Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
Phân trang 48/100 Trang đầu Trang trước [41] [42] [43] [44] [45] [46] [47] [48] [49] [50] Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
Trong những năm gần đây, tình trạng ngộ độc mật cá trắm có xu hướng gia tăng. Không biết căn cứ vào đâu người ta vẫn truyền nhau một kinh nghiệm chết người mà tự cổ chí kim không hề có sách thuốc nào nói đến: mật cá trắm có thể chữa được các chứng đau bụng, đau lưng, hen suyễn, ho kinh niên, suy nhược cơ thể...., có khả năng tăng cường sinh lực, làm trơn tóc trắng da, thậm chí với cánh "mày râu" có thể dùng loại mật này thay cho "viagra"!? Người ta mách nhau nên uống mật cá trắm tươi hoặc hòa cùng với rượu thì mới có hiệu quả. Nhưng, rốt cuộc, tất cả những người áp dụng kinh nghiệm này đều phải đến bệnh viện cấp cứu trong tình trạng: sau khi uống chừng 1 đến 2 giờ, xuất hiện đau bụng dữ dội, nôn mửa nhiều, tiêu chảy nặng..., nếu không được cứu chữa kịp thời đến ngày thứ hai hoặc thứ ba sẽ thấy các triệu chứng đái ít hoặc vô niệu, phù, khó thở do suy thận, thậm chí có thể nôn ra máu, hôn mê và đi đến tử vong.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Trong y học cổ truyền, mật cá trắm (thanh như đởm), kể cả cá trắm đen và cá trắm trắng, đều được dùng để làm thuốc. Mật cá trắm vị đắng, tính hàn, có công dụng thanh nhiệt giải độc, thoái ế minh mục, được dùng để chữa các chứng bệnh như cổ họng sưng đau (lấy chút ít mật cá trắm phơi khô hòa với mật ong rồi ngậm, mỗi ngày vài lần), âm hộ sưng cứng như đá, đau nhức nhiều (mật cá trắm 7 cái hòa với lụa tơ tằm 12g đã đốt thành tro rồi bôi vào vị trí tổn thương).

Có thể thấy, người xưa hầu hết sử dụng mật cá trắm dưới dạng dùng ngoài và sấy khô, rất ít dùng đường uống trong và liều lượng không rõ rệt. Một số tài liệu ghi rõ mật cá trắm là có độc. Không hề có y thư nào nói đến việc dùng mật cá trắm để bồi bổ và tăng cường sinh lực. Bởi vậy, muốn sử dụng mật cá trắm phải hết sức thận trọng về cả chỉ định, cách dùng và liều lượng, tuyệt nhiên không được tùy tiện, cẩu thả và nhất thiết phải có sự tư vấn của các thầy thuốc chuyên khoa.

ThS. Hoàng Khánh Toàn
(suckhoe&doisong)

Chẩn bệnh từ xa

2010/07/22    15:20    {entryviewsnum}    Góc bác sĩ Ko chỉ định
 Đốm trắng trên móng tay

Hỏi: Chào bác sĩ, em nay 18 tuổi, gần đây móng tay của em nổi lên chấm trắng bên trong móng, màu móng tay không được trong mà đục và hơi vàng. Em không biết như thế là do thiếu chất gì, hay mắc bệnh gì? Xin bác sĩ tư vấn giúp, em cám ơn nhiều.

- Trả lời: Chào bạn, dù rằng móng là một trong những bộ phận giúp chúng ta dự báo tình hình sức khỏe, nhưng không phải hễ có cái gì là lạ, ngồ ngộ trên móng là dấu hiệu báo chúng ta đang mắc bệnh nào đó! Những mô tả của bạn chưa đủ để xác định bạn đang thiếu chất gì và cần phải điều trị cụ thể như thế nào.

Móng tay có chấm trắng vẫn có thể là dấu hiệu bình thường đối với sức khỏe, nếu nó tự biến mất sau một thời gian và chỉ xảy ra trên một vài móng, không đi kèm với biểu hiện bất thường nào khác ở da hoặc cơ thể nói chung. Bạn cần giữ gìn sức khỏe, duy trì chế độ dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, hạn chế các chấn thương cho móng là được. Hy vọng các chấm trắng trên móng bạn sẽ nhanh chóng tự mất đi để bạn không phải lo lắng.

Bác sĩ Võ Thị Bạch Sương

Ngủ võng có gây hại sức khỏe?

Hỏi: Tôi năm nay 57 tuổi, có thói quen thường xuyên ngủ võng vào ban đêm. Xin hỏi như vậy có ảnh hưởng gì đến sức khỏe, đến các bộ phận khác của cơ thể như lưng và cột sống hay không? Nhờ bác sĩ tư vấn giúp. Tôi xin cám ơn! (Nguyễn Minh Phụng - Q.Gò Vấp, TP.HCM)

- Trả lời: Về mặt lý thuyết, tùy theo độ gấp của võng (độ cong của cung do võng tạo nên), việc nằm võng có thể có tác động lên một số cơ quan của cơ thể. Cơ quan bị tác động nhiều nhất là cơ quan hô hấp do tư thế cong người ra trước - là tư thế hạn chế hô hấp. Đối với cột sống, tư thế này gây gia tăng áp lực trong đĩa đệm và áp lực lên các dây chằng của cột sống, từ đó tạo điều kiện cho một số bệnh của cột sống tiến triển.

Tuy nhiên, trong cơ thể con người ta tồn tại một cơ chế báo động khi có vấn đề gì không tốt đối với cơ thể, biểu hiện ở trạng thái đau, mệt mỏi, sốt, ho… Nếu có gì đó gây hại cho cơ thể, đối với hầu hết mọi người, cơ chế này sẽ tìm cách thông báo ngay cho cơ thể biết để ngưng các hoạt động ảnh hưởng không tốt. Do vậy, nếu việc nằm võng tạo sự thoải mái, mang lại sự sảng khoái và không gây ra bất cứ khó chịu nào cho cơ thể thì bạn vẫn có thể tiếp tục và không phải quá lo lắng về điều này.

Thân!

Bác sĩ Võ Xuân Sơn

Chấn thương vùng kín

Hỏi: Thưa bác sĩ, em là con gái, năm nay 19 tuổi. Năm ngoái em bị té nên chấn thương khiến máu bầm tụ lại ở bộ phận sinh dục, gây sưng rất to một phía bên phải. Nhưng em đi khám, bác sĩ nói em mắc bệnh "ma-tôm" gì đó và có rạch lấy máu tụ cho em. Đến nay ở chỗ vùng kín của em có một vết sẹo dài bị chai. Còn ở giữa thì giãn nở dài ra. Em cảm thấy đau nhiều. Hiện tại bộ phận sinh dục của em không giống như trước nên em rất mặc cảm, lo sợ. Em có thể phẫu thuật cắt bỏ phần dư ở giữa được không? Vì bị mặc cảm, nên sau đó đến giờ, em không đi khám ở đâu cả. Bác sĩ cho em hỏi, em có bị ảnh hưởng về sinh sản sau này không? Em mong hồi âm của bác sĩ.

- Trả lời: Vùng sinh dục ngoài bao gồm đồi vệ nữ, âm vật, môi lớn, môi nhỏ, lỗ niệu đạo, màng trinh, lỗ âm đạo và âm hộ. Đây là vùng rất nhạy cảm, có nhiều tuyến và dây thần kinh, khi bị chấn thương do té hay bị xóc phải vật cứng vào vùng sinh dục thì rất dễ bị tụ máu, nếu vùng tụ máu nhỏ, tự cầm thì chỉ cần thuốc giảm đau, thuốc tan máu bầm là được. Còn nếu vùng tụ máu quá to làm căng tức, đau thì phải được rạch lấy máu tụ và cầm máu kỹ. Miễn là chấn thương không làm rách màng trinh thì không việc gì phải lo lắng và mặc cảm. Nếu vết sẹo lành xấu, co kéo và làm biến dạng thì vẫn có thể sửa sẹo bằng nhiều phương pháp hiện đại như chiếu tia laser, chích thuốc tan sẹo… Em cứ yên tâm vì chấn thương bên ngoài không làm ảnh hưởng đến khả năng sinh sản sau này.

Thân mến!

Bác sĩ Dương Phương Mai
(thanhnien)

Ngày hè, các bậc phụ huynh thường cho con cháu tham gia các lớp học năng khiếu như: hát, nhạc, đàn, bơi, võ thuật, điền kinh, thể dục nhịp điệu... nhằm mục đích cho trẻ phát triển toàn diện cả thể chất lẫn tinh thần. Mong ước cho con mình cao lớn, khỏe mạnh là nguyện vọng thiết tha của các bậc cha mẹ. Bài viết sau đây gửi đến bạn đọc những "bí quyết" giúp trẻ cao lớn hơn.

Cơ thể phát triển chiều cao vào những giai đoạn nào?

Chăm sóc y tế

Bạn cần cho con tiêm phòng đầy đủ theo Chương trình tiêm chủng mở rộng để con bạn được bảo vệ khỏi các bệnh nguy hiểm. Việc giữ vệ sinh thân thể, an toàn vệ sinh thực phẩm sẽ giúp con bạn ít bị các bệnh nhiễm khuẩn, ngộ độc, nhờ đó mà con bạn có điều kiện lớn nhanh hơn.
Có ba giai đoạn cơ thể tăng trưởng rất nhanh về chiều cao: một là thời kỳ bào thai: trong 9 tháng mang thai, nếu người mẹ được ăn uống tốt sẽ tăng từ 10-20kg thì con sẽ đạt được chiều cao 50cm lúc chào đời và nặng từ 3kg trở lên. Hai là giai đoạn sơ sinh đến 3 tuổi: 12 tháng đầu trẻ tăng 25cm; 2 năm tiếp theo mỗi năm trẻ cao thêm 10cm nếu được nuôi dưỡng tốt. Ba là thời kỳ dậy thì: con gái từ 10-16 tuổi và con trai từ 12-18 tuổi là tuổi dậy thì. Trong thời gian dậy thì, cơ thể sẽ có 1-2 năm chiều cao tăng vọt từ 8-12cm mỗi năm nếu được nuôi dưỡng tốt. Nhưng trong thực tế, chúng ta không thể biết chính xác năm đó là năm nào nên vẫn phải đảm bảo dinh dưỡng tốt cho trẻ trong suốt thời gian dậy thì để trẻ phát triển. Sau thời kỳ dậy thì, cơ thể trẻ cũng tăng chiều cao nhưng với tốc độ rất chậm, tổng cộng số tăng chiều cao của các năm sau không bằng một năm chiều cao tăng vọt của thời kỳ dậy thì.

Người ta thường ước tính chiều cao của trẻ khi trưởng thành sẽ gấp đôi  chiều cao lúc 2 tuổi (chẳng hạn lúc 2 tuổi trẻ cao 82cm thì khi lớn sẽ cao 1,64m). Hoặc chiều cao lúc trưởng thành bằng chiều cao lúc 10 tuổi nhân với 1,25 (ví dụ khi 10 tuổi trẻ cao 1,4m thì lúc trưởng thành trẻ sẽ cao khoảng 1, 75m). Qua đó chúng ta thấy sự chăm sóc nuôi dưỡng trong các giai đoạn: mang thai, 3 năm đầu và giai đoạn dậy thì là rất quan trọng để phát triển chiều cao của trẻ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Uống sữa giúp trẻ phát triển chiều cao.



Các biện pháp chăm sóc giúp trẻ cao lớn hơn

Các nghiên cứu đều cho thấy chiều cao của con người ảnh hưởng bởi các yếu tố: dinh dưỡng (32%); di truyền (23%); rèn luyện thể lực (20%), môi trường sống, ánh nắng, bệnh tật, giấc ngủ...

Biện pháp dinh dưỡng: có ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển chiều cao, thể chất và trí tuệ của trẻ. Phụ nữ khi mang thai cần hiểu rõ là bạn ăn cho mình và cho con. Vì vậy ngoài việc bạn ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng còn phải chú trọng việc ăn uống bổ sung các loại vitamin để giúp thai nhi phát triển tốt. Thời kỳ nhũ nhi cần được bú mẹ hoàn toàn, đến 6 tháng tuổi cho ăn bổ sung. Một ngày cho trẻ ăn 3 bữa ăn chính vào sáng, trưa, tối và thêm 2-3 bữa phụ vào giữa buổi sáng và sau giấc ngủ trưa để giúp trẻ tăng cân, tăng chiều cao hàng tháng đúng tiêu chuẩn. Thức ăn cần đủ 4 nhóm chất là đạm, đường, béo, vitamin và khoáng chất, đồng thời phải phong phú chủng loại  thực phẩm, tốt nhất nên có trên 20 loại thức ăn mỗi ngày.

Các chất dinh dưỡng quan trọng giúp tăng chiều cao gồm: chất đạm (protein) rất cần để cơ thể tăng trưởng và phát triển. Thức ăn chứa nhiều đạm là thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu, đậu nành. Canxi là một khoáng chất quan trọng trong cấu trúc xương (chiếm 99%), làm cho  xương vững chắc và giúp trẻ phát triển chiều cao. Nhu cầu canxi thay đổi theo tuổi, trung bình trẻ từ 6 tháng - 18 tuổi cần khoảng 400 - 700mgCa/ngày,  muốn vậy bạn cần cho con uống từ 500- 750ml sữa mỗi ngày. Thức ăn có nhiều canxi là: sữa, cá, tép, tôm, cua, nghêu, sò, ốc, hến, đậu hũ, các loại rau. Vitamin A: rất cần thiết cho sự tăng trưởng của trẻ, giúp hình thành khung xương... Thức ăn nhiều vitamin A là gan các động vật: cá, bò, lợn, dê, sữa, lòng đỏ trứng, rau có màu xanh đậm, củ quả chín có màu đỏ hay vàng như cà rốt, gấc, đu đủ, xoài chín, cam, đào... Vitamin D: giúp cơ thể hấp thu canxi, giúp tăng tổng hợp chất protein chuyên chở canxi trong máu. Cơ thể hấp thu vitamin D từ thức ăn như dầu gan cá thu, sữa, bơ, phomai, trứng, gan, tôm... và da tự tổng hợp vitamin D dưới tác dụng của ánh sáng. Vì vậy ngoài việc cho con ăn thức ăn có nhiều vitamin D, bạn cần cho con tắm nắng buổi sáng từ 15-30 phút mỗi ngày, cường độ ánh nắng nhẹ và diện tích da bộc lộ càng lớn càng tốt.

Ngoài ra còn các chất có ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao như: sắt, kẽm, iốt. Thức ăn nhiều sắt là: gan, trứng, thịt, cá, đậu đỗ, rau dền, sữa có bổ sung sắt. Thức ăn nhiều kẽm là hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành. Thức ăn nhiều iốt: muối iốt, phomai, trứng gà, sữa, cá biển, rau câu, tảo.

Biện pháp rèn luyện thể lực: sự vận động cơ bắp sẽ  kích thích, đẩy mạnh quá trình chuyển hóa năng lượng, trao đổi chất, thúc đẩy tăng trưởng cơ thể, tăng cường lượng  canxi vào mô xương giúp xương vững chắc hơn và phát triển tốt hơn. Vì lợi ích như vậy, bạn cần hướng dẫn và tạo cho con thói quen tập thể dục hàng ngày với những bài thể dục vừa sức, phù hợp với độ tuổi của trẻ. Bạn có thể tham khảo các bài thể dục hướng dẫn trên truyền hình, trong sách vở và bài thể dục của cháu ở trường để dạy  con luyện tập.

Đảm bảo giấc ngủ ngon cho trẻ: ngủ ngon, ngủ sâu giúp cơ thể tiết hormon tăng trưởng, giúp tăng hấp thu canxi, kích thích xương dài ra và phát triển thể chất toàn diện. Số giờ ngủ tuỳ nhu cầu của mỗi lứa tuổi, song nhìn chung trẻ cần ngủ trên 8 giờ một ngày. Bạn nên tạo cho trẻ được ngủ trong phòng rộng rãi, sạch sẽ, thoáng khí, với một không gian yên tĩnh, đông ấm, hè mát, để con bạn có giấc ngủ sâu và ngủ ngon, bạn sẽ thấy con lớn lên sau mỗi giấc ngủ.        

BS. Ninh Hồng
(suckhoe&doisong)
Mùa hè nóng bức phơi nắng nhiều nên phụ nữ luôn bảo vệ làn da cho đỡ bắt nắng. Trước đây bỗng rộ lên phong trào đắp mặt nạ bằng thuốc Bắc. Chỉ phụ nữ ở thành phố mới có điều kiện đắp mặt nạ. Thời gian gần đây với giá cả đa dạng, ngay cả phụ nữ ở nông thôn cũng đua nhau đắp mặt nạ. Liệu loại mặt nạ này có thật sự đem lại hiệu quả thần kỳ khi được bán với giá rẻ như vậy?

Bỏng da, dị ứng vì làm đẹp

Một bệnh nhân đến Bệnh viện Da liễu khám kể lại về việc dùng mặt nạ thuốc đông y của mình: “Tôi đến một tiệm thuốc Bắc gần nhà hỏi mua những vị thuốc có thể làm trắng da. Sau đó, tôi nhờ họ xay nhuyễn, trộn tất cả các vị thuốc ấy lại với nhau. Theo hướng dẫn của tiệm, tôi trộn hỗn hợp thuốc đó với nước lạnh thành một bát thuốc sền sệt rồi đắp lên mặt mỗi tối”.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Khi đắp mặt nạ bằng thuốc đông y cần phải có ý kiến của nhà chuyên môn.      Ảnh: M.H



“Tôi đắp lần thứ nhất, chừng mười lăm phút sau, có cảm giác da mặt mình bị nóng rát. Tôi nghĩ mới đắp lần đầu chắc chưa quen nên chuyện thấy nóng rát là phản ứng tự nhiên. Hôm sau tiếp tục đắp, thấy da nóng rát dữ dội hơn. Sáng ra, còn thấy nhiều mụn nước ửng đỏ nổi lên khắp mặt. Hoảng quá, tôi đi Bệnh viện Da liễu để khám ngay!”.

Da mặt là một vùng da hết sức nhạy cảm nên các chị em không thể tùy tiện đắp lên đó các loại mỹ phẩm không rõ nguồn gốc. Tuy nhiên, khuynh hướng dùng thuốc đông y trong việc làm đẹp hiện đang được ưa chuộng bởi phái đẹp đang có xu hướng tìm về với các loại mỹ phẩm được chế xuất từ cây cỏ trong tự nhiên. Các thẩm mỹ viện cũng theo xu hướng này mà dùng thuốc đông y trong các quá trình trị liệu để thu hút khách. Nhiều người kháo nhau về chuyện ở thẩm mỹ viện có sử dụng thuốc đông y để trị nám, làm trắng da. Điều này là có thật, thế nhưng ít ai biết để làm cho da hết nám, trắng sáng, việc sử dụng thảo dược chỉ là một biện pháp hỗ trợ trong quá trình trị liệu.

Bên cạnh đó, nhiều chị em đã mua thuốc đông y tự chế về làm mặt nạ để đắp. Hậu quả của việc sử dụng loại mặt nạ làm từ thuốc đông y trôi nổi này là nhiều người bị dị ứng, nổi mẩn đỏ, đau rát, nên phải đi khám và điều trị ở Bệnh viện Da liễu.

Khi mua thuốc đông y trên thị trường, bạn không thể biết trong những gói thuốc không nhãn mác đó gồm có các thành phần nào, cũng như liều lượng của mỗi thành phần đó là bao nhiêu. Thế nên cũng không đảm bảo được thuốc đó có gây dị ứng hay tác hại nào khác cho da hay không. Khi quyết định dùng thuốc đông y để làm mặt nạ đắp, thậm chí pha chế với nhiều loại trái cây, sữa chua dùng thường xuyên khiến da bị dị ứng nên sưng đỏ, viêm tấy... bạn nên gặp thầy thuốc để được chỉ dẫn cụ thể, không nên tự ý mua về sử dụng.

Thuốc đông y có làm đẹp da?

Theo các nhà chuyên môn, một số vị thuốc đông y từ ngàn xưa đã được chứng minh là có công dụng trong việc làm đẹp. Danh y Tuệ Tĩnh trong Nam dược thần hiệu cũng đã ghi lại hai phương thuốc dùng hoa đào để làm đẹp da mặt cho phụ nữ. Phương thứ nhất: hoa đào 4 lạng ta, nhân hạt bí đao 5 lạng ta, vỏ quýt 2 lạng ta, tất cả đều phơi khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2 đồng cân với nước ấm sau bữa ăn. Muốn da trắng thì thêm nhân hạt bí đao, nếu muốn da đỏ hồng thì thêm hoa đào. Uống 50 ngày thì mặt trắng, uống thêm 50 ngày nữa thì da dẻ toàn thân cũng trở nên trắng trẻo. Phương thứ hai: vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch, lấy hoa đào phơi khô, tán bột. Ngày mùng 7 tháng 7 chích lấy máu ở mào con gà, đem trộn với bột hoa đào rồi bôi lên da mặt, sau 2 - 3 ngày màng thuốc bong ra thì da mặt trở nên tươi sáng như hoa. Do vậy, muốn làm đẹp da bằng đông y cần phải đến các nhà chuyên môn để biết kết hợp các thành phần này một cách hợp lý, đúng liều lượng, đúng loại da mang lại hiệu quả tốt nhất.

Theo lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hội Dược liệu TP.HCM, trong đông y, các vị thuốc như bạch phục linh, cám gạo, trái cây, hoa đào, hoa hồng... có công dụng làm đẹp và đã được kiểm nghiệm thực tế. Tuy nhiên, các thành phần này phải được pha chế đúng liều lượng và thường sau một thời gian mới phát huy hiệu quả chứ không thể trong một sớm một chiều.

Ai cũng biết, thuốc đông y là một loại “mỹ phẩm” tự nhiên. Chúng tác động vào da và ngấm dần vào máu trong quá trình đắp mặt hoặc uống. Thế nên, chúng có công dụng lâu dài và an toàn, chứ không thể có tác dụng nhanh chóng như các loại hóa chất.

Hơn nữa, việc dùng thuốc đông y để uống hay đắp mặt đều phải sử dụng theo đúng liều lượng và tùy từng loại da.

Với các loại mặt nạ không nguồn gốc vừa nêu, không ai biết chúng gồm những thành phần gì. Cũng không loại trừ khả năng người bào chế thuốc có cho thêm một thành phần chất tẩy trắng nào đó vào thuốc đông y dạng bột này. Hơn nữa, do sự hiểu biết hạn chế, nhiều chị em tự ý mua thuốc bột về pha chế với nhiều loại trái cây, sữa chua để đắp lên mặt và lại dùng thường xuyên khiến da bị dị ứng nên sưng đỏ, viêm tấy...

Thu Hương
(suckhoe&doisong)
So với khung giá quy định tại Thông tư liên bộ số 14/TTLB, ban hành năm 1995, 12% số dịch vụ khám, chữa bệnh của ngành y tế tới đây sẽ bị điều chỉnh giá từ 2,5-10 lần.

Theo nội dung dự thảo điều chỉnh giá viện phí đang được Bộ Y tế biên soạn, tới đây khoảng 350 dịch vụ khám, chữa bệnh sẽ bị điều chỉnh tăng giá.

70 dịch vụ tăng từ 7 - 10 lần

Trong số này khoảng 220 dịch vụ sử dụng ít vật tư, hóa chất, điện, nước mà chủ yếu là do công sức của cán bộ tế thực hiện như châm cứu, các dịch vụ về y học dân tộc, có mức tăng tối đa chỉ tương đương với mức trượt giá hiện nay (2,5 lần).

Song, có khoảng 60 dịch vụ dự kiến mức tăng tối đa từ 2,5-5 lần; khoảng 70 dịch vụ y tế sử dụng nhiều thuốc, vật tư, hóa chất, điện nước thì mức tăng tối đa là 7-10 lần so với hiện nay.

Riêng đối với tiền khám bệnh, tiền ngày giường điều trị có mức tăng cao hơn với mức điều chỉnh tối đa là 30.000 đồng/lần khám (tăng 10 lần). Theo tính toán của Bộ Y tế, với giá điện nước, găng tay, khẩu trang và các chi phí khác phục vụ khám bệnh hiện nay chi phí hết khoảng 10.000- 30.000 đồng/lần khám (tùy thuộc vào chuyên khoa và hạng bệnh viện). Vì vậy, mức đề xuất tại tuyến huyện, xã có thấp hơn, chỉ khoảng 10.000-15.000 đồng/lần.

Tiền ngày giường nằm điều trị theo quy định tại Thông tư 14 chỉ từ 4.000-18.000 đồng đối với bệnh viện hạng I, từ 2.500- 16.000 đồng đối với bệnh viện hạng II…. Dự kiến mức giá mới là từ 10.000 đồng đối với trạm y tế xã và tối đa là 100.000 đồng đối với ngày điều trị nội khoa thì mới có thể bù đắp các chi phí trực tiếp như điện, nước, chăn, ga, gối, đệm, bông băng, xử lý chất thải…

Tăng cao nhất theo dự thảo là ngày giường điều trị ngoại khoa sau các phẫu thuật đặc biệt (bỏng độ 3, 4 trên 70% diện tích cơ thể) là 150.000 đồng do phải theo dõi, chăm sóc đặc biệt, sử dụng điều hòa 24/24h, có chạy máy thở, monitor…

Tại buổi gặp gỡ với báo chí sáng 21/7, ông Nguyễn Huy Quang, Phó vụ trưởng Vụ pháp chế (Bộ Y tế) cho biết: khung giá của các dịch vụ, kỹ thuật y tế kèm theo Thông tư liên bộ số 14/TTLB được ban hành từ năm 1995, dựa trên nguyên tắc chỉ tính một phần các chi phí trực tiếp để thực hiện dịch vụ y tế, kỹ thuật y tế. Do đó, phần lớn các dịch vụ này mới chỉ thu từ 30-50% chi phí trực tiếp để thực hiện dịch vụ tại thời điểm năm 1995. Tới nay, khung giá này không còn phù hợp với tình hình giá cả và chi phí để thực hiện các dịch vụ.

Mặt khác, nhiều dịch vụ kỹ thuật y tế ban hành kèm theo thông tư nêu trên được xây dựng trên cơ sở thực hiện theo phương pháp thủ công. Trong khi hiện nay thực hiện bằng các thiết bị hiện đại, tự động, bán tự động, nhất là các loại xét nghiệm, chiếu chụp. Chất lượng đảm bảo chính xác hơn nên chi phí về vật tư, hóa chất tăng rất nhiều lần, nếu thu theo mức giá cũ thì không thể thực hiện được dịch vụ.

Còn theo bà Tống Thị Song Hương, Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm Y tế (Bộ Y tế): Theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế, toàn bộ người thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn (khoảng 14,7 triệu người) đã được ngân sách Nhà nước chi mua thẻ Bảo hiểm y tế. Khi đi khám, chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 95% chi phí và tiền vận chuyển trong trường hợp phải chuyển tuyến điều trị từ tuyến huyện, chỉ còn phải đóng 5% chi phí.

Theo đó, việc điều chỉnh viện phí lần này về cơ bản cũng không làm ảnh hưởng nhiều đến khoảng 53 triệu người hiện nay đã có bảo hiểm y tế (khoảng 62% dân số), gồm cả người làm công ăn lương, các đối tượng hưu trí, chính sách xã hội, người thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi….

Đối với các đối tượng có thu nhập từ mức trung bình khá trở lên, tuy dịch vụ y tế có điều chỉnh nhưng giá dịch vụ so với các nước trong khu vực còn rất thấp, do vậy các đối tượng này cũng không bị ảnh hưởng nhiều.

“Hiện ban soạn thảo vẫn đang thu thập ý kiến đóng góp từ các đơn vị có liên quan. Sau đó hội đồng thẩm định sẽ có ý kiến. Khi tất cả đã thống nhất, Liên bộ Tài chính- Y tế mới ký ban hành. Nhưng đó cũng chỉ là quy định khung, căn cứ vào tình hình thực tế, Bộ trưởng Bộ Y tế, chủ tịch ủy ban Nhân dân các tỉnh sẽ quy định cụ thể về mức áp dụng tại các cơ sở y tế”, ông Nguyễn Nam Liên, Phó Vụ trưởng Vụ kế hoạch Tài chính (Bộ Y tế) cho biết thêm.

Chất lượng có được cải thiện?


Giá nhiều dịch vụ khám, chữa bệnh tăng, khiến nhiều người đặt cậu hỏi: liệu chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh và tình trạng quá tải tại các bệnh viện có được cải thiện.

Trả lời về vấn đề này ông Trần Quý Tường, Phó cục trưởng Cục quản lý khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) cho rằng:  hiện nay, số giường của các bệnh viện (không tính giường trạm y tế xã) tính trên một vạn dân ở nước ta mới đạt 20,5. Trong khi các nước vào khoảng 30-40 giường/một vạn dân. Trình độ chuyên môn và đầu tư cho các bệnh viện tuyến dưới trong thời gian qua còn thấp nên có tình trạng người bệnh đi điều trị vượt tuyến, dẫn đến tình trạng quá tải, phải nằm ghép 2-3 người/giường bệnh ở tuyến trên.

Việc điều chỉnh viện phí lần này, vẫn thực hiện theo nguyên tắc thu một phần chi phí, chỉ tính các chi phí trực tiếp, chưa tính tiền lương, khấu hao nên không dùng nguồn đầu tư này để xây dựng bệnh viện.

Về thái độ phục vụ bệnh nhân, chất lượng dịch vụ ông cho rằng sẽ không thể thay đổi ngay “một sớm, một chiều”. Nhưng tới đây, khi vấn đề y đức của các y, bác sỹ được quan tâm hơn, máy móc được đầu tư nhiều nên tình hình sẽ có những cải thiện đáng kể.


(vnEconomy)
Sữa chua hay còn gọi là yaourt thực chất là sữa bò tươi hoặc sữa hoàn nguyên. Chúng chuyển đường sữa thành lactic, tạo ra độ chua của một loại thực phẩm hấp dẫn

Sữa chua với sức khỏe trẻ em

Ngoài việc bổ sung các chất dinh dưỡng, sữa chua còn có khả năng phòng và điều trị một số bệnh. Sữa chua có tính acid cao (với độ pH thấp khoảng 4,2) nên có tác dụng tiêu diệt một số vi khuẩn có hại trong hệ thống tiêu hóa. Đối với trẻ nhỏ, sữa chua ngăn ngừa một số bệnh đường ruột, bổ sung thêm acid cho dịch dạ dày (ở trẻ nhỏ nồng độ acid trong dạ dày chưa đạt được tiêu chuẩn như ở người lớn) giúp cho việc tiêu hóa thức ăn được dễ dàng hơn.

Trong thành phần sữa chua, các chất như: protein (chất đạm), lipid (chất béo) có sẵn trong sữa đã được tiêu hóa một phần, rút ngắn thời gian hấp thu trong hệ thống tiêu hóa. Đường lactoza đã được lên men dễ hấp thu, làm giảm lượng đường tồn đọng lại ở hệ tiêu hóa tránh được tiêu chảy, giúp cho cơ thể hấp thu canxi và một số khoáng chất khác dễ dàng hơn.

Sữa chua có một giá trị dinh dưỡng khá đáng kể: trong 100g sữa chua chứa khoảng 100Kcal (bằng khoảng ½ chén cơm hay 2 trái chuối xanh), có chất đường (15,4g), chất đạm (3,1g), chất béo (3g), canxi và một số loại vitamin. Một số loại sữa chua còn thêm DHA (chất béo không no chuỗi dài) có tác dụng giúp sáng mắt và tăng chỉ số phát triển trí tuệ…

Khi nào nên cho trẻ dùng sữa chua

Phần lớn các bác sĩ nhi khoa đều khuyên các bà mẹ cho bé ăn vào thời điểm bé được 7- 8 tháng tuổi. Một số bác sĩ khác khuyên cho bé ăn sữa chua như một trong những món ăn dặm đầu tiên (vào thời điểm 6 tháng trở lên). Chọn loại sữa chua nguyên kem cho bé là tốt nhất, vì bé cần chất béo để phát triển đầy đủ.

Bé từ 6 tháng tuổi trở lên có thể ăn được sữa chua mỗi ngày với “tiêu chuẩn” như sau:

- 6 - 10 tháng: 50g/ngày.

- 1 - 2 tuổi: 80g/ngày.

- Trên 2 tuổi: 100g/ngày.

Những điều cần lưu ý khi sử dụng sữa chua cho trẻ

- Phân biệt rõ chủng loại: hiện nay, trên thị trường có bày bán rất nhiều sản phẩm sữa chua dạng nước. Thành phần chủ yếu của thức uống này là sữa bò hoặc bột sữa, đường acid chua, acid chanh hoặc acid táo, hương liệu, chất bảo quản. Nhưng những loại sữa này lại không hề có tác dụng bảo vệ sức khỏe như sữa chua. Vì vậy, hãy nên chọn lựa kỹ trước khi mua.

- Dùng sau bữa ăn: các vi khuẩn có lợi trong sữa chua tồn tại ở điều kiện độ pH lớn hơn hoặc bằng 5,4, khi đói, độ pH trong dạ dày chỉ = 2, các vi khuẩn có lợi trong sữa chua sẽ bị tiêu diệt, giảm tác dụng đối với cơ thể.

- Sau khi ăn, dạ dày co bóp mạnh, độ pH có thể tăng lên từ 3 - 5, đây là điều kiện lý tưởng cho các vi khuẩn có lợi trong sữa chua hoạt động.

- Súc miệng ngay sau khi ăn: do các vi khuẩn có lợi trong sữa chua hoạt động rất mạnh nên cũng rất dễ làm hỏng men răng, nhất là răng trẻ nhỏ.

Vì vậy, nên súc miệng ngay sau khi ăn.

- Không nên dùng nóng: khi dùng nóng hoặc cho thêm nước nóng vào sữa chua, sẽ khiến cho vi khuẩn có lợi trong sữa chua mất khả năng hoạt động. Vì vậy, sữa chua sẽ bị mất đi các chất dinh dưỡng và khả năng kích thích tiêu hóa cũng giảm đi đáng kể.

- Không dùng chung với các loại thuốc khác: các chất có trong thuốc kháng sinh, hay các loại thuốc có chứa thành phần amin lưu huỳnh cũng có thể làm phá vỡ hoặc tiêu diệt vi khuẩn có lợi trong sữa chua.

(conganTPHCM)
Viêm dạ dày, thuật ngữ được dùng rộng rãi nhưng ý nghĩa của nó vẫn chưa được dùng chính xác.

Với nhà nội soi, trước tiên nó gợi ra khi có một biến đổi về màu sắc niêm mạc, với nhà điện quang đó là khi có sự biến đổi nếp niêm mạc dạ dày. Sinh thiết dạ dày cho phép nói lên thuật ngữ chính xác của nó là viêm dạ dày, đặc biệt là viêm niêm mạc dạ dày. Hiện nay, căn cứ vào giải phẫu bệnh chia làm hai loại viêm dạ dày cấp và viêm dạ dày mạn. Trong đó viêm dạ dày cấp được hiểu là phản ứng viêm chỉ hạn chế ở niêm mạc, có đặc tính khởi phát và diễn biến nhanh chóng do tác dụng của các tác nhân độc hại hoặc nhiễm khuẩn ở niêm mạc dạ dày.


Nguyên nhân nào gây nên viêm dạ dày cấp?

Nguyên nhân gây viêm dạ dày cấp có nhiều, song có thể xếp vào hai nhóm chính:

Yếu tố ngoại sinh thường gặp: Vi khuẩn, virut và độc tố của chúng; Thức ăn nóng quá, lạnh quá, khó tiêu, nhai không kỹ hoặc bị nhiễm khuẩn nhiễm độc do tụ cầu, coli, rượu, chè, cà phê, mù tạt...; Thuốc: aspirin, APC, natri salicylat, sulfamid, corntancyl, phenylbutazon, reserpin, digitalis, KCl...; Các chất ăn mòn: muối, kim loại nặng (đồng, kẽm), thủy ngân, kiềm, acid sulfuric, acid chlohydric, nitrat bạc; Các kích thích nhiệt, dị vật...

Các yếu tố nội sinh: Gặp trong các bệnh sau: Các bệnh nhiễm khuẩn cấp (cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn, viêm phổi, viêm ruột thừa..., tăng áp lực tĩnh mạch cửa, thoát vị hoành); U rê máu cao, tăng thyroxin, tăng đường máu; Bỏng, nhiễm phóng xạ, các stress nặng, chấn thương sọ não, u não, sau phẫu thuật thần kinh, tim, shock, bệnh tim phổi cấp, xơ gan; Dị ứng thức ăn: tôm, sò, ốc, hến...

Viêm dạ dày cấp biểu hiện như thế nào?

Tổn thương trong viêm dạ dày cấp có thể khu trú hoặc lan tỏa, tùy theo mức độ nặng nhẹ và nguyên nhân thường chia làm 4 dạng chính, với các biểu hiện lâm sàng khác nhau:

Viêm long dạ dày: Thường xảy ra sau khi ăn phải chất kích ứng, nhiễm khuẩn hoặc nhiễm virut. Tổn thương biểu hiện bằng tình trạng niêm mạc phù nề sung huyết và có nhiều đám viêm xâm nhiễm bởi bạch cầu đa nhân ở niêm mạc. Biểu hiện lâm sàng là cảm giác đau căng tức hoặc nóng ran vùng thượng vị, kèm theo nôn, choáng váng.

Viêm dạ dày thể xuất huyết: Thường biểu hiện dưới dạng các vết ăn mòn đơn độc hoặc kèm theo xuất huyết. Niêm mạc có những chấm xuất huyết đôi khi có những mảng, đám xuất huyết dưới niêm mạc và các vết xước, chảy máu, chính là do sự vỡ mạch máu lớp tiết chính. Xuất hiện do các yếu tố có nguồn gốc ngoại sinh như rượu, thuốc kháng viêm non – streroid... Biểu hiện lâm sàng chủ yếu thường gặp là xuất huyết. Khi chảy máu nhiều và nặng có thể gây choáng và shock. Thường được chẩn đoán bằng nội soi cấp cứu.

Viêm dạ dày thể ăn mòn: Thường do các chất kích ứng tác động liên tiếp lên bề mặt niêm mạc dạ dày, gây ra sự biến đổi trầm trọng cùng với sự phù nề đơn điệu của niêm mạc dạ dày và sau đó là tình trạng hoại tử tại chỗ của niêm mạc dạ dày. Sau một thời gian, các fibrin hàn gắn lại tạo thành các mô sẹo. Mức độ tổn thương phụ thuộc bản chất và nồng độ chất gây tổn thương; ngoài ra còn phụ thuộc sự hòa loãng các chất ăn mòn do các chất bên trong dạ dày, và sự trung hòa chất kiềm do acid dạ dày. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau thượng vị ngay tức thì sau khi dạ dày tiếp xúc với chất kích ứng; sau đó là nôn, đôi khi nôn ra máu; trong các trường hợp nặng có thể có shock.

Viêm dạ dày thể nhiễm khuẩn: Với sự có mặt của các vi sinh vật gây nhiễm khuẩn. Trong trường hợp dạ dày bị viêm tấy, dịch rỉ viêm làm mưng mủ các vách niêm mạc cùng với thành dạ dày, có thể gây hậu quả thủng và gây viêm phúc mạc. Người ta gọi đó là dạ dày phù thũng. Thể bệnh này giảm rất nhiều từ khi có kháng sinh, nhưng hiện nay đang có xu hướng gia tăng trở lại.

Hậu quả do viêm dạ dày cấp để lại là gì?

Quá trình viêm diễn ra từ vài giờ đến vài ngày, liền sẹo nhanh, phục hồi hoàn toàn. Song có một số tác giả cho rằng có thể từ viêm dạ dày cấp, nếu bị nhiều đợt có thể chuyển thành viêm mạn, vì niêm mạc bị phá hủy liên tiếp và có vai trò của cơ chế tự miễn. Viêm dạ dày thể ăn mòn hoặc xuất huyết có thể dẫn đến shock, trụy tim mạch...

Điều trị viêm dạ dày cấp như thế nào?

Trước hết là chế độ ăn, tùy theo tình trạng mà có thể cần nhịn ăn thay bằng truyền tĩnh mạch trong 1 – 2 ngày đầu, sau đó uống sữa, ăn súp, thức ăn mềm, rồi ăn cơm bình thường.

Nguyên tắc chung trong điều trị là bù nước điện giải và chống shock; nếu có nhiễm khuẩn thì dùng kháng sinh, nếu có xuất huyết tiêu hóa thì điều trị theo phác đồ xuất huyết tiêu hóa; nếu do ngộ độc hoặc uống nhầm hóa chất thì phải rửa dạ dày...

Tùy theo nguyên nhân và tình trạng bệnh mà cân nhắc sử dụng các thuốc antacid, các thuốc giảm tiết hoặc các thuốc băng se và bảo vệ niêm mạc dạ dày.

SK&ĐS-BS. Nguyễn Bạch Đằng

Đây là những sản phẩm, hoá chất, đồ dùng gia đình có thể chứa chất độc hại ảnh hưởng đến sức khoẻ, nếu sử dụng trong thời gian dài có thể dẫn tới ung thư.

» Xoong nhôm "bẩn" có thể gây suy thoái não,dị hình xương

1. Chảo không dính

Khi chảo chống dính lần đầu tiên được đưa vào các hộ gia đình ở Mỹ trong những năm 1960, và được xem như là một bước đột phá lớn. Từ đó, các bà nội trợ chỉ cần ngâm chảo sau mỗi lần sử dụng và dùng dụng cụ cọ để rửa sạch.


Nhưng dần dần nhiều người nhận thấy rằng, quá trình đó sẽ làm cho lớp phủ bị bong ra. Lớp phủ đó là Teflon hay là polytetrafluoroethlyene (PTFE), sản sinh chất khí độc khi bị đốt nóng làm chết bất kỳ loài chim nào. Độc tính này là do khí bốc ra từ nguyên liệu làm ra chất chống dính cho nồi chảo.


Hơi khí độc từ Teflon còn xảy ra khi được dùng trong các loại đèn sưởi, nhiệt độ cao làm cho lớp phủ Teflon bị nóng lên bốc hơi.

2. Chai lọ nhựa

Sự nguy hiểm của BPA trong các chai nước bằng nhựa đã được đề cập. BPA tác động đến các hormone và gây tổn hại cho hệ nội tiết. Bisphenol A là chất dùng trong chế tạo nhựa polycarbonate. Nhiều loại đồ hộp thực phẩm nếu có sử dụng loại nhựa này có thể cũng chứa dư lượng bisphenol A nhất định. Chai lọ nhựa sẽ nguy hiểm hơn khi nó được để dưới sự tác động của ánh nắng mặt trời.

3. Chất tẩy rửa gia dụng

Khi chảo chống dính lần đầu tiên được đưa vào các hộ gia đình ở Mỹ trong những năm 1960, và được xem như là một bước đột phá lớn. Từ đó, các bà nội trợ chỉ cần ngâm chảo sau mỗi lần sử dụng và dùng dụng cụ cọ để rửa sạch.


Nhưng dần dần nhiều người nhận thấy rằng, quá trình đó sẽ làm cho lớp phủ bị bong ra. Lớp phủ đó là Teflon hay là polytetrafluoroethlyene (PTFE), sản sinh chất khí độc khi bị đốt nóng làm chết bất kỳ loài chim nào. Độc tính này là do khí bốc ra từ nguyên liệu làm ra chất chống dính cho nồi chảo.


Hơi khí độc từ Teflon còn xảy ra khi được dùng trong các loại đèn sưởi, nhiệt độ cao làm cho lớp phủ Teflon bị nóng lên bốc hơi.

2. Chai lọ nhựa

Sự nguy hiểm của BPA trong các chai nước bằng nhựa đã được đề cập. BPA tác động đến các hormone và gây tổn hại cho hệ nội tiết. Bisphenol A là chất dùng trong chế tạo nhựa polycarbonate. Nhiều loại đồ hộp thực phẩm nếu có sử dụng loại nhựa này có thể cũng chứa dư lượng bisphenol A nhất định. Chai lọ nhựa sẽ nguy hiểm hơn khi nó được để dưới sự tác động của ánh nắng mặt trời.

3. Chất tẩy rửa gia dụng

Các chất tẩy rửa chứa các hóa chất độc hại ảnh hưởng đến các cơ quan trong cơ thể. Trong đó có amoniac, một chất kích thích mạnh có liên quan đến gan và suy thận. Bleach là một chất ôxi hóa mạnh mẽ, có thể dẫn tới cháy da và mắt.  


Hiệp hội kiểm soát chất độc Hoa Kỳ cho biết, trong năm 2006, có hơn 120.000 trẻ em dưới 5 tuổi đã gặp nguy hiểm với chất tẩy rửa gia dụng. Để bảo vệ bạn và gia đình của bạn khỏi các nguy hiểm rửa thông thường gây ra, nên chọn chất không độc hại hoặc chất tẩy rửa tự nhiên.

4. Thuốc trừ sâu và hóa chất chất diệt cỏ

Vì mục đích của các sản phẩm này là để diệt sâu bệnh, nên  hầu hết các sản phẩm này đều ảnh hưỏng đến sức khoẻ con người.

Qua thí nghiệm cho thấy một số hoạt chất được dùng trong đó gây thiệt hại thận và gây ảnh hưởng sinh sản ở chuột. Và cypermethrin, một trong những thành phẩn chủ yếu có ảnh hưởng đế mắt, da và gây kích ứng đường hô hấp và gây ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương.


Hiện có Buhach là loại thuốc trừ sâu tự nhiên làm từ hoa cúc ngăn chặn kiến, ruồi, bọ chét, chấy,  muỗi, nhện, bọ ve và một số loài gây hại khác. Boric acid là một giải pháp tự nhiên hiệu quả để diệt dán và bạn cũng có thể sử dụng công thức này để kiểm soát loài kiến.

5. Sản phẩm kháng khuẩn

Tuy việc sử dụng rộng rãi chất kháng khuẩn góp phần chống lại các vi khuẩn nhưng trung tâm kiểm soát dịch bệnh nói rằng chất kháng khuẩn cũng có thể gây ảnh hưởng cho hệ thống miễn dịch ở trẻ em.


Chất kháng khuẩn phổ biến nhất là tricosal được tìm thấy trong hơn 100 sản phẩm gia dụng khác nhau, từ xà phòng và kem đánh răng để đồ chơi của trẻ em và thậm chí chúng còn được tích lũy trong cơ thể. Trong một nghiên cứu thực hiện bởi nhóm môi trường,  97% các bà mẹ cho con bú có triclosan trong sữa của họ và 75% người có hóa chất này trong nước tiểu của họ.


6. Phân bón hóa học

Đây là thủ phạm gây ô nhiễm nguồn nước. Bất cứ khi nào trời mưa chúng có thể trôi ra sông, suối và đại dương. Điều này gây ra sự mất cân bằng trong hệ sinh thái làm cá chết và chất lượng nước giảm xuống.


Nếu bạn có một bãi cỏ thì nên chọn bón phân bón hữu cơ. Bắt đầu từ một ủ một đống phân để tạo ra nguồn dinh dưỡng cho các luống hoa và vườn cây, bạn sẽ tạo ra phân bón rẻ tiền của riêng của bạn và giải quyết những chất thải, những rác có thể phân huỷ.

7. Chất làm mát

Cũng giống như chất làm sạch, những chất làm mát không khí có thể mang lại sự thoải mái cho căn nhà của bạn, nhưng đây là mầm mống làm trầm trọng thêm nguy cơ hen suyễn. Ngay cả những chất  có nhãn "tinh khiết" và "tự nhiên" đã được phát hiện có chứa phthalates, hóa chất gây kích thích tố bất thường, ảnh hưởng đến sinh sản và dị tật bẩm sinh. Hãy thử quế và đinh hương để tạo ra hương thơm mát dịu

8. Chất chống cháy

Theo một nghiên cứu gần đây nhất, bụi từ máy hút bụi có tỷ lệ nhiễm độc cao với rất nhiều những chất gây ảnh hưởng đến nội tiết, đặc biệt là phthalates và PBDE (chất chống cháy).

PBDE thường được tìm thấy trong những sản phẩm nhẹ như thảm hay nội thất. Vì trẻ dành rất nhiều thời gian chơi dưới sàn nhà hay gần sàn nhà, nên chúng có thể gặp rất nhiều mối nguy hiểm. Cộng với cơ thể nhạy cảm và đang phát triển của trẻ, khiến chúng phải đối mặt với nhiều nguy hiểm hơn. Những nghiên cứu từ một thập kỷ trước cho thấy PBDE có trong cơ thể trẻ cao gấp 2 đến 5 lần so với cơ thể bố mẹ chúng.

9. Túi ni lông khó huỷ

Cũng giống như kim cương, chất dẻo rất khó phân huỷ. Tại Hoa Kỳ, chỉ có 2% túi nhựa được tái chế, có nghĩa là 98%còn lại nằm ở bãi rác hoặc trôi nổi ở biển. Những túi ni lông nhuộm màu xanh, đỏ hằng ngày nếu đựng thực phẩm đã chế biến sẽ gây độc cho thực phẩm do chứa các kim loại như chì, cadimi (những chất gây tác hại cho bộ não và là nguyên nhân chính gây ung thư).


Nếu xử lý túi ni lông bằng phương pháp đốt cũng không ổn vì túi ni lông chứa 2 chất PE và PP, khi đốt sẽ tạo thành khí cacbonnic, mê tan và khí dioxin cực độc. Nên sử dụng túi ni lông có thể tự huỷ.

Thành Công (theo DC)
(vtc.vn)




Kết quả một nghiên cứu đăng trên tạp chí "Nhãn Khoa" (Ophthalmology) của Mỹ công bố ngày 19/7 cho thấy,  những người lớn tuổi ăn các loại cá nhiều chất béo ít nhất một tuần một lần thì ít có nguy cơ bị mất thị giác do bệnh thoái hóa điểm vàng liên quan tuổi già (AMD).

Tiến sỹ Bonnielin K. Swenor và các đồng nghiệp thuộc Đại học Johns Hopkins ở thành phố Baltimore, Mỹ, đã tiến hành khảo sát đối với hơn 2.500 người lớn tuổi từ 65 đến 84.

Những người này được kiểm tra mắt cẩn thận và trả lời các câu hỏi chi tiết về chế độ ăn hàng ngày. Trong đó, 15% trong số những người tham gia nghiên cứu bị phát hiện mắc bệnh AMD giai đoạn đầu và gần 3% mắc bệnh AMD giai đoạn sau.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Ăn cá thường xuyên sẽ giúp mắt khỏe hơn (Ảnh minh họa)



Kết quả nghiên cứu cho thấy những người ăn ít nhất một tuần một lần các loại cá có chứa axít béo Omega-3 có nguy cơ mắc các triệu chứng bệnh AMD giai đoạn sau ít hơn 60% so với những người không ăn cá nhiều chất béo mỗi tuần. Kết quả này cũng tính đến các yếu tố khác liên quan đến nguy cơ mắc bệnh AMD như tình dục, chủng tộc và thói quen hút thuốc.

Phụ nữ thường có nguy cơ mắc bệnh AMD cao hơn nam giới, trong khi đó người da trắng có nguy cơ cao hơn người Mỹ gốc Phi, và những người hút thuốc thì có nguy cơ cao hơn những người không hút thuốc. Tuy nhiên, nghiên cứu này không chứng minh việc ăn cá có thể giảm nguy cơ mắc các triệu chứng giai đoạn sau của bệnh AMD.

Bệnh AMD, nguyên nhân chính dẫn đến mù lòa, là dạng bệnh về điểm vàng phổ biến nhất, gây ảnh hưởng tới phần chính giữa của võng mạc. Vào giai đoạn đầu của AMD, thị giác trung ương có thể bị mờ hay méo mó, khiến bệnh nhân nhìn vào các vật thấy có kích thước và hình dạng bất bình thường. Tình trạng này có thể xảy ra nhanh hoặc kéo dài trong nhiều tháng

Theo TTXVN
(Cand)
VIÊM XOANG LÀ GÌ ? THẾ NÀO LÀ VIÊM ĐA XOANG ?
A: Xoang là một hốc rỗng, trong đó có không khí và đường thông vào hốc mũi. Nhờ thông thoáng này mà xoang không bị nhiễm trùng. Nếu đường thông vào mũi bị nghẽn, vi khuẩn sẽ gây tác hại trong xoang và gây viêm xoang. Có nhiều loại viêm xoang: viêm xoang dị ứng, dày niệm mạc xoang, trong xoang có mủ, trong xoang có pôlýp (dạng u nhú lành tính, có cuống), có u nhầy. Trong xoang có mủ là bệnh viêm xoang thường gặp nhất.
B. Thế nào là viêm nhiều xoang?
1. Viêm 1 xoang: chỉ có một xoang bị viêm mà thôi, thường là xoang hàm. Bệnh này thường đi đôi với viêm răng.
2. Viêm nhiều xoang cùng một lúc: tất cả xoang đều bị viêm (dị ứng ban đầu), có xoang bên mặt, có xoang bên trái cùng bị viêm (nguyên do dị ứng ban đầu). Bệnh này thường gọi là viêm đa xoang. Chỉ có các xoang một bên bị viêm mà thôi (có khối u, thường là pôlýp trong hốc mũi. Khối u này chèn tất cả các lổ thông của bên đó, gây viêm toàn bộ một bên).

 NGUYÊN NHÂN BỆNH VIÊM XOANG
A. Môi trường xấu.   Không khí ô nhiễm, bụi, khói bếp, thuốc lá, ao hồ dơ bẩn, hồ tắm không vệ sinh. Môi trường này chứa nhiều vi khuẩn, vi khuẩn vào mũi gây viêm mũi, và sau đó chuyển thành viêm xoang.
B. Dị ứng.   Cơ địa dị ứng một chất nào đó, thường là hóa chất, thức ăn biển, làm cho niêm mạc mũi phù nề, gây bít tắc lổ thông xoang. Xoang bị bít tắc là bị nhiễm trùng.
C. Kém sức đề kháng.   Cơ thể không đủ sức đề kháng chống lại vi khuẩn. Bệnh nhân bị viêm xoang kèm theo viêm các bộ phận khác.
D. Vệ sinh kém.    Không năng rửa tay, rửa mặt, không vệ sinh cá nhân đầy đủ, vi khuẩn sẽ vào mũi, gây viêm mũi, sau đó viêm xoang.

  BIẾN CHỨNG CỦA VIÊM XOANG
A. Biến chứng gần: vi khuẩn lan chung quanh gây - Viêm thị thần kinh - Viêm họng, viêm amiđan  - Viêm thanh quản, phế quản phế viêm  - Rối loạn tiêu hóa
B. Biến chứng xa: vi khuẩn theo đưòng máu, biến chứng rất nặng.  - Viêm màng não - Nhiễm trùng huyết.

 ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM XOANG
Có nhiều phương pháp điều trị viêm xoang:
A. Nội khoa: kháng sinh, giảm đau, co mạch, chống dị ứng.
B. Thủ thuật: xông mũi xoang  
1. Phẫu thuật cổ điển: mổ nạo xoang bằng dao, khoan.
2. Phẫu thuật nội soi: phẫu thuật nhìn thấy tận nơi.
Kết quả: khỏi, giảm triệu chứng, tái phát. Cấp: dễ khỏi bệnh: Mạn: dễ tái phát


Tham khảo điều trị viêm xoang tại: http://www.benhviemxoang.com
- Tổng số bệnh viện: 103, chiếm tỷ lệ 9,6% so với bệnh viện công lập (103/1100 ).

- Tổng số giường bệnh: 6274, chiếm tỷ lệ 3,5% xo với giường bệnh viện công lập (6274/180860 ).

- Có 29 tỉnh, thành phố trực thuộc TW có bệnh viện tư nhân.


1  Bệnh viện đa khoa tư nhân Bình Dân
  

Số 39 Trần Hưng Đạo, P. Mỹ Xuyên, Tp.Long Xuyên, An Giang
  
2 Bệnh viện Phụ sản Quốc tế
  

Số 63 Bùi Thị Xuân,Q1, Tp. Hồ Chí Minh
  

3Bệnh viện đa khoa tư nhân Vạn Hạnh
  

Số 72 - 74 Sư Vạn Hạnh, P.12, Q10, Tp. HCM
  


4 Bệnh viện đa khoa tư nhân Phú Thọ
  

Số 226 Độc Lập,P.Tân Quí, Q.Tân Phú, Tp. HCM
  

5 Bệnh viện đa khoa tư nhân Thăng Long
  

Số 127 Quốc Bảo, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội
  

6 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hợp Lực
  

Số 595 Nguyễn Chí Thanh, P. Đông Thọ, Tp. Thanh Hoá


7 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hoàn Mỹ
  

Số 124 Trần Quốc Thảo, Q3, Tp. HCM


8 Bệnh viện đa khoa tư nhân Thái Bình Dương
  

Khối Xuân Quang,P. Tân An, Tx. Hội An, Quảng Nam


9 Bệnh viện đa khoa tư nhân Bảo Long
  

Thôn Trại Hồ, Tx. Sơn Tây, Hà Nội
  

10 Bệnh viện đa khoa

tư nhân Thiện Hạnh
  

Số 17 Nguyễn Chí Thanh, Tp. Ban Mê Thuật, Đak Lak
  

11 Bệnh viện chuyên khoa Giải phẫu thẩm mỹ Sài Gòn
  

Số 97B - 99 Nguyễn Du, P. Bến Nghé, Q1, Tp. HCM
  
12 Bệnh viện tư nhân chuyên khoa Chấn thương chỉnh hình Sài Gòn ( ITO )
  

Số 305 Lê Văn Sỹ, P1,Q. Tân Bình, Tp. HCM
  

13 Bệnh viện đa khoa tư nhân Tràng An
  

Số 59 ngõ Thông Phong, Tôn Đức Thắng,Đống Đa, Hà Nội
  

14 Bệnh viện tư nhân Mắt Sài Gòn II
  

Số 98 - 100 Lê Thị Riêng, P. Bến Thành, Q1, Tp. HCM
  
15 Bệnh viện đa khoa tư nhân Bình Dương
  

Số 151 Huỳnh Văn Cù,Xã Chánh Mỹ, Tx. Thủ Dầu Một, Bình Dương
  

16 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hồng Đức III
  

Số 3/2 Thống Nhất, P.10, Q. gò Vấp, Tp. HCM
  

17 Bệnh viện đa khoa tư nhân Bình Dân, Đà Nẵng
  

Số 158 Nguyễn Thị Minh Khai, Tp. Đà Nẵng
  

18 Bệnh viện Việt Pháp
  

Số 01 Phương Mai, Đống Đa, Hà Nội

  
19 Bệnh viện Gaya Việt Hàn
  

Số 23 - 25A1 Trưong Công Định, P14, Q. Tân Bình, Tp. HCM
  

20 Bệnh viện đa khoa tư nhân Triều An
  

Số 165 hùng vương ( nối dài ), An Lạc, H. Bình Chánh, Tp. HCM
  

21 Bệnh viện mắt Việt Hàn
  

Số 355 - 365 Ngô Gia Tự, P3, Q10, Tp.HCM
  

22 Bệnh viện mắt Cao Thắng
  

Số 135B Trần Bình Trọng, phường 2, quận 5, Tp. Hồ Chí Minh
  

23 Bệnh viện ngoại khoa Nguyễn Văn Thái
  

Số 40 Trường Chinh, Xuân Phú, Tp. Huế, Thừa Thiên Huế.
  

24 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hạnh Phúc
  

Số 11A Lê Văn Nhung, P. Mỹ Bình, Tp. Long Xuyên, An Giang
  
25 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hoàn Mỹ - Đà Nẵng
  

Số 161 Nguyễn Văn Linh, P. Thạc Gián, Q. Thanh Khê, Tp. Đà Nẵng
  

26 Bệnh viện đa khoa tư nhân Trung Tâm
  

Số 501,503,505,507 đường Lương Ngọc Quyến, tổ14, P. Phan Đình Phùng, TP. Thái Nguyên.
  

27 Bệnh viện đa khoa tư nhân Nhật Tân
  

Khóm C Khóm Châu Long 7, phường Châu Phú B, Châu Đốc, tỉnh An Giang.


28 Bệnh viện đa khoa tư nhân Phổ Quang I
  

Số 192A Nguyễn Chí Thanh, P.9, Q5, Tp. HCM

29 Bệnh viện đa khoa tư nhân Anh Đức
  

Số 12 Thủ Khoa Huân, phường 1, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang .
  

30 Bệnh viện đa khoa tư nhân An Phước
  

Số 235 Trần Phú, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.


31 Bệnh viện đa khoa Quốc Ánh

  
110 đường số 54, khu Tân Tạo, phường Tân Tạo, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh
  

32 Bệnh viện đa khoa tư nhân An Sinh
  

Số 10 Trần Huy Liệu, P12, quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh.
  

33 Bệnh viện chuyên khoa tư nhân tim Tâm Đức
  

Khu A Phú Mỹ Hưng, đại lộ Nam Sài Gòn, phường Tân Phú, Q.7, Tp. Hồ Chí Minh .


34 Bệnh viện đa khoa tư nhân 115
  

Số 40 đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, thành phố Vinh, Nghệ An
  
35 Bệnh viện đa khoa tư nhấn Sông Thương

  
Số 256 - 258 đường Lê Lợi, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  
36 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hồng Hà
  

Số 16 Nguyễn Như Đổ, Văn Miếu, Đống Đa, Hà Nội.
  
37 Bệnh viện chuyên khoa Mắt Sài gòn - Hà Nội
  

77 Nguyễn Du, Hà Nội

38 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hà Thành
  

Số 61 phố V ũ Thạnh, phường ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội


39 Bệnh viện đa khoa Vĩnh Đức
  

Thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
  

40 Bệnh viện đa khoa tư nhân Thái An
  

Số 167 Nguyễn Sinh Sắc, khối 12, phường Đội Cung, thành phố Vinh, Nghệ An.

41 Bệnh viện Chuyên khoa chấn thương chỉnh hình - PTTH Huế
  

Số 09 đường Nguyễn Huệ, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế.
  

42 Bệnh viện chuyên khoa giải phẫu thẩm mỹ Thanh Vân
  

Số 33G - H Nguyễn Bỉnh Khiêm, P. Đa Kao, Q.1, Tp. Hồ Chí Minh

43 Bệnh viện đa khoa tư nhân Trí Đức
  

số 219 Lê Duẩn, phường Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
  
44  Bệnh viện chuyên khoa tư nhân Tai mũi Họng Sài Gòn
  
số 1-3 Trịnh Văn Cấn, P. Cầu Ông Lãnh, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh
  

45 Bệnh viện đa khoa tư nhân Cửa Đông
  

Số 136 Nguyễn Phong Sắc, phường Hưng Dũng, thành phố Vinh, Nghệ An
  
46 Bệnh viện đa khoa tư nhân Phủ Diễn
  

Xóm 14 xã Diễn Yên, Diễn Châu, Nghệ An.

47 ( 2) Bệnh viện đa khoa tư nhân Tây Đô
  

Số 09 Đường Quang Trung,P. Hưng Phú, Q. Cái Răng, Tp. Cần Thơ
  
48 ( 3) Bệnh viện đa khoa tư nhân Cửu Long Hoàn Mỹ
  

Lô 20 đường Quang Trung, phường Phú Thứ, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.

49 Bệnh viện đa khoa tư nhân Cao Văn Chí
  

số D4/58 Tôn Đức Thắng, huyện Hoà Thành, Tây Ninh;


50 Bệnh viện đa khoa tư nhân Segaero
  

Ấp Mới Một, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hoà, Long An.
  

51 Bệnh viện đa khoa tư nhân Mắt Sài Gòn
  

Số 471/2 Cách Mạng Tháng Tám, P. 13, Q.10, tp. Hồ Chí Minh.


52 Bệnh viện đa khoa Tâm Phúc
  

Số 82A Ngô Sĩ liên, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận


53 Bệnh viện đa khoa Lâm Hoa
  

tổ 47 phường Kỳ Bá Thành, thành phố Thái Bình


54 Bệnh viện đa khoa tư nhân Vũ Anh
  

Số 15 - 16 Phan Văn Trị, P.7, Q. Gò Vấp, tp. Hồ Chí Minh

55 Bệnh viện đa khoa tư nhân Kinh Bắc
  

Ô số 6 -7 khu phố 10 Trần Hưng Đạo, P. Đại Phúc,Tp. Bắc Ninh

56 Bệnh viện Ngoại khoa và Chấn thương chỉnh hình Phương Đông
  

ngố 79 Thành Thái,P.14, Q.10, Tp. Hồ Chí Minh

57 Bệnh viện đa khoa Hoàng Viết Thắng
  

Số 187 Điện Biên Phủ, P. Trường An, Tp. Huế


58 Bệnh viện đa khoa Mỹ Đức
  

04 Núi Thành, P.13, Q. Tân Bình, Tp.HCM
  

59 Bệnh viện đa khoa Thanh Vũ Medic
  

26A Bà Triệu, phường 3, Bạc Liêu


60 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hoà Bình.
  

Số 355 Trần Hưng Đạo, Tp. Qui Nhơn, Bình Định


61 Bệnh viện đa khoa tư nhân Mỹ Phước.
  

Đường TC3, thị trấn Mỹ Phước, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.


62 Bệnh viện ngoại khoa Nguyễn Văn Thái
  

Tổ 1A, An Trung II, P. An Hải Tây, Q. Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng
  

63 Bệnh viện đa khoa Phổ Quang
  

Số 2B Phổ Quang, P.2, Q. Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

64 Bệnh viện đa khoa Ngọc Linh
  

Số 43 R/2 R/4 Hồ Văn Huê, P.9, Q. Phú Nhuận


65 Bệnh viện Việt Pháp ( FV. Hospital )
  

Số 06 Nguyễn Lương Bằng, P. Tân Phú, Q.7, Tp. Hồ Chí Minh


66 Bệnh viện đa khoa Hoà Bình
  

Phố Phạm xuân huân, khu đô thị phía Đông, phường Hải Tân, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương


67 Bệnh viện đa khoa Hồng Phúc
  

Số 10 Hồ Xuân Hương, Hồng Bàng, Hải Phòng


68 Bệnh viện đa khoa tư nhấn Bình An
  

Số 80 Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Bảo, Tp. Rạch Giá, Kiên Giang


69 Bệnh viện đa khoa tư nhấn DOMEDIC
  

Soos 700 QL30xã Mỹ Tân, Tp. Cao Lãnh, Đồng Tháp


70 Bệnh viện chuyên khoa Tâm An
  

Số 257 Nguyễn Trãi, Tân Sơn, Tp. Thanh Hóa, Thanh hóa


71 Bệnh viện đa khoa tư nhân Văn Cao
  

Số 207 Văn Cao, Hải Phòng

72 Bệnh viện Mắt Bình Tâm
  

số 101 Trường Thi, phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa
  

73 Bệnh viện đa khoa tư nhân Vĩnh Toàn
  

Số 49 Lê Duẩn, Tp. Đà Nẵng


74 Bệnh viện chuyên khoa nội Khánh Lương
  

Số 158 - đường Giải Phóng, phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân, Hà Nội.


75 Bệnh viện đa khoa Sài Gòn - Nam Định
  

Đường Đông A khu đô thị mới Hoà Vượng, Tp. Nam Định, Nam Định
  

76 Bệnh viện đa khoa Hữu nghị 103
  

Tổ 44, Phường Nguyễn Phúc - thành phố Yên Bái - tỉnh Yên Bái.
  

77 Bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ Đà Lạt
  

Tiểu khu 156, Đồi Long thọ, Đường Mimosa, Phường 10, Thành phố Đà Lạt.


78 Bệnh viện chuyên khoa ngoại thần kinh Quốc Tế
  

Số 65A Luỹ Bán Bích, phường Tân Thới Hoà, quận Tân Phú, Tp. Hồ Chí Minh.
  

79 Bệnh viện chuyên khoa Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ Hiệp Lợi
  

Số 128 - 130 Duơng Bá Trạc, P. 2, Q. 8, Tp. Hồ Chí Minh


80 Bệnh viện đa khoa Thành An Sài Gòn
  

Số 54 đường Lý Thường Kiệt, P. Lê Lợi, Tp. Vinh, Nghệ An.


81 Bệnh viện Hy vọng Mới
  

Km10 đường 5, Phụ Thuỵ, Gia Lâm, Hà Nội

82 Bệnh viện quốc tế Columbia Asia Gia định
  

01 Nơ Trang Long, Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh


83 Bệnh viện Phụ sản Minh Hải
  

Sp Số 9 Long Quân, P.7, Tp. Cà Mau, tỉnh Cà Mau


84 Bệnh viện tư nhân chuyên khoa Mắt Quốc tế Việt - Nga
  

Nhà ô số 1 – C2 làng Quốc tế Thăng Long, P. Dịch Vọng, Q. Cầu Giấy, Hà nội


85 Bệnh viện Phụ nữ thành phố Đà Nẵng
  

Số 26C Chu Văn An, Q. Hải Châu,thành phố Đà Nẵng
  
86 Bệnh viện đa khoa tư nhân Đông Âu
  
Số 98 Mai Lão Bạng, Tp. Vinh, Nghệ An
87 Bệnh viện đa khoa tư nhân Nguyễn Minh Hồng
  

Số 105 Lý Thường Kiệt, P. Lê LợiTp. Vinh, Nghệ An
  
88 Bệnh viện Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ AVA Văn Lang
  

Số 290 Hai Bà Trưng, P. Tân Định, Q.1, Tp. Hồ Chí Minh.
  

89 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hồng Ngọc
  

Số 55 Yên Ninh, Ba Đình, Hà Nội

BS. Phạm Đức Thịnh
  

90 Bệnh viện y học cổ truyền Nam Á
  

Số 42 Hòe Nhai, Ba Đình, Hà Nội


91  Bệnh viện y học cổ truyền Trường Giang
  

Số 15 ngõ 168 đường Kim Giang, quận Hoàng Mai, Hà Nội


92 Bệnh viện tư nhân chuyên khoa nội Medlatec
  

42, 44 - phố Nghĩa Dũng - phường Phỳc Xỏ - quận Ba Đình - Tp. Hà Nội.
  

93 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hưng Hà
  

Đường Sơn Nam, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên


94 Bệnh viện Mắt Việt Nhật
  

122 Triệu Việt Vương, quận Hai Bà Trưng , Hà Nội


95 Bệnh viện đa khoa tư nhân Thiên Đức
  

11n phố Phùng Hưng, Phúc La, Hà Đông , Hà Nội

96 Bệnh viện đa khoa tư nhân An Phú
  

Số 152 đường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên


97 Bệnh viện Mắt Ánh Sáng
  

Ô số 01 khu C dự án nhà ở Cổ Nhuế, xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, Hà Nội
  

98 Bệnh viện đa khoa tư nhân Á Châu
  

Số 39 đường Hồ Văn Cống, ấp 4, xã Tương Bình Hiệp, Thủ Dầu Một , Bình Dương
  

99 Bệnh viện đa khoa tư nhân Hoàng An
  

Số 786 Lý Bôn, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình


100 Bệnh viện chuyên khoa Nam học và Hiếm muộn Hà Nội
  

Lô số 01 - 8A cụm tiểu thủ công nghiệp Hai Bà Trưng, Hoàng Mai Hà Nội


101 Bệnh viện tư nhân chuyên khoa Ngoại Minh Anh
  

Số 36 đường 1B Phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh


102 Bệnh viện tư nhân chuyên khoa Mắt Bắc Trung Nam
  

Số 09 phố Lê Hoàn, phường Trường Thi, Tp. Thanh Hóa, Thanh Hóa
  

103 Bệnh viện tư nhân chuyên khoa Mắt Sài Gòn - Vinh
  

Đại lộ VI. Lê Nin, P. Hà Huy Tập, Tp. Vinh, Nghệ An
  

(yhocvietnam)
Theo thông tin được đưa ra tại Hội nghị Điều trị suy thận mãn do Hội Thận học Hà Nội vừa tổ chức, cả nước hiện có khoảng gần 6 triệu người bị suy thận mạn tính. Trong đó chỉ có 10% bệnh nhân suy thận mãn giai đoạn cuối được lọc máu, 90% còn lại tử vong.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Điều trị lọc máu cho bệnh nhân suy thận



Các chuyên gia cho biết, đa phần bệnh nhân suy thận được phát hiện muộn do triệu chứng của suy thận có thể chỉ xuất hiện khi chức năng thận còn lại 1/10 so với mức bình thường. Biểu hiện đặc trưng của bệnh là: người sưng phù, mệt mỏi, xanh xao, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, đi tiểu nhiều lần. Những bệnh nhân bị đái tháo đường, tăng huyết áp, viêm cầu thận, sỏi thận, lupus ban đỏ, thận bẩm sinh, suy tim… có nguy cơ bị suy thận cao hơn người bình thường. Đặc biệt, những người có tiền sử dùng thuốc lâu dài, gây độc tính cao với thận cũng dẫn đến suy thận.      

Nguyễn Phan
(ANTĐ)
Kim tiền thảo còn gọi là mắt trâu, mắt rồng, vẩy rồng, có tên khoa học là Desmodium styracifolium (Osb) thuộc họ cánh bướm.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Kim tiền thảo là cây thảo, sống lâu năm, bò sát đất, dài khoảng 1m. Lá mọc so le, gồm 3 lá chét hình tròn, có lông. Hoa tự hình chùm, tràng hoa hình bướm, màu tía. Quả loại đậu, dài 14 - 16mm, chứa 4 - 5 hạt. Mọc hoang trên vùng đồi trung du, vùng núi.

Kim tiền thảo có tác dụng thanh nhiệt, lợi thuỷ, tiêu sạn, giải độc, tiêu viêm; Lợi thuỷ, thông lâm, tiêu tích tụ. Chủ trị các chứng nhiệt lâm, thạch lâm, sỏi mật, hoàng đản, ung nhọt do nhiệt độ; Trị gan mật kết sỏi, sỏi thận, tiểu buốt, hoàng đản.

- Liều dùng: 20 - 40g mỗi ngày, có thể uống liên tục, không có độc hại.

- Chú ý: Người tỳ hư, tiêu chảy không nên dùng.


Kim tiền thảo trị sỏi thận


Nghiên cứu tác dụng dược lý của kim tiền thảo cho thấy: Nước sắc kim tiền thảo có tác dụng làm tăng tuần hoàn mạch vành, hạ  áp lực động mạch, làm chậm nhịp tim, giảm lượng oxy ở tim. Tuần hoàn của thận và não cũng tăng, cơ tim co lại. Do đó, có thể nghĩ đến việc kim tiền thảo có tác dụng chữa được cao huyết áp. Tuy nhiên, trong thực tế người ta không dùng kim tiền thảo để chữa bệnh cao huyết áp, mà sử dụng kim tiền thảo như một vị thuốc đặc hiệu để điều trị sỏi tiết niệu, sỏi mật và sỏi gan.

Để điều trị cao huyết áp có thể dùng các vị thuốc đặc hiệu như hoè hoa, ba gạc, bạch đồng nữ, câu đằng, cúc hoa...

Lương y Vũ Quốc Trung

(bee.net.vn)
Đậu nành có nhiều đạm chất hơn thịt, nhiều canxi hơn sữa bò, nhiều lecithin hơn trứng. Các amino axit cần thiết mà cơ thể không tạo ra được thì đều có trong đậu nành. Ăn đậu nành không chỉ tốt cho tim mạch, ngăn ngừa ung thư mà còn giảm sỏi thận...
Vì có nhiều đạm chất nên đậu nành đã được coi như "thịt không xương". Đạm này rất tốt để thay thế cho thịt động vật vì có ít mỡ và cholesterol. Đặc biệt, trong đậu nành có một chất tương tự như kích thích tố nữ estrogen, đó là chất isoflavones. Chất này có công thức hoá học gần giống như kích thích tố nữ estrogen. Vì thế, nó được mệnh danh là estrogen thảo mộc (phyto - estrogen) và có vai trò quan trọng với sức khoẻ phụ nữ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Estrogen là kích thích tố tự nhiên được noãn sào tiết ra, rất cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ quan sinh dục chính (tử cung, ống dẫn trứng) và sự nẩy nở của cơ quan sinh dục phụ như nhũ hoa, làm xương chậu có hình bầu dục rộng hơn để sinh đẻ dễ dàng. Estrogen còn cần để duy trì một sức khoẻ tốt cho sự tân tạo và tu bổ xương, cho hệ thống tim mạch, cho não bộ.
Khi tới tuổi mãn kinh, phụ nữ mất đi một khối lượng rất lớn estrogen nên họ phải chịu đựng nhiều thay đổi. Trung bình mỗi ngày ta cần 50mg isflavones, số lượng này có đủ trong 30g đậu nành rang, 1 ly sữa đậu nành, 1/2 miếng đậu phụ, 1/2 ly bột đậu.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy, chế độ dinh dưỡng có nhiều đậu nành sẽ làm cholesterol giảm 12%, LDL giảm 13G, HDL không thay đổi. Chế độ dinh dưỡng có đậu nành có khả năng làm giảm nguy cơ gây vài loại ung thư có liên hệ tới kích thích tố như ung thư vú, tử cung, tuyến giáp.
Người mắc bệnh thận, các chức năng thận suy yếu, tiết giảm đạm chất ăn vào là một phương thức trị liệu để bớt nặng nhọc cho thận. Nhưng khi đạm động vật được thay thế bằng đạm thực vật như đậu nành thì số lượng protein trong nước tiểu giảm, chứng tỏ thận bớt phải làm việc quá sức. Đạm đậu nành cũng làm giảm nguy cơ bệnh sỏi thận bằng cách không để canxi thất thoát qua nước tiểu.
Hạt đậu nành chứa 8% nước, 5% chất vô cơ, 15 - 25% glucose, 15 - 20% chất béo, 35 - 40% chất đạm với đủ các loại amino axit cần thiết và nhiều sinh tố, khoáng chất. So với thịt động vật, đậu nành có nhiều chất dinh dưỡng hơn: 100g đậu nành có 411 calo; 34g đạm; 18g béo; 165 mg calcium; 11mg sắt. Trong khi đó, thịt bò loại ngon chỉ có 165 calo, 21g đạm; 9g béo; 10mg calcium và 2,7mg sắt.
Theo ThS Thanh Tâm
(Nguồn Tintuconline)
Bệnh sỏi thận có nhiều cách chữa như uống thuốc để làm tan sỏi, tán qua da, phẫu thuật. Tuy nhiên, có đến 50% số bệnh nhân xuất hiện sỏi trở lại sau đó.

Sỏi thận hình thành do lượng nước tiểu quá ít (mất nước do uống ít nước hoặc lao động quá sức), hay nồng độ các chất khoáng tăng cao như canxi, oxalat, muối urat, natri, cystine hay phốt pho tăng cao. Những chất này lắng đọng trong đài, bể thận và kết thành sỏi. Những viên nhỏ có thể tự ra ngoài theo nước tiểu mà không gây triệu chứng gì. Những viên lớn hơn có thể vẫn di chuyển được theo dòng nước tiểu nhưng gây đau đớn và chảy máu đường tiết niệu, hay mắc lại ở những chỗ hẹp của niệu quản, gây viêm tắc niệu quản.

Có những viên sỏi nằm lại trong đài bể thận hoặc trong bể thận rồi phát triển to dần, choán hết đài bể thận, gây ra những tai biến nghiêm trọng làm huỷ hoại thận và các chức năng của cơ quan này. Sỏi thận có bề mặt xù xì, lởm chởm, sắc nhọn nên rất dễ làm tổn thương thận tạo nên những vết sẹo, dẫn đến suy thận.

Có 4 loại sỏi thận chính

Sỏi canxi: Chiếm 80-90%. Lượng canxi thừa trong cơ thể được đào thải qua thận, nếu nồng độ quá nhiều, khó hòa tan hết trong nước tiểu, nó sẽ kết hợp với các khoáng chất khác tạo thành sỏi. Những người có lượng vitamin D cao, bị cường tuyến giáp, hay những người bị suy thận dễ bị sỏi canxi.

Sỏi phosphat ammonium magnesium: Do vi khuẩn lên men urê gây nên, thường hình thành sau khi bị viêm đường tiết niệu mạn tính do tăng lượng amoniac trong nước tiểu. Amoniac nồng độ cao làm vi khuẩn phát triển nhanh hơn, khiến sỏi khuẩn hình thành. Sỏi này thường có nhiều cạnh nhọn, kích thước lớn làm tổn thương thận.

Sỏi acid uric: Hình thành do quá nhiều axit uric trong nước tiểu. Người ăn nhiều đạm động vật, người bị bệnh gút có nguy cơ sỏi urat cao.

Sỏi cystine: Ít gặp, hay xảy ra ở người bị bệnh xistine niệu, khiến thận không hấp thu lại xistine (một loại amino acid). Chất này không được hòa tan tốt trong nước tiểu, khi nồng độ cao sẽ tạo thành sỏi.

Khi thấy đau là sỏi đã lớn

Quá trình hình thành sỏi không có triệu chứng nên bệnh nhân thường không biết mình bị sỏi thận. Chỉ đến khi sỏi lớn lên gây đau đớn, hay đi tiểu ra sỏi mới biết. Các triệu chứng thường gặp là:

- Cơn đau thận do sỏi gây tắc bể thận và niệu quản. Đau vùng thắt lưng, lan xuống hố chậu, bìu, kèm nôn hay trướng bụng. Có khi bệnh nhân chỉ đau âm ỉ vùng thắt lưng do sỏi không gây tắc.

- Tiểu ra máu do sỏi gây tổn thương đường tiết niệu hay do nhiễm khuẩn, làm thận chảy máu.

- Có thể có sốt cao 38-39 độ C, hoặc ớn lạnh, thận to đau, cảm giác bỏng rát.

- Đau khi tiểu, nước tiểu đục do nhiễm khuẩn.

Nhiều cách chữa nhưng hay tái phát

Để điều trị hiệu quả, việc xác định loại sỏi rất quan trọng. Có thể loại trừ sỏi thận nhỏ mà không phải phẫu thuật như uống nhiều trên 2 lít nước một ngày để sỏi tự ra. Ở cơ sở y tế, các bác sĩ có thể áp dụng các biện pháp như:

Tán sỏi ngoài cơ thể: Với sỏi đài bể thận đường kính dưới 20 mm, có thể dùng năng lượng siêu âm chiếu qua da vào các viên sỏi để phá vỡ chúng. Sóng siêu âm tán viên sỏi ra thành nhiều mảnh nhỏ đường kính dưới 4 mm để nó tự ra ngoài qua đường tiểu.

Tán sỏi qua da: Đưa một máy tán sỏi qua da vùng thắt lưng vào thận. Viên sỏi sẽ bị tán vỡ nhờ sóng siêu âm và hút ra ngoài qua ống. Cách này có thể tán được những sỏi lớn, rắn ngay trong bể thận đã giãn rộng, có thể rửa sạch, lấy hết cặn sỏi và dẫn lưu bể thận qua da.

Phẫu thuật: Áp dụng khi sỏi lớn đường kính trên 40 mm, sỏi san hô nhiều gai cạnh găm vào đài bể thận, đài bể thận giãn hay ứ nước...

Hơn 50% số người từng bị sỏi thận sẽ bị tái phát. Do đó dù đã điều trị, bệnh nhân vẫn cần:

- Uống 2-3 lít nước mỗi ngày.

- Giảm lượng thức ăn giàu oxalat, canxi như các loại quả hạnh nhân, sô cô la, nước chè, rau chân vịt, dâu tây. Ăn ít chất đạm động vật nếu bị sỏi acid uric.

- Uống một số loại thuốc giúp kiểm soát lượng khoáng chất phát triển trong nước tiểu.

- Người bị sỏi thận do tuyến giáp tiết ra nhiều hoóc môn cần điều trị triệt để bằng phẫu thuật tuyến giáp.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Sỏi thận là “thủ phạm” chính gây đau đường tiết niệu và chiếm đa số các ca cấp cứu tại bệnh viện. Bệnh phát triển ở nam giới ngoài 40 sống ở những vùng nóng bức. Ngoài ra, béo phì và nghèo dinh dưỡng cũng là nguyên nhân gây sỏi thận ở trẻ em.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Điều bí ẩn

Người ta chưa hiểu rõ về sỏi thận nhưng cho rằng có một số người dẽ bị mắc bệnh này hơn những người khác, trong đó có yếu tố di truyền.

Một số bệnh cũng làm gia tăng sự hình thành sỏi thận, bao gồm các bệnh viêm đường tiết niệu tái diễn thường xuyên, bệnh thận, bệnh chuyển hóa và nhiễm toan ống thận (thận không có khả năng bài tiết axit – bệnh có yếu tố di truyền).

Những người có nguy cơ mắc sỏi thận cao gồm những người bị viêm đường ruột mãn hay phải thay thế một đoạn ruột hoặc phẫu thuật tạo hậu môn.

Tình trạng khử nước cũng là 1 yếu tố quan trọng có thể dẫn tới sỏi thận bởi vì các khoáng chất này hiện diện tự nhiên trong nước tiểu và sẽ trở nên đậm đặc khi lượng nước ít đi.

101 tinh thể tạo nên sỏi thận

Một viên sỏi thận có chứa thành phần chính là can-xi oxalate (vốn có sẵn trong nước tiểu), axit uric, xsytin hay methionine.

Quả thận làm việc như một máy lọc của cơ thể. Chúng lọc máu và đưa các chất thải từ máu vào nước tiểu. Nếu lượng nước tiểu quá ít hoặc thường xuyên bị ứ lâu thì các tinh thể rắn nhỏ sẽ kết hợp với nhau và hình thành những viên sỏi thận.

Một số viên sỏi thận nhỏ đến mức mà chúng có thể dễ dàng thoát ra ngoài qua đường tiểu tiện mà không thể nhận ra. Tuy nhiên, nếu chúng quá lớn, thì sẽ phải cần tới sự can thiệp y tế. Những viên sỏi lớn có thể gây ra những nguy cơ sức khỏe thực sự bởi vì chúng sẽ gây tắc, khiến thận bị ứ nước và gây viêm thận. Nếu chúng lọt vào niệu quản sẽ gây ra các cơn đau quặn.

Các biểu hiện của sỏi thận

Các biểu hiện của sự có mặt sỏi thận rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác. Lúc đầu, viên sỏi có thể gây đau ở vùng bụng phía bên cạnh cơ thể, giữa xương sườn và hông, đau ở hông hay ở giữa lưng với cảm giác đau lan tỏa tới tận háng.

Đau đớn này có thể kèm theo buồn nôn hay nôn vọt, tiếp đó là đái buốt, nước tiểu có mùi hôi hoặc có máu. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, có thể gây bí tiểu do sỏi đã lấp kín đường đi của nước tiểu. Nếu kèm theo đó là sốt cao dần thì có thể là dấu hiệu cho thấy viêm nhiễm đang hiện diện và cần có sự can thiệp y học ngay lập tức.

Tiêu sỏi

Hầu hết các viên sỏi thận sẽ tự đào thải với thời gian là 6 tuần. Trong giai đoạn này, sẽ cần một đơn thuốc giảm đau, nghỉ ngơi đầy đủ và uống nhiều nước để mọi thứ được lọc thải và phòng khử nước.

Nếu viên sỏi quá lớn để có thể tự tiêu thì sẽ đòi hỏi sự can thiệp để phá vỡ viên sỏi này, giúp nó tự tiêu. Các cách thường áp dụng là dùng sóng siêu âm hay máy tán sỏi.

Nếu viên sỏi lớn đến mức không thể áp dụng hai cách trên thì sẽ phải phẫu thuật.

Phòng sỏi thận như thế nào?


Cách tốt nhất để chữa bệnh sỏi thận là phòng ngừa. Nếu bạn không có bất kỳ một tiền sử bệnh tật nào thì cần uống 8-10 cốc nước mỗi ngày để giảm sự hình thành của sỏi thận.


Nếu đã có sỏi thận thì cần đặc biệt tuân thủ chế độ ăn do bác sĩ đề ra (tùy vào loại sỏi thận mà bác sĩ sẽ cung cấp cho bạn 1 chế độ ăn phù hợp) cũng như duy trì lượng nước cho cơ thể.


Nhân Hà

Theo SM
(dantri)
Các nhà khoa học Nhật Bản cho biết chế độ ăn uống nhiều các sản phẩm từ sữa có thể làm giảm nguy cơ phát triển ung thư dạ dày ở nam giới. Trong nghiên cứu này các nhà khoa học đã tìm cách kiểm tra mối liên hệ giữa các mô hình chế độ ăn uống và nguy cơ tử vong do ung thư dạ dày.

Phân tích các yếu tố trong bảng câu hỏi về tần số thực phẩm được thực hiện trên 25.730 nam và 37.673 nữ, theo đó ba mô hình chế độ ăn uống đã được xác định về tỷ lệ nguy hiểm có liên quan tới tử vong do ung thư dạ dày đó là: rau, thực phẩm động vật và sản phẩm từ sữa. Kết quả cho thấy mô hình chế độ ăn uống nhiều rau cho thấy có liên quan tới tỷ lệ tử vong do ung thư dạ dày ở cả hai giới, trong khi đó chế độ ăn giàu các sản phẩm từ sữa lại cho kết quả đáng kể trong việc giảm nguy cơ ung thư dạ dày ở nam giới. Ngoài ra, chế độ ăn uống nhiều thực phẩm động vật có xu hướng liên quan tới việc tăng nhẹ nguy cơ mắc bệnh ở nữ giới.

Các nhà khoa học đã kết luận rằng, một chế độ ăn uống nhiều các sản phẩm từ sữa có thể liên quan tới việc giảm nguy cơ tử vong do ung thư dạ dày ở nam giới.

Hoàng Dương  (Theo Medindin GPL)
(suckhoe&doisong)
Ung thư dạ dày.

Là ung thư đứng hàng đầu trong các loại ung thư đường tiêu hóa.
I. Giải phẫu bệnh lý:

Ung thư dạ dày có thể ở tất cả các vùng của dạ dày, và hay gặp nhất là vùng hang – môn vị.
1. Đại thể:

a. Ung thư thể sùi. Khối u mọc nụ sùi vào trong lòng dạ dày nhìn giống như hoa súp lơ và có loét ở giữa do hoại tử.

b. Thể thâm nhiễm. Khối u chiếm một đoạn dạ đay và làm nhiễm cứng đoạn dạ dày, cũng có khi thâm nhiễm ra làm nhiễm cứng toàn bộ dạ dày.

c. Thể loét. Ổ loét to, bờ không đều, cứng và xù xì, đáy gồ gề dễ chảy máu, bờ nổi cao có thể có những nụ thịt nhỏ.
2. Vi thể

Ung thư biểu môn tuyến: Hay gặp nhất , từ 85 – 95 %

Sarcoma dạ dày: chiếm từ 1 – 5 % , là u phát sinh từ tổ chức liên kết.

3. Tiến triển và di căn:

a. Ung thư dạ dày sớm: tổn thương mới chỉ ở lớp niêm mạc, dưới niêm mạc, có hay không có hạch lân cận di căn. Và có tiên lượng tốt.

b. Các giai đoạn:

Giai đoạn A: Ung thư xân lấn đến lớp cơtrong của thành dạ dày.

Giai đoạn B: Ung thư xâm lấn cả thành dạ dày

Giai đoạn C: Hạch lân cận bị di căn.

Giai đoạn D: Xâm lấn và di căn tới các hạch tạng.

c. Di căn.

Di căn gần theo hạch

Di căn xa theo bạch huyết, mạch máu: lưu ý hạch thượng đòn trái, xuống buồng trứng U Krukenberg.
II. Triệu chứng.
1. Lâm sàng
a. Giai đoạn sớm:

Giai đoạn này tc LS nghèo nàn, khó phát hiện

Đau thượng vị không có tính chu kỳ ( khác với loét )

Chán ăn

Mệt mỏi, gầy sút
b. Giai đoạn muộn:

Các triệu chứng thường rõ: đau bụng, hẹp môn vị, khối u vùng bụng, cổ trướng, hạch di căn. Chẩn đoạn giai đoạn này thường dễ song điều trị ít có kết quả.
2. Cận lân sàng:
a. X Quang có cản quang:

Ung thư thể loét: hình ổ loét, bờ cứng, có thể kết hợp chụp đối quang kép với ung thư mặt dạ dày.

Ung thư thể sùi: hình khuyết cố định, bờ xung quanh không đều, nham nhở, thành cứng.

Ung thư thể thâm nhiễm: hình cứng hay một đoạn cứng thường xuyên giữa các phim.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Hình ảnh K hang vị

b. Nội soi + sinh thiết:

Là phương pháp có giá trị giúp chẩn đoán sớm UTDD, có thể thấy hình ổ loét, u sùi nhỏ. Tỷ lệ chẩn đoán đúng cao. Nên lấy sinh thiết nhiều vị trí để đảm bao không bỏ sót tổn thương.
III. Chẩn đoán.

Dựa vào lân sàng và cận LS

Chẩn đoán phân biêt giữa loét và ung thư dạ dày: Có thể dùng phương pháp điều trị thử trong 4 – 6 tuần, kiểm tra lại băng nội soi

Phân biệt ung thư thể loét và loét ung thư hóa: Ung thư thể loét, tổ chưc ung thư thấy ở phần đáy, ngược lại trong loét ung thư hóa thì tổ chức ung thư hóa tổn thương thấy ở bờ ổ loét.
IV. Điều trị.
1. Ngoại khoa.
a. Triệt để:

- Cắt bỏ toàn bộ dạ dày: bất kỳ khối u ở vị trí nào cũng cắt bỏ toàn bộ dạ dày.

Cắt toàn bộ dạ dày theo yêu cầu: tùy vị trí khối u mà cắt toàn bộ dạ dày.

Nối phục hồi lưu thông: Thực quản – Hỗng tràng kiểu Omega hay kiểu chữ Y.

- Cắt đoạn dạ dày: cắt ¾ hoặc 4/5 dưới tâm vị.

Áp dụng cho các khối u vùng hang môn vị. Phía trên cắt trên khối u 6cm phía dưới cắt dưới môn vi 1-2cm.

- Cắt cực trên dạ dày: Cắt bỏ 1/3, ½ dạ dày phía trên, phần cuối thực quản bụng, nối thực quản với dạ dày còn lại.
b. Điều trị tạm thời:

Nối vị tràng nếu không cắt được và có hẹp môn vị.

Mở thông dạ dày cho ăn nếu hẹp tâm vị

Thắt các mạch máu xung quanh u.
2. Các pp điều trị khác.

Chiếu xạ: dùng phối hợp với hóa chất.

Hóa chất: 5 Fluorouracil, Adriamycin, Mitomycin C …

(benhhoc.com)
Mùa hè nắng nóng ra nhiều mồ hôi, khát nhiều nên phải uống nhiều nước. Nhưng tôi nghe nói uống nước đá không hết khát nhanh bằng uống nước hơi âm ấm, vì sao?

Hoàng Thị Hoan (Phú Thọ)

Mùa hè nắng nóng, khi lao động, tập luyện, đi lại... mồ hôi ra nhiều làm cho chúng ta rất khát nước. Vừa nóng vừa khát nên ai cũng thích uống một cốc nước đá hoặc bia lạnh vì nghĩ là sẽ mát và đỡ khát. Nhưng sự thực lại không đúng như vậy. Vì các phân tử nước trong nước uống lạnh lúc đó đang tích hợp lại sẽ rất khó thấm vào tế bào, nên dù bạn có uống nước lạnh thì cơ thể vẫn rất khát. Trái lại trong nước uống nóng, đơn phân tử nước hoàn toàn thẩm thấu vào tế bào để bổ sung lượng nước đã mất. Do đó uống nước đá lạnh không hết khát nhanh bằng uống nước nóng, hoặc hơi âm ấm. Nếu bạn thường xuyên uống lạnh sẽ bị thiếu nước cung cấp cho tế bào. Mặt khác tuy đồ uống lạnh có làm ta sảng khoái nhưng đối với người mới cảm mạo, say nắng, mồ hôi không thoát ra được, cơ thể không tản nhiệt được nên làm tăng nguy cơ sốt. Tuy nhiên để vừa giải khát vừa làm mát cơ thể khi nóng và khát, chúng ta có thể uống nước lạnh  khoảng 8-15oC, với các loại nước đun sôi để nguội, nước cam, chanh, mía... và uống nên từ từ. Nếu bạn uống lạnh quá mức cho phép sẽ làm cho các vi mạch máu trong dạ dày, ruột co thắt lại, dẫn đến niêm mạc thiếu máu, từ đó làm giảm chức năng tiêu hoá và sát khuẩn của dạ dày, ruột dẫn đến bị đau bụng, tiêu chảy cấp.

BS. Bùi Thị Thu Hương
(suckhoe&doisong)
Tiền sản giật (TSG) ảnh hưởng tới 5-10% bà bầu, có thể gây tổn hại cho cả mẹ và con. Do đó, việc thử máu và nước tiểu cần được tiến hành ở các bà bầu trước khi sinh. Phát hiện sớm và điều trị để giúp kiểm soát huyết áp cho đến khi mẹ tròn con vuông, có thể giúp ngăn ngừa nhiều biến chứng nguy hiểm.

Thế nào là TSG?

Những phụ nữ bị chứng huyết áp cao và chất đạm trong nước tiểu thường mắc chứng TSG. Bệnh thường xuất hiện khi các bà bầu bắt đầu bước sang tuần thứ 20 của thai kỳ, nhưng có thể cũng xảy ra bất cứ thời điểm nào trong nửa sau của thai kỳ. Nếu không chữa trị, nó có thể dẫn đến một tình trạng nguy hiểm hơn gọi là sản giật. Sản giật gây động kinh và có thể dẫn đến hôn mê hoặc tử vong ở mẹ. TSG có thể nhẹ hay nặng và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể. Nó gây thêm áp lực cho thận, tạo nhiều protein trong nước tiểu. Trong trường hợp nghiêm trọng, TSG có thể gây tổn hại cho thận, tim, não, gan và mắt cho người mẹ. Đối với một số phụ nữ có triệu chứng TSG có thể cần phải nằm viện hoặc nằm bất động trên giường suốt thời gian còn lại cho đến khi em bé được sinh ra. Nó cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các bé được sinh ra.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Các triệu chứng TSG

Những triệu chứng dưới đây có thể là dấu hiệu của TSG:

- Sưng ở bàn tay và bàn chân.

- Đau nặng đầu.

- Có vấn đề với tầm nhìn (mờ mắt).

- Giảm trí nhớ.

- Đau ở phần trên của bụng.

- Tăng cân nhanh.

Làm thế nào để chẩn đoán?

Tại mỗi cuộc hẹn trước khi sinh, bác sĩ sẽ đo huyết áp của bạn và thực hiện một thử nghiệm nước tiểu. Nếu huyết áp cao, bác sĩ sẽ theo dõi chặt chẽ phần còn lại của thai kỳ. Bởi vì huyết áp cao không là điều kiện đủ để chẩn đoán TSG. Nó thường được chẩn đoán khi tình trạng huyết áp cao được đi kèm với một lượng lớn chất đạm trong nước tiểu. Bạn có thể được chẩn đoán là bị TSG nếu bị sưng, thêm protein trong nước tiểu và một trong những dấu hiệu huyết áp sau đây:

- Huyết áp 140/90mmHg hoặc cao hơn.

- Huyết áp tâm thu của bạn tăng thêm 30mmHg hoặc hơn.

- Huyết áp tâm trương của bạn tăng 15mmHg hoặc hơn.

TSG nghiêm trọng xảy ra khi:

- Huyết áp tâm thu hơn 160mmHg.

- Huyết áp tâm trương hơn 110mmHg.

Những đối tượng có nguy cơ bị TSG?

Các chuyên gia không biết lý do tại sao một số phụ nữ mang thai lại bị triệu chứng TSG. Nhưng những đối tượng phụ nữ với những yếu tố sau có nguy cơ bị TSG lớn hơn:

- Phụ nữ trẻ hơn 20 tuổi.

- Phụ nữ lớn hơn 35 tuổi.

- Mang thai lần đầu tiên.

- Mang thai sinh đôi.

- Có cao huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận, máu, rối loạn đông máu, lupus...

- TSG ở lần mang thai trước đó.

- Lịch sử gia đình có người bị chứng TSG.

- Thừa cân.

Làm thế nào điều trị được TSG?


Nếu TSG nhẹ thì bạn có thể nằm điều trị tại nhà trên giường. Bác sĩ có thể kê toa thuốc để giảm huyết áp của bạn và sẽ giám sát chặt chẽ sức khỏe của bạn và em bé trong suốt những tháng ngày còn lại của thai kỳ. Nếu bạn có TSG nghiêm trọng, bạn cần nhập viện và sinh con sớm hơn dự định.

Nhiều phụ nữ bị TSG vẫn sinh con khỏe mạnh.

Khi em bé được sinh ra từ những bà mẹ bị TSG thường phải được cách ly sớm. Những em bé này có nhiều nguy cơ đối với các vấn đề sức khỏe khác nhau, bao gồm cả trọng lượng sinh thấp và khuyết tật dài hạn.

BS. THU PHƯƠNG
(suckhoe&doisong)
Trong kỳ nghỉ hè, số thanh thiếu niên mắc bệnh tâm thần nhập viện vì nghiện game tăng cao. Trong khi đó, việc điều trị nghiện game tốn kém và khó khăn không kém cai nghiện ma túy.

Bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Văn Dũng, Trưởng khoa Tâm thần nam - nghiện chất, Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia, cho biết theo nhiều nghiên cứu, tỷ lệ người mắc các bệnh liên quan tới game đang tăng mạnh và ngày càng trẻ hóa. 50% - 70% người chơi game có các dấu hiệu về sức khỏe tâm thần, với biểu hiện trầm cảm, lo âu, hung hăng. Trong số này, 15% có ý tưởng tự sát.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Game thủ nhập viện
Số người nghiện game, đặc biệt là giới trẻ, đang không ngừng tăng lên.
Ảnh: Như Ý.



Mẹ của cháu Nguyễn Đức T. 15 tuổi (Đống Đa, Hà Nội) ngậm ngùi chia sẻ, con chị vốn là một học sinh ngoan, giỏi từ lớp 1 đến lớn 6. Năm lớp 7, T. bắt đầu thích game, thường xuyên trốn học đi chơi, bố mẹ khuyên bảo, ngăn cấm thì bỏ nhà ra đi. Sau đó, T. hứa quyết tâm học tập và không ra quán chơi nữa với điều kiện bố mẹ phải mua máy vi tính. Nào ngờ có máy rồi, T. càng mê hơn. Cả tháng nay T. nhốt mình trong phòng để chơi game, bỏ ăn, bỏ uống, người lơ mơ điên dại.

Phòng bên là Đ., 17 tuổi, quận Thanh Xuân, Hà Nội, cũng vừa được gia đình “”cưỡng chế” nhập viện vì nghiện chơi game thâu đêm suốt sáng. Ở “tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” nhưng Đ. xanh tái, nhợt nhạt, da bọc xương. Bố Đ. cho biết, cậu chơi game từ ngày còn là học sinh THCS. Sợ con nghiện game bỏ nhà đi lang thang theo đám bạn xấu, ông gom góp tiền lương hưu mua cho con chiếc máy tính về nhà nối mạng. Ban đầu T. còn giúp bố mẹ nấu cơm, bán hàng... nhưng sau nghiện game quá, đến cơm cậu cũng chỉ ăn một vài miếng cho xong rồi lại chúi mũi vào trò chơi “Kiếm thế”...

Bác sĩ Dũng cho biết, gần đây số bệnh nhân nghiện game đến khám, tư vấn rất đông. Người bệnh thuộc rất nhiều lứa tuổi, từ học sinh, sinh viên đến cả cán bộ công nhân viên chức. Người nghiện không kiểm soát được hành vi của mình, họ thường bị suy nhược, lo lắng, sợ hãi, không muốn giao tiếp với những người khác, hoảng hốt và kích động. Ngoài ra còn có chứng khó ngủ, tay bị run và tê cứng. Có nhiều trường hợp “nghiện quá độ” đến mức bỏ học, bỏ công việc, trầm uất, tự tử, thậm chí giết người...

Khó như cai nghiện ma túy

Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn, Viện phó Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia, cho biết game online là “chất” gây nghiện mạnh tương đương với một số loại ma túy tổng hợp.

Bác sĩ Dũng phân tích, cơ chế gây nghiện của game là sự biến đổi cảm xúc sinh học gây đột biến. Bệnh thường có bốn mức độ: chơi cho vui; chơi từng đợt dẫn tới lạm dụng và trở thành con nghiện; sao nhãng mọi thứ, chỉ chú tâm vào ánh sáng của máy vi tính; tách mình khỏi thế giới bên ngoài, trở thành kẻ tâm thần, tự kỷ.... Thực tế, đã có không ít trường hợp bị đột quỵ, chết trên bàn game vì chơi quá nhiều.

Quá trình điều trị rất lâu dài và tốn kém, người bệnh được cho uống thuốc ổn định tâm lý kết hợp với các phương pháp trị liệu. Tuy nhiên, ngay sau khi cắt được cơn nghiện game, người bệnh phải chuyển hẳn môi trường sống, tránh xa máy vi tính và nên tích cực tham gia các hoạt động thể thao lành mạnh. Việc điều trị phải đảm bảo đa trị liệu, có sự kết hợp tích cực của gia đình, thầy cô, bạn bè... Bệnh nhân dễ tái nghiện nếu gia đình không chăm sóc, phòng chống cẩn thận.

Bác sĩ Dũng cho biết, cộng đồng "dân nghiện" Internet bao gồm: 70% là con nghiện chơi game, 10% là con nghiện chat, 5% lên mạng để đánh bài và 15% còn lại muốn "đánh bóng" mình. Người nghiện Internet đa phần là giới trẻ. Họ bỏ ăn, ngủ, học hành, suốt ngày đêm miệt mài với online. Số người nghiện Internet hiện vẫn không ngừng tăng lên.

Tường Linh
(datviet)
Tôi 32 tuổi (nữ), khi đi xét nghiệm sức khỏe, tôi nhận được kết quả ghi như sau: HbsAg (NEG S/CO = 0,45), Antin HBs (NEG 0.49 mIU/ml), và kết luận cần đi tiêm ngừa viêm gan siêu vi B. Hiện tôi đang dự định có thêm đứa con thứ hai. Theo tôi biết thì nếu muốn tiêm ngừa bệnh này phải tiêm trước khi mang thai ít nhất 3 tháng. Như vậy trường hợp này nếu tôi không đi tiêm ngừa thì em bé sinh ra có bị bệnh gì không? (L.T.Thảo, Q.7, TP.HCM)

- Theo kết quả xét nghiệm thì chị không mắc viêm gan B và cũng chưa từng mắc viêm gan B trước kia. Cần nói: việc tiêm vắc-xin ngừa viêm gan B không nhất thiết phải tiêm trước khi có thai 3 tháng, mà chỉ khi đang mang thai hay đang cho con bú thì có lời khuyên là không nên tiêm nếu như không thật sự cần thiết. Về khoa học thì đây là loại vắc-xin không có vi-rút sống mà chỉ là các thành phần của vi-rút nên không thể gây bệnh.

Nếu chị không chủng ngừa mà mang thai thì khả năng chị lây bệnh cho em bé cũng rất thấp, vì hiện nay trong người chị không có vi-rút gây bệnh. Chỉ một tình huống bé có thể mắc bệnh là khi trong lúc mang thai chị mắc bệnh viêm gan B.

Nói tóm lại, chị có thể tiêm viêm gan B nếu chị chưa có thai và nhớ cho bé chích ngừa viêm gan B đúng với lịch tiêm chủng.

Bác sĩ Trương Hữu Khanh

(Bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM)
Nhiều bệnh nhi bị hen suyễn từ năm này qua năm khác nhưng bác sĩ (BS) lại chẩn đoán viêm tiểu phế quản (VTPQ), viêm phế quản (VPQ).

Từ đó, bệnh nhân cứ “trút tiền” theo toa BS. Khổ nỗi, càng uống thuốc, trẻ càng còi cọc, xanh xao, rối loạn đường tiêu hóa, tiêu chảy… Đặc biệt, thời tiết đang giao mùa, bệnh hô hấp gia tăng, nên việc chẩn đoán nhầm rất dễ xảy ra.

Tiêu chảy vì thuốc kháng sinh

Mỗi ngày, BV ĐH Y Dược TP.HCM phát hiện khoảng 15 BN bị hen suyễn, nhưng các cơ sở y tế lại chẩn đoán nhầm VTPQ, VPQ dạng khò khè hoặc dạng tái đi tái lại. Cầm một xấp sổ khám bệnh, hóa đơn thuốc… mẹ cháu H.T.K., bốn tuổi bức xúc: “Bé K. uống thuốc điều trị VTPQ lâu nay nhưng không giảm bệnh. Mỗi ngày, mua hết 80.000đ đồng thuốc kháng sinh, nhưng lại mắc thêm bệnh tiêu chảy. Bây giờ mới biết cháu bị hen suyễn chứ không phải VTPQ như BS trước đó đã chẩn đoán”.

PGS-TS-BS Lê Thị Tuyết Lan - Trưởng khoa Thăm dò chức năng hô hấp, BV ĐH Y Dược TP.HCM kiêm Chủ tịch Hội Hô hấp TP.HCM cho biết, bé K. bị tiêu chảy do các vi khuẩn có lợi trong đường ruột bị “tận diệt”, hậu quả của việc lạm dụng kháng sinh. Đó là chưa kể, nhiều trẻ đến khám bệnh đều bị chậm lớn, còi cọc, xanh xao, kém ăn… vì dùng nhiều thuốc kháng sinh. Việc chẩn đoán sai còn khiến nhiều bệnh nhi phải sử dụng thêm thuốc corticoid dạng uống để chữa VTPQ. Nếu uống thường xuyên loại thuốc này, người bệnh sẽ bị loét dạ dày, tổn thương đường tiêu hóa.

Một bệnh nhi đang điều trị hen suyễn tại BV Đại học Y dược TP.HCM


ThS-BS Trần Anh Tuấn – Trưởng khoa Hô hấp, BV Nhi Đồng I TP.HCM, giải thích, bệnh VTPQ có những triệu chứng lâm sàng tương tự như bệnh hen suyễn. Ngoài ra, chúng còn có liên hệ mật thiết với nhau, khoảng 30% trẻ bị VTPQ sẽ chuyển thành bệnh hen suyễn. Điều đáng nói, bệnh VTPQ chỉ xảy ra chủ yếu ở trẻ dưới hai tuổi. Nếu trẻ trên ba tuổi vẫn có triệu chứng khò khè hơn một lần trong một tháng hoặc tái đi tái lại hơn ba lần, BS nên nghĩ ngay đến bệnh hen suyễn.

Mặt khác, với những BN lần đầu tiên lên cơn hen suyễn, BS cũng khó phân biệt giữa hen suyễn với VTPQ. Tuy nhiên, nếu tinh ý, BS sẽ cho bệnh nhi xông hơi, phun khí dung – thuốc giãn phế quản sẽ thấy bệnh thuyên giảm. Lúc đó, có thể nghĩ đến hen suyễn, dù đây là lần đầu tiên bệnh nhân lên cơn.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Một bệnh nhi đang điều trị hen suyễn tại BV Đại học Y dược TP.HCM



Ngoài nguyên nhân do tay nghề của BS, một số phụ huynh lại mang tâm lý sợ con bị gắn “mác” hen suyễn, do quan niệm sai lầm rằng hen suyễn là bệnh lây lan, không điều trị được. Trong khi, bệnh hen suyễn không phải là bệnh lây nhiễm, chủ yếu do di truyền và ô nhiễm môi trường. Thực tế, không ít BS thay vì ghi rõ mắc bệnh hen suyễn đã kê toa: “VPQ dạng suyễn, VPQ do co thắt, VPQ do dị ứng” (những thuật ngữ này đã bị WHO khuyến cáo không được sử dụng vì như vậy người bệnh sẽ lơ là trong việc điều trị bệnh hen suyễn).

Giao mùa rất dễ mắc hen suyễn


Hen suyễn là bệnh mạn tính đường hô hấp, thường gặp nhất ở trẻ em, chiếm từ 1-30% dân số. 27% trẻ em từ 12-13 tuổi có triệu chứng “khò khè”. Một nghiên cứu mới đây của BV Nhi Đồng I TP.HCM cho thấy, bệnh nhi hen suyễn chiếm 20-25% trong số các bệnh hô hấp điều trị nội trú và khoảng 29,1% trẻ dưới 15 tuổi bị hen suyễn. Theo BS Trần Anh Tuấn, thời tiết giao mùa là yếu tố hàng đầu khiến trẻ dễ lên cơn hen suyễn. Mỗi năm, số trẻ đến khám hen suyễn gia tăng, cụ thể năm 2009 là 21.000 lượt, tăng 6.000 lượt so với năm 2008.

Trẻ bị hen suyễn có nhiều nguyên do như: di truyền, béo phì, sinh non, từng bị bệnh hô hấp nặng, ô nhiễm môi trường. Những gia đình không có người mắc bệnh đường hô hấp thì 20-30% các bé sẽ khỏi hen suyễn khi quá ba tuổi. PGS Tuyết Lan khuyên, nên điều trị cho trẻ trước tuổi dậy thì vì đây là giai đoạn nội tiết tố tăng trưởng mạnh khiến hiệu quả điều trị cao hơn. Nguyên tắc điều trị hiện nay là dùng thuốc để ngừa cơn hen chứ không đợi lên cơn rồi mới cắt cơn, vì như vậy trẻ dễ tử vong.

Hàng năm, bệnh hen suyễn khiến 100.000 người tử vong trên toàn cầu do không phát hiện hoặc điều trị không đúng cách. Cha mẹ cần đưa trẻ đến BV nếu thấy những dấu hiệu bất thường: ho khò khè, khó thở khi chạy giỡn hay hít phải lông chó mèo, cảm giác "nặng ngực" vào ban đêm hay sáng sớm, triệu chứng tái đi tái lại… Bệnh nhân mắc hen suyễn không nên tham gia những môn thể thao có sự vận động mạnh; phải luôn mang theo thuốc xịt mũi cắt cơn hen và phải xịt 20 phút trước khi chơi những môn thể thao.

Văn Thanh
(PNO)
Loại hóa chất mà các hộ bán gà thịt dùng để nhuộm gà vàng ruộm, bắt mắt thực chất là một loại hóa chất công nghiệp cùng với vec-ni dùng làm bóng gỗ, có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bột hóa chất vàng sắt dễ dàng mua được ở các cửa hàng sơn công nghiệp với giá rẻ từ 9 - 15 nghìn đồng/lạng.





Khi đem mẫu bột này ra hỏi các chủ cửa hàng bán sơn trên phố Hàng Hòm (Hoàn Kiếm, Hà Nội), chúng tôi được biết, nó có tên là phẩm vàng sắt - một loại hóa chất công nghiệp cùng với vec-ni dùng làm bóng gỗ, có nguồn gốc từ Trung Quốc.

“Đây là phẩm công nghiệp, một loại phẩm dùng để nhuộm gỗ cho đồng màu trước khi phủ vec – ni bên ngoài cho bóng. Phần lớn cánh thợ mộc thường mua phẩm vàng sắt về với mục đích nhuộm gỗ, còn nhiều người khác tới hỏi mua với mục đích gì thì tôi không thể biết”, chủ cửa hàng sơn Đ.B tại Hàng Hòm thẳng thắn nói.

Chủ cửa hàng này còn kể: Ngày xưa, nhiều người còn mua phẩm gụ ở đây về làm giả kem sôcôla. “Thế mới nguy hiểm, thế mới sợ”, anh lắc đầu lè lưỡi.

Dạo một vòng quanh các cửa hàng sơn khác, khi mới hỏi mua phẩm  vàng sắt, ai cũng vồn vã mời chào “lấy bao nhiêu, số lượng nhiều không”, nhưng khi ngỏ lời, nói mục đích nhuộm gà, các ông chủ, bà chủ tại đây đều lắc đầu, xua tay: “Không bán”.
Thắc mắc điều này với anh Nguyễn Xuân An, một cư dân sống gần đó cho biết: “Những người bán hàng ở đây đều hiểu tác hại của các loại sơn công nghiệp, nên sẽ không bán nếu nói mua về làm gà. Người buôn gà không ai “khai” thật như thế cả”.

Giá của bột vàng sắt này giao động từ 9.000 – 15.000 đồng/lạng. Tại các cửa hàng phẩm trên phố Hàng Buồm (Hoàn Kiếm, Hà Nội), màu thực phẩm dùng để “nhuộm” màu sắc cho gà, vịt, sản xuất tại Thái Lan được rao bán với giá 330.000 đồng/kg. Như vậy, nếu đem ra so sánh thì giá của bột vàng sắt rẻ hơn màu thực phẩm gấp 3 – 4 lần. Chính vì lợi nhuận kinh tế nên nhiều chủ buôn bán gà vẫn “nhắm mắt” bỏ qua lợi ích, sức khỏe NTD để mua loại bột công nghiệp nguy hiểm này về tẩm nhúng gà trước khi đem bán.

Theo BS. Nguyễn Xuân Mai – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh Y tế công cộng Tp.HCM: Thực phẩm cần phải cho gia vị, cho màu sắc là đúng nhưng quan trọng là cho màu gì và sử dụng như thế nào. Nếu người bán dùng màu thực phẩm thì họ hoàn toàn không có lỗi nhưng nếu là màu công nghiệp, màu tạp nham thì nghiêm cấm, không được sử dụng.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Sự khác biệt rõ rệt giữa một con gà chưa nhuộm hóa chất (trắng) và một con gà đã hoàn thành xong công nghệ ngâm tẩm (vàng) (Ảnh chụp từ clip)



BS. Nguyễn Xuân Mai nhấn mạnh: Những màu công nghiệp đều rất độc và đã được cấm dùng trong thực phẩm. Lý do độc là do không được tinh chế, không được tinh khiết, lẫn nhiều những hợp chất hữu cơ, những kim loại chứa nhiều chất độc hại. Gà, vịt có chất mỡ, chất béo nên sẽ thấm hút hóa chất rất nhanh. Khi màu công nghiệp được bôi, quết hoặc ngâm tẩm vào gà vịt, NTD ăn phải sẽ bị độc tiềm ẩn, độc tích lũy, về lâu dài rất nguy hại tới sức khỏe.

Dù chỉ với hàm lượng rất nhỏ thì hóa chất ấy cũng ảnh hưởng tới sức khỏe con người và những người buôn bán thịt gà như thế là vô lương tâm. Tất cả những con gà, con vịt đã ngâm tẩm nhất thiết phải bị tiêu hủy.

Theo Bs Mai thì NTD khi ăn gà có chứa hóa chất này, nguy cơ độc hại rất lớn, đầu tiên là độc gan, thứ hai là độc thận, thứ ba là độc tế bào, gây rối loạn tế bào, có thể gây nên ung thư, quái thai,...

Còn TS.Trịnh Lê Hùng, khoa Hóa, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định: Về nguyên tắc, những gì không thuộc qui định sử dụng cho an toàn thực phẩm thì không được dùng trong thực phẩm. Sơn công nghiệp thì không thể làm phẩm được, đó là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. Tùy từng hàm lượng, nồng độ mà mức độ độc hại sẽ khác nhau. Ngoài việc nguy hiểm khi ăn trực tiếp vào cơ thể người, các chất sơn, các chất hữu cơ khi bay lên còn gây ô nhiễm về mùi.

Ông Hùng cắt nghĩa tên gọi bột “vàng sắt” như sau: Nếu bột công nghiệp này có thành phần là sắt thì sắt vào cơ thể con người nhiều có thể ảnh hưởng tới dạ dày, đến hệ tiêu hóa. Thông thường, sắt được dùng rất ít, sử dụng nhất định trong liều lượng cho phép của bác sĩ, không thể uống tự do. Nếu “bột vàng sắt” với nghĩa là hóa chất có màu vàng giống sắt thì khi sử dụng trong thực phẩm phải có qui định rõ ràng, phải có sự cho phép của viện vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ông cũng bày tỏ lo ngại, có thể hiện nay, nhiều loại gà chết, màu xám xịt, nhiều người buôn bán thịt gà đã dùng cách nào đó để làm thịt gà có màu sắc đẹp lên, bắt mắt và khiến NTD không thể nhận biết được. Tuy nhiên, "điếc không sợ súng", nhận thức của nhiều người dân về hiểm họa từ gà tẩm màu hóa chất còn khá hời hợt. Tiến sĩ Hùng khuyên NTD khi đi mua gà nên mua theo mầu tự nhiên, tránh những màu lạ hay màu sắc pha tạp.

“Trong thực phẩm, không nên mua màu mè mà nên mua thực theo màu sắc vốn có của nó, trừ trường hợp thịt chín có thể đổi màu sắc chút ít thì khác, còn nếu thịt tươi sống thì tốt nhất không nên có màu”, ông Hùng khuyến cáo.

Tiểu Phương - Trọng Tùng
(vtcnews)
Tiến sĩ Quản Hoàng Lâm, Giám đốc Trung tâm đào tạo nghiên cứu Công nghệ phôi (Học viện Quân y) cảnh báo, hiện nhiều nam giới có số lượng tinh trùng ngày càng giảm sút, do đó tỷ lệ nam giới bị vô sinh có xu hướng tăng lên ngang bằng với nữ giới.
Theo đó, có đến 40% trường hợp vô sinh là do người chồng, 40% do người vợ và 20% do cả hai người. Trước đây, nam giới bị coi là kém khả năng sinh sản khi mật độ tinh trùng dưới 60 triệu/ml tinh dịch nhưng hiện nay, ngưỡng này giảm xuống còn 20 triệu/ml. Thời gian được đánh giá là hiếm muộn hoặc vô sinh là sau khi kết hôn được một năm không sử dụng các biện pháp tránh thai mà vẫn không có con.

Các bác sĩ cho rằng, các yếu tố như môi trường ô nhiễm, nhiều hóa chất, nam giới sử dụng quá nhiều rượu, bia, thuốc lá và những thói quen sinh hoạt có hại như thức khuya, dùng quá nhiều thực phẩm có chất bảo quản, đồ ăn nhanh… là những nguyên nhân chính gây nên hiện tượng này.

Ngoài ra, việc ngồi quá lâu trong trang phục bó sát, ngồi trên thảm, đệm mút dày hoặc tắm nước quá nóng làm tăng nguy cơ nóng bộ phận sinh dục, tăng nhiệt độ ở bìu cũng làm giảm sút khả năng sinh sản ở nam giới. Do đó, nam giới khi phải ngồi làm việc lâu nên thường xuyên đứng dậy nghỉ ngơi một lúc, chọn lựa các loại quần thoải mái, thoáng và có chế độ sinh hoạt điều độ, hạn chế uống rượu bia, hút thuốc lá…

Tại Học viện Quân y, qua nghiên cứu trên 50 người bị vô tinh trùng - vô sinh nguyên phát (có tuổi đời trung bình là 36 tuổi), các chuyên gia phát hiện ra ba dạng đứt đoạn nhiễm sắc thể Y có thể gây vô sinh ở nam giới. Trong đó, chỉ một dạng có thể điều trị nhưng nếu sinh con trai thì đứa trẻ sẽ bị hiếm muộn giống bố, thậm chí là nặng hơn.

Thùy Minh
(vnmedia)
PN - Diễn đàn “Luật hiện hành liên quan đến HIV/AIDS và sức khỏe thanh thiếu niên đường phố” do Trung tâm thực hành công tác xã hội (Trường ĐH Mở TP.HCM) phối hợp với Tổ chức Cứu trợ trẻ em tổ chức vào ngày 21/7 tại Trung tâm Thanh thiếu niên miền Nam (212 - 214 Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3).

Mục tiêu của diễn đàn nhằm tạo điều kiện cho thanh thiếu niên đường phố nắm bắt những quy định, chính sách hiện hành về HIV/AIDS và Luật Phòng chống HIV/AIDS. Đồng thời diễn đàn cũng trao đổi về các chương trình hỗ trợ điều trị HIV/AIDS, cung cấp các địa chỉ chuyển gửi điều trị HIV/AIDS.

Q.Mai
(phunu-online)
Anh tôi bị bỏng nặng do nước sôi đổ vào người. Điều dưỡng nói phải đề phòng nhiễm khuẩn vết bỏng. Vì sao lại bị nhiễm khuẩn vết bỏng và cách phát hiện như thế nào thưa bác sĩ?

Khi bị bỏng, da của bệnh nhân bị phỏng hoặc trầy, loét mất hàng rào bảo vệ cơ thể nên vi khuẩn trên da bệnh nhân và môi trường bệnh viện dễ dàng thâm nhập vào người bệnh qua vết bỏng. Tổn thương bỏng thường có mô hoại tử và nhanh chóng bị nhiễm khuẩn. Vi khuẩn gây nhiễm khuẩn hay gặp là Streptococcus và Staphylococcus, P. aeruginosa, Pseudomonas, nấm Candida albicans, Aspergillus, virus Herpes simplex... Dấu hiệu của nhiễm khuẩn vết bỏng gồm: sự thay đổi độ dày, từ một vết bỏng dày từng phần sang thành dày toàn bộ; thay đổi màu sắc như vết bỏng màu nâu tối hay chuyển màu đen, tại mô bình thường ở bờ vết thương xuất hiện màu đỏ mới hoặc phù nề, mô hoại tử bị tách ra khỏi mô dưới da và thoái hóa vết thương với sự xuất hiện một mô hoại tử mới; xuất hiện màu xanh tại vết thương; biến đổi thân nhiệt, giảm huyết áp, tim đập nhanh, giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu và suy thận... Nắm vững các triệu chứng trên là bạn có thể phát hiện sớm nhiễm khuẩn vết bỏng.

BS. Nguyễn Bằng Việt
(suckhoe&doisong)
Có thể tiến hành riêng lẻ hoặc phối hợp phương pháp phẫu thuật, xạ trị và hoá trị để điều trị ung thư phổi.

   * Lên kế hoạch điều trị
   * Ung thư tế bào nhỏ
   * Ung thư tế bào lớn (không nhỏ)
   * Thoả thuận đồng ư điều trị
   * Lợi và hại của phương pháp điều trị
   * Ư kiến khác

LÊN KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ


Bác sỹ sẽ lên kế hoạch điều trị cho bạn sau khi cân nhắc một số yếu tố trong đó có:

   * T́ình trạng sức khoẻ của bạn
   * Loại ung thư (tế bào nhỏ hoặc tế bào không nhỏ) và kích cỡ khối u
   * Ung thư đă lây lan ra ngoài phổi chưa (giai đoạn) .

Bạn có thể thấy bệnh nhân khác trong bệnh viện áp dụng phương pháp điều trị không giống bạn. Điều này v́ bệnh của họ thuộc loại khác và nhu cầu bản thân họ khác với bạn. Nếu bạn có bất cứ câu hỏi nào về việc điều trị, đừng ngại hỏi bác sỹ hoặc y tá đang chăm sóc cho bạn. Tốt nhất bạn nên chuẩn bị trước các câu hỏi sẽ hỏi bác sỹ, và có bạn thân hoặc người nhà đi cùng.

Phần này chủ yếu nói về các phương pháp điều trị cho riêng ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi tế bào không nhỏ, do có sự khác biệt. Chi tiết về phương pháp điều trị sẽ được nêu trong phần điều trị.

UNG THƯ TẾ BÀO NHỎ

Hoá trị  là phương pháp chính để điều trị ung thư tế bào nhỏ. Hoá trị giúp nhiều bệnh nhân kéo dài sự sống và kiểm soát các triệu chứng bệnh tốt hơn. Hoá trị có thể được thực hiện riêng lẻ, hoặc trước khi xạ trị. Điều trị phối hợp hoá trị và xạ trị gọi là hoá xạ trị.

Phẫu thuật  không thường được áp dụng để điều trị ung thư tế bào nhỏ, trừ trường hợp phát hiện bệnh từ rất sớm. Điều này v́ các tế bào ung thư thường đă lây lan sang các bộ phận khác trong cơ thể trước khi phát hiện bệnh, ngay cả khi không nh́n thấy được trên phim chụp.

Sau khi điều trị, bác sỹ có thể tiến hành các phương pháp chụp và kiểm tra như khi bạn chẩn đoán bệnh để theo dơi mức đáp ứng điều trị của tế bào ung thư. Có trường hợp hoá trị có tác dụng rất hiệu quả đối với bệnh nhân ung thư phổi tế bào nhỏ, bác sỹ sẽ tiến hành xạ trị cho phần năo (gọi là xạ trị năo dự pḥng) để giảm nguy cơ tế bào ung thư lây lan sang năo.

Đối với trường hợp ung thư giai đoạn sau, xạ trị cũng rất hữu hiệu trong việc giúp giảm nhẹ các triệu chứng bệnh như các cơn đau.

UNG THƯ TẾ BÀO KHÔNG NHỎ

Phẫu thuật có thể giúp cắt bỏ khối u ung thư phổi tế bào không nhỏ ở giai đoạn đầu (1 và 2). Nếu người bệnh có vấn đề khác về sức khoẻ hoặc không đủ sức để tiến hành phẫu thuật, có thể áp dụng xạ trị để điều trị khối u phổi. Có thể tiến hành hoá trị trước khi phẫu thuật và/hoặc xạ trị. Phương pháp này gọi là hoá trị hỗ trợ trước - neo-adjuvant chemotherapy. Cũng có thể tiến hành hoá trị sau khi phẫu thuật (hoá trị hỗ trợ - adjuvant chemotherapy) để giảm bớt nguy cơ ung thư tái phát.

Nếu ung thư phổi tế bào không nhỏ đă lây lan sang các mô sát phổi hoặc vào các hạch bạch huyết, có thể điều trị bằng:

   * Xạ trị
   * Xạ trị phối hợp hoá trị
   * Phẫu thuật.

Trường hợp ung thư phổi tế bào không nhỏ đă di căn sang các bộ phận khác trong cơ thể hoặc làm tổn thương một hoặc nhiều thuỳ phổi, có thể dùng xạ trị để làm teo bớt khối u và giảm bớt các triệu chứng bệnh. Có thể điều trị bằng hoá trị trước hoặc sau khi xạ trị, phương pháp này đă giúp làm teo bớt khối u ở một số bệnh nhân.  Mục đích của các phương pháp này là giúp kiểm soát các triệu chứng bệnh và kéo dài cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho người bệnh. Phương pháp xạ trị cũng rất hiệu quả trong việc làm giảm các triệu chứng như đau đớn.

CHUẨN Y PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Trước khi bạn tiến hành điều trị, bác sỹ sẽ giải thích mục đích của đợt điều trị cho bạn và thường sẽ yêu cầu bạn kư bản cam đoan đồng ư để nhân viên bệnh viện tiến hành điều trị cho bạn. Bác sỹ sẽ không được tiến hành bất cứ biện pháp điều trị nào mà không được phép của bạn, và trước khi kư bản cam đoan bạn cần nắm đầy đủ các thông tin về:

   * Loại và mức độ điều trị theo tư vấn của bác sỹ
   * Mặt lợi và bất lợi của phương pháp điều trị
   * Có hay không các phương pháp điều trị thay thế khác
   * Bất cứ nguy cơ rơ rệt hay ảnh hưởng phụ của phương pháp điều trị.

Nếu không hiểu bất cứ điều ǵ, hỏi ngay nhân viên y tế để được giải thích lại. Một số phương pháp điều trị ung thư rất phức tạp, do vậy việc bệnh nhân đề nghị được giải thích lại là việc thường gặp.

Sẽ là ư hay nếu bạn có bạn bè hoặc người thân cùng đến khi bác sỹ giải thích quá tŕnh điều trị, họ sẽ giúp bạn ghi nhớ đầy đủ hơn những thông tin đưa ra. Cũng có thể tốt hơn nêu bạn ghi lại danh sách các câu hỏi cần hỏi trước khi bạn tới gặp bác sỹ.

Bệnh nhân thường cảm thấy các nhân viên y tế quá bận rộn để trả lời các câu hỏi đưa ra, nhưng bạn cũng cần nắm rơ thông tin về tác động của phương pháp điều trị đối với bạn và các nhân viên y tế cần sẵn ḷng dành thời giờ giúp bạn giải đáp các câu hỏi.
Bạn cũng có thể đề nghị có thêm thời gian suy nghĩ trước khi quyết định có điều trị hay không nếu bạn chưa thể quyết định ngay khi bác sỹ mới giải thích lần đầu cho bạn. Bạn cũng có thể quyết định không điều trị, và nhân viên y tế sẽ giải thích cho bạn những vấn đề xảy ra nếu không điều trị. Bạn cần thông báo cho bác sỹ hoặc y tá chịu trách nhiệm ngay về quyết định của bạn để họ ghi vào y bạ. Bạn không cần nêu lư do không tiến hành điều trị, nhưng bạn nên cho nhân viên y tế biết sự lo ngại của bạn để họ có thể đưa ra lời khuyên tốt nhất cho bạn.

LỢI VÀ HẠI CỦA PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ


Nhiều bệnh nhân rất sợ việc tiến hành điều trị ung thư, đặc biệt do các tác dụng phụ gặp phải. Một số bệnh nhân khác thường hỏi việc ǵ sẽ xẩy ra nếu họ không điều trị.
Mặc dù hầu hết các phương pháp điều trị đều có tác dụng phụ, nhưng việc nắm rơ những ảnh hưởng này và các biện pháp ngày càng tiên tiến để giảm bớt hoặc tránh được các tác dụng này đă giúp hầu hết các phương pháp điều trị đều trở nên dễ dàng hơn. Việc điều trị có thể được chỉ định do nhiều lư do khác nhau và lợi ích tiềm năng rất khác nhau phụ thuộc vào từng trường hợp riêng lẻ. Đối với bệnh nhân giai đoạn đầu của ung thư phổi tế bào không nhỏ th́ việc phẫu thuật là nhằm mục tiêu chữa lành bệnh ung thư. Đôi khi bác sỹ sẽ chỉ định điều trị bổ sung  để tránh nguy cơ tái phát bệnh.
Nếu ung thư đă ở giai đoạn sau th́ việc điều trị chỉ là để kiềm chế bệnh, nhằm mục tiêu cải thiện các triệu chứng bệnh và cuộc sống tốt hơn cho người bệnh. Tuy nhiên, đối với một số người việc điều trị sẽ không đem lại kết quả và họ sẽ phải chịu các tác dụng phụ mà không được hưởng lợi ích ǵ từ việc điều trị.

Nếu bạn được chỉ định điều trị để chữa lành bệnh ung thư, sẽ không khó khăn cho việc quyết định. Tuy nhiên, nếu việc chữa lành là vô vọng và điều trị chỉ giúp kiểm soát căn bệnh trong một khoảng thời gian th́ việc đưa ra được quyết định sẽ rất khó khăn.
Việc đưa ra quyết định điều trị trong những t́nh huống này sẽ là rất khó khăn, và bạn có thể cần phải thảo luận chi tiết với bác sỹ. Nếu bạn chọn không điều trị, bạn vẫn có thể được chăm sóc hỗ trợ (giảm nhẹ), sử dụng các loại thuốc để kiểm soát các triệu chứng bệnh.

KIẾN BỔ SUNG

Thông thường các bác sỹ chuyên khoa về ung thư làm việc theo nhóm và họ sử dụng hệ thống hướng dẫn điều trị quốc gia để quyết định về phương pháp điều trị thích hợp nhất cho bệnh nhân. Tuy vậy, bạn có thể vẫn cần tham khảo ư kiến chuyên môn khác. Bác sỹ chuyên khoa hoặc bác sỹ đa khoa có thể giới thiệu bạn với một bác sỹ chuyên khoa khác để xin ư kiến tham khảo nếu bạn thấy cần. Việc lấy thêm ư kiến tham khảo có thể làm chậm lại việc điều trị, do vậy bạn và bác sỹ của bạn phải rất  chắc chắn về việc cần thiết phải lấy thêm ư kiến này.

Khi đến nghe ư kiến của bác sỹ khác, nên có bạn hoặc người thân đi cùng, có sẵn danh mục các câu hỏi để đảm bảo các vấn đề bạn quan tâm được thảo luận trong buổi gặp.

Nguồn: CancerBACUP
Biên dịch: Nguyễn Thị Thu Anh
Cập nhật: 06/09/2005

ungthu.net
Ung thư phổi là kẻ giết người thầm lặng bởi nó phát triển trong một thời gian dài.

Những biểu hiện cần quan tâm lưu ý

Thông thường, những triệu chứng của ung thư phổi chỉ xuất hiện trong những giai đoạn tiến triển. Một số những triệu chứng thường gặp gồm:

- Ho dai dẳng

- Chảy nước dãi và ho ra máu

- Suy giảm thể lực khi tập luyện

- Khó thở

- Đau ngực

- Ăn không ngon

- Sút cân

Bệnh nhân có thể gặp những triệu chứng ở những bộ phận khác khi ung thư đã di căn. Đó là đau xương (di căn vào xương); đau đầu, hoa mắt, chóng mặt (di căn vào não) và bị vàng da (di căn vào gan).

Nếu thấy xuất hiện những triệu chứng này, bạn nên gặp bác sỹ để tiến hành chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.

Chẩn đoán và theo dõi bệnh

Rất nhiều bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư phổi trong khi thực hiện kiểm tra y tế mà không gặp phải những triệu chứng trên. Sự chuẩn đoán sớm ung thư phổi là một điều tối quan trọng trong việc nâng cao khả năng sống sót. Điều trị ở những giai đoạn đầu của ung thư có nhiều lựa chọn, ít phẫu thuật xâm lấn và khả năng sống sót cao hơn.

Nếu bạn bị nghi mắc hoặc có khả năng mắc ung thư phổi, bác sỹ sẽ hỏi về tiền sử bệnh và thực hiện kiểm tra thể chất. Những xét nghiệm cần cho việc chẩn đoán sâu hơn có hai vai trò. Một là để chẩn đoán chắc chắn và xác định loại tế bào. Hai là xác định giai đoạn của bệnh, xem có phải ung thư mới chỉ hạn chế trong phổi (giai đoạn đầu) hay đã di căn sang những bộ phận khác của cơ thể (giai đoạn tiến triển).

Những xét nghiệm kiểm tra bao gồm:

- Chụp X-quang ngực: Hình ảnh X-quang của phổi sẽ cho thấy những khối (nốt) bất thường.

- Chụp CT: Chụp CT sẽ cho thấy những thương tổn nhỏ ở phổi.

- Chụp xương: Chụp xương thường được dùng để xác định xem ung thư đã di căn vào xương hay chưa?

- Nội soi phế quản: Quá trình này được thực hiện bằng cách đưa một ống linh hoạt có gắn qua mũi hoặc miệng để xác định sự hô hấp ở phần đầu của phổi.

- Sinh thiết kim: Bác sỹ sẽ sử dụng hình ảnh X-quang hoặc CT để điều khiển một cây kim xuyên qua phổi, chọc vào những khối u (nốt) đáng nghi để lấy những tế bào phục vụ cho việc chẩn đoán ung thu phổi

- Chụp PET: Chụp PET được thực hiện để nâng cao khả năng phát hiện ung thư trong các nốt bạch huyết và cho hình ảnh trao đổi chất tương phản với những hình ảnh cấu trúc vật lý của cơ thể có được từ những xét nghiệm trước.

Sẽ phải mất nhiều thời gian để làm các xét nghiệm vì ung thư phổi không thể được chẩn đoán thông qua một xét nghiệm đơn lẻ.

Với những kết quả xét nghiệm, bác sỹ sẽ tư vấn cho bạn về phương thức điều trị, đó có thể là phẫu thuật, xạ trị và hóa trị, điều trị riêng lẻ hay kết hợp... tùy thuộc vào mức độ phát triển của khối u.

Những phương thức điều trị ung thư phổi

Phụ thuộc vào giai đoạn của ung thư phổi, mục đích của việc điều trị có thể là chữa khỏi, hạn chế sự phát triển bệnh để kéo dài sự sống hay kiểm soát các triệu chứng và ngăn ngừa các biến chứng để nâng cao chất luợng cuộc sống.

- Phẫu thuật: Chỉ một phần năm số bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư phổi có cơ hội tốt để có thể chữa khỏi; nghĩa là bệnh nhân sẽ không tái mắc ung thư sau khi phẫu thuật. Bác sỹ phẫu thuật sẽ tư vấn về các rủi ro, hiệu quả và lợi ích của việc phẫu thuật cũng như đánh giá thể trạng nếu bạn phù hợp cho việc phẫu thuật.

Một bác sỹ phẫu thuật lồng ngực được đào tạo đặc biết để thực hiện việc cắt bỏ khối u ở phổi. Trong suốt quá trình phẫu thuật, bác sỹ sẽ cắt bỏ một phần hoặc tất cả một bên phổi để loại bỏ ung thư. Điều này chỉ có thể làm được nếu ung thư phổi chưa di căn sang các hạch bạch huyết hay các cơ quan khác.

- Nội soi ngực camera: Đây là 1 cuộc phẫu thuật tạo vết thương nhỏ sử dụng một vài vết rạch nhỏ, khoảng từ 1-2 cm và không cần phải phẫu thuật lồng ngực. Bác sỹ sẽ đặt một ống mỏng có gắn camera thông qua một vết rạch và những dụng cụ phẫu thuật qua những vết rạch khác. Camera sẽ truyền hình ảnh của phổi đến màn hình và giúp bác sỹ điều khiển các dụng cụ trong suốt quá trình phẫu thuật.

- Phẫu thuật mở ngực: Kiểu phẫu thuật này cần một vết rạch lớn ở ngực, khoảng 10 đến 15 cm, để giúp bác sỹ có thể nhìn và xác định chính xác lá phổi rồi sau đó loại bỏ những mô phổi bị ung thư. Phương pháp này được thực hiện sau khi gây mê.

Những cách điều trị khác như hóa trị hoặc xạ trị có thể được sử dụng nếu như ung thư phổi tiến triển. Đối với những trường hợp ung thư phổi tiến triển thì phẫu thuật là cần thiết để hút hết những dịch thừa xung quanh phổi và tim cũng như khai thông đường thở bằng stent.

- Xạ trị: Xạ trị sử dụng những tia mang năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư. Nó chỉ tác động đến những tế bào trong vùng chiếu. Số lần thực hiện tùy thuộc vào kiểu loại và phạm vi ảnh hưởng của khối u, hàm lượng chiếu xạ và phản ứng của bệnh nhân sau khi điều trị.

- Hóa trị: Hóa trị sử dụng những hóa chất kết hợp để tiêu diệt những tế bào ung thư. Hóa chất được đưa qua đường máu và tác động lên các tế bào ung thư trên khắp cơ thể. Liệu pháp này có thể được thực hiện theo ngày, theo tuần hay theo tháng và có thế kéo dài trong nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm. Các tác nhân hóa học hiện đại có tác động mạnh, ít tác dụng phụ và bệnh nhân có thể chịu đựng tốt hơn.



Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Tập đoàn y tế Parkway
Vzone
Thời gian vừa qua, nhiều bạn đọc đã gọi điện cho chúng tôi hỏi về thông tin uống lá và cuống đu đủ với mật mía có thể chữa được bệnh ung thư không? Nếu thực sự lá và cuống đu đủ là phương thuốc chữa được bệnh ung thư thì đây là một tin vui quá lớn đối với người bệnh. Tin vui ở nhiều góc độ, vui vì nguyên liệu là lá và cuống đu đủ rất dễ tìm, dễ trồng. Từ cái dễ tìm, dễ trồng đó, thì chắc chắn nữa là giá cả của phương thuốc này cũng rẻ hơn, phù hợp cho người bệnh hơn là thuốc tây.

GS Nguyễn Xuân Hiền, nguyên trưởng khoa Da liễu BV Quân Y 108, người đang giữ công thức chữa bệnh nói trên cho biết: "công thức chế biến lá và cuống đu đủ thành "thần dược" chữa bệnh ung thư và cách sử dụng chúng được ông kế thừa từ bà Lê Thị Đặng ở số nhà 181 đường Phan Đăng Lưu, quận Phú Nhuận, TP. HCM. Năm 1998, chồng bà Đặng là ông Bùi Hoán, 80 tuổi bị mắc bệnh ung thư lưỡi giai đoạn III. ông Hoán thường xuyên phải vào Bệnh viện Thống Nhất và Bệnh viện Ung Bướu để xạ trị và găm kim phóng xạ nhưng bệnh tình vẫn không thấy tiến triển. Lúc đó khối u từ rìa lưỡi bên phải đã di căn xuống xương hàm, thủng ra má phải và liên tục trút máu tươi và mủ. ông Hoán thường xuyên phải chịu đau đớn, miệng mở ra khó khăn và gần như không nói được chuyện. Trong quá trình chữa bệnh cho chồng, bà Đặng đã phát hiện ra thông tin: Bài thuốc bắt nguồn từ một người úc tên là Stan Sheldon bị bệnh ung thư phổi trầm trọng, hai lá phổi đã nát, các bác sỹ đều kết luận ông không thể sống được nữa. Nhưng ông đã được một thổ dân úc tiết lộ phương thuốc cổ truyền của họ là dùng lá đu đủ nấu lấy nước uống. ông Sten Sheldon đã uống liên tục trong vòng hai tháng. Sau đó phổi của ông đã trong trở lại, sức khoẻ bình phục. ông Sten Sheldon đã chỉ cách chữa bệnh cho 16 người bị mắc một số bệnh ung thư khác nhau và họ đã khỏi hoàn toàn. Nhiều nhà khoa học và bác sỹ chuyên khoa ung thư ở úc, Mỹ đã nghiên cứu, thử nghiệm với một số bệnh nhân và họ đều thừa nhận công hiệu của lá đu đủ trong việc trị liệu ung thư.

Sau khi có phương thuốc này, bà Đặng đã sử dụng để điều trị cho ông Hoán uống nước từ lá đu đủ liên tục trong một thời gian thì thấy ông hết đau miệng, nói được, ngủ được, tiêu hoá tốt, da dẻ hồng hào. Đặc biệt các vết lở loét đã hoàn toàn lành lặn, các bộ phận nội tạng trong cơ thể rất ổn định, ông Hoán cũng khỏi hẳn bệnh ung thư lưỡi".

GS Nguyễn Xuân Hiền cho biết thêm, khi nhận được bài thuốc, ông là người dùng đơn thuốc này điều trị cho con gái của ông bị ung thư phổi, kết hợp cùng với tia xạ và hoá chất. Thời gian đầu cũng đỡ nhưng do bệnh của con gái ông đã quá nặng, chuyển sang giai đoạn di căn rồi nên bài thuốc không đem lại hiệu quả. Vợ ông là bà Tuất thường xuyên uống nước lá đu đủ nấu cũng đã chữa được bệnh viêm đại tràng mãn tính.

Theo những tài liệu ông Hiền cung cấp, công thức nấu lá đu đủ không mấy cầu kỳ: Có thể chọn bất kỳ một cây đu đủ (không nhất thiết phải là cây cái hay cây đực và xuất xứ trồng từ vùng nào, giống gì), lấy lá và cuống để tươi chứ không để khô, không dùng dao cắt, rồi đập cuống đu đủ cho dập, lá vò nhẹ. Sau đó bỏ tất cả vào nồi thuỷ tinh hoặc nồi Inốc, đường kính khoảng 30cm, cho càng nhiều càng tốt. Đổ xâm xấp nước, đun từ từ đến khi sôi, để sôi 10 phút, sau đó tắt lửa, đậy vung để nguội dần. Sau 2 giờ đun, rót nước ra uống. Cách uống như sau: Mỗi ngày uống 600ml chia 3 lần, mỗi lần 200ml, khi uống kèm theo 2 thìa cà phê mật mía, uống vào lúc no. Trong thời gian uống thứ thuốc này người bệnh không phải ăn kiêng. Ngoài ra cần lưu ý một số điều: Phải uống cùng với mật mía, uống liên tục từ 5-6 tháng trở lên mới có kết quả. Nước lá đu đủ để ngoài dễ bị thiu và lên men nên khi nấu xong cần cho vào tủ lạnh để uống dần.

Từ giữa năm 2000, GS Hiền đã phổ biến cách chữa bệnh này cho 12 bệnh nhân và thường xuyên theo dõi qua điện thoại kết quả điều trị của họ. GS đã tổng kết, có 4 trường hợp tốt (3 u phổi, 1 chửa trứng); 3 trường hợp bệnh đã thuyên giảm là u phổi; 1 trường hợp xấu; 3 người chết và 1 không có khả năng sống. Từ kết quả thu được, GS Hiền nhận xét: Các trường hợp uống thuốc không đem lại hiệu quả thường rơi vào những người bệnh nặng đã chuyển sang di căn; không uống đủ trong thời gian 5 - 6 tháng hoặc uống được một thời gian thì chuyển sang thuốc khác.

Tuy nhiên công dụng của lá đu đủ như thế nào, có chữa được bệnh ung thư hay không thì GS Hiền chưa dám khẳng định. GS mong muốn được các nhà khoa học, các cơ quan chuyên môn nghiên cứu xác minh cụ thể để có những kết luận chính thức về tác dụng của lá đu đủ trong phòng chống bệnh ung thư.

Trần Hương


(Theo Gold Coast Bulletin 04/92)
Dactai.com
Việc ăn nhiều và lâu ngày một số loại thức ăn như bắp cải, củ cải, hoa lơ, sắn... có thể gây bướu cổ. Trong các thực phẩm trên có thioglycosido, sẽ chuyển hóa thành chất gây ức chế tập trung iod ở tuyến giáp.

Bướu cổ đơn thuần là tình trạng tuyến giáp tăng về thể tích, lan tỏa hay khu trú không kèm theo dấu hiệu tăng hay giảm chức năng tuyến giáp, không viêm cấp, bán cấp, mạn tính hoặc ác tính. Nguyên nhân cơ bản gây bướu cổ là do thiếu iod. Hằng ngày, cơ thể cần 150-200 mcg iod nguồn gốc từ thức ăn, nước uống, không khí... Nếu sống ở vùng thiếu iod, nước uống, các loại động thực vật ở đó cũng thiếu iod, hậu quả là cơ thể không nhận đủ số lượng iod cần thiết.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ bướu cổ:

- Một số chất hòa tan trong nước: Trong nước ở một số vùng núi có nhiều canxi, ma giê, fluo..., làm cho nước có độ cứng cao, gây ảnh hưởng đến sự tổng hợp hoóc môn tuyến giáp và gây bướu cổ.

- Các thuốc thiocyanad, thionamid, cobalt... có thể gây ức chế tập trung iod và ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp hoóc môn tuyến giáp.

- Di truyền: Một số trường hợp có tính chất gia đình, thường do rối loạn tổng hợp hoóc môn tuyến giáp bẩm sinh. Bướu cổ thường kèm theo câm điếc, gọi là hội chứng Pendred do rối loạn hữu cơ hóa iod.

- Bệnh mạn tính: Các bệnh viêm đại tràng mạn, tiêu chảy mạn, bệnh thận mạn tính... gây rối loạn hấp thu và thải trừ iod.

- Tuổi: Trẻ em dễ bị bướu cổ hơn người lớn, đặc biệt là ở tuổi dậy thì vì lúc này, nhu cầu hoóc môn tuyến giáp ở ngoại vi rất cao.

- Giới: Bướu cổ thường gặp ở nữ, nhất là ở tuổi dậy thì, khi có kinh, khi cho con bú vì lúc đó nhu cầu hoóc môn tuyến giáp tăng và oestrogen ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa hoóc môn tuyến giáp.

- Điều kiện sinh hoạt: Nhà ở quá chật, thiếu vệ sinh, ăn uống thiếu thốn cũng là nguyên nhân thiếu iod và gây bướu cổ.

Tùy theo bướu cổ to hay nhỏ mà triệu chứng lâm sàng khác nhau. Bướu cổ to nhiều sẽ nhìn thấy ngay ở trước cổ; nếu to vừa cổ hơi đầy. Bướu cổ nhỏ hơn khó nhìn thấy ở tư thế bình thường nhưng khi ngửa cổ có thể nhìn thấy. Khi nuốt sẽ thấy bướu cổ di động theo nhịp nuốt. Bướu cổ đơn thuần thường thể tích to vừa, đồng đều, mềm, nhẵn. Đôi khi độ to của bướu thay đổi theo chu kỳ kinh nguyệt. Một số trường hợp thấy các biểu hiện thần kinh nhạy cảm: hồi hộp đánh trống ngực, nhịp tim nhanh... dễ nhầm với cường giáp trạng. Trường hợp bướu cổ quá to có thể gây chèn ép vào thực quản, khí quản gây khó nuốt, khó thở.

Bướu cổ đơn thuần ở trẻ em có thể tự khỏi, đôi khi gây một số biến chứng chèn ép vào khí quản, thực quản, đần, giảm trí tuệ, chậm phát triển thể chất, cường giáp.

Bệnh có thể điều trị nội khoa bằng cách dùng hoóc môn giáp trạng theo chỉ định của bác sỹ, đa số trường hợp diễn biến tốt. Phẫu thuật được chỉ định khi điều trị nội khoa lâu ngày không đỡ và trở thành bướu nhân. Bướu nhiều nhân, bướu quá to sẽ gây chèn ép làm khó nuốt, bướu lạc chỗ hoặc bướu có xu hướng ác tính.

Phòng bệnh:

- Ăn các thức ăn giàu iod như cá, mắm tôm, nước mắm..., nhất là các thức ăn có nguồn gốc từ biển. Dùng nước sạch, cải thiện điều kiện nhà ở. Trồng cây phủ xanh đồi trọc chống xói mòn, chữa trị kịp thời các bệnh tiêu hóa, dùng thuốc hợp lý...

- Dùng muối iod là phương pháp phòng bệnh rất tốt. Trộn iodua vào muối ăn theo tỷ lệ 1/20.000-1/40.000, hoặc theo Tổ chức Y tế Thế giới: 20 mg/kg. Ngoài ra, có thể dùng các loại dầu iod đường tiêm hoặc đường uống (lipiodol) theo chỉ định của bác sĩ để phòng bướu cổ đơn thuần.

BS Thu Trang, Sức Khỏe & Đời Sống


Bệnh chàm (hay còn gọi là bệnh eczema) có thể là do nhiều chất gây dị ứng gây ra. Theo trang tin Healthday.com, Tổ chức Nemours (một tổ chức chuyên chăm lo sức khoẻ mọi người ở Mỹ) đã liệt kê ra một số nguyên nhân dẫn đến bệnh chàm.

Cụ thể là: 1. Các tác nhân gây dị ứng như bọ chét trên lông thú, bụi, phấn hoa; 2. Lạnh, không khí khô hanh trong mùa đông hoặc đợt nóng khủng khiếp; 3. Da khô; 4. Dùng xà bông, bột giặt thô ráp; 5. Mặc trang phục được làm từ những sợi vải gây xốn da như len, vải được dệt không được mịn màng; 6.

Nước hoa, một số loại sản phẩm chăm sóc da, đặc biệt là những sản phẩm có chất cồn; 7. Khói thuốc lá; 8. Một số loại thực phẩm, thường là các chế phẩm từ sữa và có tính a-xít cao; 9. Bị căng thẳng, trầm cảm, ưu phiền; 10. Đổ mồ hôi nhiều.

H.Y
(xalotintuc)

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới




(TNO) Một nghiên cứu mới đây ở Nhật Bản cho thấy, trẻ em được ăn nhiều thực phẩm có chứa vitamin E có thể giảm tình trạng mắc eczema (bệnh chàm bội nhiễm).

Tiến sĩ Masayuki Okuda cùng cộng sự thuộc Đại học Yamagu (Nhật Bản) đã tiến hành nghiên cứu trên 396 trẻ từ 10 đến 13 tuổi ở xứ sở hoa anh đào.

Cuộc nghiên cứu tập trung vào mối liên hệ giữa lượng vitamin A, vitamin E trong cơ thể với nguy cơ mắc bệnh hen suyễn, bệnh eczema - hai bệnh dị ứng thường gặp ở trẻ nhỏ.

Theo đó, trẻ có hàm lượng vitamin E trong máu cao nhất thì nguy cơ mắc bệnh eczema ở mức thấp nhất.

Các nhà khoa học cho biết, chất chống oxy hoá chứa trong vitamin E làm tăng cường hệ miễn dịch, đóng một vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa một số bệnh, trong đó có bệnh eczema.

Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm ra bất cứ mối liên hệ nào giữa vitamin A và khả năng nâng cao sức để kháng cơ thể chống lại các bệnh dị ứng.

Các thực phẩm có màu vàng, đỏ, hoa quả màu cam rất giàu vitamin A. Trong khi, vitamin E lại có nhiều trong dầu thực vật, các loại hạt và ngũ cốc.

Phạm Hải
(Theo Reuters)
Eczema còn gọi là bệnh chàm - một bệnh da dị ứng mạn tính. Việc điều trị bệnh này đến nay vẫn là một điều khó khăn. Tuy nhiên, có thể hạn chế triệu chứng bằng cách kết hợp thuốc Tây và các liệu pháp dân gian.

Tổn thương của bệnh eczema có các đặc trưng: khởi đầu trên bề mặt da sẩn đỏ, lấm tấm nhiều hạt nước nhỏ, người bệnh ngứa gãi nhiều; có thể chảy nước vàng do gãi, đóng vảy trên các tổn thương. Nếu bóc vảy, sẽ để lộ làn da bị đỏ, có nhiều vết xước, tổn thương này được gọi là “giếng chàm”. Bệnh có thể trở thành mạn tính, da dày lên, ngứa gãi nhiều. Nhiều trường hợp bội nhiễm gây viêm da mủ, hoặc nhiễm trùng ác tính, thậm chí có thể dẫn tới tử vong. Bệnh tiến triển từng đợt, kéo dài 1-2 năm.

Điều trị bệnh eczema còn là một vấn đề khó khăn. Phải tùy theo tuổi và tổn thương của bệnh mà có cách điều trị phù hợp. Trong trường hợp eczema có viêm da mủ, cần điều trị chống bội nhiễm bằng cách cho uống kháng sinh penicilin, ampixyclin... và bôi các dung dịch sát khuẩn mạnh như xanh metylen, milian... Khi tắm rửa, cần tránh dùng các chất gây kích thích như xà phòng giặt, chanh... Có thể dùng chè tươi, lá bàng tươi nấu lấy nước để tắm.

Để chống ngứa, nên dùng một trong các thuốc chống dị ứng như sirô phenargan, sirô théralèn, chlorpheniramin... sử dụng theo chỉ dẫn.
Các thuốc mỡ chứa corticosteroid như flucina, cidermex... có thể sử dụng để bôi trên tổn thương eczema khô, không nên dùng để bôi trong các trường hợp eczema nhiễm khuẩn. Không nên bôi quá nhiều (diện tích rộng) vì có thể gây biến chứng do tác dụng phụ của thuốc.

Để dự phòng eczema, tốt nhất là không nên tiếp xúc với các đồ vật, hóa chất có thể gây dị ứng; đặc biệt là ở những người có tiền sử dị ứng. Khi dùng các thuốc ngoài da, hóa mỹ phẩm, cần bôi thử một diện tích nhỏ trên da để thăm dò phản ứng.

BS Quách Tuấn Vinh, Sức Khỏe & Đời Sống
Muốn chăm sóc da đúng cách, trước tiên bạn phải xác định da mình thuộc loại gì. Nhìn chung, da gồm bốn loại chính: Khô, thường, kết hợp và dầu. Để xác định da mình thuộc loại nào, hãy rửa mặt thật sạch, để khô trong 30 phút, sau đó lấy một tờ giấy ăn ấn vào các điểm trên khuôn mặt.

Nếu không thấy dấu hiệu của dầu, bạn thuộc loại da khô. Nếu có chỗ nhờn, có chỗ khô, bạn có làn da hỗn hợp. Da thường trông mịn màng còn da dầu trông láng bóng.

Đối với da khô

Loại da này cần có một chế độ chăm sóc kỹ lưỡng vì nó dễ làm xuất hiện nếp nhăn, đặc biệt là vào mùa đông khi bạn cảm thấy da như khô hơn, căng bề mặt và thậm chí bị bong lớp biểu bì ngoài.

Rửa mặt bằng sữa rửa mặt nhẹ không chứa xà phòng. Không nên dùng xà phòng vì nó sẽ lấy đi lớp dầu tự nhiên trên da bạn.

Sử dụng kem dưỡng ẩm hàng ngày dành cho da khô. Mát xa nhẹ da mặt theo chiều vòng tròn hướng lên trên. Đừng ấn hoặc kéo mạnh da.

Nên sử dụng kem dưỡng da ban đêm có chứa AHA. Đây là chất được chiết xuất từ sữa, hoa quả và mía. Những axit này sẽ giúp lấy đi da chết và tái tạo lớp da mới.

Mẹo nhỏ giúp cải thiện làn da khô


Trộn 1/2 thìa nước hoa hồng với một thìa mật ong rồi bôi lên mặt. Để khô trong khoảng 15-20 phút sau đó rửa sạch mặt bằng nước ấm. Mật ong có tác dụng làm mềm da khô.

Mát xa da mặt bằng dầu ôliu sẽ cho bạn kết quả bất ngờ.

Lấy 1/4 quả táo, gọt vỏ và làm nhuyễn sau đó cho vào tủ lạnh. Bôi lên mặt và để trong vòng 15 phút. Rửa mặt thật sạch với nước lạnh.

Lấy 1 thìa kem ăn, đánh nhuyễn cho đến khi trở nên dẻo quánh. Bôi lên mặt trước khi tắm. Kem sẽ giúp loại bỏ các vết nám trên mặt.

Đối với da thường

Da thường chỉ cần chăm sóc đơn giản, cân bằng với chế độ ăn uống lành mạnh là đủ để giữ da luôn tươi trẻ. Việc chăm sóc da thường bao gồm một số bước đơn giản sau:

Rửa sạch mặt và thoa kem hàng ngày sẽ giúp da tươi trẻ lâu. Bạn nên sử dụng các sản phẩm có chiết xuất từ thiên nhiên.

Các loại kem có chứa vitamin A, C và E sẽ giúp tăng cường kết cấu da khiến da trở nên mềm mại hơn.

Mẹo nhỏ cho da thường

Đắp mặt với mặt nạ làm từ 1/4 quả chuối chín, trừ phần dưới mắt. Giữ trong 10 phút sau đó rửa sạch mặt bằng nước lạnh. Chuối giúp loại bỏ da chết rất tốt. Sử dụng chuối thường xuyên sẽ giúp da bạn tươi trẻ.

Đối với da hỗn hợp


Đối với loại da này, dầu thường tập trung ở vùng chữ "T", nghĩa là từ trán dọc xuống sống mũi và cằm. Khi bạn rửa mặt sẽ thấy một số vùng trên mặt khô, căng nhưng vùng chữ "T" lại bóng, nhờn. Loại da này cần chế độ chăm sóc đặc biệt.

Rửa mặt 2 lần/ngày. Sử dụng chất rửa nhẹ để loại bỏ bụi bẩn.

Khi trang điểm, nên sử dụng các loại mỹ phẩm không dầu hoặc không bóng ở phần "T" giúp hấp thu toàn bộ chất nhờn và kiểm soát độ bóng.

Sử dụng mỹ phẩm có chứa AHA và vitamin C.

Mẹo nhỏ cho da hỗn hợp


Luôn có một lọ nước hoa hồng trong tủ lạnh.

Sử dụng 3/4 quả đu đủ đã gọt vỏ, bỏ hạt cho vào tủ lạnh. Đắp lên mặt và để trong vòng 10-15 phút rồi rửa sạch mặt bằng nước lạnh.

Đối với da dầu

Loại da này cho cảm giác trơn bóng và dễ nổi mụn. Tuy nhiên, một chế độ chăm sóc da hợp lý và khẩu phần ăn phù hợp sẽ giúp bạn kiểm soát được sự tiết dầu của da:

Rửa mặt 2 lần/ngày. Tránh dùng mỹ phẩm có chứa cồn vì nó sẽ làm tăng lượng dầu, thay vào đó hãy dùng các sản phẩm tự nhiên có tác dụng kiềm dầu...

Nếu da bị nổi mụn, đừng chạm hoặc nặn vì sẽ để lại vết thâm. Hãy sử dụng các loại mỹ phẩm phù hợp để loại bỏ mụn.

Nếu có thể, bạn nên đến các trung tâm thẩm mỹ để chăm sóc da chuyên nghiệp một lần/tháng.

Tránh các loại thức ăn nhiều dầu mỡ và chocolate. Ăn nhiều hoa quả và rau xanh.

Mẹo nhỏ cho da nhờn

Hàng ngày vẩy nước lên mặt 3-4 lần. Nước lạnh không chỉ cho bạn cảm giác thoải mái mà còn giúp làm se lỗ chân lông.

Dưa chuột là một "liều thuốc" rất tốt cho da nhờn. Dưa chuột thái lát cho vào tủ lạnh sau đó đắp lên mặt khoảng 15 phút rồi rửa mặt bằng nước lạnh. Thực hiên 2 lần/tuần.

Theo Trung Kiên

Mẹ và Bé
Khoảng 10 ngày nay, vùng da gò má trái của tôi thỉnh thoảng lại đau. Cơn đau tuy ngắn nhưng chói và buốt. Khi hết đau vùng đó ê ẩm, bì bì. Xin hỏi, tôi mắc bệnh gì?

Hoàng Thị Túy (Thanh Hóa)

Rất có thể bạn bị đau dây thần kinh số 5 (dây V). Khi bị đau dây V, bệnh nhân sẽ thấy đau dữ dội như điện giật hay dao đâm, đau chói, thậm chí đau không chịu được... ở một bên mặt và chỉ một phần của da mặt (không lan sang phía bên kia). Các cơn đau xuất hiện tự phát, hay do kích thích như khi sờ nhẹ vào một điểm nào đó trên da mặt hay cằm, khi nhai hoặc gặp gió lạnh... Cũng có khi có dạng đau không điển hình: đau ê ẩm nặng nề, thỉnh thoảng lại có cơn đau chói. Nguyên nhân gây đau dây V khá nhiều. Đó có thể là do có khối u lành ở trong não hoặc thấy có bệnh mảng xơ rải rác; do một mạch máu nhỏ đè vào vùng đi vào rễ của dây thần kinh số V tại thân não. Nguyên nhân nghe thì thấy nguy hiểm, nhưng thực tế, đau dây V là một bệnh có thể điều trị được. Trong đa số trường hợp, dùng thuốc cũng có hiệu quả. Nếu thuốc không công hiệu hoặc không thể dùng thuốc do các tác dụng phụ của nó, thì chọn lựa phẫu thuật giải áp vi mạch, cắt bỏ hạch bằng tần số bức xạ xuyên qua da, tiêu hủy dây thần kinh bằng hóa học dùng glycerol xuyên qua da, phẫu thuật bức xạ bằng dao Gamma. Việc lựa chọn phương pháp nào là tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe cũng như nguyện vọng của bệnh nhân.

BS. Nguyễn Hải

(suckhoe&doisong)
Điều tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2009 cho biết: Có tới 26,14% trong tổng số 2.280 học sinh được điều tra bị mắc các tật về khúc xạ, trong đó cận thị chiếm tới 79,53%. Tỷ lệ cận thị của học sinh thành thị cao hơn vùng nông thôn. Điều tra của Bệnh viện Mắt trung ương tại Hà Nội năm 2009 cũng cho thấy, tỷ lệ mắc cận thị của học sinh thành thị là 27,86%, trong khi đó ở vùng ngoại thành chỉ có 17,95%.

Nguyên nhân của cận thị

Hiện nay các nhà khoa học vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính gây nên cận thị, nhưng có nhiều yếu tố liên quan đến cận thị trong đó có việc trẻ xem tivi, chơi trò chơi điện tử, sử dụng internet quá nhiều. Bên cạnh đó là phòng học thiếu ánh sáng, tư thế ngồi học và đọc sách không đúng cách, bàn ghế không phù hợp, chưa có bảng chống lóa, môi trường ô nhiễm, thời gian học và đọc sách không hợp lý, ăn uống không đủ chất và cả do nguyên nhân di truyền...


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



TS.BS Vũ Bích Thủy- Khoa Mắt trẻ em Bệnh viện Mắt trung ương cho biết: Mắt cận thị là mắt có trục nhãn cầu dài hơn bình thường hoặc công suất khúc xạ quá lớn, khi đó hình ảnh của vật sẽ hội tụ ở phía trước của võng mạc. Người bị cận thị nhìn xa mờ nhưng nhìn gần vẫn rõ nhờ vào chức năng điều tiết của mắt trừ khi bị cận thị quá nặng. Nếu cận thị không được điều trị kịp thời khiến cho thị lực trở nên kém đi, nhìn mờ ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ và chất lượng cuộc sống của trẻ. Biến chứng của cận thị có thể gây đục dịch kính, thoái hóa võng mạc, bong võng mạc dẫn đến mù lòa.

Cách điều trị


Để điều trị cận thị ở trẻ em, phương pháp phổ biến, thuận tiện, dễ dàng và kinh phí ít nhất là đeo kính gọng. Ngoài ra có thể dùng kính tiếp xúc. Ở nước ta chỉ dùng Laser Excimer chữa cận thị cho người từ 18 tuổi trở lên. Các chuyên gia về mắt cho biết, một cặp kính tốt là: Gọng kính phải phù hợp với khuôn mặt; chiều rộng của gọng, chiều dài của càng kính, cầu tỳ mũi phải phù hợp với khuôn mặt về kích thước, màu sắc và khuôn mẫu. Mắt kính phải đúng tâm trục thị giác; khoảng cách từ kính đến mắt 12mm và độ nghiêng của kính là 12 độ.

Tuy nhiên theo TS.BS Nguyễn Chí Dũng (Bệnh viện Mắt trung ương) ở nước ta, kính thuốc chưa được chấp nhận như một biện pháp điều trị nên chưa được quản lý chặt chẽ. Hiện tỷ lệ trẻ có tật khúc xạ được điều chỉnh kính vẫn rất thấp. Điều này cho thấy, có một tỷ lệ lớn bệnh nhân bị tật khúc xạ có nguy cơ đeo kính không đúng chuẩn.

Phát hiện cận thị thế nào là đúng nhất?

Ở người lớn khi bị cận thị có thể phát hiện sớm, nhưng trẻ em đa số chỉ được phát hiện khi trẻ bắt đầu đi học. Vì thế theo TS Thủy, các bậc cha mẹ khi thấy trẻ có hiện tượng ngồi gần ti vi; đọc sách, truyện quá gần; trẻ hay nheo mắt; nghiêng hoặc quay đầu để nhìn cho rõ; trẻ nheo mắt khi nhìn xa hoặc nghiêng đầu xem ti vi; trẻ hay mỏi mắt, nhức đầu, chảy nước mắt; Thường không thích các hoạt động liên quan đến nhìn xa; gia đình có ông bà, bố mẹ, hay anh chị bị cận thị; trẻ có tiền sử sinh non... cần đưa trẻ tới cơ sở y tế chuyên khoa mắt để được khám, phát hiện và điều trị kịp thời các tật khúc xạ nói chung và cận thị nói riêng, tránh các tai biến do các tật khúc xạ gây nên.

Thu Hương
(daidoanket)
Cây còn có tên là muống cuống rau răm, tiết gà, tam tróc, rau chua lè, hoa mặt trời, lá mặt trời... Là loại cây thảo mọc hàng năm, thẳng đứng, cao 0,2 – 0,4m. Thân nhẵn, lá phía dưới hình mắt chim hay hình trứng có khi gốc hình tim, mép có răng cưa hay hơi chia thùy nhỏ, cuống dài, những lá sau hình 3 cạnh, chia lông chim, thùy tận cùng hình trứng hơi 3 cạnh, răng cưa to thô, lá ở trên hình 3 cạnh dài, không cuống, có tai và ôm vào thân. Cụm hoa hình đầu, hình trụ , dài 8 - 9mm, rộng 4mm, thường tụ 2 -4 chiếc, cuống gầy, dài 3 - 6cm. Hoa màu hồng hay hơi tím. Quả bế dài 5mm, có gợn ngắn.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Cây mọc hoang khắp nơi, dọc bờ ruộng, hang rào, ven đường, bãi cát. Có nơi dùng làm rau ăn, vị đặc biệt, hơi chua và hơi đắng.

Cây rau má lá rau muống.
Theo Đông y, cây rau má lá rau muống có vị đắng, tính mát. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi thủy, lương thuyết, thường dùng chữa viêm họng, ho, tiêu chảy, mụn nhọt... Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây phần trên mặt đất, thu hái quanh năm đem về rửa sạch, phơi khô hoặc sấy khô. Liều dùng hàng ngày: Dùng 15 - 25g cây khô (hoặc 30 - 60g tươi) sắc uống. Dùng ngoài nấu nước rửa, giã đắp.

Một số bài thuốc ứng dụng:


Chữa cảm sốt, viêm đường hô hấp trên, đau họng, lở miệng: Cây rau má, lá rau muống: 30 -50g tươi hoặc 15 - 30g cây rau má lá rau muống khô sắc với 400ml nước còn 100ml, chia 3 lần uống/ngày hoặc ngậm và nuốt từ từ. Dùng liên tục cho đến khi khỏi hẳn.

Chữa viêm họng: Rau má lá rau muống tươi 30g, rễ cỏ tranh, mỗi thứ 30g, sắc nước uống trong ngày. Dùng đến khi hết đau họng.

Mụn nhọt: Dùng 50-100g toàn cây rau má lá rau muống tươi nấu nước rửa hằng ngày. Bên ngoài dùng lá tươi và hoa giã nhỏ đắp vào chỗ bị mụn nhọt.

Ho lâu ngày: Cây rau má lá rau muống 30g, mộc hồ điệp 10g, nga bất thực thảo  20g, sắc với 500ml nước còn 100ml chia 2 - 3 lần uống trong ngày. Dùng liên tục từ 10 - 30 ngày.

Viêm đường tiết niệu: Rau má lá rau muống 40g, mã đề 30g, dây bòng bong 30g, cây chó đẻ 20g. Sắc uống 7 - 10 ngày.

Chữa tiêu chảy: Rau má lá rau muống 12g, lá ổi 12g, sắc lấy nước, chia ra 2 lần uống trong ngày.

Chữa chín mé (sưng buốt đầu ngón tay): Hái một nắm rau má lá rau muống tươi, giã nát, đắp lên chỗ sưng đau, băng cố định lại.

Chú ý: Phụ nữ có thai không nên dùng.

Bác sĩ  Thu Vân
(suckhoe&doisong)
Một nghiên cứu cho thấy có 20% nam giới bị loãng xương. Đâu là nguyên nhân gây loãng xương ở nam giới? Có thể cải thiện được bệnh loãng xương ở nam giới như thế nào? Bài viết sau đây sẽ giúp bạn đọc trả lời các câu hỏi đó.

Có nhiều nguyên nhân gây loãng xương ở nam giới, do nội tiết, do bệnh tật, do dùng thuốc chữa bệnh, do ăn uống và sinh hoạt như sau:

Thiếu nội tiết tố testosteron

Một nguyên nhân phổ biến nhất gây loãng xương ở nam giới là thiếu hụt testosteron. Vì vậy đối với nam giới có testosteron thấp, thầy thuốc sẽ chỉ định dùng testosteron để giúp bổ sung khối lượng xương. Tuy nhiên khoa học vẫn chưa biết xương được xây dựng bao nhiêu là do tác dụng trực tiếp của testosteron. Cơ thể nam giới cũng cần một lượng nhỏ estrogen, và estrogen có tác dụng bảo vệ mật độ xương ở cả nam và nữ. Trong cơ thể đàn ông, sự chuyển đổi testosteron thành estrogen là để xây dựng khối lượng xương. Tuy estrogen không lưu hành với nồng độ cao trong cơ thể nam giới, nhưng nó là một yếu tố quan trọng giúp xây dựng và bảo vệ xương.

Nồng độ canxi và vitamin D thấp

Xương liên tục phát triển trong một quá trình tự nhiên gọi là tân tạo, với các tế bào xương cũ bong ra và các tế bào xương mới phát triển để thay thế. Quá trình để tạo  xương mới, cơ thể cần nhiều canxi và vitamin D. Vì nếu không có đủ canxi và vitamin D, cơ thể sẽ không tạo ra được đủ xương mới, không giữ được mật độ xương kiên cố với canxi và khoáng chất khác.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Loãng xương chậu trên phim Xquang.


Người ít hoạt động

Khi cơ thể hoạt động, cơ kéo xương, xương phản ứng bằng cách phát triển. Nhưng nếu cơ thể ít lao động thì cả xương và cơ đều yếu đi. Các nghiên cứu đã cho thấy: tập thể dục làm tăng khối lượng xương,  nhưng chỉ tại các vị trí có căng thẳng xương, chẳng hạn đi bộ hoặc chạy bộ có thể tăng mật độ xương ở hông.

Dùng các thuốc làm giảm khối lượng xương


Hầu hết các thuốc làm mất xương ở phụ nữ thì cũng làm mất xương ở nam giới. Những thuốc đó là: corticosteroid, các steroid chống viêm làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể như cortison, hydrocortison, glucocorticoid và prednison. Các thuốc chống viêm này có tác dụng tốt trong điều trị suyễn, chống viêm, chống dị ứng... nhưng lại gây hại với xương. Một nghiên cứu cho biết, liều prednison cao hơn 7,5mg/ngày làm ngừng hoàn toàn tăng trưởng xương mới, đồng thời tăng tốc độ mất xương bình thường của xương cũ. Thuốc chữa bệnh ung thư tuyến tiền liệt, thuốc gọi là các chủ vận GnRH thường sử dụng cho nam giới mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt, có thể dẫn đến mật độ khoáng xương thấp và tỷ lệ gãy xương cao hơn. Thuốc chống co giật cũng làm mất xương, nhất là những người đàn ông uống liều cao kéo dài và không có đủ canxi hoặc vitamin D.

Mắc một số bệnh ảnh hưởng đến xương


Đó là các bệnh: xơ nang, tiểu đường, viêm khớp dạng thấp, rối loạn tiêu hóa, bệnh về máu. Đối với những người có bệnh mạn tính nói trên và đang dùng thuốc trong nhiều năm qua thì điều quan trọng nhất là phải thực hiện một chế độ ăn uống có nhiều canxi và vitamin D, đồng thời phải duy trì việc tập thể dục đều đặn hàng ngày giúp xương phát triển và chắc khỏe.

Hút thuốc

Người hút thuốc có nguy cơ gãy xương cao hơn, trong đó nguy cơ gãy xương hông cao hơn 55% so với người không hút thuốc và mật độ khoáng xương ở người hút thuốc thấp hơn người không hút. Chất nicotin có hiệu ứng độc hại trực tiếp lên các tế bào xương.

Nam giới bị loãng xương cần làm gì để cải thiện bệnh?

Đối với nam giới bị loãng xương, họ có thể thay đổi lối sống để phòng và chữa bệnh như sau:

Tập luyện thể dục thể thao cho sức mạnh của xương. Kể từ thời kỳ cao điểm để lưu trữ canxi và gia tăng mật độ xương trong thời niên thiếu, nam giới có thể xây dựng được xương mạnh hơn trong nhiều năm nhờ luyện tập các môn thể dục thể thao. Sự tập luyện như vậy rất có ích trong những năm sau, khi sự tái tạo xương trong cơ thể đã chậm lại. Tập thể dục thể thao có thể bảo toàn khối lượng xương, nhất là thực hiện sự tập luyện hợp lý. Chạy bộ, nhảy dây có tác động cao duy trì khối lương xương. Đi bộ, trượt tuyết có tác động thấp. Các chuyên gia khuyên rằng chúng ta nên áp dụng: 30 phút hoạt động vừa phải như đi bộ nhanh thực hiện hầu hết các ngày trong tuần; rèn luyện sức mạnh như nâng tạ hoặc rèn luyện đối kháng với trọng lượng máy 2lần/1tuần.

Dùng canxi để tăng cường tạo xương. Khi đã có dấu hiệu khối lượng xương thấp hay loãng xương, nên bổ sung canxi. Nhưng muốn lượng canxi được cơ thể hấp thu để tái tạo xương thì cơ thể phải được cung cấp đủ vitamin D cần thiết, nếu không tất cả canxi ăn vào đều thải ra hết.

Một việc cần làm nữa là nên định kỳ khám sức khỏe để sớm phát hiện sự thiếu hụt nội tiết tố hoặc các bệnh có thể làm suy yếu xương. Giữ cho xương chắc khỏe là rất quan trọng, nó có ý nghĩa giúp cơ thể tránh gãy xương do những chấn thương nhẹ sau này để có thể sống khỏe mạnh.


BS. Trần Văn Phong

(suckhoe&doisong)


Theo trang tin healthmad.com, các chuyên gia dinh dưỡng đã phát hiện rất nhiều đặc tính cải thiện sức khỏe con người ở quả bơ. Mùa hè nóng nực, một ly sinh tố bơ không chỉ giúp giải khát mà còn đem lại một số ích lợi cho sức khỏe như:

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



- Bơ bảo vệ cholesterol tốt, qua đó giúp giảm nguy cơ bị tim mạch.

- Bơ có tác dụng ngăn ngừa và điều trị các bệnh ung thư vú và tuyến tiền liệt. Các nhà khoa học cho biết một số chất trong quả bơ có thể tiêu diệt các tế bào ung thư.

- Bơ cung cấp nhiều khoáng chất cần thiết cho cơ thể như kali, canxi, vitamin C và K, a-xít folic, đồng, natri và chất xơ. Những người sống ở những nơi có khí hậu nóng thường mất nhiều khoáng chất và nước. Vì thế, những người này thường được bác sĩ khuyên ăn bơ.

- Bơ cũng là nguồn phong phú natri giúp giảm nguy cơ bị huyết áp cao và đột quỵ.

- Bơ có tác dụng tăng khả năng hấp thụ carotenoid của cơ thể, chất giúp cải thiện sức khỏe con người. Đây còn là nguồn phong phú chất chống ô-xy hóa.

- Bơ có thể được dùng để trị rối loạn tiêu hóa và có đặc tính giúp bảo vệ da khỏi các tia cực tím.

Theo H.Y
Thanh Niên


Thuốc nhuộm tóc là tập hợp của nhiều loại hóa chất, khi sử dụng trên da đầu có thể gây phản ứng, dị ứng từ nhẹ là ngứa đỏ tại chỗ, nặng hơn là ngứa đỏ toàn thân, thậm chí có thể gây tử vong nếu không can thiệp kịp thời.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
nhuom-toc


Trước khi nhuộm tóc, phải thử thuốc theo cách như sau:

Pha một ít thuốc nhuộm, sau đó bôi một chấm vào mặt trong cánh tay, để thuốc trong vòng 24 giờ rồi rửa sạch.

Nếu da không bị đỏ ngứa, bôi lần nữa và cũng để trong 24 giờ. Nếu vùng da thử thuốc nhuộm trong 2 lần vẫn bình thường, bạn có thể nhuộm tóc.

Ngược lại, nếu vùng thử bị đỏ, cần rửa sạch và không nên nhuộm tóc để tránh bị dị ứng nặng hơn có thể xảy ra.

Không nhuộm tóc khi da đầu bị trầy, khi đang hành kinh hoặc có thai, thận trọng khi có bệnh về máu hoặc thận. Tuyệt đối không được nhuộm ở lông mày, lông mi. Khi thuốc nhuộm dính vào mắt, phải rửa ngay với nước sạch và đi khám tại bác sĩ nhãn khoa.

Thuốc nhuộm đã pha chỉ có tác dụng trong 30 phút, sau khi nhuộm còn dư thuốc phải đổ bỏ đi. Nhuộm tóc xong bạn nên hạn chế uốn, sấy, phơi nắng để tránh tóc bị xơ và mau phai màu thuốc nhuộm.

Không nên nhuộm tóc thường xuyên, không để thuốc nhuộm kéo dài quá thời gian quy định. Ở người trẻ thì có thể nhuộm vài ba tháng một lần.

* BS Huỳnh Huy Hoàng
(TTGD)
Nhân kỷ niệm 63 năm ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2010), Bệnh viện Mắt quốc tế Việt – Nga tổ chức khám và tư vấn mắt miễn phí cho tất cả các bệnh nhân thuộc diện chính sách mắc các bệnh về mắt. Các đối tượng này bao gồm: Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, gia đình liẹt sỹ, cán bộ lão thành cách mạng.

Theo đó, bệnh nhân đến khám theo lịch đặt trước vào các buổi chiều tư 27/7 đến 31/7/2010 tại địa chỉ C2 – Làng quốc tế Thăng Long, phường Dịch Vọng (Cầu Giấy- Hà Nội). Nhân dịp này, Bệnh viện cũng hỗ trợ 20% phí cho tất cả các ca phẫu thuật. Lưu ý: Khi đi khám, bệnh nhân thuộc các diện chính sách nói trên mang theo CMND và giấy tờ chứng nhận diện chính sách và đăng ký theo số điện thoại: 04.7931968 hoặc 0978802267 trước ngày 23/7/2010.

N.Thủy
Có thể nói chừng một phần ba cuộc đời là chìm trong giấc ngủ. Bởi vậy, các chuyện liên quan đến giấc ngủ có vai trò hết sức quan trọng, trong đó có việc chọn tư thế nằm tốt nhất.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Cần chọn tư thế nằm ngủ tốt nhất cho sức khỏe


Người ta không thể giữ mãi một tư thế ngủ suốt đêm mà mỗi đêm người ta trở mình có thể từ 20 - 45 lần. Tuy nhiên, theo thói quen, mỗi người vẫn có một tư thế nằm ngủ chủ đạo. Có người nằm thẳng đơ, có người thích nằm sấp úp mặt vào gối, có người nằm co như con tôm, nằm dang tay, duỗi chân hoặc khoanh tay trên ngực mà ngủ.

Dân gian có câu: “Đứng như tùng, ngồi như chuông, nằm như cung”. Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử đã khuyên “Tầm bất thi” (không nằm như xác chết). Sách Thiên kim yếu phương viết: “Co gối nằm nghiêng lợi cho khí lực”.

Cần chọn tư thế nằm ngủ tốt nhất cho sức khỏe.


Theo các nhà dưỡng sinh cổ truyền, tư thế nằm ngủ tốt nhất là nằm nghiêng về bên phải, thân thể co tự nhiên. Bởi lẽ, với tư thế này, cơ bắp toàn thân được thư giãn triệt để, các cơ quan tạng phủ luôn được giữ trong vị trí tự nhiên, khí huyết lưu thông được dễ dàng nhất, rất có lợi cho việc giải trừ mệt mỏi, phục hồi và nâng cao sức khỏe.

Nếu nằm ngủ ở tư thế ngửa hay sấp hoặc thân mình và hai chân luôn ở vị trí duỗi thẳng thì cơ bắp không được thư giãn đầy đủ. Vả lại, khi ngửa mặt lên, lúc ngủ say, cuống lưỡi sẽ hạ xuống, nước bọt dễ lọt vào khí quản gây ho sặc, tạo ra tiếng ngáy rất khó chịu cho người khác.

Khi nằm sấp, ngực bị đè ép khiến hoạt động của tim và phổi không được thuận lợi, mũi bị gối lấp kín buộc người ta phải nghiêng đầu sang một bên tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát sinh chứng lạc chẩm (vẹo cổ, đau gáy).

Với trẻ em, tư thế nằm sấp khi ngủ trong một thời gian dài khiến xương mặt dễ biến dạng, ảnh hưởng đến thẩm mỹ do xương mặt và vòm họng ở lứa tuổi này chưa phát triển đầy đủ. Nằm nghiêng bên trái, tim bị đè nén ảnh hưởng đến tuần hoàn và với người có bệnh lý dạ dày thì sẽ lâu khỏi, thậm chí có thể nặng lên.

Về lý thuyết là vậy nhưng thực ra, tư thế nằm ngủ còn phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố sinh, bệnh lý. Ví như phụ nữ có thai, không nên nằm ngửa, vì với tư thế này, tử cung sẽ đè lên các tĩnh mạch làm lượng máu về tim giảm đi khiến lượng ôxy cung cấp cho não cũng theo đó suy giảm, phát sinh các chứng tức ngực, chóng mặt, buồn nôn, khó thở, thậm chí tụt huyết áp.

Người bị bệnh tim nặng, viêm khí phế quản, hen phế quản chỉ có thể chọn tư thế nửa nằm nửa ngồi; người bị bệnh viêm gan cấp tính có triệu chứng đau âm ỉ vùng hạ sườn phải thì đương nhiên phải chọn tư thế nằm nghiêng về bên trái...

Bác sĩ Hạnh Trinh
(suckhoe&doisong)
Hôm 10 và 12-7 vừa qua, Sở Y tế Hà Nội đã tạm đóng cửa hai khu vực cung cấp thịt chó lớn nhất ở Dương Nội (quận Hà Đông) và Đức Giang (huyện Hoài Đức) do qua xét nghiệm đã phát hiện hai mẫu thịt chó nhiễm vi khuẩn tả.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Cán bộ y tế lấy mẫu thịt chó để kiểm nghiệm vi khuẩn tả - Ảnh: DƯƠNG NGỌC



Từ giữa tháng 6 đến nay, đã có 60,5% ca bệnh tả và tiêu chảy cấp ở Hà Nội liên quan đến món thịt chó, vốn được đông đảo dân nhậu ưa chuộng, khiến giới chức y tế lo phát sốt về nguy cơ lây lan bệnh tả.

Có thể tạm ngừng nhập khẩu chó, nếu...

Ông Nguyễn Văn Bình, phó cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, cho biết trong hai mùa dịch tả vừa qua, Bộ Y tế đã chi gần 20.000 USD (gần 380 triệu đồng) để liên tục xét nghiệm chó nhập khẩu từ Lào và Thái Lan về VN qua cửa khẩu Cầu Treo (tỉnh Hà Tĩnh). Tốn tiền, lại chẳng phát hiện mẫu bệnh phẩm nào dương tính với vi khuẩn tả tại cửa khẩu. Nhưng về đến VN thì cả năm 2009 và 2010 đều phát hiện mẫu nhiễm tả. Trong đó, năm 2009 là các mẫu thịt chó sống, thớt, nước rửa thịt chó... tại Dương Nội, Hà Đông. Năm 2010, mùa dịch vừa bắt đầu tại Hà Nội, lại tiếp tục phát hiện mẫu bệnh phẩm dương tính ở chó nhập về Dương Nội và Hoài Đức. Và trong số gần 200 ca bệnh riêng tại Hà Nội tính đến chiều 12-7, có 60,5% số ca liên quan đến thịt chó.

Tạm ngừng hoạt động hai khu vực cung cấp thịt chó tại Hà Nội, nhưng ông Bình cho rằng thị trường vẫn còn nguồn thịt chó do hàng nhập khẩu tiếp tục về. “Chúng tôi đang tích cực lấy mẫu xét nghiệm tại cửa khẩu, nếu phát hiện mẫu dương tính vi khuẩn tả, có bằng chứng về nguy cơ lây bệnh ra cộng đồng, Bộ Y tế sẽ đề nghị tạm ngừng nhập khẩu chó từ Lào và Thái Lan qua cửa khẩu Cầu Treo” - ông Bình cho biết.

Theo ông Lê Anh Tuấn, giám đốc Sở Y tế Hà Nội, mẫu bệnh phẩm chó nhiễm vi khuẩn tả cho thấy nguy cơ lây lan rất lớn. Theo ông Tuấn, trong quá trình chế biến, vi khuẩn tả có thể dính vào nước rửa thịt, thịt, thớt, tay người chế biến, dao và các dụng cụ chế biến thịt chó khác. Từ đây, vi khuẩn bắt đầu lây lan sang người sử dụng nếu thịt chó chưa được nấu chín kỹ hoặc bàn tay, dụng cụ chế biến nhiễm vi khuẩn. Báo cáo của Bộ Y tế mới đây cũng cho thấy type vi khuẩn tả 2010 có khả năng sống lâu hơn ngoài môi trường, dẫn đến khả năng lây lan kéo dài, nhất là trong điều kiện vệ sinh ở quán ăn không đảm bảo đúng quy trình.

Đun trong 5 phút ở 800C trở lên

Đây là hướng dẫn của Sở Y tế Hà Nội trong tình hình dịch tả và tiêu chảy cấp đang lây lan. Theo đó, người dân cần tuyệt đối tuân thủ ăn chín, uống sôi, rửa tay sạch, do vi khuẩn tả sẽ chết ở nhiệt độ 80OC trở lên.

Theo thống kê của Sở Y tế Hà Nội, tính đến 17g chiều 12-7 có 18/29 quận huyện của Hà Nội có người bệnh tả và tiêu chảy cấp. Trên toàn thành phố, tổng số người bệnh lên tới gần 200 ca, tăng 20-30% về số mắc và tăng bốn quận, huyện có người bệnh so với cuối tuần trước. Điều này cho thấy dịch đang ở thời điểm bùng phát. Các chuyên gia của Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư đánh giá những dấu hiệu hiện nay ở Hà Nội cho thấy đang xuất hiện một vụ dịch tả, tiêu chảy cấp mới ở Hà Nội.

Tính đến thời điểm này, Bộ Y tế thông báo đã có 11 địa phương có bệnh nhân tả, trong đó những địa phương mới có bệnh gồm TP.HCM, Bạc Liêu, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định... Nguyên nhân đều liên quan đến thực phẩm. Bệnh tật từ mệng mà ra và ở Hà Nội nguyên nhân ban đầu đã tìm thấy là ở thịt chó, bún ốc, ở Nam Định là nước đá nhiễm tả. Theo ông Lê Anh Tuấn, Hà Nội đang xét nghiệm một số mẫu nước, mẫu thịt chó, tiếp tục xác định nguyên nhân gây bệnh. Nguyên nhân có rõ ràng thì dịch mới dễ chống - ông Tuấn nói.

L.ANH
(tuoitre)
Bạn hay bị ợ chua, chua miệng, đầy hơi ư? Có thể là do dạ dày của bạn chứa quá nhiều a-xít. Bệnh dư a-xít dạ dày để lâu ngày không chữa trị sẽ dễ dẫn đến loét bao tử, xuất huyết bao tử…

Theo báo The Times of India, thực hiện một số lời khuyên sau của các chuyên gia Ấn Độ sẽ giúp bạn tránh được tình trạng khó chịu này. Đó là:

- Tránh dùng thức uống có hơi cũng như chứa caffeine. Thay vào đó, bạn nên chọn trà thảo mộc.

- Tránh dùng đồ chua, tương ớt, giấm…

- Chưng lá bạc hà và uống một tách nước sắc từ lá bạc hà sau mỗi bữa ăn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Ăn một ít dưa hấu sẽ giúp bạn tránh được các triệu chứng khó
chịu của bệnh dư a-xít dạ dày - Ảnh: Shutterstock

- Đường thốt nốt, chuối, chanh và sữa chua là những thực phẩm giúp bạn tránh được nguy cơ bị độ a-xít dâng cao trong dạ dày.

- Hút thuốc lá nhiều và uống nhiều bia rượu sẽ làm tăng nồng độ a-xít, vì thế bạn nên giảm dùng hai thứ này.

- Nên dùng một ly nước âm ấm mỗi ngày.

- Nếu chọn trái cây, bạn nên ăn chuối, dưa hấu và dưa leo. Nước dưa hấu là một “loại thuốc” trị tính a-xít tuyệt vời.

- Dùng bữa ăn tối ít nhất 2-3 giờ trước khi đi ngủ.

- Nếu có điều kiện, bạn nên uống một ly sữa mỗi ngày.

- Thử nhai kẹo cao su (chewing-gum). Nước bọt được tiết ra giúp chuyển thức ăn qua thực quản, làm dịu triệu chứng ợ chua.

- Ăn một ít gừng cũng rất hữu ích cho bạn vì gừng giúp kích thích tiêu hóa.

- Uống một ly nước chanh đường một giờ trước khi dùng bữa sẽ giúp giảm các triệu chứng khó chịu của bệnh dư a-xít.

- Bổ sung các loại rau củ như bí ngô, cải bắp, cà rốt và hành lá… trong chế độ ăn uống hằng ngày của bạn.

(Huỳnh Thiềm, TNO)
(phunu)
Phân biệt bệnh quai bị và viêm tuyến nước bọt  

Ngưu bàng tử là quả chín của cây ngưu bàng.
Thời tiết nắng nóng nhiều bệnh do virut, vi khuẩn gia tăng trong đó có bệnh quai bị. Trong số báo 107 ra ngày 6/7/2010, báo Sức khỏe & Đời sống đã đăng bài viết Phân biệt bệnh quai bị và viêm tuyến nước bọt cung cấp cho độc giả những thông tin cơ bản để nhận biết hai bệnh này. Số báo này, chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn một số bài thuốc đông y điều trị quai bị để bạn đọc tham khảo và áp dụng.

Theo y học cổ truyền, bệnh quai bị xảy ra do độc ôn dịch xâm nhập phế vệ qua đường mũi họng phạm tới hai kinh thiếu dương đởm và dương minh vị. Kinh thiếu dương phụ trách khí phong mộc, kinh dương minh phụ trách táo kim. Tà phong nhiệt xâm phạm vào hai kinh này gây uất kết ở vùng dưới tai, dưới hàm và má. Can và đởm có mối liên quan biểu lý, khi kinh đởm bị tổn thương làm kinh can cũng bị ảnh hưởng mà gây ra.

Biểu hiện: Sốt hoặc sốt nhẹ, sợ lạnh, sưng cứng dưới tai và vùng dưới hàm, ấn vào đau, thường sưng một bên dần dần sưng cả hai bên. Nếu cảm nhiễm ôn độc mạnh: Sốt cao, khát, sưng vùng dưới tai, má bạnh, đau, rêu lưỡi vàng. Mạch sác.

Trường hợp ôn độc nhẹ dùng bài Liên kiều bại độc tán: Khương hoạt 8g, phòng phong 6g, cát cánh 8g, liên kiều 6g, hồng hoa 4g, độc hoạt  8g, sài hồ 8g, cam thảo 4g, ngưu bàng tử  8g,  tô mộc 6g, kinh giới 4g, thăng ma 6g, xuyên khung 4g, đương quy vĩ 8g, thiên hoa phấn 12g. Các vị trên sắc với 1400ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.

- Uống ấm chia đều 6 lần, ngày uống 5 lần, tối uống 1 lần.

- Chú ý: Trẻ nhỏ tuỳ tuổi mà có liều thuốc thích hợp.

Trường hợp ôn độc nặng dùng bài Phổ tễ tiêu độc ẩm: Hoàng cầm 12g, hoàng liên 6g, cam thảo 4g, huyền sâm 16g, liên kiều 8g, bản lam căn 8g, ngưu bàng tử 16g, bạc hà tươi 16g, bạch cương tàm  12g, cát cánh 10g, thăng ma 10g, sài hồ 12g, trần bì 6g. Bạch cương tàm sao, bản lam căn tán bột mịn. Các vị trên (trừ bản lam căn) + 1.800ml nước sắc lọc bỏ bã lấy 250ml, sau đó cho bản lam căn vào đun sôi quấy đều. Uống chia đều 6 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 2 lần.

Chú ý: Hà mô ôn là bệnh độc ôn dịch bệnh mang tính chất truyền nhiễm lan tràn. Nên khi phát hiện được bệnh phải cách ly để tránh lây cho người lành. Bệnh lây bằng đường phế khí, ẩm thực. Nếu bệnh nhẹ tự khỏi trong 2 tuần. Nếu bệnh tiến triển nặng tuỳ chứng trạng mà cho bài thuốc phù hợp.

TTND.BS. Trần Văn Bản
(suckhoe&doisong)
Cùng với sự gia tăng các bệnh đường hô hấp, tiêu chảy ở trẻ em trong mùa nắng nóng, bệnh quai bị cũng đã bắt đầu xuất hiện. Mặc dù là bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng dễ để lại di chứng nặng nề như vô sinh. Ngoài ra, bệnh cũng dễ nhầm với một số bệnh lý khác tại tuyến nước bọt. Bạn đọc cần có kiến thức về hai loại bệnh này.

Quai bị và viêm tuyến nước bọt là 2 bệnh có triệu chứng biểu hiện ở tuyến nước bọt, hay gặp nhất là ở tuyến nước bọt mang tai. Do 2 bệnh có triệu chứng ở tuyến nước bọt mang tai gần giống nhau, nhưng hậu quả của 2 bệnh gây ra rất khác nhau: bệnh quai bị có thể gây vô sinh, viêm tuyến nước bọt đơn thuần có thể gây biến dạng khuôn mặt. Vì vậy cần phân biệt rõ bệnh quai bị và viêm tuyến nước bọt đơn thuần để có hướng xử trí đúng.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Tuyến nước bọt.



Bệnh quai bị

Bệnh quai bị do virut quai bị thuộc nhóm Paramyxo virut gây nên. Bệnh lây truyền theo đường hô hấp, qua các bụi nước của hơi thở, truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành. Bệnh phổ biến ở nhiều nơi, có khi bùng lên thành dịch ở những nơi tập trung đông người (nhà trẻ, trường học).

Biểu hiện khi bị quai bị: Bệnh nhân sốt 38 -39oC, đau đầu, chán ăn, khó nuốt, khó nói, đau nhức các khớp xương, thăm khám thấy miệng ống Stenon phù nề, tấy đỏ nhưng không bao giờ có mủ chảy ra. Vùng tuyến nước bọt mang tai sưng to, lan ra vùng trước tai, mỏm chũm, lan xuống dưới hàm. Da vùng sưng có màu sắc bình thường, không nóng đỏ và có tính đàn hồi. Thường sưng cả 2 bên tuyến nước bọt mang tai, có khi chỉ sưng 1 bên, sưng 2 bên so với sưng 1 bên là tỷ lệ 6/1. Song song với các tổn thương ở tuyến nước bọt, virut quai bị còn làm tổn thương ở ngoài tuyến nước bọt gây viêm tinh hoàn, viêm màng não, viêm não, viêm tụy cấp, viêm thanh khí phế quản, viêm phổi kẽ, viêm đa khớp hoặc biểu hiện ở các cơ quan khác như tuyến lệ, tuyến ức, tuyến giáp, tuyến vú, buồng trứng. Các tổn thương này thường có các triệu chứng không điển hình, diễn biến lành tính.

Bệnh quai bị có thể để lại biến chứng gì?

- Viêm tinh hoàn: Thường gặp ở tuổi dậy thì, hiếm gặp ở trẻ em dưới 2 tuổi và người lớn trên 40 tuổi, xuất hiện sau khi sưng tuyến mang tai 1 - 2 tuần. Bệnh nhân đau tinh hoàn sắp sưng, sau đó tinh hoàn sưng to gấp 3 - 4 lần bình thường. Thường thì sưng 1 bên, cũng có thể sưng 2 bên, sau 2 tuần mới hết sưng. Sau 2 tháng mới đánh giá được tinh hoàn có teo hay không. Tỷ lệ teo tinh hoàn do quai bị là 30 - 40%. Nếu bị teo tinh hoàn 2 bên thì khả năng vô sinh rất cao.

- Viêm buồng trứng: Chiếm 7% các trường hợp mắc bệnh ở tuổi sau dậy thì (hiếm khi vô sinh). Nếu nhiễm bệnh ở phụ nữ có thai 3 tháng đầu có khả năng gây dị dạng thai, sảy thai. Nhiễm bệnh vào 3 tháng cuối có thể tăng nguy cơ thai chết lưu hoặc đẻ non.

Điều trị quai bị như thế nào?

- Điều trị: Bệnh quai bị đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, dùng kháng sinh không có tác dụng mà chỉ điều trị theo triệu chứng. Chườm nóng, dùng thuốc an thần, giảm đau, vitamin, có thể dùng chống viêm corticoid, súc miệng nước muối thường xuyên sau khi ăn. Những ngày đầu nên ăn nhẹ, ăn lỏng.

Có thể kết hợp dùng các bài thuốc Đông y: Dùng hạt gấc mài ngâm rượu rồi xoa vào chỗ sưng, hay dùng hạt đậu xanh tán nhỏ trộn với dấm rồi đắp lên chỗ sưng.

Cách ly bệnh  nhân tối thiểu 2 tuần. Bệnh nhân nên nghỉ ngơi, nằm yên, hạn chế đi lại, nhất là đối với thanh niên hay đang trong thời gian sốt và sưng tuyến nước bọt (4 - 6 ngày đầu).

- Phòng bệnh tốt nhất là tiêm vaccin: Tạo miễn dịch chủ động: tiêm vaccin virut sống giảm độc lực an toàn, tạo kháng thể, cho miễn dịch ít nhất 17 năm. Đối tượng tiêm là trẻ em trên 1 tuổi, đặc biệt ở tuổi dậy thì, trưởng thành, thanh thiếu niên sống trong tập thể. Tái tiêm chủng ở người đã tiêm vaccin quai bị dùng virut chết.

Tạo miễn dịch thụ động: Dự phòng đặc hiệu bằng gamaglobulin miễn dịch chống quai bị, dùng sớm cho phụ nữ có thai và cho người cần phải tiếp xúc với bệnh nhân quai bị.

Viêm tuyến nước bọt đơn thuần

Bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai đơn thuần do các loại vi khuẩn Staphylococcus aureus, do virus Iryfluenza, Parainfluenza, coxsackie... gây nên hoặc do sỏi làm tắc ống dẫn tuyến nước bọt cũng gây viêm. Bệnh thường chỉ tổn thương tại tuyến nước bọt, diễn biến lành tính, tự khỏi hoặc cũng có trường hợp  chuyển sang viêm mạn tính phì đại tuyến.

Biểu hiện: Bệnh nhân thấy vùng tuyến nước bọt mang tai sưng to, sưng lan rộng ra xung quanh tuyến, da vùng tuyến sưng tấy đỏ đau, nói và nuốt đau, có hạch viêm phản ứng ở góc hàm hoặc sau tai cùng bên. Sốt 38 - 39oC, ấn  vùng tuyến mang tai thấy có mủ chảy ra ở miệng ống Stenon.

Đối với bệnh nhân bị bệnh viêm tuyến nước bọt đơn thuần thường không thấy có tổn thương ngoài tuyến nước bọt. Bệnh có tính chất đơn lẻ, cơ hội, thường xuất hiện khi có viêm nhiễm khác ở vùng miệng và mũi họng, không lây thành dịch.

- Điều trị viêm tuyến nước bọt: Dùng kháng sinh, chống viêm, giảm phù nề, giảm đau. Khi tiêm trực tiếp kháng sinh và corticoid vào tuyến nước bọt, qua đường ống Stenon thấy kết quả tốt, vùng tuyến giảm sưng nhanh, ít tái phát, nếu viêm tuyến lần đầu theo dõi thấy không tái phát. Nếu để muộn, điều trị không kịp thời sau 7 - 10 ngày, bệnh giảm các triệu chứng và chuyển sang viêm mạn tính tái phát sau 1 vài tháng 1 lần viêm lại. Ở những bệnh nhân viêm tuyến tái phát nhiều lần làm vùng tuyến mang tai 2 bên phì đại (to hơn bình thường) không nhỏ lại được, vì thế  làm biến dạng khuôn mặt bệnh nhân.

BSCKI. Hồ Thị Thương Hương (Khoa RHM - Bệnh viện Hòe Nhai)
(suckhoe&doisong)
Bí đao còn có tên bí xanh (vỏ màu xanh có hoặc không có phấn). Tên Hán là đông qua. Tên khoa học là Benincasa cerifera Savi. Họ bầu bí Cucurbitaceae. Bí đao là một loại thức ăn được y văn kim cổ ca tụng nhiều về công năng lợi tiểu tiêu thũng, tháo nước trong toàn thân ở rất nhiều bệnh từ đơn giản đến phức tạp nhất là vào mùa hè.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Canh bí đao


Bí đao có các dạng thái lát phơi khô, hay tán thành bột và còn chế thành nước (đông qua thuỷ). Bí đao có thể cung cấp cho ta thức ăn ngon mát bổ dưới dạng khô (sào thịt), dạng lỏng nước (luộc, nấu canh tôm). Chúng đều có tác dụng cải thiện sức khoẻ ngày hè cho mọi lứa tuổi. Các bộ phận của cây bí đao đều được dùng làm món ăn và thuốc: quả (gồm cuống, vỏ, thịt, hột), dây cuộng, lá, hoa...

Theo Đông y, bí đao (đông qua) vị ngọt, tính hàn, vào các kinh phế, vị, bàng quang, tiểu tràng, không có độc tính. Có tác dụng rõ rệt kiện tỳ, ích khí, tiêu thuỷ. Trường kỳ ăn bí xanh có thể tiêu trừ nước thừa trong cơ thể, giảm cân chống mập phì. Bí đao thích hợp người bị khí hư tỳ yếu, béo bệu, phù thũng cục bộ hoặc toàn thân.

Bí đao được dùng làm thuốc trong những trường hợp sau:

Phòng chữa bệnh mùa hè do nắng nóng, gây nhiều mỏi mệt, uể oải, thân thể nặng nề, đau đầu, tiểu vàng, ăn không tiêu (cảm nắng, cảm thử) nên dùng canh bí đao: Bí đao nấu với cà chua, vài lát gừng giã dập hoặc nấu canh bí đao với cua, tôm nõn, nước luộc gà...

Chống nóng nực, háo khát phòng cảm cúm, ôn dịch (viêm não, sốt xuất huyết...): bí đao chỉ cạo sơ qua vỏ, thái miếng 500g, nấm rơm tươi 50g đậu xanh, thịt lợn nạc. Gia vị, nấu canh ăn cho thêm ý dĩ, bạch biển đậu, lá sen thái chỉ...

Ở Trung Quốc nhiều nơi có tập quán vào những ngày hè oi bức mọi người đều uống nước nấu bí đao.

Bệnh tiết niệu sinh dục - đái dắt: uống nước bí đao hoặc ăn bí đao sống thái chấm muối.

Đái không thông, đái đục do thấp nhiệt bàng quang - Nấu bí cả vỏ xanh. Uống nước ăn cái.

Phù toàn thân: Bí đao, hành củ, nấu với cá chép.

Phù khi có thai: Bí đao và đậu đỏ lượng bằng nhau (khoảng 40g) nấu canh ăn (không cho muối).

Bạch đới: Hạt bí lâu năm rang nghiền bột uống 15g mỗi lần vào lúc đói.

Thận khí hư suy, lưng đau gối mỏi, suy giảm tình dục: Bí đao 100g, lộc nhung 5g, trứng bồ câu 5 quả lấy lòng đỏ, dầu, muối, gia vị. Bí đao giã nhuyễn, nhung thái mỏng ngâm rồi hấp. Tất cả đánh đều hấp chín ăn cách ngày 1 lần trong tháng.

Bệnh đái tháo đường, béo phì, tăng huyết áp: Bí đao 30g, vỏ bí đao 30g, hoàng liên 9g sắc lấy nước uống.

Ho gà, viêm phế quản cấp và mạn: Hạt bí đao 15g trộn với đường phèn giã mịn nhào với mật ong uống với nước đun sôi để nguội. Ngày 2-3 lần.

Hen suyễn: Quả bí đao còn cuống, bổ ra cho đường phèn hấp chín. Ăn hết khoảng 4 quả mới thấy rõ hiệu quả. Có thể thêm gừng.

Phổi có ung nhọt (viêm, áp xe...): Hạt bí đao, các vị bồ công anh, kim ngân hoa... ý dĩ sống, diếp cá, mỗi thứ 40g, rễ lau 20g, hạt đào cát cánh, cam thảo mỗi thứ 10g sắc uống.

Mũi chảy nước hôi (viêm mũi): Bí đao, ý dĩ mỗi thứ 40g, nấu nước uống hàng ngày.

Ngộ độc thức ăn (tôm, cá nóc...): Bí đao tươi, giã nát, vắt lấy nước thật nhiều để uống.

Chữa tàn nhang: Hạt bí 350g, hạt sen 30g, bạch chỉ 15g. Tất cả nghiền mịn. Hằng ngày uống sau bữa cơm. Chiêu bằng nước đun sôi để nguội.

Bỏng: Vỏ bí đao sấy khô tan bột trộn dầu vừng bôi.

Chín mé: Lá bí đao giã nát xào dấm bó lại.

Sụn lưng do lao động: Vỏ bí đao đốt thành than tán bột uống với rượu, mỗi lần 6g.

Phạm phòng (phòng sự quá độ gây ốm yếu mệt mỏi, suy nhược): Vỏ bí đao sao vàng 12g sắc uống. Ngày 3 lần.

Ung thư gan trong thời gian xạ trị và sau phẫu thuật: Thịt chân giò 100g, măng vụ đông 100g, nấm hương vụ đông 20g, giăm bông 30g, đậu xanh 10-20 hạt. Muối < 4g, dầu vừng 50g. Rượu vang 5g, mỳ chính. Các thứ tẩm gia vị đun cho chín rồi tưới dầu lên.

Ung thư họng: Bí đao tươi 300g, hạt ý dĩ 50g, dầu ăn, gia vị. Nấu ý dĩ trước cho bung ra mới cho bí vào nấu chín, gia vị. Ăn cái uống nước. Chia hai lần ăn hết trong ngày.

Ung thư trực tràng, kết tràng: Đông qua nhân (hạt bí đao) 15g, đại hoàng 10g, đan bì 16g, đào nhân 10g, phác tiêu 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ung thư phổi: Đông qua nhân 15g, sa sâm 15g, sơn dược 20g, cáp phấn 15g, ý dĩ 20g, phục linh 20g, tử sâm 20g, bạch cập 16g, bối mẫu 10g, đông trùng hạ thảo 5g, chính cam thảo 6g, tam thất 4g, bạch anh 30g, đông qua nhân 20g, lô căn tươi 20g, ý dĩ 30g, sắc uống ngày 1 thang.

BS. Phó Thuần Hương
(suckhoe&giadinh)
Bệnh tim bẩm sinh là các dị tật của tim có từ lúc trẻ còn trong bào thai. Các dị tật này có thể ở các vị trí sau: van tim (hẹp van, hở van, không có lỗ van), buồng tim (tim chỉ có một tâm nhĩ, hay một tâm thất, hay 3 buồng tâm nhĩ), vách ngăn tim hay các động mạch lớn gần tim.

Nguyên nhân

Rất khó xác định nguyên nhân gây ra tim bẩm sinh (TBS). Một số ít bệnh TBS là do di truyền, phần lớn còn lại do sự tác động của nhiều yếu tố từ môi trường bên ngoài lên bà mẹ lúc mang Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớithai, đặc biệt là trong 3 tháng đầu tiên như: bị cảm cúm, sốt phát ban, nhiễm trùng, bệnh tiểu đường, lupus ban đỏ, uống rượu, uống thuốc bừa bãi, sống trong môi trường có nhiều tia X, tia phóng xạ, hóa chất độc hại. Ngoài ra, các bà mẹ trên 40 tuổi sinh con có tỷ lệ bị TBS cao hơn.

Chăm sóc Trẻ bị TBS

Tất cả trẻ bị TBS vẫn phải tiêm phòng như mọi trẻ bình thường khác. Đối với những trẻ còn đang bú sữa, để tránh bị sặc sữa, không được cho trẻ bú khi nằm, phải bế trẻ lên và để đầu trẻ cao khi bú. Nếu trẻ không bú được nhiều, mẹ nên cho bú nhiều lần hơn bình thường và mỗi lần bú số lượng sữa có thể giảm đi. Đối với trẻ lớn đã ăn cơm, gia đình nên cho trẻ ăn nhạt nhưng vẫn đầy đủ chất bổ dưỡng. Nên cho trẻ ăn chế độ ăn có nhiều rau, trái cây để tránh táo bón. Ngoài ra những trẻ lớn bị suy tim chỉ nên uống nước khi khát. Ngược lại những trẻ bị TBS tím, máu bị cô đặc nhiều, nên uống nhiều nước. Trẻ đang độ tuổi đi học vẫn có thể tiếp tục đến trường; gia đình cần kết hợp với nhà trường để miễn cho trẻ những hoạt động nặng cần phải gắng sức như chơi những môn thể thao đòi hỏi sự gắng sức cao độ, hoặc lao động nặng. Khi trẻ đã bị suy tim nên cho trẻ nằm đầu cao khi ngủ.

Trẻ bị TBS rất dễ bị viêm phổi, để tránh biến chứng này gia đình nên giữ trẻ ấm khi trời lạnh, không cho trẻ ở những nơi có nhiều khói bụi, không nên hút thuốc lá ở những chỗ trẻ ở. Nếu trong gia đình có người mắc các bệnh ho, cảm cúm thì nên tránh xa trẻ, không nên tiếp xúc với trẻ. Ngoài ra trẻ TBS cũng dễ bị nhiễm trùng vùng răng miệng, từ đó sẽ dẫn tới nhiễm trùng máu và nội mạc tim, rất nguy hiểm. Chính vì thế gia đình nên hướng dẫn trẻ cách đánh răng sau mỗi bữa ăn, khám bác sĩ nha khoa định kỳ 6 tháng/lần. Nếu cần nhổ răng hay làm các thủ thuật, phẫu thuật có gây chảy máu phải báo cho bác sĩ biết trẻ bị TBS để được uống hoặc tiêm kháng sinh dự phòng trước và sau thủ thuật, phẫu thuật.

Có phải tất cả đều phải dùng thuốc?

Về điều trị, không phải tất cả các trẻ bị TBS đều cần dùng thuốc, bác sĩ sẽ cho các loại thuốc khác nhau tùy theo loại bệnh tim và mức độ nặng nhẹ của bệnh. Có rất nhiều loại thuốc để điều trị TBS, các loại này đều dùng không đúng chỉ định có thể có hại cho trẻ. Chính vì thế gia đình chỉ cho trẻ uống thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ, không tự động ngưng thuốc khiến bệnh sẽ nặng hơn, không tự động tăng hoặc giảm liều thuốc vì sẽ nguy hiểm cho trẻ. Trong khi dùng thuốc nếu trẻ xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào khác thường, gia đình nên báo ngay cho bác sĩ biết.

Trẻ bị TBS nên tái khám định kỳ mỗi tháng, 2 tháng, 3 tháng hay 6 tháng tùy theo chỉ định của bác sĩ. Dù trẻ có bình thường cũng nên đi tái khám theo lịch hẹn để bác sĩ đánh giá diễn tiến của bệnh, phát hiện các biến chứng cũng như điều chỉnh lại liều lượng thuốc cho phù hợp với cân nặng tăng dần của trẻ. Nên cho trẻ khám lại ngay nếu có bất kỳ triệu chứng nào khác thường như: sốt, ho, tiêu chảy, nôn mửa, phù, tiểu ít, bỏ bú, quấy khóc, thở mệt, rên rỉ, lừ đừ hay bứt rứt lên cơn tím tái, co giật, hôn mê.    

BS. Vũ Minh Phúc
(suckhoe&doisong)
Hơn 1 tháng nay, cùng với những dịch bệnh bùng phát trong mùa nắng nóng như sốt virus, sốt xuất huyết, viêm não, tả... thì người dân trong cả nước, đặc biệt ở thủ đô Hà Nội cũng đang phải chịu chứng bệnh đau mắt đỏ (ĐMĐ). Tại Bệnh viện Mắt Trung ương, Bệnh viện Mắt Hà Nội và 29 Trung tâm y tế quận, huyện của Hà Nội, số người vào khám và điều trị vì bệnh ĐMĐ (còn gọi là viêm kết mạc cấp) tăng đột biến.

Không ít trường hợp cả gia đình 5-7 người cùng bị ĐMĐ. Nhiều người nhập viện trong tình trạng quá nặng, vì trước đó đã tự dùng thuốc dân gian (đắp thịt ếch nhái, đắp lá, xông nước lá trầu không, lá răm, tinh dầu nóng...) làm cho mắt bị bội nhiễm sưng, đỏ sọng, thị lực giảm, hạch nổi cộm ở cổ và góc hàm, giác mạc tổn thương, giảm thị lực... gây khó khăn trong việc điều trị. Tháng 7 thường là “đỉnh” của dịch ĐMĐ. Bệnh do virus Adeno gây ra, dễ lây lan thành dịch. Khi mắc, người bệnh có triệu chứng hai mắt cộm, ngứa. Sau khi ngủ dậy mắt nhiều nhử, mí mắt sưng nề, họng đau, hai góc hàm nổi hạch, đôi khi có triệu chứng như viêm họng. Người bệnh thường đau một mắt, 1-2 ngày sau đau nhức lan sang mắt bên kia, nhất là khi ra nắng. Bệnh nhân có thể bị ĐMĐ sau khi bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên hay tiếp xúc với ai đó bị ĐMĐ. Đây là bệnh cấp tính, lây theo đường nước bọt, dùng chung khăn và chậu rửa mặt, chung bát, đĩa, thìa, điện thoại... hoặc lây qua môi trường (không khí, nước) bị ô nhiễm. Do vậy bệnh sẽ bùng phát thành dịch trong một vùng dân cư sống tập trung như khu tập thể, cơ quan, làng, xã.

Với người mắc bệnh này, cần phải đến cơ sở chuyên khoa mắt khám và dùng thuốc điều trị tích cực sau 5-7 ngày, bệnh sẽ khỏi. Nếu điều trị không đúng thuốc, đúng cách, bệnh nặng hơn với biến chứng viêm loét giác mạc, thị lực giảm.

Việc chữa ĐMĐ không khó, chủ yếu bằng các loại thuốc nhỏ mắt thông thường như Chloramfenicol 0,4%, Cloraxyl,  thuốc mỡ Tetracylin 1% (tra tối trước khi ngủ). Ngoài ra dùng thêm thuốc giảm đau Paracetamon, thuốc chống viêm, giảm phù nề Alphachymoltrypsine, Amitase, Kotase. Khi bệnh nhân có viêm kết mạc nặng, sốt cao, sưng họng mới nên dùng kháng sinh Erythromyxin, Cephalexine để chống bội nhiễm và bổ sung các vitamin B1, C, dầu cá nâng cao  sức đề kháng cơ thể.

Hiện nay trên thị trường có nhiều loại thuốc mà khi đau mắt người bệnh thường tự mua về dùng có chất kháng viêm Corticodes như Dexacol, Neodex, Maxitrol, Cebedexacol, Osla, V-Rhoto, Visin.... Đây là những loại thuốc tuyệt đối không được dùng khi bị ĐMĐ. Nếu dùng nhiều  sẽ làm đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp dẫn đến mù lòa. Khi bị đau mắt, người bệnh không được dụi mắt, không băng kín mắt vì xuất tiết dử mắt ứ đọng lại, nhiệt độ vùng mắt tăng khiến vi khuẩn có cơ hội phát triển mạnh. Hàng ngày rửa mắt bằng nước sạch hoặc nước muối sinh lý Natri Clorid 0,9%. Người bệnh tuyệt đối dùng riêng khăn và chậu rửa mặt, tránh nơi đông người. Khi bị đau mắt,  không được tự ý mua thuốc nhằm  tránh tai biến, nên nhỏ thuốc hàng ngày theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa, hạn chế đọc sách báo, xem ti vi và ít dùng các thức ăn, đồ uống cay, nóng...

DS. Minh Huyền

(daidoanket)
Khi một thuốc mới ra đời, khuynh hướng chung là đánh giá cao ưu điểm, chưa biết hay bỏ qua nhược điểm của thuốc đó. Thuốc đái tháo đường týp 2 thế hệ mới xuất hiện trong vòng 5 năm nay cũng tạo nên khuynh hướng như vậy. Vì vậy, việc đánh giá đúng mức hiệu lực, thận trọng với các tác dụng phụ của chúng là rất cần thiết.                                                    

Sau khi ăn, đường huyết tăng, niêm mạc tiêu hóa tiết ra incretin còn gọi GLP-1 (Glucagon-like peptide-1) làm tăng tiết insulin, giảm đường huyết. Như vậy GLP-1 có chức năng điều hòa, giảm đường huyết sau khi ăn. Trong khi đó, enzym DPP - 4 lại  ức chế GLP-1, làm mất hoạt tính kích thích tiết insulin, làm cho đường huyết  tăng.

Thuốc đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 thế hệ mới  có  tác dụng hoặc tương tự như GLP-1 hoặc ức chế enzym DPP-4 làm vững bền GLP-1 (làm giảm đường huyết sau  ăn).

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Cơ chế tác động của GLP-1.

Một số thuốc chữa đái tháo đường týp 2 thế hệ mới

Nhóm có tác dụng  tương tự GLP-1

Có 3 chất (exenatid, liraglutid, pramilintid) có tác dụng kích thích tiết insulin làm hạ đường huyết sau ăn, sau đó bị hủy, nên không gây tác dụng phụ hạ đường huyết quá mức.

- Exenatid  (byetta): Là phiên bản tổng hợp giống với hormon exenatid - 4 có trong nước bọt con thằn lằn độc Gila Monster (tên khoa học Holoderma suspectum). Ngoài tác dụng hạ đường huyết, axenatid  còn có tác dụng giảm thèm ăn (thông qua hypothalamus), giảm mỡ gan. Hiệu lực xuất hiện ngay sau khi dùng vài phút, chỉ sau vài giờ là có thể đạt đến lượng insulin cần thiết để làm giảm đường huyết.

Thuốc thường dùng kết hợp với metformin hoặc sufonylure hoặc kết hợp với cả hai  khi bệnh chuyển sang giai đoạn cần dùng hai thuốc.

- Liraglutid (victoza): Có tác dụng cải thiện đường huyết cao hơn exenatid, bền vững hơn, ít gây tai biến hơn exenatid (chỉ gây buồn nôn và tiêu chảy nhẹ, hiếm khi gây hạ đường huyết quá mức).

- Pramilintid (symlin): Amylin là hormon do tế bào beta tuyến tụy tiết ra cùng với insulin, sau khi ăn. Pramilintid là chất tổng hợp tương tự amylin (giữ lại phần hoạt tính, giảm bớt phần độc hại). Nó hợp lực với amylin, hạn chế tiết glucagon, thúc đẩy tái hấp thu glucose, làm chậm việc đổ thức ăn từ dạ dày vào ruột, tăng trạng thái no, do đó làm giảm đường huyết.

Nhóm  ức chế  enzym DPP-4 (làm vững bền GLP-1)

Có hai chất (sitagliptin, vildagliptin), chúng ức chế enzym DPP-4, làm vững bền GLP-1 (chất kích thích tiết insulin) làm hạ đường huyết sau khi ăn. Vì là thuốc làm vững bền GLP-1 nên chỉ dùng  khi niêm mạc ruột còn có khả năng tiết ra GLP-1 (khác với điều kiện dùng nhóm có tác dụng tương tự GLP-1 nói trên). Chúng chỉ tăng tiết insulin hạ đường huyết sau khi ăn, rồi sau đó ngưng hoạt động, do đó khi dùng một mình hay khi dùng với các thuốc hạ đường huyết yếu như metformin, thiazodinedion không gây nguy cơ hạ đường huyết quá mức, nhưng khi dùng với các thuốc hạ đường huyết mạnh như sulfonylure thì điều này có thể xảy ra, cần thận trọng. Chúng đều dùng dạng uống, khá tiện lợi so với  các thuốc trong nhóm có tác dụng giống GLP-1.

Và tác dụng phụ của chúng


Satiglpitin gây nhức đầu (5%), viêm mũi họng (5%); do ảnh hưởng lên hệ miễn dịch nên gây nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (6%). Thuốc làm tăng nồng độ của digitoxin khi dùng chung, tuy không cần thay đổi  liều dùng song cần theo dõi cẩn thận. Exenatid thường gây tăng acid dạ dày, khó tiêu, tiêu chảy, ợ nóng, buồn nôn, nôn (30-45%). Không dùng cho người có các bệnh nặng đường tiêu hóa. Trong quá trình dùng thuốc có thể gây phù, chán ăn, trào ngược dạ dày-thực quản, yếu cơ, chóng mặt, đau đầu, cảm giác hốt hoảng, sợ hãi nhưng ít gặp hơn. Một số người dùng exenatid bị viêm tụy, có trường hợp hoại tử tụy, gây tử vong (chưa rõ cơ chế).  Khi dùng chung sẽ làm giảm nồng độ của thuốc chữa rối loạn lipid (lovastatin), thuốc hạ nhiệt (paracetamol), thuốc tim mạch (digitoxin), tuy chưa thấy  làm thay đổi hiệu quả các thuốc này. Pramilintid có thể gây đau đầu, chóng mặt, ho, đau bụng, buồn nôn, nôn, làm giảm trọng lượng cơ thể.

Độ thanh thải của sitagliptin, exenatid bị giảm ở người suy chức năng thận. Vì thế khi dùng cần giảm liều.

Như vậy, thuốc chữa ĐTĐ týp 2 thế hệ mới làm giảm đường huyết sau khi ăn mà không gây hạ đường huyết quá mức. Đây là ưu điểm quan trọng, đặc biệt với người cao tuổi, bị ĐTĐ lâu năm. Chúng cũng có một số tác phụ đã biết nhưng chưa rõ cơ chế (sitagliptin, exenatid) hoặc chưa biết đầy đủ (vildagliptin). Vì thế trong quá trình dùng cần cập nhật  thông tin, theo dõi, phát hiện các tác dụng không mong muốn của thuốc. Việc ra đời nhóm thuốc này giúp cho người ĐTĐ thêm cơ hội lựa chọn, nhưng cần biết, giống như thuốc ĐTĐ týp 2 cũ, chúng cũng  không chữa khỏi bệnh mà chỉ hỗ trợ người bệnh ổn định đường huyết. Một số thuốc loại này còn có cách dùng phức tạp hơn như tiêm dưới da, tuy chúng có dùng ở nước ta song chưa phổ biến bằng các thuốc ĐTĐ týp 2 cũ.

DS. Bùi Văn Uy
(suckhoe&doisong)
Các bác sĩ Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội, đã ứng dụng thành công phương pháp mới điều trị nhiều bệnh lý liên quan đến cột sống như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống thắt lưng, đau thần kinh tọa... cho nhiều trường hợp bằng thiết bị silicon (DIAM) giúp cột sống vững chắc, tránh cho bệnh nhân khỏi bị liệt, gù, hết đau và cử động bình thường. Đây là một phương pháp tiên tiến, hiện đang áp dụng nhiều ở các nước trên thế giới như: Mỹ, châu Âu và một số nước châu Á... Bệnh viện Việt Đức là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam áp dụng kỹ thuật này.

        TS. Thạch cho biết các bệnh lý cột sống nếu được phát hiện sớm bệnh có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc kết hợp các bài tập phục hồi chức năng, điều chỉnh những thói quen trong sinh hoạt ảnh hưởng đến bệnh. Tuy nhiên, bệnh nhân bị bệnh thường cố gắng chịu đựng, chỉ khi không thể chịu nổi họ mới tìm đến bệnh viện, khi đó bệnh đã nặng, có thể đã xuất hiện nhiều biến chứng. Việc điều trị nội khoa lúc này không đạt hiệu quả mà phải tính đến giải pháp can thiệp bằng phẫu thuật. Thành công của phương pháp điều trị mới này hy vọng sẽ là một giải pháp tốt cho nhiều người bệnh.  
Trả lại sự mềm mại cho cột sống lưng người bệnh

Sau nhiều năm sống chung với chứng đau lưng và đau bại một bên chân, bệnh nhân Ngô Thanh V., 54 tuổi (thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái) chạy chữa nhiều phương pháp nhưng chẳng đỡ được là bao. Gần đây, bệnh nhân đau nhiều và khó khăn trong việc đi lại. Kết quả chiếu chụp cho thấy bệnh nhân bị hẹp ống sống L4-L5 và hẹp thân đốt sống L3 bị phù nề. Sau khi thăm khám, các bác sĩ Khoa Phẫu thuật cột sống - Bệnh viện Việt Đức quyết định dùng phương pháp cố định động cột sống liên gai sau bằng thiết bị silicon (còn gọi là DIAM) để xử trí những đau đớn cho bệnh nhân V. Chỉ sau vài ngày đặt DIAM, bệnh nhân đã giảm đau rất nhiều và đi lại được.

PGS.TS. Nguyễn Văn Thạch, Phó Giám đốc bệnh viện, Trưởng khoa Phẫu thuật cột sống cho biết, trước đây đối với các trường hợp này thường được mổ mở giải hẹp, rồi nẹp vít để cố định cột sống. Tuy bệnh nhân cũng hết đau nhưng nẹp vít lại khiến bệnh nhân rất khó cử động, chỉ có ưỡn mà không thể gập được người. Hơn nữa, qua thời gian có thể mòn và gãy dễ gây tai biến, còn các trường hợp bị xẹp do loãng xương hoặc vừa loãng xương vừa chấn thương do thoát vị đĩa đệm... thì phải sống chung với đau đớn suốt phần đời còn lại do xương của bệnh nhân giòn, dễ vỡ. Còn DIAM là loại dụng cụ được đưa vào khe giữa hai mỏm gai sau đốt sống thắt lưng nhằm làm giãn và cố định động 2 đốt sống. Ưu điểm của phương pháp này không những cố định được cột sống và giải ép các nguyên nhân chèn ép thần kinh mà còn đảm bảo độ mềm dẻo của cột sống, giúp bệnh nhân cúi và ưỡn thoải mái. Đặc biệt, DIAM còn có tác dụng hữu hiệu khi phối hợp với vít cố định cột sống hoặc trên các bệnh nhân bị lấy nhân đĩa đệm... giúp bệnh nhân khỏi bị xẹp đĩa đệm, làm chậm quá trình thoái hoá diện khớp và đĩa đệm liền kề chỗ cố định. Với phương pháp này, bệnh nhân hầu như không còn cảm thấy đau, rất ít biến chứng, có thể đi lại sau 1 - 2 ngày phẫu thuật.

Theo TS. Thạch, phương pháp này ít gây tai biến cho bệnh nhân vì silicon tương thích với cơ thể con người, có độ đàn hồi tốt nên hiếm khi gây ra các biến chứng như tuột hoặc đứt.... Hơn nữa, đây là dạng phẫu thuật can thiệp tối thiểu không đụng chạm trực tiếp đến cấu trúc thần kinh vào rễ thần kinh tủy sống nên không gây ảnh hưởng đến chức năng quan trọng của vùng cột sống và phần mềm ít bị phá huỷ. Tuy nhiên, theo TS. Thạch, không phải ai cũng thực hiện được kỹ thuật này. Để tiến hành, cần phải có phẫu thuật viên chuyên khoa, được đào tạo bài bản. Kỹ thuật này không áp dụng được đối với các bệnh nhân bị trượt đốt sống mất vững, gãy đốt sống, khuyết hở eo đốt sống, vẹo cột sống bẩm sinh, khối u vùng cột sống. Trong 1 - 2 tháng đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân cần làm việc nhẹ nhàng, không mang vác nặng.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Phẫu thuật cố định cột sống ở BV Việt Đức.

Các bệnh lý cột sống đang ngày càng trở nên phổ biến

Các chuyên gia về cột sống cho hay, các bệnh lý liên quan đến cột sống rất phổ biến, đặc biệt là người luống tuổi, bị loãng xương gây hẹp ống sống. Ống sống là khoang rỗng của đốt sống, trong đó có tuỷ sống và các rễ thần kinh. Nếu ống sống bị hẹp sẽ chèn ép rễ tủy sống và các rễ thần kinh tương ứng gây ra nhiều biến chứng. Chẳng hạn hẹp ống sống thắt lưng sẽ gây đau lưng và đau dây thần kinh hông to lan xuống cả hai chân gây phản ứng dị cảm, đôi khi liệt cơ và rối loạn cơ tròn... Trong khi đó, có rất nhiều nguyên nhân gây hẹp ống sống thắt lưng như thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống bẩm sinh, loạn dưỡng sụn, dị dạng đốt sống, hẹp ống sống nguyên phát, quá ưỡn cột sống thắt lưng, gai đôi cột sống, trượt đốt sống, hẹp ống sống sau chấn thương, biến đổi thoái hoá... Ngoài ra, hẹp ống sống có thể do xương (cung, thân đốt sống), cũng có thể do tổ chức mềm gây nên (đĩa đệm, tổ chức liên kết). Tùy theo nguyên nhân, hẹp ống sống có thể ở từng đoạn hay cả toàn bộ ống sống. Khi bị hẹp ống sống thắt lưng, bệnh nhân thường đau lưng, đau dây thần kinh hông to trong nhiều năm và đã điều trị nhiều không khỏi. Đau đa dạng, trải qua đau mạn tính lan sang 2 bên đùi, xuống chân, gây liệt. Hơn nữa, trong quá trình bị bệnh duỗi cột sống quá sẽ gây đau nên bệnh nhân có tư thế đi hơi ngả người về phía trước và xảy ra hiện tượng gù... Các tổn thương này không chỉ ảnh hưởng đến sự vận động của các bệnh nhân mà liệt và gù còn là gánh năng cho gia đình và xã hội.          

Bài và ảnh: Hà Anh
(suckhoe&doisong)
Viêm đường mật - túi mật là biến chứng thường gặp nhất của sỏi và giun đũa chui vào đường mật - túi mật, nhất là khi có tắc nghẽn ống mật. Trong nhóm bệnh lý này, thì bệnh viêm túi mật cấp là một cấp cứu về tiêu hóa, thường do sỏi mật gây nên. Bệnh hay gặp ở nữ, tuổi thường gặp 40 - 60. Bệnh cần được chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời để phòng những biến chứng có thể dẫn tới tử vong.

Khi có sỏi đường mật nhất là sỏi cổ túi mật hoặc giun chui đường mật sẽ gây tắc nghẽn đường mật, muối mật kích thích gây tổn thương thành túi mật, lúc đó vi khuẩn sẽ xâm nhập vào trong túi mật và phát triển gây ra viêm túi mật cấp.

Bệnh gây ra do vi khuẩn chiếm 50 - 85% trường hợp. Vi khuẩn thường gặp là E.coli, Klebsiella, Streptococcus nhóm D, Staphylococcus và Clostridium.

Thường khởi phát bởi cơn đau quặn gan, sau đó diễn tiến đưa đến nhiễm trùng và tắc mật. Có khoảng 60-70% bệnh nhân với cơn đau đầu tiên tự lui bệnh. Tuy nhiên, những cơn đau kéo dài về sau sẽ đưa đến đau lan tỏa cả vùng hạ sườn phải, lan đến vùng bả vai phải.

Đau tăng khi ho và hít sâu, bệnh nhân thường nôn và chán ăn; Vàng da chỉ xuất hiện khi có viêm phù nề hoặc hạch chèn ép vào đường dẫn mật chính nên thường không có hoặc đến muộn.

Chẩn đoán bệnh dựa vào lâm sàng, xét nghiệm công thức máu, bilirubin máu và siêu âm hệ thống gan mật.

Nếu không chẩn đoán và điều trị kịp thời, có khá nhiều biến chứng có thể xảy ra, thậm chí có cả những biến chứng gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Các biến chứng thường gặp là viêm mủ túi mật, ứ nước túi mật, hoại thư và thủng túi mật.

Làm sao khỏi bệnh?

Điều trị bao gồm nội và ngoại khoa:


Điều trị nội khoa: Nghỉ ngơi, truyền dịch để nuôi dưỡng và cân bằng nước điện giải. Dùng các thuốc giảm đau, giãn cơ trơn như nospa hay sparmaverin. Kháng sinh là thuốc đầu tay, hiện nay có rất nhiều kháng sinh có thể lựa chọn với ưu tiên là các kháng sinh có phổ tác dụng trên vi khuẩn gram âm như quinolon thế hệ 2 và kháng sinh có tác dụng trên các vi khuẩn kỵ khí như nhóm imidazole. Tùy theo tình trạng, tùy theo mức độ và tùy theo điều kiện thực tế mà bác sĩ sẽ cho chỉ định điều trị hợp lý.

Nhóm imidazole (metronidazole, tinidazole, ornidazole): thuốc có tác dụng tốt với các nhiễm khuẩn do các vi khuẩn kỵ khí, nhất là nhiễm khuẩn tiêu hóa và giá thành rẻ nhưng khi dùng thuốc kéo dài cần lưu ý vì có thể gặp tác dụng phụ như chóng mặt, buồn nôn, nôn, đau vùng thượng vị, nổi mày đay... các dấu hiệu này thường nhẹ và mất sau khi cơ thể đào thải hết thuốc. Đặc biệt, đối với bệnh nhân có tiền sử rối loạn huyết động học khi sử dụng dài ngày loại thuốc này nhất thiết phải được theo dõi công thức bạch cầu. Thuốc này không được dùng cho phụ nữ có thai 3 tháng đầu hoặc trong thời kỳ cho con bú.

Trong nhóm quinolon thế hệ 2, ciproflocacin hoặc peflacin là thuốc được lựa chọn đầu tiên trong điều trị bệnh lý nhiễm khuẩn tiêu hóa do giá thành rẻ, hiệu quả cao. Thuốc hấp thu nhanh và dễ dàng qua đường tiêu hoá, sinh khả dụng khoảng 70 - 95%. Thức ăn và các thuốc kháng acid làm chậm hấp thu thuốc. Phân bố rộng khắp các mô và dịch cơ thể ít qua hàng rào máu não ở người bình thường nhưng khi màng não bị viêm thì xâm nhập tốt hơn. Thuốc qua được nhau thai và sữa mẹ. Tuy nhiên, khi dùng thuốc có một số tác dụng không mong muốn có thể xảy ra rối loạn tiêu hoá như buồn nôn, nôn, tiêu chảy; gây đau nhức xương khớp, kém phát triển xương khớp nhất là ở tuổi đang phát triển; ngoài ra có thể có các biểu hiện khác như nhức đầu, chóng mặt, buồn ngủ, có trường hợp kích động, động kinh nhất là khi dùng cùng với theophylin, tăng bạch cầu ưa acid, giảm bạch cầu lympho, giảm bạch cầu đa nhân, giảm tiểu cầu, thiếu máu.

Trong trường hợp bệnh nặng cần sử dụng phối hợp kháng sinh và dùng bằng đường tiêm, thường phối hợp thêm với cephalosporin thế hệ 3 như cefotaxim, ceftriazon hoặc cefuroxim. Ngoài ra cần chú ý đến nhiễm các vi khuẩn kỵ khí, do đó cần phối hợp thêm metronidazol hoặc clindamycin (dalacin).

Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật cấp cứu: Trong trường hợp không đáp ứng với điều trị nội khoa mà tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc nặng hoặc có biến chứng ngoại khoa như túi mật hoại tử, thấm mật phúc mạc và viêm phúc mạc mật. Hiện nay thường mổ túi mật qua đường nội soi.

Trong trường hợp viêm túi mật hoại tử cũng bắt đầu là viêm túi mật cấp do sỏi hoặc không nhưng sau đó do thiếu máu và hoại tử thành túi mật, do các vi khuẩn sinh hơi kỵ khí. Tử vong loại này thường cao hơn, do vậy trong những trường hợp này cần mổ sớm cho bệnh nhân và phối hợp với hồi sức kháng sinh thích hợp.

Phẫu thuật có chuẩn bị: Thường sau một đợt điều trị nội khoa để ổn định nhiễm trùng, nhất là ở người già có bệnh tim mạch, đái tháo đường, để chuẩn bị bệnh nhân được tốt hơn.

ThS. Nguyễn Bạch Đằng
(suckhoe&doisong)
Ngoài lượng protein, chất béo và nước phù hợp cần cho sự sống, quan trọng nhất là chất đường-bột. Một nghiên cứu của nước ngoài chỉ ra rằng thời gian dài thiếu chất này có thể làm cho trí nhớ kém đi thậm chí mất trí nhớ.

1. Thiếu chất đường-bột, cơ bắp kiệt quệ và mệt mỏi

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Không nên bỏ cơm khi muốn giảm cân

Rất nhiều nữ sinh thời nay xem các thực phẩm giàu chất đường-bột như cơm, mỳ… là “kẻ thù” của hình thể. Đặc biệt, sau khi vận động tập luyện thể thao xong vẫn “rời xa” các loại thức ăn kể trên thì thực là rất sai lầm.


Theo tờ “Chỉ dẫn thực phẩm cho người dân Trung Quốc” mới nhất, chế độ dinh dưỡng WHO đề xuất là 55-65% chất bột đường, 20-30% chất béo, 11-15% protein. Nhu cầu năng lượng khi vận động chủ yếu dựa vào chất đường-bột để tham gia cung cấp năng lượng, duy trì cường độ vận động và cung cấp năng lượng cho não và cơ bắp.


Không giống như protein và chất béo, lượng dự trữ chất đường-bột trong cơ thể rất có hạn. Ví dụ khi vận động cơ thể không cung cấp đủ chất đường-bột sẽ gây ra hiện tượng thiếu năng lượng cho cơ bắp và gây ra mệt mỏi. Không những thế, nếu trong thực phẩm ăn uống hằng ngày thiếu ngũ cốc trong thời gian dài còn làm cho hàm lượng đường máu thấp đi, gây ra chóng mặt hoa mắt, tim loạn nhịp…, nghiêm trọng có thể dẫn đến hôn mê do hạ đường huyết.

2. Thời gian dài không ăn ngũ cốc có thể dẫn đến mất trí nhớ


Một nghiên cứu mới đây nhất của Mỹ chỉ rõ, nếu không ăn các thực phẩm giàu chất đường-bột, nữ giới có khả năng mất trí nhớ. Cụ thể, nghiên cứu của đại học Harvard- Mỹ cho thấy phụ nữ không ăn những thực phẩm giàu tinh-bột như mỳ Ý, bánh mỳ, pizza, khoai lang... trong vòng 1 tuần thì sẽ tổn thương trí nhớ và khả năng nhận thức.


Theo chuyên gia tâm lý thực hiện nghiên cứu này, tế bào não cần đường gluco làm năng lượng nhưng tế bào não lại không thể tích trữ đường gluco, cần phải thẩm thấu qua huyết dịch để liên tục cung cấp. Nếu dung nạp chất đường-bột không đủ có thể sẽ làm giảm lượng đường gluco cần thiết để cung cấp cho tế bào não, từ đó ảnh hưởng tới tư duy, trí nhớ và học tập.

3. Chất đường-bột không làm cơ thể phát phì

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Khoai lang - thực phẩm giàu chất bột đường tốt nhất cho cơ thể


Hiện có rất nhiều người cho rằng dung nạp chất đường-bột sẽ gây ra béo phì. Vì vậy 1 trong những cách đầu tiên để giảm béo là giảm các thực phẩm giàu chất đường-bột. Tuy nhiên, các chuyên gia nhấn mạnh: thực ra, một nguyên nhân chủ yếu làm cho cơ thể tăng cân hay không là do lượng dung nạp vượt quá lượng tiêu hao. Vậy nên nếu duy trì chất đường-bột, giảm bớt chất béo thì tổng nhiệt lượng dung nạp vào cơ thể không thể vượt quá “chuẩn”.


Các thực phẩm giàu chất bột-đường ưu tú là khoai lang. Một củ khoai lang vừa vừa (148g) có tổng hàm lượng chất đường-bột là 26g đồng thời không chứa chất béo và cholesterol. Bên cạnh đó, hàm lượng Kali trong khoai lang cũng rất phong phú, còn cao hơn cả chuối và cũng cao hơn nhiều so với các loại ngũ cốc thông thường. Kali có tác dụng trợ giúp duy trì truyền tải của hệ thần kinh bình thường, giúp cơ bắp thu co bình thường, phòng chống cơ bắp co giật. Ngoài ra, khoai lang còn có một ưu điểm mà ít người biết đến đó là hàm chứa chất xơ rất phong phú. Một củ khoai lang vừa vừa cả vỏ hàm chứa 2g chất xơ, chiếm khoảng 8% lượng chất xơ cần thiết hàng ngày của cơ thể.


Dương Hằng

(dantri)
Lần đầu tiên tại Việt Nam, các bác sĩ Bệnh viện Mắt Việt Nga đã thành công trong tạo hình củng mạc điều trị cận thị nặng cho trẻ em chỉ trong vòng 15 - 20 phút. Đây là một phẫu thuật ít tổn thương và không có biến chứng đáng kể giúp làm giảm mức độ tiến triển của bệnh cận thị xuống 2,5 lần và ngăn chặn sự xuất hiện các biến chứng gây giảm thị lực và mù lòa cho trẻ.

Nhiều ưu điểm khi điều trị cận thị bằng phương pháp mới

TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich, Bệnh viện Mắt quốc tế Việt Nga cho biết, để điều chỉnh tật khúc xạ, ngoài việc đeo kính và điều trị nội khoa, đối với các trường hợp cận thị tiến triển hoặc cận thị nặng, trước đây người ta dùng phương pháp rạch giác mạc hình nan hoa, làm thay đổi hình thể giác mạc và bệnh nhân nhìn rõ hơn. Tuy nhiên, phẫu thuật này dễ gây ra nhiều biến chứng nặng nề: không được tốt và ổn định, gây mờ đục giác mạc, gây mù. Năm 1983, người ta phát hiện ra rằng tia laser excimer có tác động làm thay đổi hình thể giác mạc mà không làm tổn hại phần còn lại. Kỹ thuật này không phải dùng những đường rạch giác mạc theo hình nan hoa, hình thể giác mạc được làm thay đổi dưới tác động của laser. Sự bào mòn giác mạc được thực hiện tinh xảo làm cho một phần mô của giác mạc như bị "bốc hơi" từ bề mặt giác mạc. Phẫu thuật có độ chính xác cao nên cho kết quả ổn định, giảm được đáng kể các biến chứng phẫu thuật. Tuy nhiên, với phương pháp này, từ 2 - 4 ngày của giai đoạn phục hồi là thời gian bệnh nhân phải chịu cảm giác khó chịu nhất. Đó là thời gian giác mạc biểu mô hoá, bệnh nhân có cảm giác sợ ánh sáng, thấy cộm, đau nhức nhẹ và còn chưa nhìn rõ. Thời gian thích nghi sau mổ thường kéo dài khoảng 3 - 4 tuần. Hiện nay, phổ biến là phương pháp lasik. Bằng một dụng cụ chuyên dụng, người ta tạo một vạt giác mạc rồi nâng lên để bộc lộ phần giác mạc phía dưới. Phần giác mạc được bộc lộ này sẽ chịu tác động để thay đổi cấu trúc nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra, sau đó vạt giác mạc sẽ được đặt lại vào vị trí cũ. Phương pháp này đã hạn chế được các nhược điểm của các phương pháp trên. Tuy nhiên, nó chỉ thực hiện được ở các bệnh nhân trên 18 tuổi. Đặc biệt, với những bệnh nhân có tật khúc xạ không ổn định do trục nhãn cầu bị kéo dài, phương pháp lasik không đáp ứng được yêu cầu về cơ chế bệnh sinh.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Cấu tạo của mắt


Để ngăn ngừa cận thị tiến triển, đặc biệt giúp nhãn cầu ổn định, các chuyên gia Nga đã nghiên cứu và ứng dụng thành công phương pháp tạo hình củng mạc. TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich cho biết, đây là loại phẫu thuật nhằm gia cố củng mạc (lớp màng ngoài cùng của nhãn cầu). Phẫu thuật này không giúp tăng thị lực cho bệnh nhân mà ngăn chặn sự tiến triển của cận thị do trục nhãn cầu bị kéo dài, nhờ đó ngăn chặn sự suy giảm thị lực và ổn định cận thị. Phương pháp tiến hành rất đơn giản, trẻ trên 10 tuổi gây tê tại chỗ, dưới 10 tuổi gây mê. Thông qua một vết cắt rất nhỏ trong mắt, các chuyên gia  sẽ đưa vào thành sau của nhãn cầu bốn miếng ghép củng mạc, gắn chặt vào củng mạc của bệnh nhân giúp củng mạc bền chắc, nhờ đó nhãn cầu không bị kéo giãn ra, đồng thời nó có tác dụng hoạt huyết cho nhãn cầu giúp ngăn chặn thoái hóa võng mạc ngoại vi, một biến chứng thường gặp ở bệnh nhân cận thị nặng và tiến triển.

TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich cho biết, chỉ định của phẫu thuật này là những bệnh nhân bị cận thị từ 3D trở lên và tăng dần hàng năm. Sau phẫu thuật 5 - 7 ngày, bệnh nhân bình phục mà không phải áp dụng chế độ sinh hoạt đặc biệt nào, chỉ cần tránh tiếp xúc hay va đập trực tiếp vào mắt. Đặc biệt, phẫu thuật gần như không có chống chỉ định cũng như tác dụng phụ nghiêm trọng.

Không chủ quan với tật khúc xạ

Các chuyên gia về mắt cho biết, nhiều người cứ nghĩ cận thị là một tật khúc xạ đơn giản, chỉ cần đeo kính nhưng thực tế, cận thị tiến triển nếu không được điều trị sẽ gây thoái hóa mắt, mất thị lực và mù lòa. Hiện nay, đây là căn bệnh học đường đang có chiều hướng gia tăng mạnh ở cả trẻ em thành phố và nông thôn. Các bác sĩ cho hay, đối với các bệnh về mắt ở trẻ gây ảnh hưởng đến khả năng nhận biết hình thể, sử dụng bàn tay, sự nhanh nhạy, năng động, giao tiếp xã hội... gây ra nhiều hạn chế trong việc học tập và giao tiếp, khám phá thế giới xung quanh. Đặc biệt, các bệnh về mắt còn làm cho quá trình giảm thị lực và lão hóa xảy ra nhanh hơn, có thể dẫn tới mù lòa.  

Theo TS. Kurochkei Vladimir Nhicolaievich, phần lớn cận thị ở trẻ là do trục nhãn cầu bị kéo dài ra nên hình ảnh sẽ rơi trước võng mạc, thay vì rơi đúng trên võng mạc nên trẻ buộc phải nhìn gần. Khi trục nhãn cầu bị kéo dài ra dẫn tới cấu trúc bên trong của mắt cũng bị kéo giãn, đặc biệt là võng mạc. Từ đó sẽ xuất hiện những thay đổi do đáy mắt bị thoái hóa, hậu quả cuối cùng là mất thị lực không hồi phục. Đối với những trường hợp nhẹ, ít tiến triển thì trẻ có thể đeo kính nhưng với những trường hợp tiến triển nhanh, độ cận thị ngày một gia tăng thì các bậc cha mẹ nên cho trẻ đi khám và lựa chọn phương pháp điều trị tốt nhất.

Hà Anh
(suckhoe&doisong)
Trẻ em hở môi và hở vòm miệng của các tỉnh An Giang, Bình Dương, Sóc Trăng và các tỉnh lân cận TPHCM sẽ được phẫu thuật miễn phí tại bệnh viện Răng Hàm Mặt TW.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Chương trình đã đem lại nụ cười cho hàng ngàn trẻ em Việt Nam (Ảnh chụp một trẻ em được phẫu thuật trong năm 2009)



Việc khám chữa bệnh sẽ do đội ngũ bác sĩ bệnh viện Răng Hàm Mặt TƯ thực hiện với sự phối hợp của Tổ chức  Phẫu Thuật Nụ Cười Việt Nam (Operation Smile Vietnam - OSV). Các bệnh nhân sẽ được nhà tài trợ hỗ trợ một phần kinh phí đi lại và ăn uống trong thời gian lưu trú tại bệnh viện nếu được nhận phẫu thuật.

Nhằm đảm bảo an toàn và điều kiện để được phẫu thuật, trẻ bị hở môi phải từ 6 tháng tuổi trở lên và cân nặng ít nhất 8kg; trẻ bị hở vòm miệng phải từ 16 tháng tuổi trở lên và cân nặng ít nhất 10kg. Ngoài ra, các bệnh nhân cần có điều kiện sức khỏe tốt, không bị suy dinh dưỡng, ho suyễn, sốt cao, bệnh tim mạch, tiểu đường và các bệnh nội khoa khác.

Trẻ em và người lớn bị dị tật hở môi, hở vòm miệng có thể đăng ký tham gia chương trình phẫu thuật và giải đáp mọi thắc mắc qua đường dây nóng của Tổ chức Phẫu thuật Nụ cười 0904. 885555.

Để biết thêm thông tin về chương trình phẫu thuật này, xin tham khảo website www.operationsmile.org.vn hoặc liên hệ với các văn phòng Operation Smile Vietnam theo các số điện thoại 08. 3920 7356 (TPHCM) và 04.3936 5426 (Hà Nội) trong giờ hành chính


Chương trình phẫu thuật từ thiện cho trẻ em bất hạnh này kéo dài từ ngày 9-13/08 do công ty Khai thác thăm dò dầu khí của Canađa tại Việt Nam - Talisman Việt Nam Ltd tài trợ với số tiền 35.000 USD.


Công Quang
Mẹ tôi 65 tuổi và bị phình giãn tĩnh mạch chi, mỗi khi phải ngồi hoặc đứng lâu mẹ tôi rất đau tức chân. Vừa rồi đi khám, bác sĩ có chỉ định tuốt bỏ một số tĩnh mạch. Tôi rất lo sau khi tuốt bỏ tĩnh mạch sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ tôi, do đó chưa quyết định để mẹ tôi phẫu thuật. Xin quý báo giúp tôi hiểu rõ hơn về phương pháp điều trị này và nó có gây nguy hiểm gì không? Tôi xin cảm ơn!

Hoàng Thị Cúc(Hà Nội)

Tĩnh mạch phình to, xoắn, đau đớn ở chi dưới gây ảnh hưởng cho những người phải đi lại hoặc đứng trong thời gian dài trên đôi chân của mình. Tình trạng này được gọi là trướng (giãn) tĩnh mạch. Khi tĩnh mạch bị tổn thương thì biện pháp điều trị tốt nhất là tuốt bỏ đoạn tĩnh mạch đó. Loại bỏ một tĩnh mạch không đặt ra vấn đề gì về lâu dài, vì sẽ có nhiều tĩnh mạch khác đảm nhận tiếp công việc của tĩnh mạch đã bị tuốt bỏ.

Rủi ro nào có thể xảy ra khi phẫu thuật?


Như đối với bất kỳ cuộc phẫu thuật nào, tuốt bỏ tĩnh mạch cũng đi kèm với những rủi ro nhất định. Một số rủi ro có thể xảy ra là: bệnh nhân có thể bị xuất huyết nội hoặc nhiễm trùng; cục máu đông có thể hình thành và di chuyển vào phổi, gây khó thở do thuyên tắc phổi; tổn thương thần kinh cũng là một tai biến có thể xảy ra. Do đó việc chăm sóc tiền phẫu và hậu phẫu là hết sức quan trọng.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Các van bị hư hại mất chức năng trong tĩnh mạch trướng. - Tĩnh mạch trướng ở chi dưới.

Chăm sóc tiền phẫu thuật

Một tuần trước khi phẫu thuật, nếu bệnh nhân đang uống aspirin và ibuprofen thì cần ngừng lại theo chỉ định của bác sĩ. Nếu bệnh nhân đang dùng insulin, thuốc điều trị bệnh đái tháo đường, thuốc huyết áp, thuốc tim mạch hay bất kỳ một loại thuốc khác, bệnh nhân cũng cần thông báo cho bác sĩ biết tình hình bệnh của mình để bác sĩ có những chỉ định phù hợp.

Trước khi phẫu thuật, nếu thấy cần thiết bác sĩ có thể chỉ định cho bệnh nhân uống một viên thuốc ngủ, giúp bệnh nhân ngủ ngon. Trong một khoảng thời gian do bác sĩ quy định, bệnh nhân tuyệt đối không được ăn bất kỳ thứ gì trước khi phẫu thuật.

Sau khi phẫu thuật

Các vết mổ sẽ được băng kỹ lại để giữ sạch sẽ, ngăn ngừa nhiễm trùng. Điều dưỡng có thể mở băng để kiểm tra các vết khâu một thời gian ngắn sau phẫu thuật; bệnh nhân cần nghỉ tại giường cho đến khi bác sĩ cho phép đứng dậy. Bệnh nhân có thể cần sử dụng thêm ôxy qua mặt nạ hoặc qua ống sông mũi.

Biện pháp thở sâu và ho: Các bài tập này giúp ngăn ngừa nhiễm trùng phổi sau khi phẫu thuật. Hít thở sâu sẽ mở rộng các khí, phế quản. Ho giúp tống xuất đờm từ phổi ra. Bệnh nhân nên hít thở sâu và ho mỗi giờ lúc tỉnh táo, kể cả những khi tỉnh táo vào ban đêm. Hãy hít thở sâu và ho liên tiếp 10 lần mỗi giờ lúc tỉnh táo. Nhớ kết hợp ho với mỗi lần hít thở sâu.

Có thể chườm nước đá hoặc chườm nóng tuỳ thời điểm sau phẫu thuật cho bệnh nhân theo hướng dẫn của điều dưỡng.

Vớ (tất) áp lực: Vớ đàn hồi ép chặt khiến máu không tụ lại ở chân để hình thành huyết khối.

Ngoài ra, bạn cần kê bên chân phẫu thuật trên một cái gối sẽ giúp giảm sưng; khi bác sĩ cho phép, bệnh nhân có thể bắt đầu tập luyện chân theo hướng dẫn của thầy thuốc để phòng tránh hình thành cục máu đông. Mức độ luyện tập tùy thuộc vào sức khỏe của bệnh nhân.

Lần đầu tiên bệnh nhân được cho phép  ra khỏi giường, cần có sự hỗ trợ của người khác. Nếu cảm thấy yếu mệt hay chóng mặt, nên ngồi hoặc nằm xuống ngay.

Dùng thuốc

Bệnh nhân cần được dùng kháng sinh để giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn. Kháng sinh có thể được tiêm tĩnh mạch hoặc dùng đường uống; để giảm đau sau phẫu thuật, bác sĩ có thể chỉ định các loại thuốc giảm đau qua đường tiêm hoặc thuốc uống. Nếu bệnh nhân không thấy bớt đau, cần báo ngay với bác sĩ. Bệnh nhân cũng có thể dùng thêm thuốc chống nôn làm êm dịu dạ dày và chống nôn. Có thể dùng kèm với các thuốc chống đau, kháng viêm để giảm thiểu tác hại của chúng trên dạ dày.

Sau khi xuất viện, bệnh nhân vẫn phải tiếp tục uống thuốc chính xác theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Nếu tình hình không cải thiện, báo ngay cho bác sĩ nhưng vẫn phải tiếp tục dùng thuốc cho đến khi có chỉ định khác. Vẫn tiếp tục uống kháng sinh theo đơn, ngay cả khi cảm thấy bệnh khá hơn và cần lưu ý đến các tác dụng phụ của thuốc để kịp thời thông báo với bác sĩ.

Khi bệnh nhân được cho phép tắm, hãy lưu ý các mũi khâu với xà phòng và nước, phải thay băng ngay khi băng bị bẩn hoặc ướt.

Tránh nâng vật nặng cho đến khi thầy thuốc cho phép.


Mang vớ đàn hồi cao ngang đùi hoặc ngang đầu gối trong thời gian 3-4 tuần sau phẫu thuật.

Sẽ là bình thường nếu cảm thấy có các vùng tê ở chân sau khi phẫu thuật. Hiện tượng này sẽ biến mất trong vòng một năm.

Bệnh nhân có thể sẽ tái phát các tĩnh mạch trướng mới sau phẫu thuật, để ngăn chặn điều này, cần tránh mặc nịt vớ hoặc đai lưng quá chật; tránh ngồi hoặc đứng trong một thời gian lâu; nên thường xuyên nghỉ ngơi ở tư thế kê cao chân; không ngồi bắt chéo chân; nếu thừa cân cần phải giảm cân; mang vớ đàn hồi bất cứ lúc nào có thể. Nếu đeo vớ vào khi còn đang ở trong giường trước khi đứng dậy, hiệu quả sẽ cao hơn; kê chân giường cho bệnh nhân cao hơn 15 - 20cm để ngăn ngừa máu dồn xuống chân.

Báo ngay cho bác sĩ nếu vết mổ sưng và đỏ hoặc có mủ, đây là những dấu hiệu nhiễm trùng; bung chỉ hoặc kẹp staples ở vết mổ; băng thấm đẫm máu; sốt; chân đau và sưng nhiều hơn.

Khám cấp cứu ngay nếu đau ngực hoặc khó thở đột ngột (khả năng biến chứng thuyên tắc phổi).

BS. Ngọc Khanh
(Suckhoe&doisong)
Cuộc sống ngày càng đầy đủ nhưng người cao tuổi (NCT) vẫn phải đối diện với tình trạng suy dinh dưỡng do không được chăm sóc chu đáo hoặc mắc các bệnh mạn tính như xơ hóa tuyến nước bọt, trầm cảm, sa sút trí tuệ... Điều này là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sống cũng như làm suy giảm sức khỏe của NCT một cách trầm trọng. Tuy nhiên, tình trạng này hoàn toàn có thể cải thiện được bằng các biện pháp dinh dưỡng hợp lý.

Một số yếu tố đưa đến suy dinh dưỡng ở NCT

Ăn uống không điều độ, bữa no, bữa đói, thiếu chất, ăn ít, nhất là ăn một mình, đơn độc gây cho việc ăn uống chán rất có thể gây nên tình trạng suy dinh dưỡng ở NCT.

Suy giảm chức năng: Hệ thống răng kém (răng lung lay hoặc đã rụng nhiều) gây khó khăn trong việc nhai thức ăn. Một số bệnh cũng rất dễ gặp ở NCT do chức năng sinh lý đã bị suy giảm như tuyến nước bọt bị xơ hoá  làm giảm khả năng  bài tiết nước bọt khiến ăn ít ngon miệng hoặc không ngon miệng dẫn đến chán ăn và suy dinh dưỡng. Do chức năng sinh lý của NCT bị suy giảm, đặc biệt là các giác quan, nhất là vị giác và khứu giác nên không kích thích sự thèm ăn ở NCT. Suy dinh dưỡng ở NCT còn có thể gặp trong một số trường hợp dễ bị dị ứng với thức ăn nên NCT sợ ăn vì lo sợ sau khi ăn vào sẽ bị rối loạn tiêu hoá như buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy, đau bụng.

Bệnh đường tiêu hoá cũng đóng vai trò quan trọng trong bệnh suy dinh dưỡng ở NCT, nhất là bệnh về dạ dày (viêm dạ dày - tá tràng, bệnh viêm teo niêm mạc dạ dày và nhất là bệnh hẹp môn vị với nhiều nguyên nhân khác nhau).

Bệnh  tâm thần như bệnh trầm cảm mạn tính, sa sút trí tuệ cũng ảnh  hưởng rất lớn đến tiêu hoá và vì vậy rất dễ dẫn đến suy dinh dưỡng, trong đó nghiện rượu là một nguyên nhân đáng kể. Người nghiện rượu rất chán ăn, thậm chí không muốn ăn bất kỳ loại thực phẩm nào ngoài rượu. Nghiện rượu ngoài việc chán ăn thì chức năng gan ngày một suy giảm. Đây là một vòng luẩn quẩn: nghiện rượu gây chán ăn, gây suy giảm chức năng gan; chức năng gan suy giảm thì lại càng chán ăn mà hậu quả là suy dinh dưỡng và xa hơn nữa là xơ gan do rượu.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

NCT cần ăn đủ chất và lượng để phòng ngừa suy dinh dưỡng.

Nhận biết NCT bị suy dinh dưỡng

Hầu hết người bị suy dinh dưỡng có thể tự phát hiện thấy mình bị gầy đi như sụt cân, thấy quần áo tự nhiên rộng ra, các bắp thịt thấy mềm, nhũn không được rắn như trước đây. Tuy vậy đối với  một số NCT, do bị suy dinh dưỡng lâu ngày nên đã có ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương cho nên tự bản thân người đó không thể hoặc không biết mình đang mắc bệnh gì. Trong trường hợp này, những thành viên trong gia đình cũng có thể nhận biết từ NCT là ông, bà, bố, mẹ kém dần sự minh mẫn, hay quên, hay kêu mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon miệng hay cáu gắt vô cớ. NCT suy dinh dưỡng thường ăn khó tiêu, dễ táo bón, phân lúc lỏng lúc rắn, hay đau bụng lặt vặt. Nếu NCT mà đang mắc bệnh mạn tính khác như hen suyễn, bệnh tim, viêm gan, bệnh về xương khớp thì các bệnh này tăng lên nhanh chóng hơn, toàn trạng trở nên dễ bị suy sụp và đặc biệt khi có tác nhân nhiễm khuẩn xâm nhập thì rất khó tránh khỏi mắc bệnh.

Phòng bệnh suy dinh dưỡng ở NCT như thế nào?

Để NCT không bị suy dinh dưỡng, cần đảm bảo chế độ ăn đủ chất và lượng. Ngoài ra cần có sự động viên, nhắc nhở của người thân để NCT chịu khó ăn và ăn đủ số lượng tránh hiện tượng chán ăn, lười ăn, bỏ bữa. Nếu các bữa chính NCT ăn chưa đủ số lượng thì có thể tạo điều kiện cho họ ăn thêm các bữa phụ vào khoảng 9 giờ sáng và khoảng 3  giờ chiều. Nên ăn thêm các loại quả sau bữa ăn (tráng miệng) như cam, quýt, chuối, bưởi... và nên ăn nhiều rau. Rau vừa cung cấp các loại sinh tố vừa cung cấp chất xơ ngăn ngừa táo bón... Để tránh hiện tượng chán ăn, ăn không ngon miệng, nếu không bị các bệnh về tim mạch, dạ dày, đại tràng thì có thể uống 1 ly rượu vang đỏ trước lúc ăn để khai vị (kích thích ăn uống ngon miệng). Trọng tâm của việc phòng suy dinh dưỡng là làm sao NCT ăn được, tiêu hoá được, vì vậy thức ăn phải mềm, dễ nhai, dễ nuốt nhưng không nên xay nhuyễn vì sẽ làm giảm mùi vị thường có của thức ăn. Tuy vậy, NCT cũng nên hạn chế ăn mỡ động vật, lòng đỏ trứng (gà, vịt, chim cút, ngỗng) hoặc các loại phủ tạng như gan, tim, lòng, cật (thận) và rất nên ăn cá thay cho thịt. Mỗi tuần nên ăn cá khoảng 2 - 3 lần trong các bữa ăn chính; các loại đạm thức vật cũng nên ăn xen vào trong các bữa ăn chính như đậu phụ và các loại đậu khác. Ngoài các vấn đề vừa nêu trên thì việc vận động cơ thể hàng ngày phù hợp với thể trạng từng người để máu lưu thông, các cơ quan trong cơ thể hoạt động nhịp nhàng, từ đó sẽ ăn uống ngon miệng, hấp thu tốt là hết sức quan trọng.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu

(suckhoe&doisong)
Thẩm mỹ viện MIKA VŨ THÁI dành cho quý khách hàng những lời khuyên sau đây:

Bác sĩ phẫu thuật nào cũng hăng say làm đẹp hết mình vì mong muốn sản phẩm tạo ra phải đẹp để thể hiện đẳng cấp thương hiệu của bác sĩ. Nhưng trời cũng phú cho mỗi người mỗi vẻ, nghề bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ không chỉ hành nghề lâu năm có kinh nghiệm mà điều quan trọng nhất vẫn là năng khiếu có con mắt nhìn thẩm mỹ, sau đó mới đến bàn tay của mình có làm được theo ý muốn mà con mắt đã nhìn ra cái đẹp đó nữa không. Sự kết hợp của bàn tay, khối óc tạo hình và con mắt có cái nhìn tinh tế về thẩm mỹ là sự chuẩn mực mới có thể trở thành một bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ danh tiếng. Tất cả những hội tụ ấy không nói lên được điều gì trước những rủi ro khách quan. Ngay cả khi bạn vào một bệnh viện lớn nhất thì điều đầu tiên bạn phải ký nhận vào bản hồ sơ cam kết với sự tình nguyện của bản thân trước khi làm phẫu thuật dù lớn hay nhỏ. Nhưng ngày nay khoa học hiện đại tiến bộ gần như bậc nhất sẽ rất hiếm những rủi ro lớn trong các biến chứng nói chung, (nói riêng về thẩm mỹ) chỉ xảy ra những rủi ro nhỏ dễ khắc phục.  Điều quan trọng khi khách hàng bước ra khỏi phòng khám coi như đã vượt xa khỏi tầm kiểm soát của bác sĩ nên khách hàng bắt buộc phải tuân thủ những điều dặn mà bác sĩ đặt ra.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Những rủi ro gặp phải sau nâng mũi  (rất ít) - Không thích hợp chất liệu độn, không nghỉ ngơi kiêng làm việc nặng, không uống thuốc đầy đủ (gây viêm), sờ nhiều vào mũi gây nhiễm trùng, va chạm mạnh gây lệch (trong 1 tháng), không ăn kiêng đúng theo bác sĩ dặn.

Giải pháp: nên tư vấn kỹ cùng bác sĩ trước lúc phẫu thuật để tránh được những rủi ro không mong muốn, rất ít gặp nhưng có thể xảy ra với bất kỳ ai.

Để biết thêm chi tiết xin vui lòng liên hệ:


Thẩm mỹ viện Mika Vũ Thái
Đ/c: 32A Trung Liệt, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại tư vấn: 09144.66666 – 09144.88888
Website: nangmuibocsun.com
(24H.COM.VN)
  
Một bệnh lý trầm trọng nào đó ở chân cũng sẽ tương tự như tình trạng “nhức răng”. Chăm sóc chân thỏa đáng là một phần quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe hàng ngày, cũng như để có một bàn chân khỏa mạnh, không bệnh tật. Dưới đây là những lưu ý mà bạn nên thực hiện hàng ngày:

Cắt tỉa móng chân. Cắt tỉa móng chân thường xuyên bằng loại kìm bấm tốt. Cắt móng bằng dụng cụ cùn hoặc không đúng dụng cụ có thể làm chậm sự phát triển của móng cũng như gây nhiễm khuẩn móng. Đừng cắt móng quá sâu và đừng cố gắng cắt quá sâu ở các góc móng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với người mắc bệnh đái tháo đường.

Đừng làm trầy xước. Hãy làm sạch da nhẹ nhàng bằng một viên đá kỳ. Đừng cắt da hay cạy chai chân. Điều này có thể gây viêm đau.

Giữ ẩm. Dùng kem dưỡng ẩm chân hàng ngày. Khô da có thể dẫn tới chai chân và nứt nẻ gót chân. Tuy nhiên, đừng bôi kem vào giữa các ngón chân.

Rửa và lau khô chân. Rửa chân hàng ngày với nước ấm và xà phòng. Đừng ngâm chân quá lâu vì như thế sẽ làm giảm lớp dầu tự nhiên trên da. Nhớ lau khô chân sau khi rửa chân, đặc biệt là giữa các kẽ ngón chân.

Sát khuẩn hàng ngày. Sát khuẩn các kẽ ngón chân bằng một miếng bông thấm cồn nhẹ, đặc biệt là kẽ ngón út và áp út. Điều này sẽ giúp cho các khu vực này luôn khô ráo, ngăn ngừa tình trạng nhiễm nấm.

[img]http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2010/07/10/d90cham-soc-chan-

dung-cach.jpg[/img]



Chọn giày đúng size và thoải mái khi mang.


Mang giày vừa chân. Một đôi giày chất lượng, ôm khít nhưng tạo sự thoải mái cho người mang rất quan trọng đối với sức khỏe của đôi chân. Hãy chọn loại giày đúng size và khi mang nó bạn cảm thấy thoải mái, tự tin. Luôn chọn giày vừa vặn trong mọi trường hợp. T â t cũng rất quan trọng, cần đảm bảo rằng tất sạch được thay hàng ngày và không bị rách.

Xoa bóp và đi lại. Luyện tập thường xuyên và xoa bóp sẽ giúp cải thiện tuần hoàn máu ở chân.

Xử trí nhanh. Đừng bao giờ để cho các bệnh ở chân trở nên trầm trọng. Hãy tới bác sĩ chuyên khoa khi chân bị đau hay có biểu hiện bất thường. Hãy nhớ, chân đau luôn là biểu hiện không bình thường.

Không làm vỡ nốt rộp. Đừng chọc các nốt rộp nếu chúng xuất hiện ở chân. Dùng kem mát thoa lên nốt rộp và để cho chỗ phồng rộp tự xẹp.

Lưu ý vết thương. Bất kỳ vết thương hay vết xước nào ở chân cũng cần được chăm sóc cẩn thận. Rửa vết thương với nước diệt khuẩn và dùng gạc sạch băng lại. Tới trung tâm y tế ngay nếu vết thương không lành.

Đi chân không. Nhớ là thoa kem chống nắng. Chân rất nhạy cảm với ánh nắng. Do chân thường xuyên được “che chắn” bởi giày nên rất dễ bị cháy nắng. Luôn dùng kem chống nắng khi đi chân trần, xăng đan, dép lê...

Phòng nhiễm nấm. Ngăn ngừa nhiễm nấm chân bằng cách luôn vệ sinh chân sạch sẽ, mang tất sạch và thường xuyên rửa, lau khô chân.

BS. NGỌC ANH
(suckhoe&doisong)
Mất tiếng còn gọi là hầu âm (thất âm). Tuỳ mức độ có thể là khàn giọng hoặc mất tiếng hẳn (nói không ra tiếng). Nếu đột nhiên mất tiếng gọi là cấp hầu âm, bệnh kéo dài lâu ngày gọi là mạn hầu âm. Mất tiếng thường do bệnh ngoại cảm nhưng cũng có thể là bệnh nội thương do tạng phủ suy nhược. Theo y học cổ truyền "phế là cửa ngõ của thanh âm, thận là gốc của thanh âm". Như vậy tắt hay là mất giọng có liên quan đến phế và thận.

Theo y học cổ truyền, mất tiếng do những nguyên nhân sau:

Ngoại cảm phong hàn làm phế lạc bị bế tắc sinh nhiệt, sinh đờm, làm cho phế khí mất tuyên thông nên nói không ra tiếng.

Nhiệt tà bế phế: Phong nhiệt độc bên ngoài xâm nhập vào qua miệng, mũi, làm tổn thương phế, phế khí không thông, ôn nhiệt bốc lên ủng trệ ở họng, khí huyết bị ủng trệ, kèm cảm lục dâm bên ngoài. Hoặc do ăn uống thức ăn cay nóng quá, hoả bốc lên làm tổn thương phế khí, gây nên mất tiếng.

Phế táo, tân dịch khô háo hoặc thận âm hư không nhuận được phế sinh ra mất tiếng.

Do tình chí bị uất ức: Con người mỗi khi có việc lo sợ và tức giận một cách đột ngột, tiếng nói sẽ bị mất âm thanh.

Bị bệnh lâu ngày, hư yếu: Âm thanh phát ra do ở phế mà gốc ở thận. Tỳ là nguồn của khí, thận là gốc của khí. Thận tinh mạch, phế tỳ thịnh thì âm thanh sẽ rõ. Nếu do lao nhọc quá sức, bệnh lâu ngày, phế thận âm bị suy, âm hư sẽ sinh nội nhiệt, đờm hoả bốc lên nhiệt nung nấu, họng sẽ gây nên mất tiếng.

Ngoài ra, do nói to, nói nhiều làm hao phế khí, bệnh vùng hầu họng cũng ảnh hưởng đến phát âm.

Theo y học cổ truyền thì bệnh mới mắc phần lớn là chứng thực, bệnh lâu ngày thường là chứng hư. Việc điều trị tùy theo chứng bệnh và thể bệnh mà dùng bài thuốc thích hợp.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Chứng thực


Ngoại cảm phong hàn: Cảm lạnh, người mát, mũi nghẹt hoặc chảy mũi nước trong, giọng khàn hoặc nói không ra tiếng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoãn.

Bài thuốc: Quế chi 12g, sinh khương 12g, thêm kinh giới để ôn thông phế khí, bạch thược 24g, cam thảo 4g, đại táo 12g, đường phèn 80g. Sắc uống ngày 1 thang.

Phế nhiệt: Giọng khàn hoặc nói không ra tiếng, miệng khát, họng đau, rêu lưỡi vàng mỏng, mạch phù sác.

Bài thuốc: Cát cánh 12g, cam thảo 6g, kinh giới 12g, thuyền thoái 6g, tiền hồ 12g, tang diệp 12g.

Đờm nhiệt: Nói khó, tiếng nặng, đờm nhiều vàng, miệng đắng, họng khô, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch hoạt sác.

Bài thuốc: Cát cánh 12g, tiền hồ 12g, tang bì 12g, tri mẫu 8g, hoàng cầm 10g, chi tử 10g, ngưu bàng 10g, thuyền thoái 6g, bối mẫu 10g, cam thảo 6g, qua lâu 10g, hạnh nhân 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Đờm uất ngưng lấp: Tiếng nói nặng, nghe không rõ, ngực đầy, ho ra nhiều đờm, cơ thể mập, người mỏi mệt, tay chân không có sức, rêu lưỡi vàng bệu, mạch hoạt.

Bài thuốc: Hoàng cầm 10g, chi tử 10g, tiền hồ 10g, bối mẫu 8g, cát cánh 12g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Phong tà uất bế: Đột nhiên âm thanh bị xáo trộn, khó nói ra tiếng kèm họng hơi đau, ngứa, nuốt khó, ho, ngực khó chịu, mũi nghẹt, sổ mũi, sốt, sợ lạnh, đầu đau, lưỡi đỏ, rêu lưỡi nhạt, mạch phù.

Bài thuốc: Ma hoàng 12g, hạnh nhân 8g, cam thảo 6g, cát cánh 12g. Sắc uống.

Chứng hư

Phế âm hư: Nói giọng khàn, miệng khô, họng đau, ho khan không có đờm, chất lưỡi đỏ, khô, mạch nhỏ sác.

Bài thuốc: Tang diệp, hồ ma nhân, mạch môn, thạch cao, a giao, tỳ bà diệp, hạnh nhân, nhân sâm, cam thảo. Sắc uống ngày 1 thang.

Thận âm hư: Họng khô, giọng khàn, nói không ra tiếng, bứt rứt khó ngủ, lưng gối nhức mỏi, lòng bàn chân tay nóng, nặng có thể kèm ù tai, hoa mắt, lưỡi thon đỏ, mạch tế, sác, nhược.

Bài thuốc: Sinh địa 16g, đơn bì 12g, trạch tả 12g, mạch môn 12g, ngũ vị tử 10g, phục linh 12g, hoài sơn 6g, sơn thù 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Uất nộ khí nghịch: Bình thường vốn uất ức hoặc thường giận dữ, khí uất không giải, đột nhiên mất tiếng, ngực và hông sườn đầy trướng hoặc nhẹ thì vú căng, mạch huyền.

Bài thuốc: Tử tô 12g, ô dược 12g, trần bì 12g, bạch thược 12g, sinh khương 8g, đại táo 5 quả, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chú ý: Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang. Cho 750ml nước vào thang thuốc, sắc kỹ chắt lấy 250ml nước thuốc, chia uống 3 lần trong ngày sau khi ăn 30 phút.



Lương y Hoài Vũ


(suckhoe&doisong)
Hàng năm nước ta có khoảng 6 triệu người bị suy thận mạn, chiếm 6,73% dân số. Trong khi đó ta vẫn chưa có một chiến lược điều trị bệnh thận và suy thận. Vì vậy hơn 67% người bệnh khi nhập viện đều có biến chứng nặng, phải lọc máu (chạy thận nhân tạo) với kinh phí điều trị lớn .... Trước thực trạng đó ngày 9-7 tại Hà Nội, Bộ Y tế, Hội Tiết niệu - Thận học Việt Nam, Hội Thận học Hà Nội cùng Công ty Dược phẩm Á-Âu tổ chức Hội thảo “Chiến lược điều trị suy thận” nhằm cập nhật thông tin và những giải pháp mới trong điều trị, phòng ngừa suy thận mạn...



Chưa có chiến lược điều trị suy thận
Phát biểu tại Hội thảo, PGS-TS Trần Văn Chất - Chủ tịch Hội Thận học Hà Nội cho biết: Suy thận mạn là một hội chứng bệnh lý có biểu hiện lâm sàng và thể dịch của chức năng thận giảm. Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do đái tháo đường, tăng huyết áp, viêm cầu thận, sỏi thận, lupus ban đỏ, thận bẩm sinh, suy tim... Đến nay, căn bệnh này đang là nỗi lo lớn của Ngành Y tế, xã hội và gia đình người bệnh.

Hàng năm trên thế giới có khoảng 500 triệu người bị suy thận mạn, trong đó 2 triệu bệnh nhân đang được điều trị thay thế bằng lọc máu chu kỳ, lọc màng bụng ngoại trú liên tục, hoặc ghép thận. Tại Hoa Kỳ, có 0,2 dân số là người trưởng thành trên 20 tuổi bị suy thận giai đoạn cuối. Còn ở Việt Nam, chưa có số liệu chính thức, nhưng hàng năm vẫn có khoảng 6 triệu người bị suy thận mạn, và chỉ có 600 người được điều trị thay thế, chiếm 10%, số còn lại là tử vong. Để điều trị, mỗi năm người bệnh phải chi ít nhất 60 triệu đồng. PGS - Thầy thuốc Nhân dân Nguyễn Nguyên Khôi - nguyên Trưởng Trung tâm thận nhân tạo- Bệnh viện Bạch Mai cho biết, đến nay ta vẫn chưa có chiến lược điều trị bệnh thận và suy thận. Vì thế đã có trên 50% người bệnh bị chẩn đoán sai, 67% người bệnh vào viện phải lọc máu ngay vì nhiều biến chứng nguy hiểm. Hầu hết người bệnh khi được hỏi đều không biết mình bị suy thận từ khi nào. Với những bệnh nhân này, ngành y tế chỉ còn biết điều trị bảo tồn cho họ bằng cách lọc máu liên tục (3 lần chạy thận nhân tạo/tuần). Cuộc sống của họ luôn gắn với việc lọc máu, hoặc được thay thận để kéo dài cuộc sống. Tuy nhiên chất lượng sống của những bệnh nhân này không cao, tuổi thọ không thể kéo dài. Một người bị suy thận, nếu không được phát hiện sớm và điều trị bảo tồn... thì chỉ 4 năm sau là tử vong. Trên thực tế, suy thận mạn là hội chứng thận mất chức năng dần dần và ngày càng nặng theo thời gian. Quá trình suy thận diễn biến kéo dài, âm ỉ, người bệnh thường chủ quan những triệu chứng như sưng phù, mệt mỏi, xanh xao, đau đầu, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần... Đến khi xét nghiệm thấy Creatinin huyết tăng, hoặc Protein niệu tăng, tiểu máu.... thì bệnh đã ở giai đoạn cuối, thận đã bị suy nặng....và việc chạy thận nhân tạo hay điều trị thay thận cũng chỉ là giải pháp tình thế giúp duy trì cuộc sống được ngày nào hay ngày đó.

Làm gì để làm chậm tiến trình phát triển bệnh suy thận mạn ?
Theo các đại biểu tại Hội thảo, “chiến lược” điều trị bệnh phải tập trung kết hợp Y học hiện đại (YHHĐ) và Y học cổ truyền (YHCT). Hướng điều trị suy thận của YHHĐ là nhằm cải thiện suy phủ tạng, điều chỉnh hội chứng u rê máu cao, phục hồi chức năng thận, hỗ trợ thận... thông qua chỉ định lọc máu (lọc màng bụng, lọc máu cách quãng, lọc máu chậm hàng ngày, lọc máu liên tục). Theo PGS Nguyên Khôi, bệnh nhân được lọc máu, đồng thời dùng các loại thuốc kích thích tạo hồng cầu, sắt, vitamin D....

TS Trần Quốc Bình - Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương trình bày lý luận của YHCT trong việc xác định nguyên nhân gây suy thận là do chính hư và tà thực. Chính hư là do tại thận ( viêm cầu thận, nang thận) thể hiện ở tỳ thận khí hư, can thận âm hư, khí âm lưỡng hư, âm dương suy kiệt. Tà hư chủ yếu do cao huyết áp, xơ vữa động mạch, tim... thể hiện ở thấp trọc, thủy khí, ứ huyết, thấp nhiệt, phong động... Cả hai chứng này nếu không điều trị ngay sẽ khiến cho ngoại tà xâm nhập vào cơ thể, làm ngưng trệ sinh, phát bệnh cấp. Người bệnh thiếu máu, phù, cao huyết áp, thiếu calci, loãng xương, tóc xơ, bạc sớm, khó thở, ù tai, tiểu nhiều về đêm, nhức đầu, hoa mắt, hồi hộp, mất ngủ, tim nhanh, suy tim... Căn cứ vào nguyên nhân và biểu hiện của từng người bệnh, YHCT tập trung làm lợi niệu tiêu phù thũng, thiếu máu, tăng cường bổ huyết, hoạt huyết... bằng những bài thuốc kiện tỳ bổ thận, ôn dương lợi thủy, bình can tiềm dương, ích khí dưỡng âm bổ huyết. Một trong những bài thuốc được YHCT dùng vào việc phòng ngừa và điều trị suy thận cho hiệu quả cao trong thời gian qua là ích thận vương. Bài thuốc gồm các vị Cao đan sâm, cao hoàng kỳ, cao dành dành, trầm hương, bạch phục linh, cao râu mèo, cao mã đề, cao linh chi đỏ, L-Carnitine fumarate, Co-Enzym Q10. Bài thuốc có tác dụng cải thiện chức năng thận, bảo vệ thận, ngăn ngừa sự phá hủy thận, làm chậm tiến trình suy thận, giảm nhu cầu phải lọc máu. Đặc biệt ích thận vương còn hỗ trợ kiểm soát các triệu chứng và biến chứng của suy thận như phù, tiểu nhiều, tăng Creatinin huyết, tăng protein niệu.

Để hạn chế những biến chứng sớm của bệnh suy thận, các chuyên gia khuyến cáo, người bệnh cần kiểm soát huyết áp, đường huyết, mỡ máu, hạn chế đạm, muối, tránh dùng các loại thuốc có hại cho thận như Aspirin, Tramadiol, Aminoglycoside, Amphotericine B, Cyclosporine, Facroliumus...). Đồng thời vận động và làm việc nhẹ, tránh chạy bộ, đá bóng, bơi, leo núi...

Đặng Ngân

(daidoanket)
Nhiều người dân đang tìm cách mua cho bằng được loại rượu ngâm rễ, thân, quả cây anh túc (thuốc phiện) để dùng hoặc biếu, tặng vì tin rằng loại rượu thuốc này có tác dụng giảm đau, chữa bệnh, tráng dương… Họ đâu biết rằng, uống loại rượu ngâm thuốc phiện có thể bị nghiện, táo bón, ngộ độc dẫn đến chết người.

>> 'Thuốc giải rượu' có thể thành độc dược

Huyện Trạm Tấu (Yên Bái), “thánh địa” cây thuốc phiện một thời, nay vẫn còn đây đó những cây anh túc được trồng lén lút để phục vụ mục đích ngâm “thần chết” vào rượu. Đây chính là đầu mối lớn và có lẽ là duy nhất cung cấp loại rượu chết người này cho người dân các địa phương.

Mua bán lén lút

Tại một quán tạp hóa nằm dọc theo trục đường chính vào trung tâm huyện, sau khi lân la trò chuyện và giả như đang rất cần mua loại rượu này qua một người quen giới thiệu, chúng tôi được chủ quán tên Dần mách nước: “Rượu thì bọn mày phải lên Mù Cang Chải mới có rượu ngon và đặc sản của Yên Bái”. Tin chúng tôi có người quen “bảo lãnh” để mua “hàng độc”, chủ quán có khuôn mặt dữ dằn dẫn chúng tôi vào một ngôi nhà gần đó. Trong căn nhà lờ mờ ánh sáng, ông Dần mở ngăn tủ, lấy ra ba bình nhựa cỡ 5 lít và bảo rằng đó là rượu ngâm thân, rễ, quả của cây thuốc phiện.

“Vấn đề là các chú lấy bao nhiêu? Số lượng thân, rễ, quả trong bình như thế nào? Nếu càng nhiều quả thì càng đắt. Chưa phải mùa chính, nên “hàng” hơi khan hiếm đấy. Năm nay bình rẻ nhất cũng trên 1,2 triệu”. Chúng tôi tỏ vẻ không hiểu biết thì ông Dần nói luôn: “10 bình thì hơi căng đấy, giờ tao chỉ còn ba bình loại đó thôi, để tao đi hỏi thêm mấy mối đã. Nhưng nếu các chú chờ một tuần nữa thì chắc chắn sẽ có đủ theo yêu cầu. Giá mỗi bình kiểu này hai triệu, miễn mặc cả”.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, khoảng hai năm trở lại đây, loại rượu ngâm thuốc phiện này được bán lén lút ở Trạm Tấu. Ở đây, người ta thường gọi là rượu 138. Sở dĩ nó có tên như vậy là vì tỉnh giao cho Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Công an tỉnh, huyện Trạm Tấu và huyện Mù Cang Chải thực hiện kế hoạch 138 về  kiểm tra, rà soát, xử phạt người trồng cây thuốc phiện. Loại rượu này phần lớn do dân bản của Trạm Tấu và Mù Cang Chải cung cấp, tập trung nhiều nhất ở xã Túc Đán, Bản Công, Tà Si Láng, Bản Mù của Trạm Tấu, và vùng giáp ranh huyện Phù Yên và Bắc Yên của tỉnh Sơn La.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

                             Rượu ngâm cây thuốc phiện. Ảnh: T.Văn



Rước bệnh vào người


Theo anh Sa Huy Hoàng, thành viên Ban triệt phá tái trồng cây thuốc phiện tỉnh Yến Bái, mùa cây anh túc thường kéo dài từ tháng 9 năm trước đến tháng 3 năm sau, và loài cây này thường được trồng ở xã Tà Si Láng (huyện Trạm Tấu) vì nơi đây xa, nhiều núi, vực hiểm trở, đi lại khó khăn. Mỗi lần triệt phá, Ban phải huy động gần 20 người, đi ít nhất một tuần, có khi cả tháng. Sau khi cây thuốc phiện bị phá nhổ, một số người dân thu gom rễ đem phơi khô hoặc ngâm rượu bán ra thị trường. Một đồn mười, mười đồn trăm về sự đại bổ, tác dụng chữa bệnh của rễ cây thuốc phiện khiến rượu ngâm thuốc phiện ngày càng đắt. Đắt cũng vì hiếm. UBND tỉnh Yên Bái mới có văn bản nghiêm cấm mua bán, tàng trữ và sử dụng các sản phẩm từ rễ cây thuốc phiện.

Gần đây, Bệnh viện đa khoa tỉnh Yên Bái tiếp nhận nhiều người ở huyện Trạm Tấu bị ngộ độc do sử dụng rượu ngâm thuốc phiện. Họ đều cho kết quả dương tính với ma túy. Bác sĩ Đặng Thị Như Hoa, Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền Yên Bái, cho biết: “Trong cây thuốc phiện có chứa moocphin và heroin nên khả năng gây nghiện rất cao. Sử dụng loại rượu này nhiều sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thần kinh và sức khỏe. Bên cạnh đó, thuốc phiện có thể gây ra táo bón, nếu dùng quá liều có thể gây ngộ độc dẫn đến chết người”.

Bác sĩ Bùi Văn Hải, Phó Chủ tịch Hội Đông y tỉnh Yên Bái, nói: "Uống rượu ngâm thuốc phiện là một thói quen của người vùng cao. Công dụng của loại rượu này chỉ là đồn thổi, đến nay chưa có một tài liệu nào nói về tác dụng làm thuốc của rễ cây thuốc phiện”.

Tuy nhiên, vì thân và rễ chứa ít chất ma túy nên không có qui định xử lí những hành vi liên quan đến rễ cây thuốc phiện. Ông Hà Chí Họp, Bí thư huyện ủy Trạm Tấu, cho rằng, công tác chống tái trồng cây thuốc phiện sẽ rất khó khăn nếu tình trạng tàng trữ, tiêu thụ các sản phẩm từ thân, rễ, quả cây thuốc phiện bị nhổ bỏ vẫn diễn ra.

T.Văn - T.Bình
(datviet)

Không thể lơ là...

2010/07/09    16:48    {entryviewsnum}    Tin Y dược Ko chỉ định
Bệnh bướu cổ địa phương đã được khẳng định trong y văn từ những năm đầu thế kỷ 17-18, nhưng phải đến đầu thế kỷ 19, các nhà y học trên thế giới mới khẳng định rằng căn nguyên của bệnh là do thiếu iốt. Theo như vòng tuần hoàn iốt trong thiên nhiên thì iốt tồn tại nhiều trong nước biển, thuỷ hải sản của biển cả giàu iốt, còn những nơi cách xa biển thì hàm lượng iốt nghèo nàn hơn. Thực vật, động vật nuôi trồng ở những vùng thiếu iốt cũng không có iốt và con người khi ăn những thực phẩm này cũng sẽ bị thiếu iốt. Khoa học cũng đã chứng minh: thiếu iốt không chỉ gây nên bướu cổ địa phương mà thiếu iốt ở các mức độ khác nhau sẽ gây nên hậu quả khác nhau như: đần thần kinh, thiếu năng lượng trường diễn gây tác động xấu đến sức khoẻ lao động, giống nòi của đất nước. Rủi ro thay, nếu chẳng may trẻ em nào bị thiếu iốt nặng trong thời kỳ nằm trong bụng mẹ thì tổn thương não bộ là không tránh khỏi, hậu quả là chứng đần thần kinh sẽ xảy ra và bệnh không thể nào điều trị được khi bé ra đời, ít có thể sống sót quá 14 tuổi.

Kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 481/TTg ngày 2/11/1994, dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế, Bệnh viện Nội tiết Trung ương cùng với các sở y tế địa phương, các ban ngành đã nỗ lực vận động người dân mua, bảo quản và sử dụng muối iốt. Kết quả là năm 2005, Việt Nam tuyên bố hoàn thành mục tiêu thanh toán các rối loạn thiếu iốt trong phạm vi toàn quốc. Đây là một nỗ lực lớn của ngành y tế cả nước và sự hưởng ứng kịp thời của người dân nên tỷ lệ bướu cổ trẻ em giảm, độ phủ muối iốt đủ tiêu chuẩn phòng bệnh lớn hơn 90%, đặc biệt kiến thức người dân về bảo quản, sử dụng muối iốt tăng rất cao.

Khi thực hiện dự án, thường bao giờ cũng gồm 3 giai đoạn: tấn công, củng cố và duy trì. Chính vì vậy, giai đoạn 1995-2000 chúng ta đặt quyết tâm phủ muối iốt nhằm cải thiện tình trạng thiếu iốt; giai đoạn 2001-2005 chúng ta tiếp tục củng cố hướng tới mục tiêu thanh toán các rối loạn thiếu iốt. Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn chúng ta cần phải duy trì các thành quả đạt được. Với việc thiếu iốt cần phải xác định bổ sung liên tục, lâu dài vì do đặc tính phân bố iốt khác với các vi chất khác là không tồn tại sẵn có trong thiên nhiên. Iốt thường mất đi do tác động của môi trường sống và qua quá trình chế biến. Giai đoạn duy trì này không có hạn mức thời gian, đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của các đơn vị y tế cơ sở phải có những giám sát hoạt động nhằm phát hiện những vấn đề và có hành động khắc phục một cách tích cực.

Nhìn lại quá trình hoạt động Dự án PC CRLTI trong những năm qua, chúng ta đã làm tốt ở hai giai đoạn tấn công và củng cố, nhưng giai đoạn duy trì chưa thực sự được như mong muốn. Hậu quả là ở một số tỉnh, vùng tỷ lệ sử dụng muối iốt giảm mạnh, tình trạng dinh dưỡng iốt đi xuống rõ rệt, nguy cơ thiếu iốt tái diễn là không tránh khỏi nếu không kịp thời khắc phục.

Tại sao lại có tình trạng trên? Theo suy nghĩ của cá nhân tôi là, do phần lớn tại các địa phương chỉ trông chờ vào các dự án quốc gia, chưa thấy có mấy địa phương chủ động tự xác định vấn đề y tế có ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng và từ đó đề xuất các giải pháp giải quyết nhất là trong y tế dự phòng. Tôi nhận thấy, hiện thời các dự án y tế đều do BYT xây dựng và phân cho các tỉnh thực hiện, khi hết kinh phí thì các tỉnh hầu như cũng không hoạt động gì nữa.

Thiếu vi chất, đặc biệt thiếu iốt thường gây nên những tác hại tiềm tàng mà không thể phát hiện ngay được, hậu quả tình trạng thiếu iốt gây nên nếu xảy ra thương tổn não bộ trẻ em là không thể chữa được. Trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá hơn bao giờ hết, thế hệ trẻ cần cải thiện về trí tuệ, thể chất và như vậy càng không thể lơ là với việc bổ sung vi chất như iốt, sắt, vitamin A... Kết thúc bài viết này tôi xin lấy ví dụ tại làng Jixian ở phía Bắc Trung Quốc như sau: Vào trước năm 1978, làng này thường được coi là một "làng đần" vì trong suốt thời gian dài làng này không có ai trở thành giáo viên, y bác sĩ và tham gia quân giải phóng. Con gái, con trai  làng này rất khó lấy chồng làng khác. Sức học của học sinh trong làng rất kém so với các trường lân cận (xếp 14/14). Tỷ lệ bướu cổ 80%, tỷ lệ đần 11%, thu nhập bình quân 43 NDT/người. Sau gần 10 năm phủ muối iốt (1986), con trai làng này đã tham gia quân giải phóng, một số trai gái làng đã trở thành giáo viên..., sức học của làng đã được cải thiện xếp thứ 3/14. Tỷ lệ  bướu cổ 4,5%. Không còn có ai bị đần mới do thiếu iốt, thu nhập tăng lên trên 10 lần 550NDT/người. Qua ví dụ trên cho thấy, sự cải thiện sức khoẻ ở một làng tại Trung Quốc đã đem lại bước thành công rất lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội.

ThS. Lê Phong
(suckhoe&doisong)
Dự thảo điều chỉnh viện phí mới nếu được chấp nhận mức thanh toán BHYT cho người bệnh sẽ tăng từ 7-10 lần so với hiện nay. Vì thế, để đảm bảo quỹ BHYT không bị bội chi, mức phí mua BHYT sẽ tăng khoảng 40%.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Với mức thanh toán BHYT cho viện phí tăng từ 7-10 lần theo dự thảo, người dân hy vọng sẽ được chăm sóc y tế tốt hơn, giảm tình trạng quá tải,nằm ghép giường diễn ra phổ biến tại các cơ sở y tế như hiện nay (Ảnh: H.Hải)



Ông Nguyễn Minh Thảo, Phó tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, mức phí mua BHYT sẽ tăng nếu dự thảo được thông qua. Vì qua nhiều năm, quỹ BHYT luôn trong tình trạng bội chi, nếu mức thanh toán viện phí tăng lên mà phí mua BHYT không tăng, quỹ sẽ càng bị “vỡ” nặng.

Tuy phí mua BHYT tăng, nhưng tất cả đối tượng tham gia BHYT sẽ được hỗ trợ. Cơ quan bảo hiểm sẽ phải tính toán lại từ đầu tỷ lệ cùng chi trả, thậm chí lúc đó người dân chỉ phải trả 15% chứ không phải 20% như hiện nay. Vì thế, quyền lợi người tham gia BHYT vẫn luôn được đảm bảo.

Theo đó, mức phí mua BHYT có thể tăng lên 40%. Ví dụ như mệnh giá thẻ BHYT hiện nay là 450.000 đồng/người/năm sẽ tăng lên 600.000 đồng/người/năm. Với mức tăng mới này sẽ đảm bảo quỹ BHYT ổn định trong việc chi trả giá viện phí tăng.

Cụ thể, mức tăng giá viện phí theo dự thảo mới, đó là BHYT thay vì thanh toán 3.000 - 5000 đồng/lần khám chữa bệnh, mức thanh toán khám bệnh mới là 30.000 đồng/lần (cho bệnh viện hạng cao nhất) và từ 10.000-20.000 đồng/lần cho các bệnh viện tuyến dưới (tăng 7 lần so với giá cũ). Giá giường bệnh/ngày từ 10.000 sẽ tăng lên 50.000-100.000 đồng/ngày, tùy theo tuyến điều trị. Ngoài ra, giá thanh toán các phẫu thuật, thủ thuật, vật tư tiêu hao cũng được điều chỉnh tăng lên để phù hợp với chất lượng cũng được điều chỉnh, như nắn trật khớp háng, bó bột tay (chân) đều tăng thêm ít nhất 100.000 đồng/lần. Mổ quặm hai mi tăng từ 20.000 đồng (tối thiểu), 30.000 đồng (tối đa) lên 400.000 đồng- 450.000 đồng/lần…

Được biết, đến nay đã có 60% dân số tham gia BHYT, số còn lại chưa tham gia BHYT này thì có tới 15% đối tượng cận nghèo. Ông Thảo cho biết, BHXH sẽ đề nghị địa phương phải tổ chức, tạo điều kiện cho họ tham gia BHYT đầy đủ. Ngoài ra, còn khoảng 25% là đối tượng lao động tự do, người nông dân tham gia BHYT tự nguyện. Nhà nước cũng nên có chính sách hỗ trợ 20% chi phí tham gia BHYT để giảm bớt gánh nặng cho các đối tượng này.

Hồng Hải
(dantri)
Thỉnh thoảng bụng tôi lại căng cứng, gõ vào kêu bồm bộp, đầy hơi bên trong. Tôi ăn uống điều độ, sao lại hay bị đầy hơi như thế?

Trần Thanh Thảo (Hải Dương)

Đầy hơi là hiện tượng có nhiều hơi trong dạ dày, ruột. Đầy hơi thường là bệnh chức năng, nghĩa là không do tổn thương thực thể, vì thế người bệnh không nên quá lo lắng.  Hiện tượng hơi tăng lên trong ống tiêu hóa là do khá nhiều nguyên nhân. Thường gặp nhất là rối loạn chuyển hóa chất tinh bột, do sự lên men của vi khuẩn. Ở người khỏe mạnh cũng có tới 20% bị rối loạn hấp thu tinh bột. Chỉ có gạo và bột mì không có gluten là được hấp thu hoàn toàn. Các loại tinh bột khác như lúa yến mạch, khoai tây, bắp có thể gây rối loạn hấp thu một phần. Các loại tinh bột từ đậu, thực phẩm họ đậu, đường fructo, sorbitol trong trái cây... dễ gây rối loạn hấp thu nhất. Đầy hơi cũng thường gặp trong loại bệnh rối loạn vận động ống tiêu hóa và bệnh chuyển hóa. Ngoài ra, đầy hơi còn có thể do ứ phân (thường gặp trong hội chứng đại tràng kích thích, chứng táo bón tự miễn, chứng chậm tiêu không có ổ loét, bệnh tiêu chảy chức năng); sau mổ tạo hình thực quản, sau mổ dạ dày tá tràng, sau thủ thuật nội soi đại tràng, cắt polyp đại tràng; do bệnh suy tuyến giáp trạng; dùng một số thuốc như thuốc ức chế kênh canxi, thuốc chữa trầm cảm. Chứng đầy hơi có thể điều trị dứt điểm nếu phát hiện đúng nguyên nhân. Vì thế, bạn nên đi khám chuyên khoa tiêu hoá để làm các xét nghiệm, từ đó được bác sĩ tư vấn cụ thể hơn. Bên cạnh đấy, bạn cần thay đổi thói quen ăn uống như hạn chế ăn kẹo hoặc nhai kẹo cao su, bỏ thuốc lá, giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ để giảm nuốt hơi; hạn chế dùng các thực phẩm gây nhiều hơi như nước uống có ga, thực phẩm họ đậu...  

BS. Nguyễn Thanh Xuân
(suckhoe&doisong)
Tôi hay bị tê và đau buốt ở đầu ngón tay các ngón thứ nhất, hai và ba, tê và đau ở phía gan tay, tăng lên về đêm; nhiều khi phải thức dậy xoa tay. Tôi đã tập thể dục, xoa bóp thường xuyên các vùng gáy, vai và tay mà sao không hết. Xin hỏi, tôi bị bệnh gì?

Hoàng Thanh Huy(Nghệ An)

Vùng cổ tay (phía trước) có các gân gấp chung các ngón và gấp riêng ngón cái chui qua một đường hầm mà phía sau là khối xương cổ tay, phía trước là một vòng xơ, bọc quanh hai gân là hai bao hoạt dịch, nằm ở chính giữa đường hầm là dây thần kinh giữa. Khi đường hầm này bị bóp nghẹt thì dây thần kinh giữa bị chèn ép gây hội chứng đường hầm cổ tay. Qua miêu tả của bạn, rất có thể bạn mắc hội chứng đường hầm cổ tay, vì tất cả các bệnh nhân mắc hội chứng này đều có biểu hiện tê và đau buốt ở đầu ngón tay các ngón thứ nhất, hai và ba, tê và đau ở phía gan bàn tay, tăng lên về đêm; nhiều khi phải thức dậy xoa tay; vùng cổ tay (phía trước) có thể hơi sưng so với bên lành. Trong một số trường hợp nặng, có thể thấy cơ mô cái teo. Nguyên nhân gây ra hội chứng này rất đa dạng, nhưng thường gặp nhất là do viêm khớp dạng thấp, gãy xương của nhóm xương cá, sai khớp xương bán nguyệt, gãy cổ tay kiểu Pouteau Colles, một số nghề nghiệp sử dụng cổ tay nhiều: ép, vặn, quay... Bạn nên đi khám chuyên khoa xương khớp để tìm đúng nguyên nhân gây bệnh, từ đó việc điều trị mới có hiệu quả. Cũng như với các bệnh xương khớp khác, nếu bệnh mới ở mức độ nhẹ, người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh các động tác làm nặng bệnh, dùng các thuốc xoa và đắp ngoài, dùng phương pháp vật lý trị liệu kết hợp với các chế phẩm corticoid theo chỉ định của bác sĩ. Trường hợp đau nhiều, khi đã hạn chế vận động và điều trị bằng các biện pháp trên một cách tích cực mà không đỡ thì nên can thiệp bằng phẫu thuật, giải phóng sự chèn ép thần kinh.

BS. Nguyễn Hải

(suckhoe&doisong)
Sáng 8/7, Hội chữ thập đỏ tỉnh Bình Phước đã triển khai giai đoạn II (6/2010 - 6/2011) dự án “Nâng cao năng lực chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em” tại xã Nha Bích, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Đây là dự án do Hội chữ thập đỏ Italia tài trợ.

Đối tượng của dự án là 526 trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 12, là học sinh trường tiểu học và trung học cơ sở Nha Bích, 450 bà mẹ của nhóm trẻ này, 601 phụ nữ khác trong xã và 10 tình nguyện viên Hội chữ thập đỏ.


Mục tiêu của dự án là giúp các phụ nữ đánh giá sức khỏe của bản thân, gia đình và phát huy vai trò của phụ nữ trong việc phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe cho gia đình; tích cực vệ sinh môi trường để bảo vệ sức khỏe.


Người dân xã Nha Bích chủ yếu sản xuất nông nghiệp, trình độ dân trí thấp, môi trường vệ sinh kém, khó tiếp cận các dịch vụ y tế. Đại bộ phận người dân chưa ý thức về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, thường mắc phải các bệnh về răng, miệng, tiêu hóa, sinh sản, suy dinh dưỡng...

Điểu Việt
(PNO)
Xem tivi, video game 2 tiếng mỗi ngày đủ để trẻ lĩnh gấp đôi nguy cơ mắc các rối loạn về chú ý như hội chứng tăng động giảm chú ý, một nghiên cứu vừa khẳng định.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Theo đó, não của trẻ trở nên quen với các màn hình lóe sáng và những cử động liên tục trong các trò chơi và hình ảnh truyền hình. Chính vì thế, khi đến lớp, trẻ sẽ khó mà tập trung được vào những bài học ít có tính kích thích thị giác giống như khi chơi game hay xem tivi.

"Nếu chúng ta rèn luyện cho bộ não thích nghi với những hình ảnh cử động liên tục và ánh sáng chớp liên hồi, với những góc quay đổi hướng liên tục như trong trò chơi video, thì khi trẻ đến lớp, nơi các giáo viên giảng dạy chậm rãi, trẻ sẽ khó mà tập trung sự chú ý vào đó", giáo sư tâm lý Douglas Gentile, nhận định.

Nhóm nghiên cứu đã yêu cầu 1.323 trẻ em tuổi từ 7 đến 10 - với sự giúp đỡ của cha mẹ chúng - ghi lại thói quen chơi video và xem truyền hình trong vòng 13 tháng.

Nhóm cũng ghi lại bất kỳ trục trặc chú ý nào mà các em nhỏ mắc phải trong khoảng thời gian đó.

Nhóm chuyên gia nhận thấy tình trạng giảm (hoặc mất) khả năng chú ý xuất hiện chỉ sau một năm liên tục trẻ dành 2 tiếng mỗi ngày trước màn hình.

"Tăng động giảm chú ý là một tình trạng bệnh lý, nhưng cũng là bệnh của não. Chúng ta biết rằng não thích nghi và thay đổi dựa trên các kích thích của môi trường, nơi nó được tiếp xúc lặp đi lặp lại", Gentile cho biết.

"Vì thế, có lý do để tin rằng những kích thích của môi trường làm tăng nguy cơ mắc các loại bệnh lý như tăng động giảm chú ý, giống như việc hút thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư phổi".

Tuy nhiên, các tác giả cũng lưu ý rằng tivi và trò chơi video không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra hiện tượng tăng động giảm chú ý và các rối loạn chú ý khác ở trẻ.

T. An
(vnExpress)
Bố tôi năm nay 62 tuổi, bị ĐTĐ týp 2 đã 10 năm. Bố tôi bị biến chứng thần kinh nên đau rát hai chân, ông phải nhập viện do đường máu tăng cao. Sau khi điều trị ổn định bệnh, bố tôi được ra viện và đang phải tiêm insulin 4 mũi/ngày, tổng số insulin là 58đv/ngày. Xin hỏi, liều insulin như thế bố tôi có nguy cơ bị hạ đường máu không? Xin cho biết thêm thông tin về đề phòng và xử trí hạ đường máu?      

Nguyễn Thị Hồ (Nghệ An)

Đúng là bố của anh có nguy cơ bị hạ đường máu do liều insulin khá cao. Đặc biệt là ông đã có biến chứng thần kinh nặng nên nếu bị hạ đường máu thì các triệu chứng sẽ không rõ, có thể dẫn đến bị hạ đường máu nặng, nguy hiểm đến tính mạng. Để phòng tránh thì điều quan trọng nhất là bản thân ông hoặc một người trong gia đình phải học để biết tiêm insulin đúng liều và đúng kỹ thuật (tốt nhất là tự tiêm một vài lần tại bệnh viện dưới sự hướng dẫn, giám sát của thầy thuốc) và bệnh nhân phải nhớ ăn sau khi tiêm 30 phút. Điều quan trọng thứ 2 là ông phải đo đường máu 2-3 lần mỗi ngày, nhất là khi có cảm giác đói. Nếu kết quả đo đường máu không nằm trong vùng an toàn thì nên báo ngay cho bác sĩ để chỉnh liều thích hợp. Người nhà cần nên chuẩn bị sẵn đồ ăn tại nhà hoặc để trong cặp và trong túi áo của bệnh nhân để nếu bị hạ đường máu thì có đồ ăn ngay, tránh để bị hạ đường máu nặng rất nguy hiểm.

Dự án ĐTĐ quốc gia - BVNT Trung ương
(suckhoe&doisong)
Tuổi tác ảnh hưởng nhiều đến sinh lý của cơ thể. Khi tuổi càng cao sẽ ảnh hưởng đến quá trình hấp thu chuyển hoá, phân bố và thải trừ của thuốc. Tuy nhiên khi về già tốc độ lão hoá của mỗi người khác nhau, nên khi dùng thuốc không thể quy đồng liều như nhau mà phải căn cứ vào từng cá thể để tính toán liều phù hợp.

Một số nhóm thuốc có nguy cơ cao với người cao tuổi


- Những thuốc gây tụt huyết áp tư thế đứng (rất hay xảy ra với người cao tuổi) đó là các thuốc an thần, gây ngủ; các thuốc chống Parkinson, các thuốc hạ huyết áp, thuốc kháng histamin H1 (chlopheniramin, các thuốc cảm cúm). Người cao tuổi khi uống thuốc này nên thận trọng trong việc đổi tư thế. Ví dụ khi uống thuốc đang ngồi đứng dậy phải từ từ. Nếu đứng bật dậy rất dễ gây tụt huyết áp tư thế đứng (thấy choáng váng) rất nguy hiểm.

- Nhóm thuốc gây mất thăng bằng tư thế, gây ngã ở người cao tuổi đó là các thuốc ngủ, an thần. Cùng với tuổi tác, khả năng giữ thăng bằng của cơ thể giảm kết hợp với tác dụng phụ của thuốc (làm cho cơ thể mất khả năng điều hoà tư thế) rất dễ gây ngã. Ngã của người cao tuổi rất nguy hiểm vì lúc này xương đã bị loãng (mất canxi trong xương, mất cả độ mềm dẻo của xương) nên xương giòn rất dễ gãy và khó liền.

- Thuốc gây giảm điều hoà thân nhiệt: Ở người cao tuổi khả năng điều hoà thân nhiệt giảm. Một số thuốc: nhóm phenothiazin, benzodiazepin, opid (codein, proprapamin)... rất dễ gây hạ thân nhiệt ở người cao tuổi. Nếu hạ quá không biết để cấp cứu kịp thời rất dễ gây tử vong.

- Thuốc gây giảm chức năng nhận thức: các thuốc an thần gây ngủ, kháng cholin, kháng thụ thể H2, chẹn thụ thể bêta 2... làm cho người cao tuổi lú lẫn, hay quên.

Một số vấn đề khi dùng thuốc ở người cao tuổi

Người cao tuổi do giảm nhu động ruột, giảm tiết dịch nên hay bị táo bón. Do vậy, tỷ lệ người cao tuổi dùng thuốc nhuận tràng cũng nhiều. Khi dùng một thuốc nào đó cùng với thuốc nhuận tràng rất có thể thuốc đó sẽ bị tống ra ngoài sớm (do thuốc nhuận tràng làm tăng nhu động ruột) do đó làm giảm hấp thu, tác dụng của thuốc dùng đồng thời với thuốc nhuận tràng. Khi bán thuốc cho người cao tuổi nên hỏi xem họ có đang dùng thuốc nhuận tràng hay không (có thể tự dùng hoặc bác sĩ kê dùng).

Do có sự suy giảm về trí nhớ nên khi dùng thuốc người cao tuổi có thể quên tên thuốc, liều dùng hoặc nhầm lẫn thuốc, liều dùng... và rất dễ gặp tai biến do sự nhầm lẫn này gây nên.

Khi về già tình trạng đau xương khớp, loãng xương là không tránh khỏi. Tình trạng này khiến người cao tuổi ngại vận động nên uống thuốc ở tư thế nằm làm cho thuốc không xuống tới dạ dày kết hợp với lượng nước uống ít nên thuốc đọng lại ở thực quản (gây loét với một số thuốc), gây sỏi thận (như sulffamid) nếu uống ít nước...

DS. Hoàng Thu Thủy
(suckhoe&doisong)
Lá cây sống đời giúp cầm máu; lô hội trị vết bỏng loét; lá bàng chữa cảm sốt, giúp ra mồ hôi, giảm tê thấp và lỵ… Các loại cây này được nhà khoa học khuyên nên trồng ở tư gia vừa làm cảnh vừa chữa bệnh rất hiệu quả.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Thị Đẹp, Trưởng bộ môn Thực vật, Khoa Dược, Đại học Y Dược TP HCM cho biết, khi bị bỏng hoặc đứt tay mà trong nhà không có thuốc cầm máu, có thể dùng lá cây sống đời giã nát rồi đắp lên vết thương, cầm máu rất tốt.

Dưới đây là 16 loại cây cảnh dược lành tính có thể trồng trong nhà:

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



(Ngoan Ngoan, VnExpress)
Xanh lam! Hay theo cách nó được gọi “xanh lễ hội”, bởi khi nhìn vào màu sắc này bạn sẽ liên tưởng ngay đến những vùng đất nhiệt đới sôi nổi và nóng bỏng.

Vài gợi ý dưới đây sẽ giúp bạn trở nên thật xinh đẹp và nổi bật giữa mùa hè với màu mắt xanh lam.

1. Xanh lam kết đôi với màu ánh kim

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Phấn mắt màu đồng và vàng ánh kim phủ kín mi mắt thực sự ăn rơ với đường viền mắt nước màu xanh dương của Jessica Alba. Chúng mang đến cho cô vẻ rạng rỡ mà vẫn dịu dàng.

2. Lựa chọn một chiếc váy cùng tông


Để theo đuổi phong cách này, hãy lựa chọn một chiếc váy cùng tông với màu mắt của bạn, đi kèm với màu môi và má theo tông mộc để làm nền cho sự rực rỡ của đôi mắt và trang phục. Bạn cần một gợi ý cụ thể hơn?

Hãy xem cách Amber Riley phối màu xanh cho mắt, chiếc đầm cô ấy đang mặc và gương mặt trang điểm không thể nhạt hơn… và cũng không thể phù hợp hơn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



3. Đánh phấn mắt màu xanh vào hốc mắt trong

Điểm nhấn nhẹ nhàng nhưng hiệu quả sẽ làm sáng bừng đôi mắt bạn trong tông màu xanh dịu mát, ngọt ngào. Cách trang điểm này rất thích hợp khi họp mặt bạn bè. Hãy xem Lee Michele đã ngọt ngào thế nào với cách trang điểm này.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



4. Sử dụng màu móng chân xanh (cùng đôi giày thật cá tính)

Nếu một tông màu xanh chưa đủ, hãy trang bị cho mình một bộ móng được chăm sóc cẩn thận và cũng là… màu xanh như Jessica Alba. Chúc bạn cũng sẽ yêu thích màu xanh như cô ấy vậy!

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



(tuoitre)

Theo một kết quả nghiên cứu, được đăng tải trên tạp chí Journal of the American Society Nephrology số ra tháng Bảy, những người thực hiện các chế độ ăn có chứa nhiều chất fructose (một loại đường) có nguy cơ gia tăng mắc triệu chứng huyết áp cao hoặc bệnh tăng huyết áp.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Kết quả nghiên cứu này cho thấy việc giảm các loại đồ uống và thức ăn có chứa nhiều chất fructose có thể làm giảm nguy cơ bị huyết áp cao.

Để kiểm tra sợi dây liên hệ giữa việc tiêu thụ fructose và nguy cơ gia tăng huyết áp cao, tiến sỹ Diana Jalal của Đại học Colorado và các đồng nghiệp đã phân tích các dữ liệu thu thập từ cuộc khảo sát kiểm tra dinh dưỡng và sức khỏe quốc gia giai đoạn 2003-2006.

Nghiên cứu này được tiến hành đối với 4.528 người lớn ở Mỹ tuổi từ 18 trở nên và không một ai có tiền sử bị huyết áp cao. Những người tham gia nghiên cứu phải trả lời các câu hỏi liên quan đến chế độ thức ăn và đồ uống hàng ngày như nước uống hoa quả, nước uống có ga, các loại bánh kẹo.

Kết quả cho thấy, những người thực hiện chế độ ăn có chứa 74g hoặc nhiều hơn chất fructose mỗi ngày có sẽ có nguy cơ cao hơn 26%, 30% và 77% với nồng độ huyết áp tương ứng là 135/85, 140/90 và 160/100 mmHg. Nồng độ huyết áp ở người bình thường là dưới 120/80mmHg.

Tiến sỹ Jalal phát biểu rằng: "Nghiên cứu của chúng tôi xác định các nhân tố nguy cơ có thể điều chỉnh đối với bệnh huyết áp cao. Tuy nhiên, cần tiến hành thêm những nghiên cứu để xem liệu các chế độ ăn có chứa ít fructose có ngăn chặn sự phát triển của bệnh huyết áp cao hay không."

Bệnh huyết áp cao là một thuật ngữ y học để nói về chứng huyết áp cao. Cần có huyết áp để giúp bơm máu tới các phần còn lại trong cơ thể, nhưng huyết áp cao lại có thể không có lợi cho sức khỏe và gây ra các vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe.

Nếu để không chữa trị, bệnh huyết áp cao có thể gây ra các biến chứng về sức khỏe, như nhồi máu cơ tim, suy tim sung huyết, suy thận, đột quỵ, suy giảm thị lực, hoặc hư não.

Bệnh huyết áp cao có thể xuất hiện ở tất cả mọi người thuộc mọi lứa tuổi, tuy nhiên bệnh này thường gặp hơn ở những người lớn trên 35 tuổi. Hơn 50 triệu người Mỹ mắc bệnh huyết áp cao (một phần tư), đặc biệt là những người Mỹ gốc Phi rất dễ mắc bệnh huyết áp cao (một phần ba).

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới huyết áp, thí dụ như lượng nước trong cơ thể, lượng muối trong cơ thể, các loại hoóc môn, mức độ vận động, nhiệt độ, tâm trạng, tình trạng của thận, hệ thần kinh, và các mạch máu.

Những người có nhiều nguy cơ bị huyết áp cao cần phải kiểm soát cách ăn uống, bớt ăn muối, chất béo bão hòa và cholesterol; kiểm soát tâm trạng căng thẳng; giảm bớt căng thẳng hoặc tìm cách kiểm soát tâm trạng căng thẳng; tập thể dục; mỗi ngày nên vận động thân thể ở mức độ vừa phải trong ba mươi phút; giảm cân nếu cần thiết; và thường xuyên kiểm tra huyết áp để các bác sỹ tư vấn kịp thời./.

Khắc Hiếu/Washington (Vietnam+)
Cuộc sống bận rộn và vội vã luôn có thể khiến bạn gặp phải những cơn stress liên miên. Tuy nhiên nếu nhận ra rằng căn nguyên của hầu hết các cơn stress đều giống nhau, bạn có thể vạch ra 10 chiến lược tiêu diệt hung thần mang tên căng thẳng này.

Trò chuyện với gia đình và bạn bè:  Lời khuyên này của các chuyên gia không quá mới nhưng chưa bao giờ là cũ với những con người có ít thời gian cho những người thân yêu.

“Bạn bè” và “gia đình” mới thực sự là liều thuốc hiệu nghiệm với bạn bởi bạn cần hiểu rằng chia sẻ những cảm nhận, hy vọng, mong muốn, nỗi đau là cách nhanh nhất làm vơi đi căng thẳng.

Đều đặn tham gia các hoạt động thể thao hàng ngày: Nếu bạn muốn cái đầu của bạn “thoáng” hơn, hãy nghĩ đến việc chơi thể thao. Ngay cả khi căng thẳng làm bạn thấy uể oải, cũng hãy thử cố gắng đứng dậy và bước tới phòng tập, hoặc tới một không gian mở nào đó để đi bộ, bơi lội, đạp xe,...

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Khi về nhà, bạn đã thấy tinh thần mình khác hắn, đúng không?

Luôn cười: Lúc vui, bạn cười. Vậy ngược lại, bạn có nghĩ tập... cười cũng làm bạn tự nhiên thấy phấn chấn hơn? Các nhà khoa học đã cho thấy ngay cả khi bạn cười một cách... không tự nhiên cho lắm, căng thẳng trong bạn cũng... bất ngờ giảm nhẹ.

Vậy còn chờ gì nữa mà không thử xem một bộ phim hài, đọc truyện tranh hay lên mạng tìm những hình ảnh ngộ nghĩnh buồn cười rơi nước mắt?!

Chấp nhận điều bạn chẳng thể thay đổi: Nghe có vẻ hơi bi quan, tuy nhiên nghĩ kỹ bạn sẽ thấy có những thứ bạn chẳng bao giờ thay đổi được, ví dụ như việc... bạn đang già đi chẳng hạn.

Ai cũng sẽ phải già đi và bạn đừng than rằng “tôi già quá!” hay “tôi không còn trẻ nữa” mà ảnh hưởng đến việc học hỏi đón nhận cái mới, đặt mục tiêu cao hơn trong công việc, giúp đỡ mọi người hay... yêu một ai đó chẳng hạn. Tự phụ sẽ khiến bạn không dám làm những việc mà bạn muốn làm.

“Đầu hàng” lối sống thiếu lành mạnh
: Dùng quá nhiều đồ uống có cồn, cafein, hút đủ các loại thuốc lá... chắc chắn sẽ giúp bạn... dễ tăng stress. Truyền thông vẫn nhắc bạn liên tục về những điều này đúng không?

Vì thế, nếu đang có ý định... tập hút thuốc lá, vì bạn tưởng rằng hút thuốc lá làm giảm căng thẳng tức thì, bạn hãy từ bỏ ngay trước khi biến thành một kẻ phụ thuộc vào nó.

Không hối hả: Hãy tự cân bằng cuộc sống của bạn bằng việc sắp xếp thời gian một cách hợp lý nhất có thể, để bạn vẫn đảm bảo mình có thể làm hết mọi việc mà một ngày của bạn vẫn không trôi qua vội vã.

Cứ “chạy đua” liên miên cùng công việc, bạn sẽ phải “chào thua” những trận stress và tạo cơ hội để nó tích tụ trong bạn mỗi ngày.

Ngủ đủ giấc: “Thần dược” của bạn là đây. Một giấc ngủ quyết định khả năng phục hồi về thể chất và tinh thần của bạn, nên không phải bỗng nhiên các chuyên gia khuyên bạn nên đảm bảo ngủ được sáu đến tám tiếng mỗi ngày.

Để thực hiện điều này, bạn cần quan tâm đến chiến lược Không hối hả.

Có kế hoạch làm việc: Sắp xếp công việc theo thứ tự quan trọng để đặt kế hoạch làm việc nào trước, việc nào sau, việc nào cần gấp và việc nào có thể... tà tà là cách khá hiệu quả giúp cái đầu của bạn khỏi bị nổ tung trước núi việc được giao trước mắt.

Dĩ nhiên căng thẳng lúc ấy làm sao dám gõ cửa nhà bạn.

Giúp người là giúp mình: Thử hướng sự quan tâm của bạn đến một người bạn thân cũng đang rơi vào tình trạng tương tự, để cả hai cùng... cười nhạo sự căng thẳng khi cùng chia sẻ các biện pháp làm cuộc sống bớt phức tạp hơn.

Nếu một người bạn của bạn nhanh chóng thoát khỏi stress, bạn cũng sẽ thấy dễ chịu hơn rất nhiều.

Cố gắng đừng lo âu: Thế giới sẽ không diệt vong, ngày tận thế còn lâu mới đến nếu như bạn bị đuổi việc, bạn bị sếp mắng hay con cái bạn... chưa kịp ngoan.

Mọi chuyện luôn có hướng giải quyết và cách tháo gỡ nếu bạn tỏ ra bình tĩnh đón nhận mọi việc, có biện pháp xử lý khéo léo và không lo ngại mọi điều tồi tệ xảy ra.

Càng lo lắng, bạn sẽ chỉ càng làm mọi chuyện rối lên khi bạn thiếu tỉnh táo. Vậy hãy chỉ cho phép mình được sợ một điều duy nhất nào đó, để thấy rằng mọi điều tồi tệ khác cũng chỉ là... chuyện nhỏ mà thôi./.

Nhật Khánh (Vietnam+)
Nam giới bị giãn tĩnh mạch tinh, nhiều người nghĩ mình mắc căn bệnh yếu sinh lý, ít người biết mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng của bệnh là gây vô sinh. Tuy nhiên, với những trường hợp được phát hiện và điều trị kịp thời, tinh trùng có thể sản xuất bình thường, khả năng có con tự nhiên cao.

Giãn tĩnh mạch tinh là gì?

Giãn tĩnh mạch tinh là tình trạng giãn hệ thống tĩnh mạch tinh, bao gồm: tĩnh mạch tinh trong, tĩnh mạch tinh sau và tĩnh mạch tinh bìu. Do hệ thống van tĩnh mạch bị khiếm khuyết, máu tĩnh mạch không đi từ tinh hoàn xuống ổ bụng như thông thường mà chảy ngược từ ổ bụng vào bìu làm sự phát triển của tinh trùng rối loạn, tinh hoàn do đó bị tổn thương, bên tinh hoàn bị bệnh nhỏ đi. Biểu hiện lâm sàng thường gặp ở bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch tinh, đó là đau tức tại tinh hoàn, nhưng không thể xác định đau ở vị trí nào cụ thể. Nhất là khi cơ thể mệt mỏi do làm việc quá sức hay thời tiết nóng nực..., tinh hoàn bị bệnh đau nhiều hơn. Quan sát có thể thấy bên tinh hoàn bị bệnh nhỏ hơn so với bên bình thường. Nhiều bệnh nhân khi đứng, khối tĩnh mạch ở bìu bị giãn trông như túi giun, khi nằm có cảm giác bẹp xuống. Tùy theo tình trạng bệnh mà có thể nhận biết được khi sờ hay thậm chí chỉ nhìn cũng thấy tĩnh mạch tinh giãn nổi ở dưới da. Một số người nhất là thanh niên còn bị đau tưng tức rất khó chịu. Cơn đau xuất hiện khi dương vật cương hay đi lại nhiều, nằm nghỉ thì hết. Phần lớn, các trường hợp bị giãn tĩnh mạch tinh thường bị ở tinh hoàn bên trái.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Ảnh minh họa.



Có nhiều yếu tố, nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch tinh như: do cơ địa của người bệnh; do mạch máu bất thường; hệ thống van tĩnh mạch của tinh hoàn bất thường; những người do đặc thù công việc thường xuyên phải đứng nhiều, đứng lâu...

Do giãn tĩnh mạch tinh ít có triệu chứng điển hình nên người bệnh dễ nhầm với các bệnh khác ở bìu như thoát vị bẹn (sa ruột), nang thừng tinh, viêm mào tinh... Đã có trường hợp chẩn đoán là sa ruột nhưng khi mổ không thấy ruột đâu, hay chẩn đoán là nang thừng tinh nhưng mổ ra chỉ là một búi tĩnh mạch giãn to.

Tại sao giãn tĩnh mạch tinh gây vô sinh?


Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới có khoảng 15% nam giới bị giãn tĩnh mạch tinh và nguyên nhân dẫn tới vô sinh là do:

Nhiệt độ tinh hoàn tăng: Bình thường nhiệt độ tinh hoàn 35oC, khi bị giãn tĩnh mạch tinh nhiệt độ tăng lên đến 37oC bằng nhiệt độ trong ổ bụng. Nhiệt độ tăng kéo dài làm cho sản xuất tinh trùng giảm xuống.

Ứ máu tĩnh mạch tại tinh hoàn: Làm chuyển hóa tại tinh hoàn bị ứ đọng, đào thải khỏi tinh hoàn chậm lại gây "ngộ độc" tế bào sinh tinh trùng;

Máu động mạch đến nuôi tinh hoàn giảm: Do ứ máu tĩnh mạch làm cho máu động mạch đến tinh hoàn giảm đi dẫn đến ôxy và chất dinh dưỡng nuôi tinh hoàn bị giảm ảnh hưởng sinh tinh trùng;

Rối loạn nội tiết tại tinh hoàn: Làm cho nội tiết tố sinh dục bị rối loạn ảnh hưởng đến sản xuất tinh trùng.

Điều trị kịp thời có thể có con tự nhiên

Các chuyên gia y tế cho biết, ở nước ta tỉ lệ nam giới mắc bệnh này rất cao nhưng hầu như không ai biết bệnh và cũng không chú ý đến những triệu trứng của bệnh. Họ chỉ đến với bác sĩ nam khoa khi cảm giác đau, tức ở bìu gây bất tiện cho sinh hoạt hay thấy lâu có con. Cũng theo các chuyên gia, bệnh giãn tĩnh mạch tinh tiến triển âm thầm và ngày càng nặng theo thời gian. Nếu bị giãn tĩnh mạch tinh ở giai đoạn nhẹ thì tinh trùng sẽ bị giảm chất lượng (số lượng thì vẫn bình thường). Nặng hơn thì giảm cả chất lượng và số lượng tinh trùng. Trường hợp nặng không có tinh trùng trong tinh dịch. Để lâu ngày không điều trị làm cho các tế bào sinh tinh bị giảm, tinh hoàn bị teo, dẫn đến vô sinh. Với những bệnh nhân điều trị kịp thời, tinh trùng có thể sản xuất bình thường, khả năng sinh con tự nhiên rất cao. Bởi vậy, khi thấy đau, tức ở bìu, nhất là bìu trái, cần đi khám ngay để điều trị kịp thời.

Việc điều trị cho bệnh nhân giãn tĩnh mạch tinh tùy mức độ tác động lên tinh hoàn mà số lượng và chất lượng tinh trùng bị giảm, có thể không còn tinh trùng trong tinh dịch. Với trường hợp nhẹ có thể điều trị bằng thuốc giúp cho thành mạch bền vững và thu nhỏ tĩnh mạch. Với những trường hợp nặng thì phải phẫu thuật thắt hoặc cắt tĩnh mạch tinh để máu khỏi trào ngược và không giãn nữa. Thực tế cho thấy nhiều bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch tinh sau phẫu thuật đã cho kết quả: Với trường hợp số lượng và chất lượng tinh trùng giảm, có khoảng 70% tinh trùng được cải thiện; Đối với trường hợp không còn tinh trùng có 50% tái xuất hiện tinh trùng và có thể có con tự nhiên mà không cần thụ tinh nhân tạo.

Bác sĩ Hạnh Chung
(suckhoe&doisong)
Khi mang thai, sức nặng của bào thai sẽ khiến lưng luôn bị đau nhức, gây khó ngủ cho bà bầu. Các bài tập luyện dưới nước sẽ làm giảm đáng kể cơn đau lưng và xương chậu.

Thông thường, các bác sỹ đưa ra lời khuyên các bà bầu nên thường xuyên đi bộ để rèn luyện sức khỏe cũng như chuẩn bị cho lúc vượt cạn. Tuy nhiên, việc tập luyện trên bộ hàng tuần không sánh được với một buổi tập luyện dưới nước bởi những lợi ích mà nó mang lại là rất lớn.
Cứ 3 phụ nữ mang thai thì có 1 người mắc chứng đau lưng, thậm chí, nó sẽ kéo dài đến cả thời điểm sau sinh và gây khó khăn cho các hoạt động sau này.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Phương pháp tập luyện dưới nước vừa tập luyện để tăng cơ, đỡ mệt mỏi mà cơ thể thai phụ khi xuống nước cũng cảm thấy nhẹ nhàng hơn, tránh được cảm giác uể oải thường xuyên xuất hiện.
Để tập luyện dưới nước, bà bầu có thể lựa chọn đi bơi thường xuyên hoặc đi bộ dưới bể nước không quá sâu hàng tuần. Tập từ tháng thứ 5 đến lúc chuẩn bị sinh.
Mỗi tuần khoảng 2 lần, tập luyện từ 30 đến 45 phút, sau đó dành 15 phút thư giãn, nghỉ ngơi. Phương pháp tập luyện này vừa đơn giản, dễ thực hiện lại không quá tốn kém. Thỉnh thoảng, các bà bầu có thể rủ chồng tập cùng để tăng thêm hứng thú tập luyện.

Một số cách giúp bà bầu giảm đau lưng

-          Tránh mang vác quá nặng.
-          Đi giày gót thấp.
-          Làm những việc nhà nhẹ nhàng và có thể ngồi nhiều.
-          Khi ngủ, cần kê một chiếc gối xuống phía dưới để nâng bụng bầu, và nằm nghiêng sang một bên.

Theo Eva
(suckhoe&doisong)