàng kỳ (chích), Câu kỷ tử, Hà thủ ô, Nữ trinh tử, Cẩu cốt diệp, Chỉ thực tử, Nhục thung dung, Đỗ trọng, sao Bạch truật, Chích thảo. Bài thuốc có tác dung nâng cao tính miễn dịch.

Thăng Huyết Điều Nguyên Phương [Trung Sơn Y Học Viện]: Bắc hoàng kỳ, Đảng sâm, Kê huyết đằng, Hà thủ ô, Cốt toái bổ, Mạch nha, Nữ trinh tử, Phật thủ Có tác dụng nâng cao bạch cầu thấp do hóa trị, tỷ lệ kết quả 8 l,2%.

Can Ích Tiễn (Bệnh Viện Ung Thư Thuộc Trung Y Học Viện Thượng Hải): Hạ khô thảo, Hải tảo, Hải đới, Thiết trúc diệp, Bạch hoa xà thiệt thảo, Lậu lô, Thạch kiến xuyên, Long quý, Độc dương tuyền, Điền kê hoàng, Bình địa mộc, Tam lăng, Nga truật, Lưu hành tử, Xích thược, Đào nhân, Bát nguyệt trác, Uất kim, Đương qui, Đơn sâm, Xuyên luyện tử, Mộc hương, Hương phụ, Nhân trần, Xa tiền tử, Bạch thược, Đảng sâm, Bạch truật, Ý dĩ nhân, chích Miết giáp, Cam thảo chế thành cao lỏng, mỗi chai 500ml, mỗi lần uống 10-20ml.

Tiêu Tích Nhuyễn Kiên Phương: Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo, Thiền trúc diệp, Tam lăng, Nga truật, Địa miết trùng, Đảng sâm, Đương qui, Bạch thược, Bạch truật, Chỉ thực, Ý dĩ nhân.

Bài thuốc dân gian Triết giang: Miêu nhân sâm, Song hoa, Tử kim ngưu, Khổ sâm, Hoạt huyết long, Bạch chỉ, Long đảm thảo, Tạo giác thích, sắc uống.

Bài thuốc trị ung thư gan của Thượng Hải: Bán chi liên, Sinh ngọa lăng, Thạch yến, Lậu lô, Ý dĩ, Đương quy, Đơn sâm, Hồng Hoa, Bát nguyệt trác, Trần bì, Bạch thược, sắc uống.

Bột ung thư gan: Sinh nga truật, Tam lăng, Thủy điệt, Ngọa lăng tử, Tô mộc, Hồng hoa, Diên hồ sách, Hương phụ, Mộc hương, Trần bì, Bán hạ, Hậu phác, Chỉ thực, Mộc thông, Sa nhân, Đại hoàng. Tán bột mịn, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần, 3-6 tháng là 1 liệu trình.

Sài Hồ Tàm Hưu Thang (Bệnh Viện Trung Y Triết Giang): Sao Sài hồ 10g, Phục linh, Xích, Bạch thược, Thuyên thảo, Đương qui, Uất kim, Chế hương phụ, Cam thảo đều 10g, Tàm hưu, Hoàng cầm, Nga truật đều 15g, Toàn qua lâu, sinh Miết giáp, Hổ trượng đều 20g.

Biện chứng gia giảm: Thấp nhiệt thêm Nhân trần, Xa tiền thảo, Bán chi liên đều 15-30g. Suy nhược, tiếng nói nhỏ, miệng khô thêm Hài nhi sâm, Thạch hộc tươi, Mạch môn đều 15g, Huyền sâm 10g.

- Kết quả lâm sàng: Trị 19 ca ung thư gan, sau điều trị, ngày sống bình quân 523, 5 ngày, ngắn nhất là 130 ngày, sống lâu nhất là 6 năm 4 tháng. Sống 1-2 năm là 5 ca, sống 2-4 năm là 2 ca, sống 4-5 năm một ca, 5 năm trở lên 2 ca.

Lý Khí Tiêu Trưng Thang: (Lưu Gia Tường, Học Viện Trung Y Thượng Hải): Bát nguyệt trác 15g, Kim linh tử 9g, Đơn sâm 12g, Lậu lô 15g, Bạch hoa xà thiệt thảo 30g, Hồng đằng 15g, sinh Mẫu lệ 30g, Bán chi liên 30g, sắc uống.

Gia giảm: Can khí uất thêm Sài hồ, Đương qui, Bạch thược, Chế hương phụ, Uất kim, Chỉ thực, Sơn tra, Kê nội kim; Khí huyết ứ trệ thêm Sài hồ, Đương qui, Xích thược, Nga truật, Tam lăng, Đào nhân, Địa miết trùng, Diên hồ, Can thiềm bì, Uất kim, Thạch kiến xuyên, Miết giáp, Đại hoàng. Tỳ hư thấp: ngực bụng đầy, vùng bụng đau lâm râm, thêm Ý dĩ, Trần bì, Bán hạ, Đại phúc bì, Thạch quỳ, Quảng Mộc hương, Bổ cốt chi, Xa tiền tử... Can thận âm hư thêm Bắc sa sâm, Thiên đông, Sinh địa, Quy bản, Sinh miết giáp, Uất kim, Xích thược, Đơn bì . Can đởm thấp nhiệt thêm Uất kim, Nhân trần, Chi tử, Hoàng bá, Xích thược, Sinh dĩ nhân, Hoàng cầm, Kim tiền thảo, sinh Đại hoàng.

- Kết quả lâm sàng: Trị 102 ca, sống trên l năm 31 ca (30,3%), 2 năm 14 ca (13,7%), trên 3 năm 6 ca (5,9%), 5 năm trở lên 5 ca.

Hóa Ứ Giải Độc Thang (Trương Khắc Bình): Tam lăng, Nga truật, Xích thược. Huyền hồ, Tử thảo căn, Trư linh đều 15g, Miết giáp, Đương quy, Đơn sâm đều 12g, Xuyên khung, Đại hoàng đều 9g, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên, Bồ công anh đều 30g, sắc uống.

Kết quả lâm sàng trị 7 ca kết quả sống bình quân 443 ngày so với tổ dùng thuốc tây chỉ sống 95 ngày.

Kháng Nham Ích Can Thang (Lâm Tông Quảng, Bệnh Viện Số 2 Cục Công Nghiệp Dệït Thượng Hải): Tam lăng, Nga truật, thủy Hồng hoa tử, Quảng uất kim, Bát nguyệt trác đều 10g, Đơn sâm, Thạch kiến xuyên đều 15g, Sinh mẫu lệ 30g, sắc uống.

Biện chứng gia giảm: Can đởm thấp nhiệt thêm Nhân trần, Hoàng cầm, Khổ sâm đều 15g, Bạch hoa xà thiệt thảo, Thất diệp nhất chi hoa đều 30g. Can khí uất thêm Sài hồ, Chỉ xác, Hậu phác đều 10 - 12g. Tỳ khí hư thêm Đảng sâm, Bạch truật, chích Hoàng

Kỳ, Quảng bì đều 10g. Can vị âm hư thêm Bắc sa sâm, Sinh đia, Thạch hộc, sinh Sơn tra đều 10g.

Kết quả lâm sàng: Trị 25 ca ung thư gan, kết quả sống ngắn nhất 3 tuần, dài nhất 4 năm l tháng, trong đó sống dướùi 1 năm 10 ca, 1 năm 5 ca, 2-3 năm 6 ca, 3 - 4 năm 2 ca, trên 4 năm 2 ca, sống trong 1 năm có tỷ lệ 60% và trên 30 năm chiếm tỷ lệ 16%.

Hồng Đào Uất Kim Thang (Từ Bảo Hoa): Đương qui, Sinh địa, Đào nhân, Xích thược, Ngưu tất, Xuyên khung, Hồng hoa, Chỉ xác, Sài hồ đều 9g, Cát cánh, Cam thảo đều 3g, Uất kim, Đơn sâm đều 15g, sắc uống.

- Biện chứng gia giảm: ngực tức, sườn đau, mệt mỏi, ăn kém, tiêu lỏng, thêm Mộc hương, Sa nhân, Trần bì, Cam thảo đều 9g, Đảng sâm, Bạch truật, Bán hạ, Bạch linh đều 9g, Tiêu Sơn tra, tiêu Lục khúc, Mễ nhân đều 15g. Miệng khô, vùng gan đau âm ỉ, lưỡi đỏ thêm Bắc sa sâm, Mạch đông, Xuyên luyện tử đều 9g, Sinh địa, Kỷ tử đều 19g.

- Kết quả lâm sàng: Trị 29 ca, sống trên 1 năm 22 ca, (75, 8%), sống trên 3 năm 8 ca (27, 59%), trên 5 năm 2 ca (6,9%).

Tiêu tích Nhuyễn Kiên Thang (Đường Thìn Long, Trường Đại học y khoa Thượng Hải): Bán chi liên, Bạch hoa xà thiệt thảo, Thiết trúc diệp, Đảng sâm đều 15g, Tam lăng, Nga truật, Địa miết trùng, Chích miết giáp, Đương quy, Bạch thược đều 9g. Bạch truật 12g, Chỉ thực 6g, Ý dĩ nhân 30g, sắc uống.

Kết quả lâm sàng: Có so sánh 2 tổ nghiên cứu: 1 tổ dùng đơn thuần thuốc bắc, 1 tổ dùng kết hợp hóa liệu. Kết quả: tổ dùng đơn thuần, tỷ lệ bệnh nhân sống l năm và 2 năm là 30, 8% và 16, 7%, sống lâu nhất là 8 năm 10 tháng. Tổ có kết hợp hóa liệu tỷ lệ sống trong 1-2 năm là 11,60%. Có 6,3% ca sống lâu nhất là 8 năm 5 tháng.

(YHocCoTruyen)
Hơn 16.000 người bị ung thư gan mỗi năm ở Hoa kỳ. Nguyên nhân chính xác của ung thư gan chưa được biết rõ , nhưng viêm gan mãn tính và xơ gan là yếu tố nguy cơ ung thư gan.

Các loại ung thư gan:

*Ung thư tế bào gan nguyên phát:


Trên 80% ung thư gan là ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư này xảy ra ở nam gấp đôi nữ và thường gặp ở tuổi trên 50 . Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) bắt đầu xảy ra từ tế bào gan. Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân HCC nhưng viêm gan do siêu vi mãn tính, xơ gan là yếu tố nguy cơ HCC. Xơ gan chiếm 80% truờng hợp HCC. Dạng khác của ung thư gan là ung thư đường mật. Đây là ung thư xuất phát từ ống dẫn mật và nguyên nhân là do viêm xơ chai đường mật nguyên phát.Ung thư đường mật có thể do nhiễm ký sinh trùng , chẳng hạn như sán lá nhỏ. Ung thư này phát triển theo đường dẫn mật , rất khó thấy trên phim X quang.

*Ung thư di căn gan:


Ung thư xuất phát từ tế bào của các phần khác của cơ thể lan đến gan . Ung thư di căn gan có thể từ: ung thư đường tiêu hóa, vú , phổi, ung thư tủy…..Tùy theo cơ quan nào di căn đến gan mà gọi tên , ví dụ từ ung thư phổi thì gọi là ung thư gan thứ phát do di căn từ ung thư phổi.

Triệu chứng của ung thư gan?

Triệu chứng của ung thư gan gồm: mệt , sốt , đau bụng, sụt cân không rõ nguyên nhân, ăn không ngon , dễ chảy máu hay dễ có vết bầm, vàng da, báng bụng.

Ung thư gan được chẩn đoán như thế nào?

Ung thư gan có thể được phát hiện qua cuộc kiểm tra sức khỏe định kỳ. Bác sĩ có thể sờ thấy khối u lớn và cứng trong bụng.
Xét nghiệm máu AFP (alpha fetoprotein). 50---70% người ung thư gan có AFP trong máu cao. AFP cao có thể nghĩ đến ung thư gan nhưng không thể là yếu tố quyết định chắc chắn. Sau khi thấy AFP cao nên làm siêu âm , chụp cắt lớp điện toán (CT) , chụp cộng hưởng từ (MRI), chúng ta sẽ thấy khối u , tuy nhiên chưa xác định chắc chắn u lành tính hay ác tính. Để chẩn đoán chính xác lành hay ác ,phải sinh thiết gan .

Nguyên nhân gây ung thư gan

Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân ung thư gan . Tuy nhiên có nhiều yếu tố thuận lợi giúp phát triển ung thư gan, bao gom cả tuổi, phái tính, gia đình. Phái nam bị ung thư nhiều hơn nữ và tỉ lệ tăng dần sau 60 . Những người trong gia đình có nhiều người bị ung thư gan cũng dễ có nguy cơ phát triển ung thư gan.

*Những yếu tố nguy cơ:

- Nhiễm virus viêm gan B , C mãn tính: gây nên viêm gan , xơ gan và phát triển thành ung thư gan. Khoảng 25% những người u gan ở Mỹ có nhiễm siêu vi B. Những người có nguy cơ nhiễm siêu vi C nên được xét nghiệm máu để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời , như vậy giúp ngăn ngừa xơ gan và nguy cơ ung thư gan.
- Xơ gan: nguy cơ đưa đến ung thư gan rất lớn. Hơn 80% trường hợp u gan có xơ gan .Uống rượu là nguyên nhân dẫn đến xơ gan nhiều ở Mỹ.
- Bệnh gan ứ sắt: Sự quá tải sắt ở gan. Đây là bệnh di truyền gây rối loạn chuyển hóa sắt. Sự quá tải sắt gây độc cho cơ thể đặc biệt ở gan , gây viêm và chết tế bào gan. Điều này dẫn đến xơ gan và nguy cơ rất cao đưa đến ung thư gan.
- Hút thuốc: đây cũng là yếu tố nguy cơ ung thư gan. Trong khi mối liên quan giữa thuốc lá và ung thư gan chưa được biết rõ ràng , Tổ chức gan mật Hoa Kỳ khuyên mọi người nên ngừng hút thuốc . Lượng thuốc hút mỗi ngày càng nhiều , thời gian hút thuốc càng lâu càng làm tăng nguy cơ ung thư gan.
- Một số hóa chất có nguy cơ gây ung thư gan: vinyl chloride dùng chế plastic, arsenic nhiễm trong nước uống…….
- Lạm dụng thuốc steroid thường xuyên cũng là yếu tố nguy cơ


Tiên lượng cho bệnh nhân ung thư gan?


Tiên lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm yếu tố khối u có được chẩn đoán sớm không? Nếu khối u nhỏ có thể điều trị bằng phẫu thuật, tuy nhiên tỉ lệ thành công của phẫu thuật 10----20% . Nếu phẫu thuật không thành công bệnh nhân tử vong trong vòng 3 đến 6 tháng . Tiên lượng ung thư di căn gan rất xấu.


Ung thư gan được điều trị như thế nào

Điều trị ung thư gan rất khó khăn . Triệu chứng ung thư gan thì khó nhận biết chỉ đến khi khối u phát triển nhiều , vì vậy việc phát hiện thường là trễ. Những yếu tố nguy cơ khác như xơ gan , làm cho việc điều trị phẫu thuật khó khăn.
Phẫu thuật có thể cắt bỏ khối u nhỏ , nếu cả khối u được cắt bỏ , khả năng sống còn của bệnh nhân 25%. Tuy nhiên thưiờng rất hiếm thành công vì thường phần lớn gan đã bị xơ.
Ghép gan thì có thể , tuy nhiên nếu ung thư đã di căn thì không thể áp dụng được.
Hóa trị và xạ trị thì hiệu quả rất hạn chế
Một kỹ thuật mới (SIRT) phướng pháp dùng tia xạ chọn lọc với tần số cao đánh trực tiếp vào khối u mà không làm tổn thương mô xung quanh . Thử nghiệm lâm sàng cho thấy SIRT có thể cải thiện triệu chứng và kéo dài sự sống cho bệnh nhân.
Kỹ thuật đông lạnh bằng hóa chất : dùng catheter bơm hóa chất và thuốc doxorubicin vào khối u cũng hứa hẹn nhiều thành công tốt đẹp.

Ung thư gan có thể được ngăn ngừa?



Phòng bệnh là phương pháp tốt nhất chống ung thư gan. Phải nỗ lực làm giảm xơ gan , phát hiện sớm và điều trị viêm gan siêu vi mãn tính. Các thuốc điều trị viêm gan virus mãn tính , thuốc chống siêu vi cũng có thể làm giảm tỉ lệ ung thư gan.

Vaccin chống siêu vi A , B rất cần thiết , đặc biệt với người viêm gan C . Không nên uống rượu. Phải khám sức khỏe định kỳ những người có nguy cơ nhằm phát hiện ung thư gan sớm.

(www.drthuthuy.com)
Cai rượu bằng con cuốn chiếu: 1 liều là khỏi ngay nhưng 2 liều là chết ngay
01/01/2010 12:32 (GMT +7)

Tiến sĩ sinh học Võ Văn Chi xác nhận: "Đúng là trong Sách Dược Tính Chỉ Nam còn ghi cuốn chiếu chủ trị được người có tính nghiện rượu không chữa được, muốn thôi dùng một đốt đốt cháy ra tro uống với nước lã thì không bao giờ muốn ngửi đến hơi rượu nữa, nhưng không dùng quá 2 đốt, quá liều có thể dẫn đến chết người.".
Con cuốn chiếu

"Ông xã tôi nghiện rượu thuộc dạng hết thuốc chữa, dù nhiều lần quyết tâm cai nhưng không thành công. Ảnh càng uống càng lên đô và sức khỏe thì ngày một xuống cấp. Biết nỗi khổ của tôi, một người bạn chỉ  cho bài thuốc cai rượu bằng tro con cuốn chiếu. Tôi nghe thấy hay hay định áp dụng nhưng còn phân vân không biết bài thuốc ấy có để lại di chứng gì không? Rất mong báo giới đưa ra kiến giải bởi khu phố tôi cũng có mấy chị đang lăm le áp dụng bài thuốc này".

Ngửi một lần- cai vĩnh viễn?

Chị Lan, người đang nuôi ý định săn cuốn chiếu cai rượu cho chồng nói rõ người bạn mách nước bài thuốc cho vợ chồng chị ở huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Sau nhiều lần liên lạc, chúng tôi mới gặp được "chủ nhân" của bài thuốc cai rượu bằng con cuốn chiếu kỳ lạ kia.

Chị Phước hào hứng kể lại cơ duyên được truyền bài thuốc bí truyền: "Hôm đó tôi ở làng dân tộc Chơro thuộc xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu. Lúc đang ngồi trò chuyện thì một thanh niên đến đưa cho già làng tên Điểu Mên mấy con cuốn chiếu to đùng. Tôi hỏi lấy làm gì thì già nói để cai rượu cho thằng con trai. Nghe tôi thở than ông xã nghiện rượu thâm niên, mỗi lần say xỉn là chửi vợ mắng con, đập phá đồ đạc nên già làng thương tình bật mí bí quyết cai rượu với yêu cầu chỉ dùng để giúp người, không được trục lợi".

Chị Phước cho biết, muốn dùng cuốn chiếu cai rượu phải kiếm con đại cồ không rụng cái chân nào để lên một miếng ngói, phía dưới có đun than cho rã thành bột. Tiếp đó cứ kê mũi hít, hít chỉ một lần là không bao giờ muốn đụng đến rượu.

"Nghe nói có người còn sử dụng cuốn chiếu trị lở loét u nhọt rất hay, nấu nước uống giải độc cơ thể rất tốt. Mấy ông thầy thuốc Đông y cho biết muốn tìm cuốn chiếu cứ lên núi Chúa Chan (huyện Xuân Lộc, Đồng Nai) vì đó là vùng rừng ẩm ướt có điều kiện thổ nhưỡng thích hợp với loài này".

Sự thật về “thần dược” trăm chân

Cuốn chiếu có 2 loài là cuốn chiếu đũa (lớn) và cuốn chiếu nhỏ (cỡ cây kim). Căn nguyên của tên gọi cuốn chiếu là do cơ thể của loài này có thể cuốn tròn như cuốn chiếu. Với đôi râu lớn có 8 đốt, thân có nhiều đốt kép, mỗi đốt mang 2 đôi chân nên tại một số địa phương, cuốn chiếu còn được gọi bằng cái tên "con trăm chân".

Chúng rất hiền lành, gặp hiểm nguy thì cuộn tròn. Khi gặp cuốn chiếu, người ta chẳng ai màng bắt chúng bởi chẳng biết sử dụng vào mục đích gì. Vậy nên thông tin sử dụng cuốn chiếu để cai thuốc lá, giải độc cơ thể, chữa ung nhọt, lở loét… đang được nhiều người truyền tai quả là hơi bị lạ.

Đem những điều khúc mắc về con cuốn chiếu đến nhờ Tiến sĩ sinh học Võ Văn Chi (tác giả Tự điển cây thuốc Việt Nam) kiến giải, thật bất ngờ khi chúng tôi được Tiến sĩ Chi khẳng định đúng là con cuốn chiếu có những tính năng chữa trị một số chứng bệnh như dùng trị chứng hà (kết u trong bụng), ung thũng và lở độc.

"Khi sử dụng lấy toàn con phơi khô, đốt cháy đen rắc vào chỗ lở loét chữa rất hay. Nó còn có tác dụng đặc biệt khác là chữa được cho tằm bị bệnh chết cứng trắng ra, dùng đốt tán bột rắc vào sẽ khỏi".

Nói về tính năng cai rượu của cuốn chiếu, Tiến sĩ Chi xác nhận: "Đúng là trong Sách Dược Tính Chỉ Nam còn ghi cuốn chiếu chủ trị được người có tính nghiện rượu không chữa được, muốn thôi dùng một đốt đốt cháy ra tro uống với nước lã thì không bao giờ muốn ngửi đến hơi rượu nữa".

- Ai cũng có thể áp dụng bài thuốc cai rượu từ cuốn chiếu, thưa Tiến sĩ?

- Nếu không hiểu biết, không có kinh nghiệm tốt nhất không nên dùng bởi cuốn chiếu tuy hiền nhưng vô cùng độc. Theo Đông y, nó có tính ấm, có độc. Liên quan đến bài thuốc cai rượu, Sách Dược Tính Chỉ Nam có đoạn lưu ý không dùng quá 2 đốt, quá liều có thể dẫn đến chết người.

Tại phòng khám Tuệ Lãn nằm trên đường CMT8 (quận 3), lương y Nguyễn Đức Nghĩa, học trò cố GS-TS Đỗ Tất Lợi cũng khuyến cáo mọi người không được tự ý sử dụng con cuốn chiếu, bằng không bệnh tật, chứng nghiện thuốc lá khỏi đâu không thấy, chỉ thấy tính mạng lâm nguy.

Lương y Nghĩa trăn trở: "Những năm gần đây xuất hiện hiện tượng xã hội bất bình thường là không ít bệnh nhân tự ý biến mình thành bác sĩ, lương y khi được ai đó mách cho bài thuốc dân gian. Thay vì tham khảo ý kiến, kinh nghiệm điều trị của các chuyên gia chuyên ngành thì họ tự ý áp dụng cho chính mình và người thân, để rồi khi tính mạng rơi vào thế nguy nan, hối hận thì chuyện đã quá muộn"

Theo Thành Dũng
Ung thư dạ dày là loại ung thư thường gặp, đứng đầu các loại ung thư tiêu hóa. Triệu chứng chủ yếu là vùng bụng trên (thượng vị) khó chịu hoặc đau nôn, ợ, nôn ra máu, tiêu phân đen, sờ thấy có khối u. Triệu chứng ban đầu không rõ rệt, thường dễ lẫn với viêm dạ dày, loét dạ dày tá tràng, rối loạn tiêu hóa. Lúc sờ thấy khối u và trạng thái bệnh nhân suy mòn thì đã muộn. Bệnh có thể mắc bất kỳ ở lứa tuổi nào nhưng thường gặp ở tuổi 40-60, nam nhiều hơn nữ.

Triệu Chứng

Triệu chứng thường thấy:

a. Đau dạ dày: Phần nhiều vùng mỏm ức, đau bất kỳ lúc nào, ăn vào cũng không giảm, dễ nhầm với các bệnh khác vùng thượng vị.

b. Chán ăn, ăn xong bụng đầy, ợ hơi, bệnh nhân không buồn ăn gì nhất là các loại thịt. Và người sụt cân rất nhanh.

c. Buồn nôn và nôn: nôn do tâm vị tắc (khối u chèn ép) thức ăn tồn đọng lâu trong dạ dày nên chất nôn có mùi thối.

d. Chảy máu: thời kỳ mới đầu đã có thể có chảy máu, tiêu phân đen, chất nôn màu cà phê, phân đen màu hắc ín.

e. Các triệu chứng khác như táo bón, thiếu máu, mệt mỏi, sốt nhẹ ké o dài. Thời kỳ cuối, bệnh di căn tùy theo vị trí và mức độ mà triệu chứng khác nhau như kèm theo thủng dạ dày, chảy máu nhiều, viêm phúc mạc...

Khám thể trạng:

. Cơ thể gầy nhanh và cuối kỳ là da bọc xương, người nóng, da khô.

. Khối u sờ thấy ở vụng thượng vị, cứng chắc có nổi cục, di động theo nhịp thở.

. Di căn nhiều ở hạch lâm ba thượng đòn trái, kế đến là hạch dưới nách, vùng hố chậu, phúc mạc và gan. Có khi cũng di căn đến hạch lâm ba phổi.

. Viêm phúc mạc thường là cuối kỳ có khi gặp. Căn cứ theo triệu chứng lâm sàng, các học giả y học cổ truyền cho rằng bệnh thuộc phạm trù chứng ‘phản vị’, và ‘ế cách’.

Chẩn Đoán: chủ yếu dựa vào:

+ Bệnh nhân trên 30 tuổi, đau hoặc cảm giác thường xuyên vùng bụng trên đầy, đau ngày càng nặng hơn và không có giờ giấc rõ ràng, ấn bụng đau.

+ Tuy không đau bụng nhưng sụt cân không rõ nguyên nhân, tiêu phân đen, chán ăn, mệt mỏi, giảm huyết sắc tố hoặc nhiều lần xuất huyết, đau liên tục, thường là dấu hiệu ung thư bao tử.

+ Có tiền sử đau bao tử, kiểm tra phát hiện di căn vào phổi, gan, hạch lâm ba thượng đòn to hoặc thành trước trực trằng sờ thấy khối u có thể xác định.

+ Phân tích dịch vị: độ acid thấp (dưới 30o). nếu chích Histamin mà độ acid vẫn thấp, có nhiều khả năng là ung thư. Kiểm tra tế bào dịch vị phát hiện tế bào ung thư, có thể chẩn đoán xác định.

+ Kiểm tra phân bệnh nhân chế độ ăn có kiểm soát, nếu có máu liên tục dương tính, có giá trị chẩn đoán.

Chụp X Quang dạ dày: vết loét to trên 2, 5cm, hình dạng không đều, hình vành trăng khuyết, quanh bờ loét nếp nhăn niêm mạc không đều hoặc mất, bên cánh bờ dạ dày xơ cứng, không có nhu động, thường gặp vào thời kỳ cuối bệnh ung thư.

Soi dạ dày trực tiếp quan sát hình thái niêm mạc dạ dày, chụp và lấy tổ chức làm sinh thiết giúp cho chẩn đoán bệnh sớm.

Điều Trị

Trường hợp xác định bệnh sớm, giải phẫu là biện pháp tốt nhất, kết hợp với dùng thuốc YHCT có thể đạt kết quả rất tốt, sống trên 5 năm có thể đạt 90%.

Trường hợp phát hiện muộn: Nếu sức khỏe người bệnh còn tốt, có thể dùng phẫu thuật kết hợp điều trị bằng thuốc YHCT. Nếu không có điều kiện giải phẫu, dùng YHCT là chủ yếu, phối hợp hóa trị hoặc các phương pháp khác.

Theo YHCT trên lâm sàng thường gặp các loại sau:

+ Can Vị Bất Hòa: Vùng thượng vị đầy, đau, ợ mùi thối, buồn nôn, nôn, mạch Huyền.

Điều trị: Sơ can, hòa vị, chỉ thống, giáng nghịch. Dùng bài Tiêu Dao Tán hợp Tuyền Phúc Đại Gỉa Thang gia giảm: Sài hồ 12g, Bạch thược 20g, Bạch truật 12g, Đương quy 20g, Hoàng liên 8g, Bán hạ (chế gừng) 8g, Chỉ xác, Hậu phá, Trầm hương (tán bột) l,5g hòa thuốc, Xuyên luyện tử 4g, Tuyền phúc hoa 10g, Đại giả thạch 12g. Sắc uống.

+ Tỳ Vị Hư Hà: Bụng đau âm ỉ, ấn vào hoặc chườm nóng thì giảm đau, mệt mỏi, chân tay lạnh, tiêu lỏng, lưỡi nhạt, bệu, có dấu răng, mạch Trầm Huyền Nhược.

Điều trị: Ích khí, ôn trung. Dùng bài Hoàng Kỳ Kiến Trung Thang, Hương Sa Lục Quân Thang gia giảm: Hoàng kỳ (chích) 20 - 30g, Quế chi 6g, Bạch thược 16g, Đảng sâm 12g, Hồng sâm 8g, Bạch truật 12g, Phục linh 12g, Chích thảo 4g, Mộc hương 8g, Sa nhân 8g, Đại táo 12g, Can khương 8- 12g.

+ Vị Âm Hư: Cảm giác nóng cồn cào vùng thượng vị, miệng khô, ăn vào đau nhiều, ngũ tâm phiền nhiệt, táo bón, lưỡi đỏ không rêu, mạch Tế Sác.

Điều trị: Thanh dưỡng vị âm. Dùng bài Mạch Môn Đông Thang, Nhất Quán Tiễn gia giảm: Nam, Bắc sa sâm đều 12g, Tây dương sâm, Sinh địa, Mạch môn, Thạch hộc, đều 12g, Khương Bán hạ 8g, Sinh Tỳ bà diệp 12g, Ma nhân 10g sắc uống.

+ Huyết Ứ: Vùng thượng vị đau dữ dội, đau như dao đâm, vùng đau cố định, không cho sờ vào khối u, đại tiện phân đen, chất lưỡi tím bầm, hoặc có vết ban ứ huyết, mạch Trầm Sáp.

Điều trị: Hoạt huyết, hóa ứ. Dùng bài Đào Hồng Tứ Vật hợp Thất Tiếu Tán gia giảm: Đương quy 20g, sâm Tam thất (bột hòa uống) 4g, Đơn sâm 12g, Bạch thược 20g, Xuyên khung 8g, Đào nhân 8g, Xích thưóc 12g, Chỉxác 8g, Bồ hoàng và Ngũ linh chi, lượng bằng nhau, chế thành bột mịn 6-8g, trộn nước thuốc uống.

Trường hợp chảy máu cần thêm thuốc cầm máu như Tiên hạc thảo, than Trắc bá, Tóc đốt cháy và dùng bột Đại hoàng, mỗi lần 3g, ngày 3 lần để cầm máu.

+ Khí Huyết Đều Hư: Bệnh nhân thời kỳ cuối khí huyết suy, cơ thể gầy đét, tinh thần mệt mỏi môi lưỡi nhợt nhạt kèm theo các triệu chứng như các thể trên.

Điều trị: Ích khí, bổ huyết. Dùng bài Thập Toàn Đại Bổ Thang gia giảm: Nhân sâm 8g, Hoàng kỳ 30g, Bạch truật 12g, Bạch linh 16g, Chích thảo 4-6g, Đương quy 20g, Thục địa 20g, A giao 8g, hòa uống, Hà thủ ô trắng 20g, Chích thảo 4g.

Tỳ thận dương hư thêm Nhục quế 6g, Chế phụ tử 6g, Can khương 6g để ôn tỳ thận. Âm hư nặng thêm Nữ trinh tử, Sơn thù nhục, Câu kỷ tử. Nhiệt độc thịnh bên trong như đau liên tục, khối u cứng đau không cho sờ vào, chất nôn có máu, tiêu phân đen như hắc ín, chất lưỡi tím đen hoặc có điểm ứ huyết, mạch Trầm, Tế, Sáp, dùng thêm Nhân trần, Ngũ linh chi, bột Sâm tam thất, bột Thủy điệt, Diên hồ sách để trục ứ, thông lạc, hoạt huyết, chỉ thống. Đàm thấp nặng (ngực tức đầy đau, nôn, đờm rãi, đờm hạch nhiều, rêu lưỡi hoạt nhớt, mạch Tế Nhu hoặc Trầm Hoạt), bỏ Thục địa, A giao, thêm Bối mẫu, Nam tinh, Hải tảo, Mẫu lệ, La bạc tử để hóa đờm, tán kết. Tràn dịch màng bụng, khó thở, lưỡi nhạt đen, rêu trắng, mạch Trầm Tế Huyền thêm Trư linh, Trạch tả, Hắc sửu, Bạch sửu, Đại phúc bì, Xa tiền tử để lợi niêïu trục thủy.

Điều trị ung thư dạ dày phải vừa bổ chính (tăng sức đề kháng của cơ thể) vừa phải khu tà (ức chế sự phát triển cuả tế bao ung thư), tùy tình hình cụ thể mà vận dụïng. Trường hợp phát hiện sớm chưa di căn, chủ yếu là giải phẫu kết hợp dùng thuốc ức chế tế bào ung thư phát triển (khu tà). Trường hợp thời kỳ đâ có di căn nên phò chính kết hợp) hóa trị và thuốc ức chế tế bào ung thư theo đông dược.

Một Số Bài Thuốc Tăng Sức Cơ Thể

1- Lợi Huyết Thang (Sinh hoàng kỳ, Thái tử sâm, Kê huyết đằng, Bạch truật, Bạch linh, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử, Thỏ ti tử) ngày uống 1 thang, chia 2 lần, liệu trình 6 tuần. Theo báo cáo của học viện trung y Bắc Kinh, thuốc có tác dụng làm giảm tác dụng phụ của hóa trị, tăng thể trọng...

2- Tỳ Thận Phương: Đảng sâm, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử, Thỏ ty tử, Bạch truật, Bổ cốt chi, sắc uống ngày 1 thang. Theo báo cáo của bệnh viện Quảng An Môn thuộ c viện nghiên cứu trung y Bắc kinh, thuốc có tác dụng giảm tác dụng độc của hóa trị, tăng chức năng tạo máu của tủy xương và tăng tính miễ n dịch.

3- Địa Hoàng Thang: Sinh địa, Đảng sâm, Hoàng tinh, Biển đậu, Hoàng kỳ, ngày l thang, 2 tháng là 1 liệu trình. Theo báo cáo của bệnh viện Hoa Sơn trực thuộc trường đại học y khoa Thượng Hải, thuốc có tác dụng cải thiện sức khỏe bệnh nhân, ức chế sự phát triển của bệnh, nâng cao chuyển dạng lympho bào, tăng bạch huyết cầu, tế bào lâm ba, tiểu cầu ngoại vi...

- Lục Vị Địa Hoàng Hoàn: theo báo cáo kết quả thực nghiệm của Sở nghiên cứu dược, Viện nghiên cứu trung y (TQ): thuốc có tác dụng ức chế tế bào ung thư dạ dày phát triển, bồi bổ cơ thể.

Thuốc Khu Tà (Ưùc Chế Tế Bào Ung Thư)

Trị Vị Nham (Triết Giang)

. Khương lang, Khương bán hạ, Can thiềm bì (da cóc khô), Hòe mộc căn bì, Bồ công anh, Thạch kiến xuyên, Bạch hoa xà thiệt thảo, Vị bì (chích), Sa la tử, sắc uống

ngày 1 thang. Trị ung thư dạ dày đau và nôn.

. Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên, Tô ngạnh, Bạch thược, Trúc nhự, Trần bì (Hồ Bắc).

. Tuyền phúc hoa, Đại giả thạch, Đảng sâm, Bán hạ, Chỉ xác, Hoàng liên.

. Gia giảm: Lậu Lô Thang (Sơn Đông): Lậu lô, Thổ phục linh, Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh, Đơn bì, Thăng ma, Hoàng cầm, Ngô thù du, Sinh cam thảo, Chế bán hạ. Sắc 3 nước, bỏ bã, cô đặc lại còn 300ml, chia làm 3 lần uống. Đồng thời uống Tam Vị Tán (sao Thổ miết trùng, sao Toàn yết, Hồng sâm, lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 1,5g, hòa với thuốc thang uống).

NHỮNG BÀI THUỐC KINH NGHIỆM

+ Kiện Tỳ Bổ Thận Thang (Từ Quế Thanh, bệnh viện Quảng An Môn, viện nghiên cứu trung y Bắc Kinh): Đảng sâm, Câu kỷ tử, Nữ trinh tử đều 15g, Bạch truật, Thỏ ty tử, Bổ cốt chỉ đều 9g, sắc uống.

Hiệu qủa lâm sàng: đã trị 72 ca ung thư dạ dày kỳ I, Il đều đã phẫu trị, kết hợp thuốc Đông y, có tỉ lệ sống như sau: Từ 1 - 3 năm 72 ca, 3 - 5 năm 36 ca (70% ). Sống 5 năm trở lên 16 ca (48,5%).

+ Song Hải Thang: (Lôi Vĩnh Trung. Y viện Thử Quang Thượng Hải): Hải tảo 15g, Hải đái, Hạ khô thảo đều 12g, Sinh mẫu lệ 30g, sắc uống.

Gia giảm: ứ huyết thêm Đan sâm, Miết giáp, Đào nhân, Lưu hành tử. Nhiệt đôïc thịnh gia Độc dương tuyền, Bạch hoa xà thiệt thảo, Thạch kiến xuyê n, Vọng gíang nam.

- Kết quả lâm sàng: Trị ung thư dạ dày giai đoạn IV, ung thư tâm vị 36 ca, sống trên 1 năm 18%, ung thư tâm vị 45%.

+ Nhân Sâm Hương Trà Thang (Sớ nghiên cứu Trung y dược Triết giang): Hồng sâm, Huơng trà thái, Chỉ xác, chế thành viên.

Kết quả lâm sàng: Trị 101 ca ung thư đã phẫu thuật, sống trên l năm là 82,2%, so với tổ hóa trị 64,1%.

+ Nao Điệt Giả Thạch Thang (Trương Thế Hùng, bệnh viện huyện Du Lâm tỉnh Thiểm Tây): Thủy điệt 2g, Nao sa 0,5g, Hạ khô thảo, Đảng sâm đều 12g, Mộc hương, Bạch phàn, Nguyệt thạch đều 3g, Tử bối xỉ 30g, Đại gỉa thạch, Đơn sâm đều 30g, Binh lang, Nguyên sâm đều 10g, Xuyên Đại hoàng 5g, Trần bì 6g sắc uống.

- Kết quả lâm sàng: Trị ung thư dạ dày 67 ca, kết quả rõ 4 ca, có kết quả 12 ca, giảm triệu chứng 24 ca, không kết quả 27 ca. Tỉ lệ có kết quả 59,7%.

Ghi chú: Nao sa, Nguyệt thạch, Bạch phàn hóa đàm, tiêu tích, Thủy điệt, Đơn sâm, Binh lang, Mộc hương lýù khí, phá ứ, Đảng sâm, Nguyên sâm kiện tỳ, sinh tân.

+ Thiềm Bì Nga Truật Thang: (Lưu Gia Tương, bệnh viện Long Hoa, học viện trung y Thượng Hải): Can thiềm bì, Nga truật, Quảng Mộc hương đều 9g, Mã tiền tử sống 3g, Bát nguyệt trác 12g, Câu quất, Qua lâu, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bạch mao đằng, đoạn Ngõa lăng, Sinh ý dĩ nhân đều 30g, Binh lang, Xích thược, Hạ khô thảo đều 15g, sắc uống.

- Kết quả lâm sàng: Trị 18 ca, kết quả rõ 5 ca, có kết quả 3 ca, không kết quả 10 ca. Sống trên 2 năm 7 ca, trên 4 năm 4 ca, 5 và 7 nărn 2 ca.

Kinh nghiệm điều trị Xơ Gan của Nhật Bản

(Theo ‘Chinese Herbal Medicine And The Problem Of Agging’).

+ Nhân Sâm Thang gia Tử Thảo Căn: dùng trong ung thũ kèm chán ăn, suy kiệt, thiếu máu. Bài thuốc cải thiện việc ăn uống và tăng cường sức cơ thể. Tử thảo căn có tác dụng chống độc tố gây viêm. Ở người bệnh ung thư tiềm tàng có khả năng phát triển và di căn, sau khi dùng bài thuốc này, ăn uống được cải thiện. Nếu bệnh nhân còn khoẻ mạnh, dùng bài Nhân Sâm Thang thấy mạnh quá thì thay bằng Lục Quân Tử Thang.

+ Bán Hạ Chi Tử Thang (Lơị Cách Thang) thêm Cam thảo, Can khương: có tác dụng đối với ung thư tâm vị, ung thư thực quản gây khó nuốt và nôn. Sau khi dùng bài thuốc này, bệnh nhân cảm thấy có sự cải thiện về sức khoẻ và thèm ăn.

+ Sài Hồ Thang cải thiện được chức năng gan, tốt cho việc điều trị các khối u. Thêm Tử thảo căn để góp phần tăng sức khoẻ.

+ Đại Sài Hồ Thang gia Tử thảo căn: dùng khi thể trạng còn khoẻ, ấn đau vùng bụng dưới, ngực đau, táo bón.

+ Tiểu Sài Hồ Thang: Thể trạng trung bình, không táo bón, ngực đau nhẹ.

Thêm Rễ hoè, Ý dĩ để giải độc khối u.

Bài này được coi như một bài thuốc phòng ngừa.

(YKHOA.NET)
Ung thư dạ dày là một trong năm loại ung thư thường gặp tại Việt Nam. Triệu chứng bệnh thường mơ hồ nên bệnh nhân khi nhập viện thường ở trong giai đoạn muộn. Tại Hà Nội, ung thư dạ dày đứng hàng thứ nhì trong mười loại ung thư ở cả hai giới nam và nữ; còn tại TPHCM, ung thư dạ dày xếp hàng thứ ba ở nam và đứng thứ năm ở nữ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Nhiều yếu tố nguy cơ

Cho đến nay vẫn chưa xác định chính xác nguyên nhân gây ra ung thư dạ dày nhưng y học nhận thấy có một số yếu tố nguy cơ liên quan đến căn bệnh này. Tuổi càng cao càng dễ mắc bệnh hơn và người dân có điều kiện sống thấp dễ bị ung thư dạ dày.


Nam giới bị ung thư dạ dày nhiều hơn nữ giới do liên quan đến việc hút thuốc lá. Ngoài ra, những người ăn nhiều thức ăn nướng, hun khói, tẩm gia vị nhiều dễ bị ung thư dạ dày.  Ung thư dạ dày còn do viêm dạ dày mạn tính vì nhiễm vi trùng Helicobacter pylori, đây là một loại vi trùng sống thường trú trong dạ dày. Tuy có liên hệ đến vi trùng nhưng ung thư dạ dày không có tính lây lan từ người sang người. Ngoài ra, ung thư dạ dày còn liên quan đến yếu tố di truyền.


Ở giai đoạn sớm, ung thư dạ dày hầu như không có triệu chứng. Khi bệnh đã tiến xa, bệnh nhân thường cảm thấy khó chịu vùng thượng vị, cảm giác đầy bụng sau ăn, buồn nôn và ói mửa, sụt cân nhanh. Tuy nhiên, các dấu hiệu này không phải là triệu chứng đặc hiệu của ung thư nên bệnh nhân dễ nhầm lẫn với các bệnh khác ở dạ dày như loét dạ dày hay nhiễm trùng  nên khi bệnh được phát hiện thì ung thư đã di căn xa. Vì thế khi có các triệu chứng mơ hồ như trên kéo dài, người bệnh nên đi khám bác sĩ để tìm nguyên nhân và điều trị càng sớm càng tốt.


Điều trị sớm, khả năng khỏi bệnh cao

Hiện nay, ung thư dạ dày là một trong những loại ung thư có thể phòng ngừa và điều trị tốt nếu bệnh nhân đến bác sĩ khi bệnh chưa chuyển sang giai đoạn di căn. Các xét nghiệm cần thiết để tầm soát ung thư tái phát gồm có: xét nghiệm sinh hóa, X-quang, nội soi dạ dày, CT scan ổ bụng và dùng các chất chỉ điểm ung thư. Ngoài ra, tầm soát ung thư cũng là cách phòng ngừa căn bệnh này.

Ung thư dạ dày được chia thành 4 giai đoạn, khi bệnh đã diễn đến giai đoạn 4, ung thư dạ dày có thể lan qua gan, tụy, hạch bạch huyết và các cơ quan khác nên tiên lượng rất xấu. Nếu không điều trị, ung thư dạ dày sẽ gây ra các biến chứng như nghẹt dạ dày, thủng khối u, chảy máu khối u...


Phẫu thuật là cách điều trị chính cho ung thư dạ dày, thầy thuốc sẽ cắt bỏ bán phần, toàn phần hay có thể cắt thêm lách hoặc cơ quan khác rồi tạo một dạ dày giả bằng ruột tùy theo mức độ xâm lấn của khối u. Khi ung thư lan rộng không còn cắt bỏ được và dạ dày bị nghẹt, phẫu thuật viên sẽ nối dạ dày và ruột non để thức ăn lưu thông được từ trên xuống như bình thường. Tuy nhiên, đây chỉ là phẫu thuật mang tính tạm bợ và tiên lượng rất xấu.


Việc theo dõi sau khi điều trị ung thư dạ dày rất quan trọng vì ung thư có thể tái phát âm thầm mà không gây triệu chứng gì bất thường. Khi thấy cơ thể mình khác lạ thì bệnh nhân nên đến gặp thầy thuốc để được kiểm tra lại và chọn phương pháp điều trị thích hợp.


Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư dạ dày

Cần lưu ý cách ăn uống sau mổ vì vài ngày đầu bệnh nhân rất mệt và có ống thông dạ dày giúp đường khâu nối mau lành. Sau mổ, bệnh nhân có thể cảm thấy yếu sức một thời gian và có thể bị tiêu chảy hoặc bón hoặc chảy máu, nhiễm trùng. Các triệu chứng này có thể kiểm soát bằng cách thay đổi khẩu phần và dùng thuốc.


Biểu hiện thường thấy nhất ở bệnh nhân ung thư dạ dày sau điều trị là chán ăn gây sụt cân nhanh, vì vậy đôi khi phải nuôi ăn cho bệnh nhân qua đường tĩnh mạch hoặc qua đường ruột. Một hậu chứng khác là hội chứng dumping xảy ra khi thức ăn hay thức ăn lỏng vào ruột non quá nhanh khiến bệnh nhân thấy đau bụng quặn cơn, buồn nôn, trướng bụng, tiêu chảy và chóng mặt.


Phòng ngừa ung thư dạ dày chủ yếu dựa vào cách ăn uống và khẩu phần, tránh hút thuốc lá, tránh thức ăn nhiều muối, nhiều gia vị hoặc có nhiều chất hóa học như nitrate, nên ăn rau cải tươi, chanh và các chất chứa nhiều vitamin C khác sẽ giúp tránh ung thư dạ dày và nhiều loại ung thư khác.


PGS.TS Lê Quang Nghĩa
Người lao động

Bệnh Trĩ

2009/12/31    17:32    {entryviewsnum}    Bệnh trĩ Ko chỉ định
BS. Dương Phước Hưng

Đại học Y Dược TP. HCM

1-Bệnh trĩ là gì?



Là bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ.

Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện.

Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng nhất là phụ nữ.


2-Triệu chứng nào đưa bệnh nhân đến khám bệnh?


Có 2 triệu chứng chính đưa bệnh nhân đi khám bệnh là chảy máu và sa búi trĩ.

-Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Đây là một trong những lý do đưa bệnh nhân đến khám. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào thỏi phân rắn. Về sau mổi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi cầu, mỗi lần đi lại nhiều, mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy. có khi máu chảy rất nhiều bắt bệnh nhân phải vào cấp cứu. Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.

-Sa búi trĩ: thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khi đại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được. Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn.

-Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu chứng khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biếng chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.


3-Lầm lẫn bệnh trĩ với các bệnh khác?


Do triệu chứng chính thường dẫn bệnh nhân đến khám là chảy máu, sa trĩ và đau là các triệu chứng có thể gặp trong nhiều bệnh khác nên dễ lầm lẫn nếu không đi khám. Với triệu chứng chảy máu có bệnh ung thư hậu môn trực tràng cũng cho triệu chứng giống như vậy, nếu bệnh nhân cứ cho là mình bị bệnh trĩ không đi khám đến khi ung thư phát triển to thì không còn khả năng điều trị được. Ngoài ung thư, hậu môn trực tràng có bệnh cũng cho dấu hiệu chảy máu như vậy là polype trực tràng, đây là bệnh cần can thiệp cắt bỏ thì mới hết bệnh chứ không thể điều trị bằng thuốc. Búi trĩ sa ra ngoài thường lầm với sa trực tràng, hai bệnh có cách điều trị khác nhau.


4-Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ?


Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn. Những yếu tố sau đây được coi như là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:

-Táo bón kinh niên: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi rặn áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ sa ra ngoài.

-Hội chứng lỵ: Những bệnh nhân bị bệnh lỵ mỗi ngày đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.

-Tăng áp lực ổ bụng: Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những bệnh nhân dãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như khuân vác... làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất hiện.

-Tư thế đứng: khi nghiên cứu áp lực tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ  là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may v…v…

-U bướu hậu môn trực tràng và vùng chung quanh: như ung thư  trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng… khi to có thể chèn ép và cản trở đường về  tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ.

5- Điều trị

Người ta chỉ điều trị khi trĩ gây những rối loạn ảnh hưởng đến sinh hoạt và năng suất lao động của người bệnh.

Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ:

- Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày.

- Điều chỉnh thói quen ăn uống:

Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà.

Tránh các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu.

Uống nước đầy đủ.

Ăn nhiều chất xơ.

-Vận động thể lực: nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ…

-Điều trị các bệnh mãn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ …

Điều trị nội khoa:

- Vệ sinh tại chỗ tốt bằng phương pháp ngâm nước ấm 2 – 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút.

- Thuốc uống: gồm các thuốc có tác nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch.

    - Thuốc tại chỗ: gồm các loại thuốc mỡ (pommade) và đạn dược (suppositoire) bao gồm các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch.

 Điều trị bằng thủ thuật:

1-Chích xơ:

     Là phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn. Tuy nhiên, người thực hiện thủ thuật phải là bác sĩ  có kinh nghiệm với kỹ thuật vững vàng mới cho kết quả tốt và tránh được các biến chứng. Mục đích chính của chích xơ là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc giúp giảm triệu chứng chảy máu.

Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ 1 và trĩ độ 2,

Trong kỹ thuật chích xơ cần chú ý một số việc:

- Sử dụng đúng loại kim: Kim dài, có ngạnh chặn ở gần đầu kim để tránh xuyên thấu sâu, nếu có kim gập góc thì rất tốt, ống chích chuyên dùng. Thuốc chích xơ thường dùng hiện nay là dầu phenol 26 và polidocanol.

-Vị trí chích là ở gốc búi trĩ, nằm trên đường lược và ở đáy búi trĩ.  Khối lượng thuốc bơm khoảng 3-5 ml, bom chậm, trong lúc bom thuốc nếu thấy chỗ chích đổi màu trắng là  chích vào lớp thượng bì, ngừng chích ngay vì sẽ gây biến chứng loét hoại tử sau chích. Vị trí chích thông thường là ở 4giờ , 7giờ và 11giờ.

-Biến chứng:

*Chảy máu chỗ chích: nếu phát hiện trong lúc chích dùng gạc đè vào, nếu không giảm dùng dụng cụ thắt trĩ bằng vòng cao su thắt vùng chảy máu.

*Chích vào tuyến tiền liệt: trong trường hợp chích quá sâu ở vị trí 11giờ-1giờ có thể gặp biến chứng bí tiểu, viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, rò hậu môn âm đạo…


2-Thắt trĩ bằng vòng cao su:

Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ định điều trị trĩ nội độ 1 và 2, một số tác giả áp dụng cho cả trĩ nội độ 3 nhưng kết quả giới hạn.

Thắt trĩ bằng vòng cao su đã được thực hiện từ thế kỷ 19 nhưng vì cột búi trĩ chung với cả da quanh hậu môn nên sau thắt rất đau, cho nên không được sử dụng rộng rải. Đến năm 1958 Blaisdell đã thành công với việc chỉ cột búi trĩ không có lẫn da và các mô chung quanh. Barron 1963 đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau đó với dụng cụ cải tiến của Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ với vòng cao su thành một phương pháp điều trị trĩ thành công và được lựa chọn hàng đầu trong các phương pháp điều trị bằng thủ thuật.

Nguyên tắc chính của thắt vòng cao su là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc, do đó sẽ cố định ống hậu môn đúng với nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn.


3-Quang đông hồng ngoại:

 Phương thức sử dụng nhiệt điều trị trĩ đã được thực hiện hàng trăm năm nay. Mục tiêu của phương pháp làm đông là làm cho mô bị đông lại bởi tác động của sức nóng, tạo nên sẹo xơ làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định trĩ vào ống hậu môn. Với tia Laser, dòng điện cao tần cũng có tác động làm đông như tia hồng ngoại, nhưng sự chính xác về độ sâu xuyên thấu của tác động làm đông của 2 phương pháp này không chính xác bằng tia hồng ngoại với máy quang đông. Sự xuyên thấu mô của tia hồng ngoại được định trước bằng cách điều chỉnh tốc độ của tia và độ hội tụ chính xác trên lớp mô này. Máy quang đông hồng ngoại có lợi là không gây nhiễu các dụng cụ điện tử gắn trên người bệnh như máy điều hòa nhịp tim.

Quang đông hồng ngoại được chỉ định với trĩ nội độ 1 và độ 2. Phương pháp này có ưu điểm là không đau, an toàn, cầm máu rất hiệu quả nhưng có nhược điểm là máy khá đắt và thường phải làm thủ thuật nhiều lần.        


PHẪU THUẬT


Với các phát hiện về sinh bệnh học và giải phẫu học, từ thập niên 90 có các phương pháp phẫu thuật mới như khâu treo trĩ, phẫu thuật Longo, khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler. Các phương pháp phẫu thuật mới này dựa trên nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định mô trĩ vào ống hậu môn. Với các phương pháp phẫu thuật sau này, vùng phẫu thuật nằm trên cột Morgagni, là vùng không có các tiếp nhận cảm giác, do đó khi phẫu thuật vùng này có lợi điểm là không đau.

 
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Hình 1 : Vị trí phẫu trường của 2 nhóm phẫu thuật


1-Nhóm phẫu thuật 1: gồm 2 nhóm phẫu thuật

a-Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc:

Phẫu thuật Whitehead: nguyên tắc là cắt khoanh niêm mạc và lớp dưới niêm mạc có các búi tĩnh mạch trĩ, sau đó  kéo niêm mạc từ trên xuống khâu với da ở hậu môn. Phương pháp này hiện nay hầu như không được sử dụng vì để lại nhiều biến chứng nặng nề như hẹp hậu môn, đại tiện mất tự chủ và rỉ dịch ở hậu môn. Nhưng vì tính chất triệt để của phẫu thuật nên nhiều tác giả vẫn sử dụng nguyên tắc của phẫu thuật này nhưng cải biên lại để làm giảm các biến chứng, ví dụ phẫu thuật Toupet.


b-Phẫu thuật cắt từng búi trĩ:

Nguyên tắc phẫu thuật này là cắt riêng biệt từng búi trĩ một, để lại ở giữa các búi trĩ các mảnh da-niêm mạc (cầu da niêm mạc). Nhóm phẫu thuật này gồm có  PT Milligan Morgan (1937), PT Ferguson (1959), PT Parks (1965), PT BV Việt Đức (Nguyễn Đình Hối, 1966).

Nhóm phẫu thuật này gồm2 nhóm chính là:

- Cắt trĩ mở: PT Milligan Morgan , PT Nguyễn Đình Hối

- Cắt trĩ kín:  PT Ferguson.

Nhóm phẫu thuật này tránh được các biến chứng của nhóm phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc da, nhưng vẫn còn nhược điểm là đau sau mổ, thời gian nằm viện dài, thời gian trở lại lao động muộn và không hiệu quả trong các trường hợp trĩ vòng.


2-Nhóm phẫu thuật 2:

Xuất phát từ các nhược điểm của nhóm phẫu thuật dưới cột Morgagni và các phát hiện mới về sinh bệnh học, từ thập niên 90, dựa trên nguyên tắc bảo tồn khối đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và thu nhỏ thể tích khối trĩ, một số phẫu thuật mới đã ra đời với nguyên tắc treo hậu môn như PT Longo, khâu treo trĩ bằng tay và nguyên tắc thu nhỏ thể tích khối trĩ như PT khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler.


a-PT Longo (1993) (hình 1):

Là phẫu thuật sử dụng máy khâu vòng để cắt một khoanh niêm mạc trên đường lược 2-3 cm và khâu vòng bằng máy bấm. Nguyên tắc của phẫu thuật này là cắt và khâu khoanh niêm mạc, nhằm mục đích giảm lưu lượng máu đến đám rối tĩnh mạch trĩ để thu nhỏ thể tích trĩ và treo được đệm hậu môn vào ống hậu môn. Phương pháp này được ưa chuộng vì không đau, thời gian nằm viện ngắn, trả bệnh nhân về lao động sớm, nhược điểm này là chi phí cao, chưa được đánh giá đầy đủ về hiệu quả do thời gian theo dõi còn ngắn 15.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
 Hình 1: Phẫu thuật Longo


b-Khâu treo trĩ bằng tay:

Đây là phương pháp cải biên của phẫu thuật Longo ở các nước đang phát triển do giá thành cao của PT Longo . PT này đã được Ahmed M Hussein, Nguyễn Mạnh Nhâm, Nguyễn Trung Vinh, Nguyễn Trung Tín báo cáo ở các hội nghị. Phương pháp này cũng dựa trên nguyên tắc của phẫu thuật Longo là làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ để thu nhỏ thể tích khối trĩ và treo búi trĩ  lên ống hậu môn bằng các mũi khâu tay khâu xếp nếp niêm mạc trên đường lược 2-3 cm. Phương pháp này chỉ mới được báo cáo sau năm 2001.


c-Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler (hình 2):

  
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Hình 2: Máy Moricorn và ống soi hậu môn có đầu dò siêu âm Doppler

Phương pháp này được Kazumasa Morinaga thực hiện lần đầu  năm 1995, với một dụng cụ có tên là Moricorn, là một máy gồm một đầu dò siêu âm Doppler gắn liền trong một ống soi hậu môn, qua dụng cụ này tác giả dò tìm 6 động mạch, là những nhánh tận của động mạch trực tràng trên, và các nhánh động mạch này được khâu cột ở vị trí trên đường lược 2cm.

Nguyên tắc của phương pháp này là làm giảm lưu lượng máu đến các búi trĩ, chỉ áp dụng cho trĩ nội độ 2 và 3, ưu điểm của phương pháp này là không đau và bảo tồn được đệm hậu môn.

Cả ba phương pháp này không giải quyết được các trường hợp trĩ nội tắc mạch và các trường hợp có mẫu da thừa lớn.

Text Box:  

Chỉ định điều trị:


-Trĩ có thể là bệnh, có thể là triệu chứng của một bệnh khác. Chỉ được phẫu thuật khi là trĩ bệnh . Một sai lầm thường mắc phải là cắt trĩ cho một bệnh nhân bị ung thư trực tràng. Có thể trĩ là triệu chứng của ung thư trực tràng, có thể là ung thư trực tràng xuất hiện trên một bệnh nhân có trĩ đã lâu. Vì vậy, trước khi mổ phải khẳng định không có các thương tổn thực thể khác ở vùng hậu môn trực tràng.


-Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hay các phương pháp vật lý. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các di chứng nặng nề khó sửa chữa.


-Chỉ định mổ áp dụng cho trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng sa và trĩ xuất huyết trầm trọng.


-Trĩ ngoại: Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch tạo thành những cục máu đông nằm trong các búi trĩ. Phẫu thuật điều trị tắc mạch trong cấp cứu là rạch lấy cục máu đông. Ngay sau mổ bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và hết đau ngay.


-Trĩ nội:

- Độ 1: chích xơ hoặc làm đông bằng nhiệt.

- Độ 2: làm đông bằng nhiệt, thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.

- Độ 3: thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.

- Độ 4: cắt trĩ.

- Trĩ sa nghẹt: dùng thuốc điều trị nội khoa và ngâm nước ấm cho đến khi búi trĩ hết phù nề, tại chỗ ổn định, sau đó mới mổ cắt trĩ.

Nguồn: medinet.hochiminhcity.gov.vn

Tham khảo điều trị bệnh trĩ tại: www.chuabenhtri.net
Bệnh bạch cầu cấp hay lơxêmi cấp (nhân dân gọi nôm na là bệnh máu trắng) là một bệnh tǎng sinh có tính chất ác tính. Các bạch cầu non tiên phát ở tủy xương, lấn át sự tạo máu bình thường của tủy và thâm nhiễm vào nhiều bộ phận trong cơ thể. Với các bệnh nhi, đây không phải là căn bệnh vô phương cứu chữa, nhưng rất tốn công.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bệnh bạch cầu cấp là bệnh ác tính phổ biến nhất trong các bệnh ung thư ở trẻ em. Tại Khoa huyết học lâm sàng, Bệnh viện nhi trung ương, bệnh bạch cầu cấp chiếm 45% các bệnh ung thư vào bệnh viện và hàng nǎm bệnh viện tiếp nhận từ 120 đến 150 bệnh nhân mới.

Đây cũng là một bệnh hiểm nghèo, trước có thể gây tử vong chỉ trong 1 nǎm. Nhờ những tiến bộ vượt bậc của y học về hiểu biết bệnh, phân loại bệnh, thuốc điều trị và ứng dụng các kỹ thuật di truyền, sinh học phân tử, nên hiện nay trên 60% trẻ bị bạch cầu được cứu sống ở các nước tiên tiến và trên 90% trẻ sống thêm được từ 3-5 nǎm.

Ở Việt Nam những nǎm qua đã có nhiều tiến bộ về chẩn đoán, song điều trị còn gặp nhiều khó khǎn, kết quả điều trị còn hạn chế, chỉ 8-10% số trẻ bị bệnh vào BV Nhi Trung ương có điều kiện theo đuổi điều trị một cách đầy đủ.

Triệu chứng

Bệnh bạch cầu cấp xảy ra ở mọi lứa tuổi, song phổ biến ở trẻ dưới 5 tuổi, trẻ trai mắc bệnh nhiều hơn trẻ gái. Bệnh thường bắt đầu bằng triệu chứng sốt và da xanh do thiếu máu. Đặc điểm của triệu chứng sốt là sốt thất thường, sốt cao, lúc đầu dễ lầm lẫn là sốt do một bệnh nhiễm trùng, điều trị bằng kháng sinh không có hiệu quả, có thể sốt từng đợt, tái diễn.

Kèm theo sốt là da xanh dần, trẻ mệt mỏi, thở nhanh, tim đập nhanh, do thiếu máu. Thiếu máu tǎng dần, lúc đầu thiếu máu nhẹ, sau thiếu máu nặng, đòi hỏi phải truyền máu nhiều lần.

Đồng thời với sốt, thiếu máu thường có biểu hiện xuất huyết, trên da thấy có nhiều chấm xuất huyết màu đỏ, có những mảng bầm tím, dễ bị chảy máu cam, rỉ máu ở lợi chân rǎng. Trường hợp nặng có thể bị chảy máu đường tiêu hóa, nhất là chảy máu ở nội sọ và chảy máu phổi gây tử vong.

Ngoài các biểu hiện trên còn hay gặp nổi hạch to ở hai bên cổ, nách, bẹn; lách to và đau xương khớp. Nhiều trường hợp đau xương dễ lầm lẫn với viêm đa khớp. Nếu không được điều trị, bệnh tiến triển nặng dần, sốt nhiều hơn, thiếu máu nặng, xuất huyết nhiều, dễ có nguy cơ tử vong do chảy máu nặng và nhiễm khuẩn.

Chẩn đoán

Để chẩn đoán xác định bệnh phải dựa vào xét nghiệm máu ngoại biên và máu tủy. Máu ngoại biên có biểu hiện giảm hồng cầu và huyết cầu tố, bạch cầu thường tǎng cao, có nhiều bạch cầu non, giảm bạch cầu trung tính và tiểu cầu.

Chọc dò tủy xương để xét nghiệm máu tủy, thấy có biểu hiện tủy tǎng sinh, chủ yếu là tǎng sinh nhiều bạch cầu non, lấn át các dòng tế bào bình thường ở tủy, như giảm dòng hồng cầu, giảm dòng bạch cầu tủy bình thường và giảm dòng mẫu tiểu cầu ở tủy. Xét nghiệm máu tủy là xét nghiệm có ý nghĩa quyết định chẩn đoán. Do đó chọc dò tủy xương là xét nghiệm bắt buộc để chẩn đoán.

Cũng cần nói rõ thủ thuật chọc dò tủy xương không gây tai biến nếu đảm bảo kỹ thuật. Máu tủy còn được sử dụng để làm một số xét nghiệm về miễn dịch, di truyền, rất cần cho chẩn đoán, phân loại bệnh để giúp hướng điều trị chính xác.

Điều trị

Bệnh bạch cầu cấp được phân loại thành 2 dòng, bạch cầu cấp dòng lympho và bạch cầu cấp dòng tủy. Ở trẻ em, 70% trường hợp là bạch cầu cấp dòng lympho, còn 30% là bạch cầu cấp dòng tủy. Nhìn chung bạch cầu cấp lympho thì tiên lượng điều trị thuận lợi hơn bạch cầu cấp dòng tủy.

Việc điều trị bệnh bạch cầu cấp khá phức tạp và khó khǎn vì cần nhiều loại thuốc, các thuốc đều có nhiều độc tính cũng như tác dụng phụ; thời gian điều trị dài từ 2-3 nǎm, phải điều trị liên tục, phải được theo dõi tại một cơ sở chuyên khoa

Ngoài thuốc hóa chất, bệnh nhi còn cần được truyền máu, chống nhiễm trùng bội phụ, một số ít còn cần ghép tủy xương, do đó chi phí điều trị khá cao. Vì thế, cho đến nay chỉ có khoảng 8-10% bệnh nhân có điều kiện chấp nhận điều trị đầy đủ. Điều trị bệnh bạch cầu cấp đầy đủ, liên tục cần sự kết hợp chặt chẽ giữa bệnh viện và gia đình, và việc tổ chức chǎm sóc tốt.

Phương pháp điều trị bao gồm: đa hóa trị liệu, điều trị hỗ trợ bao gồm cả truyền các chế phẩm máu và ghép tủy xương nếu cần, và điều trị chống nhiễm khuẩn. Cũng phải nói ngay không phải tất cả bệnh nhân bạch cầu cấp đều phải ghép tủy xương, chỉ một ít trường hợp cần ghép tủy.

Trong suốt thời gian điều trị, bệnh nhi được theo dõi tại một bệnh viện để đánh giá tiến triển bệnh, tác dụng phụ, độc tính do điều trị và biến chứng nhiễm trùng cơ hội, để điều chỉnh chế độ điều trị và xử trí kịp thời. Bệnh bạch cầu cấp là một bệnh ác tính, tiên lượng nặng, dè dặt.

Chi phí cho điều trị bệnh bạch cầu cấp khá tốn kém, bệnh nhi cần được sự hỗ trợ của bảo hiểm y tế và các tổ chức nhân đạo.

(GS.TS. Nguyễn Công Khanh, Sức khoẻ & Đời sống)
Trẻ sơ sinh thể chất non nớt và sức đề kháng yếu rất dễ mắc các bệnh ngoại khoa nên các bà mẹ hãy lưu tâm khi chăm sóc con trong giai đoạn này.

I Đầu mặt cổ:

1. Các khối u ở cổ:

U tân dịch, u quái, u máu ở cổ có thể tắc đường hô hấp ở trẻ sau sinh, đặc biệt khi u lan vào sàn miệng, vào lưỡi bệnh nhi. Trong chăm sóc phát hiện sớm các trường hợp suy hô hấp do khối u chèn ép.

2. Vẹo cổ bẩm sinh:

Biểu hiện bằng một khối u xơ, đường kính 1 - 2 cm, không di động, xảy ra 2 - 3 tuần sau sinh thường do sang chấn sản khoa. 80% trở về bình thường sau 2 - 3 tháng. Có thể chữa khỏi nhờ tập vật lý trị liệu.

3. Hội chứng Pierre Robin:

Biểu hiện bằng tam chứng: chẻ vòm hầu, lưỡi tụt và cằm lẹm.

Tắt đường hô hấp trên do tụt lưỡi, rất hay gặp sau sinh hay muộn hơn là 3 tuần sau sinh.

Chăm sóc:

Tư thế trẻ: nằm sấp, đầu nghiêng sang một bên, có thể cao hay thấp. Tuy nhiên, đầu cao làm tăng nguy cơ tụt lưỡi, đầu thấp: nguy cơ trào ngược dạ dày thực quản.

Trong trường hợp suy hô hấp nặng, cần thiết phải đặt airway trong khi chờ đợi mở khí quản ra.

Bệnh nhân có chẻ vòm hầu: nên nuôi ăn là điều quan trong trong công tác chăm sóc của điều dưỡng. Vì sức bú của bé rất kém nên có thể sử dụng núm vú thường hay mở rộng lỗ núm vú để có thể tăng thể tích dòng sữa cung cấp cho bé. Nếu cho ăn bằng đường miệng thất bại thì gava qua sonde dạ dày.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

II Các tổn thương ở ngực:

  1. Thoát vị hoành bẩm sinh:

Là tình trạng các tạng trong ổ bụng thoát vị lên lồng ngực qua các lỗ khiếm khuyết của cơ hoành, thường xảy ra bên trái nhiều hơn bên phải. 85 - 90% thoát vị qua khe Bochdaleck.

Sau sinh thoát vị biểu hiện bằng tam chứng kinh điển: tím tái, khó thở, tim lệch phải. XQ: bóng các quai ruột trong lồng ngực.

Chăm sóc:

Tư thế đầu cao 30o, nghiêng bên thoát vị; Giữ thân nhiệt; Đặt sonde dạ dày giải áp.

Về hô hấp: Không thở NCPAP, không giúp thở bằng mask để tránh khí vào dạ dày chèn ép đường hô hấp.



III Tổn thương đường tiêu hoá:


1.Teo thực quản:

Sau sinh, biểu hiện lâm sàng của thể điển hình (type 3): tăng tiết nước bọt, tím tái, sặc ho khi nhấp nước, hay muộn hơn là suy hô hấp do viêm phổi. Đặt sonde dạ dày thấy bị nghẽn hơi lồng ngực.

Chăm sóc:

Trẻ phải được đặt ở tư thế đầu cao, nghiêng phải, đồng thời tránh cho bé khóc to, gây hít không khí nhiều, làm tăng chướng bụng, suy hô hấp.

2. Teo ruột:

Sau sinh biểu hiện lâm sàng: ói dịch vàng, chậm đi phân su, bụng chướng khi tắc thấp hoặc không chướng nếu là tắc cao ở tá tràng, hổng tràng.

Nguyên tắc: khi đứng trước một trẻ sơ sinh ói dịch vàng phải nghĩ đến tắc ruột cho đến khi có bằng chứng ngược lại.

Chăm sóc:

Trẻ phải được ủ ấm, giải áp đường tiêu hoá bằng cách hút liên tục thông dạ dày.

Nằm đầu cao tránh hít dịch ói.

Truyền dịch bồi hoàn nước và điện giải, ủ ấm và kháng sinh phổ rộng.

3. Thoát vị chân cuống rốn và hở thành bụng bẩm sinh:

Trẻ có nguy cơ bị hạ thân nhiệt, mất nước, nhiễm trùng, thắt nghẹt ruột, hoại tử và tắc ruột. Xử trí ban đầu là truyền dịch, ủ ấm, cho kháng sinh, vitamin K, đặt thông dạ dày, thông tiểu.

Nếu là thoát vị chân cuống rốn: phải dùng gạc ấm bao bọc bảo vệ túi thoát vị, tránh bị rách túi.

Trong trường hợp hở thành bụng: phải dùng gạc ẩm bao bọc ruột, tránh làm tổn thương ruột và mạch máu mạc treo.

4.  Các thương tổn thận và đường tiết niệu:

  1. Hội chứng khúc nối bể thận niệu quản:

Theo dõi sát và quyết định phẫu thuật khi thận ứ nước ngày càng tăng và chức năng thận suy giảm.

  2. Van niệu đạo sau:

Là dị tật gây tử vong cao, 40% dẫn đến suy thận giai đoạn cuối trước lúc 5 tuổi.

5.  Thoát vị màng não tủy:

Là một nang phồng lên, bên trong chứa dịch não tuỷ và thông thương với khoang dưới nhện.

Có thể tồn tại ở thể nhẹ với lớp da và lông hay một u mỡ bao phủ bên ngoài hoặc trầm trọng hơn khi lớp dưới màng não lộ ra ngoài kèm theo dò dịch não tuỷ.

Vị trí thường gặp ở cột sống thắt lưng chiếm 80% trường hợp.

Chăm sóc:

Tránh sang chấn và làm tăng áp lực nơi tổn thương.

Phủ gạc ẩm lên chỗ thoát vị, nếu bao thoát vị bị vỡ, dịch não tuỷ dò ra ngoài, phải dùng gạc tẩm betadine che phủ và kháng sinh phòng ngừa.

Tránh để lây nhiễm phân vào chỗ thoát vị.



(chamsocbe.vn)
Hiện nay những người mắc bệnh thấp khớp chủ yếu là ở độ tuổi trung niên và thanh niên. Nguyên nhân bệnh thấp khớp chủ yếu do ảnh hưởng của thời tiết.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Nếu như sức khỏe bình thường thì không sao, nhưng một khi cơ thể đang trong trạng thái sức đề kháng kém, hoặc luôn ở trong một môi trường đặc biệt, thì thời tiết sẽ ảnh hưởng đến cơ thể, do đó mà bị bệnh thấp khớp.

Có một số thanh niên khi bị cảm và ho thì thường không coi trọng, cho rằng những bệnh vặt vãnh này chỉ cần uống thuốc cảm là khỏi. Có nhiều người thấy đỡ là không điều trị nữa, nhưng thực tế cho thấy lúc này bệnh cảm còn chưa khỏi hẳn.
Những người sức khỏe không tốt thường dễ bị thấp khớp.

Những người sức khỏe không được tốt thường dễ bị thấp khớp, cảm và ho phát triển thành viêm họng, hoặc viêm amiđan mạn tính, vi khuẩn trong cơ thể sẽ sản sinh phản ứng biến dạng, nhẹ thì bị viêm khớp nặng thì dẫn đến thấp khớp chạy vào tim.

Những người thường xuyên trong môi trường giá lạnh hoặc cả ngày tiếp xúc với nước cũng dễ bị thấp khớp. Qua tiếp xúc với những căn bệnh trong lâm sàng, các chuyên gia y tế cho biết, do những nguyên nhân trên mà bị mắc bệnh thấp khớp thì phần lớn là những phụ nữ làm việc bàn giấy và những người nội trợ.

Nhiều phụ nữ không chú ý mặc cho ấm, trong mùa đông giá lạnh lại mặc váy ngắn trên đầu gối, khiến cho đầu gối bị lạnh. Những chị em nội trợ tay thường phải tiếp xúc với nước, nên hơi nước lạnh ngấm vào khớp ngón tay, khiến các ngón tay không được linh hoạt... Tất cả những điều đó đều là những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh thấp khớp.

Ngoài ra, do không chú ý tránh gió, mặc cho ấm, nên nhiều chị em sau khi sinh đẻ bị đau lưng và nhức chân, thực ra đều là do phong thấp. Nhất là hiện nay khoa sản của nhiều bệnh viện đều có lắp điều hòa nhiệt độ, sản phụ khi sinh đẻ bị ra nhiều máu, sức đề kháng hạ thấp, nếu như lúc này mà bị lạnh thì rất dễ bị phong thấp, nếu chị em không chú ý sau này dễ dẫn đến bệnh thấp khớp.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Một bé gái bị bệnh thấp khớp.

Các chuyên gia y tế khuyên những chị em làm bàn giấy nếu như khi ở trong phòng làm việc mà mặc váy, thì tốt nhất là nên chuẩn bị một chiếc chăn nhỏ và mỏng phủ lên đầu gối cho đỡ lạnh.

Những chị em nội trợ thường không nên ngâm tay trong nước lạnh, khi làm việc nhà nên tốt nhất là đeo găng tay hoặc dùng nước ấm, sau đó phải thường xuyên dùng khăn mặt nóng chườm tay. Nếu áp dụng những biện pháp này thì cho dù không dùng thuốc bệnh cũng sẽ đỡ nhiều.

Do điều kiện khí hậu và công việc nên có rất nhiều người bị mắc bệnh viêm khớp xương. Vậy những người như thế nào dễ mắc bệnh viêm khớp?

Thứ nhất là những người già: Tỷ lệ mắc bệnh này có liên quan chặt chẽ với tuổi tác.

Thứ hai là phụ nữ, đặc biệt những phụ nữ sau khi mãn kinh: trong số những người 45-55 tuổi, thì tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ ngang nhau, còn sau 55 tuổi thì tỷ lệ ở phụ nữ tăng lên rõ rệt, về tổng thể mà nói thì tỷ lệ chị em phụ nữ mắc bệnh này cao gấp 3 lần so với nam giới.

Thứ 3 là những người béo phì: qua nghiên cứu cho thấy béo phì có liên quan nhất định so với bệnh viêm khớp. Tỷ lệ mắc bệnh của phụ nữ béo phì cao gấp 5 lần so với những phụ nữ bình thường. Ngoài ra khi béo phì thì sự phân bố của mỡ có liên quan đến bệnh viêm khớp. Những người có phần eo nhiều mỡ dễ bị viêm khớp hông và khớp đầu gối, còn phần hông và đùi nhiều mỡ thì ít khi gây nên bệnh viêm khớp. Giống nòi cũng là một nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này. Người phương Tây có tỷ lệ viêm khớp xương hông rất cao, còn người phương Đông thì tỷ lệ viêm khớp đầu gối nhiều hơn.

Một số người làm những công việc đặc biệt cũng dễ bị bệnh viêm khớp xương như công nhân mỏ, hái bông, những người lao động nặng, vận động viên, diễn viên múa... chủ yếu là do xương sụn trong khớp luôn bị đè nặng nên bị mài mòn và bị thương gây nên.

Đông y, nhất là Trung Quốc, thường chữa bệnh bằng ăn uống tốt hơn là uống thuốc, nên đối với những người bị bệnh khớp nặng thì càng cần phải  chú ý đến ăn uống.

Flavone trong thực vật có thể giúp tăng cường chất keo trong khớp xương, giảm bớt  phản ứng bị viêm, làm phục hồi nhanh chỗ khớp bị viêm. Có thể ăn nhiều những loại rau và hoa quả có màu xanh như cam, dâu tây, uống trà xanh và những hoa quả có hạt như anh đào, mận... Ngoài ra cũng nên ăn những thức ăn như quả hạnh, đào, xoài, đu đủ, bí đỏ, rau bina (chân vịt) và khoai lang để bổ xung vitamin A.

Những người bị bệnh thấp khớp còn cần phải ăn thêm cam, nho, dưa lê, cà chua, ớt ngọt... để bổ sung vitamin C và ăn mạch nha lạc, nhân hạt điều và những loại rau lá xanh thẫm để bổ sung vitamin E.

Người trưởng thành mỗi ngày phải bổ sung lượng canxi là 600 miligam, trong đó sữa là nguồn cung cấp canxi lý tưởng nhất. Người lớn mỗi ngày nên uống 1-2 cốc sữa, cũng có thể ăn các loại cá nhỏ có xương, tôm, tép, sò, hến... Ngoài ra các loại đậu đỗ, những thực phẩm làm bằng đỗ và rau màu xanh sẫm cũng rất giàu canxi.

(Theo Vietnamnet)

Lương y VÕ HÀ

         

Theo một số nghiên cứu hiện nay, hơn 2/3 trường hợp viêm khớp dạng thấp có liên quan đến cơ chế tự miển dịch. Ở  những người nầy, hệ kháng nhiễm của cơ thể đã nhận lầm một số yếu tố bình thường và vô hại như những tác nhân lạ và tấn công chúng.  Quá trình nầy đã tạo ra viêm nhiễm.  Do đó,  bên cạnh việc rèn luyện và vận động hợp lý việc phòng ngừa và điều trị kịp thời căn bệnh phải  bắt đầu từ việc điều chỉnh chế độ ăn uống để loại bỏ hoặc hạn chế các tác nhân gây bệnh.

         
Nguyên nhân

           Viêm khớp dạng thấp là một dạng bệnh do thoái hoá cơ, xương, khớp.  Mỗi khớp thường được bảo vệ bởi nhiều thành phần như cơ, gân, sụn và màng hoạt dịch.  Trong quá trình cuộc sống, do tuổi đời, do chấn thương, do lao động nặng nhọc hoặc do tích lũy những chất độc hại, các khớp có thể bị thoái hóa, các tổ chức ở khớp bị khô nước, hóa vôi, xơ hóa hoặc biến dạng.  Những sự thay đổi này làm mất đi tính đàn hồi và sự linh hoạt cần thiết nên gây đau nhức và khó khăn khi chuyển động.  Bệnh thường xảy ra ở những khớp nhỏ và có tính đối xứng nhau như khớp ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, ngón chân, đầu gối. . Bệnh cũng có thể xảy ra ở khớp háng, hoặc các đốt sống.  Thoái hoá khớp thường được xem là một hệ quả tự nhiên của quá trình lão hoá.  Tuy nhiên theo một số nghiên cứu của khoa học hiện nay, phần lớn trường hợp viêm khớp mãn tính có liên quan đến những vấn đề của hệ miển dịch.

           Theo y học cổ truyền, Can chủ gân, Thận chủ xương và Tỳ chủ vận hóa khí huyết.  Do đó, khi Can, Thận hư tổn và Tỳ Vị suy yếu thì phong, hàn, thấp xâm nhiễm khiến chân tay đau nhức, co duỗi khó khăn. Ngoài ra,  cơ chế “tự miển dịch” có liên quan đến cơ địa dị ứng và yếu tố “phong” của y học cỗ truyền.


Điều trị

           Viêm khớp dạng thấp là một loại bệnh phong thấp thuộc phạm vi chứng Tý của y học cổ truyền.  Bệnh biểu hiện rõ khi thời tiết thay đổi hoặc khí trời ẩm ướt.  Phong và thấp là hai yếu tố gây bệnh luôn đi kèm với bệnh viêm khớp mãn tính.  Tỳ Vị thuộc Thổ.  Trong ngũ hành khí, Thổ khí là loại khí đối kháng với thấp khí.  Nếu Tỳ Vị sung mãn sẽ giúp tiêu trừ thấp khí, tăng cường chuyển hóa và thúc đẩy khí huyết lưu thông.  Khi “huyết hành, phong sẽ tự diệt”, những điểm ứ trệ khí huyết gây tê, đau  cũng sẽ dần dần được giải tỏa.  Do đó, ngoài việc bổ Can Thận, sơ phong tán thấp thì việc kiện Tỳ, bổ khí là khâu chủ đạo trong phép chữa bệnh thấp khớp.  Tỳ Vị là cơ quan thu nạp và chuyển hoá thức ăn, Tỳ  lại “chủ tứ chi và cơ nhục” nên chế độ ăn uống và vận động hợp lý  có liên quan mật thiết đến thịnh suy của Tỳ.  Dù có dùng thuốc hay không thì chế độ ăn uống và luyện tập thể lực luôn là yếu tố quyết định trong việc phòng ngừa và điều trị viêm khớp.  Chế độ ăn uống ngoài việc  cung cấp đủ những nhóm thức ăn thiết yếu và vi chất cần thiết còn phải biết nhận dạng và kiêng cử những thức ăn sinh phong, có phong  để loại bỏ các tác nhân có khả năng kích hoạt quá trình viêm nhiễm.


Bài thuốc

                     
Độc hoạt tang ký sinh .  Độc hoạt tang ký sinh là một cỗ phương thông dụng để chữa trị các chứng phong thấp, thấp khớp gây đau nhức, chân tay co duỗi khó khăn.  Phương thang bao gồm Sâm, Linh, Quế,Thảo để kiện Tỳ, ôn dương hoá thấp, gia tăng trương lực cơ và tăng cường chính khí; Khung, Quy, Thục, Thược, Đỗ trọng, Ngưu tất để dưỡng Can, Thận, khỏe mạnh gân cốt; thêm các vị thuốc có tác dụng khu phong, thông kinh hoạt lạc như Độc hoạt, Tang ký sinh, Tế tân, Tần giao, Phòng phong.  Bài thuốc này thiên về sơ phong, tán tà, chữa phong thấp, thấp khớp ở vùng hạ tiêu như eo lưng. đầu gối, khớp chân.  Nếu đau nhức ở vùng cánh tay, bàn tay có thể gia thêm Khương hoạt 8gr, Quế chi 4gr.  Sau đây là nguyên thang của bài Độc hoạt ký sinh thang.



Nhân sâm 8gr
  

Thục địa 16gr
  

Tang ký sinh 12gr

Phục linh 8gr
  

Bạch thược 12gr
  

Tần giao 12gr

Cam thảo 6gr
  

Đỗ trọng 12gr
  

Phòng phong 12gr

Xuyên khung 8gr
  

Ngưu tất 8gr
  

Nhục quế 4gr

Đương quy 12gr
  

Độc hoạt 12gr
  

Tế tân 4gr

           Đổ vào 3 chén nước sắc còn hơn nữa chén.  Nước thứ hai đổ vào thêm 2 chén, sắc còn hơn nữa chén.  Trộn đều hai lần thuốc sắc được.  Chia làm hai hoặc ba lần uống trong một ngày.  Uống trong lúc thuốc còn ấm.  Mỗi đợt có thể uống từ 5 đến 7 thang.



Thương truật phòng kỷ thang.  Trong một số trường hợp cấp diễn, phong thấp sinh nhiệt, hóa hỏa gây sưng, nóng, đỏ, đau.  Trường hợp này hỏa đang thịnh nên không dùng Sâm. Quế.  Phép chữa chủ yếu chỉ nhằm khu phong giải độc, hoạt huyết tiêu ứ.  Có thể dùng bài thuốc Thương truật phòng kỷ thang:



Thương truật 12gr
  

Kim ngân hoa 24gr
  

Ngưu tất 12gr

Phòng kỷ 12gr
  

Liên kiều 12gr
  

Tô mộc 8gr

Thông thảo 12gr
  

Ý dĩ 15gr
  

Cam thảo 6gr

Bồ công anh 30gr
  

Địa long 12gr
  
Sắc uống giống như những thang trên.



Thuốc chườm bên ngoài

           Trong những lúc thời tiết ẩm ướt, đau nhức gia tăng, người bệnh có thể dùng biện pháp chườm nóng bên ngoài để sức nóng và sức thuốc thấm qua da tăng cường tác dụng làm tan ứ huyết và giảm đau.

   * Dùng gừng tươi, lá ngủ trảo, lá ngải cứu tươi hoặc lá lốt rửa sạch, giả nát, có thể thêm vào một chút rượu.  Xào nóng, bỏ vào túi vải, chườm nóng bên ngoài chỗ đau.
   * Dùng muối hột rang nóng bỏ vào túi vải, chườm nóng bên ngoài chỗ đau.
   * Ngâm nước gừng nóng: Quậy đều 1 muổng bột gừng vào trong một chậu nước nóng hoặc bồn tắm nóng. Độ nóng vừa đủ.  Ngâm vùng thân thể có khớp bị đau nhức từ 10 đến 15 phút mỗi lần.
   *  Không chườm nóng trong những trường hợp có sưng, nóng, đỏ, đau.


Điều trị không dùng thuốc


Chế độ ăn uống. Chế độ ăn uống và sinh hoạt có ảnh hưởng rất lớn đến việc phòng ngừa cũng như điều trị bệnh thấp khớp.  Yếu tố nào giúp ích cho Tỳ Vị vượng thịnh hoặc tăng cường khả năng giải độc của Can Thận sẽ có tác động hỗ trợ điều trị.  Yếu tố nào làm suy yếu Vị khí sẽ có tác động tiêu cực đối với bệnh  Để được hấp thu và tiêu hóa, thức ăn, thức uống phải thông qua dạ dày nên có tác dụng trực tiếp đến khí hóa của Tỳ Vị.  Những vật thực cay, ấm, dễ tiêu và việc ăn uống tiết độ có thể phát huy Vị khí.  Trái lại, “Tỳ ố thấp”, những thức ăn hàn, lạnh đình tích khó tiêu, dễ sinh thấp khí sẽ làm trệ Tỳ.  Ngoài ra, việc ăn nhiều protein động vật dễ sinh ra nhiều chất cặn bả không được phân giải tốt, bám vào các tổ chức bị xơ hoá hoặc vôi hoá chung quanh khớp có thể  làm nặng thêm tình trạng của bệnh.  Hiện nay nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh viêm khớp dạng thấp thường liên quan đến những vấn đề của hệ miển dịch hơn là sự hư hoại tự nhiên của các khớp qua thời gian hoặc tuổi đời.  Tiến sĩ Andrew Nicholson, một nhà nghiên cứu về y tế dự phòng của Mỷ cho biết ở hơn 2/3 số người bị thấp khớp hệ kháng nhiễm của cơ thể đã nhận dạng nhầm những yếu tố tự nhiên hoặc vô hại (thường là một số protein trong các loại động vật hoặc những chế phẩm từ sữa) như những tác nhân lạ và tấn công chúng.  Quá trình nầy đã tạo ra sự kích thích và viêm nhiễm.  Ở bệnh viêm khớp, sự viêm nhiễm đã thúc đẩy sự giải phóng các chất bị hư hoại.  Điều nầy càng làm tăng thêm mức độ tổn thương cho các mô ở vùng khớp làm cho tình trạng viêm nhiễm ngày càng trầm trọng thêm.  Đây là một cơ chế tự miễn dịch đã được “lập trình” sẳn từ gen di truyền  mà cho dến nay khoa học vẫn chưa có cách để khắc phục.  Thông thường, vì không thay đổi được cơ chế tự miễn dịch, chu kỳ viêm và dùng thuốc chống viêm cứ tiếp tục phải tái diễn.  Đây chính là một bi kịch cho người bệnh vì  dùng thuốc ức chế miển dịch lâu dài sẽ làm giảm khả năng chống lại các vi trùng gây bệnh và vì những phản ứng phụ nguy hại mà các loại thuốc kháng viêm có thể gây ra như xuất huyết tiêu hoá, loãng xương, phù . . Do đó, một biện pháp quan trọng trong chữa bệnh thấp khớp là chận đứng và kiểm soát được các yếu tố nguy cơ dẫn đến phản ứng dây chuyền.  Điều này phải bắt đầu từ việc nhận dạng và điều chỉnh chế độ ăn uống để loại bỏ hoặc hạn chế các tác nhân gây bệnh.  Đó là lý do tại sao nhiều trường hợp bệnh viêm khớp đã thất bại với các liệu pháp chính thống, người bệnh đã phải chịu đựng những cơn đau dai dẵng suốt hàng chục năm trời nhưng lại chuyển biến khá tốt chẳng mấy chốc sau một thời gian ngắn thay đổi chế độ ăn uống.  Cũng vì điều nầy, khi điều trị viêm khớp, các thầy thuốc Đông y thường khuyên bệnh nhân phải kiêng cử một số vật thực được cho là có phong, hay sinh phong như thịt gà, bò, tôm, cá biển . . .Nếu bệnh đã diển tiến nhiều năm, các khớp đã bị biến dạng, liệu pháp tự nhiên không thể phục hồi nguyên vẹn các khớp nhưng có thể giúp người bệnh giảm bớt đau đớn và không phải lệ thuộc vào những loại thuốc độc hại. Ngày nay những chuyên gia dinh dưỡng cho biết những loại rau xanh và ngũ cốc thô, các loại đậu, các loại hạt còn nguyên lớp vỏ lụa bên ngoài chứa rất nhiều chất xơ, sinh tố và khoáng chất có tính năng giải độc, chống béo phì và tăng cường sức đề kháng, những yếu tố hửu ích cho việc điều trị và phục hồi sức khoẻ trong bệnh thấp khớp.  Tiến sĩ Alan J. Silman  thuộc trường Đại Học Manchester (Anh) qua phân tách dử liệu ăn uống của  hơn 25.000 người đã cho biết những người ăn nhiều các loại rau có lá màu xanh đậm hoặc vàng  có chứa nhiều  chất chống oxy hoá như beta-cryptoxanthin, zeaxanthin và Vit C có thể phòng chống hiệu quả các chứng bệnh viêm khớp. Ăn ngũ cốc thô và rau quả tươi thay thế cho phần lớn những loại thực phẩm công nghiệp hoặc chế độ ăn có nhiều đạm động vật là yếu tố rất quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị loại bệnh nầy.  Mặt khác, lớp vỏ ngoài của các loại ngủ cốc có nhiều sinh tố nhóm B.  Về thuộc tính Âm, Dương, lớp vỏ ngoài thuộc dương, tính ấm.  Cả hai yếu tố này đều có tác dụng hỗ trợ cho sự chuyển hóa ở dạ dày và việc tăng cường khí hóa của Tỳ Vị.

Vận động thân thể.  Về mặt sinh hoạt, Tỳ chủ về tay chân và chủ về sự lưu thông khí huyết.  Khí của Tỳ Vị không thể phát huy nếu không có sự vận động.  Tiến sĩ Arthur Brownstein, Giám đốc Bệnh viện Princeville, Hawaii cũng cho rằng “90% các chứng đau nhức là hậu quả của việc thiếu vận động.” Mới đây, những nhà khoa học của trường đại học Queensland (Úc) cũng vừa công bố một kết luận cho thấy việc vận động thân thể có thể giúp tránh khỏi bệnh viêm khớp.  Kết luận nầy được đưa  ra sau nhiều năm theo dõi sự liên hệ giữa tình trạng viêm khớp và sự vận động thân thể của những phụ nử tuổi từ 72 đến 79 tuổi.  Nghiên cứu cho thấy những người tập thể dục trên 60 phút mỗi tuần đã giảm đáng kể nguy cơ viêm khớp,  những người tập trên 2,5 giờ mỗi tuần đã ngừa được nguy cơ viêm khớp.  Do đó,vận động, rèn luyện thân thể trong điều kiện sức khỏe cho phép là biện pháp  trực tiếp và quan trọng để cải thiện sức khỏe trong bệnh thấp khớp.  Một vài động tác  căng giãn thích hợp của Yoga hoặc vài chục phút đi bộ mỗi ngày  sẽ làm linh hoạt các cơ và khớp, tăng cường sự lưu thông khí huyết để giúp phân tán và đào thải những cặn bả ra khỏi cơ thể.

Hít thở sâu.  Hít vào sâu đến bụng dưới giúp tạo phản xạ thở bụng để tăng cường nội khí.  Thở ra tối đa, ép sát bụng dưới khi thở ra có tác dụng xoa bóp nội tạng, gia tăng nhu động ruột, tăng cường khí hóa ở Tỳ Vị.  Điều này sẽ thúc đẩy khí huyết lưu thông, giúp tán hàn, trừ thấp, giải tỏa những điểm ứ trệ gây đau nhức.  Việc thở ra chậm và đều còn có tác dụng điều hòa thần kinh giao cảm để điều hòa nội tiết, nội tạng và phục hồi tính tự điều chỉnh của cơ thể trong việc cải thiện sức khỏe.  Thực hành: Nằm hoặc ngồi thoải mái.  Hít vào đến bụng dưới.  Hít vào vừa với sức của cơ thể, không cần cố căng bụng ra.  Thở ra từ từ, chậm và nhẹ.  Cố ép sát bụng vào tối đa ở cuối thì thở ra.  Thở chậm và đều từng hơi thở một, từ hơi thở này đến hơi thở khác.  Có thể tập mỗi lần khoảng 10 đến 15 phút.  Cũng có thể thở mỗi lần vài hơi bất kỳ ở đâu hoặc bất kỳ lúc nào.

Phất thủ liệu pháp.  Phất thủ liệu pháp còn gọi là Dịch cân kinh với ý nghĩa là thay đổi gân cốt nên có thể được vận dụng để điều trị thấp khớp.  Phất thủ liệu pháp là một phương pháp khí công đơn giản, có tác dụng làm cho Dương giáng, Âm thăng, tăng cường nội khí và cải thiện lưu thông khí huyết.  Tác dụng trực tiếp nhất của Phất thủ liệu pháp là gia tăng nhu động ruột, tăng cường khả năng giải độc, cải thiện khí hóa của Tỳ Vị và kích hoạt chân hỏa ở Trường cường để gia tăng Dương khí  tán hàn, trừ thấp. Trong cơ thể con người, các khớp có hình dạng (khớp) và công năng (tiếp hợp) giống nhau nên có tương quan và tác động lẫn nhau về mặt khí hoá.  Do đó một khớp bị thoái hoá có khuynh hướng dẫn đến thoái hoá dần các khớp khác.  Ngược lại, khi thực hành PTLP, việc chuyển động linh hoạt và liên tục 2 khớp vai và 2 khớp cổ tay lâu dài có tác dụng hoạt hoá toàn bộ các khớp  qua đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến bệnh viêm khớp.  Ngoài ra, giống như nhiều phương pháp khí công khác, Phất thủ liệu pháp còn có tác dụng tăng cường chức năng của các cơ quan và điều hoà khí hoá giữa các phủ tạng qua đó có thể điều chỉnh tình trạng “tự miễn dịch” trong các chứng viêm khớp mãn tính. Thực hành: Đứng thẳng, hai chân dang ra song song ngang vai.  Các ngón chân bám chặt mặt đất.  Bụng dưới hơi thót lại.  Ngực hơi thu vào.  Vai xuôi tự nhiên.  Hai mắt khép nhẹ.  Đầu lưỡi chạm nướu răng trên.  Tâm ý hướng vào Đan điền.  Hai cánh tay, bàn tay và ngón tay duỗi thẳng tự nhiên.  Hai cánh tay hơi cong ở khuỷu tay.  Đưa hai cánh tay về phía trước động thời hít vào.  Dùng lực vẩy hai cánh tay ra phía sau đến hết tầm tay đồng thời với thở ra và nhíu hậu môn lại.  Khi hết tầm tay ra phía sau thì hai cánh tay theo đà của luật quán tính sẽ trở về phía trước, đồng thời với hít vào.  Một lần hít vào và một lần thở ra là một cái lắc tay.  Làm liên tục nhiều cái.  Để chữa bệnh cần thực hành mỗi lần từ 800-1000 cái.  Mỗi ngày 2 lần.  Động tác lắc tay cần phải nhẹ nhàng, linh hoạt.  Không cần dùng sức mạnh để cố vẫy tay ra phía sau mà chỉ cần dùng sức bình thường ứng với nhịp thở điều hòa để có thể làm được nhiều lần.  Việc nhíu hậu môn và bám các đầu ngón chân xuống đất cũng vậy.  Chỉ cần dùng sức vừa phải nhằm bảo đảm tâm lý thoải mái và thể lực dồi dào để có thể thực hành hàng ngàn cái mỗi lần.


Thư giãn tâm & thân. Bên cạnh việc ăn uống hợp lý và vận động thân thể thì tinh thần lạc quan, thoải mái là một yếu tố quan trọng cần thiết để phục hồi sức khoẻ trong bất cứ chứng bệnh mãn tính nào.  Đối với bệnh thấp khớp, yếu tố nầy còn có một ý nghĩa đặc biệt.  Tỳ chủ lưu thông khí huyết nhưng  tính của Tỳ là “hoãn” , nhịp sống nhanh và tâm lý căng thẳng dễ làm thương tổn Tỳ khí.  Do sự tương tác giữa thần kinh và cơ, căng thẳng tâm lý thường xuyên còn tạo ra tình trạng cường cơ, gây co cứng vùng  khớp.  Điều này không những làm tiêu tốn nhiều năng lượng mà còn  làm xấu thêm tình trạng sưng và đau ở vùng khớp bị bệnh.  Trái lại một nếp sống lạc quan, yêu đời, giữa được tâm bình, khí hòa có tác dụng tư dưỡng cho Tỳ.  Do đó, những biện pháp để thư giãn thân và tâm như tập dưỡng sinh ngồi thiền, tập khí công, sinh hoạt nhóm . .  sẽ hữu ích cho việc phòng và điều trị bệnh viêm khớp.

(YKHOA.NET)
I.ĐẠI CƯƠNG:
Xuất huyết tiêu hoá là hội chứng do nhiều bệnh lý gây ra gồm:
• Bệnh lý đường tiêu hoá: viêm, loét, k…
• Bệnh lý toàn thân
Xuất huyết tiêu hoá trên: Tổn thương từ góc Treitz trở lên, thực quản dạ dày, tá tràng gây ói máu, đi cầu ra máu.
Xuất huyết tiêu hoá dưới: Tổn thương từ góc Treitz trở xuống hổng tràng, manh tràng, đại tràng, gây đi cầu ra máu.
II.NGUYÊN NHÂN: 6 nhóm: XHTH trên chiếm 80-85%. XHTH dưới chiếm 15%
1.Tại đường tiêu hoá:
Viêm loét dạ dày tá tràng: chiếm 80-85%
K ống tiêu hoá
U mạch máu, polype
Túi thừa, lồng ruột
Nhồi máu do tắc mạch mạc treo
Hội chứng Mallory-Weiss
2.Gan-Mật-Tụy:
Hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa do xơ gan
Đường mật: viêm, k đường mật
Viêm tuỵ thể hoại tử xuất huyết
K vùng cơ vòng Oddi
3.Bệnh về máu:
Suy tuỷ
Leucemia cấp, mãn
Hemophilie
Rối loạn số lượng, chất lượng tiểu cầu
4.Do thuốc:
Corticoid, kháng viêm Non-steroid, kháng đông
5.Do ngộ độc:
Nội sinh: Suy thận, NH3 tăng, nhiễm trùng huyết, stress.
Ngoại sinh: Do chất độc Acid, Baze, chất độc khác gây tổn thương đường tiêu hoá.
6.Nhiễm khuẩn và dị ứng:
Siêu vi: SXH, cúm
Vi trùng: thương hàn
KST: sốt rét ác tính thể XHTH, Amibe
Dị ứng đường tiêu hoá
III.PHÂN LOẠI:
1.XHTH nhẹ
Máu chảy < 20% khối lượng tuần hoàn cơ thể hay < 500ml
Triệu chứng toàn thân không thay đổi
Dấu hiệu sinh tồn bình thường: M < 100l/p, HA ổn định
Cận lâm sàng: không thay đổi HC > 3triệu, Hb > 11g/dl, Hct > 30%
1.XHTH trung bình
Lượng máu mất 20-40% khối lượng tuần hoàn cơ thể hay mất 1000-1500ml
Triệu chứng toàn thân xuất hiện: da xanh, niêm nhợt, hoa mắt, chóng mặt, nước tiểu giảm trong 24 giơ.ø
M > 100 l/p, HA giảm nhẹ
Cận lâm sàng: 2 triệu < HC < 3 triệu, 20% < Hct < 30%
1.XHTH nặng:
Máu mất > 40% khối lượng tuần hoàn cơ thể hay >1500ml
Chi lạnh vả mồ hôi, thiểu niệu hoặc vô niệu
M > 120l/p, HA giảm hoặc kẹp
Cận lâm sàng : CVP thấp, HC < 2 triệu, Hct < 20%
IV.XỬ TRÍ:
Nhằm 3 mục đích:
Hồi phục khối lượng tuần hoàn cơ thể
Cầm máu
Giải quyết nguyên nhân và phòng ngừa tái phát
A.Hồi phục khối lượng tuần hoàn cơ thể: rất quan trọng
Cho bệnh nhân nằn đầu thấp bất động
Lập đường truyền tĩnh mạch cố định bằng dung dịch đẳng trương
Tiến hành lấy máu xét nghiệm: CTM, Gs, Hct, Urê, Creatinin, SGOT, SGPT, đông máu toàn bộ.
Khám và đánh giá mức độ chảy máu
1.Chảy máu mức độ nhẹ:
Thành lập đường truyền và cố định
Thăm dò mức độ và vị trí chảy máu
Cầm máu
Chuẩn đoán nguyên nhân
2.Chảy máu mức độ trung bình
Bồi phục chủ yếu bằng dung dịch đẳng trương NaCL 0.9%, Lactat Ringer
Thở Oxy
Theo dõi tình trạng chảy máu
3.Chảy máu mức độ nặng
Thở Oxy 2-4 l/p
Có chỉ định truyền máu: truyền 1/3 khối lượng tuần hòan là máu, 2/3 khối lượng tuần hoàn là dung dịch đẳng trương, truyền đến khi hết dấu hiệu thiếu oxy não, M, HA ổn định, Hct > 20%, HC >2 triệu
Trường hợp khi chưa có nhóm máu kịp thời, ta truyền dung dịch thay thế máu Gelafundin
Nâng huyết áp cho bệnh nhân:
Trường hợp bù dịch, máu mà huyết áp vẫn chưa lên được, nếu để lâu có thể gây suy thân, nhũn não, thiếu máu cơ tim ---> có chỉ định dùng thuốc vận mạch:
Dopamin: liều < 5mg/kg/p để nâng huyết áp, duy trì chức năng thận
CCĐ: Adrenalin, Nor-Adrenalin, hydrocarbinat để nâng HA
Chú ý: chỉ dùng Dopamin khi huyết áp đến ngưỡng thận thì ngưng
B.Cầm máu
1.XHTH do loét DD-TT: gặp thường nhất
Đặt sonde dạ dày:
Đặt sonde Tube Levin
Rửa sạch máu trong dạ dày bằng dung dịch NaCl 0.9%
Lưu sonde 6-8 giờ để theo dõi, dánh giá tình trạng chảy máu và bơm thuốc cho bệnh nhân.
Chuẩn đoán vị trí chảy máu, cầm máu, điều trị nguyên nhân chảy máu.
Nội soi cấp cứu nên làm trước 24 giờ, vì có những tổn thương sẽ lành sau 24 giờ như: hội chứng Mallory-Weiss, viêm chợt dạ dày.
Cầm máu qua nội soi:
Chỉ định: Cục máu đông ở đáy ổ loét
Đang có rỉ máu trên vết loét
Động mạch chồi lên và thấy rõ
Động mạch đang phun máu
Dùng Adrenalin 0.1% 1ml + 9ml NaCl: chích vào nơi chảy máu để cầm máu
Sau khi chích phải dùng thuốc ức chế bơm proton mạnh: Losec 80mg(TMC), sau 12-24 giờ nhắc lại 40mg và tiếp tục liều 40mg/ngày đến khi ổn thì chuyển qua uống.
Nếu không có ức chế bơm proton thì dùng ức chế H2 hoặc Antacid hoà tan uống 3 giờ/lần.
Điều trị duy trì bằng phác đồ điều trị loét dạ dày tá tràng.
2.XHTH do tăng áp lực tĩnh mạch cửa:
Dãn tĩnh mạch thực quản chia 3 độ trên nội soi
Chỉ định cầm máu qua nội soi sau khi dãn tĩnh mạch thực quản độ II căng phòng đến doạ vỡ.
Tiến hành:
Đặt sonde Blackmoire, dùng trong cấp cứu khi bệnh nhân đang vỡ tĩnh mạch thực quản ồ ạt, sau 24 giờ tháo sonde.
Xơ hoá TM thực quản bằng Polidocanol 0.75-2% (thường 1%) chích trực tiếp vào các túi tĩnh mạch phồng căng trước, chích xơ nhắc lại sau 7-10 ngày.
Xử trí và ngừa hôn mê gan: song song
Kháng sinh: Neomycin 1.5g/ngày
Klion 0.25-1.5g/ngày
Thuốc sổ : Duphalac 1-3gói/ngày
Lactulose 1-3gói/ngày
Thuốc ngừa tái phát: Propranolon, chỉ định dùng liều thấp sau đó tăng dần: 20-40mg/ngày.
Dùng Sandostatin làm giảm áp lực tĩnh mạch cửa: liều 25-50g/giờ. Tiêm tĩnh mạch trong 3-4 ngày.
Có thể dùng: Vasopresin 0.3 đơn vị / 1 phút
30 phút sau 0.6 đơn vị / 1 phút
30 phút sau 0.9 đơn vị / 1 phút
C.Giải quyết nguyên nhân chảy máu:
Tuỳ từng nguyên nhân mà giải quyết cụ thể
Chỉ định phẩu thuật:
K
Chảy máu tái phát nhiều lần
Hồi sức nội khoa không hiệu quả, đã truyền 8 đơn vị máu mà huyết áp vẫn không ổn định.
Vỡ tĩnh mạch thực quản liên tiếp ---> phương pháp thông nối cửa – chủ
Chế độ dinh dưỡng:
Trong thời gian đang chảy máu nuôi bằng đường tĩnh mạch
Khi đã cầm máu:
Nếu do loét DDTT: cho uống sữa lạnh để trung hoà acid
Nếu do tăng áp lực tĩnh mạch cửa: uống nước đường lạnh
Sau 5 ngày XHTT ổn định: cho ăn lại bình thường từ lỏng đến đặc, coi như XHTH chấm dứt.
Điều trị nguyên nhân tích cực.
(diễn đàn y khoa)
Xuất huyết tiêu hóa (hay còn gọi là chảy máu tiêu hóa) là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây ra. Chảy máu có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào của ống tiêu hóa từ miệng tới thực quản, dạ dày, ruột và hậu môn. Mức độ mất máu có thể nhẹ tới vừa, thậm chí nhiều trường hợp chảy máu nặng gây mất máu nghiêm trọng đe dọa tới tính mạng bệnh nhân.

Ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều phương pháp khác nhau đặc biệt là các kỹ thuật nội soi điều trị giúp chẩn đoán và xử trí kịp thời nhiều trường hợp xuất huyết tiêu hóa rất có hiệu quả.

Nguyên nhân nào dẫn tới xuất huyết tiêu hóa ?


Ở thực quản: Xơ gan có thể dẫn tới giãn tĩnh mạch thực quản, khi giãn quá mức, tĩnh mạch vỡ ra gây xuất huyết ồ ạt rất nguy hiểm; bệnh lý viêm thực quản do trào ngược dịch dạ dày lên thực quản, trong hội chứng Mallory-Weiss do bệnh nhân nôn, nôn khan, hoặc ho kéo dài dẫn tới viêm thực quản và vì vậy có thể gây xuất huyết.

Ở dạ dày: Các nguyên nhân gây viêm loét dạ dày như: rượu, xoắn khuẩn Helicobacter pylori, aspirin và các thuốc chống viêm giảm đau, stress... hoặc các bệnh lý ác tính như ung thư dạ dày đều có thể gây xuất huyết tiêu hóa.

Ở ruột: Loét hành tá tràng là nguyên nhân rất thường gặp gây xuất huyết. Chảy máu còn có thể do trĩ, bệnh polyp đại trực tràng, ung thư đại trực tràng, các bệnh lý khác như viêm loét đại trực tràng, bệnh Crohn. Ngoài ra có thể gặp các nguyên nhân gây xuất huyết tiêu hóa: dị dạng mạch máu, bệnh máu, chảy máu đường mật...

Triệu chứng xuất huyết tiêu hóa ?


Triệu chứng của xuất huyết phụ thuộc vào nguyên nhân, vị trí chảy máu và mức độ mất máu. Thông thường gặp các dấu hiệu sau:

Nôn ra máu: Là triệu chứng thường gặp, chảy máu dạ dày - tá tràng thường nôn ra máu đen lẫn cục hoặc lẫn thức ăn. Chảy máu do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản thường nôn ra máu ồ ạt, máu đỏ tươi, số lượng nhiều, thường nặng và tỷ lệ tử vong cao.

Đi phân ngoài đen hoặc có máu: Phân đen như bã cà phê, mùi khắm, thường lỏng; phân có máu tươi có thể do chảy máu nhiều như trong vỡ giãn tĩnh mạch thực quản hoặc chảy máu ở đoạn thấp của đường tiêu hóa.

Các triệu chứng do mất máu: Mất máu kéo dài làm ảnh hưởng tới toàn trạng, bệnh nhân thường xanh xao, yếu mệt, hoa mắt, chóng mặt; trường hợp mất máu mức độ nặng thường kèm theo triệu chứng sốc: da xanh tái, vã mồ hôi, mạch nhanh, huyết áp hạ, tiểu ít, khó thở, có thể co giật...

Cần làm gì khi bị xuất huyết tiêu hóa ?

Đa số bệnh nhân tới viện vì các triệu chứng nôn ra máu và đi ngoài phân đen, thường là mất máu mức độ vừa tới nặng, thậm chí nhiều trường hợp vào viện trong tình trạng cấp cứu. Tuy vậy ngay cả khi không có bằng chứng xuất huyết, bệnh nhân chỉ có các triệu chứng như đau bụng vùng thượng vị, hoặc đau bụng khi dùng các thuốc có hại cho dạ dày, hoặc bệnh nhân xanh xao, hoa mắt, chóng mặt... cũng cần đi khám ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Điều trị và phòng bệnh

Điều trị xuất huyết tiêu hóa tùy thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ, nguyên nhân, vị trí chảy máu. Ngoài việc điều trị triệu chứng, ổn định các chức năng sống khi bị mất máu nặng, kết hợp dùng các thuốc co mạch, giảm tiết, kháng sinh... bệnh nhân có thể được chỉ định nội soi can thiệp, qua đó rất nhiều trường hợp xuất huyết đã được xử trí tốt như: xử trí xuất huyết tiêu hóa do loét dạ dày – tá tràng, xử trí giãn tĩnh mạch thực quản bằng thắt vòng cao su...

Ở nước ta hầu hết các bệnh viện tuyến trung ương và một số bệnh viện tuyến tỉnh đã thực hiện được thủ thuật này. Việc điều trị nội khoa đặc hiệu, làm thủ thuật hoặc phẫu thuật cho bệnh nhân bị xuất huyết tiêu hóa có thể được chỉ định khi có sự cân nhắc của thầy thuốc chuyên khoa.

Phòng bệnh cần không uống rượu bia và hút thuốc, không dùng các thuốc và thức ăn có hại cho dạ dày, nên ăn tăng cường chất xơ và rau quả. Trong đợt xuất huyết cần dùng các thức ăn mềm, ăn thành nhiều bữa trong ngày.

(sức khỏe & đời sống)
Theo Tân Hoa xã, Trung tâm kiểm soát dịch bệnh (CDC) tỉnh Cát Lâm (Trung Quốc) cho biết sau 6 năm được chuẩn đoán là mang căn bệnh thế kỷ, một nông dân tại tỉnh này mới đây đã đi xét nghiệm và có kết quả âm tính với HIV.

Bệnh nhân trên là ông Ôn Tống Thành, người làng Nhĩ Đạo Câu thuộc quận Xuyên Anh, thành phố Cát Lâm. Năm 2001, trong một lần tham gia hiến máu, Ôn Tống Thành được các nhân viên y tế của CDC quận Xuyên Anh thông báo có kết quả dương tính đối với HIV. Kết quả này đã được CDC tỉnh Cát Lâm khẳng định lại vào năm 2003.

Tuy nhiên, xét nghiệm của Ôn Tống Thành do Bệnh viện lâm sàng I thuộc trường Đại học Bắc Hoa ở Cát Lâm hồi tháng 7 vừa rồi lại cho kết quả âm tính đối với HIV. Ôn Tống Thành quyết định tiến hành xét nghiệm lại tại Bệnh viện số I thuộc Đại học Y khoa Trung Quốc và 3 bệnh viện khác, các xét nghiệm đều cho kết quả âm tính đối với HIV. Các kết quả xét nghiệm do CDC tỉnh Cát Lâm và CDC huyện Xuyên Anh được tiến hành sau đó cũng đều khẳng đinh Ôn Tống Thành âm tính đối với HIV.

Ông Lưu Bảo Quý, nguyên Chủ nhiệm khoa HIV/AIDS của CDC tỉnh Cát Lâm, khẳng định không có vấn đề gì xảy ra đối với các mẫu phẩm cũng như các xét nghiệm trước đây. Tuy nhiên, Giáo sư Vũ Mẫn, thành viên Hội đồng cố vấn HIV/AIDS của Bộ Y tế Trung Quốc lại tỏ ra hoài nghi về các kết quả xét nghiệm dương tính trước đây.

Ông cho rằng sau khi điều trị tích cực, một số bệnh nhân không còn HIV nhưng các kháng thể HIV vẫn tồn tại nên kết quả xét nghiệm vẫn phải là dương tính. Giáo sư Vũ cũng cho biết tỷ lệ sai sót của CDC cấp tỉnh thấp hơn 0,01%.

Cơ quan chức năng sẽ tiếp tục tiến hành kiểm tra các mẫu máu của Ôn Tống Thành được CDC tỉnh Cát Lâm lưu giữ từ năm 2003. Nếu tất cả các xét nghiệm trên được thẩm tra chính xác thì đây có thể là người Trung Quốc đầu tiên có xét nghiệm âm tính với HIV sau khi nhiễm căn bệnh thế kỷ.

Năm 2003, Andrew Stimpson, một thanh niên người Anh, đã có xét nghiệm âm tính sau 14 tháng được xác định là dương tính với HIV. Hiện vẫn chưa có một giải thích mang tính khoa học nào về trường hợp hy hữu này.

(Theo TTXVN)
Sau các thử nghiệm thành công trên khỉ, các nhà khoa học Canada đang chuẩn bị thử nghiệm lâm sàng trên con người một loại vắc-xin chống HIV. Vắc-xin này đã được cấp bằng sáng chế tại 34 nước trên thế giới.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Vắc xin này được nghiên cứu trong suốt 19 năm qua bởi nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Western Ontario


(UWO) (Ảnh: http://nalts.files.wordpress.com)
Loại vắc xin này đã được nghiên cứu và phát triển trong suốt 19 năm qua bởi các nhà khoa học thuộc trường Đại học Western Ontario (UWO) – một trong 10 trường đại học nghiên cứu hàng đầu của Canada.

Ngày 24/8, giáo sư Yong Kang của UWO cho biết: “Rất có thể là chúng tôi sẽ bắt đầu thử nghiệm vắc-xin này trên con người vào giữa năm 2008”.

Hiện nay, nhóm nghiên cứu đang chờ sự chấp thuận của Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) để thực hiện các cuộc thử nghiệm tại nước này. Giáo sư Kang, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Mọi chuyện đang diễn tiến tốt, nhưng hơi chậm”.

Theo ông Kang, hai địa điểm thử nghiệm đạt các tiêu chuẩn nghiêm nhặt đã được chọn ở Mỹ là Kensington, bang Maryland, và Carlsbad, bang California.

Các thỏa thuận cũng đã được ký kết để thử nghiệm thêm 6 tháng trên loài vật tại Phòng thí nghiệm Charles River ở Montreal.

Trước đây, những thử nghiệm trên các loài khỉ đã mang lại kết quả tốt đẹp. Nhóm nghiên cứu tin rằng có thể sử dụng loại vắc-xin này cả trong việc phòng ngừa lẫn điều trị HIV/AIDS.

Bằng sáng chế cho loại vắc-xin này đã được cấp tại 34 nước, và một nhà sản xuất Mỹ và một công ty Hàn Quốc đã được trao quyền tiếp thị và phân phối vắc-xin.

Ông Doon Joon Kim, chủ tịch Công ty Curocom ở Hàn Quốc, cho biết công ty ông đã đầu tư 20 triệu USD để nắm giữ các quyền đối với vắc-xin này. Ông cho biết Curocom sẽ chi thêm 50 triệu USD trong các cuộc thử nghiệm trên con người sắp tới.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Giáo sư Yong Kang: “Rất có thể là chúng tôi sẽ bắt đầu thử nghiệm vắc-xin này trên con người vào giữa năm 2008”. (Ảnh: UWO)
Theo ông, Curocom đã tích cực ủng hộ việc phát triển vắc-xin này vì nó đã được cấp bằng sáng chế rộng rãi và vì uy tín quốc tế của giáo sư Kang, một nhà miễn dịch học và vi trùng học nổi tiếng trên thế giới.

Vắc-xin này là sự kết hợp giữa vi-rút HIV và một loại vi rút đã được biến đổi gien để tạo ra những tế bào vi-rút HIV vô hại. Những tế bào này có khả năng kích thích và tăng cường phản ứng của hệ miễn dịch.

Sau khi có sự chấp thuận của FDA, nhóm nghiên cứu sẽ thử nghiệm lâm sàng đối với 30 người trong giai đoạn 1 và 300 người trong giai đoạn 2 để xác định tính hiệu quả và an toàn của vắc-xin.

Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, kể từ khi HIV xuất hiện vào năm 1981 cho đến nay, khoảng 25 triệu người đã tử vong vì AIDS và 43 triệu người trên thế giới đang nhiễm loại vi-rút cực kỳ nguy hiểm này.

Nguồn: HIV online
Thoát vị đĩa đệm là một bệnh vào loại thường gặp nhất trong số các bệnh về cột sống với tỉ lệ thoát vị đĩa đệm ở người trưởng thành là 30%. Dưới đây là phần giải đáp những thắc mắc của bạn đọc gửi về trong buổi giao lưu trực tuyến “Những căn bệnh tiềm ẩn của giới văn phòng” vừa tổ chức mới đây.

Bác sĩ Prem Pillay trả lời:


Tại sao lại bị thoát vị đĩa đệm?


Thoát vị đĩa đệm có thể do vận động quá mức hoặc có thể do đĩa đệm yếu đi theo tuổi tác. Đĩa đệm sẽ dần bị mất nước, co lại và đôi khi có thể bị rạn nứt.

Khi đĩa đệm bị thoát vị hoặc bị vỡ, nó sẽ chèn ép vào các dây thần kinh.Ví dụ khi bị thoát vị đĩa đệm thắt lưng, nó sẽ chèn vào dây thần kinh chạy dọc xuống 2 bên chân gây ra cảm giác đau và tê ở 2 chân, nhưng thực chất vấn đề không phải ở chân mà là ở cột sống thắt lưng.


Nhiều người thường dùng dầu hoặc rượu để xoa bóp ở chân, có thể có cảm giác đỡ nhưng chỉ là tạm thời vì nguyên nhân của nó là ở cột sống.

Khi bị thoát vị đĩa đệm để lâu thì gây ra hiện tượng gì?



Bệnh thoát vị đĩa đệm có nhiều mức độ khác nhau, có người bị nhẹ, có người bị nặng, có người bị rất nặng.


Nếu bệnh nhân chỉ bị thoát vị đĩa đệm nhẹ, có thể áp dụng các bài tập thể dục, phương pháp vật lý trị liệu và uống một số loại thuốc giảm đau. Nhưng khi bị thoát vị đĩa đệm thể nhẹ mà cứ để nguyên, không điều trị, bệnh này sẽ tiến triển nặng thêm, nó có thể tạo ra các cơn đau đột ngột hoặc từ từ.


Bị bệnh thoát vị đĩa đệm không nên để lâu vì có thể gây chèn ép vào dây thần kinh. Khi bị chèn ép bệnh nhân sẽ bị tê tay chân, đau hoặc trong trường hợp xấu nhất bệnh nhân sẽ bị liệt.


Vì vậy, bạn nên phát hiện sớm để điều trị khỏi bằng một số những phương pháp điều trị đơn giản như bằng thuốc và tập thể dục.


Thoát vị đĩa đệm gây đau đớn như thế nào?



Khi cột sống của bạn bị thoái, hệ thống các dây chằng giữa các đốt sống lỏng lẻo, nó có thể thoát vị (đẩy nhân nhầy bên trong ra) ra sau hoặc vào trong ống sống. Biểu hiện triệu chứng lâm sàng là bệnh nhân cảm thấy đau dọc cột sống có thể lan xuống chân hoặc chèn ép vào các dây thần kinh gây hiện tượng liệt, mất hay tăng cảm giác vận động.


Khoảng 90% trường hợp thoát vị cột sống xảy ra ở L4-L5 (tổn thương ở cột sống thắt lưng 4 và 5) hoặc L5-S1 (đoạn đốt sống thắt lưng 5 và xương cùng đốt sống 1), thoát vị tại những vị trí này sẽ gây ra các cơn đau mất chi phối cảm giác kiểu đuôi ngựa.


Sự ảnh hưởng của thoát vị đĩa đệm tới dây thần kinh L5 có thể gây ra sự suy yếu khi cử động xoè ngòn chân cái và có khả năng ảnh hưởng tới vận động cổ chân. Bệnh nhân có thể cảm thấy tê và đau ở đầu ngón chân cái và các cơn đau cũng có thể lan ra phía gan chân.


Sự ảnh hưởng của thoát vị đĩa đệm tới dây thần kinh S1 có thể gây ra mất phản ứng của cổ chân và/hoặc khó cử động chân (ví dụ bệnh nhân không thể cong ngón chân cái). Cảm giác tê và đau có thể lan toả xuống gan bàn chân hoặc mặt ngoài của bàn chân.


Bệnh thoát vị đĩa đệm chữa bằng biện pháp chiếu tia hồng ngoại hoặc mát xa bằng máy có được không?


Bạn cần phải hiểu được rằng dù chiếu tia hồng ngoại hay mát xa bằng máy, thì bệnh thoát vị đĩa đệm vẫn như vậy không hề biến mất. Đĩa đệm bị trượt không thể về vị trí cũ. Chỉ có tác dụng giảm đau tại các vùng đó tạm thời. Cho nên nếu bạn đứng, ngồi, làm việc đúng tư thế sẽ có lợi hơn nhiều so với việc chiếu tia hồng ngoại hay mát xa.

Tôi bị thoát vị đĩa đệm thì có nên phẫu thuật hay không?

Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm tuỳ theo mức độ của từng người mà bác sĩ sẽ quyết định có cần tiến hành phẫu thuật hay không. Đối với thoát vị mức độ nhẹ có thể tập luyện theo các bài tập đặc biệt để đĩa đệm không thoát vị thêm. Nếu bệnh nhân đã bị thoát vị ở mức độ gây chèn ép vào dây thần kinh thì phẫu thuật là phương pháp giúp bệnh nhân giảm chèn ép và tránh các biến chứng do thoát vị gây ra.

Khi phẫu thuật thay đĩa đệm bằng phương pháp sử dụng đĩa đệm nhân tạo thì sau bao lâu bệnh lại tái phát và thời gian sử dụng đĩa đệm nhân tạo là bao nhiêu lâu?

Đĩa đệm nhân tạo được cấu tạo bằng hợp chất đặc biệt nên có thể sử dụng trong thời gian dai, có thể là 15, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Tỉ lệ tái phát đối với đĩa đệm đã thay thế là rất thấp, dưới 5%.


Tỉ lệ thành công của phương pháp thay đĩa đệm cột sống bằng vật liệu nhân tạo là bao nhiêu phần trăm?

Tỉ lệ thành công là 80 - 90 % nếu như bệnh nhân được quyết định phương pháp điều trị đúng.


PV ghi
(Dantri)
Thoát vị đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài và chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống. Những chấn thương như ngã ngồi, trượt chân, cố sức nâng vật nặng... có thể gây bệnh.

Các triệu chứng của bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống có thể xuất hiện ngay sau chấn thương hoặc vài tháng, thậm chí vài năm sau đó. Vì thế, phương pháp xác định bệnh hiệu quả nhất là chụp cộng hưởng từ MRI. Nếu chụp phim sẽ khó phát hiện do nhân keo đĩa đệm không cản quang, hoặc chỉ nhận ra qua những dấu hiệu như cột sống lệch trục, hẹp khoảng liên đốt sống. Lưu ý là có thể nhầm thoát vị đĩa đệm với bệnh thoái hóa đốt sống, viêm cột sống dính khớp, lao cột sống hay u rễ thần kinh.

Một số triệu chứng điển hình của thoát vị đĩa đệm cột sống:


- Đau lưng: cảm giác đau giảm khi nằm nghiêng và tăng khi ho hoặc đại tiện.

- Đau khi gõ hoặc ấn vào khoảng liên đốt.

- Đau tự nhiên vùng xung quanh gai sau. Nếu bệnh nặng có thể cảm giác đau lan xuống vùng mông và đùi.

- Hạn chế cử động cột sống: không còn khả năng ưỡn của thắt lưng.

- Không cúi được sâu: khoảng cách giữa ngón tay và mặt đất khi cúi người thả lỏng tay lớn hơn 50 cm.

- Giảm vận động chân và giảm cảm giác vùng da chân. Trường hợp nặng có thể bị liệt.

Cách điều trị:


- Áp dụng xen kẽ việc nằm nghỉ trên nền cứng, bó bột, làm nóng tại chỗ bằng chiếu tia, xoa bóp.

- Dùng thuốc giảm đau hoặc tiêm corticoid tại chỗ.

- Dùng phương pháp kéo nắn cột sống giúp đẩy đĩa đệm về vị trí cũ.

- Sau giai đoạn cấp, cần tránh những động tác quá sức như mang vác nặng, cúi gập người…

- Khi có rối loạn vận động trầm trọng hoặc bị ép tủy, đã điều trị phục hồi 3 tháng nhưng không có kết quả, cần cắt là cột sống, cắt thoát vị, nạo đĩa đệm…

- Làm giảm áp đĩa đệm bằng laser: dùng kim chọc vào nhân keo dưới sự hướng dẫn của X-quang tăng sáng 3 chiều. Dây dẫn của máy phát laser được luồn qua kim tới nhân. Khi phát tia, nhân keo bị tiêu hủy một phần nên co lại, làm giảm áp lực đè lên các dây thần kinh. Kỹ thuật này có thể áp dụng cho hầu hết các thoát vị đĩa đệm, trừ những trường hợp quá nặng như khối thoát vị quá lớn, trượt đốt sống...

Bác sĩ Nguyễn Minh Hồng, Sức Khỏe Gia Đình
(vnexpress)
NỘI DUNG


1. Siêu vi viêm gan B và đường lây nhiễm.

2. Diễn tiến tự nhiên của bệnh viêm gan B.

3. Chẩn đoán bệnh viêm gan B: Xét nghiệm máu, khám chuyên khoa Gan.

4. Lời khuyên chế độ ăn và lối sống.

5. Ðiều trị đặc hiệu.




1. SIÊU VI VIÊM GAN B - TỔNG QUAN:

Siêu vi viêm gan B (SVVG B) là một loại virut hướng gan, gây ra bệnh viêm gan. Theo ước tính của Tổ chức Y Tế Thế Giới, hiện có khoảng 350 triệu người mang siêu vi B, tập trung chủ yếu ở châu Phi, châu Á và Ðông Nam Á.

Cách lây nhiễm siêu vi viêm gan B

SVVG B lưu hành trong máu, do đó lây truyền chủ yếu qua đường máu. Một số đường lây nhiễm quan trọng là:

1. Mẹ truyền sang con: Ðây là đường lây quan trọng nhất.

2. Ðường tình dục: Bệnh viêm gan B có thể lây qua hoạt động tình dục cùng giới hoặc khác giới.

3. Truyền máu hoặc chế phẩm máu nhiễm siêu vi B, tiếp xúc với dịch tiết của bệnh nhân viêm gan B.

4. Dùng chung kim tiêm có nhiễm siêu vi B.

5. Các nguyên nhân khác: Xăm người, châm cứu, xỏ lỗ tai với vật dụng không được tẩy trùng tốt có thể lây truyền siêu vi B.

2. DIỄN TIẾN TỰ NHIÊN BỆNH VIÊM GAN B

1. Nhiễm trùng cấp tính

Nhiễm SVVG B cấp tính có biểu hiện giống cảm cúm, thỉnh thoảng có cảm giác buồn nôn, ói mửa. Ðôi khi, nhiễm trùng cấp có thể nặng hơn với triệu chứng vàng da, vàng mắt, đau bụng, nước tiểu sẫm màu.

2. Nhiễm trùng mạn tính

90% trường hợp nhiễm SVVG B ở tuổi trưởng thành sẽ hồi phục hoàn toàn và không bao giờ bị siêu vi quấy rầy lại. Chỉ có 10% chuyển thành "người mang trùng mạn tính".

Tuy nhiên, ở trẻ nhiễm siêu vi B từ lúc mới sinh, bệnh diễn biến khác hẳn. Khoảng 90% số trẻ này sẽ trở thành người mang bệnh mạn tính. Giai đoạn này kéo dài nhiều năm, có thể không có biểu hiện lâm sàng, cuối cùng dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như xơ gan, có nước trong ổ bụng, chảy máu đường tiêu hóa do vỡ mạch máu bị giãn, ung thư gan.

Nói chung, khi bệnh đã tiến triển đến giai đoạn xơ gan, chức năng gan khó có thể hồi phục, ngay cả khi tình trạng viêm gan được cải thiện. Vì vậy, các thầy thuốc thường điều trị bệnh sớm nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm quá trình xơ gan.

HÌNH 1: SƠ ÐỒ NHIỄM SIÊU VI VIÊM GAN B

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

3. CHẨN ÐOÁN VIÊM GAN SIÊU VI B

3.1. XÉT NGHIỆM MÁU

Bệnh viêm gan B có thể chẩn đoán bằng xét nghiệm máu tại bệnh viện hoặc phòng khám bệnh. Cũng có thể tình cờ phát hiện bệnh tại Trung Tâm Truyền Máu-Huyết Học khi Bạn tới cho máu. Xét nghiệm HBsAg dương tính có thể do:

1. Nhiễm siêu vi B mạn tính tiến triển: Siêu vi đang nhân đôi, đang tăng sinh, gây ra phản ứng viêm kéo dài trong gan.

2. Nhiễm trùng đã qua: Một số người hiện tại không có viêm gan, nhưng đã tiếp xúc với SVVG B trong quá khứ, tạo ra đáp ứng miễn dịch và thải trừ hoàn toàn siêu vi B.

3. Người lành mang mầm bệnh: Ðó là những trường hợp không có bằng chứng viêm gan, nhưng cũng không đào thải hết siêu vi ra khỏi cơ thể. Họ mang siêu vi B trong người và có thể truyền sang người khác, mặc dù bản thân họ không có biểu hiện bệnh.

3.2. KHÁM CHUYÊN KHOA GAN
Nếu xét nghiệm máu HBsAg dương tính, bạn nên đến gặp Bác Sỹ có kinh nghiệm để được khám bệnh và phân tích kỹ hơn. Lúc này, cần xác định liệu có tình trạng viêm gan đang tiến triển hay không. Nếu có, cần làm thêm:

1. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan

2. Siêu âm gan: Phân tích cấu trúc của gan và các bộ phận xung quanh, tìm dấu hiệu xơ gan hoặc biểu hiện bất thường khác.

3. Nên làm thêm xét nghiệm sinh thiết gan, đồng thời tìm HBV DNA trong máu.

4. LỜI KHUYÊN CHẾ ÐỘ ĂN VÀ LỐI SỐNG

4.1. Chế độ ăn

Nếu Bạn là người lành mang mầm bệnh, Bạn nên hạn chế uống rượu. Người nghiện rượu mắc bệnh viêm gan B thường hay bị xơ gan hơn. Chế độ ăn bình thường là thích hợp với hầu hết trường hợp viêm gan siêu vi B. Khi có xơ gan, Bác Sỹ khuyên Bạn nên giảm muối trong chế độ ăn.

4.2. Lối sống

Người bị nhiễm SVVG B thường lo lắng về nguy cơ truyền bệnh sang những người xung quanh. Mối lo này hoàn toàn hợp lý bởi vì siêu vi B lây nhiễm qua tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết của bệnh nhân, cũng như do quan hệ tình dục. Hiện nay, đã có vắc-xin chủng ngừa cho những người tiếp xúc với người mang mầm bệnh (bạn tình, trẻ em, cha mẹ, người chăm sóc.).

Dù sao, người mang mầm bệnh cần có biện pháp đề phòng thích hợp, ví dụ nếu Bạn bị đứt tay, hãy lau sạch máu bằng thuốc sát trùng. Nên sử dụng biện pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.

4.3. Ðiều trị

Tùy theo quyết định của Bác Sỹ, một số trường hợp cần điều trị sớm và tích cực. Mục đích điều trị nhằm:

(a) Loại trừ hoặc giảm thiểu tình trạng viêm gan, do đó ngăn ngừa, làm chậm tiến triển sang giai đoạn xơ gan, ung thư gan.

(b) Ðào thải toàn bộ, hoặc một phần lượng siêu vi B trong cơ thể, đặc biệt ở trong gan.

5. ÐIỀU TRỊ ÐẶC HIỆU:

Thuốc điều trị chủ yếu là Interferon alpha
Interferon alpha là một chất tự nhiên có trong cơ thể người, được sản xuất bởi một số tế bào khi cơ thể nhiễm virut. Chức năng của Interferon alpha là diệt trừ tác nhân gây bệnh. Như vậy, khi dùng Interferon, siêu vi B sẽ bị loại bỏ giống như cơ chế đào thải tự nhiên của cơ thể.

Interferon alpha (RoferonỊ-A) được đóng sẵn trong bơm tiêm có kèm kim nhỏ, tiêm dưới da hoặc bắp thịt. Khi bắt đầu điều trị, hầu hết bệnh nhân đều có cảm giác sốt nhẹ, mệt mỏi trong vài giơ,?ọi là hội chứng giả cúm. Những biểu hiện này là do Interferon khởi động đáp ứng của cơ thể chống lại siêu vi giống như khi Bạn mắc bệnh cúm vậy. Về sau, tác dụng phụ này sẽ bớt dần. Uống Paracetamol nửa tiếng trước khi tiêm thuốc sẽ hạn chế biểu hiện đó. Nên tiêm thuốc vào buổi tối để hôm sau Bạn có thể làm việc bình thường.

Trong thời gian điều trị, Bạn nên làm xét nghiệm máu để đánh giá đáp ứng. Sau khi kết thúc điều trị, cần tiếp tục theo dõi thêm 6 tháng nữa, bởi vì một số bệnh nhân có thể bị tái phát sau khi ngưng thuốc.

Một số thuốc kháng sinh chống siêu vi hiện đang được nghiên cứu phối hợp với Interferon alpha.

(Nguồn: drthuthuy.com)
TS - Xin cho em biết bệnh quai bị là gì? Tác hại của bệnh? Đã bị bệnh quai bị một lần, triệu chứng như thế nào thì mới bị vô sinh.Và chính xác hơn là bệnh quai bị có khả năng gây vô sinh hay không? (Lan Thanh, lonelystar1023@)

- Bệnh quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng thuộc nhóm paramyxovirus gây ra. Biểu hiện lâm sàng của bệnh là viêm tuyến nước bọt, có khi viêm tuyến sinh dục, viêm màng não, viêm tụy cấp kèm theo.

Bệnh chủ yếu xảy ra ở trẻ em, lây lan chủ yếu qua nước bọt do bệnh nhân ho ra thành những hạt li ti có chứa virus.

Bệnh có thể ở thể nhẹ, bệnh nhân chỉ cảm thấy mệt mỏi, căng căng, khó chịu ở vùng mang tai. Nếu ở thể nặng hơn, bệnh nhân sẽ sốt, nhức đầu, biếng ăn, đau họng, nhai khó, đau vùng tuyến mang tai; tuyến mang tai sưng to, đỏ một bên hoặc cả 2 bên.

Có một số trường hợp nặng, tuyến dưới hàm và tuyến dưới cằm cũng sưng to, lưỡi gà của bệnh nhân cũng bị sưng to làm bệnh nhân ngạt thở phải vào bệnh viện mở khí quản cấp cứu.

Sau khi bệnh toàn phát khoảng 1 tuần, các triệu chứng lui dần và bệnh nhân sẽ hồi phục hẳn.

Người ta chỉ bị quai bị 1 lần trong đời vì sau khi khỏi bệnh, bệnh nhân sẽ được miễn dịch suốt đời.

Biến chứng của bệnh quai bị:

- Viêm màng não: chiếm 10- 35% trường hợp mắc bệnh.

- Viêm não: chiếm 0,5% trường hợp.

- Tổn thương thần kinh sọ não: điếc, mù, viêm tủy sống cắt ngang...

- Viêm tụy cấp: 3- 7% trường hợp, thường diễn biến nhẹ.

- Các biến chứng khác ít gặp hơn như: viêm cơ tim, viêm tuyến giáp,viêm gan, viêm đường hô hấp dưới, viêm cầu thận cấp, viêm đa khớp, xuất huyết giảm tiểu cấu...

- Biến chứng ở hệ sinh dục:

• Quan trọng nhất là viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn: chiếm khoảng 20 – 30% trường hợp mắc bệnh. Viêm tinh hoàn xảy ra sau khi viêm tuyến mang tai 7-10 ngày. Bệnh nhân sốt cao, lạnh run, tinh hoàn sưng to, đau, đỏ 1 hoặc 2 bên. Bệnh kéo dài 7- 10 ngày. Khoảng 30-40% trường hợp viêm tinh hoàn dẫn đến teo tinh hoàn sau 2-4 tháng.

• Viêm buồng trứng: chiếm khoảng 7% trường hợp nhưng rất hiếm khi xảy ra vô sinh.

Để biết có bị vô sinh do biến chứng của quai bị hay không, bạn phải đi khám ở các cơ sở y tế, bác sĩ sẽ khám xem có bị teo tinh hoàn (nếu là nam) hoặc teo buồng trứng (nếu là nữ) hay không? Các bác sĩ sẽ cho làm thêm các xét nghiệm cận lâm sàng như siêu âm tinh hoàn (hoặc tử cung và buồng trứng), làm tinh trùng đồ, nội soi ổ bụng để khảo sát cơ quan sinh dục nữ v.v... mới có thể kết luận được.

Bệnh quai bị có thể được đề phòng dễ dàng bằng cách chủng ngừa. Nếu nhà bạn có trẻ em chưa mắc bệnh quai bị, nên đến Trung tâm y tế quận, huyện hoặc Viện Pasteur TP HCM để chủng ngừa.

BS NGUYỄN ĐÌNH SANG
Chuyên khoa BS gia đình, TS Y tế quận I
(vietbao.vn)

BỆNH QUAI BỊ

2009/12/30    10:56    {entryviewsnum}    Bệnh quai bị Ko chỉ định
I. Đại cương

Quai bị là một bệnh nhiễm virus toàn thân cấp tính đặc trưng bởi sưng tuyến mang tai và các tuyến nước bọt khác do một loại Paramyxo virus gây nên

Bệnh thườnh gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên, bệnh chỉ mắc một lần. Ngoài biểu hiện viêm tuyến nước bọt còn có biểu hiện các nơi khác như viêm não màng não, viêm tụy, viêm cơ tim,viêm tinh hoàn ...và các biến chứng quan trọng như điếc vĩnh viễn, vô sinh, rối loạn nhân cách...

Sự ra đời của vaccine quai bị năm 1967 làm giảm tỉ lệ mắc bệnh và biến chứng
II.Bệnh nguyên  

Virus quai bị thuộc loại Pramyxovirus, chỉ có duy nhất một type huyết thanh được tìm thấy năm 1934 bởi Johnson và Goodpasture.

Virion có hình cầu hơi thô đường kính khoảng 85-300 micromet .

Nucleocapside có chứa chuổi RNA cuộn theo hình xoắn và được bao bọc chung quanh bởi màng lipid gồm 3 lớp. Lớp ngoài cùng gắn với glycoprotein mang tính hủy hoại receptor (neuraminidase), ngưng kết hồng cầu (hemaglutinating) và kết dính tế bào. Protein ngưng kết hồng cầu gắng với acidesialic trên tế bào đích khởi đầu quá trình nhiễm virus . Protein kết dính tế bào liên kết mànglipid kép, làm cho virus lan tràn từ tế bào này sang tế bào khác
III.Dịch tể

Người là vật chủ duy nhất đươc biết trong thiên nhiên.Trước khi có vaccin 1967 Quai bị là một bệnh dịch toàn cầu, thường tập trung ở các tập thể như trại lính, trại mồ côi, trường học v.v... Tuy nhiên dịch có tể bùng phát ở cụm dân cư đả được chủng ngùa, chứng cớ này cho thấy một số người không đươc bảo vệ bằng vaccin.Ở Mỹ đỉnh cao được ghi nhận vào năm 1987là 12848 trường hợp (Redbook 1994. Infectious diseases).Ở Việt nam chưa có số liệu cụ thể được báo cáo. Sự tấn công của virus quai bị lần thứ 2 gần như không tìm thấy.

- Mùa: Bệnh xảy ravào mùa đông xuân đặc biệt là tháng 4-5. Mặc dầu người ta thấy rằng quai bị ít lây hơn sời và thủy đậu nhưng trong một vài khảo sát cho thấy 80-90% người lớn có phản ứng huyết thanh dương tính với quai bị mặc dù 1/ 3 số người này không có tiền sử quai bị.

- Đường lây truyền: Virus được truyền trực tiếp từ người này sang người khác qua các giọt nước bọt bị nhiễm vírus bắn ra. Mặc dù người ta vẫn phân lập được virus quai bị trong nước tiểu nhưng sự lan truyền theo đường này có lẽ không xảy ra.

- Thời gian lây truyền: Nguy cơ lan truyền cao nhất từ 6 ngày trước khi khởi phát và kéo dài đến 2 tuần sau khi sưng tuyến mang tai. Người ta phân lập được virus trong nước bọt 7 ngày trước đến 9 ngày sau khi khởi phát, dù cho thời kỳ lây nhiễm có khi ngắn hơn, có một số trường hợp lâm sàng nhẹ hoặc không sưng tuyến nước bọt nhưng có virus trong tuyến nước bọt, nhiễm virus huyết cũng kéo dài 2 đến 3 tuần ở một vài bệnh nhân.

- Đối tượng: nam nhiều hơn nữ

 Nhiễm virus quai bị trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể làm tăng tỉ lệ sẩy thai tự nhiên ( #27% ). Mặc dù virus quai bị có thể qua nhau thai nhưng không có chứng cớ nào cho thấy nhiễm quai bị trong thai kỳ sẽ gây nên dị tật bẩm sinh cho thai nhi.

        Bệnh hiếm gặp ở trẻ dưới < 2 tuổi.

         Đỉnh cao từ 10-19 tuổi (tưổi thanh thiếu niên)

        Người cao tuôi cũng có thể gặp
IV.Sinh bệnh học

Virus quai bị xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, trong suốt thời kỳ ủ bệnh, khoảng từ 12-25 ngày nó phát triển nhân lên trong biểu mô đường hô hấp trên và các tổ chức bạch huyết vùng cổ, từ đó virus theo đường máu lan tràn đến các cơ quan khác như màng não tuyến sinh dục, tụy, tuyến ức, gan, tim, thận, tim và thần kinh trung ương, riêng tuyến nước bọt có lẽ thứ phát sau nhiễm virus máu
V.Giải phẩu bệnh

Những thay đổi bệnh lý được ghi nhận tạituyến man tai trong suốt thời kỳ quai bị cấp gồm phù tổ chức kẽ, tẩm nhuận tế bào lympho và xuất tiết các sợi tương dịch

Ông tuyến chứa đày tế bào hoại tử và neutrophiles

Những tổn thương tương tự cũng tìm thấy ở các cơ quan khác như tụy và tinh hoàn

Trong bối cảnh viêm tinh hoàn quai bị người ta quan sát những vùng nhồi máu và phản ứng viêm nặng nề, hầu hết những vùng này có hiện tượng tế bào biểu mô sinh tinh bị hyaline hóa và xơ hóa

Khi não bị thâm nhiễm, thì viêm não màng não tiên phát vơi tiêu hủy tế bào thần kinh hoặc thóa hóa myeline sau viêm não có thể xãy ra
VI.Lâm sàng

1/3 trường hợp nhiễm virus quai bị không triệu chứng

Các biểu hiện chính trong quai bị gồm :

Sưng tuyến mang tai                                          60%_70%

Sưng các tuyến nước bọt khác                          10%

Hệ thông thần kinh trung ương:

VMN Tăng lympho không triệu chứng               50%

Viêm màng não không triệu chứng                   10%

Viêm não                                                        1/6000

Bệnh lý về hệ thần kinh khác                            4%  (phát hiện bằng test)

Viêm tinh hoàn,mào tinh hoàn                          20% (ở nam sau dậy thì)

Viêm buồng trứng                                           5%   (ở nữ sau dậy thì)

Viêm tuyến vú                                                 7%-30% (ở nữ sau dậy thì)

Viêm tụy                                                         5%

Viêm thận (có bất thường về chức năng thận thoáng qua)                           >60% (hiếm khi tử vong)

Viêm cơ tim,viêm ngoại tâm mạc,  có bất thường trên ECG                               5-15% (hiếm khi tử vong)

Các biểu hiện khác:

   Viêm khớp, viêm tuyến giáp,  Viêm tuyến tiền liệt, viêm gan,  Viêm kết mạc, viêm kết mạc,  Viêm mống mắt, giảm tiểu cầu, Gia tăng sẩy thai (chỉ 3 tháng đầu của thai kỳ)
Điếc vĩnh viễn (75% điếc một bên)               1/20000-1/15000

1.Viêm tuyến nước bọt mang tai và các túyên nước bọt khác:

1.1 Thời kỳ ủ bệnh: trung bình 16-18 ngày (thay đổi tư 12-25 ngày)

1.2.Thồi kỳ khởi phát: thường bắt dầu với các triệu chứng chính không đặc trưng của đường hô hấp trên và dưới. Toàn thân: mệt mỏi, chán ăn, đau nhức mình mẩy, sốt nhẹ, kéo dài vài ngày trước khi sưng tuyến mang tai

1.3.Toàn phát: Bắt đầu sưng tuyến mang tai, sốt giảm và các biểu hiện triệu chứng tại các cơ quan liên hệ

Thời kỳ này thường đột ngột sau thời kỳ khởi phát, tuyến mang tai sưnng tối đạt tối đa sau 1-3 ngày và giảm dần sau 7-10ngày. Hiếm khi kéo dài quá 2 tuần. Sưng cả 2 tuyến chiếm 3/4 trường hợp, sưng tuyến bên này rồi lan sang tuyến bên kia, một đôi khi kèm sưng tuyến nước bọt dưới hàm và dưới lưỡi.

Tuyến mang tai sưng từ tai đến dưới hàm và lan ra tận gò má, mất rảnh trước và sau tai. Vùng da trên tuyến không nóng và đỏ như trong viêm tuyến mang tai nhiễm trùng, có tính đàn hồi và không để lại đấu ấn ngón tay.

Bệnh nhân có cảm giác đau tai nhất là khi ăn, hoặc uống các thức ăn có vị chua do nghẽn ống Wharton hoặc Stensen.

Sưng tuyến dưới hàm và dưới lưỡi có khi lan xuống tận phần trước của ngực. Phù nề thanh môn hiếm xảy ra nhưng nếu xảy ra thì phải khai khí quản.

Khám họng thấy miệng các lỗ ống tuyến nước bọt có thể trở nên đỏ, phù nề và có những điểm xuất huyết nhỏ.

Tòan thân vẫn tiếp tục sốt 38-390C nhức đầu, chán ăn, đau mỏi tòan thân, đặc biệt ở trẻ em.Các triệu chứng thực thể khác gần như vắng mặt.

Chẩn đoán sớm dựa vào: Sốt - Đau mỏi toàn thân - Tuyến mang tai sưng một bên rồi lan sang bên kia

2.Các thể khác:

2.1 Viêm tinh hòan-mào tinh hòan: xảy ra khỏang 20% ở nam giới sau tuổi dạy thì bị quai bị, hiếm gặp ở trẻ nhỏ. Trong số này chỉ có 15-25% xảy ra hai bên; 2/3 trường hợp xảy ra trong tuần lễ đầu,1/3 còn lại xảy ra ở tuần thứ 2. Một đôi khi viêm tinh hòan xảy ra mà không có viêm tuyến mang tai.

 Tòan thân: Sốt cao 39-410C, ớn lạnh, nôn mủa, đau vùng bìu.

 Thăm khám: Vùng da bìu đỏ, tinh hòan sưng lớn to gấp 3 -4 lần bình thường, nóng cứng, các triệu chứng này biến mất sau 1 tuần .

 85% trường hợp viêm tinh hòan là viêm mào tinh hòan

 35% trường hợp teo tinh hòan và thường là 1 bên, nếu teo xảy ra ở 2 bên có thể vô sinh hoặc có thể bất thường về tinh dịch.

 Testosteron huyết tương tăng trong suốt giai đọan viêm tinh hòan cấp, trở lại bình thường khi hồi phục

 Nhồi máu phổi được ghi hnận có lẽ do viêm tắc tĩnh mạch tiền liệt tuyến và đám rối chậu trong viêm tinh hòan.                

2.2 Viêm màng não và viêm não:

Hệ thống TKTW và vị trí tổn thương ngoại tuyến thông thường nhất trong quai bị . Ở Mỹ trước khi có vaccine quai bị có khỏang 10% viêm màng não vô khuẩn trong quai bị . Hiện nay chỉ còn 1% .          Các biểu hiện ở hệ thống TKTW xảy ra 3-10 ngày sau sưng tuyến mang tai (có khi 2-3 tuần sau), bao gồm: cứng cổ, nhức đầu, nôn mủa, ngủ gà. Các triệu này giảm dần sau 3-10 ngày và thường khỏi hòan tòan.

Dịch não tủy có những biến đổi bất thường có thẻ kéo dài khỏang 1 tháng:

Protein bình thường hoặc tăng nhẹ

Glucose bình thường

Tế bào < 500/mm3, đa số là Lympho, có khỏang 20-25% trường hợp có Neutrophile tăng

Viêm não quai bị ít xảy ra hơn, tần suất 1/6000, nam > nữ, xảy ra 7-10 ngày sau sưng tuyến mang tuyến mang tai hoặc xảy ra cùng lúc, các triệu chứng đặc thù: Dấu thần kinh khu trú, rối lọan tác phong, ý thức trì trệ.

 Các biểu hiện ít gặp là viêm tủy cắt ngang, viêm dây thần kinh sọ não, viêm đa dây thần kinh, hội chứng Guilain Barré, mù vỏ não (Corticalblindness) và thất điều. Ơ trẻ em có thể gặp não úng thủy do tắc lỗ thông não thất sau quai bị.

2.3 Điếc và giảm thính lực ;

Đây làmột thể điếc thần kinh (senssorineural deafness) biến chứng của quai bị, 4% điếc thóang qua trong giai đọan cấp và 1/15.000-1/20.000 điếc vĩnh viễn thường một bên, tuy nhiên điếc hai bên có thể xảy ra, thường do viêm nội dịch mê đạo trong tai

2.4 Viêm tuyến vú và viêm buồng trứng:

Xảy ra ở nữ sau tuổi dậy thì:

Viêm tuyến vú (7-30%)

Viêm buồng trứng (5%): Triệu chứng gồm: sốt, nôn mủa, đau bụng đau hố chậu. Khám vùng hố chậu thấy buồng trứng căng, biến chứng vô sinh ít gặp.

2.5 Viêm tụy:

 Xảy ra khỏang 5% trường hợp, thường khó chẩn đóan. Viêm tụy có thể xảy ra mà không có dấu hiệu của quai bị, do đó trẻ em và người trẻ tuổi viêm tụy đơn thuần phải cần chẩn đóan gián biệt với các nguyên nhân gây viêm tụy khác. Các triệu chứng bao gồm sốt, nôn mửa và đau thượng vị. Thường hôì phục sau một tuần.

2.6 Viêm cơ tim và màng ngoài tim:

15% trường hợp bệnh nhân quai bị có thay đổi trên điện tâm đồ, thông thường nhất là kéo dài thời gian dẫn truyền nhĩ thất, cón ST-T không thay đổi đặc hiệu. Viêm màng ngoài tim hoặc viêm cơ tim được ghi nhận nhưng viêm cả 2 thường hiếm. Tử vong có nhưng ít.

2.7 Viêm khớp:

Thường 2 tuần sau khi viêm tuyến mang tai và có thể kéo dài đến 5 tuần. Viêm đa khớp và viêm các khớp lớn khỏi hòan tòan không để lại di chứng thưòng xảy ra ở nam giới tuổi 20-30.

2.8 Rối lọan chức năng thận:

Thường nhe, được tìm thấy >50%, bao gồm giảm khả năng cô đặc nước tiểu, đái ra máu vi thể hoặc protein niệu thoáng qua.
VII.Cận lâm sàng:

1.CTM: Trong quai bị không biến chứng nhìn chung không có biế đổi gì lớn, chủ yếu là BC giảm nhẹ

2.Tốc độ lắng máu: Chỉ tăng khi có viêm tụy và viêm tinh hòan

3.Amylase máu:           Tăng trong viêm tụy và viêm các tuyến nước bọt và có khi tăng ở những bệnh nhân viêm não, màng não quai bị mà không có sưng tuyến mang tai trên lâm sàng. Ngược với Amylase máu, Lipase huyết thanh chỉ tăng trong viêm tụy kèm với tăng đường máu và đường niệu (+) có thể xảy ra

4.Dịch não tủy: Không có sự tương quan giữa số lượng tế bào đếm được và múc độ trầm trọng của thương tổn hệ thần kinh.

 BC: 0-200/mm3 giai đọan đầu, neutrophile chiếm ưu thế, về sau chủ yếu là lympho.

5.Phân lập virus: Virus có thể phân lập được từ máu, chất tiết ở cổ họng, từ ống Stensen, DNT, nước tiểu.

6.Phương pháp miễn dịch huỳnh quang: Phát hiện sự hiện diện của virus của tế bào họng thanh quản sớm hơn trong vònh 2-3 ngày.

7.Huyết thanh chẩn đóan: Test ELISA khá đặc hiệu và được áp dụng rộng rãi nhất, xác định sự đáp ứng của kháng thể đặc hiệu IgM, IgG.

Test cố định bổ thể: phát hiện kháng thể kháng V (virion) và kháng thể kháng S ( kháng nguyên nucleocapside hòa tan ), để chẩn đóan gian đọan cấp của bệnh, trong giai đoạn cấp cá kháng S mà không có kháng thể V, nếu sau 2-3 tuần hiệu giá kháng thể tăng gấp 4 lần thì chẩn đóan chắc chắn. Kháng thể S tồn tại vài tháng và kháng thể V tồn tại nhiều năm.
VIII. Chẩn đóan gían biệt:

1.Trường hợp có sưng tuyên mang tai ta cần gián biệt với viêm tuyyến mang tai do nhiễm virus (coxaskie, virus cúm và phó cúm) hoặc vi khuẩn (có mủ chảy ra ở lổ đổ của ống stenon), một đôi khi sưng tuyến nướuc bọt mang tai có thể gặp ở người nghiện rượu,SDD, ure máu cao, đái đường, sỏi tuyế nước bọt gây tắc (chẩn đóan: hỏi tiền sử và chụp XQ ) .

2.Viêm hạch bạch huyết góc hàm do bạch hầu:

Bệnh cảnh nhiễm trùng nhiễm độc nặng kèm giả mạc ở họng hoặc viêm phản ứng do nhiễm trùng vùng hầu họng, răng.

3. Một số bệnh tòan thể khác như: Lao, hodgkin, lupus ban đỏ, viêm tuyến mang tai kèm theo viêm tuyến lê và móng mắt (hội chứng Mickulizz) có thể bắt đầu đột ngột sưng tuyến mang tai nhưng không đau và kéo dài.

4.Phân biệt viêm tinh hòan do quai bị và một só viêm tinh hòan khác: do nhiễm khuẩn hay gặp là: lậu, lao, lepstospira, thủy đậu, Brucellose.

5.Viêm tụy cấp trong quai bị cần gián biệt với thủng tạng rỗng như: dạ dày, ruột thừa, cơn đau quặn gan, quặn thận(và triệu chứng chướng bụng và đau dữ dội).
IX. Điều trị:

Chưa có điều trị đặc hiệu, tác dụng lên virus quai bị.

Việc điều trị nhằm vào chủ yếu là điều trị các triệu chứng xuất hiện trên lâm sàng:

1.Trường hợp chỉ có sưng tuyến nước bọt đơn thuần: Có thể hướng dẫn điều trị tại cộng đồng như sau

Vệ sinh răng miệng, tránh thức ăn quá chua, ăn lỏng nhẹ nhưng giàu năng lượng.

Nghỉ ngơi tại giường đặt ra khi còn sốt, có thể dùng các thuốc paracetamol hoặc kháng viêm không steroid, giảm đau và hạ sốt.

Có thể dùng thêm Vitamine C 1-2 g/ngày bằng đường uống.

Đông Y: người ta có thể châm cứu một số huyệt hoặc dùng đậu xanh, hạt gấc và dấm để bôi vào mặt ngoài tuyến mang tai.

2.Trưòng hợp có viêm tinh hòan:

Nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường

Tránh mặc quần lót chật, có thể chườm lạnh tinh hòan.

Dùng thuốc giảm đau và chống viêm không steroid.

Vấn đề dùng corticoid chỉ đặt ra khi có viêm não hoặc màng não quai bị hoặc có viêm tinh hòan trầm trọng, viêm tụy .

Việc sử dụng globuline miễn dịch chống quai bị ở người lớn cũng có thể làm giảm biến chứng viêm tinh hòan.

3.Trong các trường hợp viêm tụy : nên dùng liệụ pháp truyền dịch, nhịn ăn và corticoid.

4.Viêm khớp quai bị: đáp ứng tốt với corticoid và aspirinè, các thuốc kháng viêm không steroid không cho hiệu quả mong muốn.

X.Dự phòng:

1.Dự phòng tập thể:

Bằng các phương tiện truyền thông đại chúng, tuyên truyền cho cộng đồng biết các dấu hiệu nghi ngờ quai bị, giáo dục cách phòng bệnh như

Cải thiện chế độ dinh dưỡng, tăng sức đề kháng của cơ thể trong mùa có thể xãy ra dịch,hoặc trong vùng đang có dịch; nhất là phụ nữ có thai và người chưa có miễn dịch với quai bị      

       Người mắc quai bị phải được cách ly tối thiểu 9 ngày khi lâm sàng có triệu chứng sưng tuyến mang tai nhất là khi bệnh nhân ở trong các tập thể như nhà trẻ, trường học, trại lính .v.v. Để phòng dịch bùng phát.

2.Tạo miễn dịch chủ động: Vaccine quai bị ra đời 1967 và có hiệu quả bảo vệ >95% trường hợp có tiếp xúc với nguồn bệnh, tuy nhiên vaccine quai bị không chứng minh có hiệu quả bảo vệ khi bệnh đã bộc phát.

Vaccine được làm từ virus quai bị sống giẩm độc lực được nuôi cấy trong phôi gà. Vaccine được tiêm dưới da liều 0,5 ml có thể đơn độc hoặc kết hợp với sởi và Rubella(MMR: Mump, Measle, Rubella) đối tượng chủng ngừa là trẻ >12 tháng trỏ đi . Trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn đều có thể chủng ngừa quai bị . Chỉ cần chủng ngừa 1 lần .Thận trọng đối với những nguời có dị ứng với trứng, thịt gà hoặc lông gà . Không có chứng cớ nguy hại cho thai nhi, nhưng cũng nên tránh chủng ngừa cho phụ nữ có thai. Chống chỉ địng chủng ngừa còn đặt ra cho những người đang điều trị với thuốc giảm miễn dịch, đang mắc các bệnh cúm ác tính.

3.Miễn dịch thụ động: Dùng globuline miễn dịch chống quai bị, thuốc làm giảm tỉ lệ viêm tinh hòan nhưng không có tác dụng lên cơ quan khác.

Liều lượng 3-4,5 ml tiêm bắp cho đối tượng tiếp xúc với người bệnh mà chưa có miễn dịch.


Ths.BS Đặng Thị Nga (ĐHYD Huế)
(suckhoecongdong)
[b]Quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, dễ lây lan thành dịch, đặc biệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Bệnh thường gặp vào mùa đông - xuân. Mầm bệnh quai bị là virus thuộc họ myxovirus. Nguồn lây bệnh quai bị là người đang mắc bệnh quai bị. Đường lây truyền bệnh là không khí qua đường hô hấp. Bệnh có một số biến chứng nguy hiểm.
[/b]
Biểu hiện của bệnh quai bị

Bệnh quai bị gặp chủ yếu là viêm tuyến nước bọt (tuyến mang tai). Kể từ khi virus quai bị vào cơ thể cho đến khi có triệu chứng lâm sàng đầu tiên thời gian kéo dài khoảng từ vài ba tuần lễ. Giai đoạn này người ta gọi là thời kỳ nung bệnh. Bệnh xuất hiện sốt cao đột ngột, đau đầu, mệt mỏi toàn thân, ăn ngủ kém. Với các triệu chứng này ở giai đoạn tiên phát có thể nhầm với một số bệnh khác.

Sau khi sốt cao từ 1 đến 3 ngày thì tuyến nước bọt bị sưng to. Đầu tiên là sưng một bên, sau vài ngày tiếp tục sưng tuyến nước bọt còn lại. Đặc điểm của sưng tuyến nước bọt là sưng 2 bên thường không đối xứng (có nghĩa một bên sưng to, một bên nhỏ hơn). Tuyến nước bọt có khi sưng lên rất to làm cằm, cổ bạnh ra làm biến dạng cả mặt. Da vùng tuyến nước bọt sưng, căng, bóng, không đỏ, sờ vào vùng da đó thấy nóng và bệnh nhân kêu đau. Người ta thường quan sát 3 điểm đau điển hình của bệnh quai bị trong dấu hiệu viêm tuyến nước bọt là góc thái dương-hàm, điểm mỏm xương chũm và góc xương hàm dưới. Nhiều bệnh nhân vì đau mà gây nên khó nhai, khó nuốt. Triệu chứng sốt thường kéo dài trong vòng 10 ngày, sau khi hết sốt thì hiện tượng sưng tuyến nước bọt cũng giảm dần. Hậu quả của viêm tuyến nước bọt do virus quai bị là không bị hóa mủ (trừ khi có bội nhiễm thêm vi khuẩn khác), đây là một đặc điểm nên lưu ý trong chẩn đoán bệnh quai bị.

Các bộ phận có thể bị tổn thương


Virus quai bị có thể gây tổn thương nhiều cơ quan của cơ thể, nhưng bộ phận đánh lo ngại nhất của bệnh quai bị là gây viêm tinh hoàn cho nam giới. Viêm tinh hoàn do virus quai bị thường hay gặp nhất ở lứa tuổi đang dậy thì và cả lứa tuổi trưởng thành (thanh thiếu niên). Tỷ lệ bị viêm tinh hoàn còn tùy thuộc vào từng vụ dịch (tức là phụ thuộc vào độc lực của virus), tình trạng sức đề kháng của cơ thể. Có một số tác giả cho rằng khoảng từ 10 đến 30% có kèm theo viêm tinh hoàn. Đặc điểm của viêm tinh hoàn thường xảy ra một bên. Tỷ lệ viêm tinh hoàn 2 bên ít hơn. Sau khi viêm tuyến nước bọt từ 5 đến 7 ngày thì xuất hiện viêm tinh hoàn. Bệnh nhân thấy xuất hiện sốt trở lại, đôi khi nhiệt độ còn tăng hơn lúc ban đầu của viêm tuyến nước bọt. Tinh hoàn sưng to, đau. Sờ vào tinh hoàn thấy chắc. Da bìu bị phù nề rõ rệt, căng, bóng, đỏ.

Ngoài ra người ta còn thấy kèm theo có viêm mào, thừng tinh hoàn, thậm chí xuất hiện tràn dịch màng tinh hoàn trong những trường hợp bệnh nặng. Bệnh kéo dài từ 3-4 tuần lễ sau đó mới hết sưng, đau hẳn. Điều đáng lo ngại nhất của viêm tinh hoàn là có gây hậu quả teo tinh hoàn hay không? Muốn biết có bị teo tinh hoàn hay không phải theo dõi một thời gian dài khoảng vài tháng mới có thể biết chắc chắn. Cũng không nên lo lắng quá về bệnh của mình bởi vì tỷ lệ teo tinh hoàn do virus quai bị gây ra rất thấp, cũng chỉ khoảng 5%. Nếu teo tinh hoàn một bên thì mọi chức năng của tinh hoàn vẫn hoạt động bình thường, nhưng khi đã bị teo cả 2 bên tinh hoàn thì sẽ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sinh dục và sinh sản.

Ngoài biến chứng viêm tinh hoàn ở nam giới thì nữ giới khi bị quai bị cũng có thể bị viêm buồng trứng tuy rằng tỷ lệ thấp. Viêm tụy, viêm não, màng não cũng có thể gặp trong bệnh quai bị nhưng không nhiều. Mặc dù những bệnh này gặp trong viêm quai bị là thấp nhưng rất nguy hiểm có thể đe dọa đến tính mạng.

Khi bị bệnh quai bị nên làm gì?


Khi nghi là bị bệnh quai bị nên đi khám bác sĩ để được chẩn đoán chính xác, từ đây sẽ được chỉ định điều trị và có những tư vấn rất quan trọng, trong đó bao gồm cho bản thân người bệnh và cả bảo vệ cho người lành có nguy cơ mắc bệnh quai bị.

Đối với thể bệnh viêm tuyến nước bọt đơn thuần cần vệ sinh họng, miệng hàng ngày như súc họng, miệng bằng các dung dịch sát khuẩn nhẹ có bán tại các quầy dược phẩm như axit boric 5%, nước muối sinh lý và một số dung dịch sát khuẩn khác. Hạ nhiệt, giảm đau, chống viêm, sinh tố, uống nhiều nước vì sốt làm mất nước, điện giải. Cần nghỉ ngơi tại giường tránh tiếp xúc với những người có nguy cơ cao mắc bệnh quai bị như lứa tuổi thanh thiếu niên, tối thiểu 10 ngày.

Đối với thể bệnh có viêm tinh hoàn cần nghỉ ngơi tại giường khi tinh hoàn vẫn còn sưng, đau. Cần thiết mặc đồ lót để treo nhẹ tinh hoàn lên. Đối với thể bệnh có viêm tinh hoàn, buồng trứng, rất cần có ý kiến của bác sĩ. Những bệnh viêm tụy, viêm não, màng não cần phải vào bệnh viện để được khám và theo dõi một cách chặt chẽ. Mặc dù hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh quai bị, đó là một thách thức lớn cho các thầy thuốc lâm sàng, nhưng các thuốc dùng trong mục đích điều trị hỗ trợ cũng không thể coi thường.

Nguyên tắc phòng bệnh quai bị

Cần cách ly người bệnh ít nhất 10 ngày không tiếp xúc với đối tượng có nguy cơ cao như lứa tuổi thanh thiếu niên. Người bệnh và người chăm sóc bệnh nhân cần đeo khẩu trang y tế đúng tiêu chuẩn để hạn chế đến mức tối đa virus lây sang người chăm sóc, từ đó lây cho người lành khác.

Đối với đối tượng có nguy cơ cao cần tiêm vacxin phòng bệnh. Đây là biện pháp có hữu hiệu nhất hiện nay để tạo cho cơ thể có đủ kháng thể đặc hiệu chống lại virus quai bị một cách chủ động, mỗi khi chúng xâm nhập vào cơ thể.


Theo PGS. TS Bùi Khắc Hậu  - Báo Sức khỏe & Đời sống
Hơn 1 năm qua tôi bị chứng run tay. Một số người thân trong gia đình tôi cũng bị. Xin giải thích nguyên nhân và liệu tôi nên uống loại vitamin hay khoáng chất nào để giảm nhẹ hiện tượng này?

Trả lời:


Bạn đang mang 1 chứng bệnh được gọi là run vô căn - không kiểm soát được sự rung lắc do sự rối loạn đường truyền giữa não bộ và các dây thần kinh.


Những bệnh nhân thường nghĩ rằng các cơ tay/chân của mình có vấn đề nhưng thực tế thì lại là do não bộ.


Nguyên nhân dẫn tới hiện tượng run tay hiện chưa được biết, mặc dù các nhà khoa học cho rằng đó là do vùng tiểu não - một mùng kiểm soát các cơ bắp - làm việc kém hiệu quả. Khoảng 50% trường hợp là di truyền (giống như trường hợp của bạn).


Trong khi ở bạn, hiện tượng run chỉ xảy ra ở tay thì một số người, chân và đầu lại bị run và lắc.


Bất cứ khi nào tôi thông báo với bệnh nhân về tình trạng bệnh tật, họ đều tỏ ra vô cùng sợ hãi vì nghĩ đó là dấu hiệu của một căn bệnh đáng sợ như Parkinson. Và trong hầu hết các trường hợp run đều không phải là biểu hiện của một bệnh nghiêm trọng liên quan tới thần kinh.


Hãy an tâm nhé vì run vô căn phổ biến hơn tất cả mọi rối loạn thần kinh đấy. Những rối loạn này bao gồm cả bệnh Parkinson, nhiều loại rối loạn co cơ hay ngữ loạn trương lực như bệnh Huntington, cũng như máy giật mắt/tay/chân và một số biểu hiện dị thường mà nguyên nhân do dùng thuốc trong một thời gian dài, thường là các thuốc an thần.



Hiện tượng run sẽ rõ ràng hơn khi sử dụng tay để cầm cốc nước, xâu kim.... và trở lại bình thường khi bạn ngủ.


Ngược lại, run do Parkinson lại chỉ diễn ra khi tay không phải làm gì. Lưu ý là tay của bạn càng run mạnh khi bạn cảm thấy lo âu, căng thẳng vì cố gắng kiểm soát hiện tượng run.



Tin mừng là mặc dù hiện tượng run có thể rất mạnh nhưng bạn đừng lo, thần kinh của bạn hoàn toàn không có vấn đề gì hết - không giống như bệnh nhân Parkinson.


Cũng hiếm khi hội chứng run này nặng lên thêm.


Còn về câu hỏi dùng vitamin bổ sung, tôi sợ rằng hiện chưa có bất kỳ loại vitamin hay khoáng chất nào có hiệu quả đối với hội chứng run vô căn này. Một lượng cồn nhỏ có thể giúp giảm triệu chứng run - chất cồn dường như có khả năng giảm nhẹ sự “nhiễu sóng” nơi não bộ.


Nhưng tôi không khuyến khích bệnh nhân coi đây là một phương pháp điều trị thường xuyên. Bởi sự nhấm nháp rượu thường xuyên, bất cứ lúc nào có thể khiến họ phụ thuộc vào rượu và thậm chí là còn mắc thêm bệnh gan nữa.


Tuy nhiên, khoảng 1/3 bệnh nhân bị run vô căn cải thiện được tình hình nhờ thuốc chẹn beta (chẳng hạn như propranolol). Các loại thuốc này đã được sử dụng từ hàng thập kỷ cho các bệnh nhân huyết áp cao và rối loạn nhịp tim.


Nếu không loại thuốc nào trị được thì phẫu thuật thần kinh có thể được xem xét. Đã có những hiệu quả khi sử dụng biện pháp can thiệp sâu vào não bộ này mà lại ít nguy cơ.


Cuối cùng, tôi xin cam đoan là chứng run vô cơ này hoàn toàn không ảnh hưởng tới tuổi thọ của bạn.


(Dantri)

Chồng tôi bị sỏi thận và đã điều trị hết sỏi. Tuy nhiên tôi lo chồng tôi bị sỏi tái phát nếu không kiêng cữ ăn uống. Cho tôi hỏi chồng tôi phải ăn uống như thế nào để phòng ngừa bị sỏi tái phát?

Tôi nghe một số người nói là phải kiêng thức ăn chứa nhiều canxi, không được ăn tôm cua, kiêng uống sữa, kiêng ăn rau muống. Nhưng tôi nghĩ kiêng như vậy thì sẽ bị loãng xương mất! Không biết có đúng không? Xin phòng mạch cho lời khuyên.


<Đỗ Việt Hòa>

- Trả lời của Phòng mạch Online:

Chào chị,

Thắc mắc của chị rất xác đáng. Một người đã từng bị sỏi thận nếu kiêng cữ, không dám ăn thức ăn có chứa canxi thì cơ thể sẽ thiếu canxi, sẽ gây ra loãng xương. Và nếu thỉnh thoảng có dự tiệc, hoặc đi Vũng Tàu, Phan Thiết, Nha Trang mà phải kiêng, không được ăn tôm, cua thì cũng đáng để lên tiếng thắc mắc lắm chứ!

Đây cũng là câu hỏi của tất cả bệnh nhân bị sỏi thận.

Có nhiều loại sỏi thận. Trong đó thường gặp nhất (80-90%) là sỏi canxi, gồm canxi oxalat, canxi phosphate và canxi oxalat phosphat. Ngoài ra những loại sỏi ít gặp hơn là sỏi Struvit, sỏi Acid uric, sỏi Cystin. Vì đa số sỏi thận là sỏi canxi nên nhiều người nghĩ rằng cần kiêng ăn hoàn toàn canxi để tránh bị sỏi thận, thật sự là không phải vậy.

Quá trình hình thành sỏi thận là một quá trình phức tạp, do nhiều yếu tố gây ra chứ không phải chỉ là do bị dư canxi. Nhiều người ăn uống kham khổ kiêng cữ canxi vẫn bị sỏi thận, ngược lại nhiều người uống nhiều sữa, ăn nhiều tôm cua nhưng đâu có bị sỏi thận.

Vậy chế độ ăn uống như thế nào ở một người đã từng có sỏi thận để tránh bị tái phát? Dưới đây là 7 điều cần ghi nhớ về chế độ ăn mà các bác sĩ thường dặn dò bệnh nhân bị sỏi thận:

1. Uống nhiều nước (đây là điều quan trọng nhất trong 7 điều): Nên uống khoảng 2,5-3 lít nước lọc mỗi ngày (chia ra uống đều nhiều lần trong ngày) hoặc ăn uống làm sao để có lượng nước tiểu đạt trên 2,5 lít trong một ngày. Đi tiểu nước tiểu màu trắng trong chứng tỏ uống đủ lượng nước. Uống nhiều nước vừa giúp tránh bị sỏi thận vừa giúp tống xuất những viên sỏi nhỏ nếu có.

2. Ăn lạt, ăn ít thịt động vật: Ăn thực phẩm chứa ít muối, ăn ít các loại thịt. Có thể ăn cá thay cho thịt. Tôm cua có thể ăn vừa phải được.

3. Ăn uống điều độ thực phẩm chứa canxi (như: sữa, phomai…): Mỗi ngày có thể dùng khoảng 3 ly sữa tươi hoặc một số lượng tương đương các sản phẩm từ sữa như: bơ, phomai (khoảng 800-1.300mg chất canxi). Không nên kiêng cữ quá mức những thực phẩm chứa canxi vì như thế sẽ gây ra mất cân bằng trong việc hấp thu canxi, khiến cơ thể hấp thu nhiều hơn oxalat từ ruột và sẽ tạo sỏi thận, ngoài ra kiêng cữ thực phẩm chứa canxi sẽ bị loãng xương.

Những trường hợp bị sỏi thận tái phát nhiều lần, sau khi xét nghiệm kiểm tra có bằng chứng đa canxi niệu do tăng hấp thu canxi từ ruột thì cần kiêng canxi, nhưng không phải kiêng hoàn toàn, mà cần ăn khoảng 400mg mỗi ngày, tức tương đương 1,5 ly sữa tươi.

4. Giảm các thực phẩm chứa nhiều oxalat như: trà đặc, cà phê, chocolate, bột cám, ngũ cốc, rau muống…

5. Nên uống nhiều nước cam, nước chanh, nước bưởi tươi: những loại thức uống này chứa nhiều citrat giúp chống lại sự tạo sỏi thận.

6. Nên ăn nhiều rau tươi: giúp tiêu hóa nhanh, giảm hấp thu các chất gây sỏi thận.

7. Tránh ăn nhiều thực phẩm chứa chất purin gây sỏi thận như: cá khô, thịt khô, tôm khô, lạp xưởng, các loại mắm, lòng heo, lòng bò…

Cần lưu ý ở những người bị sỏi thận tái phát nhiều lần nên đi khám kiểm tra tìm nguyên nhân gây sỏi tái phát để có chế độ điều trị và chế độ ăn cụ thể phù hợp đối với từng nhóm nguyên nhân. Có nhiều nhóm nguyên nhân khác nhau gây sỏi tái phát như dị dạng, hẹp đường tiết niệu, do nhiễm trùng niệu, bệnh acid hóa do ống thận, đa canxi niệu do tăng thải canxi từ xương, đa canxi niệu do tăng hấp thu canxi từ ruột, đa canxi niệu do thận, đa oxalat niệu nguyên phát, đa oxalat niệu do ăn uống, đa uric niệu…

Bác sĩ CKI  PHẠM NAM VIỆT

BV Đại học Y dược TP.HCM

Bạn có những thắc mắc về sức khỏe mình mà không biết hỏi ai. Bạn cần được tư vấn cho những thắc mắc về sức khỏe của mình, của người thân... Phòng mạch Online của Tuổi Trẻ Online sẽ giúp bạn giải đáp 1.001 thắc mắc về sức khỏe. Mọi thắc mắc về sức khỏe gửi về địa chỉ email: tto@tuoitre.com.vn

Để chính xác về nội dung, vấn đề cần hỏi, bạn đọc vui lòng gõ có dấu (font chữ Unicode). Chân thành cảm ơn.

B.CHÂU thực hiện

(TuoiTre-online)
Lương y VÕ HÀ

Theo y học cổ truyền, viêm xoang mãn tính là một dạng hư hỏa. Do đó, điều trị viêm xoang không chỉ nhằm giải quyết việc viêm nhiễm tại chỗ mà chủ yếu là phải bổ âm để tàng dương.

TRIỆU CHỨNG
Viêm xoang là tình trạng viêm nhiễm ở một hoặc nhiều khoang rỗng nằm trong khối xương mặt có liên quan chặt chẽ đến hốc mũi. Về mặt bệnh học, người ta phân biệt các xoang làm hai nhóm. Nhóm xoang trước gồm xoang trán, xoang hàm và xoang sàng trước, có các lỗ thông đổ ra khe mũi giữa. Nhóm xoang sau gồm các xoang sàng sau và xoang bướm, có lỗ thông ra khe mũi trên. Mặt trước của xoang bướm còn có hai lỗ nhỏ thông xuống vòm họng.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bình thường, những chất xuất tiết sinh lý hoặc bệnh lý trong xoang được tháo ra ngoài thông qua lỗ thông mũi xoang. Khi ta bị cảm cúm, các xoang trở nên viêm tắc, phù nề và ngăn trở khả năng thông tháo dịch nhầy ra mũi. Điều này dẫn đến sung huyết mạch máu xoang và nhiễm trùng xoang. Do đó cảm cúm hoặc viêm mũi dị ứng kéo dài nếu không được điều trị thích hợp sẽ dễ dẫn đến viêm xoang, nhất là những trường hợp mũi có cấu tạo bất thường.

Hai dấu hiệu chủ yếu của viêm xoang là đau nhức và tăng tiết dịch mũi. Nhức đầu, căng nặng đầu từng cơn hoặc thường xuyên xảy ra ở vùng xoang bị viêm. Dịch tiết chạy xuống họng hoặc ra mũi. Dịch mũi thường đặc, vàng hoặc xanh, đôi khi có cả máu, chứ không trong và loãng như dịch mũi ở chứng cảm cúm thông thường.

ĐIỀU TRỊ

Việc điều trị viêm xoang mãn tính phải nhằm vào hai yêu cầu: Bổ thận âm và Nạp khí về thận. Đối với những trường hợp viêm xoang cấp, hoặc khi có những triệu chứng sưng nhức khó chịu hay bội nhiễm do phong nhiệt cần giải tỏa gấp, có thể dùng thêm các biện pháp tiêu viêm, tiêu độc hoặc khu phong bài nùng. Tuy nhiên, những phương dược điều trị triệu chứng chỉ là phụ và tạm thời. Bệnh kéo dài chừng nào thì âm hư càng nặng, càng phải chú trọng đến gốc ở thận. Khi sự cân bằng âm dương đã được thiết lập, hỏa sẽ tự yên vị. Mặt khác khi chính khí đã vững, sức đề kháng vươn lên, tà khí sẽ tự lui.

CÁC BÀI THUỐC

Lục vị địa hoàng

Lục vị là một cổ phương căn bản và thông dụng trong y học cổ truyền để bổ Thận âm. Gọi là lục vị vì bài thuốc gồm sáu vị. Để nạp khí về thận, Hải Thượng Lãn Ông thường dùng thêm ba vị: Mạch môn, ngũ vị; Ngưu tất. Mạch môn làm mát phế vị; Ngũ vị liễm phế, cố thận; Ngưu tất giáng khí, dẫn thuốc về thận. Ngoài ra, vì là bệnh lâu ngày nên dùng thêm cao Ban long, là loài huyết nhục hữu tình để tăng hiệu quả. Cao Ban long là một vị thuốc bổ âm mạnh được chế từ sừng hươu nai. Như vậy, một bài thuốc lục vị gia giảm để trị viêm xoang có thể bao gồm:

Thục địa 16g

cao Ban long 8g

hoài sơn 8g

mạch môn 8g

sơn thù 8g

ngũ vị 6g

đơn bì 6g

ngưu tất 8g

trạch tả 4g

bạch phục linh 4g


Lần thứ nhất, đổ ba chén nước, sắc còn một chén. Lần thứ hai, đổ hai chén nước, sắc còn nửa chén. Hòa chung hai lần nước thuốc lại, chia uống hai hoặc ba lần trong ngày. Hâm nóng trước khi uống. Có thể dùng liên tục từ 10-15 thang.

Một số người không tiện "sắc thuốc" thì có thể dùng lục vị hoàn mua sẵn ở thị trường Đông dược. Trường hợp này dùng thêm cao Ban long bằng cách cắt nhỏ nấu cháo hoặc hấp cơm để ăn.

Bổ âm tiếp dương

Ở những người lớn tuổi, viêm xoang thường phối hợp với nhiều chứng bệnh mãn tính khác khiến cơ thể suy nhược, ăn kém, thở yếu, hay mệt..., biểu hiện của cả khí huyết âm dương đều kém. Những trường hợp này nếu bổ khí không khéo có thể làm tăng khí nghịch, nếu bổ âm đơn thuần có thể làm ngưng trệ Tỳ Vị; Mà khi Tỳ Vị đã trệ thì thuốc gì cũng khó được chuyển hóa. Do đó cần sử dụng thêm các vị thuốc cam, ôn như nhân sâm, hoàng kỳ, bạch truật, can khương để tiếp dương xen kẽ với bổ âm. Với cách điều trị này, khi âm đã vượng lên một phần thì dương cũng tiến được nửa phần. Từng bước nâng lên mà vẫn bảo đảm không làm chênh lệch thái quá sự cân bằng giữa âm và dương. Bàn về cách tiếp dương trong bổ âm, Hải Thượng Lãn Ông đã ghi lại một phương thuốc rất có giá trị là "Bổ âm tiếp phương dương".

Thục địa 120g,

bố chính sâm 60g,

bạch truật 40g.

can khương 12g (sao đen tẩm đồng tiện),

bạch thược 20g (sao đen tẩm đồng tiện),

Đây là một thang đại dược, phân lượng lớn, sắc đặc chia làm nhiều lần uống trong ngày. Thục địa là vị chủ lực để bổ âm. Điểm đặc biệt của phương thang bổ âm này là gồm cả Sâm, Khương, Truật để bổ Tỳ Vị bằng cách sao đen và tẩm đồng tiện 2 vị can khương và bạch thược. Cách bào chế này vừa làm dịu sức nóng của can khương, vừa giáng hư hỏa và dẫn thuốc về thận nhằm tiếp dương khí cho Tỳ Vị đủ sức chuyển hóa thục địa, mà lại không kích động hư hỏa.

Với những đợt viêm mũi và viêm xoang cấp tính hoặc viêm mũi phát triển do phong nhiệt, có thể dùng những bài thuốc sau, thiên về khu phong tiêu độc:

Hoàng liên giải độc thang

Hoàng liên 12g, bạc hà 8g, hoàng cầm 12g, hoàng bá 12g, chi tử 4g. Đổ ba chén nước, sắc còn một chén, chia làm hai lần uống trong ngày.

Ma hoàng thương nhĩ tử thang

Ma hoàng 12g,

tân di hoa 8g,

khương hoạt 12g,

thương nhĩ tử 12g,

kinh giới 6g,

phòng phong 12g,

cam thảo 4g.

Đổ ba chén nước, sắc còn một chén, chia làm hai lần uống trong ngày.

Thanh không cao

Khương hoạt 12g,

xuyên khung 4g,

phòng phong 12g,

bạc hà 4g,

hoàng cầm 8g,

cam thảo 6g,

hoàng liên 4g.

Đổ 3 chén nước, sắc còn một chén, chia làm hai lần uống trong ngày.

Điều trị không dùng thuốc

Có không ít trường hợp viêm xoang dai dẳng nhiều năm, tái đi tái lại sau nhiều lần điều trị khiến người bệnh nghĩ mình sẽ phải sống chung với bệnh suốt đời. Sau đó, vì những lý do khác nhau (chẳng hạn để điều trị một bệnh khác hoặc để tăng cường sức khỏe), người bệnh gia nhập một nhóm tập dưỡng sinh. Điều không ngờ là sau vài tháng, người bệnh chợt nhận ra những triệu chứng khó chịu của viêm xoang đã tự biến mất. Kết quả này không có gì lạ nếu ta hiểu rằng, tất cả những phương pháp dưỡng sinh, ngoài tác dụng nâng cao thể trạng, tăng cường sức đề kháng - thì hiệu ứng sớm nhất, trực tiếp nhất mà người tập đạt được là sự thư giãn, an tĩnh. Y học hiện đại cho rằng sự an tĩnh có thể điều hòa được thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh vốn có của hệ thần kinh trung ương, qua đó điều hòa nội tiết và cải thiện hoạt động của cơ quan. Điều hòa thần kinh giao cảm cũng có vai trò cân bằng hai yếu tố âm và dương trong cơ thể. Hơn nữa, theo quy luật "Thần tĩnh tất âm sinh", sự thư giãn và nhập tĩnh có tác dụng sinh âm và bổ âm. Ngoài ra, hầu hết các bài tập dưỡng sinh từ tư thế, động tác đến ý thức như thượng hư hạ thực, hư kỳ tâm thực kỳ phúc… giúp cứng chắc phần hạ bộ, buông lỏng phần vai, mang trung tâm lực của cơ thể dồn xuống hạ tiêu đều nhằm làm cho khí trầm Đan điền, chính là yêu cầu dẫn hỏa quy nguyên hoặc nạp khí về Thận để trừ hư Hỏa trong việc điều trị viêm xoang. Do đó, việc kiên trì tập luyện đúng phương pháp các bài tập dưỡng sinh, thái cực quyền, khí công, ngồi thiền… cũng là những cách điều trị hiệu quả đối với bệnh viêm xoang mãn tính.

(YKHOA.NET)
Hiện nay có nhiều người bị bệnh viêm xoang. Triệu chứng của bệnh này gây rất nhiều phiền phức trong học tập cũng như trong giao tiếp xã hội. Có nhiều người muốn biết nguyên do của bệnh này và cách trị liệu ra sao. &nbsp; I. Xoang là gì? Chức năng của xoang
A. Xoang là gì?
Mặt và sọ gồm có nhiều khối xương tiếp với nhau. Nếu các khối xương này đều đặc, thì đầu rất nặng, gây khó khăn trong di chuyển. Để khối mặt sọ giảm sức nặng, tạo hóa đã tạo ra những lổ trống trong lòng các xương. Những lổ trống này được gọi là xoang. Các xoang này lớn nhỏ tùy theo chỗ. Đặc biệt là các xoang đều có lổ thông vào mũi. Có tất cả 5 loại xoang, chia làm nhóm xoang trước và nhóm xoang sau.
1. Các xoang trước: xoang hàm, xoang trán, xoang sàng trước.
a. Xoang hàm: có 2 xoang ở 2 bên má giống nhau, đổ ra phía trước mũi.
b. Xoang trán: có 2 xoang dính liền nhau và không bắt buộc giống nhau, đổ ra phía trước mũi.
c. Xoang sàng trước: gồm nhiều xoang li chi, chiếm đường giữa, kích thước không giống nhau ở vùng giữa 2 mắt. Các xoang này cũng đổ ra phía trước mũi.

2. Các xoang sau:
a. Xoang sàng sau: gồm nhiều xoang chi li ở đường giữa, sát phía sau xoang sàng trước, kích thước không giống nhau. Các xoang này đổ ra phía sau mũi.
b. Xoang bướm:gồm 2 xoang sát bên nhau chiếm đường giữa, sau xoang sàng sau. Không bắt buộc 2 bên giống nhau. Xoang này đổ ra phía sau mũi.

Tất cả các lổ trống mà ta gọi là xoang đều bao bởi niêm mạc, và chứa toàn không khí. Xoang chỉ bình thường khi lổ thông vào mũi không bị nghẽn. Niêm mạc chứa nhiều lông chuyển giống như cây chổi, lùa dần chất dơ trong xoang ra tận hốc mũi, qua lổ thông mũi xoang.

B. Chức năng của xoang
Có hai chức năng rõ rệt:
1. Làm nhẹ đầu.
2. Thùng cộng hưởng: âm thanh phát ra dội vào các xoang và có âm thanh đặc biệt. Mỗi người đều có hệ thống xoang khác nhau về thể tích, do đó giọng nói cũng khác nhau.

II. Viêm xoang là gì? Thế nào là viêm đa xoang?
Xoang là một hốc rỗng, trong đó có không khí và đường thông vào hốc mũi. Nhờ thông thoáng này mà xoang không bị nhiễm trùng. Nếu đường thông vào mũi bị nghẽn, vi khuẩn sẽ gây tác hại trong xoang và gây viêm xoang. Có nhiều loại viêm xoang: viêm xoang dị ứng, dày niệm mạc xoang, trong xoang có mủ, trong xoang có pôlýp (dạng u nhú lành tính, có cuống), có u nhầy. Trong xoang có mủ là bệnh viêm xoang thường gặp nhất.

B. Thế nào là viêm nhiều xoang?
1. Viêm 1 xoang: chỉ có một xoang bị viêm mà thôi, thường là xoang hàm. Bệnh này thường đi đôi với viêm răng.
2. Viêm nhiều xoang cùng một lúc: tất cả xoang đều bị viêm (dị ứng ban đầu), có xoang bên mặt, có xoang bên trái cùng bị viêm (nguyên do dị ứng ban đầu). Bệnh này thường gọi là viêm đa xoang. Chỉ có các xoang một bên bị viêm mà thôi (có khối u, thường là pôlýp trong hốc mũi. Khối u này chèn tất cả các lổ thông của bên đó, gây viêm toàn bộ một bên).

III. Tình hình viêm xoang tại Việt Nam như thế nào?
Xoang là liên hệ với mũi. Mũi là cửa tiếp xúc thường xuyên của con người với bên ngoài. Nếu môi trường không tốt, mũi bị viêm, một thời gian sau xoang cũng bị viêm. Viêm mũi, viêm xoang là bệnh thường gặp của con người. Ở các phòng khám, tỉ lệ bệnh này chiếm khoảng 1/3. Người lớn dễ bị viêm xoang hơn trẻ em. Bệnh thường dây dưa, mạn tính, dễ tái phát cấp.

IV. Tại sao bị viêm xoang?
A. Môi trường xấu
Không khí ô nhiễm, bụi, khói bếp, thuốc lá, ao hồ dơ bẩn, hồ tắm không vệ sinh. Môi trường này chứa nhiều vi khuẩn, vi khuẩn vào mũi gây viêm mũi, và sau đó chuyển thành viêm xoang.

B. Dị ứng
Cơ địa dị ứng một chất nào đó, thường là hóa chất, thức ăn biển, làm cho niêm mạc mũi phù nề, gây bít tắc lổ thông xoang. Xoang bị bít tắc là bị nhiễm trùng.

C. Kém sức đề kháng
Cơ thể không đủ sức đề kháng chống lại vi khuẩn. Bệnh nhân bị viêm xoang kèm theo viêm các bộ phận khác.

D. Vệ sinh kém
Không năng rửa tay, rửa mặt, không vệ sinh cá nhân đầy đủ, vi khuẩn sẽ vào mũi, gây viêm mũi, sau đó viêm xoang.

V. Làm sao biết bị viêm xoang?
Viêm xoang có khi rất khó phát hiện, nhưng có khi lại rất dễ phát hiện. Định bệnh viêm xoang dựa trên triệu chứng của bệnh, dựa trên Xquang và dựa trên kết quả xét nghiệm tìm vi khuẩn.

A. Triệu chứng
Có tất cả 5 triệu chứng chính:
1. Đau nhức: vùng bị nhức tùy theo xoang bị viêm:
a. Xoang hàm: nhức vùng má.
b. Xoang trán: nhức giữa 2 lông mày. Có giờ nhất định, thường là 10 giờ sáng.
c. Xoang sàng trước: nhức giữa 2 mắt.
d. Xoang sàng sau, xoang bướm: nhức trong sâu, nhức vùng gáy.

2. Chảy mũi:
a. Viêm dị ứng: chảy mũi trong rất nhiều.
b. Viêm do vi khuẩn: chảy mũi đục, có khi như mủ.
Viêm các xoang trước, chảy ra mũi trước.
Viêm các xoang sau, chảy vào họng.

3. Nghẹt mũi:
Đây là triệu chứng vay mượn của mũi. Có thể nghẹt 1 bên, có thể nghẹt cả 2 bên.

4. Ngứa mũi:
Dị ứng mũi xoang.

5. Điếc mũi:

Ngửi không biết mùi. Thưòng là viêm nặng, phù nề nhiều, mùi không len lỏi lên đến thần kinh khứu giác.
Viêm xoang khó phát hiện: không có các triệu chứng trên, hoặc chỉ có một triệu chứng đơn độc mà thôi.
Viêm xoang dễ phát hiện: có ít nhất 3 triệu chứng trên.

Trường hợp đặc biệt: viêm xoang hàm do răng. Chỉ xoang hàm một bên viêm nặng mà thôi do vi khuẩn từ sâu răng đưa vào xoang. Mủ chảy vào mũi, rất hôi.

B. Xquang
Xquang cổ điển, rẻ tiền, dễ định bệnh trong trường hợp viêm nặng. Khó định bệnh trong trường hợp trung bình và nhẹ vì trong tư thế này có khá nhiều hình ảnh giả.

Xquang cắt lớp điện toán (CT) tốn kém nhưng rất chính xác từ ly một.

C. Tìm vi khuẩn
Lấy dịch trong xoang viêm (khó), tìm vi khuẩn kháng sinh đồ. Điều trị kháng sinh theo kháng sinh đồ.

VI. Biến chứng
A. Biến chứng gần: vi khuẩn lan chung quanh
- Viêm thị thần kinh
- Viêm họng, viêm amiđan.
- Viêm thanh quản, phế quản phế viêm.
- Rối loạn tiêu hóa.

B. Biến chứng xa: vi khuẩn theo đưòng máu, biến chứng rất nặng.
- Viêm màng não
- Nhiễm trùng huyết.

VII. Điều trị viêm xoang như thế nào?
Có nhiều phương pháp điều trị viêm xoang:
A. Nội khoa: kháng sinh, giảm đau, co mạch, chống dị ứng.
B. Thủ thuật: xông mũi xoang, kê kê, chọc rửa xoang.

C. Phẫu thuật:
1. Phẫu thuật cổ điển: mổ nạo xoang bằng dao, khoan.
2. Phẫu thuật nội soi: phẫu thuật nhìn thấy tận nơi.
Kết quả: khỏi, giảm triệu chứng, tái phát.
Cấp: dễ khỏi bệnh: Mạn: dễ tái phát

VIII. Sai lầm thường gặp trong điều trị viêm xoang là gì?
Việc sai lầm trong điều trị viêm xoang là điều trị không triệt để, đặc biệt là đối với những dạng xoang không rõ nét. Bệnh nhân cho là viêm mũi do cảm cúm, điều trị qua loa với vài viên kháng sinh, giảm đau, chống dị ứng. Bệnh có chiếu hướng giảm, nhưng lại tái phát.

Nhiều bệnh nhân nghe theo lời các thầy chữa bệnh theo kinh nghiệm mà thổi thuốc vào hốc mũi để trị viêm xoang. Thuốc vào gây co mạch, bệnh nhân bớt nghẹt mũi, tưởng đã trị đúng bệnh, nhưng sau đó bệnh nặng hơn, vì thuốc này đã làm bít tắc các đường thông.

IX. Phòng ngừa viêm xoang như thế nào?
Việc quan trọng vẫn là tránh viêm mũi. Chúng ta không nên ở những nơi không khí bị ô nhiễm (bụi, khói, thuốc lá...). Nếu cơ thể bị dị ứng với một chất hay thức ăn nào đó, chúng ta hãy tránh xa. Ăn uống đầy đủ để có sức đề kháng. Vệ sinh thân thể, năng rửa tay, rửa mặt, không tắm ở nơi nước bẩn là những biện pháp phòng ngừa có hiệu quả.


Tham khảo điều trị Viêm xoang tại: http://chuaviemxoang.com
Trong năm 2008, trên cả nước chỉ còn gần 70% hộ gia đình dùng muối iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh, giảm hơn 20% so với năm 2005. Số bệnh nhân mắc bướu cổ đang tăng trở lại với tốc độ khá nhanh.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Sử dụng muối iốt giúp phòng bướu cổ, trí tuệ kém phát triển... Ảnh: China.cn.
> Dùng bột nêm chớ quên muối iốt

Thông tin được công bố trong buổi vận động Toàn dân sử dụng muối iốt tổ chức ngày 2/11.

Theo báo cáo của Bệnh viện Nội tiết trung ương, trong 1-2 năm trở lại đây, số bệnh nhân bướu cổ vào viện đang có xu hướng tăng và chiếm đến gần 50% tổng số bệnh nhân.

Tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, Phó giám đốc Bệnh viện cho biết, vào những năm 1993-1998, tỷ lệ người dân mắc bướu cổ ở nước ta rất cao, lên tới gần 23% do đa phần dân số nằm trong vùng thiếu hụt iốt. Tuy nhiên đến năm 2005, Việt Nam chính thức công bố thanh toán bệnh này (tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ 8-12 tuổi là dưới 5%) nhờ chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống bướu cổ.

"Nhưng sau đó dự án phòng chống bướu cổ chuyển sang là hoạt động thường quy của ngành y tế khiến việc đầu tư cho việc phòng chống thiếu hụt iốt bị cắt giảm từ trung ương đến địa phương. Độ bao phủ muối iốt tại một số khu vực đã bị sụt giảm", tiến sĩ Quang cho biết.

Ông Lương Ngọc Khuê, Phó cục trưởng Cục quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế) cũng đồng tình với quan điểm này. Ngoài ra theo ông, một lý do nữa là các cán bộ làm công tác này chủ quan vì cho rằng đã đạt mục tiêu.

Ngoài những nguyên nhân trên, ông Lê Phong, phòng Chỉ đạo Chuyên khoa, Bệnh viện Nội tiết cũng cho biết, tỷ lệ sử dụng iốt sụt giảm cũng do nhận thức của người dân về tầm quan trọng của iốt với sức khỏe.

Theo số liệu thống kê của Bệnh viện, cứ 10 người được hỏi thì có 4 người nghĩ sử dụng iốt có mùi vị khó chịu, trong khi thực tế thì iốt là lượng vi chất rất nhỏ, không màu, không mùi. Bên cạnh đó, hơn 50% trong số họ vẫn có thói quen sử dụng muối thường.

Một nguyên nhân quan trọng khác gây thiếu hụt iốt là nhu cầu sử dụng muối của người dân thành phố có nhiều thay đổi, chuyển từ muối iốt sang các loại bột canh hay hạt nêm.

"Các loại muối bột canh, hạt nêm này đều có chứa iốt song thực tế thì hàm lượng, giá trị vi chất dinh dưỡng trong sản phẩm chế biến đã giảm đáng kể", tiến sĩ Nguyễn Vinh Quang, Phó giám đốc Bệnh viện cho biết.

Tại Hà Nội, độ bao phủ muối iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh rất thấp 25,6%, trong khi tỷ lệ sử dụng các chế phẩm có iốt (muối, nước mắm) là gần 84%.

Các chuyên gia cảnh báo, thiếu iốt sẽ gây nên tình trạng chậm phát triển trí tuệ, bướu cổ, với phụ mang thai có thể dẫn đến sảy thai, thai chết lưu...

Nam Phương
(VnExpress)
A- Đại Cương

Bướu cổ đơn thuần là một bệnh to tuyến giáp thường do thiếu iot, hay gặp ở một số vùng nhất định (thường ở miền núi) nên còn gọi là bướu cổ địa phương, nữ mắc bệnh nhiều. Có khi là bướu cổ tán phát. Trong một số trường hợp, bướu cổ là phản ứng của tuyến giáp đối với sự mất cân bằng của nội tiết tuyến giáp.

Bướu cổ đơn thuần thường chia làm 2 loại: địa phương tính (tập trung ở một số vùng nhiều người mắc) và tản phát tính (nơi nào cũng có người mắc, thường gặp nhiều ở lứa tuổỉ trưởng thành, lúc có thai, cho con bú và thời kỳ tắt kinh.

Bướu cổ đơn thuần thuộc chứng "Anh" trong y học cổ truyền. Y văn cổ Trung Quốc trên 300 năm trước công nguyên đã có ghi về bệnh này như sách "Trửu Hậu Phương" đầu tiên đã ghi dùng Hải tảo (có iốt) để trị chứng ‘Anh’. Sách "Ngoại Đài Bí Yếu" đời Đường ghi 36 bài thuốc trị chứng 'Anh" trong đó 27 bài gồm các vị thuốc có chất iốt.
B- Nguyên Nhân Bệnh Lý Theo Y Học Cổ Truyền

+ Bướu cổ địa phương: Do thiếu iốt. Ngoài ra còn có các yếu tố khác như di truyền, thiếu một số thức ăn khác, điều kiện vệ sinh kém... nên tuy cùng sống một địa phương mà cũng chỉ một số mắc bệnh (mặc dù qua kiểm tra tất cả người dân trong vùng đều có tuyến giáp khát iốt (gắn iốt phóng xạ tăng).

+ Bướu cổ tán phát: gặp ở nữ nhiều hơn. Nhiều học giả cho là do phản ứng của tuyến giáp, hoặc bài tiết không đủ, hoặc do nhu cầu tăng, nội tiết tuyến giáp không dủ, tuyến làm việc tăng (phản ứng bù trừ) làm cho tổ chức tuyến tăng sinh phì đại. Những yếu tố có liên quan:

* Dị hình bẩm sinh nội tiết: hấp thụ các yếu tố kháng giáp có trong thức ăn hoặc do thuốc. Thường kèm với suy giáp kéo dài hoặc thoáng qua.

* Tăng nhu cầu nội tiết giáp: tuổi dậy thì, có thai, tắt kinh. Cũng có trường hợp chưa rõ nguyên nhân. Y học cổ truyền cho rằng bệnh ANH phát sinh là do liên quan với đất nước nơi ăn ở và tình chí (trạng thái tinh thần) thay đổi. Sách ‘Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận’ viết: "Vùng núi đất đen có nguồn nước chảy ra không thể sống lâu ở đó, ăn uống nước đó dễ mắc bệnh "anh".

Sách ‘Ngoại Đài Bí Yếu’ cũng ghi: "Người vùng Trường An... uống nước cát dễ mắc bệnh anh”.

Sách ‘Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận’ ghi về tình chí có liên quan đến bệnh như sau: "Bệnh "anh" là do lo lắng nhiều, khí kết mà sinh ra"..

Bệnh lý chủ yếu là đàm thấp, khí trệ: Người bệnh có tỳ khí kém, thêm ảnh hưởng của thức ăn nước uống làm cho đàm thấp nội sinh, đàm thấp sinh nhiều càng tăng thêm khí trệ mà sinh bệnh. Hoặc do tức giận, thướng can, can khí không thông đạt, uất nên sinh đờm, đờm khí kết ở cổ mà sinh bệnh. Đàm thấp và khí trệ là hổ tương nhân quả cho nên khối u ngày càng to thêm. Cũng do can chủ sơ tiết, mà 2 mạch Xung, Nhâm liên hệ nhiều với kinh can, do đó, phụ nữ có kinh, thai nghén cho con bú đều liên quan đến khí huyết của can, những lúc đó dễ mắc bệnh.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
C- Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng chủ yếu là to tuyến giáp.

Thể tán phát gặp nhiều ở nữ ở tuổi dậy thì, có thai, cho con bú, lúc tắt kinh thường to hơn và qua những kỳ đó tuyến lại nhỏ hơn. Thường tuyến giáp to nhẹ tản mạn, chất mềm và trơn láng. Đến tuổi trung niên về sau, bướu có thể cứng và có nốt cục.

Bướu cổ địa phương tính to nhỏ không chừng (rất nhỏ hoặc rất to). Theo độ to nhỏ có thể chia:

Độ l: Nhìn kỹ có khi phải nhìn nghiêng mới phát hiện hoặc phải sờ nắn.

Độ 2: Nhìn thẳng đã thấy to.

Độ 3: Bướu quá to.

Đôi khi bướu ở vị trí đặc biệt hoặc bị chèn ép khó chẩn đoán.

Bướu giáp chìm: Bướu ở cổ nhưng trong lồng ngực sau xương ức. Bướu làm khó chịu mỗi khi nuốt và thở. Bướu trong lồng ngực, X quang thấy như một u trung thất.

Bướu dưới lưỡi: Gặp ở phụ nữ, ở đáy lưỡi làm cho khó nhai, khó nuốt và khó nói.

Bướu cổ mới bắt đầu nhỏ mặt bóng nhẵn, về sau có thể to nhỏ không chừng, cứng thành cục hoặc nang, bề mặt có thể có tĩnh mạch nổi còng quèo. Trường hợp quá to sẽ có hiện tượng chèn ép như nếu chèn ép khí quản sinh ho, khó thở, vướng cổ, chèn ép thực quản thì nuốt khó, chèn hầu họng thì khàn giọng... Có khi xuất huyết trong nang gây đau và bướu to đột ngột.
D- Chẩn đoán

Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng (như trên đã mô tả).

- Xét nghiệm: Chuyển hóa cơ bản bình thường, iốt - protein trong huyết tương bình thường. Tỷ suất gắn iốt phóng xạ rất tăng trong bướu giáp địa phương tính nhưng gần như bình thường trong bướu giáp tản phát.

Khi thấy bướu cứng không đau có nhân, cần cảnh giác ung thư, nên làm giáp đồ bằng phóng xạ và làm sinh thiết.

E- Điều trị

Biện chứng luận trị theo YHCT:

Thường điều trị theo 2 thể bệnh sau:

l) Thể khí trệ:

Chứng: Bướu cổ to thường tăng lên lúc tức giận, lúc có kinh hoặc có thai. Bụng đầy sườn đau, bụng dưới đau, rêu mỏng, mạch Huyền.

Phép trị: Lý khí, giải uất.

- Bài thuốc: Tứ Hải Thư Uất Hoàn thêm Hương phụ, Uất kim (Hải cáp phấn 8g, Hải đới 30g, Hải tảo 30g, Hải phiêu tiêu, Côn bố đều 20g - 30g, Trần bì 8g, Mộc hương, Hương phụ, Uất kim đều 12g.

Trường hợp khí uất hóa hỏa, ngườỉ phiền táo, dễ tức giận, hồi hộp mất ngủ, nhiều mồ hôi, tay run: thêm Đơn bì, Sơn chi, Liên tử tâm, Hoàng liên, Hạ khô thảo, Long đởm thảo.

2) Thể đàm thấp

Chứng: Bướu cổ to, chân tay mệt mỏi, buồn ngủ, ngực tức, kém ăn, bụng đầy, lưỡi bệu, rêu lưỡi dày, mạch Hoạt.

Phép trị: Hóa đàm, nhuyễn kiên, kiện tỳ, trừ thấp.

Bài thuốc: Lục Quân Tử Thang Hợp Hải Tảo Ngọc Hồ Thang gia giảm (Hải tảo, Hải đới, Côn bố đều 30g, Trần bì, Bán hạ, Xuyên khung đều 8g, Đương qui, Đảng sâm, Bạch truật, Bạch linh, Triết Bối mẫu đều 12g, Cam thảo 4g).

Gia giảm: Chân tay lạnh, sợ lạnh thêm Nhục quế 3 - 4g, Phụ tử (chế) 6 - 10g, bướu to có cục gia Đơn sâm 12g, Hương phụ (chế) 10g, Đào nhân 10g, Hồng hoa 6g.

2. Một Số Bài Thuốc Đơn Giản.

l) Hải đới 100g, sắc uống mỗi ngày ăn luôn bã.

2) Hải tảo, Côn bố lượng bằng nhau tán bột mịn luyện mật làm hòan, mỗi lần uống 10 - 20g ngậm nuốt, sau bữa cơm tối. Có thể dùng lâu dài.

3) Hải tảo, Côn bố lượng bằng nbau, Thanh bì lượng l/3 của Côn bố, sao vàng tán bột làm hòan. Mỗi ngày uống 10g sau bữa ăn tối. Uống lâu dài.

4) Uất kim, Đơn sâm, Hải tảo đều 15g. Sắc uống ngày 1 thang, có thể cho đường uống thường xuyên, liên tục trong 3 - 4 tuần. Dùng cho thể khí huyết ứ trệ.5) Hải đới 60g, Đậu xanh 150g. Nấu chín, cho đường ăn hàng ngày.

6) Côn bố, Hải tảo, Đậu nành 150 - 200g.

Nấụ chín hoặc thêm đường để ăn thường xuyên.

7) Hạt khô thảo 30g, Hải tảo 60g, sắc uống.

8) Triết Bối mẫu, Hảỉ tảo, Mẫu lệ đều 12g, tán bột mịn, trộn đều. Mỗi lần uống 6g, ngày 2 lần. Uống trước khi ăn với rượu trắng.

9) Bạch thược 15g, Huyền sâm 9g, Hạ khô thảo 30g, Hải phù thạch 30g, Hương phụ (chế) 12g, Bạch giới tử 12g. Sắc uống. Thêm Cương tàm 12g, Trạch tả 15g, Thất diệp nhất chi hoa 20g, kết quả càng tốt.

10) Mẫu lệ, Hải tảo, Côn bố, Bạch tật lê, Bạch thược, Sinh địa, Huyền sâm, Kỷ tử, Sung úy tử lượng bằng nhau. Tất cả tán bột mịn cho mật làm hoàn IOg.

Mỗi ngày uống 2 - 3 hoàn với nước sôi nguội.

11) Hà thủ ô 20g, Ô mai 10g, Côn bố 15g. Sắc uống.

12) Lá Sinh địa (Sinh đia diệp), Hạ khô thảo 30g, Sơn tra 20g, sắc uống.

4. Điều trị bằng châm cứu

1) THỂ CHÂM

Theo sách ‘Tân Biên Châm Cứu Trrị Liệu Học’:

a- Âm hư hỏa vượng

Chẩn đoán yếu điểm: Cơ thể gầy ốm, ăn nhiều, mất ngủ, sốt về chiều, mồ hôi ra nhiều, lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch tế Sác.

Phép trị: Tư âm, giáng hỏa, hóa trệ, tiêu anh.

Phương huyệt: Nhu hội, Khí xá, Gian sử, Thái xung, Thái khê. Mỗi ngày hoặc cách ngày châm 1 lần, lưu kim 30 phút. 15 ngày là 1 liệu trình.

- GT: Nhu hội là huyệt hội của kinh thủ Thiếu dương với mạch Dương duy, để tuyên thông khí của tam tiêu, sơ đạo ứ trệ; Phối hợp với huyệt Khí xá của kinh dương minh để tiêu ứ trệ tại vùng bướu; Gian sử thuộc kinh Tâm bào, chuyên trị hồi hộp, phiền nhiệt; Thái xung giáng can hỏa; Thái khê tư thận âm, để tư âm giáng hỏa, hóa trệ, tiêu anh.

- GG:

+ Mắt lồi: thêm Thiên trụ, Phong trì.

+ Mất ngủ: thêm Đởm du, Tâm du.

+ Sốt về chiều: thêm Đại chùy, Lao cung.

+ Mồ hôi trộm: thêm Âm khích, Hậu khê.

+ Cơ thể gầy ốm: thêm Tam âm giao, Túc tam lý.

b- Khí và Âm đều hư

- Phép trị: ích khí, dưỡng âm, tán kết, tiêu anh.

Phương huyệt: Hợp cốc, Thiên đỉnh, Thiên đột, Quan nguyên, Chiếu hải. Châm bổ. Mỗi ngày châm 1 lần, lưu kim 30 phút. 20 lần là 1 liệu trình.

- GT: Vùng cổ liên hệ với kinh thủ, túc dương minh (Đại trường, Vị) vì vậy, dùng huyệt Thiên đỉnh, Thiên đột hợp với Hợp cốc để sơ thông kinh lạc, tán kết, tiêu anh; Quan nguyên bổ ích nguyên khí; Chiếu hải tư dưỡng thận âm, để ích khí, dưỡng âm.

- GG:

+ Hồi hộp: thêm Nội quan, Thần môn.

+ Tiêu lỏng: thêm Thiên xu, Công tôn, Tỳ du.

Sách ‘ Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm’:

1- Huyệt vị: A thị huyệt là huyệt chính. Có hai nhóm huyệt phối hợp.

Nhóm một: Thiên đột (XIV.22), Kiên tỉnh (XI.21), Hợp cốc (II.4).

Nhóm hai: Khí xá( III. 11), Thiên tĩnh (X. 10), Túc tam Lý (III.36).

Mỗi nhóm được sử dụng luân phiên trong mỗi liệu trình 7 ngày.

2- Tiến trình: Bệnh nhân nằm ngửa, đầu hơi ngả ra sau. Châm khối bướu từ 3 - 5 lần. Độ sâu khi châm tùy theo kích thước của khối bướu.Trong những trường hợp thông thường, có thể châm kim thẳng từ đỉnh bướu xuống đến trung tâm bướu hoặc châm kim xuyên qua tổ chức dưới da từ bờ bên này qua bờ bên kia khối bướu.

Hướng châm, độ sâu và thao tác châm được áp dụng cho các huyệt như sau:

- Thiên đột: châm hướng xuống góc 45o, sâu 0,3 - 0,5 thốn, vê kim. Khí xá: châm thẳng góc, sâu 0,3 - 0,5 thốn, vê kim. Kiên tỉnh: châm thẳng góc, sâu 0,3 - 0.5 thốn, vê kim. Hợp cốc: châm thẳng góc, sâu 1 - 1,5 thốn, vê và cọ kim. Thiên tỉnh: châm hướng nghiêng góc 30o sâu 0,5 - 1 thốn, nâng, đẩy và vê kim.

Lưu kim 30 - 60 phút, 10 - 20 phút kích thích 1 lần. 10 ngày là một liệu trình, nghỉ hai ngày lại tiếp tục.

2. NHĨ CHÂM

Nội tiết, Dưới vỏ não, Tuyến giáp. Phương pháp châm: dùng hào châm hoặc nhĩ hoàn gài kim, mỗi lần chọn 2 - 3 huyệt. Dùng hào châm châm cách nhật, 30 lần châm là một liệu trình. Gài nhĩ hoàn thì 3 ngày liên tục dặn bệnh nhân tự ấn huyệt ngày 3 lần, sau khi lấy kim, thay kim gài huyệt khác, 10 lần gài kim là một liệu trình.
Y ÁN BƯỚU CỔ ĐƠN THUẦN
(Trích trong ‘‘ Châm Cứu Lâm Chứng Thực Nghiệm’ của Tôn Học Quyền).

Bệnh nhân Lưu, nam, 49 tuổi, cán bộ, nhập điều trị ngoại trú ngày 23/6/1977.

Bệnh nhân cảm thấy khó chịu vì cổ bị cấn và khó thở.

Thăm khám: Tim phổi bình thường, ăn uống tốt. Tuyến giáp lớn bờ có ranh giới rõ, nhưng mặt đáy không rõ và chỉ hơi di động. Khối u mềm và di động khi nuốt. Huyết áp 140/90 mmhg. Thân nhiệt 36,6oC. Rêu lưỡi trắng, mạch trầm nhược.

Chẩn đoán là bướu giáp đơn thuần. Châm các A thị huyệt, Thiên đột, Kiên tỉnh và Hợp cốc theo phương pháp trên, lưu kim trong 30 phút, thao tác kim mỗi 10 phút.

Phương huyệt được thực hiện ngày một lần. Bảy ngày là một liệu trình với một khoảng nghỉ 2 ngày.

Khối u hơi nhỏ sau liệu trình thứ nhất. Hô hấp cũng trở nên bình thường.

Khối bướu giảm kích thước còn một nửa sau liệu trình thứ hai khi vẫn duy trì châm A thị huyệt, Khí xá, Thiên tỉnh và Túc tam lý với kỹ thuật thao tác và độ sâu như đã nói ở trên. Liệu trình thứ ba thực hiện như liệu trình thứ nhất và bệnh được chữa khỏi từ đó. Không thấy biểu hiện gì bất thường sau nửa năm.

(YKHOANET)Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới