Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
Phân trang 24/100 Trang đầu Trang trước [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28] [29] [30] Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
“Đau khổ như những ai đau khổ vì bệnh trĩ…”.
Câu nói này diễn tả được phần nào nỗi khó chịu của một người bị mắc chứng này. Nhiều người Pháp khẳng định rằng đại tế Napoleon của họ lẽ ra đã không thua trận xiểng niểng tại Waterloo nếu ngài… không mắc bệnh trĩ! Chuyện này có thể làm một huyền thoại, nhưng cũng nói lên được tác động của bệnh trĩ lên con người.
Khi lỡ mang chứng này, người bệnh thường cảm thấy khó chịu, nhất là những lúc ngồi trong toilet… rên rỉ, chịu đựng. Nói sao cho xiết cái cảm giác đọa đày.
Với kiến thức y học ngày nay, bệnh trĩ thường được các bác sĩ kiềm chế không mấy khó khăn. Những kiến thức chuyên môn dưới đây (được thu thập từ kinh nghiệm của các bác sĩ chuyên khoa về trĩ) sẽ có thể giúp bạn tiêu trừ, hoặc ít ra cũng làm giảm bớt nỗi đau khổ vì bệnh này.
Chú trọng về ăn uống
Việc ăn uống đúng cách có thể làm một người bị bệnh trĩ nặng giảm hơn một nửa nỗi khó chịu, và có thể làm tiêu tan gần hết bệnh của một người ở thời kỳ nhẹ hay trung bình.
- Hãy uống nhiều nước và ăn thức ăn có nhiều chất xơ. Khi bạn ăn uống như vậy, chắc chắn phân sẽ lỏng hơn. Bạn thường chỉ khó chịu khi phân quá cứng, quá đặc.
- Hạn chế ăn muối và kiêng các chất gia vị cay, nóng, cà phê, rượu, những thực phẩm chứa chất cafein. Muối có khuynh hướng giữ nước lại trong cơ thể, làm các tế bào và mạch máu trương căng ra, làm nặng hơn triệu chứng trĩ. Những gia vị cay, nóng và chất kích thích thường tạo cảm giác khó chịu khi phân đi qua hậu môn.
Dùng dầu thoa hậu môn
Chuyện này cũng dễ hiểu nếu bạn từng bị và chữa bệnh trĩ. Một chút dầu sẽ làm trơn hậu môn, và làm phân dễ ra hơn. Có thể mua loại petroleum jelly bán trong các nhà thuốc Tây. Dùng một que quấn bông gòn hoặc ngón tay thoa vào bên trong hậu môn, sâu chừng 1, 2 phân là đủ.
Đừng rặn, và đừng khiêng nặng
Hành động rặn sẽ làm trĩ ló ra ngoài hậu môn nhiều hơn. Tương tự, bạn cũng sẽ phải gồng lên khi khiêng một vật nặng như tủ lạnh, bàn ghế… Trĩ thường xuất hiện do những tĩnh mạch bị trương căng lên. Hành động gồng hay rặn làm cao áp huyết trong các mạch máu và làm trương căng chỗ trĩ nhiều hơn nữa.
Lưu ý: Nếu bạn chưa bị trĩ, hành động gồng hay rặn có thể khiến bạn mắc bệnh trĩ.
Người mập và có thai dễ bị bệnh trĩ hơn
Trọng lượng và sức nặng của bào thai tạo ra một áp suất đè lên các tế bào và mạch máu tại hậu môn, dễ tạo nên bệnh. Nếu bạn quá nặng cân, hãy giảm ăn và tập thể thao để giảm cân. Nếu bạn đang mang thai, nên nằm nghiêng về bên trái nhiều (20 phút/4 tiếng đồng hồ). Hành động này làm giảm bớt sức ép của bào thai trên tĩnh mạch hậu môn.
Công dụng của kem thoa trĩ
Các loại kem thoa trĩ (hemorrhoid cream) có bán tự do tại các tiệm thuốc Tây. Kem này thường có công dụng làm cho chỗ trĩ không đau đớn khi thoa vào. Kem chỉ có công dụng giảm đau trong một lúc mà thôi, không phải là thuốc trị bệnh. Khi trĩ sưng lên và ló ra ngoài hậu môn, bạn có thể đến bác sĩ cắt bỏ; phẫu thuật tương đối dễ dàng, không nguy hiểm, và không tốn quá nhiều tiền.
Nên rửa hậu môn sau khi đi vệ sinh
Thông thường, việc rửa sẽ làm hậu môn sạch hơn là lau bằng giấy. Khi bạn bị trĩ, việc lau chùi bằng giấy thường gây đau đớn. Nếu không thích rửa, hãy chùi bằng loại giấy lau mặt bán trong hộp loại giữ ẩm (moisturized facial tissue), nó sẽ ít làm trầy chỗ trĩ hơn. Phải dùng giấy lau mặt vì hiện trên thị trường không có loại giấy vệ sinh có giữ ẩm – moisturized toilet tissue).
Ngâm nước ấm
Việc ngâm nước ấm thường xoa dịu được cơn đau của trĩ và làm trĩ bớt sưng lên. Bác sĩ Byron tại Louisiana (Mỹ) xác nhận như vậy dựa theo kinh nghiệm chẩn trị nhiều năm. Bạn có thể xả nước ấm trong bồn tắm vừa đủ ngập qua hậu môn rồi ngồi bó gối hay ngồi chồm hỗm trong bồn cho đến khi hết đau.
Theo SKĐS
Là căn bệnh khó chịu, trĩ có thể tấn công bất kỳ người nào, ở độ tuổi nào. Phần lớn người bệnh ngại ngần nên không chịu đi khám, chỉ khi xuất hiện biến chứng gây đau đớn đến mức không chịu được thì mới tới bệnh viện. Thời gian điều trị vì thế phải kéo dài…

Những yếu tố nguy cơ
Trĩ là bệnh lý của vùng hậu môn trực tràng, rất phổ biến, tuy chưa xác định chính xác nguyên nhân song cũng có một số yếu tố được coi là liên quan. Nghiên cứu về sự phân bố mạch máu của vùng hậu môn trực tràng cho thấy, ống hậu môn là nơi có nhiều mạch máu tạo thành các búi tĩnh mạch nằm ở lớp dưới niêm mạc.
Các búi này có chức năng của một cái nệm, giữ vai trò khép kín hậu môn. Có thể hiểu, trĩ là trạng thái giãn tĩnh mạch quá mức vùng hậu môn. Những người có nghề nghiệp phải đứng lâu ngồi nhiều (thợ may, nhân viên văn phòng, nhân viên bán hàng…) rất dễ mắc căn bệnh này, bởi tư thế làm máu huyết ít lưu thông, dễ bị ứ trệ.
Trĩ cũng có thể là hệ lụy của một số căn bệnh khác như lỵ, táo bón (bệnh nhân phải rặn nhiều mỗi khi đi đại tiện); các bệnh trong ổ bụng gây tăng áp lực như u bướu, viêm… làm cản trở lưu thông các mạch máu và phát sinh trĩ như các khối u vùng hậu môn trực tràng, u xơ tử cung, u nang buồng trứng lớn… Trĩ hay gặp ở phụ nữ có thai, sinh đẻ… và những đối tượng có yếu tố gia đình, di truyền, hoặc có lối sống ít hoạt động, ăn ít rau, uống ít nước…
Những dấu hiệu dễ nhầm lẫn
Thường thì các dấu hiệu của bệnh trĩ đến khá nhẹ nhàng, ít người để ý. Chỉ đến khi bệnh nặng thì mới biết. Triệu chứng thường gặp và xuất hiện sớm nhất của bệnh là chảy máu hậu môn, đại tiện ra máu tươi. Lúc đầu chảy máu ít kín đáo nên người bệnh không để ý, nếu có sử dụng giấy vệ sinh thì sẽ thấy có một ít máu tươi dính ở trên giấy, hoặc nhìn thấy có một ít tia máu tươi dính trên phân, nhất là khi táo bón vì phân cứng đi qua làm rách búi trĩ.
Về sau máu ra nhiều hơn, thành giọt theo sau cục phân. Muộn hơn thì cứ ngồi xổm đại tiện là máu chảy ra, kèm theo bệnh nhân có táo bón. Đến giai đoạn rất muộn thì khi đi đại tiện ra phân mềm cũng vẫn chảy máu.
Đau và ngứa, có cảm giác khó chịu ở hậu môn cũng là dấu hiệu báo động bệnh trĩ. Nếu mới mắc bệnh, bạn có thể không đau hoặc đau ít. Đau càng nhiều khi có biến chứng sưng viêm nhiễm, tắc mạch ở búi trĩ và sa ra ngoài hoặc có nứt hậu môn. Thậm chí bạn có thể bị rỉ nước và ngứa vùng hậu môn do viêm ống hậu môn. Khi có đợt cấp hoặc khi trĩ sa ra ngoài, búi trĩ sưng khá to, sờ thấy dễ dàng, bạn có thể bị sưng nề vùng hậu môn.
Đừng để biến chứng
Nếu không muốn đau đớn và đối mặt với nguy hiểm, tốt nhất bạn đừng để biến chứng xảy ra. Trước hết, đó là biến chứng chảy máu: Trĩ là do giãn mạch máu nên rất dễ rách, dễ vỡ gây chảy máu nhiều, nếu để kéo dài sẽ rất nguy hiểm, gây thiếu máu trầm trọng, cần mổ cầm máu ngay.
Sa trĩ cũng là một trong những biến chứng nguy hiểm. Lúc này, trĩ lòi ra ngoài thành búi hoặc thành vòng gây đau đớn khó chịu. Lúc đầu chỉ sa sau khi đi đại tiện và nhét lại được, sau đó thì sa luôn nằm hẳn ngoài hậu môn không đẩy vào được. Trĩ sa như thế sẽ sưng vù, chảy máu, bầm tím, nghẹt rất khó chịu. Trường hợp này cũng cần mổ sớm.
Trĩ bị tắc nghẽn cũng làm bạn rất khổ sở. Đó là hiện tượng cục máu đông tụ lại, làm búi trĩ thình lình sưng to rất đau, căng bóng. Lúc này cần mổ lấy cục máu ngay. Nếu trĩ bị viêm nhiễm, bạn bị nóng rát ngứa ngáy khó chịu ở hậu môn, khám thấy búi trĩ phù nề sưng to.
Để phòng bệnh trĩ, cần hoạt động nhiều, không nên ngồi lâu. Tránh táo bón bằng cách ăn nhiều rau hoa quả có nhiều chất xơ, uống nhiều nước, bớt các chất kích thích như cà phê, rượu, thuốc lá, tiêu ớt… Cũng cần tránh gắng sức quá nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng. Cố gắng tạo thói quen đi đại tiện ngày một lần vào một giờ nhất định, tránh rặn mạnh rặn lâu khi đi đại tiện.


Theo SKĐS
Bệnh trĩ là một bệnh rất hay gặp trên lâm sàng. Người xưa có câu "Thập nhân cửu trĩ" (cứ 10 người thì có tới 9 người bị trĩ) nhằm nhấn mạnh tính phổ biến của bệnh.

Các búi trĩ hình thành do các búi tĩnh mạch vùng hậu môn trực tràng xung huyết giãn to, sa xuống kéo theo da, niêm mạc tạo thành.

Vị trí xuất phát của búi trĩ từ trực tràng là trĩ nội, xuất phát từ hậu môn là trĩ ngoại. Chúng có thể gây nên nhiều biến chứng nặng nề khi bị viêm nhiễm, chảy máu, gây đau đớn cho người bệnh nhất là khi đi đại tiện. Những nguyên nhân thường gặp gây trĩ như táo bón kéo dài, thói quen nhịn đại tiện, đứng lâu ngồi nhiều ít vận động, ăn quá nhiều chất cay nóng (ớt, hạt tiêu), nghiện rượu, xơ gan...

Y học cổ truyền (YHCT) cho rằng đa phần trĩ là do khí hư nhược dẫn tới trệ uất ở hạ tiêu, không thăng lên được, hạ hãm mà thành. Khí hư làm giảm động lực vận hành của huyết, huyết không được lưu thông ứ lại gây tình trạng xung huyết.

Dựa vào mức độ của búi trĩ phân ra trĩ độ 1-4. Trĩ ở giai đoạn đầu (độ 1, 2 búi trĩ chưa sa ra ngoài hoặc chỉ sa ra ngoài khi đại tiện) có thể điều trị bằng thuốc uống, tập luyện. Khi trĩ đã to (độ 3,4 búi trĩ sa ra ngoài tự nhiên) nên dùng các biện pháp điều trị triệt để như cắt trĩ, thắt trĩ, tiêm hoại tử...

Trong các phương pháp tập luyện của YHCT, các bài tập thường được áp dụng cho những trường hợp trĩ ở giai đoạn đầu, có tác dụng tăng cường trương lực cơ vùng hạ vị, tăng sự lưu thông máu, co nhỏ búi trĩ. Những trường hợp trĩ đã quá to sau khi cắt, thắt trĩ cũng có thể tiến hành tập để phòng ngừa tái phát.


Bài tập 1: Có thể tập mọi lúc, mọi nơi, khi nằm, ngồi hoặc đứng. Thả lỏng cơ bắp toàn thân, tập trung tinh thần về vùng bụng dưới. Hít vào từ từ, khép và ép chặt hai bên mông, đùi lại với nhau, lưỡi cong đưa lên áp vào hàm trên. Cùng lúc co thắt và thót vùng hậu môn lại như khi nhịn đại tiện. Nín thở và giữ nguyên tư thế này trong vài giây rồi từ từ thở ra, thả lỏng cơ vùng hậu môn về bình thường, lưỡi đưa xuống. Làm khoảng 20 đến 30 lần, mỗi ngày tập 2-3 lần.

Bài tập 2: Tập khi đi bộ. Thẳng người, hàm khép hờ, hai tay buông thõng tự nhiên, bàn tay nắm hờ, tập trung ý nghĩ vào vùng đan điền (vùng bụng dưới gần xương mu, là vùng tập trung khí của cơ thể). Các ngón chân cong gập bám chặt mặt đất. Vừa thót hậu môn vừa đi bộ từng bước nhẹ nhàng, thở đều. Ði bộ trong tư thế như vậy khoảng 3-5 phút. Sau đó giãn hậu môn về như cũ, thả lỏng các ngón chân, đi bộ đều khoảng 1-2 phút lại tiếp tục vừa đi bộ vừa thót hậu môn như trên. Mỗi lần tập khoảng 30 phút, ngày 1-2 lần. Bài tập này còn tốt cho những người bị các chứng tiểu tiện không tự chủ, dò hậu môn, sa trực tràng.

Bài tập 3: Ðứng thẳng, hai chân dạng rộng bằng vai, các ngón chân bám chặt mặt đất, hai tay buông xuôi, bàn tay nắm hờ. Từ từ uốn cong gối như xuống tấn, lưng thẳng. Miệng khép, đưa lưỡi xát vòng quanh vòm miệng trên - dưới. Khi nước bọt tiết đầy miệng, hít sâu nhẹ nhàng, lưỡi đặt lên hàm trên, nuốt từ từ, đồng thời thót hậu môn lại, nín thở giữ tư thế đó vài giây. Thở ra, thư giãn để chuẩn bị lần tiếp theo. Làm như vậy khoảng 20 lần, kết thúc bài tập nên đi bách bộ trong 30 phút. Mỗi ngày tập hai lần. Bài tập này còn có tác dụng tăng cường, kích thích tiêu hóa, làm cho ăn uống ngon miệng hơn.

Bài tập 4: Nằm ngửa trên giường, hai chân duỗi thẳng, khép vào nhau, hai tay xuôi dọc theo thân mình. Mắt nhắm hờ tập trung ý nghĩ về vùng đan điền. Hít vào từ từ đồng thời thót hậu môn, siết chặt hai bàn tay, cắn chặt hai hàm răng, cong gập hết cỡ các ngón chân lên phía đầu. Giữ tư thế này khoảng 3-5 giây, thở ra từ từ thả lỏng toàn bộ cơ bắp. Làm khoảng 5 đến 10 phút. Mỗi ngày tập 2-3 lần.

Về nguyên lý các bài tập trên gần giống nhau, có thể tùy theo điều kiện thời gian và môi trường sinh hoạt của mình mà chọn bài tập thích hợp. Cũng có thể xen kẽ những tư thế tập khác nhau để nâng cao hiệu quả. Cần tiến hành bài tập thường xuyên kiên trì mới có hiệu quả.

Lưu ý: Không nên tập khi trĩ đang bị chảy máu, nhiễm trùng búi trĩ, nhiễm trùng vùng hậu môn trực tràng hoặc đang trong giai đoạn đầu sau cắt, thắt trĩ.

(Theo SK&ĐS)
Việt Báo (Theo_24h)

Bệnh trĩ , hỏi đáp

2011/10/20    11:25    {entryviewsnum}    Bệnh trĩ Ko chỉ định
Hỏi:Thưa bác sĩ, có loại thuốc hay bài tập nào có thể tránh được bệnh trĩ không? (Trần Thịnh)
Đáp:Bệnh trĩ được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch búi trĩ. Mặc dù nguyên nhân của bệnh trĩ chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn nhưng có một số yếu tố thuận lợi làm tăng khả năng mắc bệnh trĩ hoặc làm bệnh nặng. Do vậy, loại trừ những yếu tố này là một trong những biện pháp phòng ngừa có thể tránh được bệnh trĩ. Các yếu tố thuận lợi đó là:

- Tư thế:  Đứng lâu hoặc ngồi lâu làm tăng áp lực tĩnh mạch trĩ, do vậy dễ gây mắc bệnh trĩ, vì vậy cần tránh ngồi lâu hay đứng lâu một chỗ, năng hoạt động đi lại, thay đổi tư thế tại chỗ.

- Rối loạn đại tiện: táo bón kinh niên hay ỉa chảy kéo dài cũng làm cho áp lực trong lòng hậu môn tăng cao dẫn đến việc hình thành các búi trĩ, do vậy cần ăn đủ chất xơ, rau, hoa quả tươi và điều trị triệt để các rối loạn về tiêu hóa; tránh để bị tiêu chảy hay táo bón kéo dài...

- Tiền sử bị bệnh lỵ hay hội chứng ruột kích thích  cũng là một trong những nguyên nhân gây tăng áp lực ổ bụng do đó làm tăng nguy cơ mắc bệnh trĩ, do vậy cần điều trị dứt điểm các bệnh này.

- Một số nguyên nhân gây tăng áp lực ổ bụng: ho nhiều ở những người mắc bệnh phổi phế quản mạn tính hay ở những bệnh nhân xơ gan, suy tim và những người phải làm công việc nặng nhọc... làm tăng áp lực ổ bụng, do đó làm cản trở máu từ tĩnh mạch hậu môn trở về hệ thống đại tuần hoàn.

- Các bệnh lý quanh vùng hậu môn trực tràng cũng như vùng tiểu khung, đái chậu, trong thời gian mang thai... làm cản trở máu về do đó gây hiện tượng căng phồng các tĩnh mạch búi trĩ  còn gọi là trĩ triệu chứng.

Tóm lại, để ngăn ngừa và phòng bệnh trĩ cần loại bỏ những nguyên nhân và yêu tố thuận lợi gây suy giảm tuần hoàn của tĩnh mạch trĩ cũng như cản trở dòng máu từ tĩnh mạch trĩ trở về vòng đại tuần hoàn như đã trình bày ở trên.

BS Bạch Long
-----------------
Hỏi:Thời gian gần đây, lúc đi đại tiện em đi xong rồi nhưng cảm thấy là đi chưa hết, cố gắng đi tiếp nhưng không được và khi vệ sinh thì thấy rướm máu, vài ngày gần đây khi đi thì bị đau rát ở hậu môn, rướm máu và khi vệ sinh thì thấy hậu môn giống như là bị lồi ra vậy, không biết đó có phải là biểu hiện của bệnh trĩ hay không? Nếu bị bệnh trĩ thì phải điều trị như thế nào, chế độ ăn uống ra sao? Em muốn trị bệnh bằng 1 bài thuốc nam có được không? (Khau Yen)



Đáp:Bệnh trĩ được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ. Có 2 loại chính là trĩ nội và trĩ ngoại. Khi các búi trĩ nội và ngoại kết hợp với nhau gọi là trĩ hỗn hợp. Trường hợp trĩ hỗn hợp hay trĩ nội lâu ngày hợp với trĩ ngoại kéo theo niêm mạc sa xuống và xuất hiện các búi trĩ phụ tạo thành vòng tròn trĩ còn gọi là trĩ vòng. Các triệu chứng chủ yếu của bệnh trĩ là:

- Chảy máu: số lượng máu chảy có thể nhiều hay ít, thường máu đỏ tươi, chảy nhỏ giọt. Tuy vậy không hẳn bệnh nhân nào cũng có chảy máu, có những người búi trĩ rất to và lâu năm mà không có chảy máu.

- Sa búi trĩ khi bệnh nặng: búi trĩ lớn dần và tùy thuộc vào trương lực cơ thắt và hệ thống dây chằng ở hậu môn mà búi trĩ lòi ra ngoài ít hay nhiều, lúc đó người bệnh có thể có cảm giác hậu môn như bi lòi ra theo.

- Đau: thường trĩ không có biến chứng viêm tắc, sa, nghẹt thì không có đau.

- Thăm khám hậu môn trực tràng có thể thấy các búi trĩ.

Chỉ có đi cầu ra máu và những triệu chứng như bạn đã mô tả thì cũng chưa khẳng định được chắc chắn có phải bệnh trĩ hay không, vì đi cầu ra máu có thể gặp trong rất nhiều bệnh như nứt kẽ hậu môn, pôlíp, sa trực tràng, viêm loét đại trực tràng chảy máu và một số bệnh khác nữa . Vì vậy trường hợp của bạn nên được khám xét cụ thể hoặc soi hậu môn trực tràng để có chẩn đoán xác định. Nếu xác định bệnh trĩ rồi thì cũng có rất nhiều phương pháp điều trị khác nhau tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh, từ điều trị nội khoa, ngoại khoa hay y học cổ truyền, thuốc nam...  đều có tính chất làm mát, thanh nhiệt, hoạt huyết, hành huyết hay chỉ huyết (cầm máu). Một số thuốc được dùng như:

+ Thuốc uống: thổ hoàng liên, lá diếp cá, tô mộc, trần bì, rau má, cỏ nhọ nồi, lá vông, cam thảo nam, mộc hương, nghệ và kim tiền thảo.

+ Thuốc ngâm: hạt cau, hoàng bá, đảm phàn…

+ Thuốc bôi có các chất như thạch tín, phèn phi, thần sa, nha đạm tử, khô phàn.

Tuy nhiên, để việc dùng thuốc mang lại hiệu quả và không có biến chứng khác, bạn nên đi khám ở các cơ sở chuyên khoa để được bác sĩ hướng dẫn cụ thể.

BS Bạch Long
--------------------------
Hỏi:Tôi muốn biết dấu hiệu của bệnh trĩ. Làm sao biết đó là bệnh trĩ, vì có một lần tôi đau bụng, sau khi rặn nhiều thì thấy có một ít máu. Như vậy có phải là bệnh trĩ không? Nếu đúng, tôi phải điều trị thế nào? (Thuy Vân - Lê Hồng Phong, P.10, Q.10, TP.HCM)



Đáp:Trĩ là tình trạng giãn quá mức đám rối tĩnh mạch trực tràng, gồm 3 loại: trĩ nội, trĩ ngoại, trĩ hỗn hợp. Có thể chia thành 4 độ:

- Độ I: trĩ nội ở trong hậu môn.

- Độ II: trĩ sa ra ngoài khi rặn đi ngoài sau đó tự co lên.

- Độ III: trĩ sa ra ngoài không tự co lên được phải lấy tay đẩy lên.

- Độ IV: Trĩ sa liên tục thường xuyên ngoài hậu môn.

Triệu chứng phát hiện trĩ:

- Đau khi đi cầu kèm máu tươi có thể ngay từ đầu.

- Sờ thấy các khối trĩ khi đi cầu xong.

- Có cảm giác vướng ở hậu môn.

Điều trị: Tránh táo bón; vận động nhiều, uống đủ nước; tránh ngồi lâu một chỗ; chống viêm nhiễm hậu môn.

- Tại chỗ có thể dùng viên đạn trĩ đặt hậu môn, các loại thuốc mỡ bôi (Protolog, Preparatin...).

- Ngoại khoa:

+ Tiêm xơ búi trĩ.
+ Thắt trĩ.
+ Phẫu thuật cắt trĩ...

BS Bạch Long
-----------------------------
Tôi bị bệnh trĩ, đã điều trị đông, tây y nhiều năm nhưng không dứt bệnh. Tôi nghe nói rau diếp cá trị được bệnh trĩ. Vậy xin hỏi nếu đúng thì sử dụng thế nào? Thời gian trị bao lâu mới khỏi bệnh, mua ở đâu? Có điều trị được bệnh khác không?
Phan Văn Nhựt - Q.2, TP.HCM và một số bạn đọc
- Dược sĩ Lê Kim Phụng - khoa y học cổ truyền, Đại học Y dược TP.HCM:
Cây rau diếp cá còn được gọi là rau giấp cá hay cây lá giấp. Diếp cá có vị chua, mùi tanh, tính mát, có tác dụng giải độc, sát trùng, chống viêm loét. Nhân dân dùng làm gia vị, rau ăn sống.

Diếp cá chữa được các trường hợp bệnh sau: sởi, mề đay; viêm tuyến vú, viêm tai giữa; đau mắt, nhặm mắt đỏ; viêm nhiễm đường tiết niệu, viêm thận; viêm ruột, lỵ; phụ nữ kinh nguyệt không đều; bệnh hoa liễu, các bệnh ngoài da.

Đặc biệt, diếp cá được dùng chữa trĩ, lòi dom: dùng lá diếp cá tươi hoặc hơi khô nấu nước xông hậu môn (nếu muốn để lâu nên phơi trong mát cho héo nhưng còn màu xanh, không nên phơi nắng to sẽ làm héo lá, mất hoạt chất).

Sau đó ngâm và rửa hậu môn lúc nước còn nóng, mỗi lần 10 phút. Có thể giã lá tươi đắp vào chỗ đau. Nên uống cùng lúc với 50g lá tươi giã vắt lấy nước, thêm tí muối cho bớt tanh. Uống mỗi ngày 50-100g lá tươi, liên tục trong ba tháng. Nếu muốn mua nhiều, bác có thể liên hệ các cửa hàng thuốc nam ở đường Nguyễn Chí Thanh, Q.5, TP.HCM (đối diện Bệnh viện Chợ Rẫy ).

_____________________

Sụp mí mắt do tai nạn giao thông có phẫu thuật được?

+ Con gái tôi 28 tuổi. Ba năm trước bị tai nạn giao thông, để lại di chứng sụp một mí mắt. Bác sĩ bảo 2-3 năm sau sẽ phục hồi hết, nhưng đến nay vẫn chưa hết dù tôi đã đưa cháu châm cứu nhiều nơi. Nếu cháu ngậm miệng thì mí mắt mở và nhìn thấy được. Xin hỏi có bệnh viện nào phẫu thuật cho cháu mở được mắt, kể cả bệnh viện nước ngoài?
Nguyễn Thị Hiền - Bến Cát, Bình Dương

- PGS.TS Lê Minh Thông - Bệnh viện Mắt TP.HCM:
Theo thư bà kể, chúng tôi nghĩ rằng thật ra khi cháu nhìn xuống thì mí mắt mở được chứ không phải khi ngậm miệng. Theo kinh nghiệm cho thấy đó là hậu quả của dây thần kinh 3 phục hồi sai lệch.

Sự tái sinh dây 3 đến điều khiển cơ trực dưới cũng đồng thời đến cơ nâng mi, nên gây ra hậu quả khi nhìn xuống thì mí mở được. Trong trường hợp này, chúng tôi có thể phẫu thuật cho con bà bằng cách treo mí với cân cơ đùi tự thân, với kết quả khả quan. Bà có thể yên tâm đưa cháu đến Bệnh viện Mắt TP.HCM điều trị. Sau phẫu thuật nâng mí, nếu mắt có lé thì sẽ phẫu thuật để chỉnh lé sau.

NG. QUANG thực hiện

Việt Báo (Theo_TuoiTre)
-------------------------------------------
Tôi bị bệnh trĩ cách đây bốn năm. Nghe nói dùng lá cây vông giã nát rồi đắp vào hậu môn mỗi ngày một tiếng, trong vòng một tháng sẽ khỏi. Xin hỏi có đúng không? ( … pqn@yahoo.com)

Lá vông có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương, gây ngủ; co bóp các cơ. Do đó, đắp lá vông (hơ nóng) vào hậu môn có thể làm co thắt hậu môn, làm co búi trĩ. Nếu búi trĩ nhỏ, mới mắc bệnh, có thể khỏi bệnh sau khi đắp vài tuần, vài tháng.

Tuy nhiên, để mau khỏi và ngừa tái phát cần phải đồng thời chữa nguyên nhân gây trĩ - cơ chế sinh bệnh là sự ứ trệ tuần hoàn vùng hậu môn, trực tràng, thường xảy ra ở người ít vận động, nghề nghiệp đòi hỏi phải đứng, ngồi lâu, thường xuyên táo bón, hay bị các bệnh nặng hơn, phức tạp hơn như viêm trực tràng, xơ gan…

Khi nào sử dụng thuốc hạ lipid máu?

Hàm lượng cholesterol và triglycerid trong máu cao đến mức độ nào thì phải sử dụng thuốc? Tôi đi thử máu, hàm lượng cholesterol là 2,2g/l và triglycerid là 2,8g/l. Xin hỏi da vịt, mỡ vịt có tạo ra cholesterol không? Ngoài ra vài tháng tôi lại bị nhói đau ở vùng tim khoảng 5 phút thì hết, đó có phải bị bệnh tim? (Nguyễn Văn, Q. Bình Thạnh, TP.HCM)

- Bác sĩ Lê Bạch Lan - trưởng khoa nội tổng hợp Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương, TP.HCM:

Việc sử dụng thuốc hạ lipid máu phải dựa vào nhiều yếu tố: trị số cholesterol, triglycerid, LDL huyết tương; các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, tăng huyết áp, tiền sử gia đình có bệnh mạch vành sớm, nam trên 45 tuổi, nữ trên 55 tuổi; các bệnh lý hiện có: bệnh mạch vành, bệnh mạch máu ngoại biên, tiểu đường. Ăn da, mỡ vịt cũng như các loại động vật khác đều làm tăng lipid máu. Bạn bị đau nhói vùng trước tim có thể là triệu chứng của bệnh thiếu máu cơ tim.

Xét nghiệm máu của bạn cho kết quả cholesterol và triglycerid như vậy là cao, kết hợp với triệu chứng đau ngực là cần phải điều trị. Bạn nên đi khám để có chỉ định điều trị thích hợp.

NG.QUANG thực hiện

Việt Báo (Theo_TuoiTre)
----------------------------------

Hỏi:Tôi năm nay 25 tuổi, chưa lập gia đình. Khoảng 2 năm gần đây, cách khoảng 1 tháng một lần tôi đại tiện rất khó, cảm thấy đau rát ở vùng hậu môn. Mỗi lần vệ sinh vùng ấy tôi phát hiện có một chút da nhô ra khoảng 1cm. Xin hỏi: Có phải tôi mắc bệnh trĩ không và cách chữa trị như thế nào? Có chữa dứt điểm được không? Tôi nghe nói bệnh này đối với phụ nữ rất khó khăn cho việc mang thai và sinh nở, có đúng vậy không? (Nguyen Thi T.T - Quảng Nam)




Đáp:Trĩ là sự phồng lên của một hay nhiều tĩnh mạch thuộc hệ thống tĩnh mạch trĩ trên hoặc tĩnh mạch trĩ dưới hay cả hai. Có nhiều cách phân loại bệnh trĩ, theo nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh người ta chia làm 2 loại:

- Trĩ triệu chứng: là hậu quả của một bệnh đã được biết rõ như trĩ trong hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa, ung thư trực tràng, trĩ ở phụ nữ có thai… Do trĩ loại này chỉ là triệu chứng của một bệnh khác nên không được can thiệp phẫu thuật mà vấn đề đặt ra là phải giải quyết được nguyên nhân; can thiệp phẫu thuật đối với loại này đôi khi lại nguy hiểm.

- Trĩ vô căn hay trĩ bệnh: việc điều trị ngoại khoa được đặt ra với loại trĩ này.

Theo giải phẫu bệnh người ta lại chia ra:

- Trĩ nội: cuống búi trĩ nằm ở trên đường lược, có thể phát hiện qua thăm khám và nội soi trực tràng.

- Trĩ ngoại: cuống búi trĩ nằm ở dưới đường lược có thể quan sát thấy bằng biện pháp thăm khám thông thường.

Biến chứng của bệnh trĩ:

- Chảy máu gây mất máu mãn tính hoặc cấp tính nếu chảy máu dữ dội.

- Huyết khối và viêm tắc tĩnh mạch búi trĩ.

- Vỡ búi trĩ.

- Rối loạn chức năng đi cầu.

- Nghẹt búi trĩ và gây các bệnh thứ phát khác kèm theo như nứt kẽ hậu môn, rò hậu môn trực tràng…

Chẩn đoán: Để chẩn đoán bệnh trĩ phải được thăm khám và cần thiết có thể nội soi hậu môn trực tràng để có thể định bệnh trực tiếp và chính xác.

Điều trị bệnh trĩ: Có nhiều thuốc và nhiều biện pháp để giải quyết và có thể chữa khỏi hoàn toàn, chỉ có một số ít trường hợp tái phát do chữa trị không đúng hoặc do người bệnh không tuân thủ các biện pháp phòng ngừa tốt. Tùy theo mức độ của bệnh trĩ mà có thể đề ra các biện pháp điều trị khác nhau như: điều trị nội khoa, chích xơ hoá búi trĩ, thắt dây chun điều trị trĩ; các phương pháp điều trị khác không mổ, điều trị trĩ qua siêu âm, điều trị ngoại khoa bệnh trĩ, cắt trĩ bằng Laser.

Trường hợp của bạn nhất thiết phải được thăm khám và chẩn đoán chính xác tính chất, mức độ của bệnh, và quan trọng là khẳng định có phải trĩ bệnh không. Nếu là bệnh trĩ thì cần phải được điều trị dứt điểm trước khi mang thai vì khi mang thai sẽ làm cho bệnh trĩ nặng hơn và thời điểm mang thai cũng không phải là thời điểm tốt để điều trị bệnh trĩ.

BS B.L

Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)

Bệnh trĩ, tìm hiểu

2011/10/20    11:20    {entryviewsnum}    Bệnh trĩ Ko chỉ định
Bệnh trĩ là một bệnh gặp khá phổ biến trong cộng đồng. Nhân gian vẫn có câu : Thập nhân cửu trĩ. Bệnh gây nhiều phiền phức cho người bệnh và rất nguy hiểm, nếu ở giai đoạn muộn, phình to, thòi ra ngoài hậu môn, chảy máu làm cho người bệnh rất khó chịu. Bệnh gặp chủ yếu ở người trưởng thành, nam giới mắc nhiều hơn nữ.
Bệnh trĩ có mấy loại?
Người ta chia bệnh trĩ thành 2 loại. Do búi trĩ không phải là một tổ chức bệnh lý mà do đám rối tĩnh mạch ở vùng cuối trực tràng và hậu môn phình ra.
Nếu đám rối tĩnh mạch nằm trong trực tràng gọi là trĩ nội, nếu đám rối tĩnh mạch nằm từ khoang cạnh hậu môn dưới da thì gọi là trĩ ngoại.
Hầu hết bệnh nhân bị bệnh trĩ, nhất là trĩ nội hay có những triệu chứng bất thường xảy ra như cương tụ và giãn, căng thành mạch máu của búi trĩ gây đau đớn, chảy máu nhất là khi đi ngoài, rặn nhiều, máu có thể chảy ra trước khi phân ra hoặc dính với phân và có thể ra sau khi phân
đã ra ngoài hậu môn, hoặc có thể có tất cả các hiện tượng đó. Trĩ nội khi phình to khó thu nhỏ được thì hay bị thòi ra ngoài mỗi khi áp lực ổ bụng tăng lên như rặn đi ngoài, nhảy, chạy, ngồi lâu, đứng lâu, ho mạnh…
Trong 2 loại thì trĩ nội gây rắc rối hơn nhiều so với trĩ ngoại. Trĩ nội được chia thành 4 mức độ khác nhau tùy theo mức độ nặng, nhẹ của chúng (đánh số từ 1 đến 4).
độ 1: búi trĩ còn nằm trong ống  hậu môn;
độ 2: mỗi lần đi ngoài bũi trĩ  thòi ra ở hậu môn, sau khi đi ngoài (phân ra hết ) thì búi trĩ chui lên  được tụt vào trong ống hậu môn;
độ 3: khi có áp lực ổ bụng tăng  lên thì búi trĩ thòi ra ngoài ống hậu môn và không tự tụt vào được mà cần  có tác động cơ học (phải dùng ngón tay đẩy lên);
độ 4: búi trĩ thường xuyên thòi  ra ngoài hậu môn (không tự đẩy lên được hoặc đẩy lên chúng lại thòi ra).
Trên cùng một người bệnh có thể chỉ bị trĩ nội hoặc trĩ ngoại nhưng cũng có những bệnh nhân vừa bị trĩ nội vừa bị trĩ ngoại.
Biến chứng thường gặp nhất của bệnh trĩ
Chảy máu: Trĩ là biểu hiện bệnh lý của thành mạch máu,khi thành mạch máu giãn ra thì sẽ mỏng rất dễ thủng, dễ rách, dễ vỡ gây chảy máu. Mức độ chảy máu nhiều hay ít tùy theo mức độ của bệnh nhưng hậu quả của mất máu là gây thiếu máu. Nếu búi trĩ to, nhiều tĩnh mạch thì có thể
gây chảy máu nhiều càng dễ dẫn đến thiếu máu trầm trọng rất nguy hiểm đến tính mạng.
Đau: khi búi trĩ to, thòi ra ngoài (độ 3 và 4) gây đau đớn nhất là có hiện tượng cọ xát khi vận động, đi lại.
Gây tắc nghẽn: Búi trĩ to làm cho máu đông lại thành cục, gây tắc nghẽn và gây đau dữ dội.
Bội nhiễm: nếu trĩ thòi ra ngoài lâu, chảy máu liên tục thì rất dễ bị bội nhiễm vi khuẩn bởi vì hậu môn là đường ra của phân và nước tiểu mà trong phân có vô số vi khuẩn gây bệnh.
Đề phòng bệnh trĩ như thế nào?
Không nên đứng hoặc ngồi lâu, giữa giờ làm việc nên tranh thủ vận động, thể dục nhẹ nhàng.
Hàng ngày nên tập thể dục nhẹ nhàng, tổng thời gian tập vào khoảng từ 30 – 60 phút.
Nên ăn nhiều rau, chất xơ.
Những người có nguy cơ cao mắc bệnh trĩ không nên ăn, uống các chất kích thích như cà phê, rượu, ớt, tiêu.
Điều trị trĩ có nhiều phương pháp nhưng chọn phương pháp nào là do bác sĩ khám và chỉ định.Do vậy khi có các biểu hiện của
bệnh nên đi khám ở cơ sở y tế có đủ điều kiện càng sớm càng tốt, không nên để bệnh trĩ đến giai đoạn độ 3, 4 mới đi khám thì dễ xảy ra biến chứng hơn và việc điều trị cũng gặp nhiều khó khăn hơn.
Không nên trì hoãn việc khám và điều trị vì sẽ làm tăng mức độ trầm trọng của bệnh, nhất là để mất máu, nhiễm khuẩn thì rất
nguy hiểm cho tính mạng người bệnh, đặc biệt là gây nhiễm khuẩn huyết.
Nguyên nhân gây bệnh trĩ
Bệnh trĩ là hiện tượng liên quan mật thiết đến đám rối tĩnh mạch ở vùng cuối trực tràng và hậu môn, khi đám rối tĩnh mạch vùng
phía cuối trực tràng và hậu môn bị phình, giãn ra gọi là trĩ. Bệnh trĩ là một loại bệnh của mạch máu tĩnh mạch. Bệnh này thuộc bệnh ở tổ chức mô do chất lượng của mô tĩnh mạch kém nên khi máu ứ đọng sẽ làm cho tĩnh mạch giãn, phình ra.
Nguyên nhân gây nên bệnh trĩ cho đến nay chưa  xác định được một cách chắc chắn.
Nhưng có nhiều yếu tố thuận lợi làm cho nguy cơ mắc bệnh trĩ tăng cao như viêm đại tràng mạn tính, táo bón kéo dài, những
trường hợp do ngồi để đại tiện thời gian lâu, rặn mạnh làm cho áp lực trong ổ bụng và áp lực trong trực tràng, trong ống hậu môn tăng cao khiến tĩnh mạch trực tràng và hậu môn bị phình, giãn ra bởi chất lượng của tổ chức mô kém gây nên bệnh trĩ.
Những người lao động nặng nhọc như mang vác, đội vật nặng lên đầu, lên vai(công nhân bốc vác ở các bến cảng) làm cho áp lực
trong ổ bụng tăng lên một cách đáng kể trong một thời gian dài và kéo dài trong nhiều ngày, nhiều tháng, thậm chí nhiều năm cũng có nguy cơ cao bị mắc bệnh trĩ.
Một số bệnh nhân mắc bệnh về đường hô hấp mạn tính kéo dài như viêm họng mạn tính, viêm phế quản, giãn phế quản, bệnh hen, bệnh lao phổi… thường có triệu chứng ho kéo dài làm cho áp lực trong ổ bụng tăng cũng có nguy cơ cao mắc bệnh trĩ.
Một số nghề do phải ngồi lâu, đứng lâu như thợ may, thợ đứng máy, một số cán bộ văn phòng, làm nghề đánh máy vi tính… cũng có nguy cơ mắc bệnh trĩ. Trong ăn uống kiêng khem quá mức, ăn ít rau, ít chất xơ làm cho táo bón kéo dài cũng cần được chú ý khi có biểu hiện bệnh trĩ.
-----------------------
Nguyên nhân gây ra bệnh trĩ
“Tại sao lại bị bệnh trĩ, có phải do chế độ ăn uống?”.
Trả lời:
Trĩ là một bệnh của tĩnh mạch ở trực tràng, với các triệu chứng đau, sưng, chảy máu, khó chịu ở vùng này. Bệnh thường gặp ở người 30-60 tuổi, cả nam và nữ.
Trĩ có 3 mức độ:
- Nhẹ: Đi ngoài đau kèm ra máu, búi trĩ không sa.
- Vừa: Đi ngoài đau, kèm chảy máu và sa búi trĩ nhưng tự co lên được.
- Nặng: Búi trĩ sa thường xuyên, cần phải dùng tay đẩy vào. Bệnh nhân cảm thấy không thoải mái khi ngồi, thậm chí chảy máu.
Nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh này:
- Táo bón: Việc gắng sức khi rặn để tống phân ra có thể tạo sức ép lên các tĩnh mạch bị dãn và dẫn đến trĩ.
- Thói quen ăn uống không tốt như ăn ít chất xơ và rau quả, ăn nhiều gia vị (tiêu, ớt), uống nhiều rượu.
- Di truyền: Gia đình, dòng họ có nhiều người bị trĩ.
- Thai kỳ, sinh đẻ: Sức ép quá mạnh từ bào thai có thể làm trầm trọng thêm bệnh trĩ.
Điều trị khi bị bệnh trĩ nên:
- Vệ sinh ít nhất 2 lần mỗi ngày và sau khi đi cầu (dùng nước không nên dùng giấy).
- Ăn nhiều chất xơ, rau quả, ngũ cốc, trái cây.
- Đi khám để có hướng điều trị như bôi thuốc tại chỗ, uống thuốc hoặc phẫu thuật.
Phòng bệnh trĩ bạn cần:
- Tránh ăn các thức ăn có nhiều gia vị, để giảm sự kích thích.
- Tránh uống rượu hoặc các loại nước uống có chất kích thích như trà, cà phê.
- Nên uống nhiều nước, ít nhất 1 lít/ngày, ngoài bữa ăn, hoặc ăn sữa chua để làm mềm phân.
- Ăn thức ăn có nhiều chất xơ như ngũ cốc, rau, trái cây.
- Tập thể dục thường xuyên.
- Tránh đứng lâu hay ngồi lâu một chỗ.
Với các bạn đang mắc phải bệnh trĩ có thể yên tâm rằng hiện nay có rất nhiều sản phẩm có khả năng chữa bệnh trĩ.
----------------------------
Các triệu chứng của bệnh Trĩ
Bệnh Trĩ thường biểu hiện ra ngoài thông qua 2 triệu chứng chính là chảy máu và sa búi trĩ.
1. – Chảy máu: Là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào thỏi phân rắn. Về sau mổi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi cầu, mỗi lần đi lại nhiều, mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy. Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.
2. – Sa búi trĩ: Thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khi đại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được. Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn.
3. – Triệu chứng khác: Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các biểu hiện khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biến chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.
Khi có biểu hiện bệnh nên tới các cơ sở khám chữa bệnh để được bác sĩ chuyên môn tư vấn. Trên thị trường có rất nhiều sản phẩm hỗ trợ chữa bệnh trĩ với các cách và liều dùng khác nhau.

Theo SKĐS
(Dân trí) - Chiều 14/10, Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, đến thời điểm này dịch tay chân miệng (TCM) đã lan ra 63/63 tỉnh thành phố với 71.472 ca mắc, trong đó đã có 130 trường hợp tử vong.
So với thống kê vào thời điểm cuối tuần trước, thời điểm này số ca mắc đã tăng thêm hơn 5.200 trường hợp và 11 trẻ tử vong. Lý giải cho sự gia tăng bất thường này lãnh đạo Cục Y tế dự phòng cho biết, thống kê này có bổ sung số trường hợp mắc và tử vong của 7 tỉnh, thành phố chưa kịp báo cáo trong 2 tuần trước đó

Thống kê trong mấy tuần nay cũng cho thấy, số trẻ mắc TCM trong tuần đã có xu hướng giảm dần tuy giảm chưa nhiều. Trên thực tế, các tỉnh trước đây có số mắc nhiều đều đã có dấu hiệu giảm. Cụ thể: TP. HCM từ 500 ca/tuần xuống còn 250-300 ca/tuần; Bình Dương hiện chỉ còn khoảng 60 ca/tuần so với 100-110 ca/tuần trước đó…

Liên quan đến việc có công bố dịch tay chân miệng hay không, lãnh đạo Cục Y tế dự phòng khẳng định, việc công bố hay không công bố dịch cần phải tuân thủ theo đúng quy định. Bởi tay chân miệng thuộc bệnh truyền nhiễm nhóm B nên thẩm quyền công bố dịch thuộc về Chủ tịch UBND tỉnh theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế. Bộ Y tế chỉ tiến hành công bố dịch khi có từ 2 tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư đã công bố dịch.

Quyết định 64 của Thủ tướng cũng quy định rõ, việc công bố dịch truyền nhiễm chỉ được thực hiện khi hội đủ hai điều kiện. Một là số người mắc bệnh truyền nhiễm vượt quá số bệnh nhân dự tính bình thường của cơ quan y tế tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên. Hai là có ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ sau: quy mô, tính chất của bệnh dịch vượt quá khả năng kiểm soát của cơ quan y tế tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; bệnh dịch được Bộ trưởng Bộ Y tế xác định có sự biến đổi tác nhân gây bệnh, có nguy cơ làm tăng tỷ lệ tử vong cao mà chưa xác định rõ tác nhân gây bệnh, chưa có biện pháp khống chế hiệu quả; dịch bệnh xảy ra khi có thiên tai, thảm họa.

Vì thế, việc công bố dịch hoàn toàn là sự chủ động của các địa phương dựa trên thực tế tình hình dịch bệnh tại địa phương nào. Trong trường hợp các địa phương đang xảy ra dịch tay chân miệng tại tuyến xã, huyện không kiểm soát và khống chế được bệnh tay chân miệng (TCM) thì có thể đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tiến hành công bố dịch tại xã.

Còn theo phó giáo sư Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương thì việc công bố dịch hay không không phải là vấn đề quan trọng, mà quan trọng là tập trung mọi nguồn lực, lực lượng để chống dịch.

Bởi bệnh TCM có đặc điểm rất phức tạp: Bệnh lây truyền theo đường tiêu hoá do nhiều vi rút trong nhóm vi rút đường ruột gây ra, tỷ lệ người lành mang trùng cao, chưa có vắc xin phòng bệnh, không có thuốc điều trị đặc hiệu, dự phòng chủ yếu là thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân. Do đó, trong thời gian tới dịch có thể vẫn diễn biến phức tạp, bệnh có thể vẫn xảy ra tản phát ở nhiều nơi. Việc kiểm soát sự lây lan dịch phụ thuộc vào sự quan tâm và tham gia của toàn xã hội, đặc biệt là việc thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân trong chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi của các bà mẹ và người chăm sóc trẻ.
Hồng Hải
Theo Tổ chức Y tế thế giới chỉ một động tác rửa tay sạch bằng xà phòng đã làm giảm tới 35% nguy cơ lây truyền các bệnh tiêu chảy. Đặc biệt, nó cũng giúp ngăn chặn bệnh tay chân miệng đang bùng phát và có nguy cơ lan trên diện rộng…



ảnh minh họa
Các chuyên gia Tổ chức Y tế thế giới và ngành Y tế Việt Nam đã đưa ra lời khuyên thiết thực là mỗi người trong cộng đồng luôn giữ đôi bàn tay sạch sẽ và thực hiện tốt việc rửa tay với xà phòng.

Từ năm 2007 đến nay, được sự tài trợ của Quỹ Unilever Việt Nam, Dự án “Nâng cao sức khoẻ cộng đồng thông qua việc cải thiện hành vi vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường” đã thu được nhiều kết quả khả quan.

Nhận thức của người dân về lợi ích của việc thực hiện các hành vi tốt về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường tại vùng có dự án đã tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ người dân hiểu được tính cần thiết phải rửa tay bằng xà phòng năm 2006 là 48,2% và năm 2011 là 73,8% (đối với học sinh) còn đối với người trưởng thành tăng từ 61,8% lên 81,5%.

Tỷ lệ đối tượng thường xuyên rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn tăng từ 6,1% lên 54%; rửa tay bằng xà phòng sau khi đi đại tiện tăng từ 14,6% lên 63,8%; tỷ lệ rửa tay bằng xà phòng sau khi đi tiểu tiện tăng từ 0,8% lên 11,8%. Kết quả của dự án đã góp phần giảm dịch bệnh của người dân tại địa phương.

Hưởng ứng Ngày Thế giới rửa tay với xà phòng, hôm qua, 15/10, Bộ Y tế phối hợp của Quỹ Unilever Việt Nam và Nhãn hàng Lifebuoy tổ chức buổi phát động tại Sân Vận động Quần Ngựa, Thành phố Hà Nội. Lễ phát động thu hút sự tham gia của hơn 1.000 học sinh và thầy cô giáo thuộc 6 trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Thay mặt Bộ Y tế, PGS.TS.Nguyễn Viết Tiến, Thứ trưởng Bộ Y tế đã kêu gọi tất cả các ngành, các cấp chính quyền, cơ quan đoàn thể, tổ chức… cùng phối hợp với ngành Y tế tập trung đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền dưới nhiều hình thức về lợi ích của việc rửa tay với xà phòng, duy trì và dần đưa hành động thường xuyên rửa tay bằng xà phòng thành một nếp sống văn minh của xã hội.


Theo Xã luận
Khắp cả nước, số người mắc và tử vong do bệnh tay chân miệng đang tăng mạnh, trong khi đó, Bộ Y tế và nhiều địa phương vẫn cho rằng, căn bệnh nguy hiểm này đang được kiểm soát và không công bố dịch tay chân miệng. Đáng lo ngại hơn do bệnh nhân tay chân miệng tăng quá cao, khiến nhiều bệnh viện tuyến dưới chẩn đoán, điều trị căn bệnh này gặp nhiều sai sót, lúng túng làm bệnh nhân tử vong…

Theo báo cáo mới nhất của Cục Y tế dự phòng, hiện bệnh tay chân miệng đã lan ra khắp cả nước, tất cả 63/63 tỉnh thành đều đã ghi nhận có người mắc tay chân miệng, trong đó Cao Bằng và Tuyên Quang là 2 tỉnh cuối cùng ghi tên vào “bản đồ” bệnh tay chân miệng. Tích lũy từ đầu năm tới nay, cả nước đã có hơn 71.472 người bị tay chân miệng, trong đó có trên 130 trường hợp tử vong.

Đến thời điểm này, phác đồ điều trị bệnh tay chân miệng đã được Bộ Y tế chỉnh sửa và phổ biến rộng rãi cho các tuyến điều trị, nhưng việc chẩn đoán, điều trị căn bệnh này vẫn gặp không ít lúng túng, sai sót dẫn tới nhiều ca tử vong nhanh.

BS Nguyễn Minh Tiến, Phó trưởng Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, Bệnh viện Nhi đồng 1 TPHCM cho rằng, đây là một thực tế đáng lo ngại đang diễn ra tại nhiều địa phương có bệnh tay chân miệng hoành hành, nhất là các tỉnh phía Nam. Do số bệnh nhân nhập viện quá đông nên nhiều ca bệnh nặng không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời dẫn đến tử vong chỉ sau vài giờ nhập viện. Hơn nữa, cơ sở y tế tuyến dưới thường gặp các lỗi như chẩn đoán nhầm, điều trị không đúng phác đồ, theo dõi không chặt chẽ dẫn đến bệnh nhân sốc nặng kéo dài. Thậm chí, ngay cả khi bác sĩ đã chẩn đoán chỉ đích danh bệnh nhân mắc tay chân miệng thì lại xuất hiện tình trạng phân loại bệnh sai. Có bệnh nhân mức độ nhẹ nhưng vẫn được chuyển lên tuyến trên dẫn đến quá tải bệnh viện tuyến trên, trong khi trường hợp chẩn đoán là mắc mức độ nặng lại không được chuyển tuyến trên khiến việc điều trị không kịp thời, dẫn đến tử vong.

Trước thực tế trên, TS Nguyễn Văn Kính, Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cho biết, nhiều trẻ mắc tay chân miệng nhưng có trẻ tử vong, trẻ không tử vong là do đáp ứng miễn dịch ở cơ thể trẻ khác nhau. Tuy nhiên, nguy hiểm nhất là bệnh nhân tay chân miệng bị viêm cơ tim, phù phổi nếu vẫn cố chuyển tuyến điều trị làm thay đổi tư thế có thể khiến tim ngừng đập, trẻ tử vong nhanh. Do đó, các bác sĩ cần phải xác định rõ bệnh tình của trẻ mắc tay chân miệng nhất là với trường hợp bệnh nhân bị viêm cơ tim cần điều trị tại chỗ, không được vận chuyển vì thay đổi tư thế có thể gây ngừng tim và tử vong.

Nhiều chuyên gia dịch tễ tiếp tục cảnh báo, bệnh dịch tay chân miệng sẽ còn tiếp tục kéo dài và diễn biến phức tạp cho tới tháng 11. Trước những yếu tố trên, rõ ràng bệnh tay chân miệng đang diễn ra rất phức tạp và có nguy cơ mất khả năng kiểm soát. Thế nhưng, đến thời điểm này, Bộ Y tế cũng như các địa phương vẫn chưa tiến hành công bố dịch tay chân miệng trên phạm vi toàn quốc hay trên phạm vi tỉnh thành. Lý giải cho việc này, Bộ Y tế vẫn cho rằng, số người mắc tay chân miệng đang có chiều hướng giảm và căn bệnh này vẫn đang trong tầm kiểm soát.

NGUYỄN QUỐC
Theo SGGP
Trước tình hình bệnh tay chân miệng bùng phát, có tính nguy hiểm như hiện nay, một số độc giả quan tâm đã gửi ý kiến chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc khi trẻ bệnh. Các bác sĩ cũng nói rõ thêm về điều này.
Độc giả có nick name MebeBi (Hà Nội) cho biết, chị có con 3 tuổi mắc bệnh tay chân miệng gần một tháng và đã được điều trị khỏi. Người mẹ miêu tả về các triệu chứng ủ bệnh của con chị như sau: xuất hiện nhiều vết loét trong miệng khiến bé đau đớn, bỏ ăn, kèm theo sốt cao li bì, cứ từ 4 đến 6 tiếng đồng hồ lại lên cơn sốt một lần. Đến khi bé sốt cao 38,5 độ thì chị đưa bé đến bệnh viện khám và bác sĩ cho uống các loại thuốc kháng sinh, hạ sốt...
Ngoài ra, chị cũng dặn dò các phụ huynh về cách chăm bé; "Khi thấy con bị bệnh, biếng ăn không nên quá lo lắng mà la mắng hay cáu gắt mà phải bình tĩnh và kiên nhẫn dỗ dành. Theo kinh nghiệm của mình, bé bị loét miệng nên không ăn được đồ mặn và cứng như cơm, cháo hạt. Nên cho bé ăn cháo nấu vị nhạt, hãy lọc lấy nước cháo cho bé uống qua bình bú hoặc xi lanh. Chỉ cần cho bé ăn được một ngày 3 bình 150ml nước cháo trắng pha sữa là bé sẽ bình phục, có sức chống lại bệnh tật", MebeBi chia sẻ.
"Với thời tiết Hà Nội hiện nay, các mẹ chỉ nên lấy khăn ấm lau người cho bé, lau tay và mặt cho bé, hạn chế tắm rửa nhiều khi bé ốm sốt, hay lúc mới bình phục. Hạn chế đưa bé đi chơi khi mới khỏi bệnh, vì lúc này dễ lây dịch sang bé khác", chị lưu ý thêm.

Đa phần trẻ bị tay chân miệng nhẹ có thể tự khỏi trong vòng vài ngày . Ảnh: Cao Lâm.
Trao đổi về góc độ chuyên môn, Thạc sĩ, bác sĩ Nguyễn Trần Nam, khoa Nhiễm, Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP HCM cho rằng, mặc dù bệnh tay chân miệng hiện nay đang có những diễn biến khá phức tạp, song phụ huynh không nên quá lo lắng hoang mang khi thấy con mình xuất hiện những triệu chứng như trên, vì đa phần trẻ chỉ bị nhẹ và có thể tự khỏi trong vòng vài ngày. Chỉ một số trường hợp biến chứng nặng mới cần phải nhập viện điều trị.
Bác sĩ cho biết về những biểu hiện cụ thể của bệnh này như sau:
- Sốt: có thể sốt nhẹ hoặc sốt cao.
- Nổi hồng ban, bóng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, mông, đầu gối.
- Loét họng, loét miệng.
- Ngủ hay giật mình quấy khóc.
"Ở đây phụ huynh chỉ nên cho uống thuốc hạ sốt khi thấy bé sốt cao hơn 38,5 độ C. Bên cạnh đó khi thấy bé bị loét miệng, nên cho ăn uống đồ mát, loãng như sữa, cháo, ăn mỗi lần một ít và chia làm nhiều lần. Đồng thơi nên pha nước muối làm vệ sinh răng miệng khử khuẩn để tránh bị bội nhiễm", bác sĩ Nam khuyên.
Ông cũng lưu ý, đối với bệnh nhân bệnh tay chân miệng thì không nên cho uống thuốc kháng sinh. Điều quan trọng nhất trong công tác phòng và điều trị bệnh là rửa sạch tay bằng xà phòng diệt khuẩn cho cả bé và người chăm sóc. Chỉ nên dùng xà phòng có tính sát khuẩn dạng lỏng hoặc dạng cục có nhiều bọt mà không nên rửa bằng dung dịch sát khuẩn vì sẽ gây nguy hiểm cho bé.
Trong trường hợp thấy bệnh nhi xuất hiện một trong những biến chứng nặng sau thì phụ huynh nên lập tức đưa trẻ đến bệnh viện để được bác sĩ điều trị kịp. Các triệu chứng đó bao gồm:
- Sốt cao liên tục (trên 39 độ C) và uống thuốc vẫn không hạ.
- Khi ngủ giật mình liên tục, hoảng hốt.
- Chân tay run, quấy khóc li bì, lừ đừ.
- Đi đứng loạng choạng.
- Thở nhanh, khó thở, mệt mỏi.
- Nôn ói nhiều.
- Co giật, yếu tay chân, hôn mê.
"Khi có bất cứ triệu chứng nào ở trên, hãy đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị. Nếu nhập viện sớm và được điều trị kịp thời thì khả năng khỏi bệnh là rất cao. Cần lưu ý trong thời gian bé bị bệnh, cha mẹ nên cho con nghỉ học từ một tuần đến 10 ngày để tránh lây cho trẻ khác. Và ngay cả khi được điều trị khỏi, cả bệnh nhi và người chăm sóc vẫn phải được cách ly trong khoảng 10 ngày sau đó", bác sĩ Nam nói.
Theo Vnexpress
Số ca mắc bệnh tay chân miệng tại TP.HCM trong tháng 5 đã tăng gấp hơn 4 lần (337%) so với cùng kỳ năm 2010 và vượt qua mức cao nhất, gấp đôi so với kỷ lục bệnh trước đó (tháng 9.2008), kể từ khi bệnh này được đưa vào giám sát, phòng dịch tại Việt Nam.

Từ đầu năm đến nay bệnh đã gây ra 13 ca tử vong tại TP.HCM. Cho đến nay, bệnh tay chân miệng vẫn chưa có thuốc phòng ngừa và trẻ em vẫn là nhóm đối tượng có nguy cơ cao mắc bệnh. Trong khi đó, nhiều phụ huynh vẫn chưa có đầy đủ thông tin, kiến thức phòng tránh bệnh. Thanh Niên Online tổ chức buổi tư vấn trực tuyến "Cách phòng tránh bệnh tay chân miệng” lúc 15 giờ, ngày 15.6 với sự tham gia tư vấn của các bác sĩ, chuyên gia y tế trực tiếp trả lời thắc mắc, trao đổi cùng bạn đọc.
Khách mời tham dự buổi tư vấn gồm:
- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM.
- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM).
- Bà Lê Thùy Lan, Đại diện nhãn hàng Lifebuoy - Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam.
Buổi tư vấn trực tuyến do Thanh Niên Online cùng nhãn hàng Lifebuoy (Unilever Việt Nam) tổ chức.

* Ở độ tuổi nào thì có nguy cơ bị bệnh tay chân miệng nhất? Cách phòng tránh hữu hiệu và nhận biết bệnh qua các triệu chứng bệnh như thế nào?
Lê Văn Lượm (Trà Vinh)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Đa số là dưới 5 tuổi, đặc biệt là dưới 3 tuổi; trẻ lớn và người lớn thì rất hiếm gặp.
Cách phòng ngừa hữu hiệu nhất là vệ sinh ăn uống bảo đảm bàn tay mẹ và bàn tay bé không bị nhiễm khuẩn. Ngoài ra, đồ chơi và sàn nhà cũng phải sạch vì nơi này vi rút gây bệnh có thể bám vào.
Nhận biết bệnh chủ yếu là triệu chứng bóng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, mông, gối không ngứa không đau đôi khi có kèm theo lở miệng do bóng nước mọc trong miệng vỡ ra.
* Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân nào gây ra bệnh tay chân miệng? Và cách phòng ngừa? Xin cám ơn bác sĩ!
Pham Binh Minh (Biên Hòa, Đồng Nai)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM: Bệnh tay-chân-miệng do một số loài virus thuộc nhóm Enterovirus gây ra, chủ yếu là các loại Coxsackie. Ngoài ra, còn có loài Enterovirus 71 gây bệnh nặng thường có biến chứng.

Bệnh không có thuốc điều trị đặc trị cũng như vắc-xin phòng bệnh vì vậy việc phòng bệnh chủ yếu dựa vào các biện pháp vệ sinh cá nhân và vệ sinh - khử khuẩn môi trường (sàn nhà, đồ đạc, vật dụng thường có tiếp xúc với bàn tay). Đây là những biện pháp không đặc hiệu nhưng cũng đảm bảo có hiệu quả nếu được làm đều đặn, thường xuyên và đúng cách.
* Thưa bác sĩ Trương Hữu Khanh, bệnh tay chân miệng có biểu hiện như thế nào, chữa trị ra sao?
Nghệ (Vinh - Nghệ An)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Biểu hiện bệnh cũng tương tự như câu trên, bệnh thường diễn biết khoảng 7-10 ngày sẽ tự khỏi. Việc điều trị chủ yếu là giảm đau, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu, hạn chế vận động, vệ sinh răng miệng. Quan trọng nhất là làm sao phát hiện triệu chứng của biến chứng để đi bệnh viện. Nếu thấy bé giật mình chới với, sốt cao liên tục đi đứng lảo đảo, ngồi không vững, run tay khi cầm vật dụng, yếu tay chân nên mang trẻ đến bệnh viện ngay.
* Muốn sát trùng nền nhà, đồ chơi của trẻ thì dùng thuốc gì? Mua ở đâu? Còn tay chân trẻ thì tôi dùng Lifebouy thường mua ở tạp hóa, vậy có đủ để sát trùng tay chân miệng không? Hay có loại nào tốt hơn xin chỉ dùm. Cám ơn!
Lê Bá Nam (Bình Quới, Châu Thành, Long An)

- Bà Lê Thùy Lan, Đại diện nhãn hàng Lifebuoy - Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam: Rửa tay với xà phòng diệt khuẩn là biện pháp phòng ngừa hiệu quả giúp diệt vi khuẩn. Thói quen của nhiều phụ huynh và trẻ em là quên hoặc không rửa tay với xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tắm. Trong khi, đôi tay ta tiếp xúc với rất nhiều môi trường bên ngoài và là nguồn lây lan vi khuẩn, chính vì thế việc rửa tay với xà phòng diệt khuẩn giúp bạn giữ cho đôi tay mình luôn sạch khuẩn, giúp phòng chống dịch bệnh.
Theo khảo sát của Unicef rửa tay thường xuyên với xà phòng có khả năng làm giảm tới 40% nguy cơ nhiễm bệnh. Trong khi đó, theo khảo sát của chúng tôi có tới 50% dân số Việt Nam chưa bao giờ sử dụng xà phòng trong một năm. Điều đó chứng tỏ việc quan tâm đến sức khỏe, nói đúng hơn là ý thức và thói quen phòng bệnh của cộng đồng còn rất thấp.
* Con cháu 21 tháng, xin cho cháu biết cách phòng và chống bệnh tay chân miệng khi bé thường hay bú tay?
Phuong Thao (Phuong 3, Thi xa Tay Ninh)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Bé hay bú tay là phản xạ bình thường, cách phòng đối với bé này cũng như các bé khác. Cần giữ bàn tay sạch và nơi nào bàn tay bé có thể chạm tới như: đồ chơi, bình sữa, sàn nhà,... thì phải vệ sinh hàng ngày và khử khuẩn hàng tuần.
* Mùa hè tôi định cho con đi học bơi. Nhưng tôi nghe nói có dịch tay chân miệng bùng phát. Chắc phải dời ý định sang năm sau. Xin hỏi sự lo lắng của tôi có chính đáng không? Xin cám ơn!
Mai Anh Toàn

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM: Lo lắng của bạn về đi bơi ở hồ bơi trong mùa dịch bệnh chân-tay-miệng là hoàn toàn chính đáng.

Bệnh chân-tay-miệng có nhiều thể, trong đó có những thể rất nhẹ không cần có chăm sóc của y tế người bệnh vẫn khỏe mạnh, sinh hoạt bình thường.

Nguồn nước trong hồ bơi có thể bị nhiễm nếu người bệnh như trên đi tắm tại đó.

Để có thể ngừa lây bệnh khi đi tắm ở hồ bơi, điều kiện cần thiết là:

- Các hồ bơi, phải thực hiện đầy đủ các quy định về vệ sinh khử trùng nguồn nước.

- Người đi bơi cần tuân thủ các quy định của hồ bơi. VD: người có bệnh thì không nên đi bơi, không ăn uống dưới hồ bơi...

Đảm bảo 2 điều kiện trên thì việc tắm ở hồ bơi mới được an toàn.
* Theo ý kiến của chị Lan, phòng bệnh tay chân miệng cho trẻ ở nhà trẻ như thế nào là an toàn nhất?
Duy Hiền (TP.HCM)

- Bà Lê Thùy Lan, Đại diện nhãn hàng Lifebuoy - Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam: Rửa tay với xà phòng diệt khuẩn là biện pháp phòng ngừa hiệu quả giúp diệt vi khuẩn. Thói quen của nhiều phụ huynh và trẻ em là quên hoặc không rửa tay với xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tắm. Trong khi các bé thường có thói quen cho tay vào miệng dù tay bẩn, chính vì thế vi khuẩn có cơ hội xâm nhập trực tiếp vào cơ thể.
Lưu ý bàn tay sạch không có nghĩa là nhìn sạch, ngửi không mùi là đã sạch. Nhiều phụ huynh và trẻ có thói quen chỉ rửa tay với nước và nghĩ rằng tay trắng không mùi là đã sạch, trong khi vi khuẩn thường không thể nhìn thấy được và có thể trú ẩn trong kẽ tay, móng tay.
Chính vì vậy, để giúp phòng bệnh bạn và gia đình nên thường xuyên rửa tay với xà phòng diệt khuẩn để giữ cho đôi tay sạch. Tập cho trẻ thói quen rửa tay với xà phòng diệt khuẩn để bé có thể tự bảo vệ sức khỏe của bản thân.
* Con tôi 5 tuổi, cháu đang học mẫu giáo làm cách nào để phòng ngừa tay chân miệng nếu chẳng may trong lớp có bé bị bệnh? Tôi có nên mua vitamin uống bổ sung để tăng sức đề kháng không, nếu có thì uống loại nào? Cám ơn bác sĩ.
Thu An (Hóc Môn, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Tại các trường mẫu giáo trong thành phố đã thực hiện đúng dịch phòng ngừa tay chân miệng nên khả năng mắc tại trường thì rất thấp. Nhưng trẻ có thể mắc bệnh từ hàng xóm hoặc từ người lớn trong nhà do đó việc vệ sinh phòng bệnh phải thực hiện tại nhà.

Việc uống viatamin tăng sức đề kháng không quan trọng bằng vệ sinh khử khuẩn để diệt vi rút gây bệnh trong môi trường ăn uống và sinh hoạt của trẻ.
* Benh tay chan mieng co chu ky dich khong, may nam lai co mot dot dich lon nhu nam nay?
Nguyen Van Son (Quan 1)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM: Bệnh chỉ được ghi nhận từ năm 2003 tại TP.HCM, có nhiều trẻ mắc và tử vong.

Từ đó dịch lưu hành hàng năm, 2007 một đợt dịch lớn xảy ra lần 2 và năm nay 2011 hiện đang xảy ra một đợt dịch lớn tương tự với nhiều ca mắc kỷ lục.

Vì bệnh chỉ ghi nhận trong vòng 8 năm gần đây nên để xác định có chu kỳ hay không là điều cần theo dõi và nghiên cứu thêm. Hiện nay chỉ biết là 3 đợt dịch cách nhau 4 năm.
* Cách phát hiện sớm nhất có phải là sốt?
Minh (Quận 9, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Không phải tất cả các bé bệnh tay chân miệng đều có sốt. Những bé sốt thì thường có biến chứng hơn, đặc biệt là có sốt cao liên tục hay sốt liên tiếp hơn 2 ngày. Cách phát hiện sớm là khi trẻ quấy khóc than đau miệng bỏ ăn thì phải tìm hiểu ngay bé có lở miệng không, tìm xem ở lòng bàn tay, bàn chân mông gối có lở bóng nước không.
* Tình hình dịch bệnh như hiện nay, tôi có nên cho con mình đi học hè tại trường mầm non hay không (con tôi được 3 tuổi rưỡi rồi)? Xin bác sĩ hãy nói cụ thể hơn về khả năng lây bệnh, và cách phát hiện bệnh sớm nhất. Cám ơn!
Tâm (quận 9, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM):

Theo thống kê của bệnh viện thì số trẻ mắc bệnh chỉ có 20% là đi nhà trẻ, còn các bé còn lại do mắc bệnh từ tại nhà, do đó đi học hay không đi học vẫn phải áp dụng biện pháp vệ sinh phòng ngừa.
Khả năng lây bệnh là do vi-rút có trong nước miếng, dịch mũi họng, phân, nước tiểu, dịch bóng nước của trẻ bệnh phát tán ra môi trường xung quanh, vi-rút này tồn tại trong đồ ăn thức uống, sàn nhà đồ chơi, vật dụng sinh hoạt hằng ngày, bàn tay của người chăm sóc trẻ và sẽ tấn công vào cơ thể trẻ qua đường miệng.
Cách phát hiện sớm tham khảo câu trả lời trước.
* Vì sao bệnh tay chân miệng ngày càng tăng lên một cách kỷ lục? Bệnh này đã nghiên cứu được loại vacxin nào chưa? Vi sao lúc trước nói bệnh này chỉ tập trung chủ yếu ở trẻ em độ tuổi 1-3, vậy mà vừa rồi em đọc bài báo có nói một bé tử vong do tay chân miệng 13 tuổi là sao vậy? Xin các bác sĩ tư vấn giúp. Em xin cảm ơn!
Phan Ha (26 Lê Quý Đôn, Đông Hà, Quảng Trị)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM: Bệnh chân-tay-miệng xuất hiện từ năm 2003 và xuất hiện hàng năm cho đến nay. Mùa dịch 2011 xảy ra với số ca mắc bệnh tăng kỷ lục so với 2 mùa dịch lớn trước (vào năm 2003, 2007).

Chẩn đoán virus xác định đó là EV 71 chủng C4 là chủng lần đầu có tại VN, chủng này đã gây dịch lớn tại Trung Quốc năm 2008.

Điều này giải thích mùa dịch năm nay đặc biệt số trẻ lứa tuổi 1-3 tuổi mắc bệnh nhiều hơn so với những năm trước.

Bệnh chân-tay-miệng xảy ra chủ yếu ở trẻ nhỏ nhưng không phải người lớn không mắc bệnh. Người lớn ít khi mắc bệnh là do đã có miễn dịch từ nhỏ.

Điều này lý giải tại sao có trẻ 13 tuổi tử vong do chân-tay-miệng nhưng những trường hợp như vậy là rất rất hiếm.
* Sau khi chơi ở công viên hay các khu vui chơi..., các bé thường hay ăn uống và trước khi cho bé ăn, tôi dùng dung dịch rửa tay Lifebuoy dạng gel để rửa tay cho trẻ. Xin hỏi là dùng dung dịch này không rửa lại tay bằng nước thì có đảm bảo an toàn khi trẻ cầm nắm thức ăn không?
Ngọc Hân (162/3 Phan Đăng Lưu, Q.Phú Nhuận)

- Bà Lê Thùy Lan, Đại diện nhãn hàng Lifebuoy - Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam: Gel diệt khuẩn khô Lifebuoy là sản phẩm diệt khuẩn không dùng nước, do vậy bạn hoàn toàn có thể sử dụng khi bé cần rửa tay trong điều kiện không có nước: sau khi đi chơi ở công viên, trước khi ăn bên ngoài, sau khi đi vệ sinh ở những nơi công cộng không có sẵn xà phòng diệt khuẩn... Hiệu quả sử dụng và diệt khuẩn tương tự như các sản phẩm xà phòng, nước rửa tay phải dùng nước mà vẫn an toàn.
* Ngay khi phát hiện ra con có những triệu chứng giống như bệnh tay chân miệng, mệt, sốt nhẹ, nổi bong bóng nước... như thông tin công bố; nếu nhà ở xa bệnh viện thì cách điều trị ban đầu cho cháu như thế nào?
Tuan (Seoul, Hàn Quốc)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Nếu nghi ngờ bé bị bệnh tay chân miệng mà nhà ở xa bệnh viện thì phải theo dõi sát bé. Nếu bé vẫn ngủ vẫn sinh hoạt như khi chưa mắc bệnh thì 7-10 ngày bé sẽ tự khỏi. Trong thời gian này nếu thấy bé yếu tay chân, ngồi không vững, sốt liên tục, giật mình, chới với khi bắt đầu ngủ hay khi vừa mới nằm ngửa ra... thì bé này có khả năng biến chứng nên mang đến bệnh viện ngay. Khả năng biến chứng chỉ chiếm khoảng 10% trong tất cả các trẻ bệnh.
* Tôi có 1 bé trai được 32 tháng tuổi, cách đây mấy ngày phát hiện cháu có nhiều mụn nước nhỏ, đưa đi Bệnh viện Nhi đồng 1 khám thì bác sỹ nói bị tay chân miệng sau đó kê toa thuốc để uống rồi cho về. Tôi có hỏi cháu có phải kiêng cữ gì không, bác sỹ nói không cần. Tuy nhiên trong toa thuốc không có thuốc bôi bên ngoài, cháu không sốt nhưng tôi vẫn rất lo lắng, một ngày tôi rửa ráy cho cháu 4 tới 5 lần nhưng chưa hết, giờ tôi phải làm sao để cháu nhanh khỏi? Xin nhờ bác sỹ tư vấn giúp.
nguyen anh vuong (Số 10 Hoa Cau, P.7, Q.PN, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM):

Trẻ bị bệnh tay chân miệng không cần kiêng cữ gì, các mụn nước bên ngoài da không cần bôi gì cả, việc vệ sinh những mụn nước này như bình thường, chỉ một ngày một lần là được. Bé không sốt là tiên lượng tốt. Bốn ngày thì chưa hết đâu, từ 7-10 ngày mới hết. Không có thuốc nào làm bệnh hết nhanh hơn.
* Cách điều trị và phòng chống bệnh tay chân miệng tại gia đình?
Đinh Thị Thu Hương (Lagi, Bình Thuận)

- Bà Lê Thùy Lan, Đại diện nhãn hàng Lifebuoy - Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam: Giúp phòng chống bệnh, bạn và gia đình nên thường xuyên rửa tay với xà phòng diệt khuẩn và tập - duy trì thói quen này trong gia đình. Bàn tay sạch khuẩn không chỉ giúp phòng chống bệnh tay chân miệng mà còn giúp bạn, gia đình và trẻ em trong nhà phòng chống nhiều bệnh khác như tả, lị, thương hàn... Những khi cần phải rửa tay với xà phòng diệt khuẩn gồm: trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tắm, trước khi chế biến thức ăn và vệ sinh cho trẻ...
* Thưa bác sĩ Khanh, làm thế nào để phát hiện một cách sớm nhất bệnh tay chân miệng ở trẻ nhỏ? Các biểu hiện mà cha mẹ có thể dễ dàng nhận biết được là gì? Khi phát hiện cách xử trí tốt nhất là gì? Cám ơn bác sĩ!
Hoàng Phương Thảo (Hương Trà, Thừa Thiên - Huế)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM):

Trẻ nhỏ không biết nói thường có biểu hiện ban đầu là bỏ ăn, chảy nước miếng nhiều, quấy khóc khi cho ăn là do bé có mụn nước trong miệng làm cho bé đau. Lúc này nên tìm thêm các dấu hiện bóng nước ở những nơi khác. Cách xử trí tốt nhất là theo dõi sát và phát hiện các dấu hiệu biến chứng để mang trẻ đến bệnh viện kịp thời.
* Nguyên nhân dẫn đến bệnh tay chân miệng là gì? Bệnh này lây nhiễm qua đường nào? Trong khu vực nhà em đang ở, vừa có em bé 3 tuổi bị bệnh này, dẫn đến tử vong. Địa phương đã cho xịt thuốc gần khu vực này. Như vậy, chính xác những biện pháp nào em nên áp dụng để chống bệnh này? Những dấu hiệu khi mắc bệnh tay chân miệng là gì? Lứa tuổi như em có mắc bệnh này không? Khi đã mắc bệnh này thì chữa bệnh như thế nào?
Võ Thị Kim Oanh (141/11 Tôn Thất Thuyết, F.15, Q.4, TP.HCM)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM:

Bệnh tay chân miệng là do nhóm virus đường ruột (Enterovirus) gây ra, đặc biệt virus EV 71 gây bệnh nặng.

Các đường lây bệnh:

- Bệnh lây do tiếp xúc trực tiếp các bóng nước ở lòng bàn tay, bàn chân...

- Bệnh lây qua các giọt nước bắn từ miệng người bệnh đến người lành khi nói chuyện, ho, hắt hơi... (giống trường hợp lây bệnh đường hô hấp như cúm A, sởi, thủy đậu...).

- Bệnh cũng còn lây qua bàn tay nhiễm virus từ môi trường có người bệnh hiện diện (đồ đạc, vật dụng... thường hay tiếp xúc với bàn tay): khi bàn tay bị nhiễm bẩn không được rửa tay nếu đưa lên miệng, mũi, mắt thì nguy cơ mắc bệnh rất lớn.

- Vì là nhóm virus đường ruột phát triển trong hệ thống tiêu hóa vì vậy bệnh còn lây qua đường ăn uống (đường phân, miệng: virus theo phân ra ngoài nhiễm vào thức ăn và sử dụng thức ăn bị nhiễm khiến nguy cơ mắc bệnh rất lớn).

- Như chúng ta biết, bệnh không có vắc-xin phòng ngừa, không có thuốc đặc trị. Việc phòng bệnh dựa vào vệ sinh cá nhân, vệ sinh khử khuẩn các đồ đạc, vật dụng, đồ chơi, sàn nhà... có tiếp xúc với trẻ bệnh.

Người lớn như bạn có thể mắc bệnh nhưng rất hiếm và nếu có bệnh thì cũng rất nhẹ.
* Con tôi được 34 tháng tuổi đã đi nhà trẻ, bé bị tay chân miệng được 5 ngày, bé được bác sĩ cho uống vittamin A và viên ngậm kẽm đến nay các mụn nước đã lành nhưng vẫn còn nổi lên vài mụn nước. Vậy cho tôi hỏi: 1. Con tôi đã hết tay chân miệng hay chưa? 2. Bé có bị tái phát lại hay không? 3.Chăm sóc bé nhưng thế nào để phòng tránh tay chân miệng?
Kim chi (49/2 KP6, P.Thống Nhất, Biên Hòa, Đồng Nai)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Bé bị bệnh tay chân miệng 5 ngày thì có thể đã an toàn qua giai đoạn nặng nhưng tốt nhất phải theo dõi đến 10 ngày thì mới hết bệnh. Bé vẫn có thể mắc lại bệnh tay chân miệng do vậy việc vệ sinh khử khuẩn bằng xà bông khử khuẩn, phòng bệnh vẫn phải làm thường xuyên và rất có lợi vì nếu thực hiện việc này ngoài việc phòng ngừa bệnh tay chân miệng còn phòng ngừa nhiều bệnh khác như tiêu chảy cấp, cúm...
* Tôi muốn mua xà phòng diệt khuẩn để rửa tay và tắm cho bé thì mua ở đâu? Nên dùng sản phẩm gì hiệu quả?
Nguyễn Thị Thủy (TP Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang)

- Bà Lê Thùy Lan, Đại diện nhãn hàng Lifebuoy - Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam: Bạn có thể sử dụng những loại xà phòng diệt khuẩn cho bé và gia đình như xà phòng Lifebuoy, nước rửa tay và sữa tắm Lifebuoy để giúp tay và cơ thể sạch khuẩn.

Trong những dịp đi chơi hay ra ngoài, trong điều kiện không có nước, bạn có thể dùng gel rửa tay khô diệt khuẩn Lifebuoy để rửa tay cho bé và gia đình. Sản phẩm này không cần dùng nước sau khi rửa mà vẫn hiệu quả và an toàn.
Tập cho gia đình và con trẻ biết giữ vệ sinh đôi tay, cơ thể thông qua thói quen rửa tay với xà phòng diệt khuẩn sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh không chỉ với virus tay chân miệng mà còn các mầm bệnh khác.
* Con tôi bị bệnh tay chân miệng hồi 13 tháng (nay cháu 24 tháng). Xin hỏi bác sĩ: vậy cháu đã miễn dịch với bệnh chưa? Cháu có có khả năng nhiễm bệnh lại không? Khi cháu mắc bệnh, cháu chưa đi nhà trẻ, ít tiếp xúc bên ngoài, nhà giữ vệ sinh khá tốt lại bị bệnh, chị cháu đã đi trẻ, ở chung lại không bị bệnh. Xin hỏi là tại sao?
Vương Thị Mỹ Nga (Q.3, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Bé 13 tháng mắc bệnh tay chân miệng nay 24 tháng vẫn có thể mắc bệnh lại. Nếu bé lúc 13 tháng tuổi chưa đi nhà trẻ ít tiếp xúc bên ngoài, giữ vệ sinh tốt mà vẫn bị bệnh thì vẫn không lạ đâu.

Vi-rút này rất khó bị tiêu diệt bằng cách rửa tay thông thường. Bàn tay của người lớn, đồ chơi xung quanh trẻ vẫn có thể có vi-rút gây bệnh. Chị cháu ở chung không mắc bệnh nhưng cũng có thể là người mang mầm bệnh hoặc chị cháu bệnh rất nhẹ mà chúng ta không ghi nhận được.
* Tôi có 1 cháu được 13 tháng tuổi, cháu rất ngoan nhưng thời gian gần đây cháu lại nổi những bớt nhỏ rất ngứa ở tay, chân và sau mông. Vợ chồng tôi đưa cháu đi khám ở bệnh viện Nhi Đồng 2 thì bác sĩ bảo không phải bệnh tay chân miệng mà chỉ do dị ứng thức ăn thôi, rồi cho thuốc về bôi và uống nhưng những vết cũ lặn thì các vết mới lại xuất hiện. Vợ chồng tôi rất lo cho cháu, nhân tiện đây cho tôi hỏi cháu bị sao? Và cách chữa trị thế nào? Xin cám ơn!
Trinh Dinh Thanh (Di An - Binh Duong )

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Theo mô tả thì khả năng cháu bị dị ứng thức ăn rất cao, bụn nước của bệnh tay chân miệng thì không có ngứa. Cách điều trị như BS nhi đồng 2 thì được.
* Trong mùa dịch hiện nay xin quý vị cho lời khuyên đối với các trẻ đang học nhà trẻ và mẫu giáo, vì hiện các cháu chưa biết tự vệ sinh cá nhân. Xin cám ơn.
Đoàn Thanh Phong (98/5 KP3, CMT8, P.QuangVinh, BH, Đồng Nai)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM:

Để có thể an tâm đưa trẻ đi học ở các nhà trẻ, mẫu giáo, phụ huynh và nhà trường cần thực hiện những biện pháp phòng bệnh như sau:

Phụ huynh:

- Giữ gìn vệ sinh cho trẻ, thường xuyên rửa tay cho trẻ cũng như người giữ trẻ.

- Giữ gìn vệ sinh nhà cửa mỗi ngày, làm sạch bằng nước và xà phòng, hằng tuần khử khuẩn 1 lần.

- Theo dõi sức khỏe của trẻ, nếu có dấu hiệu đầu tiên của bệnh thì cho trẻ ở nhà, đi khám bệnh (bất cứ bệnh truyền nhiễm nào chứ không riêng gì bệnh tay chân miệng). Nếu cho trẻ bệnh đi học thì sẽ có nguy cơ lây bệnh cho các bạn cùng lớp, có khả năng gây dịch bệnh bộc phát dẫn đến trường, lớp phải đóng cửa.

Nhà trường:

- Phối hợp với phụ huynh để hướng dẫn trẻ bệnh tại trường phải được đưa trẻ về nhà đi khám bệnh.

- Mỗi ngày làm sạch bằng nước và xà phòng hoặc các dung dịch lau sàn, vệ sinh đồ chơi, các vật dụng...

- Hằng tuần, khử khuẩn 1 lần các vật dụng, sàn nhà như trên.

Mục tiêu ở trường là không để trẻ bệnh hiện diện mà làm sạch, khử khuẩn trường lớp. Làm như vậy sẽ phòng được dịch bệnh bộc phát tại trường.
* Tôi nghe nói giữ vệ sinh sạch sẽ có thể phòng ngừa được bệnh này. Tôi có thể mua thuốc vệ sinh hoặc loại xà bông nào để sử dụng. Xin tư vấn giúp.
Huỳnh Minh Ngọc (TP.HCM)

- Bà Lê Thùy Lan, Đại diện nhãn hàng Lifebuoy - Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam:

Bạn có thể sử dụng những loại xà phòng diệt khuẩn cho bé và gia đình như xà phòng Lifebuoy, nước rửa tay và sữa tắm Lifebuoy để giúp tay và cơ thể sạch khuẩn. Trong những dịp đi chơi hay ra ngoài, trong điều kiện không có nước, bạn có thể dùng gel rửa tay khô diệt khuẩn Lifebuoy để rửa tay cho bé và gia đình. Sản phẩm này không cần dùng nước sau khi rửa mà vẫn hiệu quả và an toàn.
Tập cho gia đình và con trẻ biết giữ vệ sinh đôi tay, cơ thể thông qua thói quen rửa tay với xà phòng diệt khuẩn sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm bệnh không chỉ với virus tay chân miệng mà còn nhiều mầm bệnh khác.
* Chào bác sĩ, trẻ em chơi với thú nhồi bông có dễ lây nhiễm virus bệnh tay chân miệng không?
Phạm Duy Linh (68-70 Điện Biên Phủ, Q.1, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Đồ chơi nào mà bé có thể bỏ vào miệng là có thể lây bệnh tay chân miệng.
* Em có cháu được 40 tháng, nhưng cháu đã bị tay chân miệng hai lần rồi, Lần đầu cháu bị vào năm ngoái, còn lần hai vào khoảng tháng 2 năm nay. Khi bị lần hai em đi khám, bác sỹ nói cháu nào đã bị một lần thì có thể bị lại khi vào mùa, cho em hỏi như vậy có đúng không ạ? Nếu đúng như vậy xin các bác sỹ tư vấn giúp em cách phòng chống như thế nào để cháu không bị lại khi vào mùa. Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Thị Điệp (139/5 Mai Xuân Thưởng, Vĩnh Hải, NT)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM):

Bác sĩ tư vấn như thế là đúng, do vậy việc phòng ngừa phải được thường xuyên cho đến lúc bé trên 5 tuổi thì khả năng mắc bệnh ít hơn.
* Khi trẻ bị mắc bệnh tay chân miệng một lần thì có khả năng miễn nhiễm không bị lại hay không?
Ngô Thụy Thanh Dung (865/45/1A2 Nguyễn Ảnh Thủ, Quận 12, TP.HCM)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM:

Bệnh tay chân miệng do nhiều loài virus thuộc nhóm Enterovirus gây ra.

Nếu mắc bệnh do loài virus nào thì sẽ miễn dịch đối với loài đó. Tuy nhiên, vì đa số bệnh tay chân miệng là nhẹ, có thể khỏi trong vòng 7 đến 10 ngày, bạn không biết là do loài virus nào. Vì vậy bạn có thể mắc lại bệnh tay chân miệng một lần khác khi nhiễm loại virus khác với virus gây bệnh lần trước.

Khả năng miễn dịch chéo giữa các loài thuộc nhóm Enterovirus có ghi nhận nhưng không chắc chắn lắm.
* Tại địa phương một số trường hợp mắc bệnh tay chân miệng không có yếu tố dịch tễ rõ ràng như không có tiếp xúc với người bệnh, trong một gia đình có 3 đứa trẻ từ 6 tuổi đến 4 tháng tuổi nhưng chỉ có cháu 35 tháng tuổi là mắc bệnh. Xin chương trình tư vấn giải thích cho một số ý sau: Có phải mầm bệnh có sẵn trong cộng đồng? Tại sao năm 2011 bùng phát mạnh hơn nhiều so với năm 2010? Biện pháp nào làm giảm nhanh tỷ lệ mắc bệnh tay chân miệng. Xin cảm ơn.
Cao Phuc (Quang Ngai)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Mầm bệnh chỉ có khi người mắc bệnh rõ, người mắc bệnh nhẹ không rõ, người lành mang vi rút phát tán ra cộng đồng chứ không có sẵn. Năm 2011 nhiều hơn so với năm 2010 có thể do ý thức phòng bệnh của cộng đồng bị quên sau nhiều năm không nhắc đến (2008-2010), cũng có thể do tác nhân gây bệnh tay chân miệng mới (từ 2008-2010 không xuất hiện) do vậy các trẻ sinh từ năm 2008-2010 sẽ không có miễn dịch của tác nhân này nên số ca bệnh nhiều hơn và nặng hơn.
Biện pháp giảm nhanh tỉ lệ mắc bệnh là cả cộng động cùng tham gia phòng bệnh nhất là các gia đình chưa có trẻ mắc bệnh. Hiện nay chỉ có y tế và giáo dục (nhà trẻ) là tham gia phòng bệnh thôi.
* Chào bác sĩ! Những trẻ nào có nguy cơ mắc bệnh cao nhất? Tôi có 2 trẻ được 19 tháng tuổi, tiêm ngừa hầu hết các loại bệnh, nhưng tôi vẫn lo lắng, không biết biểu hiện để phát hiện bệnh này như thế nào?
Ngô Thị Mộng Thu (16/3/12 đường 297, phường Phước Long B, quận 9, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM):

Chủng ngừa hầu hết các loại bệnh thì không ngừa được bệnh tay chân miệng vì bệnh này hiện nay chưa có vắc xin. Cách phát hiện và phòng ngừa đã trả lời ở trên.
* Bác sĩ cho biết siêu vi trùng gây bệnh tay chân miệng diễn tiến như thế nào trong cơ thể?
Minh Đạt (TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Vi rút gây bệnh tay chân miệng xâm nhập vào cơ thể từ thành họng đi xuống ruột xâm nhập vào máu phát tán ra môi trường xung quanh từ mụn nước, dịch mũi họng, phân, nước tiểu. 90% vi rút sẽ ra khỏi cơ thể sau một thời gian. Khoảng 10% vi rút sẽ tấn công vào vùng não tủy gây ra các biến chứng thần kinh hô hấp tim mạch rồi cũng tự hồi phục nếu bé không tử vong.
* Tôi vẫn biết rửa tay diệt khuẩn sẽ giúp phòng chống bệnh nhưng sao tôi vẫn thường quên. Làm cách nào để tập thói quen này?
Tiến Minh (TP.HCM)

- Bà Lê Thùy Lan, Đại diện nhãn hàng Lifebuoy - Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam: Số liệu thống kê từ các cơ quan y tế cho thấy chỉ có khoảng 20% người dân có thói quen rửa tay với xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tắm... Trong khi đó, đa số các bệnh và dịch bệnh truyền nhiễm như tay chân miệng, tả lị, thương hàn, H1N1, viêm đường hô hấp cấp... đều có nguồn lây lan thông qua đôi bàn tay. Đó là thực tế đáng báo động cần phải thay đổi thói quen - hành vi phòng chống bệnh.

Thói quen bắt đầu từ hành động. Bạn hãy tập cho mình thói quen này trước và tập cho trẻ thực hành thói quen đó.
Bạn chỉ cần nhớ đôi tay ta cứ mỗi cm vuông chứa đến 40.000 vi khuẩn. Do vậy, nếu không rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn thì dù bạn có đang ăn thức ăn ngon, bổ dưỡng hay uống những loại thuốc đắt tiền thì chỉ là phòng ngừa một nửa. Vi khuẩn từ đôi tay bẩn hoàn toàn có thể lây nhiễm chéo trên tay, xâm nhập vào cơ thể và nguy cơ nhiễm bệnh vẫn còn đó.
Có thể ghi nhớ thói quen này bằng cách ghi lại những lời nhắc nhở, dán ở bếp, nhà vệ sinh, tủ lạnh "Nhớ rửa tay với xà phòng diệt khuẩn nhé" để đừng quên thói quen này. Lifebuoy trong hộp sản phẩm 3 bánh xà phòng/hộp hiện có bán tại siêu thị đã có sẵn những sticker ghi nhớ các thời điểm rửa tay. Bạn có thể dùng vừa tạo thói quen, vừa trang trí nhà - bếp đẹp thêm.
Rửa tay với xà phòng diệt khuẩn được hiểu như liều vắc-xin hiệu quả, tiết kiệm mà lúc nào bạn và gia đình đều có thể thực hiện để bảo vệ sức khỏe.
* Con tôi 22 thÁng, vừa rồi cháu bị sốt, ho va sổ muỗi, đi khám NĐ2 thì BS kiểm tra thấy có 1 nốt đỏ trong lòng bàn tay và chẩn đoán bệnh TCM và viêm họng. 3 ngày đầu bé sốt liên tục, được BS theo dõi và cho thuốc hạ sốt, kháng sinh, trị ho và men tiêu hóa, đồng thời cho xét nghiệm máu nhưng không thấy nhiễm trùng. Hiện được 5 ngày và bé đã hết sốt nhưng vẫn còn ho và sổ muỗi, mụt nước trong lòng bàn tay vẫn còn nguyên (1 nốt và không thấy xuất hiện thêm). Xin hỏi vậy tình trạng bệnh của bé như vậy có còn nguy hiểm gì không? Thời gian khỏi bệnh hoàn toàn là bao lâu? Và nếu khỏi bệnh thì bé có bị tái phát lại không? Làm sao để ngừa? Cảm ơn BS.
Hà Thị Hồng Trang (P.Bình An, Quận 2, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Bệnh tay chân miệng 5 ngày hết sốt mụn nước còn nguyên là cũng thường gặp. Thường thì 10 ngày mới hết bệnh vẫn có thể tái nhiễm do đó phải vệ sinh phòng ngừa thường xuyên.
* Thưa các bác sĩ, tôi được biết khi mắc bệnh này hầu hết các trẻ đều có thể tự khỏi. Chỉ một số trẻ mới bị biến chứng sang não, hoặc suy hô hấp và có thể tử vong. Tôi xin được phép hỏi, tỉ lệ biến chứng này là bao nhiêu? Và nếu phát hiện sớm liệu có thể ngăn chặn bệnh không để xảy ra biến chứng được không?
Nguyễn Xuân Hội (Bà Rịa, Vũng Tàu)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Tỉ lệ biến chứng khoảng 10%, trong số ca có biến chứng thì tỉ lệ tử vong dưới 10%. Phát hiện sớm không ngăn ngừa biến chứng nhưng phát hiện sớm biến chứng điều trị thích hợp sẽ ngăn ngừa được tử vong.
* Xin cho hỏi bé của em được 19 tháng, hiện đang cho bé đi nhà trẻ. Nhưng vẫn lo lắng, không biết có cách nào để phòng tránh được bệnh hay không, ngoài việc giữ vệ sinh sạch sẽ (vì bé của em có tật hay mút tay).
Nguyễn Phạm Mai Thy (139/318KB Lý Chính Thắng, Q.3, TP.HCM)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM: Lo lắng khi trẻ đi nhà trẻ trong mùa dịch bệnh là chính đáng. Phòng bệnh là sự hợp tác giữa trường, cô giáo và phụ huynh.

Dù nhà trường, lớp học đã thực hiện đầy đủ các yêu cầu về vệ sinh và khử khuẩn nhưng nếu trong lớp có hiện diện trẻ bệnh thì việc lây bệnh vẫn có thể xảy ra. Để việc này không xảy ra phụ huynh cần theo dõi sức khỏe của trẻ, khi phát hiện trẻ có dấu hiện bệnh thì nên để trẻ ở nhà và đi khám bệnh chứ không được đưa trẻ đến trường. Điều này là quan trọng để tránh lây truyền bệnh trong lớp học.

Để phòng bệnh chân-tay-miệng, việc giữ gìn vệ sinh cho trẻ và người giữ trẻ là rất quan trọng. Trong đó, việc rửa tay với xà bông diệt khuẩn cần phải thực hiện thường xuyên, đặc biệt là sau khi trẻ chơi.

Ngoài ra, vì trẻ thường tiếp xúc với các đồ chơi, sàn nhà nên nhà cửa, đồ chơi, vật dụng... các bề mặt thường hay có tiếp xúc với bàn tay cần phải làm sạch mỗi ngày và định kỳ khử khuẩn.

Ngoài ra, phải hạn chế việc giữ trẻ bệnh và trẻ khỏe mạnh cùng một lúc, tránh để trẻ bệnh tiếp xúc với trẻ khỏe mạnh. Người giữ trẻ cần phải rửa tay với xà bông diệt khuẩn sau khi chăm sóc trẻ...
* Biểu hiện của bệnh chân tay miệng. Thời gian ủ bệnh và phát bệnh là bao lâu. Nguyên nhân và cách phòng tránh. Hiện tại đã có thuốc trị cho bệnh này chưa?
Khanh (TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Thời gian ủ bệnh từ 3-6 ngày, thời gian phát bệnh từ 7-10 ngày. Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu (thuốc diệt vi rút gây bệnh) nhưng phát hiện sớm biến chứng điều trị kịp thời là rất quan trọng. Các phần khác xin tham khảo các câu trên.
* Cháu ở nhà đang bị sốt cao, nổi mẩn đỏ toàn thân và tai, chân; tay có những nốt đỏ to. Xin hỏi bác sĩ là đó phải là bệnh tay chân miệng, hay chỉ là sốt phát ban thông thường. Hiện tại cháu đã hết sốt và các mụn đỏ đang lặn dần. Thế có cần phải đưa đi bệnh viện kiểm tra không? Xin cảm ơn.
Ánh Nguyệt (Long An)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM):

Thường trẻ bệnh tay chân miệng không nổi đỏ toàn thân và nốt đỏ nhỏ chứ không to. Khi hết sốt, các mụn cũng bay dần thì khả năng mắc sốt phát ban là rất cao. Nếu trẻ hết sốt, mụn đỏ lặn đi và vẫn sinh hoạt ăn uống ngủ bình thường thì không cần phải đi bệnh viện để kiểm tra.
* Làm sao để phát hiện bệnh tay chân miệng. 2. Cách phòng tránh có hiệu quả nhất. 3. Bệnh tay chân miệng phát triển có theo mùa không. 4. Khám ở tuyến huyện, tỉnh có phát hiện ra bệnh không?
Nguyễn Bá Thuần (Huyện Kiên Lương, Kiên Giang)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM):

Bệnh tay chân miệng thường xuất hiện theo mùa, mỗi năm có 2 đợt: tháng 4, 5, 6; tháng 9, 10, 11. Hiện nay tuyến huyện và tuyến tỉnh đã được tập huấn về phát hiện sớm và điều trị bệnh, nên khám bệnh ở hai tuyến này.
* Bé nhà em 9 tháng tuổi đang ở nhà cùng bà nội, hiện đang có dịch TCM, nên em rất lo ngại, ngoài các biện pháp phòng bệnh như tivi, báo chí hướng dẫn, xin các bác sĩ hướng dẫn thêm những cách khác cụ thể hơn. Trân trọng cảm ơn!
Cao Thị Vĩnh Hảo (29 Hoàng Hoa Thám, P.6, Q.Bình Thạnh)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM: Những biện pháp phòng bệnh như trên tivi, báo chí hướng dẫn là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, vẫn có điều chưa cụ thể.

Như đã biết bệnh không có vắc-xin phòng ngừa hay thuốc điều trị đặc hiệu. Việc phòng bệnh chủ yếu là:

- Rửa tay với xà bông diệt khuẩn thường xuyên cho trẻ và người giữ trẻ.

- Làm sạch mỗi ngày, khử khuẩn hàng tuần: sàn nhà, đồ đạc, vật dụng,... các dụng cụ thường hay tiếp xúc với bàn tay.

Những biện pháp này là những biện pháp không đặc hiệu nhưng thực hiện đều đặn, thường xuyên sẽ phòng được các bệnh truyền nhiễm, kể cả bệnh chân-tay-miệng.

Quan trọng là thực hiện 2 điều trên đầy đủ và đúng cách.
* Cháu gái nhà tôi 21 tháng tuổi. 3 ngày nay cháu bị sốt cao (38 độ C), ăn kém, có nhiều vết loét trên miệng và lưỡi (ở lưỡi nhiều hơn), khi ngủ hay giật mình và quấy khóc. Xin bác sĩ cho biết cháu có phải bị bệnh tay chân miệng không hay là bệnh Hippit? Nên xử trí thế nào? Có cần đưa cháu đến bệnh viện hay có thể tự điều trị tại nhà? Rất mong nhận được câu trả lời sớm của bác sĩ.
Nguyễn Thị Hải (TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Bé lở miệng có thể là tay chân miệng mà cũng có thể là do héc bét (herpes). Muốn biết chắc phải đến thăm khám ở bác sĩ. Nếu trẻ ngủ giật mình thì khả năng tay chân miệng rất cao.
* Con trai em nam nay được 3 tuổi rưỡi cách đây vài ngày bị âm ấm không sốt cao nhưng biếng chơi biếng ăn vì cổ họng bị đỏ và nứu răng bị sưng đỏ đi khám bác sĩ bảo rằng bị viêm apidan cấp, nhưng em thấy rất lo cho nên em xin thử máu và kết quả cho rằng không có vi rút tay chân miệng. Tuy vậy em vẫn rất hoang mang về bệnh tay chân miệng này, bác sĩ cho em cách điều trị và phòng ngừa. Cảm ơn bác sĩ!
phuong (Bien Hoa, Dong Nai)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Hiện nay đa số BS nhi khoa đã được cập nhật thông tin tay chân miệng rồi. Nếu có thắc mắc thì đến BS y khoa tham vấn chứ không có xét nghiệm thông thường nào để biết bị nhiễm vi rút tay chân miệng.
* Neu noi muc nuoc o mu ban tay kem theo trieu chung hoi bi ngua nhung co the binh thuong, khong sot, khong noi o chan hay mieng. Vay xin hoi bac si do co phai la benh tay chan mieng hay khong?
Thanh Lap (Bình Thạnh, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Mụn nước của tay chân miệng thì không ngứa, không đau do vậy nếu trẻ có ngứa thì an tâm là không mắc tay chân miệng hơn. Còn trẻ không sốt vẫn có khả năng mắc bệnh tay chân miệng.
* Cháu bị tay chân miệng ở độ 2 thì có ảnh hưởng gì đến viêm màng não chưa? Tôi rất hoang mang.
LƯU VĂN NAM (71 LÔ A , TỔ 22A, PK2, P.PHÚ THUẬN, Q7, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Tay chân miệng độ 2 là bắt đầu có ảnh hưởng đến thần kinh nhưng vẫn còn an toàn nếu không diễn tiến đến độ 3. Đa số bé bị độ 2 đều không có di chứng gì.
* Tôi thấy khó phân biệt bệnh sốt phát ban, bệnh thủy đậu, rubela và bệnh tay chân miệng quá. Hiện nay ở Quảng Ngãi có thêm dịch sốt xuất huyết. Xin bác sĩ cho biết cách phân biệt và phòng tránh. Cháu gái tôi (9 tuổi) bị sốt, bênh viện bảo sốt xuất huyết, tối qua về nhà trên người lại nổi lên các hột nước. Xin bác sĩ cho biết là bệnh gì? cách chữa và phòng tránh? Xin chân thành cảm ơn.
Phạm Thái Dương (Quảng Ngãi)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM):

Muốn phân biệt các bệnh trên thì nên gặp các bác sĩ chuyên khoa. Dịch bệnh có thể chồng chéo vào một mùa như thuỷ đậu, sốt phát ban, tay chân miệng, sốt xuất huyết, do vậy phải cùng lúc phải thực hiện nhiều biện pháp phòng bệnh.

Tình huống của bé 9 tuổi nếu nổi mụn nước nhiều ở toàn thân thì có khả năng bị bệnh thủy đậu.
* Bé nhà tôi 4 tuổi. Tôi muốn hỏi cách phòng chống bệnh tay chân miệng. Nếu tôi cần mua thuốc khử khuẩn thì có thể mua loại nào, ở đâu. Khi đã nhiễm bệnh nên xử lý như thế nào. Xin cám ơn!
Chu Thuy Hoa

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM: Chất khử khuẩn ngành y tế hiện đang xử dụng là Cloramine B, hiện đang được cấp miễn phí tại trạm y tế.

Tuy nhiên, bạn có thể mua các hóa chất diệt khuẩn ở thị trường.

Chất diệt khuẩn thông thường là nước javel. Bạn có thể mua nước javel để khử khuẩn nhưng phải chọn lựa những sản phẩm có nhãn mác và có ghi đầy đủ nồng độ trên nhãn.

Khi sử dụng bạn nên đọc kỹ hướng dẫn ghi trên nhãn.

Theo đề xuất từ trung tâm y tế dự phòng thành phố, bạn nên:

- Pha nước javel theo hướng dẫn ghi trên nhãn, thường có nồng độ là 0,05%. Với nồng độ này bạn có thể làm vệ sinh các bề mặt mỗi ngày.

- Để khử khuẩn hàng tuần bạn nhân đôi nồng độ trên (0,1%).
* Xin hỏi hàng ngày tôi dùng trái chanh - vắt lấy nước cốt, hoặc dùng nước rửa tay Lifebuoy - hòa vào nước để lau nhà. Cũng với cách trên, mỗi tuần một lần, tôi rửa đồ chơi cho con. Xin hỏi tôi làm như vậy thay cho việc dùng dung dịch Chloramine có được không vì Trạm Y Tế Phường chỉ phát mỗi hộ gia đình 1 gói bột Choliramine để dùng cho 1 tháng (gồm 4 gói nhỏ 20g, một tuần lau 1 lần). Vả lại mùi của Cholramine như thuốc tẩy nên khi lau nhà hay rửa đồ chơi cho trẻ xong, có mùi hơi khó chịu?
Hiếu Ngân (162 Phan Đăng Lưu, Q.Phú Nhuận, TP.HCM)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM: Cách bạn làm như mô tả, hiệu quả chưa được chứng minh. Bạn không nên áp dụng theo cách này.

Cloramine B và nước javel khi sử dụng đều có mùi nồng đặc trưng gây khó chịu, vì vậy bạn có thể dùng các sản phẩm nước javel khác thay thế như: loại nước javel có thêm hương liệu tạo mùi thơm. Sản phẩm này có bán nhiều trên thị trường, trong các siêu thị.
* Thưa bác sĩ, xin cho biết cách phòng tránh bệnh TCM hiệu quả và đơn giản cho trẻ em tại nhà, và cách phát hiện nhanh bệnh này? Cám ơn bác sĩ.
Nguyễn Thị Thu Hương (178/3 Pasteur Q.1, TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM):

Về lý thuyết, phòng bệnh tay chân miệng thì rất là đơn giản nhưng thực tế thì không phải vậy. Vì từ nhận thức đúng cho đến hành động đúng thì rất xa nên bệnh vẫn xuất hiện, đến hẹn lại lên. Đa số ai cũng biết phòng bệnh tay chân miệng (bệnh lây từ đường tiêu hoá) là rửa tay đúng, vệ sinh ăn uống, sát khuẩn, diệt khuẩn đồ chơi nơi sinh hoạt của trẻ nhưng khi thực hiện thì... quên, nhất là nhà chưa có trẻ mắc bệnh.
Rửa tay đúng là rửa tay bằng xà phòng diệt khuẩn dưới vòi nước để trôi đi các chất có chứa vi rút bám trên bàn tay. Bàn tay của người lớn thường là môi trường lây bệnh cho trẻ nên trước khi chăm sóc trẻ, chế biến thức ăn thức uống cho trẻ, khi đi làm về vào chăm sóc trẻ, khi trẻ lớn vừa đi ra môi trường bên ngoài về phải rửa tay trước khi tiếp xúc với trẻ nhỏ.
Đa số phụ huynh chỉ chú ý đến vệ sinh ăn uống mà không chú ý đến vệ sinh trong sinh hoạt, không sát khuẩn đồ chơi, sàn nhà và các nơi mà bé có thể chạm tay đến.
Trẻ nhỏ dưới 3 tuổi thì không biết nơi nào sạch, vật gì có thể bỏ vào miệng nên công việc này là của người lớn.
* Bé nhà tôi trước đây bị bệnh tay chân miệng rất nặng, sau này đã khỏi bệnh và được bác sĩ cho về nhà chăm sóc theo dõi. Tay trái của bé còn yếu và thỉnh thoảng hay la hét, giật mình vào ban đêm khiến tôi rất lo lắng, liệu bé có bị biến chứng nặng nữa không?
Bảo Loan (Biên Hòa, Đồng Nai)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Tay bé có thể yếu cả năm, chị nên tập thêm vật lý trị liệu để hồi phục nhanh hơn. Việc bé quấy khóc hay giật mình vào ban đêm sẽ giảm dần, có bé kéo dài triệu chứng này vài tháng.
* Ngoài Cloramin B khử khuẩn hiện nay còn loại hóa chất nào khác để khử khuẩn bệnh tay chân miệng tiện lợi hơn mà không độc hại có bán tại các nhà thuốc trên cả nuớc? Xin cảm ơn.
leducchi (TP.HCM)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM:

Bạn có thể dùng Cloramine B hoặc nước javel để khử khuẩn mà không phải lo ngại có tác dụng độc hại (nếu sử dụng đúng cách trong mục đích khử khuẩn).

Khử khuẩn cần tiến hành 2 bước:

- Lau chùi đồ đạc, vật dụng, sàn nhà với dung dịch khử khuẩn pha sẵn, để trong 10 - 15 phút (diệt khuẩn).

- Lau lại bằng nước sạch và lau khô (xóa sạch các chất khử khuẩn đã sử dụng).

Bề mặt môi trường sau khi khử khuẩn là hoàn toàn sạch, không có chất độc hại.
* Toi chi rua tay voi nuoc, lieu da an toan truoc dich benh?
Tuyết Nga (TP.HCM)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Rửa tay dưới vòi nước mà không có xà phòng thì phải kỳ cọ nhiều hơn mới an toàn. Nên rửa tay với xà phòng diệt khuẩn dưới vòi nước thì độ an toàn mới cao.
* Xin hỏi bệnh tay chân miệng có liên quan đến bệnh “lở mồm long móng” ở động vật không?
Vũ Đức (Bình Dương)

- Bác sĩ Nguyễn Đắc Thọ, Phó giám đốc Trung tâm y tế dự phòng TP.HCM: Bệnh lở mồm, long móng ở động vật có móng là do một loài Enterovirus gây ra.

Loài này hoàn toàn khác so với các loài virus đường ruột gây bệnh tay chân miệng ở người. Vì vậy hai bệnh này hoàn toàn khác nhau về nguyên nhân và đối tượng.
* Con tôi đang bị bệnh tay chân miệng - nằm ở bệnh viện - tôi vẫn cho em của cháu 4 tuổi vào thăm, sau khi thăm tôi rửa tay mình và con bằng xà phòng diệt khuẩn Lifebuoy như vậy liệu có thể yên tâm?
Nguyễn Thị Hoàng Yến (hoangyenag78@yahoo.com.vn)

- Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng Khoa Nhiễm Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TP.HCM): Chị cho con vô thăm bé bị bệnh tay chân miệng thì không nên. Thông thường người vào tiếp xúc với bệnh tay chân miệng (nhân viên y tế) có con nhỏ thì phải tắm, vệ sinh thay quần áo trước khi ra khỏi bệnh viên. Những người thăm nuôi bệnh nhân có trẻ nhỏ ở nhà thì cũng phải thực hiện như vậy mới không mang mầm bệnh về cho gia đình. Nói chung trẻ bị tay chân miệng hạn chế thăm nuôi.
Theo Giaoducsuckhoe.net
Bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do virus đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71.

Biểu hiện chính của bệnh là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời.

Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát.

Hiện tại vẫn chưa có vaccine phòng bệnh tay chân miệng. Trong vùng dịch, biện pháp hữu hiệu nhất để khống chế dịch là phòng lây lan bệnh sang người lành. Các biện pháp phòng ngừa là:

- Người lành, nhất là trẻ em nên hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân nếu không thực sự cần thiết.

- Sau khi chăm sóc bệnh nhân, cần rửa tay kỹ với xà phòng.

- Không được chọc vỡ các mụn nước bọng nước trên da bệnh nhân.

- Giặt các đồ dùng của bệnh nhân và lau phòng ở của bệnh nhân bằng các dung dịch sát khuẩn có chlor.

- Cần theo dõi chặt chẽ những trẻ có biểu hiện sốt trong vùng dịch.

- Cho trẻ nghỉ học cho đến khi khỏi bệnh.    

Theo VTV
(Dân trí) - Bộ Y tế vừa ban hành phác đồ mới về hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay - chân - miệng. Căn bệnh đang có xu hướng lây lan nhanh và đã khiến 12 bệnh nhân tử vong.


Theo Bộ Y tế, bệnh tay-chân-miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người (chiếm tỷ lệ cao ở trẻ em), dễ thành dịch do vi rút đường ruột gây ra.

Hiện bệnh này đang gia tăng nhanh ở TP.HCM, trong đó có khoảng 10% bệnh nhân bị biến chứng thần kinh do nhiễm vi rút EV71, đã có 12 ca tử vong do bệnh này.

Biểu hiện chính là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời.

Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hóa, nguồn lây chính từ nước bọt, dịch mũi, chất thải, nước dịch tiết ra từ cơ thể người nhiễm bệnh.

Giai đoạn ủ bệnh: 3 - 7 ngày. Giai đoạn khởi phát từ 1- 2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.

Giai đoạn toàn phát thường kéo dài 3 - 10 ngày, với các triệu chứng như loét miệng (vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2 - 3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi). Phát ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông và thường tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó để lại vết thâm, sốt nhẹ.

Phác đồ nêu rõ bệnh chân - tay - miệng có thể điều trị ngoại trú hoặc theo dõi tại y tế cơ sở nhưng cần cách ly trẻ bệnh tại nhà trong tuần đầu tiên khởi phát. Trong thời gian này cần có chế độ dinh dưỡng tốt cho trẻ nhằm tăng cường sức đề kháng.

Theo lời khuyên của các chuyên gia phòng dịch, khi phát hiện trẻ em nhiễm bệnh, cha mẹ không được tự ý dùng các loại thuốc kháng sinh, mà phải đưa trẻ đi khám và tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ.

Khi thấy trẻ có dấu hiệu sốt cao, li bì phải lập tức đưa trẻ quay lại bệnh viện để điều trị kịp thời.

P. Thanh
Theo TS Bùi Vũ Huy, Phó trưởng Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Nhi trung ương, các ca bệnh tay – chân - miệng đều có thể điều trị tại nhà theo hướng dẫn của bác sĩ. Cụ thể, nếu trẻ mắc bệnh, cần được cho hạ sốt nếu sốt cao, bù nước và điện giải, cho ăn đủ chất (nấu kỹ và dễ tiêu) để tránh suy kiệt, không dùng thuốc cầm đi ngoài.

Tuy nhiên, cảnh báo của TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng và môi trường, Bộ Y tế cho biết, khi phát hiện có trẻ bị chân - tay - miệng, nên cho trẻ nghỉ học để điều trị và cách ly để tránh lây. Đồng thời phải tiến hành vệ sinh môi trường để phòng dịch vì bệnh lây qua đường phân. PGS.TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tể Trung ương cho biết, bệnh tay – chân - miệng không phải là bệnh mới mà bệnh đã xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới. Từ năm 1969, xuất hiện ở Mỹ. Tại châu Á, các vụ dịch enterovirus 71 (EV71) đã được ghi nhận ở Trung Quốc, Malaixia, Nhật Bản, Hàn Quốc...

Riêng tại Việt Nam, bệnh xuất hiện chính xác từ bao giờ vẫn chưa có con số cụ thể. Nhưng 3 – 4 năm gần đây, từ nhiều nguồn cho thấy số ca bệnh tăng lên, tập trung nhiều nhất là khu vực TP. HCM. Theo kết quả xét nghiệm của viện Pasteur TP HCM thì viruts gây bệnh chính là EV71.

VnMedia đã trao đổi với PGS.TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tể Trung ương về căn bệnh này và hướng điều trị.

PGS.TS có thể khái quát về bệnh tay – chân – miệng do EV71 gây nên?

Bệnh tay – chân - miệng là bệnh truyền nhiễm. Bệnh lây từ người sang người do tiếp xúc với nước bọt, dịch tiết của mũi, họng, dịch của các bọng nước khi vỡ, hoặc qua đường phân, đường miệng. Thời kỳ ủ bệnh thường từ 3 - 7 ngày. Bệnh tay – chân - miệng là một bệnh thường gặp ở trẻ dưới 10 tuổi nhưng cũng có thể gặp ở cả người trưởng thành. Mọi người đều có thể nhiễm viruts nhưng không phải tất cả đều có biểu hiện bệnh.Trẻ sơ sinh, trẻ em và thiếu niên là những đối tượng dễ bị nhiễm bệnh nhất vì chúng chưa có kháng thể chống lại bệnh này.

Bệnh thường đặc trưng với biểu hiện sốt, đau họng và nổi ban có bọng nước. Triệu chứng đầu tiên thường là sốt nhẹ, biếng ăn, mệt mỏi và đau họng. Một đến hai ngày sau khi xuất hiện sốt trẻ bắt đầu đau miệng. Khám họng trẻ có thể phát hiện các chấm đỏ nhỏ sau đó biến thành các bọng nước và thường tiến triển đến loét. Các tổn thương này có thể thấy ở lưỡi, nướu và bên trong má.

Ban da xuất hiện trong vòng 1 - 2 ngày với các tổn thương phẳng trên da hoặc có thể gồ lên, máu đỏ và một số hình thành bọng nước. Ban này không ngứa và thường khu trú ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân. Như vậy ban điển hình thường xuất hiện ở các vị trí tay, chân và miệng nên bệnh có tên bệnh tay - chân - miệng. Tuy nhiên ban có thể xuất hiện ở mông. Một số trường hợp, ban chỉ xuất hiện ở miệng mà không thấy ở các vị trí khác.

Bệnh tay – chân - miệng do nhiều loại vi-rút đường ruột gây nên, chủ yếu ở hai loại: Cocsackie vi-rút là vi-rút lành tính. Nếu mắc vi-rút Cocsackie, bệnh nhân sẽ tự khỏi trong vòng 7-10 ngày mà không cần điều trị và hầu như không có biến chứng gì. Nhưng nếu hội chứng chân tay miệng do EV71 ở thể nặng thì rất nguy hiểm. Vi-rút này có thể gây biến chứng viêm màng não, hoặc hiếm gặp hơn là biến chứng viêm não, liệt mềm dạng bại liệt, có thể dẫn đến tử vong.

Xin ông cho biết cách điều trị bệnh tay – chân – miệng do EV71?

Hiện nay, bệnh tay – chân – miệng do EV71 vẫn chưa có thuốc kháng virus đặc hiệu điều trị bệnh. Chủ yếu là các biện pháp điều trị triệu chứng để hạ sốt, giảm đau do các vết loét gây nên và điều trị các biến chứng nếu có.

Cần cách ly bệnh nhân, trẻ bị bệnh trong vài ngày đầu mắc bệnh. Hạn chế tối đa tiếp xúc trực tiếp như hôn, sử dụng chung các dụng cụ với trẻ bị bệnh hoặc người bệnh và áp dụng một số biện pháp hạn chế bệnh lây truyền theo đường phân, miệng khác như ăn chín, uống sôi. Để giảm nguy cơ nhiễm trùng da niêm cần phải vệ sinh thân thể: cho trẻ súc miệng mỗi ngày, chăm sóc da bằng cách tắm nước ấm, lau rửa nhẹ nhàng, tránh làm vỡ bóng nước hay trầy xước da, thay quần áo sạch hàng ngày. Cắt ngắn móng tay để giảm tổn thương da do gãi ngứa. Cho ăn uống đầy đủ dưỡng chất và nhu cầu, cho trẻ uống nhiều nước như nước sôi để nguội, nước trái cây, nước canh, nước cháo…

Một điều phụ huynh cần lưu ý là, trẻ mắc bệnh không cần kiêng cữ gió và ánh sáng, không chọc vỡ bóng nước, không đắp lá cây vì sẽ gây nhiễm trùng da. Theo dõi diễn biến các tổn thương da niêm và tình trạng chung của trẻ. Cần đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế khi có những dấu hiệu bệnh nặng hơn như sốt cao, rối loạn tri giác, co giật, bóng nước có mủ, máu.

Đối với người chăm sóc trẻ mắc bệnh cần vệ sinh cá nhân như rửa tay thường xuyên. Rửa sạch các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi có thể nhiễm virus bằng nước và xà phòng, rồi khử trùng bằng chloramin B 5%.
Thanh Châu
Theo Vnmedia
Bộ Y tế vừa ban hành hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh tay - chân - miệng (TCM). Theo đó, ổ dịch TCM được ghi nhận từ hai ca lâm sàng trở lên, với ít nhất một ca được phòng xét nghiệm xác định dương tính, trong thời gian bảy ngày.

Bộ Y tế cho biết, tay-chân-miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhóm B và phải thực hiện cơ chế giám sát, thông tin, báo cáo theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm; quy chế thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm gây dịch.

Bệnh TCM chưa có vaccine và thuốc điều trị đặc hiệu. Do đó, nguyên tắc phòng chống dịch quan trọng là phát hiện sớm và cách ly ngay các trường hợp mắc, không để lây lan ra cộng đồng, thực hiện tốt vệ sinh cá nhân và môi trường, khử trùng dụng cụ sinh hoạt, nhà vệ sinh bị nhiễm chất tiết và bài tiết của bệnh nhân TCM…

Việc điều trị được thực hiện đúng phác đồ đã được Bộ Y tế ban hành.

Bộ cũng lưu ý các biện pháp xử lý ổ dịch. Ở khu vực nhà trẻ, mẫu giáo, trẻ mắc bệnh không đến lớp ít nhất là 10 ngày kể từ khi phát bệnh và chỉ đến lớp khi hết loét miệng và các phỏng nước. Khi có từ hai trẻ trở lên trong một lớp bị mắc bệnh trong vòng 7 ngày, lớp được nghỉ học 10 ngày kể từ ngày khởi bệnh của ca cuối cùng để cắt đứt đường lây truyền.

Tại gia đình, bệnh nhân phải được cách ly. Khi có các biểu hiện biến chứng thần kinh hoặc tim mạch như rung giật cơ, đi loạng choạng, ngủ gà gật, yếu liệt chi, mạch nhanh, sốt cao ( từ 39,5 độ C), thì phải đến ngay cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.

Bệnh nhân đeo khẩu trang khi tiếp xúc với người khác; che miệng khi ho, hắt hơi và giữ khoảng cách khi nói chuyện, không để virus lây lan sang người khác. Phân và chất thải của bệnh nhân phải được khử trùng bằng chloramin B;

Tại các cơ sở điều trị bệnh nhân, cán bộ y tế phải áp dụng biện pháp phòng ngừa lây nhiễm qua đường tiếp xúc để phòng ngừa lây lan trong bệnh viện.

Cần tuyên truyền cho cộng đồng nâng cao nhận thức, đặc biệt là phụ huynh học sinh, người làm công tác hậu cần ở nhà trường các kiến thức về đường lây truyền, vệ sinh cá nhân, cách ly bệnh nhân và các biện pháp phòng chống bệnh TCM.

* Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh tay - chân - miệng
(Theo Nhân dân)
(Dân trí) - Bệnh thường xảy ra vào 2 khoảng thời gian (tháng 1-3 và từ tháng 9-12) nhưng năm nay lại bùng phát ở cuối tháng 6 với lứa tuổi mắc phổ biến là dưới 4 tuổi.


Biểu hiện

Ban đầu là sốt nhẹ, chán ăn, đau họng, chảy nước miếng nhiều, nổi ban có bóng nước.

Nếu thấy bệnh chuyển thành sốt cao, ói nhiều, dễ giật mình, hoảng hốt, run tay chân, chới với, mạch nhanh không tương ứng với nhiệt độ thân người thì cần cho trẻ nhập viện ngay..

Những bóng nước trong miệng thường thấy ở lợi, lưỡi và mặt trong của má. Những chấm đỏ xuất hiện 1 - 2 ngày sau khi sốt, tiến triễn thành bóng nước và vở ra thành vết loét. Bóng nước cũng xuất hiện ở da mà thường thấy ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, còn ở mông và gối thì ít hơn.

Loét miệng hầu như là bệnh TCM, bóng nước hoàn toàn khác với thủy đậu, thuỷ đậu thì có ở khắp nơi trên cơ thể. Bệnh TCM cũng dễ bị chẩn đoán lầm là bệnh viêm phổi, nhiễm trùng huyết hay bệnh dại, tổn thương khớp…do đó cần chẩn đoán sớm, để giảm thiểu biến chứng.

Bệnh lây truyền như thế nào?

Khả năng lây bệnh cao nhất trong vòng một tuần lễ đầu của bệnh. Bệnh lây qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết bóng nước, chất tiết đường hô hấp.

Dịch bệnh thường dễ lây lan do trực tiếp tiếp xúc giữa các trẻ trong nhà trẻ mẫu giáo, các nơi chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Bệnh cũng lây qua tiếp xúc gián tiếp từ các bề mặt  bị nhiễm vi rút như đồ chơi, sàn nhà, bàn ghế, tay nắm cửa, ly chén, nắm tay…

Phần này chủ yếu do người nuôi giữ trẻ vệ sinh không đúng cách, trẻ sử dụng chung đồ chơi hay do môi trường bị nhiễm bẩn.
Cũng có dạng lây khác qua đường phân-miệng do thức ăn, nước uống nhiễm vi rút nhưng không phổ biến.

Cách xử trí

Chăm sóc trẻ tại nhà nếu không có dấu hiệu nặng, giảm đau hạ sốt bằng thuốc Paracetamol. Cần tìm hiểu xem môi trường lân cận có ai mắc bệnh không, cách ly trẻ bệnh trong khoảng 7 ngày.

Nghỉ ngơi, hạn chế vận động, tăng cường dinh dưỡng cho thức ăn lõng-mềm, vệ sinh răng miệng-thân thể, tránh không làm bể các bóng nước để tránh nhiễm trùng.

Nhập viện kịp thời khi trẻ xuất hiện các dấu hiệu: trẻ khó ngũ quấy khóc liên tục, giật mình lúc thức hay nói nhảm, hoảng hốt lúc thiu thiu ngũ, sốt cao các chi run và co giật, nôn ói nhiều.  

“Hiện nay vẫn chưa có vắc xin phòng bệnh, nên cần thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh phòng, chống bệnh”, BS Trương Hữu Khanh và Nguyễn Đắc Thọ, Phó Giám đốc trung tâm y tế dự phòng TPHCM khẳng định.

Phòng ngừa

Rửa tay: thường xuyên rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, nhất là trước, sau khi  nấu ăn và sau khi đi tiêu. Lưu ý rửa tay sạch sau mỗi lần vệ sinh cho trẻ.

Rửa sạch các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi có thể nhiễm virus, bằng nước xà phòng, hay khử trùng bằng cloramin B 5%.                    

Ăn thức ăn nấu chín, uống nước đun sôi, vệ sinh khử trùng nơi trẻ bị bệnh và môi trường chung quanh.

Ngọc Thanh
Hiện nay, bệnh “tay, chân, miệng” đã và đang xảy ra tại một số địa phương. Nguyên nhân gây bệnh là do enterovirus 71. Sau đây là một số hiểu biết cơ bản về bệnh “tay, chân, miệng” và cách phòng chống.

Một số hiểu biết cơ bản về bệnh “tay, chân, miệng”

Bệnh tay, chân, miệng do virus entero phân bố khá phổ biến trên thế giới, bệnh thường xảy ra ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Bệnh đã xảy ra ở nhiều nước trên thế giới. Các vụ dịch do enterovirus đã được ghi nhận tại Đài Loan, Trung Quốc (1998), Malaysia (1997). Bệnh xảy ra chủ yếu ở trẻ em. Biểu hiện bệnh ở nam rõ rệt hơn ở nữ.

Bệnh có biểu hiện sốt, sưng miệng, nổi ban có bọng nước. Bệnh thường bắt đầu bằng sốt nhẹ, kém ăn, mệt mỏi và sưng họng. 1-2 ngày sau có những chấm đỏ có bọng nước rồi vỡ thành vết loét. Các vết này thường nằm ở lưỡi, lợi và bên trong má. Các tổn thương trên da cũng xuất hiện sau 1-2 ngày, biểu hiện là các vết đỏ, có thể có bọng nước, không ngứa và thường nằm ở lòng bàn tay, gan bàn chân. Bệnh tay, chân, miệng hoàn toàn khác với bệnh chân và miệng (còn gọi là bệnh lở mồng long móng) ở trâu, bò, cừu và lợn. Mặc dù nhiều người nhầm hai bệnh với nhau do tên gần giống nhau nhưng bệnh do 2 loại virus hoàn toàn khác nhau gây nên.

Bệnh thường có biểu hiện lâm sàng nhẹ, khỏi bệnh sau 7-10 ngày. Hiếm khi xảy ra biến chứng, tuy nhiên cũng có trường hợp nặng có biểu hiện viêm màng não với các triệu chứng sốt, đau đầu, cứng cổ hoặc đau lưng. Rất hiếm khi có biến chứng viêm não hoặc liệt mềm cấp.

Bệnh do nhóm virus đường ruột gây nên. Loại virus thường gây bệnh nhất là coxsackievirus A16, đôi khi bệnh gây ra bởi enterovirus 71 hoặc các týp enterovirus khác. Dịch đang xảy ra ở một số tỉnh ở nước ta hiện nay, theo kết quả xét nghiệm của Viện Pasteur TP.HCM đã khẳng định do enterovirus 71.

Bệnh tay, chân, miệng là bệnh truyền nhiễm. Bệnh lây từ người sang người do tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, dịch tiết của mũi, họng, dịch của các bọng nước khi vỡ, hoặc qua đường phân-miệng. Khả năng lây truyền cao nhất trong vòng 1 tuần đầu kể từ khi mắc bệnh, tuy nhiên người ta thấy virus vẫn được đào thải qua phân nhiều tuần sau đó. Người ta tìm thấy virus tồn tại trong nước, đất, rau. Người cũng có thể mắc bệnh do ăn phải thức ăn, nước uống bị nhiễm virus.

Đến nay vẫn chưa có thuốc kháng virus đặc hiệu điều trị bệnh. Chủ yếu là các biện pháp điều trị triệu chứng để hạ sốt, giảm đau do các vết loét gây nên và điều trị các biến chứng nếu có.

Các biện pháp phòng chống

Đến nay vẫn chưa có biện pháp dự phòng đặc hiệu, nhưng nguy cơ lây nhiễm có thể giảm đáng kể nếu thực hiện tốt các biện pháp sau:

1. Vệ sinh cá nhân như rửa tay thường xuyên, đặc biệt sau mỗi lần thay tã cho trẻ.

2. Rửa sạch các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi có thể nhiễm virus bằng nước và xà phòng, rồi khử trùng bằng chloramin B 5%.

3. Hạn chế tối đa tiếp xúc trực tiếp như hôn, sử dụng chung các dụng cụ với trẻ bị bệnh hoặc người bệnh và áp dụng một số biện pháp hạn chế bệnh lây truyền theo đường phân, miệng khác như ăn chín, uống sôi.

4. Cách ly bệnh nhân, trẻ bị bệnh trong vài ngày đầu mắc bệnh cũng có thể làm giảm đáng kể khả năng lây nhiễm.

Bạn hãy nhớ rửa tay khi:

Trước, sau khi nấu ăn, và chuẩn bị thức ăn.

Trước khi ăn, sau khi đi đại tiện, tiểu tiện.

Khi tay bẩn.

Phải rửa tay thường xuyên khi trong gia đình có người ốm, bệnh.

Cách rửa tay đúng:

Đầu tiên làm tay ướt toàn bộ và dùng dung dịch xà phòng hoặc xà phòng bánh. Đặt bánh xà phòng vào giá, để ráo nước và khô.

Cọ, xoa 2 bàn tay vào nhau kỹ và bảo đảm rửa hết các kẽ ngón tay, mong tay.

Tiếp tục cọ rửa kỹ trong 10-15 giây. Cọ rửa kỹ và xà phòng sẽ giúp diệt và loại bỏ hết các mầm bệnh bám dính trên tay.

Xả nước kỹ và lau khô hoặc sấy khô tay.

Các bước lau rửa sạch các dụng cụ, bề mặt và khử trùng:

Phải dùng găng tay cao su khi lau dọn chất nôn, phân, đặc biệt khi tay bạn có vết xước hoặc gia đình bạn có người bệnh.

Đầu tiên, lau các bề mặt (mặt bàn, mặt ghế, sàn nhà) bằng xà phòng và nước hoặc các chất tẩy rửa khác.

Sau khi lau sạch, bạn có thể dùng hóa chất khử trùng như dung dịch chloramin B 5% thoa đều trên các bề mặt đó và giữ trong vài phút. Thao tác này giúp cho mầm bệnh tiếp xúc với hóa chất khử trùng lâu hơn.

Lau lại các bề mặt bằng khăn giấy dùng một lần hoặc khăn bàn. Nếu dùng khăn bàn phải giặt khăn sau khi sử dụng.

Để các dụng cụ lau và tiệt trùng xa khỏi tầm tay trẻ em.

Luôn luôn, thậm chí ngay cả khi bạn dùng găng tay, bạn nên rửa tay sau mỗi lần lau rửa và khử trùng.

(Theo SK&ĐS)
Việt Báo (Theo_24h)
-------------------------------------
Cách phòng ngừa bệnh tay chân miệng
Các sản phẩm như bình bú, núm vú, ca uống nước Mummy Nano Silver và đặc biệt là nước xịt khử trùng vệ sinh đồ chơi Mummy Natoys cho bé của hãng Mummy bear là một trong những biện pháp có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tay chân miệng ở trẻ em hiện nay.

Hiện, dịch chân tay miệng bùng phát ở nhiều nơi đang khiến các bậc cha mẹ và người chăm sóc trẻ lo lắng.

Theo TS Nguyễn Huy Nga, Cục Truởng Cục Y tế dự phòng và môi trường (Bộ Y tế), trong 4 tháng đầu năm nay, đã có khoảng 3.000 ca chân tay miệng, với 10 trẻ tử vong.


Nhãn của sản phẩm Mummy Natoys
Số trẻ em mắc bệnh tay chân miệng ở bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Nhi Đồng 1 và Nhi Đồng 2 (TP Hồ Chí Minh) đang có xu hướng tăng cao, có ngày lên tới 20 đến 50 trẻ phải nhập viện.

Bệnh tay chân miệng do vi rút EV71 gây nên và có khả năng lây lan rất nhanh qua tiếp xúc trực tiếp. Trong các đợt dịch có thể lây lan từ trẻ này sang trẻ khác qua đường tiêu hoá từ phân, nước, thực phẩm, các đồ dùng, đồ chơi, tã lót, quần áo của trẻ.

Bệnh này thường gặp ở trẻ nhỏ từ 6 tháng đến 3 tuổi, đặc biệt là các cháu đang đi nhà trẻ, mẫu giáo. Trẻ mắc bệnh này thường gặp những biến chứng nặng liên quan đến hệ thần kinh như viêm não (chiếm tới 50 % theo thống kê của bệnh viện Nhi đồng 1) và dẫn đến tử vong nhanh. Có cháu chỉ sốt có 2 ngày rồi chuyển sang viêm não trước khi xuất hiện những dấu hiệu đặc trưng của bệnh là nổi các nốt hồng ban trên tay - chân - miệng.

Khi đang bệnh, trẻ vẫn cần được tắm rửa bằng nước ấm. Khi trẻ có những dấu hiệu bệnh nặng hơn như sốt cao, rối loạn tri giác, co giật, bọng nước có mủ, máu cần đưa ngay đến cơ sở y tế.

Đến nay, bệnh tay chân miệng chưa có thuốc kháng vi rút đặc hiệu và chưa có vacxin phòng bệnh. Chủ yếu là điều trị triệu chứng để hạ sốt, giảm đau do các vết loét gây nên và điều trị các biến chứng nếu có.


Nước xịt khử trùng vệ sinh đồ chơi Mummy Natoys
Tuy nhiên, nguy cơ lây nhiễm có thể giảm đáng kể nếu thực hiện tốt các biện pháp sau như: Vệ sinh cá nhân như rửa tay thường xuyên sau mỗi lần đi vệ sinh, thay tã lót cho trẻ, trước và sau nấu ăn, chuẩn bị đồ ăn; rửa các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi có thể nhiễm vi rút bằng nước xà phòng, rồi khử trùng bằng chloramin 5 %; hạn chế tối đa tiếp xúc trực tiếp như hôn, sử dụng các dụng cụ với trẻ bị bệnh; áp dụng các biện pháp hạn chế bệnh lây lan theo đường tiêu hoá (phân - miệng) như ăn chín, uống sôi, vệ sinh dụng cụ ăn uống, vệ sinh an toàn thực phẩm; cách ly trẻ bị bệnh trong những ngày đầu mắc bệnh cũng có thể làm giảm khả năng gây bệnh.

Để tiết kiệm thời gian thực hiện các khâu vệ sinh cho trẻ, nhiều bà mẹ đã và đang sử dụng các sản phẩm như bình bú, núm vú, ca uống nước Mummy Nano Silver, nước xịt khử trùng vệ sinh đồ chơi Mummy Natoys… của Hãng Mummy bear.

Phía nhà cung cấp khẳng định: “Với việc ứng dụng công nghệ Nano Silver, các sản phẩm được tráng phủ lớp Nano bạc có tác dụng diệt khuẩn cao, phòng chống các bệnh tiêu hoá và bệnh truyền nhiễm”. Sản phẩm đã được Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Y tế, Vinacontrol cấp giấy chứng nhận là sản phẩm vệ sinh, an toàn.
Theo Vietnamnet
'Người lớn tiếp xúc trẻ bệnh tay chân miệng có thể lây virus'
Hai người mẹ ở Bến Tre có các triệu chứng bệnh tay chân miệng, nghi lây từ con sau những ngày chăm sóc bé ốm. Chưa xét nghiệm cụ thể để kết luận, song các bác sĩ cho rằng người lớn có thể bị lây nhiễm virus tay chân miệng.

Ông Nguyễn Văn Thắng, Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Bến Tre cho biết, bệnh tay chân miệng đang lan nhanh trên địa bàn. Từ đầu năm đến nay, Bến Tre ghi nhận trên 660 ca nhiễm tay chân miệng, một trẻ tử vong.
Vài ngày sau khi chăm sóc con mắc bệnh tay chân miệng, mẹ của hai em bé ở Bến Tre bắt đầu trở sốt rồi xuất hiện bóng nước ở lòng bàn tay và chân.

Căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng, những bác sĩ chuyên khoa nhiễm tại bệnh viện Bến Tre cho rằng, khả năng hai người mẹ mắc tay chân miệng là rất cao. Song ngành y tế tỉnh vẫn chưa thực hiện các xét nghiệm để khẳng định chính xác bệnh nhân có bị bệnh tay chân miệng hay không.

Như vậy hiện cả nước có 4 bệnh nhân lớn với các triệu chứng nghi ngờ bị tay chân miệng. Hai người kia ở Đà Nẵng và Quảng Ngãi, đang chờ kết quả xét nghiệm mẫu từ Viện Pasteur để có kết luận chính thức.
----------------------------------
Nhiều người lớn lây virus tay chân miệng từ trẻ
Sáng nay Viện Pasteur Nha Trang công bố kết quả xét nghiệm cho thấy 5 trường hợp thân nhân trẻ mắc bệnh tay chân miệng ở Ninh Thuận và Quảng Ngãi dương tính với Enterovirus 71 (EV71) và Enterovirus (EV).

Làm việc với tỉnh Quảng Ngãi sáng nay, ông Viên Quang Mai, Phó Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang cho biết vừa có kết luận xét nghiệm 5 mẫu bệnh phẩm dương tính với Enterovirus và Enterovirus 71 ở "người lành" là thân nhân của trẻ mắc bệnh tay chân miệng. Trong đó, tỉnh Ninh Thuận có 3 trường hợp dương tính với Enterovirus 71, Quảng Ngãi 2 người dương tính với Enterovirus.

Các chuyên gia y tế lo lắng, khó khăn nhất hiện nay là người lớn mặc dù dương tính với Enterovirus và Enterovirus 71 nhưng không biểu hiện gì ra bên ngoài. Do vậy, họ có thể mang mầm bệnh đi xa, lây lan bệnh trong cộng đồng khó kiểm soát.

Ông Mai nhận định, tình hình dịch bệnh tay chân miệng ở khu vực miền Trung diễn biến bất thường. Số mẫu xét nghiệm dương tính với Entervirus 71 nguy hiểm miền Trung trội hơn nhiều so với những năm trước nên tỷ lệ tử vong cũng cao hơn.

Các tỉnh miền Trung đã ghi nhận gần 8.920 ca mắc bệnh tay chân miệng, trong đó 9 bé tử vong. Viện Pasteur Nha Trang đã tiếp nhận hơn 600 mẫu bệnh phẩm nhưng chỉ mới xét nghiệm được 50% do ưu tiên một số địa phương mới phát hiện bệnh, bệnh diễn biến nặng và thiếu nguồn nhân lực.


Khoa Nhi, Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi quá tải với nhiều trẻ mắc bệnh tay chân miệng nhập viện. Ảnh: Trí Tín
Theo thống kê của Sở Y tế Quảng Ngãi, đến cuối tháng 9 toàn tỉnh có gần 5.800 bệnh nhân tay chân miệng, 5 ca tử vong, cao nhất miền Trung. Bệnh đã lây lan trên diện rộng 14/14 huyện với 166/184 xã, phường, thị trấn. Trẻ nhỏ nhất mắc bệnh là 3 tháng tuổi, lớn nhất 36 tuổi.

Hiện nay bệnh tay chân miệng ở Quảng Ngãi có chiều hướng tăng trở lại, tình hình bệnh diễn biến còn phức tạp do mầm bệnh lây nhiễm trong cộng đồng trên diện rộng. Cùng lúc, nhiều chủng virus gây bệnh: Enterovirus 71, Coxsackievirus A16, Enterovirus khiến việc dập dịch tay chân miệng gặp nhiều khó khăn. Theo ghi nhận của dịch tễ học, bệnh tay chân miệng thường xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm.

Trước tình hình này, UBND tỉnh Quảng Ngãi vừa quyết định bổ sung thêm 3,2 tỷ nâng tổng số tiền lên 12,5 tỷ đồng đầu tư mua trang thiết bị y tế, thuốc men... để tăng cường phòng chống dịch bệnh tay chân miệng. Ngành y tế Quảng Ngãi cũng lập đoàn kiểm tra, giám sát chặt vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, phun hóa chất khử trùng tại các trường mẫu giáo, mầm non, khu dân cư, khử khuẩn tại các nhà máy nước, trạm cấp nước tập trung...

Kiểm tra công tác phòng chống bệnh tay chân miệng ở Quảng Ngãi, Phó giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục y tế dự phòng và quản lý môi trường (Bộ Y tế) nhận định: "Sở dĩ bệnh tay chân miệng ở Quảng Ngãi tăng đột biến có thể do khu vực biến đổi khí hậu tạo điều kiện thuận lợi cho các chủng virus phát triển gây bệnh. Khó nhất trong công tác phòng chống dịch là chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chưa có văcxin, lan truyền qua đường vệ sinh cá nhân".

Để chặn đứng được dịch bệnh chân tay miệng, theo ông Nga, vai trò cá nhân trong chuyện gìn giữ, xử lý môi trường là hết sức quan trọng. Bản thân người dân, cha mẹ trong gia đình, giáo viên trường mầm non, mẫu giáo chăm sóc trẻ cần thường xuyên rửa tay, ý thức vệ sinh bằng xà phòng, xử lý tốt phân của trẻ mắc bệnh... thì mới mong dịch bệnh không lây lan ra cộng đồng.

Thống kê của Bộ Y tế, từ năm đầu đến nay, cả nước ghi nhận hơn 57.000 ca mắc tay chân miệng tại 61 địa phương, trong đó 111 ca tử vong chủ yếu xảy ra ở trẻ nam (hơn 70%), dưới 3 tuổi (chiếm gần 80%). Bệnh cũng đang lây lan ở Hà Nội lấy đi sinh mạng một em bé khiến nhiều phụ huynh hoang mang lo lắng, đổ xô đưa con đi khám.


Chăm sóc trẻ mắc bệnh tay chân miệng, người lớn có thể mang virus gây bệnh. Ảnh: Trung Hào.
Trao đổi với VnExpress.net, các bác sĩ khoa vi sinh miễn dịch Viện Pasteur TP HCM cho biết cần phải thực hiện những xét nghiệm cụ thể nếu muốn khẳng định bệnh nhân có mắc tay chân miệng hay không.

"Theo các tài liệu y khoa trên thế giới, từ trước đến nay bệnh tay chân miệng thường xuất hiện ở trẻ dưới 5 tuổi. Điều này không có nghĩa là bé lớn hơn hoặc người lớn thì không bị virus tấn công và gây bệnh", một bác sĩ nói.

Tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, TP HCM, từ đầu năm đến nay đã có hai trường hợp trẻ 11 tuổi và 13 tuổi nhập viện tình trạng nặng, trong đó em 13 tuổi tử vong. Cuối tháng 6, các bác sĩ Trung tâm Y tế dự phòng thành phố phải cảnh báo phụ huynh không được chủ quan khi thấy trẻ lớn có dấu hiệu sốt và nổi bóng nước.

Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng khoa Nhiễm - Thần Kinh, Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho biết, tay chân miệng là bệnh do virus gây nên, có thể lây lan qua tiếp xúc. Như vậy, khi người lớn tiếp xúc với virus gây bệnh thì bản thân cũng đã mang mầm bệnh. Chỉ có điều các thống kê từ trước đến nay cho thấy, trên cơ thể người lớn, virus này ít gây nên triệu chứng sốt, nổi bóng nước và biến chứng như ở trẻ con.

Ông Đỗ Kiến Quốc, khoa y tế công cộng Viện Pasteur TP HCM, cho rằng việc nghiên cứu chủng virus, sự thay đổi độ tuổi mắc bệnh, là rất cần thiết cho công tác phòng chống dịch. Muốn làm điều này cần phải lấy mẫu đều trong mỗi năm để nghiên cứu thì mới có thể đánh giá sự thay đổi của bệnh.

Còn các bác sĩ chuyên khoa Nhiễm cũng cho rằng, để xác định bệnh tay chân miệng có gây bệnh cho người lớn không cần phải theo dõi một thời gian từ các bệnh viện.

Tiến sĩ Trần Ngọc Hữu, Viện trưởng Viện Pasteur cho biết, tính từ đầu năm đến nay , 20 tỉnh thành phía Nam đã có 17.651 ca mắc bệnh tay chân miệng với 59 ca tử vong.

"Bệnh tay chân miệng trở thành vấn đề nóng cần được quan tâm", ông Hữu nói.
Theo Vnexpress
Dù ngành y tế Quảng Ngãi đã triển khai quyết liệt trong công tác phòng chống bệnh tay - chân - miệng, nhưng có thời điểm Quảng Ngãi trở thành “điểm nóng” về bệnh này ở khu vực miền Trung? Vì sao lại như vậy?

Giãn bệnh nhân để điều trị bệnh tay - chân - miệng
Theo thống kê của ngành y tế Quảng Ngãi, tính từ đầu năm đã ghi nhận 1.760 ca mắc tay - chân - miệng (chỉ đứng sau TP. HCM). Trong đó có 5 ca tử vong đã cho thấy bệnh tay - chân - miệng diễn biến rất phức tạp, đặc biệt số bệnh nhân tay - chân - miệng độ 3, độ 4 ở mức nguy hiểm đến tính mạng của trẻ chiếm khá nhiều. Bệnh tay - chân - miệng được ghi nhận tại 13/14 huyện, thành phố, 131/184 xã, phường, thị trấn. 100% xã của các huyện đồng bằng tỉnh Quảng Ngãi đều có ca bệnh. Các địa phương có số trường hợp mắc bệnh cao như huyện Tư Nghĩa, TP. Quảng Ngãi, Sơn Tịnh, Bình Sơn… Đã có 10 mẫu dương tính, trong đó có 8 mẫu dương tính với Enterovirus 71 và 2 mẫu dương tính với Coxsackievvirus A 16. BS. Nguyễn Tấn Phụ, Trưởng Khoa Nhi - Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi cho biết: Từ đầu tháng 4 đến nay đã có gần 870 trường hợp mắc bệnh tay - chân - miệng, Khoa Nhi đã thu dung điều trị khoảng 700 ca. Riêng trong những ngày cuối tháng 6 đầu tháng 7, mỗi ngày, khoa tiếp nhận từ 40-60 ca. Tuy chỉ có 85 giường bệnh nhưng có thời điểm số bệnh tay - chân - miệng đang nằm tại đây là 291 ca. Vì vậy, gần như toàn bộ khu vực hành lang của khoa đã trở thành giường nằm cho bệnh nhân và người nhà. Thuốc điều trị không thiếu, thế nhưng do số lượng bệnh quá đông; trong khi đó nhân lực của khoa chỉ có 8 bác sĩ và 22 điều dưỡng, cộng với 3 điều dưỡng được tăng cường thêm là quá ít, nên hiện tất cả gần như đã kiệt sức. Để giảm tải, Khoa Nhi đã đề nghị Ban giám đốc bệnh viện cho phép chuyển những ca bệnh khác như: tiêu chảy, sốt siêu vi…qua điều trị tại Khoa Nhiệt đới. Một số trường hợp mắc bệnh thông thường thì kê đơn cho về nhà, cứ sau 2 ngày đến tái khám một lần.

Trăm dâu đổ đầu... y tế

Thời gian qua, hệ thống y tế dự phòng của tỉnh Quảng Ngãi đã chủ động tư vấn, hướng dẫn và cấp 1.500kg cloramin B 2% cho 350 trường mầm non, mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ gia đình và hộ gia đình để xử lý môi trường, lau rửa nền nhà, vật dụng sinh hoạt, đồ chơi của trẻ. Tổ chức thực hiện hơn 200 đợt phun hóa chất xử lý môi trường, khử khuẩn bề mặt và hướng dẫn khử khuẩn các vật dụng, đồ chơi tại các nhà trẻ, trường mầm non, mẫu giáo có ca bệnh hoặc có nguy cơ cao và các bệnh viện, phòng khám tư nhân định kỳ 2 lần/tuần…

Tuy nhiên, dù các biện pháp phòng chống bệnh tay - chân - miệng đã được triển khai ở hầu hết các địa phương, các bệnh viện tuyến huyện đã thực hiện nghiêm túc việc thu dung, điều trị nhưng có thực tế là vẫn còn nhiều địa phương chưa tích cực, chủ động kinh phí, huy động hệ thống chính trị vào cuộc phòng chống dịch, còn khoán trắng cho ngành y tế.
Một số bệnh viện tuyến huyện chưa thực hiện tốt việc tư vấn, hướng dẫn, động viên các gia đình có trẻ mắc bệnh ở mức độ nhẹ an tâm ở lại tuyến huyện điều trị, nhằm giảm tải tình trạng quá tải của BVĐK tỉnh để hạn chế việc lây lan mầm bệnh từ địa phương này sang địa phương khác. Để khoanh vùng dập dịch, y tế Quảng Ngãi đã tập trung nhân lực, vật lực, tài lực cho công tác phòng, chống dịch. Sở Y tế đã cấp bổ sung đầy đủ thuốc, vật tư phục vụ công tác xử lý ổ dịch, điều trị cho các đơn vị y tế tuyến huyện và điều động thêm 2 máy thở trẻ em từ Bệnh viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện Đặng Thùy Trâm tăng cường cho Khoa Nhi của BVĐK tỉnh.

ThS. Nguyễn Tấn Đức - Phó Giám đốc Sở Y tế Quảng Ngãi cho biết: Theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Y tế đã lập đoàn tiến hành kiểm tra, giám sát các địa phương có nhiều trường hợp nhiễm bệnh, xử lý môi trường, tổ chức phun hóa chất; đồng thời tiếp tục chỉ đạo các địa phương triển khai mạnh các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều hình thức, thường xuyên thông tin, hướng dẫn cho người dân về các biện pháp phòng ngừa và phát hiện bệnh. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là người dân cần chủ động hơn trong việc phòng chống bệnh, nhất là ý thức vệ sinh cá nhân, môi trường xung quanh của người dân sẽ góp phần làm hạn chế nguy cơ bùng phát và lây lan của bệnh ra cộng đồng.
NGỌC MINH
Theo SKĐS
Ngày 20/7, ông Trần Thanh Dương, Cục phó Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) dẫn đầu đoàn công tác của Cục và Viện Pasteur Nha Trang đã có buổi làm việc với Sở Y tế Quảng Ngãi và các đơn vị liên quan về tình hình bệnh tay chân miệng trên địa bàn.

Theo báo cáo của Sở Y tế Quảng Ngãi, đến ngày 20/7, Quảng Ngãi ghi nhận gần 2.900 ca bệnh tay chân miệng, trong đó có năm trường hợp tử vong.

Bệnh xuất hiện tại tất cả 14 huyện, thành phố, 144 trong tổng số 184 xã, phường thị trấn. Bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm trẻ từ 3 tuổi trở xuống, chiếm khoảng 70%.

Đến nay, trong 43 mẫu bệnh gửi Viện Pasteur Nha Trang xét nghiệm phân lập virus gây bệnh đã có 13 mẫu dương tính với enterovirus 71 và bốn mẫu dương tính với Coxsackievirus A 16.

Bệnh tăng trong tháng Sáu và giảm nhẹ trong đầu tháng Bảy. Tuy nhiên, theo ghi nhận của Viện Pasteur Nha Trang, tỉnh Quảng Ngãi đứng đầu khu vực miền Trung-Tây Nguyên về số ca mắc bệnh.

Sở Y tế Quảng Ngãi đã đề nghị Bộ Y tế tổ chức hội thảo rút kinh nghiệm điều trị và phác đồ điều trị cụ thể của bệnh tay chân miệng, đồng thời xác định rõ đường lây truyền của bệnh để có phương pháp phòng bệnh hiệu quả.

Quảng Ngãi cũng đề nghị được cấp thêm 15 máy phun và 2.000kg Cloramin B để xử lý nước sinh hoạt tại cộng đồng trong thời gian tới nhằm hạn chế tình trạng lây lan của bệnh, nhanh chóng xử lý, cô lập bệnh, tránh xảy ra dịch kép bệnh tay chân miệng và dịch sốt xuất huyết xảy ra theo chu kỳ vào tháng 10, 11 và 12.

Đại diện Cục y tế dự phòng đánh giá dịch xảy ra tại Quảng Ngãi khá cao, cường độ dịch lớn, diện rộng khoảng 75% số xã phường thị trấn đều có dịch, nguy cơ bùng phát dịch cao vì mầm bệnh có thể đã phát tán trong cộng đồng, nguy cơ bùng phát trong thời gian tới là rất lớn. Do đó tỉnh Quảng Ngãi cần tập trung kiến quyết dập dịch, nhất là các huyện miền núi, cập nhật kiến thức phòng chống bệnh tay chân miệng cho cán bộ y tế cơ sở.

Nếu tình hình diễn biến của dịch có chiều hướng xấu, Cục Y tế dự phòng đề nghị Sở Y tế Quảng Ngãi nhanh chóng báo cáo với lãnh đạo tỉnh để có chỉ đạo xử lý kịp thời, đề nghị ngành giáo dục phối hợp trong công tác phòng chống bệnh, chú ý xử lý ở các nhóm trẻ gia đình, nhà trẻ, khu vui chơi đông người. Vì bệnh lây qua đường tiêu hóa nên cần chú ý công tác vệ sinh an toàn thực phẩm.

Theo đại diện Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế sẽ tổng kết toàn quốc vào cuối năm và đề nghị Quảng Ngãi có báo cáo khoa học về bệnh tay chân miệng để có cơ sở đánh giá bệnh.

Cũng liên quan đến dịch bệnh tay chân miệng, bác sỹ Tô Đức Sinh, Giám đốc Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Bình Phước cho biết tính đến ngày 19/7, toàn tỉnh Bình Phước đã phát hiện 102 trẻ em bị mắc bệnh tay chân miệng. Trong đó, địa phương có số người bị bệnh nhiều nhất là huyện Bù Đăng với 16 trường hợp, Lộc Ninh 15 trường hợp.

Trước tình hình bệnh tay chân miệng đang có chiều hướng diễn biến phức tạp và nguy cơ bùng phát thành những ổ dịch, Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Bình Phước đã khuyến cáo và tuyên truyền sâu rộng công tác phòng chống bệnh tay chân miệng, đặc biệt là phổ biến cho các nhà trẻ, trường mầm non, nếu có trẻ nào bị nhiễm thì ngay lập tức phải thực hiện các biện pháp cách ly tại hộ gia đình để chăm sóc và theo dõi diễn biến của bệnh.

Các trung tâm y tế huyện phối hợp với ngành giáo dục làm tốt công tác vệ sinh môi trường ở các nhà trẻ, mẫu giáo để hạn chế lây lan và phát triển dịch bệnh. Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Bình Phước cũng đang xây dựng kế hoạch cụ thể để ngăn chặn nguy cơ bùng phát bệnh tay chân miệng tại địa phương./.
--------------------------
Khoa Nhi Bệnh viện đa khoa tỉnh hiện có 85 giường bệnh. Thế nhưng, thời điểm hiện tại đang có 275 bệnh nhi đang điều trị, trong đó phần lớn là mắc bệnh tay chân miệng với 178 trường hợp. Bệnh viện đã quá tải đến 300%. Thời tiết nắng, cộng với sự chật chội và tâm lý lo lắng của người thân nên việc điều trị, chăm sóc các cháu rất căng thẳng.

Theo thống kê của khoa Nhi, Bệnh viện đa khoa tỉnh, từ đầu tháng 5 đến ngày 3-6, khoa đã tiếp nhận và điều trị cho 333 bệnh nhi bị bệnh tay- chân- miệng. Số bệnh nhi khỏi bệnh và ra viện là 164 cháu, có hai cháu đã tử vong. Hiện khoa đang điều trị cho 187 cháu và có thể tiếp tục tăng lên.

Mỗi ngày khoa nhi tiếp nhận gần chục trường hợp. Đặc biệt, trong ngày 1-6, khoa đã tiếp nhận 43 ca và ngày 2-6 tiếp nhận 41 trường hợp phải nhập viện. Bệnh tay chân miệng đã và đang lây lan nhanh tại 11/14 huyện thành phố trong tỉnh. Trong đó nhiều nhất là thành phố Quảng Ngãi với 110 ca; Sơn Tịnh 71 ca; Tư Nghĩa 52 ca…

Bác sĩ Nguyễn Tấn Phụ, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi cho biết: Sau thời gian phát hiện và bùng phát đã xảy ra hai trường hợp tử vong do bệnh tay chân miệng, nên người dân rất hoang mang. Đây là loại bệnh đầu tiên xuất hiện ở tỉnh Quảng Ngãi nên Bệnh viện tuyến huyện không có kinh nghiệm và điều kiện điều trị nên bệnh nhân được chuyển toàn bộ lên tuyến tỉnh, gây cho khoa nhi quá tải.

Hiện tại, phần lớn các ca bệnh đang được điều trị tại bệnh viện đều trong tình trạng nhẹ. Có bốn cháu tình trạng bệnh nặng hơn, ở giai đoạn cấp độ 2 đang được cách ly điều trị tích cực. Vì bệnh nhân khá đông nên công tác theo dõi điều trị gặp khó khăn. Lãnh đạo khoa đã điều động tổng lực nhân viên của khoa theo dõi chăm sóc bệnh nhân. Nửa tháng qua, khoa đã huy động toàn bộ lực lượng với 19 điều dưỡng chuyên môn và tăng cường thêm hai điều dưỡng từ khoa khác sang phục vụ chăm sóc các cháu đang nằm điều trị tại khoa nhi.

Tuy vậy, số bệnh nhân liên tục tăng, khiến nhu cầu chăm sóc có khả năng phải yêu cầu phương án hỗ trợ từ các khoa khác. Bện cạnh đó, để giải quyết tình hình, khoa nhi đã đề nghị Ban giám đốc Bệnh viện cho phép chuyển những ca bệnh khác như tiêu chảy, sốt siêu vi qua điều trị tại khoa nhiệt đới. Một số trường hợp mắc bệnh thông thường thì kê đơn cho về nhà, cứ sau hai ngày đến tái khám một lần…

Để tránh tình trạng hoang mang của các bậc phụ huynh và tăng cường công tác phòng bệnh, Bác sĩ Nguyễn Tấn Phụ khuyến cáo, đây là bệnh do vi rút gây ra và lây qua đường tiêu hóa, trong khi trẻ em hay thích ngậm mút đồ chơi, ngón tay nên bệnh rất dễ lây lan. Các nhà trẻ và phụ huynh khi chăm sóc con nhỏ cần vệ sinh thường xuyên vệ sinh các vật dụng của trẻ như đồ chơi, vệ sinh thân thể sạch sẽ sẽ tránh được nguy cơ mắc bệnh và lay lan. Bệnh tay chân miệng là do vi rút gây ra nên y học chưa có thuốc đặc trị, chỉ có thể theo dõi điều trị khi xảy ra các biến chứng như viêm màng não, suy tim... dễ dẫn đến tử vong sau 24-48 giờ đồng hồ. Tuy nhiên, với căn bệnh tay chân miệng thì cần theo dõi điều trị từ 7-10 ngày là có thể xuất viện.

Trong thời gian điều trị, người nhà không được tự ý đưa bệnh nhân về nhà, vì bệnh này có thể phát triển nhanh và dễ gây ra biến chứng dẫn đến tử vong trong thời gian ngắn. Hiện nay Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi đã có có pháp đồ và loại thuốc điều trị tích cực cho bệnh này là thuốc Gama globulin, với đơn giá khoảng 4,3 triệu đồng/hộp. Các bệnh nhi có bệnh ở độ 2 trở lên sẽ phải sử dụng loại thuốc này. Vì thế, các phụ huynh có con bị bệnh không nên hoang mang tạo tâm lý xấu với những trường hợp khác.
Ngừng thở lúc nhập viện, bé Lê Phi Tiến 5 tháng tuổi mắc bệnh tay chân miệng may mắn hồi sinh sau gần một tuần được các bác sĩ Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM cứu chữa.

Bác sĩ Phan Tứ Quý, Trưởng khoa Cấp cứu hồi sức và chống độc trẻ em, cho biết, bệnh nhi nhập viện ngày 21/7 trong tình trạng mạch và huyết áp bằng 0, toàn thân tím tái và có dấu hiệu ngưng thở.

"Bé thở máy nhưng gần 2 giờ đồng hồ vẫn tím tái toàn thân. Trước diễn tiến xấu, chúng tôi đã chọn giải pháp cuối cùng là lọc máu liên tục", bác sĩ Quý nói.


Bệnh nhi thoát hiểm sau hơn một tuần thở máy. Ảnh: Thiên Chương
Cũng theo bác sĩ Quý, sau gần 24 giờ đồng hồ lọc máu, bé chuyển biến tích cực song cứ ngưng lọc máu thì sức khỏe lại kém. Các biện pháp cấp cứu giúp vận mạch được tiến hành song song để khắc phục tình trạng phù phổi cấp. Phải đến 72 giờ sau, bệnh nhi mới bắt đầu có dấu hiệu sống.

Sáng nay bác sĩ Lê Quang Hùng, Phó giám đốc Sở Y tế Bình Định cho biết, trên địa bàn tỉnh đã có trẻ đầu tiên tử vong do bệnh tay chân miệng.

Đó là một bé trai 4 tuổi ở thôn Thanh Long, xã Phước Mỹ, thành phố Quy Nhơn. Ngày 30/7, cháu bé nhập viện đa khoa Bình Định trong tình trạng sốt cao, giật mình, nổi nốt ở chân tay, nhưng sức khỏe vẫn ổn định, chơi đùa bình thường.

Đến đầu giờ chiều hôm sau, bệnh biến chứng đột ngột gây viêm cơ tim cấp, phù phổi, bé qua đời rất nhanh.

“Tính đến hết tháng 7, tỉnh Bình Định ghi nhận 29 ca mắc bệnh tay chân miệng, trong đó có một trẻ đã tử vong. Hiện bệnh chỉ xuất hiện lẻ tẻ ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh”, ông Hùng cho biết thêm.

Sáng nay, sau hơn 10 ngày nhập viện, trong đó có 3 ngày tưởng đã chết và hơn 4 ngày phải thở máy, bé Tiến đã hoàn toàn bình phục.

Tiến sĩ - Bác sĩ Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Giám đốc bệnh viện cho biết, đây là ca mắc tay chân miệng nhỏ tuổi và nguy kịch nhất được cứu thoát tử thần trong số 165 bệnh nhi tay chân miệng nặng điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới tính từ đầu năm.

Cũng theo bác sĩ Châu, từ đầu năm đến nay, bệnh viện này tiếp nhận khoảng 1.600 trường hợp mắc tay chân miệng, trong đó có 7 ca tử vong. Tỷ lệ tử vong trong nhóm bệnh nặng là 4,2%. Hầu hết bệnh nhân nặng đều do nhập viện muộn, hoặc chuyển từ tuyến dưới lên sau khi đã điều trị bất thành.

Trường hợp bé Tiến, theo các bác sĩ cũng là nhập viện muộn vì bệnh đã sốt 3 ngày kèm co giật khoảng 12 giờ đồng hồ trước khi đi cấp cứu nhưng gia đình vẫn chủ quan không đưa đi cấp cứu.

Nhận định diễn biến bệnh tay chân miệng hiện khá phức tạp, bác sĩ Châu khuyên phụ huynh cần chú ý những triệu chứng bất thường của trẻ như sốt kéo dài, đặc biệt khi thấy trẻ có dấu hiệu giật mình, tay chân miệng có nổi bóng nước thì phải đưa đến bệnh viện khám ngay.

Tại TP HCM, các bệnh viện tiếp nhận bệnh nhi tay chân miệng gồm: Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Bệnh viện Nhi Đồng 2.

Dịch bệnh tay chân miệng đang bùng phát ở nhiều địa phương trên cả nước, gần 18.000 bệnh nhân, 60 trường hợp tử vong. Bệnh không có thuốc đặc trị, chỉ chữa triệu chứng. Do đó người dân được khuyến cáo là phải có ý thức phòng ngừa bệnh, vệ sinh nhà cửa, môi trường và vật dụng sạch sẽ bằng hóa chất Cloramin B.

Thiên Chương
Theo Vnexpress
Thời điểm này tại Hà Nội và một số tỉnh miền Bắc có nhiều trẻ bị sốt virus, trong khi đó dịch tay chân miệng vẫn đang lưu hành. Sốt, nổi ban đều là triệu chứng thường gặp ở cả hai bệnh, và cha mẹ nếu không lưu ý có thể nhầm lẫn.

Như trường hợp tử vong mới đây ở Hà Nội, bé khởi bệnh với triệu chứng mệt mỏi, nôn, sốt và được chẩn đoán theo dõi sốt virus. Tuy nhiên, một ngày sau bé vẫn không hết sốt, bắt đầu xuất hiện nốt ban đỏ dạng chấm ở bàn tay, nghi mắc tay chân miệng. Sau đó thì có kết quả xét nghiệm mẫu bệnh phẩm của trẻ dương tính với virus tay chân miệng EV71.

Tiến sĩ Trần Minh Điển, Phó giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương cho biết, chẩn đoán bệnh tay chân miệng dựa chủ yếu vào các biểu hiện lâm sàng, chứ không chờ vào xét nghiệm. Vì thế, bác sĩ, thậm chí người dân có thể phân biệt được 2 bệnh này. Cụ thể:

Sốt virus:

- Bắt đầu từ giai đoạn 6 tháng tuổi là trẻ có thể bị sốt virus, đôi khi sốt cao 38,5 độ, 39,5 độ, sốt liên tục. Dùng thuốc hạ sốt thì trẻ đỡ, nhưng sau đó lại sốt, sốt có thể kéo dài 2-4 ngày, thậm chí là 6 ngày.

- Ngoài sốt, trẻ có thể kèm theo các biểu hiện viêm đường hô hấp trên như: ho, sổ mũi...

- Tuy nhiên xét về toàn trạng thì trẻ vẫn tỉnh táo, chơi tốt, khám không thấy dấu hiệu nhiễm trùng ở họng, phổi, đường ruột...

- Sau khi hết sốt, trẻ có thể nổi ban nhưng ban mỏng, rải rác, nhưng cũng có thể mọc toàn thân, hồng ban xen kẽ, ít dạng sẩn, thường có hạch sau tai.

- Sốt virus có thể tự khỏi trong 2-4 ngày. Trẻ có thể bị sốt virus trở lại với tần xuất 2-3 lần, thậm chí 5-6 lần một năm.

- Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi.


Cha mẹ thấy con sốt cao liên tục thì dù là sốt do nguyên nhân gì cũng cần đưa đi khám ngay. Ảnh: Thiên Chương.
Tay chân miệng

- Tùy từng thể bệnh mà có biểu hiện điển hình hay không. Trẻ có thể sốt cao liên tục 39, 40 độ C và không đáp ứng thuốc hạ sốt, nhưng có trẻ lại chỉ sốt nhẹ.

Chẳng hạn với thể tối cấp thì bệnh diễn tiến rất nhanh, có các biến chứng nặng như suy tuần hoàn, hô hấp, hôn mê dẫn đến tử vong trong 2-4 ngày. Với thể không điển hình thì dấu hiệu phát ban không rõ hoặc chỉ có vết loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không phát ban loét miệng.

- Tuy nhiên, đa phần trẻ sẽ trải qua 4 giai đoạn điển hình của bệnh gồm ủ bệnh, khởi phát (sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng... ), giai đoạn toàn phát (loét miệng, ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, gối...) và giai đoạn lui bệnh. Ngoài ra, dù đang sốt nhưng sờ chân, tay trẻ lại thấy lạnh.

- Trẻ thường phát ban cùng với sốt, trong khi sốt virus là nổi ban sau khi hết sốt.

- 3-5 ngày sau khi khởi bệnh, trẻ hồi phục hoàn toàn mà không có biến chứng.

- Nếu có biến chứng thì thường xảy ra ngay ngày đầu tiên hoặc thứ 2 như viêm não (dấu hiệu tri giác xấu, trẻ nôn thốc nôn tháo...), viêm cơ tim, trẻ mệt xỉu, nhịp tim nhanh...

- Thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi.

Ngoài sốt virus, cũng cần phân biệt tay chân miệng với các bệnh có phát ban da khác như:

- Dị ứng: hồng ban đa dạng, không có phỏng nước.

- Viêm da mủ: đỏ, đau, có mủ.

- Thủy đậu: phỏng nước, gặp ở nhiều lứa tuổi, rải rác toàn thân.

- Sốt xuất huyết Dengue: chấm xuất huyết, bầm máu, xuất huyết niêm mạc.

Cũng vì có một số trường bệnh tay chân miệng không điển hình nên tiến sĩ Điển cũng khuyến cáo, nếu con sốt cao liên tục thì dù là sốt gì cũng nên đưa đi khám ngay. Điều quan trọng là khi bị trẻ sốt, cha mẹ không nên chỉ phụ thuộc vào thuốc hạ sốt mà cần phải cho trẻ ở trong môi trường thoáng khí, lấy khăn ấm lau nách, bẹn, trán... để hạ sốt cho bé.

Với những trường hợp được chỉ định điều trị tại nhà (chỉ loét miệng, có thể kèm theo tổn thương da) thì cha mẹ cần chú ý cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, trẻ còn bú cần tiếp tục cho ăn sữa mẹ, hạ sốt cách 6 tiếng một lần, vệ sinh răng miệng. Ngoài ra cần cho bé nghỉ ngơi, tránh kích thích, 1-2 ngày lại tái khám trong 5-10 ngày đầu của bệnh.

Bên cạnh đó, khi thấy có dấu hiệu nặng như: sốt cao hơn 39 độ C, thở nhanh, khó thở, rung giật cơ, chới với, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ, co giật hôn mê.. thì cần tái khám ngay.

Với những trẻ nhà xa, không có điều kiện tái khám, có các biểu hiện nặng như mạch nhanh, rung giật cơ, đi loạng choạng, ngủ gà, sốt cao... thì sẽ được chỉ định nhập viện.

Phương Trang
Theo Vnexpress
BS. Trương Hữu Khanh
Khoa nhiễm BV Nhi đồng 1

Dịch tễ học
Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi và rất ít thấy ở trẻ trên 5 tuổi. Một điểm cần lưu ý là trong một đợt dịch bệnh, trẻ có thể bị mắc bệnh tái đi tái lại nhiều lần cho đến khi được 5 tuổi mới có miễn dịch hoàn toàn với bệnh.

Nguyên nhân gây bệnh
• Tác nhân gây bệnh TCM trước đây được biết là vi-rút coxsackie. Khảo sát tại bệnh viện nhi đồng đã xác nhận sự hiện diện của enterovirus 71 và vi-rút Coxsakie trong các đợt dịch bệnh tại TP.HCM.

Sự lây truyền bệnh
• Vi-rút gây bệnh có khả năng lây lan rất nhanh qua đường miệng.Trong những đợt dịch, bệnh có thể lây rất nhanh từ trẻ này sang trẻ khác qua các chất tiết mũi miệng, phân hay bọt nước của trẻ bệnh: Trẻ lành tiếp xúc trực tiếp với trẻ bệnh, bị nhiễm bệnh do nuốt phải nước bọt của trẻ bệnh được văng ra trong lúc ho, hắt hơi; hoặc do trẻ lành cầm nắm đồ chơi, sờ chạm vào sàn nhà bị dây dính nước bọt, chất tiết mũi họng của trẻ bệnh. Ngoài ra bệnh còn lây cho trẻ qua bàn tay chăm sóc của các cô bảo mẫu.

• Vi-rút xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc miệng hay ruột vào hệ thống hạch bạch huyết và từ đó sẽ phát triễn rất nhanh và gây ra các tổn thương ở da và niêm mạc.

Biểu hiện của bệnh
• Loét miệng: là các bóng nước có đường kính 2-3 mm Thường khó thấy các bóng nước trên niêm mạc miệng vì nó vở rất nhanh tạo thành những vết loét, trẻ rất đau khi ăn, tăng tiết nước bọt

• Bóng nước: từ 2-10 mm, màu xám, hình bầu dục.

• Bóng nước vùng mông và gối thường xuất hiện trên nền hồng ban.

• Bóng nước lòng bàn tay và lòng bàn chân có thể lồi lên trên da sờ có cảm giác cộn hay ẩn dưới da, thường ấn không đau.

• Bệnh có thể biểu hiện không điển hình như: bóng nước rất ít xen kẻ với những hồng ban, một số trường hợp chỉ biểu hiện hồng ban và không có biểu hiện bóng nước hay chỉ có biểu hiện loét miệng đơn thuần.

Diễn tiến và biến chứng của bệnh TCM
• Bệnh diễn tiến qua 4 giai đoạn:

• Giai đoạn 1; các trường hợp ít bóng nước thường có biến chứng

• Giai đoạn 2:

  - Vim mng no: trẻ cĩ biểu hiện run chi, giật mình nhưng chưa thay đổi tri giác (vẫn tỉnh, không mê).

  - Vim no: vật vả, kích thích, chới với, thay đổi tri giác, yếu chi, liệt mặt

• Giai đoạn 3:

  - Giảm chức năng co bóp thất trái trên siêu âm

  - Ph phế nang, si bọt hồng, ph phổi

• Giai đoạn 4:

  - Hồi phục, di chứng hay tử vong

Biến chứng:
• Các biến chứng thường gặp là: viêm màng não, viêm não màng não, liệt mềm cấp, viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh

• Các biến chứng có thể phối hợp với nhau như: viêm não màng não, phù phổi và viêm cơ tim trên cùng 1 bệnh nhân.

• Các biến chứng này thường gây tử vong cao và diễn tiến rất nhanh có thể trong 24 giờ.

• Theo các nghiên cứu tại Đài loan cho thấy biến chứng nặng thường do Enterovirus 71.

Biểu hiện biến chứng viêm não màng não
• Không có biểu hiện mê sâu

• Biểu hiện ban đầu bằng các triệu chứng quấy khóc, ngủ nhiều, hoảng hốt hay giật mình run chi, yếu chi, đứng không vững, đi loạng chọang.

• Diễn tiến rất nhanh đến co giật, khó thở, suy hô hấp, rối loạn vận mạch, sốc thần kinh.

• Lưu ý: biến chứng viêm não màng não vẫn có thể xuất hiện khi các nốt phỏng nước trên da trẻ đã khô và đóng vảy.

Cần chú ý phát hiện sớm biến chứng viêm vão màng não và đưa trẻ đến bênh viện trong vòng 6 giờ đầu sau khi xuất hiện các biểu hiện của biến chứng để được cấp cứu kịp thời.

Điều trị bệnh tay chân miệng:
Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, việc điều trị bệnh chủ yếu là điều trị triệu chứng.

• Đưa trẻ đến khám bệnh tại các cơ sở y tế. Nếu trẻ được chỉ định chăm sóc tại nhà, cần thực hiện những điều sau đây :

  + Vệ sinh răng miệng và thân thể, tránh làm nhiễm trùng các bóng nước

  + Giảm đau, hạ sốt bằng cách lau mình bằng nước ấm, dùng thuốc hạ sốt Paracetamol.

  + Nghỉ ngơi hợp lý, hạn chế vận động, tăng cường dinh dưỡng, cho ăn thức ăn lỏng, mềm, uống nhiều nước nhất là nước hoa quả.

  + Không cạy vỡ các bóng nước để tránh nhiễm trùng.

  + Theo dõi sát để phát hiện các dấu hiệu: dễ giật mình, hoảng hốt, run chi, gồng tự hết, đi loạng choạng, chới với, co giật, da nổi bông, nôn ói nhiều, sốt cao. Khi có các biểu hiện trên đây cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay.

Phòng bệnh tay chân miệng như thế nào?
Hiện nay vẫn chưa có vắc-xin phòng bệnh nên cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

1. Rửa tay: thường xuyên rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy, nhất là trước và sau khi nấu ăn, trước khi ăn và sau khi đi tiêu. Nếu có chăm sóc trẻ thì cần lưu ý rửa tay sau mỗi lần thay tả, làm vệ sinh cho trẻ.

2. Rửa sạch các dụng cụ, vật dụng, đồ chơi, sàn nhà bằng nước và xà phòng, rồi khử trùng bằng cloramin B 5% (có thể mua tại nhà thuốc tây).

3. Đeo khẩu trang mũi miệng khi hắt hơi hoặc ho.

4. Cách ly người bệnh tại nhà cho đến khi khỏi bệnh (thường ít nhất là 7 ngày).
Vnexpress - Bệnh nhân 23 tuổi ở Đà Nẵng và một cụ già 73 tuổi tại Quảng Ngãi, được các bác sĩ cho rằng có các triệu chứng mắc bệnh tay chân miệng - căn bệnh lâu nay được cho chỉ xảy ra với trẻ em.

Sáng nay, bác sĩ Tôn Thất Thạnh, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng TP Đà Nẵng xác nhận, nam thanh niên 23 tuổi quê ở quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, đang được các bác sĩ theo dõi chặt chẽ tại Bệnh viện Da liễu Đà Nẵng vì có các biểu hiện của bệnh tay chân miệng. Bệnh nhân này còn có các biểu hiện bội nhiễm, nhiễm trùng, sốt phát ban...

Trung tâm đã lấy mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân gửi Viện Pasteur Nha Trang xét nghiệm.

Trong khi đó ngành y tế Quảng Ngãi cũng đang theo dõi chặt chẽ diễn tiến bệnh trạng của một cụ già 73 tuổi, có các biểu hiện tay chân miệng. Đây là bệnh nhân lớn tuổi nhất ở Quảng Ngãi nghi mắc dịch bệnh này. Cơ quan y tế cũng đã gửi mẫu bệnh phẩm đến Viện Pasteur Nha Trang xét nghiệm nhưng hiện tại chưa có kết quả.


Bệnh tay chân miệng chủ yếu xảy ra với trẻ em, trường hợp người lớn mắc bệnh rất hy hữu. Ảnh: Trí Tín
Dịch bệnh tay chân miệng đang diễn biến phức tạp ở miền Trung, chưa có dấu hiệu dừng. Ngành y tế lo ngại thời gian tới sẽ diễn ra tình trạng dịch chồng dịch ở khu vực, khi bệnh sốt xuất huyết có nguy cơ bùng phát song song với tay chân miệng.

Theo bác sĩ Thạnh, trong tháng 6 có 3 ca bệnh tay chân miệng chuyển biến nặng độ 2b, phải dùng đến thuốc đặc trị chi phí cao (gamma globulin). Sang tháng 7, Đà Nẵng có đến hơn 20 trường hợp cần dùng loại thuốc đặc trị này. Ngành y tế Đà Nẵng đang lo ngại dòng bệnh tay chân miệng từ các tỉnh, thành lân cận như Quảng Nam, Quảng Ngãi đổ về điều trị khiến không tránh khỏi nguy cơ lây lan trong quá trình di chuyển.

Bệnh viện Da liễu Đà Nẵng đã tiếp nhận gần 600 lượt bệnh nhân đến khám, điều trị bệnh tay chân miệng. Trong đó hơn 50% bệnh nhân quê Quảng Ngãi. Bệnh viện Đà Nẵng cũng thống kê trong khoảng 400 bệnh nhân điều trị lưu trú, tập trung tại Trung tâm Sản - Nhi, trên 60% bệnh nhân ngoại tỉnh.

Từ cuối tháng 4 đến nay, Quảng Ngãi có gần 2.900 bệnh nhân tay chân miệng, lứa tuổi mắc bệnh nhỏ nhất là 3 tháng, lớn nhất là 73 tuổi, 5 người tử vong.

Ông Viên Quang Mai, Viện phó Viện Pasteur Nha Trang cho biết Viện đã tiếp nhận 1.000 mẫu bệnh phẩm gửi đến xét nghiệm. "Chúng tôi đã xét nghiệm có kết quả khoảng hơn 500 mẫu”, ông Mai nói.

Bộ Y tế đã điều chỉnh phác đồ điều trị bệnh tay chân miệng; đồng thời chỉ đạo các địa phương áp dụng những biện pháp mạnh trong tháng 7-8 để dập dịch. Trọng tâm địa bàn dịch được xác định ở TP HCM, Đồng Nai, Quảng Ngãi.

Hiện cả nước có 17.000 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng, trong đó 57 ca tử vong.
--------------
Báo động người lớn mắc tay chân miệng không triệu chứng
Eva - Đã có 8 người lớn được phát hiện mắc tay chân miệng. Điều nguy hiểm là cả 8 người này đều không hề có triệu chứng bệnh.
Hãy đến với chuyên mục Sức khỏe của Eva để tìm hiểu những bí quyết ăn ngon, ăn chuẩn, tham khảo những bệnh thường gặp trong cuộc sống, bệnh 'vùng kín' của chị em và những bài thuốc hay rất hữu hiệu cho mẹ và bé.

ệnh tay chân miệng (TCM) đã làm 114 trẻ thiệt mạng và đang lây lan ra tại 61/64 tỉnh, thành phố trên cả nước. Nguy hiểm hơn, bệnh không chỉ có ở trẻ em mà đã bắt đầu lây sang người lớn. Theo báo cáo của Viện Pasteur Nha Trang (Khánh Hòa), 8 người lớn mang virus bệnh tay chân miệng gồm bốn người ở Ninh Thuận, hai ở Quảng Ngãi và hai ở Bình Thuận. Dù mang virus nhưng cả 8 người này đều không có triệu chứng bệnh.

Đáng lo ngại

Việc phát hiện 8 người lớn mắc bệnh được nhiều chuyên gia y tế nhận định là không gây “sốc”. Bởi lẽ, theo các tài liệu y khoa trên thế giới, từ trước đến nay bệnh TCM thường xuất hiện ở trẻ dưới 5 tuổi,  nhưng điều này không có nghĩa là bé lớn hơn hoặc người lớn không bị virus tấn công. Bác sĩ Trương Hữu Khanh, Trưởng khoa Nhiễm - Thần Kinh, Bệnh viện Nhi Đồng 1, TP HCM, cũng khẳng định TCM là bệnh do virus gây nên và có thể lây lan qua tiếp xúc. Do vậy, khi người lớn tiếp xúc với virus gây bệnh thì bản thân cũng đã mang mầm bệnh. Trước đó, tại Bệnh viện Nhi Đồng 2,  cũng đã có hai trường hợp trẻ 11 tuổi và 13 tuổi nhập viện vì TCM trong tình trạng nặng và em 13 tuổi đã tử vong.


Tuy nhiên, việc phát hiện người lớn mắc TCM được coi là một điều đáng lo ngại. Điều đó cho thấy bệnh TCM vẫn diễn biến hết sức phức tạp và gây quan ngại trong việc phòng chống dịch bệnh. Bởi lẽ, theo ghi nhận bệnh sử của hai ca dưới 13 tuổi cho thấy, những trẻ lớn nhập viện đều không có triệu chứng thần kinh như giật mình mà chỉ có những triệu chứng về hô hấp và tim mạch. Còn 8 trường hợp người lớn vừa phát hiện có mầm bệnh TCM lại không có biểu hiện gì bên ngoài. Đây là điều mà nhiều bác sĩ tỏ ra quan ngại, bởi người lớn mắc bệnh mà không có dấu hiệu, khó phát hiện và như vậy sẽ dễ phát tán, lây lan ra cộng đồng.


Ảnh minh họa

Chưa có thuốc điều trị

Theo Viện Pasteur TP HCM, hiện trên thế giới cũng như tại Việt Nam chưa có vaccine và thuốc điều trị đặc hiệu đối với TCM. Bệnh chủ yếu lây lan qua tiếp xúc với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt bỏng, phân nhiễm virus nên biện pháp phòng bệnh quan trọng nhất vẫn là vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng cho cả trẻ em và người chăm sóc trẻ, nhất là khi chuẩn bị thức ăn cho trẻ, cho trẻ ăn.

Trước diễn biến phức tạp của bệnh TCM, ngày 20/8 vừa qua, Bộ Y Tế họp với các tỉnh để xem có nên công bố có dịch TCM hay không; song cuối cùng vẫn đưa ra quyết định không công bố dịch vì bệnh vẫn trong tầm kiểm soát và đang có chiều hướng giảm! Tuy nhiên, ghi nhận thực tế cho thấy, riêng ở TP.HCM, mỗi ngày các bệnh viện Nhi Ðồng vẫn tiếp nhận 160 - 200 bệnh nhân mắc TCM. Nhiều trường mẫu giáo, mầm non tại TP HCM và một số tỉnh phía Nam như Bạc Liêu, Hậu Giang phải tạm đóng cửa để tránh lây lan.

Đáng nói hơn, với “cớ” TCM là bệnh truyền nhiễm nhóm B, thẩm quyền công bố trước hết thuộc về các địa phương nên Bộ Y tế vẫn chần chừ không công bố dịch. Không những thế, Bộ này hiện cũng chưa đưa ra nhận định gì mang tính cảnh báo trước việc người lớn mắc TCM và nguy cơ lây lan ra cộng đồng.
Có bệnh nhân mức độ nhẹ nhưng được chuyển lên tuyến trên dẫn đến quá tải bệnh viện; có trường hợp chẩn đoán thấp hơn về mức độ nặng khiến việc điều trị không kịp thời, dẫn đến tử vong.

Dịch bệnh tay chân miệng đang bùng phát ở mức báo động với  gần 71.500 trường hợp mắc phủ khắp các tỉnh, TP; 130 trường hợp tử vong. Ngày 18-10, tại buổi tập huấn điều trị bệnh tay chân miệng cho bệnh viện các tỉnh phía Bắc, giới chuyên môn đã giải mã nguyên nhân tử vong.

Không có biểu hiện lâm sàng đặc trưng

Một số bác sĩ cho rằng không chỉ người dân lúng túng mà nhân viên y tế cũng gặp khó khăn khi tiếp nhận và điều trị cho một số lượng lớn bệnh nhân. Bác sĩ Nguyễn Minh Tiến, Phó trưởng Khoa Hồi sức tích cực - Chống độc của Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TPHCM), cho biết những năm trước bệnh chỉ xuất hiện lẻ tẻ nhưng thời gian qua, lượng bệnh nhân tăng đột ngột khiến nhân viên y tế, nhất là tuyến cơ sở, lúng túng trong phân loại và điều trị. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ tử vong tăng nhanh.

Theo bác sĩ Tiến, bệnh tay chân miệng tương đối giống với nhiều bệnh lý khác nên đã có những trường hợp  chẩn đoán nhầm do không có biểu hiện lâm sàng đặc trưng. “Trẻ mắc tay chân miệng đôi khi biểu hiện lâm sàng là  sốt cao liên tục, khò khè, thở rít, suy hô hấp… Đây cũng là dấu hiệu của nhiều bệnh lý khác như hen, viêm phế quản, viêm phổi, sốt xuất huyết, sốt phát ban. Thực tế đã có những bệnh nhân không có sốt, không nổi ban nên dễ gây tâm lý chủ quan cho gia đình và bác sĩ điều trị thiếu kinh nghiệm, nhưng đây lại là trường hợp rất cần lưu ý” - bác sĩ Tiến nói.


Điều trị cho trẻ mắc bệnh tay chân miệng tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TPHCM). (Ảnh: Anh Thư)

Phân loại bệnh không chính xác

Một lỗi khá thường gặp khác được bác sĩ Tiến nêu ra là ngay cả khi bác sĩ đã chỉ đích danh bệnh nhân mắc tay chân miệng thì lại xuất hiện tình trạng phân loại bệnh sai. Có bệnh nhân mức độ nhẹ nhưng vẫn được chuyển lên tuyến trên dẫn đến quá tải bệnh viện; có trường hợp chẩn đoán thấp hơn về mức độ nặng khiến việc điều trị không kịp thời, dẫn đến tử vong. “Ngay tại một bệnh viện tuyến cuối, lúc khám, bác sĩ chẩn đoán, phân độ lâm sàng bệnh nhân là độ 2a vì bệnh nhân có giật mình dưới 1 lần/30 phút, sốt trên 39oC, quấy khóc. Thế nhưng chỉ 5 phút sau khi được chuyển vào khoa điều trị, bệnh nhi đã ở độ 4 là mức nặng nhất của phân độ lâm sàng. Lúc ấy, bệnh nhi đã bị sốc, phù phổi cấp, tím tái…”- bác sĩ Tiến dẫn chứng.

Không được chủ quan

Chia sẻ những kinh nghiệm trong điều trị, đại diện Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho rằng dấu hiệu sốc của bệnh này không giống sốt xuất huyết, sốc nhiễm trùng… vì diễn tiến nhanh khó ngờ. Có thể chỉ trong vòng 15 phút, bệnh nhân đã rơi vào tình trạng phù phổi cấp. Đặc biệt, khi bệnh nhân đã bị sốc thì việc truyền dịch quá nhanh là nguyên dân gây phù phổi, phù não khiến bệnh nhân tử vong nhanh chóng.

TS Nguyễn Văn Kính, Giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, cho rằng với bệnh nhân ở thể nặng thì biến chứng viêm cơ tim và phù phổi cấp là dấu hiệu khá thường gặp. Trường hợp bệnh nhân bị viêm cơ tim cần điều trị tại chỗ thì không được vận chuyển vì thay đổi tư thế có thể gây ngừng tim và tử vong.

TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Khám chữa bệnh (Bộ Y tế), lo ngại những năm qua, Việt Nam phải đối mặt với nhiều dịch bệnh nguy hiểm như H5N1, SARS, sốt xuất huyết… nhưng chưa khi nào số ca mắc và tử vong tăng cao như với bệnh tay chân miệng. Thách thức cho ngành y tế là đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chưa có vắc-xin phòng bệnh nên các bác sĩ không được chủ quan, cần cập nhật phác đồ điều trị vì dịch sẽ còn diễn biến phức tạp.

Số ca mắc thực tế có thể cao hơn nhiều

Bác sĩ Nguyễn Minh Tiến khuyến cáo tại TPHCM, thời điểm này đã ghi nhận gần 10.000 trường hợp tay chân miệng nhập viện. Tuy nhiên, số mắc bệnh nhưng không vào bệnh viện có thể gấp 10 lần con số trên. Đó là chưa kể người lành mang trùng là trẻ con, người lớn. Theo thống kê, chỉ 1/3 số ca mắc bệnh là ở nhà trẻ, số còn lại là trẻ rất nhỏ, chỉ vài tháng tuổi đến hơn 1 tuổi. Như vậy, có thể trẻ bị lây bệnh từ cộng đồng hoặc từ chính những người thân. Do vậy, với trẻ mắc tay chân miệng cần được tái khám hằng ngày trong 7-8 ngày; cần đưa đến viện ngay khi sốt cao liên tục, li bì, giật mình, vã mồ hôi, run giật tay, yếu chi, da nổi ban…
(Theo Ngọc Dung/NLĐ)
Hàng chục ca tử vong vì Chân tay miệng nhắc nhở các mẹ rằng, đừng chủ quan. Theo thống kê của cục Y tế Dự phòng, những tháng cuối năm (9-10 và 11) số ca mắc còn tăng hơn nữa.

Điều trị chân tay miệng chủ yếu là giảm đau, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu, hạn chế vận động, vệ sinh răng miệng, nhưng quan trọng là theo dõi phát hiện triệu chứng của biến chứng để đi bệnh viện kịp thời. Nếu thấy bé giật mình chới với, sốt cao liên tục, đi đứng lảo đảo, ngồi không vững, run tay khi cầm vật dụng, yếu tay chân, thì các phụ huynh nên mang trẻ đến bệnh viện ngay để khám chữa kịp thời.

Các em bé mắc chân tay miệng phần lớn mắc bệnh do virus Cox- sackie A 16 thường lành tính và tự khỏi sau 7-10 ngày, biến chứng thường ít xảy ra. Tuy nhiên, nhiễm chân tay miệng do E 71 có thể gây viêm màng não và hiếm hơn là các bệnh trầm trọng như viêm não hay liệt kiểu bại liệt. Viêm não do E 71 có thể gây tử vong. Năm nay, theo thống kê có đến 20% trường hợp chân tay miệng là do E 71.

Thông thường, bệnh này tấn công trẻ em dưới 5 tuổi, nhất là nhóm trẻ 3 tuổi nhưng trẻ lớn và người lớn cũng có thể mắc.

Bé có thể mắc bệnh từ đâu?

-    Bệnh lây rất nhanh qua đường hô hấp. Em bé sẽ dễ bị mắc chân tay miệng khi tiếp xúc với một người bị nhiễm bệnh do bị bắn nước bọt hoặc lây lan qua bàn tay, thức ăn đồ uống, sàn nhà, đồ chơi, dụng cụ ăn uống bị nhiễm mầm bệnh…

-    Đi bơi trong một bể chung với người nhiễm bệnh cũng khiến cho trẻ dễ bị mắc bệnh.
Biểu hiện nào cho thấy bé nhiễm chân tay miệng?

Dấu hiệu đặc trưng của chân tay miệng gồm: sốt, đau họng và nổi ban có bóng nước, biếng ăn, mệt mỏi…

Trong họng trẻ có các chấm đỏ nhỏ sau đó biến thành các bóng nước và tiến triển đến loét. Mẹ có thể thấy các tổn thương tương tự ở lưỡi, nướu và bên trong má. Ngoài ra, cũng cần chú ý đến các điểm phát ban phẳng hoặc có thể gồ lên mặt da, một số hình thành bóng nước lòng bàn tay, lòng bàn chân, đôi khi ở vùng mông, khớp gối.


Không phải tất cả các bé bệnh chân tay miệng đều có biểu hiện sốt. (Ảnh minh họa)

Không phải tất cả các bé bệnh chân tay miệng đều có biểu hiện sốt. Nhưng những bé sốt thì thường có biến chứng hơn, đặc biệt là sốt cao liên tục hay sốt liên tiếp hơn 2 ngày.

Cách phát hiện sớm là khi trẻ quấy khóc than đau miệng bỏ ăn thì phải tìm hiểu ngay bé có lở miệng không, tìm xem ở lòng bàn tay, bàn chân, mông, gối có lở bóng nước không. Những trẻ nhỏ không biết nói thường có biểu hiện ban đầu là bỏ ăn, chảy nước miếng nhiều, quấy khóc khi cho ăn là do có mụn nước trong miệng làm bé đau, các mẹ có thể tìm thêm các dấu hiệu khác như bóng nước.

Cẩn thận với những biến chứng

Biến chứng thường gặp của bệnh chân tay miệng bao gồm: viêm màng não, liệt mềm cấp, viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh. Biến chứng đơn lẻ hoặc phối hợp với nhau như viêm não màng não, phù phổi và viêm cơ tim trên cùng một bệnh nhân, thường tử vong rất cao và diễn biến rất nhanh, có thể xảy ra trong vòng 24 giờ đồng hồ.

Vệ sinh là cách phòng ngừa tốt nhất

Bệnh không có thuốc điều trị đặc trị cũng như vaccine phòng bệnh, vì vậy việc phòng bệnh chủ yếu dựa vào việc vệ sinh cá nhân và vệ sinh – khử khuẩn môi trường.

Nếu bạn đang sống trong vùng dịch, cần phòng lây lan bệnh sang người lành:

-    Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân nếu không thực sự cần thiết.
-    Sau khi chăm sóc bệnh nhân, cần rửa tay kỹ với xà phòng.
-    Không được chọc vỡ các mụn nước, bọng nước trên da bệnh nhân.
-    Giặt đồ dùng của bệnh nhân và lau phòng ở của bệnh nhân bằng các dung dịch sát khuẩn có cloramin.
-    Theo dõi chặt chẽ những trẻ có biểu hiện sốt trong vùng dịch.
-    Cho trẻ nghỉ học cho đến khi khỏi hẳn bệnh.
------------------------------
Chung sức chống bệnh tay chân miệng
Chiều 8-10, Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Sứ Trẻ cùng nhãn hàng Lifebuoy đã trao tặng 100.000 bánh xà phòng cho Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam nhằm giúp đẩy lùi bệnh tay chân miệng tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Chiều 8-10, Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Sứ Trẻ cùng nhãn hàng Lifebuoy (Công ty Liên doanh Unilever Việt Nam) đã trao tặng 100.000 bánh xà phòng (trị giá 650 triệu đồng) cho Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam nhằm giúp đẩy lùi bệnh tay chân miệng tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng tặng 200 bánh xà phòng cho Mái ấm Long Hoa (quận 7 – TPHCM) và Mái ấm Diệu Giác (quận 2 – TPHCM)

Dịp này, Bộ Y tế, Quỹ Unilever Việt Nam, nhãn hàng Lifebuoy đã phát động chiến dịch phòng chống bệnh tay chân miệng với tên gọi “Cùng rửa tay với xà phòng, nâng cao sức khỏe bản làng”; đồng thời kêu gọi mọi người, nhất là trẻ em hãy rửa tay với xà phòng để chống dịch bệnh và cùng nhau click nút “TÔI CAM KẾT” trên Facebook ngày Thế giới rửa tay với xà phòng. Mỗi một lần bạn cam kết, Lifebuoy sẽ góp 1.000 đồng vào Quỹ Unilever Việt Nam để hỗ trợ dự án “Cùng rửa tay với xà phòng, nâng cao sức khỏe bản làng”.
---------------------------------------
Khó cắt đứt đường lây bệnh tay chân miệng
Dịch tay chân miệng vẫn chưa hạ trong khi nhiều trẻ mắc dù tới bệnh viện sớm vẫn tử vong khiến dư luận lo ngại. PGS-TS Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, lý giải về vấn đề này.

* Thời gian gần đây, dịch tay chân  miệng có dấu hiệu lan nhanh. Điều này có nằm trong dự báo của ngành y tế không, thưa ông?

- PGS-TS Nguyễn Trần Hiển:  Dù số ca mới mắc xảy ra hằng tuần không tăng nhưng vẫn duy trì ở mức cao như nhiều tuần trước đây. Điều này cũng đã được dự liệu từ trước. Nhưng cũng phải nói lại rằng đây là bệnh do nhiều virus thuộc nhóm virus đường ruột gây ra, lây lan rất phức tạp qua đường tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp với các chất tiết mũi, miệng, nước bọt, nước mụn phỏng vỡ, phân của trẻ bệnh, trẻ khỏi bệnh mang virus, trẻ lành và người lớn khỏe mạnh có mang virus.

Ngay cả biện pháp phòng bệnh cũng không đặc hiệu mà chỉ là vệ sinh cá nhân và thường xuyên rửa tay của cả người lớn chăm sóc trẻ và trẻ em. Trong khi đó việc kiểm soát, vệ sinh bàn tay đối với trẻ rất khó vì trẻ chưa ý thức được điều này mà phải do người lớn. Vì thế bệnh rất khó kiểm soát.

* Vậy đây có phải là dịch bệnh đặc biệt nguy hiểm không, thưa ông?

- Tay chân  miệng là bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B, chưa phải là dịch đặc biệt nguy hiểm như cúm A/H5N1, SARS... Nếu so sánh với các bệnh nhóm A, tỉ lệ tử vong/mắc cũng không phải là cao. Đa số ca bệnh ở thể nhẹ, chỉ có một tỉ lệ nhỏ có biến chứng nặng, chủng virus này đã lưu hành nhiều năm qua chứ không phải là bệnh mới.

* Nhưng tỉ lệ tử vong ở trẻ mắc bệnh đang tăng đột biến?

- Đến thời điểm này thì đây vẫn là câu hỏi còn bỏ ngỏ. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có nghi ngờ cơ địa của trẻ nhỏ có mối liên quan đến việc tử vong. Tuy nhiên, vấn đề vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu thêm, nhất là độc tính virus tay chân  miệng ở trẻ tử vong. Hiện nay, nhiều trường hợp bệnh được xét nghiệm có virus EV71 nhưng không phải tất cả các trường hợp mang virus EV71 đều ở thể bệnh nặng.

Qua theo dõi tại miền Bắc, từ đầu năm đến nay, có hơn 100 ca bệnh dương tính với EV71 nhưng hầu hết là thể nhẹ, ở giai đoạn 1, được điều trị theo dõi tại nhà. Đến nay, chỉ có 2 trường hợp tử vong do EV71 được báo cáo...


Một bệnh nhi tay chân miệng nặng được cấp cứu tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 - TPHCM. Ảnh: Hồng Thủy

* Ở các quốc gia khác có ghi nhận tình trạng tương tự như Việt Nam không, thưa ông?

- Dịch bệnh này đang diễn biến phức tạp ở nhiều nước chứ không riêng gì Việt Nam. Đối tượng mắc ở các nước cũng rơi vào nhóm trẻ dưới 5 tuổi là nhóm có miễn dịch kém. Các nghiên cứu ở châu Âu cũng cho thấy nhiều trẻ mang virus EV71 ở thể nhẹ hay không có biểu hiện lâm sàng.

* Một số ca bệnh dù nhập viện sớm nhưng vẫn tử vong khiến nhiều người lo lắng virus EV71 đã biến đổi về độc lực?

- Các nghiên cứu về virus học của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho thấy 58% bệnh nhân tay chân  miệng dương tính với các virus đường ruột. Trong số đó, 33% dương tính với virus EV71. Phân tích sâu đặc điểm di truyền phân tử của virus EV71 cho thấy chủ yếu là phân nhóm C4, là chủng virus đã lưu hành trong những năm trước ở nước ta và không phát hiện có sự thay đổi của virus EV71.

Nhận định này cũng hoàn toàn phù hợp với nhận định của Tổ chức Y tế Thế giới là virus EV71 có thể gây bệnh nặng hơn so với các virus khác. Tuy nhiên, không có bằng chứng thuyết phục về sự biến chủng của virus EV71 có thể làm tăng quá trình nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, gây, tử vong... Chỉ có điều năm nay bệnh cảnh lâm sàng có vẻ nặng hơn. Nhiều trường hợp bệnh diễn tiến rất nhanh.

* Với người lớn, nếu mang virus EV 71 có nguy hiểm không, thưa ông?

- Hiện chưa ghi nhận trường hợp người lớn mang virus EV71 mà bệnh diễn tiến ở thể nặng. Thực tế những ca bệnh là người lớn cũng rất ít mà tập trung chủ yếu là nhóm trẻ dưới 5 tuổi. Qua theo dõi ở các tỉnh phía Bắc cho thấy đa số ca bệnh xảy ra phát tán từ một nguồn nào đó chứ không phải lây từ trẻ mắc bệnh mà có thể lây từ người lành mang trùng. Đấy có thể là người lớn, trẻ em, thậm chí cả người đã điều trị khỏi rồi nhưng vẫn mang trùng mà không có biểu hiện bệnh, trong khi nguồn lây này rất khó kiểm soát. Tại Hà Nội, chúng tôi phát hiện một người lớn và một trẻ em khỏe mạnh bình thường nhưng có mang virus EV71 nên đang tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này.

Vì thế, kể cả người lớn mắc bệnh cũng cần hiểu rằng bản thân mình mang mầm bệnh và cần thực hiện các biện pháp vệ sinh cá nhân, ăn chín, uống sôi… vì họ có thể là nguồn lây đối với cộng đồng và con trẻ.

* Viện Pasteur Nha Trang đề nghị địa phương công bố dịch để người dân có ý thức trong việc phòng chống. Quan điểm của ông thế nào?

- Theo tôi, vấn đề cốt lõi là làm thế nào để huy động toàn xã hội cắt đứt đường lây truyền của dịch bệnh này. Thủ tướng đã có công điện gửi UBND các tỉnh, TP; Bộ Y tế đã huy động cộng đồng và phối hợp liên ngành trong phòng chống bệnh tay chân miệng. Thực tế thời gian qua, UBND các cấp và ngành y tế đã rất cố gắng thực hiện nhưng cần phải tập trung tăng cường hơn nữa, truyền thông trực tiếp với thông điệp cụ thể và phù hợp cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, với sự tham gia tích cực của Hội Phụ nữ. Chỉ có sự tham gia chủ động tích cực của mỗi bà mẹ và người chăm sóc trẻ cùng cộng đồng,  chúng ta mới có thể ngăn chặn được lây truyền dịch.

* Nhưng ông có cho rằng công bố dịch sẽ tác động đến ý thức của người dân trong việc phòng bệnh?

- Thực tế ngành y tế cũng đã thông báo thường xuyên về tình hình dịch và các biện pháp phòng chống. Đã là dịch rồi thì ngành y tế và các địa phương phải nỗ lực kiểm soát. Hiện nay, phải thực hiện rất quyết liệt các biện pháp phòng chống mới có thể cắt đứt được nguồn lây bệnh tay chân miệng, còn không thì dịch sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp. Việc công bố dịch thì phải thực hiện đúng luật, quyết định công bố dịch của Thủ tướng Chính phủ và cân nhắc tới một loạt vấn đề kinh tế - xã hội khác.

(Theo Eva)
111 trẻ tử vong vì TCM: Vẫn trong tầm kiểm soát?

(Suc khoe) - Tính đến cuối tuần qua, cả nước ghi nhận 57.055 ca mắc tay chân miệng tại 61/63 tỉnh thành, trong đó số tử vong đã lên đến 111 ca.
Hãy đến với chuyên mục Sức khỏe của Eva để tìm hiểu những bí quyết ăn ngon, ăn chuẩn, tham khảo những bệnh thường gặp trong cuộc sống, bệnh 'vùng kín' của chị em và những bài thuốc hay rất hữu hiệu cho mẹ và bé.

Cần nhớ rằng ngày 15.8.2011, cách đây chỉ hơn một tháng, cả nước có 35.000 ca mắc tay chân miệng tại 50 địa phương với 81 ca tử vong, nhưng người có trách nhiệm của bộ Y tế khẳng định “vẫn trong tầm kiểm soát” nên không công bố dịch, dù bộ trưởng bộ Y tế, khi làm việc tại TP.HCM, đã tuyên bố “dịch tay chân miệng đã bùng phát chứ không nói là dịch có nguy cơ bùng phát nữa”.

Tại quận 12, một cán bộ y tế dự phòng giấu tên, than thở: “Năm nào cũng dịch bệnh nhưng chuyển biến trong ý thức của người dân rất chậm. Thú thật chống dịch thành công hay thất bại là hên xui, chỉ biết nhờ trời”.

Không chỉ cán bộ y tế dự phòng, bác sĩ điều trị cũng mệt mỏi vì quá tải. Tại khoa nhiễm một bệnh viện nhi đồng ở TP.HCM, một bác sĩ đã làm đơn xin nghỉ vì quá căng thẳng. Trong khi đó, nhiều nhân viên của khoa này thừa nhận, nếu đây không phải là tuyến cuối, họ sẽ chuyển ngay trẻ mắc tay chân miệng lên tuyến trên vì… chịu hết xiết!

Cho đến nay lý do chính để bộ Y tế không chịu công bố dịch tay chân miệng vì cho rằng đây là dịch bệnh nhóm B, do đó thẩm quyền công bố dịch thuộc về các địa phương “hội đủ tiêu chuẩn”, nghĩa là có số người mắc bệnh vượt quá số người mắc dự tính bình thường và quy mô, tính chất của bệnh dịch vượt quá khả năng kiểm soát của cơ quan y tế tỉnh thành. Dựa vào điều này, đến nay không địa phương nào công bố dịch tay chân miệng dù số ca mắc không giảm rõ rệt, bệnh xuất hiện thêm ở nhiều địa phương khác và số ca tử vong vẫn nhích dần theo từng ngày.


Bình quân, mỗi tuần cả nước ghi nhận 2.000 ca mắc tay chân miệng. Ảnh chụp tại bệnh viện Nhi Đồng 1, TP.HCM. (Ảnh: Trần Việt Đức)

Những tuần qua, tại khoa nhiễm – thần kinh bệnh viện Nhi Đồng 1 TP.HCM, số ca mắc tay chân miệng của TP.HCM đã chựng lại, nhưng bệnh nhân từ các địa phương chuyển về vẫn nhiều, chiếm đến 70% số bệnh nhi tay chân miệng điều trị ở đây. Bác sĩ trưởng khoa Trương Hữu Khanh nói: “Do địa phương không công bố dịch và biết rằng vẫn còn tuyến trên, nên các tỉnh không mặn mà với điều trị và cứ chuyển bệnh về TP.HCM cho khoẻ”.

Dĩ nhiên, không công bố dịch cũng có lý do, nhưng vì không chính thức xem tay chân miệng là dịch (mặc dù nó đã là dịch thật sự!), nên đến nay căn bệnh tay chân miệng vẫn không nhận được sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo địa phương và không huy động được các ban ngành vào cuộc. Vì đây không phải dịch, nên cán bộ phòng chống tay chân miệng trực tiếp chỉ nhận được phụ cấp 30.000 đồng/ngày (thay vì 60.000 đồng/ngày nếu là dịch), còn nếu làm việc gián tiếp thì không có tiền!

Thế giới đã ghi nhận không ít bài học đau xót về sự chậm trễ công bố dịch. Tại Anh, sự chần chừ của chính phủ trong việc công bố dịch bệnh bò điên vì sợ ảnh hưởng đến ngành công nghiệp nuôi bò đã gây rất nhiều thiệt hại về kinh tế hơn người ta nghĩ. Trong khi đó, phản ứng chậm của nhiều nước với đại dịch AIDS đã tiếp sức cho dịch bệnh này bùng phát mà theo ghi nhận, trước năm 2004 có 40 triệu người khắp thế giới mắc bệnh này.

Từ ngày 15.8 đến nay, chỉ trong gần 50 ngày, cả nước có thêm 22.000 ca tay chân miệng, 30 ca tử vong và thêm 11 địa phương ghi nhận có bệnh tay chân miệng. Những con số này “không ngoài tầm kiểm soát” của ngành y tế thì còn là gì nữa?

Bộ Y tế: Không có gì phải quá lo lắng (?!)
Ngày 27.9, TS Nguyễn Văn Bình, cục trưởng cục Y tế dự phòng (bộ Y tế) khẳng định, hiện bệnh tay chân miệng vẫn được “kiểm soát tốt”. Theo ông Bình, không thể so sánh tay chân miệng với dịch cúm A/H5N1 để nói tại sao không công bố dịch. Mỗi bệnh có virút khác nhau, cơ chế lây truyền khác nhau, tác nhân biến đổi khác nhau. Nhìn chung, hiện đã giảm số ca mắc tay chân miệng do các biện pháp tuyên truyền, phòng tránh đã phát huy tác dụng. Nhưng số địa phương có bệnh lại tăng nên tính cả nước số ca mắc không giảm. Điều này không có gì bất thường, không quá lo lắng. Công tác tuyên truyền, phòng chống dịch bệnh vẫn phải thực hiện đều đặn, người dân không chủ quan với bệnh. Bộ Y tế liên tục có các đoàn kiểm tra tại các địa phương. Ngay trong tuần này, hai đoàn cũng đi các tỉnh kiểm tra tình hình bệnh tay chân miệng.

Chị Thu Vân (mẹ bé Nguyễn Minh Gia Phú, ba tuổi, phường 8, quận 11, TP.HCM, đã tử vong vì bệnh tay chân miệng):

Đừng để thêm một trẻ nào tử vong nữa!

Gia đình tôi vừa mất một đứa con, nỗi đau đớn này không từ ngữ nào diễn tả hết. Tôi biết, nhiều gia đình khác cũng đang sống trong lo âu, sợ hãi, mất mát như tôi. Do đó, Nhà nước cần có biện pháp thiết thực hơn, đừng để mỗi ngày thêm một nỗi đau.

Chị Đinh Thị Thu Loan (ngụ tại phường 8, quận 11, TP.HCM):

Ám ảnh

Tôi có một con trai nhỏ ba tuổi, sống gần nhà cháu Gia Phú vừa mất vì bệnh tay chân miệng nên tôi luôn sống trong lo sợ. Ngày nào trong nhà tôi cũng có mùi hoá chất, hết cloramin B, đến nước javen, rồi nước rửa tay diệt khuẩn. Mỗi ngày tôi rửa tay, tắm rửa cho con tôi đến cả chục lần, ba của bé thấy vậy cũng sốt ruột vì sợ con cảm lạnh. Nhưng, tôi chỉ biết làm thế vì đã có vắcxin đâu. Thấy nhà bé Gia Phú mất con, mất cháu, đau khổ cả một thời gian dài, tôi bị ám ảnh. Mong sao Nhà nước, ngành y tế tìm biện pháp hữu hiệu nhất khống chế bệnh và đừng để thêm đứa trẻ nào chết, đừng để thêm gia đình nào phải đau khổ, dằn vặt và lo lắng vì bệnh này nữa.

Ông Đặng Văn Khoa (nguyên đại biểu HĐND TP.HCM):

Đừng đánh đổi bằng sinh mạng người dân

Dịch tay chân miệng đang đã trở thành mối lo cho cả cộng đồng. Tuy nhiên, những biện pháp ngăn ngừa dịch của bộ Y tế nói chung và của chính quyền các địa phương chưa đạt hiệu quả. Đã đến lúc, người dân được thấy những biện pháp khả thi của ngành y tế cũng như hệ thống chính quyền để họ có niềm tin rằng mình đang được bảo vệ. Ngành y tế nên xem đã đến lúc công bố dịch hay chưa bởi đây là trách nhiệm của ngành y trước nhân dân. Khi công bố dịch sẽ huy động được tất cả mọi nguồn lực trong xã hội để mọi người, mọi nhà cùng tham gia với ngành y, với chính quyền chống dịch. Không nên vì bệnh thành tích, vì lợi ích trước mắt mà đánh đổi bằng sức khoẻ, sinh mạng của người dân.

Luật sư Lê Hiếu Đằng (phó chủ nhiệm hội đồng tư vấn về dân chủ và pháp luật của uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam):

Sự thờ ơ và bệnh thành tích?

Dịch tay chân miệng đã lan tới 61/63 tỉnh thành, 111 ca tử vong, điều đó chứng tỏ các biện pháp của bộ Y tế và các địa phương đưa ra để ngăn chặn dịch bệnh là không hiệu quả. Nguy hiểm hơn, trong bối cảnh nguy cấp như vậy nhưng bộ Y tế vẫn báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ là đã kiểm soát được dịch bệnh, cho thấy sự thờ ơ và bệnh thành tích.
(Theo SGTT)
-------------------------
Số ca mắc bệnh tay chân miệng tăng đột biến

Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) ngày 6-10 cho biết dịch tay chân miệng xuất hiện ở các tỉnh phía Bắc muộn hơn các tỉnh phía Nam nhưng đang có xu hướng tăng trong các tuần gần đây.
Hãy đến với chuyên mục Sức khỏe của Eva để tìm hiểu những bí quyết ăn ngon, ăn chuẩn, tham khảo những bệnh thường gặp trong cuộc sống, bệnh 'vùng kín' của chị em và những bài thuốc hay rất hữu hiệu cho mẹ và bé.

Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có hơn 62.000 ca bệnh, trong đó 114 trường hợp tử vong. Trong vòng một tháng qua, số mắc đã tăng thêm khoảng 20.000 ca.

Lý giải về số mắc tăng đột biến, ông Nguyễn Văn Bình, Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, cho biết nguyên nhân do số ca bệnh được bổ sung từ một số tỉnh trước đó chưa được tổng hợp trong báo cáo. Hiện số mắc thực tế vẫn duy trì là hơn 2.000 ca/tuần.

Cục Y tế dự phòng cho biết hiện dịch tay chân miệng không chỉ bùng phát ở trẻ nhỏ (chiếm hơn 90% là trẻ dưới 5 tuổi) mà đã xuất hiện nhiều trường hợp người lớn bị nhiễm bệnh nhưng xuất hiện lẻ tẻ và ở thể nhẹ. Dù vậy, người lớn cũng không nên chủ quan và cần thực hiện các biện pháp dự phòng.

Cùng ngày, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương cho biết thời gian qua đã tiếp nhận nhiều bệnh nhân là người lớn mang virus tay chân miệng. Các trường hợp này có thể lây bệnh do chăm sóc trực tiếp trẻ bị bệnh hoặc là người thân trong gia đình. Người lớn mắc bệnh cũng có những triệu chứng giống với trẻ em, như: sốt, đau người, tổn thương phỏng ở gan bàn chân, bàn tay, loét miệng…
(Theo NLĐ)
------------------------
Vẫn chưa công bố dịch tay chân miệng
Theo Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), trong tuần qua, cả nước có thêm 5 trường hợp tử vong do bệnh tay chân miệng (TCM) nâng số tử vong do bệnh này lên 119 trường hợp.
Hãy đến với chuyên mục Sức khỏe của Eva để tìm hiểu những bí quyết ăn ngon, ăn chuẩn, tham khảo những bệnh thường gặp trong cuộc sống, bệnh 'vùng kín' của chị em và những bài thuốc hay rất hữu hiệu cho mẹ và bé.

Theo Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), trong tuần qua, cả nước có thêm 5 trường hợp tử vong do bệnh tay chân miệng (TCM) nâng số tử vong do bệnh này lên 119 trường hợp tại 25 tỉnh, TP, trong số hơn 66.300 trường hợp mắc bệnh TCM.

Từ giữa tháng 9 đến nay, số ca nhiễm bệnh luôn dao động từ 2.000 đến 2.500. Trong tuần qua, ngoài những địa phương phía Nam duy trì số ca mắc bệnh TCM ở mức cao như Đồng Tháp, TPHCM, Đồng Nai…; tại miền Bắc số ca bệnh cũng tăng nhanh ở các tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình. Tuy nhiên, đến nay, cơ quan chức năng vẫn chưa công bố dịch TCM.

Trước sự tăng nhanh của bệnh TCM, GS Phạm Song, Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam, đề nghị các địa phương nên cân nhắc việc công bố dịch TCM. Bởi dịch là sự xuất hiện nhiều bệnh nhân trong một cộng đồng hay một vùng với tần số mắc vượt quá dự tính bình thường. Nếu theo định nghĩa này, từ 2 tháng trước, TPHCM và một số địa phương khác đã có số ca mắc bệnh TCM vượt mức bình thường.

(Theo N.Dung/ NLĐ)
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là loại viêm nhiều khớp mạn tính, có thể gặp ở nam và nữ nhưng nữ giới thường mắc bệnh này chiếm tỷ lệ cao hơn (tỷ lệ giữa nam và nữ là 1/3). Bệnh VKDT là một bệnh mạn tính kéo dài và có thể để lại nhiều hậu quả xấu cho người bệnh. Bệnh chữa khỏi hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố liên quan như phải chẩn đoán sớm, đúng, điều trị đúng phác đồ và người bệnh phải kiên trì điều trị.

Đi tìm nguyên nhân VKDT

Cho đến nay nguyên nhân gây nên bệnh VKDT chưa được làm sáng tỏ, tuy vậy có nhiều giả thuyết cho rằng VKDT là bệnh tự miễn bởi họ có những bằng chứng cho thấy rằng vai trò quan trọng của các đáp ứng miễn dịch (miễn dịch dịch thể và miễn dịch qua trung gian tế bào), của các cytokines, các lympho T, yếu tố cơ địa, yếu tố di truyền (ở một tỷ lệ nhất định mẹ truyền cho con gái)… Do chưa tìm thấy nguyên nhân gây VKDT một cách chắc chắn cho nên việc điều trị cũng gặp không ít khó khăn. Bệnh VKDT thường gặp ở nữ giới chiếm tỷ lệ khoảng 75%, mọi lứa tuổi có thể mắc bệnh VKDT nhưng tuổi mắc bệnh cao nhất thường từ 30-60 tuổi. Các khớp thường bị viêm sớm nhất và hay gặp nhất là bàn tay, cổ tay rồi đến khớp bàn chân, khớp ngón chân, khớp bàn - ngón tay, khớp bàn - ngón chân. Các khớp thường bị sưng, đau kéo dài và đối xứng nhau. Bên cạnh các triệu chứng lâm sàng thì cũng rất cần tiến hành các chỉ số của cận lâm sàng như xác định tốc độ máu lắng, xác định tỷ lệ CRP (C- Reactive Protein), yếu tố dạng thấp RF (Rheumatoid Factor), chụp Xquang khớp bị đau…

Hậu quả của VKDT

Hậu quả của bệnh VKDT rất khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố từ khâu chẩn đoán sớm, điều trị đúng, chế độ dinh dưỡng, tập luyện… Người ta thấy rằng hậu quả của VKDT có thể để lại di chứng biến dạng khớp bị viêm, co quắp các ngón tay, hạn chế chức năng vận động, teo cơ và có thể bị tàn phế (khoảng 10 - 15%). Một số yếu tố khác có thể làm ảnh hưởng đến tính mạng người bệnh như người bệnh VKDT có kèm bệnh tim mạch, mắc thêm bệnh nhiễm khuẩn cấp tính. Đối với VKDT cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có triệu chứng hơi giống VKDT như  đau nhức xương hoặc mỏi cơ, mỏi khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp phản ứng, viêm khớp vẩy nến là những bệnh thuộc về khớp nhưng phản ứng huyết thanh về yếu tố RF âm tính, viêm khớp không đối xứng ở một hoặc nhiều khớp, các bệnh này thường gặp ở nam giới. Hoặc một số bệnh có liên quan đến khớp nhưng không phải VKDT như lupus ban đỏ hệ thống, thoái hoá khớp hoặc viêm khớp do liên cầu nhóm A (S.pyogenes) gây thấp tim tiến triển…

Khi nghi ngờ mắc bệnh VKDT hoặc đã mắc bệnh VKDT thì nên làm gì?

Bệnh VKDT là bệnh mạn tính, kéo dài, để lại nhiều hậu quả xấu  mà nguyên nhân chưa được xác định một cách chắc chắn, do vậy  khi nghi ngờ bị bệnh VKDT cần đi khám ngay, tốt nhất là được khám bởi bác sĩ chuyên khoa xương khớp. Khi đã bị bệnh VKDT cần xác định là điều trị sớm, tích cực, liên tục và lâu dài. Người bệnh không nên tự mua thuốc điều trị, làm như vậy không những bệnh không khỏi mà đôi khi còn nặng hơn. Không được tiêm bất cứ loại thuốc nào vào vùng đau của khớp khi chưa có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Mọi người bệnh VKDT nên có chế độ sinh hoạt hợp lý và  rèn luyện cơ thể đều đặn nhằm tránh biến dạng khớp, cứng khớp, teo cơ. Hằng tháng nên đi khám bệnh theo định kỳ để bác sĩ theo dõi tình trạng sức khoẻ của mình thuận lợi hơn, nếu thấy cần kết hợp điều trị giữa nội khoa, ngoại khoa hoặc lý liệu pháp thì bác sĩ sẽ tư vấn kịp thời cho người bệnh biết. VKDT là một trong những bệnh cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc, người bệnh và gia đình bệnh nhân thì hiệu quả điều trị sẽ được tăng lên.
Tiêu chuẩn để chẩn đoán có phải VKDT hay không: cứng khớp buổi sáng; viêm khớp, sưng phần mềm vùng khớp ở ít nhất 3 khớp trong số các khớp (khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn - ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn - ngón chân); viêm đau khớp đối xứng; tăng nồng độ yếu tố dạng thấp RF trong huyết thanh; trên Xquang có hình ảnh biến đổi của xương (mất vôi, hình dải hoặc xói mòn hoặc khuyết xương ở bàn tay, bàn chân hoặc hẹp khe khớp hoặc dính khớp) và có nốt thấp xuất hiện. Chẩn đoán xác định khi có ≥ 4 tiêu chuẩn.

PGS.TS.TTƯT.Bùi Khắc Hậu
Thoái hóa khớp gối là bệnh thường gặp nhất là ở người cao tuổi. Từ 30 tuổi trở đi, khớp gối đã bắt đầu thoái hóa. Lúc đầu, biểu hiện chủ yếu của bệnh là mỏi khớp, vận động khó khăn, dần dần xuất hiện cảm giác đau, đặc biệt là khi bước lên cầu thang hoặc khi thời tiết thay đổi. Đôi khi nghe tiếng lạo xạo trong khớp gối khi vận động. Trường hợp nặng, người bệnh đau cứng khớp đột ngột không thể co duỗi được.

Theo y học cổ truyền, ngoài biện pháp dùng thuốc, vật lý trị liệu, châm cứu thì xoa bóp bấm huyệt cũng là một biện pháp đơn giản và hiệu quả để điều trị căn bệnh này, có tác dụng giảm đau và phục hồi vận động cho bệnh nhân. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo và tự thực hiện tại nhà. Nên làm đều đặn hằng ngày, mỗi ngày 2 lần.

Xát khớp gối: Người bệnh ngồi trên giường cứng, hai chân duỗi thẳng. Hai bàn tay ôm lấy hai bên khớp gối và xát từ trên xuống và ngược lại khoảng 20 lần.

Day khớp gối: Ngồi trên giường, chân duỗi thẳng, hai bàn tay úp lên hai xương bánh chè rồi day tròn theo chiều kim đồng hồ khoảng 20 lần rồi day ngược chiều kim đồng hồ 20 lần.


Day huyệt thừa sơn.
Miết khớp gối: Ngồi sao cho cẳng chân vuông góc với đùi. Hai ngón cái đặt vào đầu gối (phía trước đầu gối), các ngón còn lại ấp vào khoeo (phía sau đầu gối). Hai ngón cái dùng lực vừa phải miết hướng vào tâm (phía trước đầu gối) sau đó lại miết từ tâm ra phía sau đầu gối dọc theo khe khớp gối. Tiếp tục làm như vậy với chân bên kia, mỗi bên khoảng 20 lần.

Vận động khớp gối: Ngồi, cẳng chân vuông góc với đùi. Hai tay ôm lấy khớp gối co duỗi nhẹ nhàng khoảng 20 lần. Làm lại như vậy với chân bên kia.

Day ấn huyệt âm lăng tuyền: Dùng hai ngón cái đồng thời day ấn huyệt âm lăng tuyền hai bên chân khoảng 1 phút.

Day ấn huyệt huyết hải: Dùng hai ngón cái đồng thời day ấn huyệt huyết hải hai bên chân khoảng 1 phút.

Day ấn huyệt túc tam lý: Dùng hai ngón cái đồng thời day ấn huyệt túc tam lý hai bên chân khoảng 1 phút.


Day huyệt túc tam lý.
Day ấn huyệt ủy trung: Dùng hai ngón giữa đồng thời day ấn huyệt ủy trung hai bên chân trong 1 phút.

Day ấn huyệt thừa sơn: Dùng hai ngón giữa đồng thời day ấn huyệt thừa sơn hai bên chân mỗi bên khoảng 1 phút.

Ngoài ra, có thể kết hợp chườm nóng khớp gối bằng lá ngải cứu sao với muối, mỗi ngày làm một lần vào buổi tối.

Chú ý:

Khi đau cấp phải hạn chế vận động và kết hợp dùng thuốc. Khi các triệu chứng đau giảm hết cần tăng  cường vận động khớp gối để tránh cứng khớp và biến dạng khớp. Nên thường xuyên tập thể dục với cường độ thích hợp, đều đặn, kéo dài khoảng 20 - 30 phút, ít nhất là 3 lần/tuần, tốt nhất là đi bộ, yoga, bơi, đạp xe đạp.

Tránh để thừa cân béo phì tạo áp lực cho khớp. Tăng cường các thức ăn bổ sung canxi như sữa tươi, sữa chua, các loại tôm tép. Tránh các tư thế xấu trong sinh hoạt hằng ngày như ngồi chồm hổm, khom cúi kéo dài, không đi giày gót cao.  
Vị trí huyệt

Âm lăng tuyền: Ở chỗ lõm làm thành bởi bờ sau trong đầu trên xương chày với đường ngang qua nơi lồi cao nhất của cơ cẳng chân trước xương chày, ở mặt trong đầu gối. Dùng ngón tay lần theo bờ trong xương ống chân, đến ngay dưới chỗ lồi xương cao nhất, đó là huyệt.

Huyết hải: Mặt trước trong đùi, từ xương bánh chè đầu gối đo lên 2 thốn. Hoặc ngồi đối diện với bệnh nhân, bàn tay phải của thầy thuốc đặt trên xương bánh chè bên trái của bệnh nhân, 4 ngón tay áp tại đầu gối, ngón cái ở phía trên đùi, chỗ đầu ngón cái là huyệt.

Túc tam lý:  Bờ ngoài xương bánh chè đo xuống 3 tấc, cách bờ xương ống chân 1 tấc. Hoặc gấp gối vuông góc, lòng bàn tay đặt vào xương bánh chè (tay phải trên đầu gối phải, tay trái trên đầu gối trái), các ngón tay duỗi thẳng, ngón trỏ đặt trên bờ trước xương ống chân, đầu ngón giữa ở đâu thì đó là huyệt.                                                                                                                                          

Ủy trung: Ngay giữa lằn chỉ ngang nếp khoeo chân.
Thừa sơn: Ở giữa đường nối huyệt uỷ trung và gót chân, dưới uỷ trung 8 tấc, ngay chỗ lõm giữa hai khe cơ sinh đôi ngoài và trong.

 Lương y  Đình Thuấn
Bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh mạn tính kéo dài và có thể để lại nhiều hậu quả xấu cho người bệnh. Bệnh có được chữa khỏi hay không còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố: chẩn đoán sớm, đúng, điều trụ đúng phác đồ và người bệnh phải kiên trì diều trị. Bệnh gặp ở nữ giới nhiều hơn nam (tỷ lệ 3/1).

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là trường hợp viêm nhiều khớp mạn tính, có thể gặp ở nam và nữ nhưng nữ giới thường mắc hơn (tỷ lệ giữa nam và nữ là 1/3).

Nguyên nhân và biểu hiện của VKDT

Có nhiều giả thuyết cho rằng, VKDT là bệnh tự miễn bởi có những bằng chứng cho thấy vai trò quan trọng của các đáp ứng miễn dịch của các cytokines, các lympho T, yếu tố cơ địa, yếu tố di truyền… Do chưa tìm thấy nguyên nhân gây VKDT một cách chắc chắn, nên việc điều trị cũng gặp không ít khó khăn.

Bệnh VKDT thường gặp ở nữ giới, chiếm tỷ lệ khoảng 75%. Mọi lứa tuổi có thể bị VKDT nhưng tuổi mắc bệnh cao nhất thường từ 30 - 60 tuổi. Các khớp thường bị viêm sớm nhất và hay gặp nhất là bàn tay, cổ tay rồi đến khớp bàn chân, khớp ngón chân... Các khớp thường bị sưng, đau kéo dài và đối xứng nhau. Bên cạnh các triệu chứng lâm sàng thì cũng cần làm các xét nghiệm cận lâm sàng như: xác định tốc độ máu lắng, xác định tỷ lệ CRP (C -Reactive Protein), yếu tố dạng thấp RF (Rheumatoid Factor), chụp X-quang khớp bị đau… Sau khi đã khám kỹ và có đủ các kết quả cận lâm sàng thì bác sĩ có thể dựa vào tiêu chuẩn của ACR của Hoa Kỳ 1987 để chẩn đoán có phải VKDT hay không. Tiêu chuẩn đó cơ bản như sau: cứng khớp buổi sáng; viêm khớp, sưng phần mềm vùng khớp ở ít nhất 3 khớp trong số các khớp (khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn – ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn – ngón chân); viêm đau khớp đối xứng; tăng nồng độ yếu tố dạng thấp RF trong huyết thanh; trên X-quang có hình ảnh biến đổi của xương (mất vôi, hình dải hoặc xói mòn hoặc khuyết xương ở bàn tay, bàn chân, hoặc hẹp khe khớp hoặc dính khớp) và có nốt thấp xuất hiện. Chẩn đoán xác định khi có ≥ 4 tiêu chuẩn.
Người ta thấy rằng VKDT có thể để lại di chứng biến dạng khớp bị viêm, co quắp các ngón tay, hạn chế chức năng vận động, teo cơ và có thể bị tàn phế (khoảng từ 10 - 15%). Cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có triệu chứng hơi giống VKDT như: đau nhức xương hoặc mỏi cơ hoặc mỏi khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp phản ứng, viêm khớp vẩy nến là những bệnh thuộc về khớp nhưng phản ứng huyết thanh về yếu tố RF âm tính, viêm khớp không đối xứng ở một hoặc nhiều khớp, các bệnh này thường gặp ở nam giới. Hoặc một số bệnh có liên quan đến khớp nhưng không phải VKDT như: lupus ban đỏ hệ thống, thoái hóa khớp hoặc viêm khớp do liên cầu nhóm A (S.pyogenes) gây thấp tim tiến triển…

Nên làm gì khi bị VKDT?

Bệnh VKDT là bệnh mạn tính, kéo dài, để lại nhiều hậu quả xấu mà nguyên nhân chưa được xác định một cách chắc chắn. Do vậy, khi nghi ngờ bị bệnh VKDT cần đi khám bác sĩ ngay, tốt nhất là khám bác sĩ chuyên khoa xương khớp. Khi đã bị bệnh VKDT, cần xác định là điều trị sớm, tích cực, liên tục và lâu dài. Người bệnh không nên tự mua thuốc hoặc nghe sự chỉ dẫn của người khác mà mua thuốc điều trị, làm như vậy bệnh không những không khỏi mà đôi khi còn nặng hơn. Không được tiêm bất cứ loại thuốc nào vào vùng đau của khớp khi chưa có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa khớp. Đối với phụ nữ trong thời gian mang thai mà bị VKDT thì phải được chỉ dẫn thật tỉ mỉ của thầy thuốc chuyên khoa khớp; cần ăn uống đủ chất, làm việc và chế độ sinh hoạt thật điều độ. Khi sinh con, nếu là con gái cần đặc biệt quan tâm đến chế độ sinh hoạt tốt cho con, tránh làm việc quá sức và làm việc trong điều kiện thời tiết lạnh.

Mọi người bệnh VKDT nên có chế độ sinh hoạt hợp lý và rèn luyện cơ thể đều dặn nhằm tránh biến dạng khớp, cứng khớp, teo cơ. Hàng tháng nên đi khám bệnh theo định kỳ để bác sĩ theo dõi tình trạng sức khỏe của mình thuận lợi hơn, nếu thấy cần kết hợp điều trị giữa nội khoa, ngoại khoa hoặc vật lý liệu pháp thì bác sĩ sẽ tư vấn kịp thời cho người bệnh biết. VKDT là một trong những bệnh cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc, người bệnh và gia đình bệnh nhân thì hiệu quả điều trị sẽ được tăng lên.

PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
Thời tiết thay đổi, khí hậu lạnh là những yếu tố ngoại cảnh tác động lớn đến các khớp trong cơ thể, nhất là khớp gối và cột sống. Biểu hiện đau là dấu hiệu dễ nhận biết nhất, khi các khớp đã bị thoái hóa thì đau càng rõ ràng hơn, gây tâm lý lo lắng và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sống của người bệnh. Tuy nhiên, nếu thực hiện những chỉ dẫn dưới đây, người bệnh vẫn có những biện pháp để loại trừ chứng đau do thoái hóa khớp.

Phương pháp điều trị thoái hóa khớp

Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động ở khớp, cần phải đi khám bệnh để các bác sĩ đánh gía tình trạng bệnh và cho các điều trị thích hợp. Việc điều trị sẽ bao gồm:

Điều trị không dùng thuốc: tăng cường các kiến thức về sức khỏe, đặc biệt sức khỏe xương khớp; vận động, tập luyện, làm việc vừa sức; ăn uống dinh dưỡng hợp lý; tránh dư cân, béo phì, tránh mang vác vật nặng, tránh tăng áp lực cho sụn khớp và đĩa đệm; phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý tại hệ thống xương khớp.

Điều trị bằng thuốc: điều trị triệu chứng đau và viêm cho người bệnh bằng thuốc giảm đau và các thuốc kháng viêm; làm chậm quá trình thoái hóa bằng các thuốc có thể cải thiện được tiến triển của bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ với nhiều thuốc hữu hiệu: glucosamine sulfate dạng tinh thể, diacerein, acid hyaluronic… Các thuốc này đều cần được điều trị đủ liều theo hướng dẫn của các thầy thuốc.

Phẫu thuật: Trong những trường hợp bệnh nặng, không đáp ứng với điều trị nội khoa cần xem xét việc điều trị ngoại khoa kết hợp: mổ nội soi để cắt xương, loại bỏ dị vật, sửa trục khớp; mổ thay khớp nhân tạo khi khớp bị mất chức năng.


Thoái hóa cột sống thắt lưng.
Các cách phòng ngừa thoái hóa khớp

Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi còn trẻ cần tập thể dục đều đặn, tránh bị dư cân, tránh những động tác quá mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống. Điểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là các biện pháp được các nhà chuyên môn khuyến cáo:

- Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp, tránh dư cân béo phì.

- Tập vận động thường xuyên và vừa sức: luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Đó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương và giảm khả năng té ngã trong sinh hoạt và lao động.

- Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng và cân bằng: Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

- Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng và tránh quá sức: khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay và khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân và nên tận dụng thêm sự hỗ trợ (của dụng cụ hay người khác).

- Giữ nhịp sống thoải mái và thường xuyên thay đổi tư thế: Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

- Điều trị tích cực các bệnh lý xương khớp mắc phải.

Biểu hiện của thoái hóa khớp

Đau:Triệu chứng sớm nhất của thoái hóa khớp là đau khi vận động, mới đầu chỉ đau khi khớp hoạt động, nghỉ sẽ hết đau; sau đó có thể đau âm ỉ, liên tục cả khi nghỉ, đau trội hơn khi vận động. Nếu thoái hóa khớp gối, người bệnh đau nhiều khi đi lại, đứng lên ngồi xuống khó khăn, nhất là lúc lên xuống thang gác hoặc đang ngồi xổm đứng lên, có khi đau quá bị khuỵu xuống đột ngột. Nếu thoái hóa cột sống thắt lưng, người bệnh bị đau âm ỉ ở vùng thắt lưng và thường đau trội lên về chiều sau một ngày làm việc phải đứng nhiều hay lao động nặng, lúc nằm nghỉ đau sẽ giảm. Khi đau, bệnh nhân làm các động tác cúi, nghiêng, ngửa hoặc xoay người rất khó khăn. Nếu thoái hóa khớp háng, người bệnh đau ở vùng bẹn, vùng trước trong đùi, có thể đau cả vùng mông lan xuống mặt sau đùi và dọc theo đường đi của thần kinh tọa.

Hạn chế vận động:Sau triệu chứng đau là tình trạng hạn chế vận động. Nếu bị thoái hóa khớp gối, các động tác gấp và duỗi thẳng chân bị hạn chế, đứng lên ngồi xuống khó khăn, có thể không ngồi được. Nếu bị thoái hóa khớp vai sẽ hạn chế các động tác đưa tay ra trước, ra sau, quay tay và không làm được một số động tác đơn giản như gãi lưng, chải đầu. Nếu bị thoái hóa khớp háng, người bệnh đi khập khiễng, giạng hay khép háng đều khó khăn, khó gập đùi vào bụng.

Tiếng kêu tại khớp:vận động khớp thường thấy tiếng lạo xạo hoặc lục khục.

Kèm theo có thể thấy đầu xương bị phì đại, lệch trục khớp, teo cơ…

PGS.TS.BS. Lê Anh Thư
(Khoa Nội cơ xương khớp - BV Chợ Rẫy)
Thoái hóa khớp là một bệnh khớp thường gặp nhất ở người cao tuổi với trên 50% những người trên 35 tuổi có biểu hiện ít nhất một triệu chứng của bệnh, tỷ lệ này lên tới 80% ở những người trên 70 tuổi.  Bệnh đặc trưng bởi tổn thương thoái hóa của sụn khớp với quá trình mất sụn khớp và tổn thương xơ hóa xương dưới sụn, từ đó gây ra tổ chức xương cạnh khớp tân tạo và hốc xương dưới sụn.


Mát-xa làm hạn chế thoái hóa khớp gối.

Tổn thương thoái hóa khớp thường gặp ở các khớp chịu lực: khớp gối, khớp háng hoặc thoái hóa cột sống. Ngoài ra cũng gặp thoái hóa ở các khớp nhỏ ngoại vi có chức năng vận động cơ học nhiều như khớp bàn ngón cái và các khớp ngón xa ở tay, chân. Trong đó bệnh thoái hóa khớp gối rất hay gặp ở nước ta (thường gặp hơn ở nữ giới) với chi phí xã hội cho chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh ngày càng tăng cao.

Chẩn đoán thoái hóa khớp gối dựa vào hỏi bệnh với triệu chứng đau khớp kiểu cơ học: đau tăng khi vận động, đặc biệt khi chuyển tư thế từ ngồi sang đứng, động tác đi bộ lên- xuống cầu thang; đau giảm khi nghỉ ngơi. Người bệnh có thể cảm nhận tiếng khớp lạo xạo khi vận động kèm hạn chế vận động, gấp, duỗi  khớp gối đau. Khớp có thể biến dạng, sưng hoặc lệch trục kiểu vòng kiềng (chân chữ O) hoặc kiểu chân chữ X. Hình ảnh Xquang điển hình của thoái hóa khớp gối bao gồm hình ảnh hẹp khe khớp không đều (thường hẹp nhiều ở mặt trong), kết đặc xương dưới sụn, hình ảnh mọc thêm xương (gai xương, chồi xương).

Hiện tại chưa có thuốc nào điều trị khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp. Điều trị thoái hóa khớp gối nhằm mục đích giảm đau cho bệnh nhân và duy trì vận động khớp. Các phương thức điều trị bao gồm điều trị nội khoa và điều trị ngoại khoa. Lựa chọn chương trình điều trị thích hợp cho bệnh nhân phải dựa trên hoàn cảnh cụ thể của bệnh nhân đó, như tuổi, trọng lượng, mức độ thoái hóa cũng như các bệnh kèm theo.

Các biện pháp điều trị không dùng thuốc

Cần tránh cho khớp gối bị quá tải bởi mức độ vận động và trọng lượng quá mức bằng giảm các vận động chịu tải, giảm béo. Trường hợp cần thiết, bệnh nhân nên đi nạng 1 hoặc 2 bên.

Vật lý trị liệu có tác dụng giảm đau tốt, với mục đích chữa tư thế xấu và duy trì dinh dưỡng cơ ở cạnh khớp, điều trị đau gân và cơ kết hợp tăng sức mạnh của cơ. Các biện pháp bao gồm mát-xa cơ, tập vận động khớp và các biện pháp dùng nhiệt lượng (hồng ngoại, sóng ngắn, điện phân...).

Thay đổi nghề nghiệp của bệnh nhân nếu có thể, như lựa chọn nghề ít đi lại, ít chịu tải trọng, tìm các biện pháp cho bệnh nhân thích nghi với điều kiện làm việc.

Về tập luyện: Có thể tập các bài tập như chạy bộ khi khớp chưa có tổn thương Xquang, nghĩa là khe khớp vẫn còn bình thường. Chú ý tránh đi bộ nhiều trong giai đoạn khớp gối đang đau. Đây là một sai lầm mà nhiều bệnh nhân hay mắc phải. Bơi hoặc đạp xe đạp tại chỗ là các biện pháp tập luyện tốt.

Thuốc điều trị bao gồm các thuốc giảm đau thông thường như paracetamol hoặc paracetamol kết hợp codein (efferalgan codein). Trường hợp không đáp ứng thì dùng phối hợp thuốc giảm đau chống viêm không steroid toàn thân (uống hoặc tiêm) hoặc bôi tại chỗ; hoặc dùng corticoid tiêm nội khớp với hiệu quả tương đối tốt. Lưu ý tiêm khớp phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và tiến hành tiêm trong điều kiện vô khuẩn tuyệt đối.

Điều trị ngoại khoa thoái hóa khớp gối

Bao gồm nội soi khớp, đục xương chỉnh trục, thay một phần hoặc toàn bộ khớp gối. Điều trị ngoại khoa thường được chỉ định với các trường hợp khớp gối hạn chế chức năng nhiều, khe khớp hẹp nặng, biến dạng khớp hoặc đau khớp kháng lại với các phương thức điều trị nội khoa.

Điều trị qua nội soi khớp: Bằng nội soi khớp gối, người ta có thể rửa khớp loại bỏ các yếu tố gây viêm, lấy bỏ các dị vật trong khớp (có thể là các mẩu sụn khớp bị bong ra, hoặc các thành phần bị canxi hóa), gọt giũa bề mặt không đều của sụn, cắt bỏ các sụn chêm bị tổn thương.

Cũng thông qua nội soi khớp có thể tiến hành ghép sụn lên bề mặt của sụn bị thoái hóa. Miếng sụn ghép được lấy từ sụn lành ở chính khớp gối soi (với diện tích nhỏ, ở nhiều vị trí trên khớp sao cho không gây ra một thoái hóa khớp thứ phát mới); hoặc người ta lấy sụn ra nuôi cấy ở môi trường thích hợp bên ngoài, nhằm mục đích nhân lên các tế bào sụn; hoặc tạo ra sụn từ các tế bào gốc. Sau khi đạt được thể tích sụn nhất định sẽ đem cấy ghép vào bề mặt sụn tổn thương. Mảnh sụn ghép sẽ phát triển do được nhúng vào các vùng xương được tưới  máu. Kết quả bề mặt sụn bị thoái hóa được phủ bởi lớp sụn mới. Tuy nhiên hiệu quả đạt được của các kỹ thuật ghép sụn trên còn chưa cao, do đó chưa áp dụng rộng rãi.

Đục xương chỉnh trục ở xương chày hoặc xương đùi là kỹ thuật tốt để sửa chữa các khớp bị lệch trục như khớp gối vẹo vào trong hoặc cong ra ngoài.

Thay khớp gối nhân tạo từng phần hoặc toàn phần: Chỉ định đối với các trường hợp thoái hóa khớp gối nặng mà các biện pháp điều trị khác không hiệu quả.

Dự phòng thoái hóa khớp

- Chống các tư thế xấu trong sinh hoạt và lao động. Tránh các động tác mạnh, đột ngột khi mang vác hoặc lao động nặng.

- Điều chỉnh cân nặng ở trọng lượng lý tưởng.

- Phát hiện và sửa chữa các dị dạng xương, khớp gối, đặc biệt ở trẻ em.

- Đục xương chỉnh trục trong lệch trục khớp gối (vừa là dự phòng, vừa để điều trị thoái hóa).  

Theo SKĐS
Thoái hóa khớp là một bệnh khớp thường gặp nhất ở người luống tuổi với chi phí xã hội cho chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh ngày càng tăng.

Hiện tại có thể khẳng định chưa có thuốc nào điều trị khỏi hoàn toàn bệnh thoái hóa khớp. Điều trị thoái hóa khớp nhằm mục đích giảm đau cho bệnh nhân và duy trì vận động khớp.

Lựa chọn các thuốc điều trị thích hợp cho một bệnh nhân phải dựa trên hoàn cảnh cụ thể của bệnh nhân đó, như tuổi, trọng lượng, mức độ thoái hóa cũng như các bệnh kèm theo.

Thuốc giảm đau đơn thuần:


Bàn tay của người bệnh bị viêm khớp mạn tính.

Chỉ định trong những trường hợp thoái hóa khớp nhẹ, kết hợp với chế độ vận động hợp lý. Thuốc giảm đau có thể dùng đơn thuần là paracetamol nhưng không được vượt quá 3g một ngày. Nếu bệnh nhân vẫn đau, chuyển sang dùng dạng kết hợp paracetamol + codein (như efferalgan codein hoặc di-antalvic).

Thuốc chống viêm giảm đau không steroid (CVKS):

Đây là nhóm thuốc điều trị triệu chứng tác dụng nhanh. Do trong bệnh thoái hóa khớp có kèm hiện tượng viêm màng hoạt dịch khớp nên việc dùng thuốc nhóm này có tác dụng tốt đối với bệnh. Cơ chế chính của nhóm thuốc này là thông qua ức chế men cyclooxygenase 2 (COX-2) ức chế tổng hợp các prostaglandin gây viêm. Tuy nhiên, một số thuốc sẽ ức chế cả men COX-1 có tác dụng trong quá trình tổng hợp các prostaglandin có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày. Vì vậy, người ta chia nhóm thuốc này  thành các nhóm: nhóm CVKS không chọn lọc (ức chế cả COX-1 và COX-2) có tác dụng phụ nhiều hơn trên dạ dày. Một số thuốc trong nhóm như aspirin hoặc diclofenac.

Nhóm thứ hai là nhóm ức chế COX-2 không chuyên biệt (chủ yếu ức chế COX-2 nhưng vẫn ức chế COX-1), ví dụ meloxicam  hoặc nimesulid.

Nhóm thứ ba là nhóm ức chế COX-2 tương đối chuyên biệt (ít tác dụng phụ lên dạ dày) như celecoxib viên 100mg, 200mg, ngày uống từ 1 - 2 viên. Lưu ý thận trọng ở những bệnh nhân mắc các bệnh tim mạch do làm gia tăng các biến cố tim mạch.

Các tác dụng phụ của thuốc CVKS như gây giảm chức năng thận, tăng men gan; đặc biệt về dạ dày - ruột gây viêm, xuất huyết tiêu hóa. Có thể hạn chế tác dụng phụ trên dạ dày bằng cách sử dụng thuốc điều trị viêm dạ dày nhóm ức chế bơm proton (omeprazon, nesomeprazon), hoặc thuốc kháng histamin H2 (ranitidin), hoặc đồng đẳng của prostaglandine E1 (misoprostol - cytotex).

Một dạng CVKS dùng an toàn hơn là thuốc bôi ngoài như diclofenac gel bôi, hoặc chế phẩm có aspirin bôi tại chỗ khớp tổn thương cũng có tác dụng tốt.

Thuốc có corticoid:

Không được dùng corticoid đường toàn thân (prednisolon, dexamethason) uống, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch trong điều trị bệnh thoái hóa khớp. Đây là sai lầm mà nhiều bệnh nhân hay thầy thuốc không chuyên khoa hay mắc.

Đường tiêm nội khớp có hiệu quả đối với các dấu hiệu chức năng của bệnh như giảm đau, cải thiện chức năng vận động. Có thể dùng hydrocortison acetate 2-3 mũi tiêm một đợt với khoảng cách giữa hai mũi tiêm từ 5-7 ngày và khoảng cách giữa hai đợt phải ít nhất 3 tháng. Hoặc methylprednisolon acetat (depomedron 40mg), tiêm mỗi đợt 1-2 mũi, cách khoảng 2 tuần một mũi, khoảng cách mỗi đợt tương tự trên.

Lưu ý, chỉ được tiêm khớp khi có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa xương khớp và trong điều kiện vô trùng tuyệt đối tại cơ sở y tế chuyên khoa. Hiện nay có rất nhiều người không có bằng cấp chuyên môn tự ý tiêm các thuốc corticoid không đúng chỉ định, không đúng liều lượng và vị trí, trong điều kiện không vô khuẩn gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng cho bệnh nhân như nhiễm trùng khớp, da, cơ hay hội chứng phụ thuộc corticoid.

Thuốc chống thoái hóa khớp tác dụng chậm:

Đây là nhóm thuốc điều trị cơ bản có tác dụng chậm (thường sau 2- 4 tuần) nhưng hiệu quả điều trị được duy trì cả sau khi ngừng điều trị (sau vài tuần đến 2-3 tháng). Tuy nhiên, thường phải dùng kéo dài từ 1-2 tháng hoặc hơn mỗi đợt và cần nhắc lại liệu trình điều trị sau một thời gian nghỉ. Dung nạp thuốc tốt, dường như không có tác dụng phụ. Các thuốc thường dùng gồm các loại như glucosamin sulfat uống hoặc tiêm bắp, chondroitine sulfat hoặc dạng phối hợp hai thuốc; hoặc diacerhein.

Liệu pháp bổ sung chất nhầy bằng muối natri của acid hyaluronic:

Thuốc có tác dụng bao phủ và bôi trơn bề mặt sụn khớp, ngăn cản sự mất sụn, có tác dụng giảm đau và cải thiện biên độ vận động khớp. Tiêm natri hyaluronat có trọng lượng phân tử cao vào nội khớp bị thoái hóa sẽ bổ sung độ nhớt cho khớp. Có thể nhắc lại liệu pháp bổ sung chất nhờn sau một năm. Hiện nay đã mở rộng tiêm chất nhờn ra một số vị trí thoái hóa khớp khác như khớp vai hoặc mở rộng ra các khớp nhỏ hơn như khớp cổ tay, khớp khuỷu, thậm chí cả khớp đốt bàn ngón tay.
THeo SKĐS
Gút là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hóa nhân purin của tế bào, có thể nói nôm na là rối loạn chuyển hóa đạm, được đặc trưng bởi sự tăng cao quá mức acid uric trong máu và trong các mô của cơ thể. Các tinh thể urat lắng đọng vào màng hoạt dịch của khớp gây nên viêm khớp vi tinh thể với những triệu chứng rất đặc trưng.

Các khó khăn chính gặp phải khi chẩn đoán bệnh gút


Tổn thương khớp, biểu hiện của bệnh gút (phim Xquang).

Khi bệnh ở thể điển hình thì có thể phát hiện được không mấy khó khăn. Chẩn đoán bệnh hiện nay vẫn dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ 1968. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, chẩn đoán gút còn gặp nhiều khó khăn. Có 3 nguyên nhân chính gây khó khăn cho công tác chẩn đoán. Thứ nhất, đây là bệnh khá mới nên ngay cả cán bộ y tế vẫn còn lúng túng khi chẩn đoán và điều trị bệnh. Nhiều cơ sở y tế lại chưa có khả năng làm các xét nghiệm cần thiết như chọc dịch khớp, xét nghiệm acid uric máu... nên bỏ qua, không chẩn đoán được bệnh. Nguyên nhân thứ hai là bệnh có rất nhiều biểu hiện và nhiều thể bệnh khác nhau, nên dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh khác. Nguyên nhân thứ ba là tình trạng lạm dụng thuốc bừa bãi hiện nay. Bệnh nhân được dùng quá nhiều loại thuốc nên mất hết triệu chứng, khiến chẩn đoán trở nên rất khó khăn. Có nhiều bệnh nhân gút vào viện với các biến chứng nặng nề do lạm dụng thuốc như đái tháo đường, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não.

Các hiểu biết giúp cho chẩn đoán bệnh chính xác

Chú ý đến đối tượng và lứa tuổi hay mắc bệnh: Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành. Tuyệt đại đa số các bệnh nhân gút là nam giới. Nam dễ bị bệnh, có thể do lối sống, chế độ ăn uống (rượu, bia) và vấn đề di truyền. Về tuổi: bệnh thường gặp nhất ở độ tuổi 40-60. Ở nữ giới bệnh thường xảy ra sau thời kỳ mãn kinh.

Các biểu hiện chính của bệnh gút giúp ích cho việc chẩn đoán: Để phát hiện sớm được bệnh gút, cần chú ý đến 3 biểu hiện lâm sàng chính của bệnh gồm các tổn thương khớp, xuất hiện hạt tophi và tổn thương thận. Biểu hiện đặc trưng đầu tiên của bệnh gút là các viêm khớp cấp tính do gút. Cơn xuất hiện đột ngột, thường vào ban đêm. Khớp hay bị tổn thương là các khớp ở chi dưới: gối, cổ chân và đặc biệt là ngón chân cái... Khớp bị tổn thương đau ghê gớm, bỏng rát, đau làm mất ngủ, da trên vùng khớp hay cạnh khớp sưng nề, có màu hồng hoặc đỏ. Thường kèm theo cảm giác mệt mỏi, đôi khi sốt 38-38,5oC, có thể kèm rét run. Một đặc điểm nữa là khi uống thuốc colchicin thì bệnh nhân thấy giảm đau khớp nhanh trong vòng 48-72 giờ. Các đợt viêm khớp này có thể tự khỏi sau khoảng 1-2 tuần. Sau đó lại xuất hiện các đợt viêm khớp mới. Khi tiến triển lâu dài thì bệnh chuyển sang giai đoạn mới. Đó là gút mạn tính. Các khớp bị sưng đau thường xuyên, dần dần bị biến dạng, cứng khớp, dẫn đến tàn phế. Biểu hiện thứ hai của bệnh gút là xuất hiện các hạt tophi ở trên các khớp bị tổn thương như khớp cổ chân, bàn ngón chân... Đó là các u cục nổi lên dưới da, không đau, da phủ trên đó bình thường, mỏng, dưới da có thể nhìn thấy chất bột trắng. Hạt tophi cũng có thể ở tình trạng viêm cấp, hoặc rò ra chất nhão và trắng như phấn. Biểu hiện thứ ba của bệnh gút là tổn thương thận. Trong gút mạn tính có thể có lắng đọng muối urat trong thận tạo thành sỏi thận. Khi đó bệnh nhân có các cơn đau quặn thận, đái ra máu, đái ra sỏi, hay thậm chí không có nước tiểu do sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu. Để chẩn đoán chính xác bệnh gút cần làm thêm xét nghiệm định lượng acid uric trong máu. Thường phát hiện được nồng độ acid uric máu tăng cao. Các xét nghiệm khác và Xquang khớp tổn thương cho phép xác định mức độ tổn thương và phát hiện các bệnh khác kèm theo.

Chẩn đoán nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh: Có hai nhóm nguyên nhân lớn của bệnh gút là gút nguyên phát và gút thứ phát. Gút nguyên phát là thể bệnh gặp nhiều nhất, có tính chất di truyền và mang tính gia đình. Gút thứ phát có nguyên nhân do tăng acid uric máu thứ phát, gây nên bởi một số bệnh như bệnh thận, bệnh máu, do sử dụng một số thuốc, hay do nhiễm độc chì. Có 5 yếu tố thuận lợi gây bệnh chính. Thứ nhất là yếu tố gia đình. Có tới 30% bệnh nhân gút có người thân trong gia đình cũng mắc bệnh này. Thứ hai là yếu tố nghề nghiệp. Đa số bệnh nhân là trí thức, thương gia, chủ doanh nghiệp. Vì vậy có câu gút là vua của các bệnh và là bệnh của các vua. Nói là vua của các bệnh vì gút cấp gây đau khớp ghê gớm. Nói bệnh của các vua là vì gút trước hết thường hay gặp ở vua chúa, hay những người giàu có. Thứ ba là tật nghiện bia rượu. Ở Việt Nam có tới 75% bệnh nhân gút uống rượu bia thường xuyên trung bình từ 7-10 năm. Thứ tư là các rối loạn chuyển hóa khác như tăng acid uric máu, tăng đường máu, tăng mỡ máu. Các nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ người béo phì có nguy cơ mắc bệnh gút gấp 5 lần so với những người có cân nặng bình thường. Tăng huyết áp cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh gút lên 3 lần. Thứ năm là tiền sử dùng một số thuốc làm tăng acid uric máu như thuốc lợi tiểu, corticoid, aspirin, thuốc chống lao.

Tóm lại, khi bệnh nhân đau sưng các khớp ở chi dưới, có các tính chất như cơn gút cấp, hay có các hạt tophi hay bị sỏi thận, đặc biệt ở bệnh nhân nam giới, cần phải nghĩ đến bệnh gút trước tiên và người bệnh cần đến khám bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để chẩn đoán bệnh và điều trị kịp thời.

THeo SKĐS

Thoát vị đĩa đệm cột sống luôn là một vấn đề thời sự vì đó là một nguyên nhân phổ biến gây đau cột sống cổ, cột sống thắt lưng cũng như đau chân tay. Ở Việt Nam có tới 17% người trên 60 tuổi bị mắc chứng đau lưng. Còn ở Mỹ, hằng năm có khoảng 2 triệu người phải nghỉ việc do đau thắt lưng, với chi phí điều trị lên tới 21 tỷ đô-la. Hiểu biết vấn đề này giúp chúng ta dự phòng có hiệu quả thoát vị đĩa đệm cột sống và giảm bớt chi phí điều trị bệnh.  

Các nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm  

Có nhiều nguyên nhân gây nên thoát vị đĩa đệm cột sống. Đầu tiên đó là các chấn thương cột sống. Thứ hai là tư thế xấu trong lao động. Đau thường xuất hiện khi ta nhấc vật nặng ở tư thế xấu. Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh. Cần chú ý rằng tổn thương đĩa đệm cũng có thể do nguyên nhân di truyền. Nếu bố mẹ có đĩa đệm yếu do bất thường về cấu trúc thì con cái cũng dễ bị thoát vị đĩa đệm. Cơ chế thoát vị đĩa đệm được giải thích như sau. Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm. Nhờ tính đàn hồi, đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương. Ở những người trên 30 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách. Trên cơ sở đó nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức...), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống.  

Các biểu hiện của thoát vị đĩa đệm

Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Đau thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi bệnh. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị.    Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh. Tuỳ theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng đặc trưng. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ sẽ gây đau cột sống cổ, đau vai gáy, đau cánh tay. Nếu thoát vị đĩa đệm cột sống lưng thì sẽ có triệu chứng đau thần kinh liên sườn. Bệnh nhân sẽ thấy đau vùng cột sống lưng, lan theo hình vòng cung ra phía trước ngực, dọc theo khoang liên sườn. Còn nếu thoát vị đĩa đệm xảy ra ở vùng thắt lưng thì bệnh nhân sẽ thấy đau thắt lưng cấp hay mạn tính, đau thần kinh tọa, đau thần kinh đùi bì.  Người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo về một bên để chống đau, cơ cạnh cột sống co cứng. Có trường hợp đau rất dữ dội và người bệnh phải nằm bất động về bên đỡ đau.  Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt. Bệnh nhân rất khó thực hiện các động tác cột sống như cúi ngửa, nghiêng xoay. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu tổn thương thần kinh tọa thì bệnh nhân có thể không nhấc được gót hay mũi chân. Dần dần xuất hiện teo cơ chân bên tổn thương. Khi bệnh nặng người bệnh thấy chân tê bì, mất cảm giác ở chân đau hay đại, tiểu tiện không kiểm soát được.

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm  

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm không phải dễ dàng. Trên thực tế bệnh hay bị chẩn đoán nhầm với nhiều bệnh khác hay bị chẩn đoán muộn. Đó là do các triệu chứng lâm sàng chỉ có tính chất gợi ý. Để chẩn đoán xác định cần phải làm các xét nghiệm hiện đại, tốn kém mà không phải bệnh nhân nào cũng có điều kiện để làm. Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm vì tổn thương đĩa đệm không cản quang, do đó không thấy được trên phim. Người ta chỉ gián tiếp đánh giá tổn thương đĩa đệm khi thấy giảm chiều cao khe liên đốt sống, vẹo cột sống. Để “nhìn thấy” đĩa đệm bị tổn thương và thoát vị, phải chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân. Khi đó đĩa đệm được “cắt thành từng lát” như khi người bán thịt ở chợ cắt miếng thịt trên sạp để cho người mua xem. Qua đó người ta có thể đánh giá được hình thái, tính chất tổn thương đĩa đệm, vị trí thoát vị vào ống sống hay vào lỗ liên hợp, cũng như mức độ hẹp ống sống do thoát vị đĩa đệm gây ra. Từ đó bác sĩ lập ra kế hoạch để quyết định các biện pháp điều trị hợp lý.  

Hậu quả của thoát vị đĩa đệm  

Thoát vị đĩa đệm có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Thứ nhất, bệnh nhân có thể bị tàn phế suốt đời do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cùng, bệnh nhân có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Ngoài ra bệnh nhân bị teo cơ các chi nhanh chóng, khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động. Tất cả các biến chứng đó ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, chưa kể những tốn kém do chi phí điều trị.  Tóm lại, thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể để lại nhiều hậu quả, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh. Do vậy khi bệnh nhân có các triệu chứng nói trên cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa, tốt nhất là gặp các bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.

Teo SKĐS
Triệu chứng bệnh tay chân miệng - Bài tổng hợp đầy đủ nhất

1. Lâm sàng:

1.1. Triệu chứng lâm sàng:

a) Giai đoạn ủ bệnh: 3-7 ngày.

b) Giai đoạn khởi phát: Từ 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.

c) Giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh:

- Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3 mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi.

- Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó để lại vết thâm.

- Sốt nhẹ.

- Nôn.

- Nếu trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng.

- Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.

d) Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.

1.2. Các thể lâm sàng:

- Thể tối cấp: Bệnh diễn tiến rất nhanh có các biến chứng nặng như suy tuần hoàn, suy hô hấp, hôn mê co giật dẫn đến tử vong trong vòng 48 giờ.

- Thể cấp tính với bốn giai đoạn điển hình như trên.

- Thể không điển hình: Dấu hiệu phát ban không rõ ràng hoặc chỉ có loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không phát ban và loét miệng.

2. Cận lâm sàng:

2.1. Các xét nghiệm cơ bản:

- Công thức máu: Bạch cầu thường trong giới hạn bình thường.

- Protein C phản ứng (CRP) (nếu có điều kiện) trong giới hạn bình thường (< 10 mg/L).

2.2. Các xét nghiệm theo dõi phát hiện biến chứng:

- Đường huyết, điện giải đồ, X quang phổi.

- Khí máu khi có suy hô hấp

- Troponin I, siêu âm tim khi nhịp tim nhanh ≥ 150 lần/phút, nghi ngờ viêm cơ tim hoặc sốc.

- Dịch não tủy:  

+ Chỉ định chọc dò tủy sống khi có biến chứng thần kinh.

+ Xét nghiệm protein bình thường hoặc tăng nhẹ, số lượng tế bào trong giới hạn bình thường hoặc tăng nhẹ bạch cầu đơn nhân. Trong giai đoạn sớm có thể tăng bạch cầu từ 100-1000 bạch cầu/mm3, với tỉ lệ đa nhân chiếm ưu thế.

- Chụp cộng hưởng từ não: Tổn thương tập trung ở thân não. Chỉ thực hiện khi có điều kiện và khi cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý ngoại thần kinh.

2.3. Xét nghiệm phát hiện vi rút: Lấy bệnh phẩm hầu họng, phỏng nước, trực tràng, dịch não tuỷ để thực hiện xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập vi rút chẩn đoán xác định nguyên nhân do EV71 hay Coxsackievirus A16.

3. Chẩn đoán xác định: Chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học.

- Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian.

- Lâm sàng: Sốt kèm theo phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông.

- Xét nghiệm xác định có vi rút gây bệnh.

4. Chẩn đoán phân biệt:

4.1. Các bệnh có biểu hiện loét miệng:

Viêm loét miệng (áp-tơ): Vết loét sâu, có dịch tiết, hay tái phát.

4.2. Các bệnh có phát ban da:

- Sốt phát ban: hồng ban xen kẽ ít dạng sẩn, thường có hạch sau tai.

- Dị ứng: hồng ban đa dạng, không có phỏng nước.

- Viêm da mủ: Đỏ, đau, có mủ.

- Thuỷ đậu: Phỏng nước nhiều lứa tuổi, rải rác toàn thân.

- Nhiễm khuẩn huyết do não mô cầu: mảng xuất huyết hoại tử trung tâm

- Sốt xuất huyết Dengue: Chấm xuất huyết, bầm máu, xuất huyết niêm mạc.

4.3. Viêm não-màng não:

- Viêm màng não do vi khuẩn

- Viêm não-màng não do vi rút khác




Phát hiện sớm và đúng bệnh tay - chân - miệng   
  

Trong khi dịch bệnh tiêu chảy cấp vẫn đang trong tình trạng “nóng” thì tại các tỉnh phía Nam, bệnh tay - chân - miệng ở trẻ em cũng đang gia tăng mạnh, báo hiệu một mùa dịch mới bắt đầu. Nhiều trẻ đến nhập viện đã ở trong tình trạng biến chứng nặng. Đây là bệnh do virut gây ra, nên chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vaccin phòng bệnh, vì vậy chế độ chăm sóc dinh dưỡng, vệ sinh tốt cho trẻ là biện pháp phòng bệnh cơ bản.


Enterovirus 71 gây bệnh tay - chân - miệng.
  
    
  

Virut đường ruột là nguyên nhân chính gây bệnh

Trước đây, rất ít người quan tâm đến bệnh tay chân miệng vì được biết đến do virut Coxsakie A16, một týp rất lành tính gây ra và người bệnh tự khỏi sau vài ngày. Nhưng gần đây các nhà nghiên cứu mới phát hiện ra virut Entero 71 và một số týp virut khác cũng gây ra bệnh tay chân miệng. Các tác nhân này nguy hiểm hơn virut Coxsakie A16 rất nhiều, đặc biệt là virut Entero 71 có thể gây biến chứng ở não và tim. Khi biến chứng bệnh nhân có thể tử vong trong vòng 24 giờ.

Virut Entero 71 là một loại virut đường ruột, gây bệnh chủ yếu lây nhiễm qua đường tiêu hóa, trực tiếp phân - miệng hoặc gián tiếp qua nước, thực phẩm, tay bẩn... bị ô nhiễm phân người bệnh. Một số ít trường hợp được ghi nhận lây lan qua đường hô hấp. Sau khi xâm nhập, virut đến cư trú tại họng và đoạn dưới của ống tiêu hóa. Trong vòng 24 giờ, chúng sẽ xâm nhập vào các hạch bạch huyết tại chỗ và tăng sinh tại đây. Giai đoạn này, virut được tìm thấy trong dịch cổ họng và trong phân của bệnh nhân. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè thu và gần như quanh năm ở các nước nhiệt đới, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, phổ biến ở trẻ dưới 4 tuổi. Hội chứng này mới được chú ý ở Việt Nam trong vài năm gần đây và thường bùng phát thành dịch mạnh ở các tỉnh phía Nam, ít gặp hơn ở các tỉnh phía Bắc.

Biến chứng viêm não có thể dẫn đến tử vong

Bệnh tay chân miệng do virut Entero 71 gây ra có những triệu chứng ban đầu như sốt nhẹ, sưng miệng, nổi bong bóng nước to khoảng đầu đũa, màu xám, đỏ hình ô van ở vùng mông, gối, lòng bàn tay, lòng bàn chân và thường ấn không đau. Bong bóng nước còn xuất hiện trong miệng, khi vỡ ra gây những vết loét trong miệng. Một số trẻ có kèm nôn ói, tiêu chảy ngay khi nổi bóng nước hay khi bóng nước đã xẹp. Những triệu chứng này khiến nhiều bác sĩ chẩn đoán nhầm là bệnh thủy đậu, nhiễm khuẩn da hay dị ứng...

Sau khi xâm nhập vào cơ thể, đến ngày thứ 3, virut từ các hạch theo máu đến gây tổn thương tại da, niêm mạc, tiếp tục sinh sản rồi gây những triệu chứng đầu tiên. Các tế bào dưới da và niêm mạc phình to, chứa nhiều dịch tiết, gây hoại tử, phù trong tế bào và quanh tế bào. Tổn thương chủ yếu ở các vùng miệng, tay và chân. Sau khi gây tổn thương da, niêm mạc, virut không nhân lên nữa, cơ thể xuất hiện kháng thể và hiện tượng nhiễm virut chấm dứt. Ở một số trường hợp, virut từ da, niêm mạc trở vào máu lần thứ 2 để đến hệ thần kinh trung ương gây viêm não, viêm màng não, liệt. Đồng thời, cơ thể sản xuất kháng thể và virut ở da, niêm mạc biến mất. Tuy nhiên, virut ở đường ruột có thể hiện diện kéo dài đến 17 tuần.

Trẻ nhỏ có thể có ban dạng sẩn vùng mông, nơi quấn tã lót. Trong giai đoạn diễn tiến, khi virut gây bệnh xâm nhập hệ thần kinh trung ương, trẻ sẽ xuất hiện triệu chứng rối loạn tri giác như lơ mơ, ly bì, mê sảng hay co giật, có nhiều trường hợp trẻ có mạch nhanh nhưng không sốt cao, yếu tay chân, méo miệng. Bệnh nhi có thể tử vong hoặc phục hồi sau một thời gian điều trị, nhưng vẫn còn những rối loạn tâm thần kinh kéo dài.

Phòng bệnh là biện pháp cơ bản

Nếu bệnh do các virut lành tính gây ra, bóng nước tự xẹp đi, bệnh có thể tự khỏi sau 5-7 ngày. Nhưng nếu bệnh do virut Entero 71 gây ra thì có thể bị biến chứng rất nguy hiểm là viêm não, viêm cơ tim, viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết rất dễ dẫn tới tử vong. Trẻ mắc hội chứng chân - tay - miệng thường khỏi trong vòng 1 tuần nếu được điều trị đúng cách, không có biến chứng. Nếu không được điều trị đúng cách hoặc diễn tiến nặng, bệnh sẽ gây những biến chứng rất nặng.

Có những trường hợp mắc bệnh tay chân miệng nhưng rất ít các triệu chứng hoặc không có các biểu hiện dễ nhận thấy như nổi bóng nước, nên nếu thấy trẻ có những triệu chứng bất thường kể trên cần nhanh chóng đưa trẻ đến bệnh viện. Gia đình phải theo dõi sát sao trẻ ít nhất trong 8 ngày sau triệu chứng đầu tiên để phát hiện ngay các dấu hiệu biến chứng và đưa trẻ đến bệnh viện để được điều trị kịp thời.

Do đa số bệnh tay - chân - miệng sẽ tự khỏi nên đối với trường hợp không có dấu hiệu của biến chứng có thể điều trị tại nhà bằng thuốc giảm đau, cho trẻ ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, cố gắng cho trẻ ăn thành nhiều bữa.

Hiện nay bệnh tay - chân - miệng chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vaccin phòng ngừa nên cách phòng bệnh tốt nhất là bảo đảm vệ sinh trong ăn uống, cá nhân cho trẻ thật tốt. Cho trẻ ăn uống đầy đủ dưỡng chất, uống nhiều nước. Không cần kiêng gió và ánh sáng. Nên cho trẻ mắc bệnh nghỉ học và không cho tiếp xúc với trẻ khác để tránh lây lan bệnh.




Hướng dẫn điều trị tay chân miệng mới của Bộ Y tế cụ thể hơn

Dấu hiệu điển hình của bệnh tay chân miệng là nổi phỏng nước ở lòng bàn tay

Bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch do vi-rút đường ruột gây ra. Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hóa. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh.

Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71). Biểu hiện chính là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như biến chứng thần kinh: viêm não-màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Các trường hợp biến chứng nặng thường do EV71.

Bệnh tay chân miệng có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt tập trung ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo, đến các nơi trẻ chơi tập trung là các yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh, đặc biệt là trong các đợt bùng phát. Bệnh gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.

Giai đoạn khởi phát bệnh từ 1-2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày. Tiếp đến là giai đoạn toàn phát: Có thể kéo dài 3-10 ngày với các triệu chứng điển hình của bệnh như loét miệng. Trong miệng trẻ xuất hiện vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt. Trẻ cũng nổi ban phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm. Ngoài ra, trẻ có thể sốt nhẹ, nôn... Đặc biệt với những trẻ  sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng nguy hiểm như biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.

Để chẩn đoán các ca bệnh tay - chân - miệng, cán bộ y tế cần dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học, như căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh trong cùng một thời gian và các nốt phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông, kèm sốt hoặc không. Còn để chẩn đoán xác định cần xét nghiệm RT-PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh.

Ở phác đồ điều trị mới, phân độ lâm sàng của bệnh được chia cụ thể, chi tiết hơn. Phác đồ điều trị bệnh tay chân miệng chỉ chia 4 cấp độ, thì ở phác đồ điều trị mới, ở cấp độ 2 được Hội đồng chuyên môn họp bàn và chia làm hai cấp độ là 2a và 2b. Các biểu hiện bệnh của từng cấp độ cũng được chỉ ra một cách chi tiết hơn, giúp nhận biết tình trạng bệnh một cách dễ dàng hơn.

Bộ Y tế cho biết, do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, nên các trẻ bị tay chân miệng chỉ điều trị hỗ trợ (không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm). Theo dõi sát các bệnh nhi để phát hiện sớm và điều trị biến chứng. Đồng thời phải bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng. Tiếp tục cho trẻ bú mẹ, ăn đồ ăn loãng, uống thuốc hạ sốt, vệ sinh răng miệng, nghỉ ngơi, tránh kính thích.

Phác đồ mới cũng quy định, từ độ 2ª trở đi, trẻ cần nhập viện điều trị và theo dõi sát để phát hiện các dấu hiệu chuyển độ. Cách điều trị trong từng giai đoạn bệnh cũng được hướng dẫn chi tiết, cụ thể hơn với từng nhóm bệnh để cán bộ y tế có thể theo dõi, đánh giá việc dùng thuốc có hiệu quả không để kịp thời điểm chỉnh thuốc theo phân độ của bệnh, giảm tối đa nguy cơ biến chứng cho trẻ.

Các phụ huynh cần lưu ý tái khám mỗi 1-2 ngày trong 8-10 ngày đầu của bệnh. Trẻ có sốt phải tái khám mỗi ngày cho đến khi hết sốt ít nhất 48 giờ. Cần tái khám ngay khi có dấu hiệu sốt cao ≥ 390C; thở nhanh, khó thở; giật mình, lừ đừ, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ, nôn nhiều; đi loạng choạng; da nổi vân tím, vã mồ hôi, tay chân lạnh; co giật, hôn mê.
Thoát vị đĩa đệm xảy ra bất kỳ phần nào của cột sống như phần cột sống cổ, cột sống thắt lưng, trong đó chủ yếu thoát vị cột sống thắt lưng với các triệu chứng đau, tê mỏi vùng thắt lưng lan xuống mông, đùi và cẳng chân, cảm giác yếu cơ,... Ðây là căn bệnh rất phổ biến và có thể gây tàn phế nếu không được điều trị. Do đó người bệnh cần đi khám và điều trị sớm khi thấy các triệu chứng của bệnh, không nên chủ quan, nhất là ở một số đối tượng có nhiều nguy cơ như: những người thường xuyên làm việc nặng nhọc, công nhân bốc vác, chơi thể thao, tư thế ngồi học, làm việc sai cách, mắc các bệnh lý cột sống như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống,…

Thoát vị đĩa đệm là gì?

Cột sống do nhiều đốt ghép lại. Giữa các đốt sống lại được ngăn với nhau bởi những đĩa đệm. Đĩa đệm nằm giữa các đốt sống, có tác dụng như một gối đỡ đàn hồi, giúp cột sống thực hiện các động tác cúi, ưỡn, nghiêng, xoay. Cấu trúc của đĩa đệm bao gồm có bao xơ bên ngoài, cấu tạo từ các vòng sợi dai, chắc và nhân nhầy ở dạng keo bên trong. Khi cấu trúc bao xơ bị yếu do đứt một số vòng sợi thì áp lực nhân nhầy sẽ đẩy chỗ đó phình ra khỏi vị trí bình thường, nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài gọi là thoát vị đĩa đệm.


Nhận biết bệnh dựa trên các biểu hiện nào?

Cơn đau do thoát bị đĩa đệm thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thường có triệu chứng như: Đau vùng cổ, gáy, vai, dọc theo cánh tay. Tê cánh tay, bàn tay, các ngón tay. Teo, yếu cơ cánh tay, ngón tay. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thường có triệu chứng như: Đau, tê vùng thắt lưng, mông, dọc theo đùi, cẳng chân, bàn chân. Teo, yếu cơ đùi, cẳng chân, bàn chân. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị. Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt.

Những di chứng của bệnh

Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống gây các triệu chứng đau, tê, teo cơ, liệt cơ. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bệnh có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Người bệnh có thể bị tàn phế do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cũng có thể dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Các chi dần bị teo cơ, có thể mất khả năng lao động và vận động.

Những trường hợp dễ bị thoát vị đĩa đệm?

Có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Thứ nhất do chấn thương cột sống như tai nạn giao thông, tai nạn lao động,… Thứ hai là ở những người trên 30 tuổi, cột sống bắt đầu thoái hóa đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách khi nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống. Hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng sai cách. Thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng. Nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi làm việc không đúng cách gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp… Ngoài ra, các bệnh lý cột sống bẩm sinh như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây thoát vị đĩa đệm


Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm tại Bệnh viện Việt Đức.  Ảnh: Tường Linh
Các phương pháp điều trị

Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm. Để chẩn đoán chính xác thoát vị đĩa đệm người bệnh cần chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ.

Khi có kết luận thoát vị đĩa đêm, tùy thuộc vào mức độ và những triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ quyết định điều trị nội khoa hay chỉ định phẫu thuật. Đối với thoát vị mức độ nhẹ có thể dùng thuốc, thực hiện các bài tập, vật lý trị liệu phục hồi chức năng. Nếu thoát vị nặng, khối thoát vị chèn ép vào dây thần kinh có thể gây biến chứng như: liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn, thì phẫu thuật là phương pháp giúp bệnh nhân giảm chèn ép và tránh các biến chứng do thoát vị gây ra. Hiện nay có nhiểu phương pháp điều trị như làm giảm áp lực nhân đĩa đệm như: đưa sóng radio vào vùng đĩa đệm thoát vị làm cho khối thoát vị bị thu nhỏ, trở về vị trí cũ, giải phóng thần kinh bị chèn ép; dùng hiệu ứng nhiệt của tia laser để hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng chèn ép thần kinh; Lấy nhân đệm bằng phương pháp mổ hở, mổ nội soi,…

Cần có biện pháp phòng tránh

Thoát vị đĩa đệm gây nên những cơn đau khó chịu, thường xuyên tái phát, làm giảm khả năng vận động, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nếu không điều trị bệnh có thể gây biến chứng nặng nề, do đó người bệnh cần đi khám chuyên khoa khi có dấu hiệu của bệnh để được điều trị kịp thời. Không nên chủ quan cho đó là do tuổi tác, lao động nặng nhọc mới bị đau lưng, đến khi bệnh tiến triển nặng, người bệnh không thể chịu nổi các cơn đau thường xuyên hoặc xuất hiện biến chứng mới đi khám thì rất khó điều trị và điều trị rất tốn kém, thậm chí có thể bị tàn phế. Do đó, cần phải có biện pháp phòng tránh thoát vị đĩa đệm như: Luôn duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi hợp lý; thường xuyên tập thể dục rèn luyện để có một cơ thể khỏe mạnh và cột sống vững chắc. Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày (ngồi học, ngồi làm việc, mang vác vật nặng đúng cách...). Hạn chế mọi nguy cơ bị chấn thương khi lao động, tham gia giao thông, các vận động, động tác thể thao quá mức và kéo dài,…

Bác sĩ Trọng Nghĩa  
THeo SKĐS
Một nghiên cứu suốt 25 năm của các nhà khoa học tại Trường ĐH Manchester (Anh) đã giúp chế tạo thành công một loại keo đặc biệt có thể thay thế tác dụng của vùng xương sống bị thoái hóa hoặc thay thế vĩnh viễn các đĩa đệm cột sống bị hư hỏng
Loại keo này được chế tạo từ những hạt keo cực nhỏ giống bọt biển, có thể phồng lên và đặc quánh lại tạo ra một chất keo bền, đàn hồi. Bình thường, có dạng lỏng nhưng khi tiêm vào cơ thể thì hàng tỉ hạt nhỏ này sẽ chuyển thành chất keo có khả năng thay thế các đĩa đệm xương sống bị mòn, giữ nguyên hình dạng mà không bị vỡ.

Đây là một vật liệu có ý nghĩa quan trọng giúp điều trị thoái hóa đĩa đệm dễ dàng và hiệu quả hơn.

Lan Anh (Theo Telegraph 6/2011)
Bố tôi bị đau gối, đi khám kết quả ghi là thoái hóa khớp, nhưng bác sĩ lại nói với tôi là hư khớp. Mong quý báo cho biết rõ về căn bệnh này?

Vũ Thị Nhạn (Ninh Bình)

Thoái hóa khớp còn gọi là hư khớp, đây là bệnh mạn tính của khớp. Biểu hiện chính của bệnh là: đau tại khớp bị tổn thương, có nhiều người thấy đau ở cột sống; đau khi cử động, giảm khi nghỉ; hay gặp đau từng đợt kéo dài sau đó giảm rồi hết đau, thời gian sau lại tái phát đợt đau khác; đôi khi nghe thấy lạo xạo khi vận động các khớp. Thoái một số khớp hay gặp là: thoái hóa khớp đốt sống thắt lưng, đĩa đệm gây đau thắt lưng, đau tăng khi ho, hắt hơi, rặn; bệnh nhân bị hạn chế vận động dần, đứng vẹo người hay phải lom khom. Trường hợp thoái hóa đĩa đệm, thoát vị đĩa đệm đau dữ dội vùng thắt lưng, hông, đau lan xuống đùi, cẳng chân. Bệnh nhân thoái hóa cột sống cổ thấy đau vùng gáy, vẹo hay cứng cổ, có thể đau cổ cánh tay, đau vai, đau vùng ngực, lưng... Thoái hóa khớp gối thì thấy đau khi đi lại, ngồi xổm, gấp chân, không đi xa được, tràn dịch khớp gối. Thoái hóa khớp háng thì đau vùng bẹn lan xuống đùi, đau tăng khi cử động hay đứng lâu; đi khập khiễng... Nếu thoái hóa các khớp khác sẽ kèm theo các triệu chứng tương ứng. Về điều trị cần kết hợp giữa rèn luyện tư thế, vận động, dinh dưỡng, điều trị nội khoa, ngoại khoa và vật lý trị liệu.

BS. Trần  Ngọc Hương
Theo SKĐS
Cột sống cổ có cấu trúc giải phẫu và chức năng cơ - sinh học đặc biệt nên rất nhạy cảm đau, trong đó phong cách sinh hoạt bất hợp lý, thiếu khoa học thường là yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh. Bởi vậy, cần tạo cho mỗi người một phong cách sinh hoạt đúng theo từng lứa tuổi kể từ thời ấu thơ đến cuối cuộc đời.

Các phương pháp điều trị
 
Hình ảnh cắt ngang của thoái hóa cột sống cổ.
Trên cơ sở của những hội chứng đau đã được chẩn đoán xác định bằng lâm sàng và các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp Xquang thường theo 4 tư thế cột sống cổ (thẳng, nghiêng, chếch 3/4 trái và phải) và chụp cộng hưởng từ trong trường hợp thật cần thiết, thầy thuốc sẽ xây dựng phác đồ điều trị chuyên biệt cho từng loại hội chứng đau. Tùy theo căn nguyên, cơ chế tổn thương và giai đoạn cấp hay mạn, phương hướng điều trị gồm có điều trị bảo tồn, điều trị bằng phẫu thuật và điều trị phục hồi chức năng. Giai đoạn cấp cần nằm nghỉ ở tư thế thích hợp để giảm đau hoặc các biện pháp không dùng thuốc như các bài tập thể dục thích hợp có thể làm giảm đau và giảm co cứng cơ; điều trị lý trị liệu như tia hồng ngoại, sóng ngắn, tắm bùn nóng, tắm suối khoáng nóng, mát-xa, bấm huyệt vùng đau. Cần dùng các thuốc chống viêm giảm đau không steroid kết hợp với các thuốc giãn cơ, thuốc giảm đau đơn thuần trong đợt cấp khi bệnh nhân đau nhiều.
Điều trị bảo tồn bằng các biện pháp
Nhiệt: Biện pháp điều trị bằng nhiệt có tác dụng rất tốt đối với trạng thái cấp. Nhiệt làm tăng tuần hoàn và mềm cơ vùng vai - gáy, đồng thời bằng cơ chế phản xạ tới các đoạn vận động cột sống cổ. Cũng qua tác dụng của nhiệt vào các tổ chức ở sâu mà các quá trình viêm cục bộ ở gân cơ - màng xương đang ở tình trạng bị kích thích bởi thoái hóa đĩa đệm sẽ giảm. Đồng thời nhiệt cũng làm tăng tốc độ dẫn truyền xung động thần kinh của các dây thần kinh vận động và kích hoạt chức năng vận động của tủy sống, từ đó dẫn đến làm giảm đau đớn và co cứng của các cơ. Các biện pháp dùng nhiệt có nhiều cách, trực tiếp hoặc gián tiếp: bó nến, đắp bùn trực tiếp vào cột sống cổ; dùng nhiệt khô, chiếu tia hồng ngoại, phóng không khí nóng; bệnh nhân tự điều trị tại nhà bằng gối, ấm điện, chai hay túi nước nóng hoặc bồn tắm nước nóng, rồi quấn khăn len ấm quanh cổ; cần chú trọng đề phòng bỏng da khi sử dụng các biện pháp nhiệt, nhất là các biện pháp trực tiếp.
Đai cổ: Đai cổ được làm bằng vải sợi bông có cốt ở giữa các lớp vải bằng các chất liệu tương đối cứng để giữ được khuôn của đai cổ, thường được chế tạo tại xí nghiệp sản xuất dụng cụ chỉnh hình. Đai cổ phải được đo trên cổ của từng bệnh nhân. Nếu đai cổ quá nhỏ sẽ không có tác dụng, trái lại nếu quá to, có thể làm cho cột sống cổ luôn ở tư thế quá ưỡn, không có lợi cho điều trị. Đeo đai cổ nhằm 3 mục đích: cố định cột sống cổ, nhiệt ấm vùng cổ, giảm tải cho cột sống cổ. Nhiệt của cơ thể tại vùng đeo đai cổ có tác dụng giữ mềm và giãn cơ vai - gáy. Đai cổ đúng cỡ sẽ làm cho các cơ đau được nghỉ và đỡ thêm chức năng của cơ đó. Ngoài ra, đai cổ còn có tác dụng kéo giãn với mức nhất định cột sống cổ.
Điều trị phẫu thuật trong các trường hợp chèn ép cột sống cổ gây liệt tứ chi
Chú ý (trong điều trị): Hội chứng cổ do đĩa đệm - cột sống rất phức tạp, đa dạng, tác động đến nhiều bộ phận và cơ quan nội tạng khác nhau. Vì vậy, sử dụng thuốc phải nhằm mục đích điều trị cơ bản theo cơ chế bệnh sinh chủ yếu và điều trị các triệu chứng chủ đạo của từng người bệnh. Khi sử dụng thuốc cần chú ý điều trị theo giai đoạn của bệnh (cấp hay mạn tính); khi sử dụng phối hợp các thuốc cần quan tâm tới tương tác của các thuốc sử dụng; chú trọng các chống chỉ định và tác dụng phụ của thuốc vì phần lớn các thuốc thường có ảnh hưởng tới dạ dày và công thức máu. Thuốc sử dụng thường thuộc các nhóm thuốc tác dụng và chuyên biệt: nhóm thuốc giảm đau, nhóm thuốc chống viêm - chống phù nề.
Phòng bệnh
Giữ phong cách sinh hoạt đúng

Sử dụng đai cổ điều trị bảo tồn thoái hóa cột sống cổ.
Khi ngồi: tránh ngồi cúi gấp cổ quá lâu (xem tivi, đọc sách, báo quá thấp so với bàn...); khi ngồi lâu, ngồi tàu xe đường dài cần có bản tựa đầu và tựa lưng với độ nghiêng thích hợp với từng độ tuổi và từng cỡ chiều dài cột sống cổ và cột sống lưng; đối với nghề nghiệp buộc phải thường xuyên cúi gấp cổ (đánh máy chữ, soi kính hiển vi, máy tính, thợ may, lái xe cơ giới, nghề bàn giấy, nghệ sĩ vĩ cầm, dương cầm, hội họa...) hoặc nghề buộc phải quá ưỡn cột sống cổ (thợ nề, thợ quét vôi, thợ hàn, sơn, diễn viên xiếc...), không nên để cột sống cổ ở tư thế không đổi quá lâu, cần có thời gian nghỉ sau khoảng 1 giờ làm việc, nhưng phải là "nghỉ tích cực", có nghĩa là phải tập vận động cột sống cổ và cột sống lưng với các động tác tập nhẹ nhàng thích hợp.
Khi nằm: cần có gối đầu với độ dày vừa phải, tránh để tư thế quá ưỡn cổ hoặc cúi gấp cổ. Vì hình thái cột sống cổ có độ cong vồng ra phía trước nên khi nằm ngửa cần có gối đệm đỡ vào khoảng cong lõm của cột sống cổ. Khi nằm nghiêng, độ dày của gối phải bảo đảm cho trục của đoạn cột sống cổ ở trên cùng một trục thẳng của cột sống lưng.
Cần quan tâm tới các bài tập thể dục vận động cột sống cổ: Theo các chiều vận động với các trường vận động sinh lý của cột sống cổ.
Tránh các chấn thương vào đầu và cột sống cổ: Các chấn thương này tuy không quá nặng nhưng nó sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thoái hóa đĩa đệm - cột sống cổ. Nghề nghiệp nào buộc phải dùng đầu để đội vật nặng quá tải cũng có thể coi như loại vi chấn thương trường diễn.
Khi tuyển lựa nghề nghiệp: phải sử dụng tới độ bền chắc của cổ (vận động viên nhảy cầu đầu lao xuống nước, nghệ sĩ xiếc nhào lộn, uốn dẻo...) cần có tiêu chuẩn khám cột sống cổ.
Theo suckhoedoisong.vn
1. Đại cương.
Cơ chế bệnh sinh của thoái hoá cột sống là sự kết hợp của hai quá trình: thoái hoá sinh lý tự nhiên theo lứa tuổi và thoái hoá bệnh lý mắc phải (chấn thương, rối loạn chuyển hoá, miễn dịch, nhiễm khuẩn...).
- Thoái hoá đốt sống (Spondylosis):
+ Là sự thoái hoá các thành phần của xương cùng các dây chằng cột sống. Dây chằng quanh cột sống bị kéo giãn ra và đóng vôi ở đoạn sát bờ đĩa đệm để tạo nên các gai xương. Mỏ xương thường xuất hiện ở bờ trước thân đốt sống, ít khi thấy ở bờ sau, nếu có thì dễ chèn ép vào tủy sống. Quá trình thoái hoá này nặng dần theo tuổi dẫn đến phì đại mỏm khớp và lỏng lẻo dây chằng.
+ Hậu quả của thoái hoá đốt sống dẫn đến hẹp lỗ ghép (do mọc gai xương, phì đại mỏm khớp, hẹp đĩa đệm); trượt thân đốt (do mỏm khớp thoái hoá nặng, dây chằng lỏng lẻo, hở eo) và hẹp ống sống.

- Thoái hoá đĩa đệm (Disc degeneration): gồm tổn thương nhân nhày mất nước, vòng sợi giảm chiều cao và có nhiều vết rách (nứt), dẫn tới thoát vị đĩa đệm (làm ép rễ thần kinh, chèn tuỷ hoặc đuôi ngựa).
- Hư xương sụn cột sống (Osteochondrosis): Là sự thoái hoá loạn dưỡng đĩa đệm và sự phản ứng của các tổ chức kế cận (dày mâm sụn, co cứng cơ cạnh sống, đau rễ thần kinh), biến đổi tăng dần theo lứa tuổi.
- Bốn giai đoạn của hư xương sụn cột sống:
 Giai đoạn 1: biến đổi nhân nhày, co cứng cơ do bị kích thích.
 Giai đoạn 2: cột sống mất vững, hẹp đĩa đệm, giả trượt đốt sống.
 Giai đoạn 3: vòng sợi bị vỡ, gây lồi hoặc thoát vị đĩa đệm.
 Giai đoạn 4: mỏ xương, cầu xương, hẹp lỗ ghép.
 Nhìn chung: các bệnh lý đau cột sống đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tổn thương thoái hoá và thoát vị đĩa đệm.
2. Lâm sàng.
Có 3 thể lâm sàng tùy thuộc vào mức độ tổn thương của đĩa đệm:
2.1. Đau lưng cấp (lumbago).
Thường gặp ở lứa tuổi 30-40 nam giới. Cơn đau xuất hiện sau một động tác mạnh, quá mức, đột ngột và trái tư thế.
- Đau mạnh vùng cột sống thắt lưng không lan xa, đau tăng khi ho, hắt hơi, rặn, thay đổi tư thế.
- Đau làm hạn chế vận động cột sống, các cơ cạnh sống cơ cứng, có tư thế chống đau.
- Nằm nghỉ và điều trị vài ngày thì đau giảm dần, khỏi sau 1-2 tuần, có thể hay tái phát.
Cơ chế sinh bệnh của đau lưng cấp là do đĩa đệm bị căng phồng nhiều, chèn đẩy và kích thích vào các rễ thần kinh ở vùng dây chằng dọc sau.
2.2. Đau thắt lưng mạn tính (lombalgie).
Thường xuất hiện ở lứa tuổi trên 40, đau âm ỉ vùng thắt lưng, không lan xa, đau tăng khi vận động, khi thay đổi thời tiết, hoặc nằm lâu bất động, đau giảm khi nghỉ ngơi. Cột sống có thể biến dạng một phần và hạn chế một số động tác.
Đau thắt lưng mạn tính do đĩa đệm thoái hóa nhiều, sức căng phồng đàn hồi kém, chiều cao giảm, do đó giảm khả năng chịu lực, đĩa đệm có phần lồi ra phía sau kích thích các nhánh thần kinh.
2.3. Đau thắt lưng hông.
Đau thắt lưng phối hợp với đau dây thần kinh hông to một hoặc hai bên. Trên cơ sở đĩa đệm bị thoái hóa, dưới tác động của áp lực cao nhân nhầy bị đẩy ra phía sau lồi lên hoặc thoát vào ống sống gây nên tình trạng thoát vị đĩa đệm đè ép vào các rễ thần kinh gây nên đau thần kinh hông.
3. Dấu hiệu X quang.
Chụp X quang thường, thấy các dấu hiệu chung của thoái hóa cột sống như: hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, gai xương (Hình 6.5).
4. Chẩn đoán.
Chẩn đoán thoái hóa cột sống thắt lưng dựa vào:
- Điều kiện phát sinh: tuổi, tác nhân cơ giới, tiền sử...
- Dấu hiệu lâm sàng.
- Dấu hiệu X quang.
- Loại trừ các nguyên nhân gây đau lưng khác.
- Không chẩn đoán dựa vào X quang đơn thuần.
5. Điều trị.
2.1. Điều trị đau thắt lưng cấp.
- Nằm bất động trên giường cứng, tư thế ngửa 2 chân hơi co ở khớp háng và gối bằng cách cho đệm gối tròn vào khoeo. Thời gian bất động 1-2 ngày, có khi 5-6 ngày.
- Xoa bóp, bấm huyệt nhẹ nhàng vùng thắt lưng, kéo cột sống, tập luyện vận động, châm cứu.
- Điều trị bằng nhiệt: paraffin, hồng ngoại, sóng ngắn, túi chườm...
- Điều trị bằng điện: điện xung, điện châm, điện di thuốc giảm đau.
- Điều trị bằng siêu âm liên tục hoặc chế độ xung vào 2 bên cột sống, không dùng liều cao chiếu thẳng vào cột sống vì có thể gây tổn thương tủy sống.
- Tử ngoại liều đỏ da (4-5 liều sinh học) cách ngày, 3-4 lần, diện tích chiếu dưới 300cm2.
- Kéo giãn cột sống liên tục với lực nhỏ (1/2 cân nặng), ngày 1 lần, 15-20 phút, có tác dụng làm giãn cơ. Không nên kéo ở chế độ ngắt quãng vì sẽ kích thích làm cơ càng co cứng hơn.
- Cho bệnh nhân vận động cột sống trong quá trình điều trị và sau thời gian bất động, mức độ tăng dần.
2.2. Điều trị đau thắt lưng mạn.
Các phương pháp vật lý như: nhiệt, điện xung, điện châm, sóng ngắn, tử ngoại, kéo giãn cột sống với trọng lượng nhỏ hơn so với thoát vị đĩa đệm được chỉ định để giảm đau. Bên cạnh đó bệnh nhân cần phải có chế độ tập luyện thích hợp để sửa chữa các nguyên nhân cơ giới gây đau và làm mạnh các cơ chi phối vận động vùng thắt lưng:
- Tập nghiêng xương chậu.
- Tập cơ bụng.
- Tập khối cơ cạnh sống.
Một số biện pháp dự phòng:
- Nằm: nằm đúng tư thế giúp cho cơ và dây chằng được thư giãn nghỉ ngơi.
+ Nằm ngửa: Đầu gối bằng gối mềm và thấp, dưới hai khoeo chân kê một gói cao vừa phải nhằm thư giãn cơ đùi và thắt lưng, và làm cột sống thắt lưng thẳng hơn.
+ Nằm nghiêng: có thể nằm nghiêng bên phải hoặc trái, gối đầu mềm, độ cao vừa phải, 2 chân co lại, đùi vuông góc với thân mình và cẳng chân, kê thêm một gối mỏng giữa hai đầu gối và cẳng chân.
+ Nằm sấp: là một tư thế nên tránh, tuy nhiên nếu người có thói quen nằm sấp thì nên dùng một gối nhỏ lót dưới bụng.
- Ngồi: Tư thế ngồi ảnh hưởng rất quan trọng đến cột sống và là một trong những yếu tố gây đau thắt lưng và cổ. Nên ngồi ở tư thế lưng thẳng, đùi vuông góc với thân mình và cẳng chân, hai vai cân đối, đầu thẳng với cột sống. Các tư thế ngồi bất lợi nên tránh là: ngồi bắt chéo chân, lưng cong quá hay ưỡn quá, cúi đầu về phía trước hay ưỡn đầu ra phía sau, nghiêng đầu sang phải hoặc sang trái. Chú ý không được ngồi quá lâu, nếu phải ngồi trong thời gian dài thì ít nhất mỗi giờ phải đứng lên làm vài động tác thư giãn rồi mới ngồi tiếp.
- Đứng: tư thế đứng đúng là cột sống phải thẳng, gối thẳng, hai vai song song với mặt đất, hai mắt nhìn ngang, trọng lượng cơ thể chia đều cho hai chân. Tránh các tư thế đứng khom hay ưỡn cột sống.
- Cách nâng một vật nặng: tư thế đúng là hai đầu gối chùng xuống, giữ cho cột sống luôn thẳng, ôm sát vật nặng vào người rồi dùng lực của đầu gối để đứng lên.

Theo Dieutridau
Khi chữa đau lưng do thoái hóa cột sống, người ta thường dùng các loại thuốc chống viêm giảm đau, thuốc giãn cơ. Tuy nhiên, một số người bị bệnh đau dạ dày, hành tá tràng thì việc dùng các loại thuốc này lại hay bị biến chứng như: đau, xuất huyết dạ dày, thủng dạ dày nên việc dùng thuốc trở nên khó khăn.
Chữa đau lưng dùng thuốc chỉ là biện pháp chữa thụ động và kết quả chữa trị không duy trì được lâu. Phải kết hợp chữa trị dùng thuốc với tập thể dục chữa bệnh và tập luyện thể dục thể thao mới mong có kết quả nhanh chóng và hạn chế tái phát.

Tập luyện chữa đau lưng do thoái hóa cột sống: Một trong các nhiệm vụ chính trong chữa trị thoái hóa cột sống thắt lưng là tạo nên điểm tựa vững chắc cho cột sống vùng thắt lưng bằng việc củng cố các cơ và dây chằng vùng thắt lưng. Khi các cơ này được rèn luyện tốt sẽ làm giảm gánh nặng lên cột sống và các đĩa đệm. Khi các nhóm cơ và dây chằng ở vùng thắt lưng được củng cố sẽ phòng ngừa sự tái phát đau vùng thắt lưng.

Tập luyện phải theo nguyên tắc là tập thong thả, nhẹ nhàng, không gây đau. Tập đúng động tác, kết hợp thở sâu, nhịp nhàng, nâng dần mức độ tập luyện để tăng cường tính linh hoạt của các khớp cột sống, tăng cường sức mạnh và sự dẻo dai của các khối cơ, dây chằng ở vùng lưng, giúp cho sự cân bằng cần thiết các tư thế cột sống, giảm dần cảm giác đau. Giai đoạn đầu có thể kết hợp dùng thuốc giảm đau, sau đó bỏ dùng thuốc, chỉ kết hợp tập luyện và xoa bóp.


Ảnh minh họa từ www.vitalitydoctor.com
Tập luyện các bài tập thể dục chữa bệnh đau lưng gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu tập các bài tập kéo giãn và tăng độ linh hoạt của các khớp cột sống, sau khi cảm giác đau giảm hay biến mất thì tiến hành tập các bài tập củng cố các nhóm cơ và dây chằng ở vùng thắt lưng.
Một số bài tập củng cố các nhóm cơ lưng và dây chằng
Chú ý: các bài tập này chỉ được sử dụng trong giai đoạn ổn định của bệnh. Trước khi bắt đầu tập luyện cần phải tập thở đúng trong 1-2 phút.

Tập thở như sau: Tư thế nằm ngửa, một tay đặt lên ngực, tay kia đặt lên bụng. Nâng bụng và hít không khí vào phổi. Hít qua đường mũi và thở bằng mồm. Giữ bụng ở tư thế nâng. Trở về tư thế xuất phát là lặp lại bài tập thở trong 1-2 phút.

Sau khi tập thở xong, bắt đầu tiến hành tập luyện:

Bài 1: Người tập ở tư thế nằm ngửa. Hai chân co ở đầu gối, bàn chân đặt lên sàn nhà, tay dọc chân. Tỳ thắt lưng xuống sàn. Sau đó từ từ nâng mông chậu nhờ sức tỳ của vùng cột sống ngực lên sàn - thở ra. Cố gắng kéo giãn từng đốt sống một. Sau đó từ từ hạ thân xuống sàn, “đặt từng đốt sống một xuống sàn”, hít vào. Lặp lại động tác 7-10 lần.

Bài 2. Tư thế nằm ngửa. Co hai chân ở đầu gối, nhấc hai chân lên trên sao cho đầu gối nằm trên khớp háng, hóp bụng. Từ từ duỗi thẳng từng chân - thở ra, co chân - hít vào. Lặp lại động tác 7-10 lần cho mỗi chân.

Bài 3. Tư thế nằm ngửa. Hai chân co ở đầu gối, hai bàn tay đan xen vào nhau ở sau gáy. Nâng đầu và vai khỏi sàn đến xương vai - thở ra. Hạ xuống - hít vào. Lặp lại động tác 10-12 lần.

Bài 4. Tư thế nằm úp sấp. Hai tay co ở khuỷu, hai khuỷu ở mức ngang vai, dựa vào cẳng tay. Nâng lồng ngực, cổ duỗi. Hãy nâng chậu mông đến mức hai vai, co hai chân ở đầu gối. Thở đều và giữ ở tư thế này trong 30-60 phút. Sau đó từ từ trở về tư thế ban đầu. Lặp lại động tác 5-6 lần.

Bài 5. Tư thế chống tay xuống sàn. Giữ thẳng lưng đồng thời nhấc tay trái và chân phải lên cao - thở ra, hạ xuống - hít vào. Sau đó làm lại động tác với tay phải và chân trái. Lặp lại động tác 7-10 lần.

Lưu ý: Ngoài việc thực hiện các bài tập chuyên biệt, người bị đau cột sống thắt lưng còn phải chú ý các nguyên tắc chung sau:

- Nếu thừa cân thì phải thực hiện chế độ giảm cân.
- Tăng cường cung cấp canxi cho cơ thể (uống sữa, ăn pho-mát).

- Ngủ ở tư thế nằm ngửa trên đệm cứng, tốt nhất không dùng đệm.
- Tránh các động tác đứng lên, ngồi xuống đột ngột, mang vác nặng.

- Tập thể dục buổi sáng 10-15 phút với các bài tập thở (3- 4 lần liên tục), thực hiện các động tác vận động các phần cột sống về tất cả các hướng (4-6 lần), nhịp độ chậm và vừa.
- Tránh các động tác nhảy và chạy để tránh gia tăng gánh nặng lên các đĩa đệm - tránh làm tình trạng bệnh lý ở các khớp cột sống thêm trầm trọng.

- Thực hiện các động tác vận động các phần cột sống về tất cả các hướng, 2-3 lần trong mỗi buổi làm việc.
- Sau một thời gian tập các bài tập thể dục chữa bệnh thường xuyên, sức khỏe đã có sự cải thiện nhất định, chứng đau lưng giảm nhiều thì có thể kết hợp với tập bơi hay đi bộ nhanh, trong đó tập bơi là phương pháp tập luyện phù hợp nhất (những người bị thoái hóa đốt sống cổ thì tập bơi ngửa là tốt nhất).

Các bài tập rèn sức bền còn có tác dụng cải thiện sức khỏe chung, nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.  

Theo TS. ĐẶNG QUỐC NAM - Sức khỏe & Đời sống
Tôi năm nay 31 tuổi, bị ung thư tuyến giáp (bướu nhân), nếu được chữa khỏi thì còn có thể có con không? - (Nguyễn Thùy Trang)
- Ung thư tuyến giáp là loại tương đối “hiền lành” trong các bệnh ung thư. Thông thường, nếu phát hiện bệnh sớm trước khi di căn, khi bướu còn nhỏ, việc điều trị bằng phẫu thuật có thể phối hợp với Iod phóng xạ đem lại kết quả rất tốt.

Biện pháp phẫu thuật thường là cắt toàn bộ tuyến giáp. Do đó, người bệnh cần phải uống bổ sung hormon giáp (thường dùng là loại Levothyroxine) mỗi ngày (suốt đời).

Sau khi điều trị và kiểm tra hiện diện của các tế bào ác tính trong cơ thể, nếu chị được kết luận bệnh đã “được chữa khỏi”, có thể nói rằng chị giống như người bình thường ngoại trừ một điều là mỗi ngày phải uống bổ sung hormon tuyến giáp.

Lúc này, chị có thể có thai như một người bình thường. Tuy nhiên, có hai điều chị cần đặc biệt lưu ý:

+ Một là, nếu chị có điều trị bằng iod phóng xạ (I131) thì chị cần tránh có thai một thời gian (an toàn là sau 6 tháng từ khi dùng iod phóng xạ).

+ Hai là, do nhu cầu về hormon giáp tăng lên trong thai kỳ, liều lượng hormon giáp uống mỗi ngày cần phải tăng lên và tuyết đối không được tự ý ngưng thuốc. Để theo dõi chức năng tuyến giáp và điều chỉnh liều thuốc, chị cần khám và theo dõi tại một trung tâm chuyên khoa nội tiết từ trước khi có thai.

Th.s. BS TRẦN THẾ TRUNG - Bộ môn nội tiết ĐH Y Dược TP.HCM

Việt Báo (Theo_TuoiTre)
TTO - *Em bị ung thư tuyến giáp, thể nhú, di căn hạch cổ phải, đã phẫu thuật hai năm nay. Em rất muốn bác sĩ cho em biết nếu không có điều kiện chữa trị tốt thì khoảng bao lâu bệnh sẽ di căn?
Ung thư tuyến giáp sẽ di căn ở đâu trước tiên? Tuổi thọ của bệnh ung thư tuyến giáp là bao lâu? Em đã dùng phóng xạ i-ốt 131 hai lần. Đây có phải là phương án hay nhất chữa ung thư tuyến giáp hiện giờ không? Xin cảm ơn bác sĩ. (Nguyen Thanh Le)

- Trả lời của phòng mạch online:
Bạn đã được phẫu thuật và đã được xạ trị bằng I-ốt 131. Đây là hai biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay trong điều trị ung thư tuyến giáp.

Việc điều trị có thể gọi là thành công nếu sau khi kiểm tra và theo dõi không thấy còn tế bào ung thư và không có biểu hiện di căn. Bác sĩ theo dõi sẽ thực hiện định kỳ việc kiểm tra này.

Ung thư tuyến giáp khá phổ biến nhưng không phải là ung thư gây tử vong hàng đầu bởi vì đặc tính đáp ứng tốt với điều trị và diễn tiến chậm của bệnh.

Trong trường hợp của bạn, nếu không còn dấu hiệu còn tế bào ung thư và không có di căn thì thời gian sống còn lại của bạn, có lẽ, còn rất dài. Bệnh thường xuất hiện lại tại vùng cổ, gần vết mổ cũ, hoặc di căn tới các hạch vùng cổ.

Việc phát hiện sớm di căn hay tái phát ung thư tại chỗ cũng giúp việc điều trị có kết quả tốt. Do vậy, bạn cần tái khám đều đặn và mỗi ngày bạn nên nhớ uống thuốc, tôi chắc là bác sĩ có cho bạn uống bổ sung hormon giáp (levothyroxine), cho dù bạn có đi đâu xa hay mắc bệnh nào khác, như tiêu chảy chẳn hạn, ngoại trừ khi có chỉ định ngưng thuốc từ bác sĩ.
--------------------------
TTO - Mẹ em bị bướu cổ, BS bảo là bướu K giáp. Cách đây một năm mẹ đã đi mổ và có quay lại tái khám như BS dặn, BS bảo tình trạng của mẹ em là tốt vì không có dấu hiệu lan ra chỗ khác.
Hiện tại thì mẹ em vẫn thường xuyên dùng thuốc. Em muốn hỏi các BS bướu K giáp có phải là bướu độc không? Khi nào thì mẹ em mới hết dùng thuốc và bệnh này có trị được tận gốc không? (Hồ Lệ Dung)

Trả lời của Phòng mạch online:
Trong bệnh tuyến giáp:

• Bướu độc: nghĩa là bướu gây ra cường giáp (thường không phải ung thư)

• Bướu ác: nghĩa là ung thư tuyến giáp

Vậy, “Bướu K giáp có phải là bướu độc không?” thì câu trả lời là "Không phải".

Theo như em mô tả thì mẹ em bị ung thư tuyến giáp, đã được điều trị phẫu thuật cắt tuyến giáp và hiện tại đang uống hormon giáp thay thế. Vì thường trong những trường hợp ung thư là mổ cắt toàn bộ tuyến giáp, nếu không uống hormon giáp thay thế thì sẽ bị suy giáp.

Việc uống thuốc này là mỗi ngày và có thể nói là uống lâu dài, gần như là suốt đời. Em không nên quá lo lắng về việc uống thuốc này và điều thiết thực và rất quan trọng là em cần quan tâm, nhắc nhở mẹ em uống thuốc đều mỗi ngày. Uống loại thuốc này đối với mẹ của em cũng giống như ăn muối iôt với những người khác, mỗi ngày đều cần phải có để cơ thể có đầy đủ hormon giáp.

Điều quan trọng thứ hai là liều lượng thuốc dùng cho mẹ em như thế nào cho đủ, không dư cũng không thiếu. Bởi vì một sự dư hay thiếu chút ít hormon giáp mỗi ngày, lâu dài sẽ có ảnh hưởng tác động tới sức khỏe. Do đó, mẹ em cần đi khám và theo dõi tại một trung tâm y tế nào đó định kỳ, có thể là mỗi 2 tháng, 6 tháng hay lâu hơn tùy theo diễn tiến.

Bệnh ung thư tuyến giáp có thể gọi là đã được điều trị tận gốc nếu sau khi mổ xong, không thấy xuất hiện tái phát hay hiện tượng di căn.

Để đánh giá điều này cần thực hiện một số xét nghiệm máu (thường là đo chất thyroglobulin) và có thể dùng chất iôt phóng xạ để phát hiện. Em có thể trao đổi với bác sĩ đang điều trị cho mẹ của em để biết thêm về cách theo dõi và kiểm tra định kỳ.

Bệnh của mẹ em xem như đã được điều trị và đang có kết quả tốt. Việc tiếp theo là phải uống hormon giáp thay thế (mỗi ngày) và định kỳ kiểm tra sự tái phát của bệnh cũng như điều chỉnh liều thuốc uống cho phù hợp.

ThS.BS TRẦN THẾ TRUNG

(giảng viên bộ môn nội tiết BV ĐH Y dược TP.HCM)
TTO - Năm 2006, tôi bị ung thư tuyến giáp thể nhú di căn hạch tại vùng cổ. Tôi rất muốn hiểu rõ về diễn biến bệnh của mình. Tôi có mấy câu hỏi muốn được bác sĩ giải thích giúp như sau:
1. Sau 1 năm điều trị (2 lần) bằng I-131, tôi lại bị di căn vào vùng thượng đòn. Điều trị liên tiếp với liều cao (150 - 200 mCi) tới lần thứ 5 thì kết quả Tg và TgAb của tôi đã âm tính, các chỉ số hormon đều bình thường, nhưng tôi lại bị di căn vào 1/3 trung thất. (Xạ hình sau điều trị lần thứ 5 là 3 ngày tôi có được kết quả này).

Đọc trên mạng Internet, tôi biết tế bào ung thư tuyến giáp sẽ bị tiêu diệt khi bắt I-131. Tại sao tôi kiên trì điều trị như vậy mà bệnh của tôi không thuyên giảm? Hiện nay tôi đã uống I-131 đến 800 mCi. Nếu tôi đã uống I-131 đến một lượng tối đa mà không đỡ thì tôi có thể được điều trị tiếp bằng I-131 nữa không? Khi uống quá liều lượng cho phép thì nó ảnh hưởng tới sức khỏe của tôi như thế nào?

2. Năm 2007, sau 1 năm điều trị I-131, tôi phát hiện đoạn xương đòn phần sát hõm cổ bên phải to hơn hẳn bên trái. Tôi đã xạ hình xương mà không thấy có biểu hiện di căn vào xương. Nguyên nhân vì sao có hiện tượng này? Điều này liệu có liên quan gì đến diễn biến bệnh của tôi hay không?

3. Sau khi uống I-131 liều 200 mCi, tôi cần phải cách ly con nhỏ 5 tuổi trong bao lâu để có sự an toàn tối thiểu cho cháu?

Tôi rất mong nhận được sự giải thích cặn kẽ của bác sỹ trong thời gian nhanh nhất để hiểu rõ hơn về diễn biến bệnh của mình, để sẵn sàng về mặt tâm lý chiến đấu với bệnh tật. Tôi xin chân thành cảm ơn bác sĩ!

Bạn đọc

- Trả lời của Phòng mạch Online:
Đối với ung thư tuyến giáp thể nhú, việc điều trị bằng I-131 có kết quả khá tốt, tuy nhiên không phải giai đoạn bệnh nào, không phải người bệnh nào cũng có đáp ứng và kết quả như nhau. Một số trường hợp có kết quả rất tốt, có thể nói là khỏi bệnh hoàn toàn, một số khác - những trường hợp kém đáp ứng và bệnh tiến triển nhanh - kết quả không khả quan và điều trị phức tạp hơn.

Trường hợp của chị, bệnh được phát hiện khi đã có di căn và mức độ diễn tiến là khá nhanh nên việc điều trị có khó khăn hơn, cần phải tiến hành điều trị I-131 nhiều lần sau khi phẫu thuật mổ cắt bướu (nếu được) nhằm tiêu diệt hết các tế bào ung thư.

Các tế bào ung thư tuyến giáp thường có đặc tính là bắt giữ iốt rất mạnh. Nhờ đặc tính này mà chúng ta có thể dùng I-131 (một dạng iốt có tính phát tia xạ) để tiêu diệt tế bào ung thư. Có thể nói chừng nào còn tế bào ung thư tuyến giáp và tế bào ung thư còn đặc tính bắt giữ iốt thì khi đó chúng ta có thể tiếp tục dùng I-131 để điều trị bệnh. Do vậy, có thể điều trị bằng I-131 nhiều lần cho đến khi đạt được kết quả, gần như không có hạn chế số lần.

I-131 khá an toàn và ít tác dụng phụ. Trường hợp có xuất hiện triệu chứng bất thường, chị nên trình bày lại với bác sĩ theo dõi để xác định và xử trí, hạn chế hậu quả xấu hơn có thể xảy ra nếu để quá lâu.

Liều I-131 từ 150mCi trở lên là liều cao cho một lần uống, có thể lặp lại nhiều lần để tiêu diệt hết các tế bào ung thư. Khi uống I-131 liều cao như vậy cần thực hiện cách ly trong 24 giờ.

Cần chú ý tránh xa nơi đông người trong 3 ngày, tránh lại gần phụ nữ có thai và trẻ em trong vòng 1-2 tuần. Thời gian này nên giữ khoảng cách từ 1m trở lên để hạn chế tia xạ, và khoảng cách khi ngủ là 2m.

Chất iốt cũng được thải nhiều trong nước tiểu nên sau khi đi vệ sinh cần xả nước nhiều, 2-3 lần so với bình thường. Đây là những điểm chung, về chi tiết tiêu chuẩn an toàn tia xạ, chị nên hỏi bác sĩ điều trị để có hướng dẫn cụ thể hơn.

Những kết quả của chị cho thấy tình trạng bệnh đang có đáp ứng và có kết quả khá tốt, không còn dấu hiệu của di căn. Triệu chứng đầu xương ở cổ (có lẽ là xương đòn) bị to lên nhiều khả năng do nguyên nhân khác - không phải di căn (di căn xương thường gây đau, có thể bị gãy xương - phát hiện được khi làm xạ hình xương). Do đó, chị không nên quá lo lắng về biểu hiện này. Có thể nói việc điều trị đã có những kết quả khá tốt, chị hãy lạc quan và cố gắng tiếp tục cuộc chiến chống lại căn bệnh này. Chúc chị nghị lực và thành công.

Th.S-BS TRẦN THẾ TRUNG

Giảng viên bộ môn nội tiết BV ĐH Y dược TP.HCM

TT(Hà Nội) - Ngày 7-5, bên lề hội thảo quốc tế về ứng dụng y học hạt nhân, phó giám đốc Bệnh viện Bạch Mai Mai Trọng Khoa cho hay cơ sở này và một số bệnh viện ở VN đã ứng dụng y học hạt nhân điều trị tim mạch, ung thư, một số bệnh liên quan tới nội tiết, xương khớp...
Theo ông Khoa, y học hạt nhân có thể áp dụng điều trị cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp bằng cách cắt tuyến giáp toàn bộ kết hợp iod phóng xạ và hormon thay thế. Qua theo dõi 122 bệnh nhân đã được điều trị tại Bệnh viện 108 bằng phương pháp này cho thấy tỉ lệ tái phát là 2,4% và tỉ lệ tử vong 3,1%. Trong khi nếu chỉ điều trị bằng phẫu thuật thông thường, tỉ lệ bệnh nhân có tái phát là 40% và tỉ lệ tử vong 13,3%.

L.ANH
Tuyến giáp trạng có dạng hình cánh bướm nằm tại phần thấp của cổ phía trước khí quản. Là một phần của hệ nội tiết nó có tác dụng sản xuất ra một số hormone quan trọng đối với sự sinh tồn của cơ thể. Các sản phẩm của nó giúp điều hòa mạch, huyết áp, nhiệt độ cơ thể.

Ung thư tuyến giáp trạng (UTTGT) hình thành từ một số tế bào tuyến phát triển một cách mất kiểm soát và tạo nên bệnh ung thư.

Yếu tố nguy cơ

Một số yếu tố nguy cơ tăng cao khả năng mắc bệnh của một người, đó là:

- Bệnh nhân từng tiếp xúc với tia xạ như điều trị tia xạ lúc còn nhỏ khi có u đơn nhãn tuyến giáp. Tỷ lệ UTTGT tăng cao tại vùng Hiroshima, Nagasaki, sau vụ thả bom nguyên tử.

- Tiền sử trong gia đình có người mắc UTTGT thể tủy. Người ta thấy rằng có sự biến đổi về RET gien ở một số người mắc bệnh, các gien này được di truyền và người nào trong gia đình mang gien thì khả năng mắc bệnh tăng cao.

(Ảnh minh họa)

- Chế độ ăn uống cũng ảnh hưởng tới khả năng mắc bệnh. Với chế độ ăn nhiều i-ốt làm tăng mắc UTTGT thể nang, mặt khác chế độ ăn thừa i-ốt lại gây tăng nguy cơ mắc UTTGT thể nhú.

- Bệnh cũng gặp nhiều hơn ở các bệnh nhân có u đơn nhân, đa nhân tuyến giáp.

Triệu chứng

UTTGT thường biến chuyển âm thầm, nhiều khi không có biểu hiện gì và chỉ phát hiện khi mổ tử thi. Trên thức tế, các triệu chứng có thể gặp bao gồm: tuyến giáp to, co u tại tuyến 1 hay nhiều u, u chắc rắn, bờ rõ, bề mặt nhẵn hay gồ ghề, di động theo nhịp nuốt. U có thể thấy ở 1 hay 2 thùy giáp trạng.

Khi u lớn có các biểu hiện: Khối u cứng chắc cố định ở cổ, xuất hiện khản tiếng khi u xâm nhiễm thần kinh chi phối thanh quản, khó thở khi u chèn ép khí quản, khó nuốt do u to chèn ép thực quản, nhiều khi u xâm nhiễm gây đỏ da sùi loét, chảy máu. Sự xuất hiện của hạch tại cổ cũng là một triệu chứng khác của UTTGT. Đa số bệnh nhân xuất hiện hạch tại một bên cổ, hạch rắn chắc không di động, hạch nằm dọc theo cổ từ trên xuống, có khi hạch cổ hai bên hoặc đổi bên. Một số ít trường hợp phát hiện hạch cổ trước khi tìm thấy u nguyên phát. Hạch thường rắn chắc, to chậm, không đau. Khi cách triệu chứng đó xuất hiện thì bệnh nhân thường đã ở giai đoạn 1.

Các loại UTTGT

Nhìn chung, người ta chia UTTGT thành hai loại: UTTGT thể biệt hóa và UTTGT không biệt hóa. Trong loại biệt hóa gồm có: Thể nhú, thể nang và loại kết hợp. UTTGT thể nhú là loại hay gặp nhất chiếm 40-50%. UTTGT thể nang ít gặp hơn chiếm 20-25%. Thể kết hợp nhú và nang tiền lượng như đối với thể nhú.

Loại UTTGT thể không biệt hóa gồm có: Thể tủy và UTTGT không biệt hóa, ung thư tế bào Hurthe. UTTGT thể tủy ít gặp (chiếm 1-5%), hay thấy ở lứa tuổi từ 5-60, một số ít có tính di truyền, tiến triển chậm nhưng vẫn kém hơn so với thể nhú và nang. Loại không biệt hóa chiếm 10%. Loại ung thư tế bào Hurthe ít gặp chiếm 5%, tiên lượng như thể nang.

Điều trị

- Điều trị nội tiết: Thông thường sử dụng Levothyroxin liều từ 200-500µg, hoặc một số loại thuốc khác. Có nhiều bằng chứng cho thấy UTTGT thể biệt hóa đáp ứng tốt với điều trị nội tiết.

- Điều trị tia xạ: Bệnh nhân được dùng 1131 trong các trường hợp có di căn xa với một yêu cầu phải được cắt toàn bộ tuyến giáp. Bệnh nhân không điều trị nội tiết khi dùng 1131 để đảm bảo thuốc tập trung vào u di căn.

Đối với UTTGT thể tủy, bệnh thường di căn hạch nên có chỉ định cắt toàn bộ tuyến giáp trạng, vét hạch cổ. Bệnh nhân cũng được theo dõi sát bằng định lượng Calcitonin. Trong trường hợp này, điều trị hóa chất, nội tiết, phóng xạ ít được đề cập tới. Đối với UTTGT thể không biệt hóa, hầu hết các trường hợp không thể phẫu thuật được tại thời điểm phát hiện bệnh. Bệnh nhân chủ yếu được điều trị hóa chất đơn thuần hoặc hóa chất với tia xạ từ ngoài.

Theo Quỳnh Nga
Theo Tin tức online
(NLĐ)-Bệnh viện Ung bướu TPHCM vừa triển khai kỹ thuật phẫu thuật hở các bệnh ung thư tuyến giáp, vùng đầu cổ bằng dao siêu âm thế hệ mới Focus.
Kỹ thuật này có ưu điểm là dùng sóng siêu âm để làm đông đặc các mạch máu, vừa cắt vừa cầm máu, ít gây tổn thương hoặc biến chứng các bộ phận xung quanh vết mổ. Ngoài ra, sẽ rút ngắn 50% thời gian phẫu thuật, giảm thời gian nằm viện của người bệnh từ 1 tuần còn 2 ngày, giảm chi phí điều trị đáng kể...

Theo bác sĩ Trần Văn Thiệp, Trưởng Khoa Ngoại 3 Bệnh viện Ung bướu, hiện nay số bệnh nhân bị u bướu (lành tính, ác tính) tuyến giáp gia tăng. Hiện tại, bệnh viện đang có 400 ca đợi mổ và đã có 40 bệnh nhân được phẫu thuật bằng kỹ thuật mới này. Sắp tới, bệnh viện sẽ áp dụng trong điều trị các loại ung thư vú, tuyến mang tai...
Ng.Thạnh
(Dân trí) - Báo cáo về các trường hợp bệnh nhân ung thư tuyến giáp có thể gây ô nhiễm phóng xạ những nơi họ đi qua.

Sau khi xạ trị ung thư tuyến giáp, cơ thể bệnh nhân nhiễm xạ và dễ phát tán ra môi trường

Một cuộc điều tra rộng lớn thực hiện vào thứ Tư cho thấy những bệnh nhân về nhà sau điều trị xạ trị i-ốt đã làm phòng nghỉ của họ nhiễm xạ và trở thành một vấn đề đáng báo động trên các phương tiện giao thông công cộng.

Việc họ tiếp xúc với những người dễ tổn thương như thai phụ, trẻ em và các chất thải của họ cũng sẽ gây ô nhiễm đến mức các máy dò tìm bức xạ có thể phát hiện.

Hiệp hội Điều tiết hạt nhân đang xem xét những luật mới để giải quyết vấn đề này, đặc biệt là hạn chế đưa bệnh nhân tới những nơi nghỉ ngơi công cộng như khách sạn, nhà nghỉ.

Cuộc khảo sát trên 1.000 bệnh nhân ung thư tuyến giáp cho thấy:

- 1 bệnh nhận vừa xạ trị i-ốt lên xe bus ở 1 bến xe tại New York tới New Jersey đã khiến các thiết bị dò tìm chất phóng xạ phát tín hiệu cảnh báo đến mức cảnh sát phải vào cuộc. Sau điều tra, người ta ra quy định bệnh nhân vừa điều trị xạ trị cần phải tránh đi các phương tiện giao thông công cộng trong vòng 2 ngày.

- 7% bệnh nhân ngoại trú cho biết họ đã đi thẳng tới khách sạn sau khi điều trị và các bác sĩ biết điều này. Năm 2007, 1 khách sạn đã bị nhiễm xạ sau khi bộ ga gối trong phòng bệnh nhân xạ trị được giặt chung với các bộ ga gối khác. Vấn đề chỉ được phát hiện khi những người làm trong lĩnh vực phóng xạ ở tại khách sạn này và phát hiện độ nhiễm xạ cao tới mức đáng cảnh báo.

- Khoảng 4% bệnh nhân điều trị ngoại trú cho biết họ chưa bao giờ thảo luận với bác sĩ về việc làm thế nào để tránh tiếp xúc với thai phụ, trẻ em sau khi xạ trị. Khảo sát cho thấy 56 trường hợp bệnh nhân đã dùng chung giường hay phòng tắm với thai phụ hoặc trẻ em hay có các tiếp xúc gần khác.

Các chuyên gia y tế đề xuất luật bệnh nhân cần được giữ lại bệnh viện sau xạ trị trong 1 số ngày nhất định. Ngoài ra, các nhà chuyên môn cũng kêu gọi 1 lệnh cấm bệnh nhân tham gia giao thông công cộng sau khi điều trị xạ trị i-ốt.

Nhân Hà
Theo AP
(ANTĐ) - Cơ quan y tế Hoa Kỳ (FDA) đã phê chuẩn thuốc điều trị ung thư tuyến giáp dạng tủy vandetanib của hãng AstraZeneca Plc, đây là phương pháp điều trị đầu tiên được phê chuẩn cho dạng ung thư hiếm gặp này.
Thuốc đã bị trì hoãn 3 tháng sau khi cơ quan chức năng Hoa Kỳ mở rộng thời gian cần thiết để hoàn thành việc xem xét.

Quyết định phê duyệt thuốc, được dự kiến là vào ngày 7/1, đã bị kéo dài đến ngày 7/4 sau khi hãng này đệ trình đánh giá nguy cơ và chiến lược giảm nhẹ bệnh cho các cơ quan chức năng.

Thuốc được phê chuẩn để điều trị cho bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp dạng tủy tiến triển không thể phẫu thuật, chiếm khoảng 3 - 5% trường hợp ung thư tuyến giáp.

Theo Viện Ung thư Quốc gia Mỹ, có khoảng 44,600 trường hợp ung thư tuyến giáp mới được chẩn đoán ở Mỹ năm 2010, và khoảng 1,690 người tử vong do bệnh này.

Liên Mai

Theo Reuters
(HNM) - Đó là nhận định được đưa ra tại hội thảo góp ý Báo cáo đánh giá 5 năm triển khai thực hiện Nghị định số 21/2006/NĐCP về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, được Bộ Y tế tổ chức ngày 21-7.

Tình trạng trẻ không được bú sữa mẹ trong những năm đầu đời cũng là những nguyên nhân chính dẫn tới suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ. Ở Việt Nam, hơn 30% trong tổng số 7 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thấp còi (tương đương 2,5 triệu trẻ), tỷ lệ này cao thứ 13 trên thế giới. Trong khi đó chỉ có 10% trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do sữa bột cho trẻ sơ sinh quá phổ biến và được quảng bá tràn lan, trong khi các bà mẹ hiểu chưa đúng về việc nuôi con bằng sữa mẹ, thiếu khả năng cho con bú và lại phải quay trở lại làm việc sớm. Các chuyên gia khuyến cáo, nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ mang lại lợi ích cho con mà còn giúp bà mẹ giảm tình trạng loãng xương, giảm nguy cơ ung thư tuyến giáp, mắc bệnh lupus ban đỏ…

Thảo Nguyên
Các ca ung thư liên quan đến tuyến giáp sẽ tăng gấp đôi tại vùng Briansk, phía tây nước Nga, kể từ nay đến năm 2010, do ảnh hưởng của vụ nổ nhà mày điện nguyên tử Chernobyl vào 20 năm trước.
Theo các thống kê của cơ quan y tế Nga, hiện tại đang có khoảng 1,5 triệu người Nga sinh sống tại 14 khu vực bị ô nhiễm phóng xạ sau sự cố của nhà máy Chernobyl. Chính quyền Nga dự đoán từ nay đến năm 2010, hơn 500 ca ung thư tuyến giáp sẽ được ghi nhận tại Briansk, khu vực bị ảnh hưởng nặng nhất sau vụ nổ ở nhà máy nguyên tử Chernobyl vào ngày 26-4-1986.

Cơ quan y tế Nga khẳng định chỉ riêng tại khu vực này, 122 ca ung thư tuyến giáp đã được phát hiện. Hiện tại, ngoài số cư dân ở các vùng bị nhiễm phóng xạ có nguy cơ mắc bệnh còn có hơn 186.000 người Nga thuộc nhiều lĩnh vực (lính cứu hỏa, binh sĩ và thường dân) đã từng tham gia dọn dẹp sau thảm hoạ trên, mang nguy cơ tiềm ẩn của các tật bệnh liên quan.

Vào tháng 9-2005, Liên Hiệp Quốc đưa ra một bản báo cáo ước tính có 4.000 trường hợp tử vong ở Ukraine, Belarus và Nga, ba nước bị ảnh hưởng nặng nhất. Trong khi đó, tổ chức Greenpeace ước tính có đến 93.000 trường hợp tử vong do ung thư vì nhiễm phóng xạ từ vụ nổ ở Chernobyl.

ĐỨC TRƯỜNG (Theo AFP)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)
Xin bác sĩ tư vấn về bệnh ung thư tuyến giáp. Nguyên nhân xuất hiện của bệnh này?
Do tôi phát hiện một cục u ở bên cổ phải, và đi siêu âm với kết quả: Tuyến giáp không to, giữa thùy P có 1 nhân echo rất kém, KT=8mm, không vôi hóa, không tăng sinh mạch máu. Thùy trái cực dưới có 2 nhân echo hỗn hợp vừa dày vừa trống, KT = 5mm. Tuyến mang tai và tuyến dưới hàm hai bên bình thường. Cổ phải có vài hạch echo kém, KT=7-12mm, có khối hoại tử bên trong.

Như vậy tôi đã bị ung thư tuyến giáp di căn rồi phải không? Bệnh này sau khi phẫu thuật có hết không và có biến chứng gì xảy ra? (Một bệnh nhân)

Trả lời của phòng mạch online:

- Theo như bạn mô tả, tuyến giáp của bạn có nhiều nhân, ở cả 2 thùy tuyến giáp, kích thước 5-8 mm, kèm theo có hạch cổ bên phải, kích thước 7-12 mm.

Hầu hết các trường hợp tuyến giáp đa nhân là lành tính, không phải ung thư. Kích thước các nhân giáp của bạn không lớn (dưới 1 cm), hạch cổ có hoại tử bên trong, càng ít có khả năng là bệnh ung thư giáp di căn.

Tuy nhiên, để xác định chính xác loại bệnh gì thì trong trường hợp của bạn cần thực hiện xét nghiệm tế bào học. Cách làm là dùng kim chọc vào vị trí nhân giáp để hút ra một số tế bào và xem dưới kính hiển vi. Các hạch cổ có thể chọc hút như vậy hoặc mổ lấy nguyên toàn bộ một hạch để quan sát dưới kính hiển vi. Tuy nhiên phải do bác sĩ thực hiện.

Trong trường hợp xấu nhất là ung thư, việc phát hiện vào giai đoạn sớm cho phép thực hiện điều trị tối đa (phẫu thuật cắt tuyến giáp, điều trị bằng I-ốt phóng xạ) thường đem lại kết quả rất tốt. Việc phát hiện có hạch ở cổ không phải là một dấu hiệu nặng, nhất là khi hạch còn nhỏ và có thể phẫu thuật cắt bỏ được.

Trước mắt, bạn cần đi khám chuyên khoa Ung bướu và Nội tiết nhằm xác định bản chất của các nhân giáp. Tùy theo kết quả sẽ có các phương pháp điều trị phù hợp. Chúc bạn sớm giải quyết vấn đề này và trở lại cuộc sống bình thường.

Th.s, BS TRẦN THẾ TRUNG
Giảng viên Bộ môn Nội tiết ĐH Y Dược TP.HCM

Việt Báo (Theo_TuoiTre)
Tôi năm nay 26 tuổi, là nữ, chưa có gia đình. Tôi bị ung thư tuyến giáp di căn xâm lấn khí quản, ung thư hạch di căn vùng III và vùng IV, hạch viêm.
Phương pháp điều trị là cắt bỏ trọn tuyến giáp, nạo hạch. Hiện nay tôi đã bị liệt một dây thanh trái. Tôi đã phẫu thuật ở bệnh viện Ung Bướu, sau đó chuyển sang Chợ Rẫy để tiếp tục điều trị bằng I131. Trong hồ sơ bệnh án có ghi: trong phẫu thuật có một số hạch ghi ngờ ác tính, lấy mẫu xét nghiệm kết quả hạch ác tính nên không cắt bỏ những hạch đó.

Tôi nhập viện Chợ Rẫy để điều trị, kết quả xét nghiệm TSH 6,1; Tg: 21, BS khoa phóng xạ cho tôi uống 30ml I131. Ngày 2-2-2007 tôi nhập viện lại, kết quả XN TSH: 5,7, Tg: 2 và được cho uống 30ml I131 và kê thuốc L_thyroxin ngày uống 1,5viên, hẹn 3 tháng sau tái khám.

BS đã cho thử máu kết quả TSH 0,25 sau đó nói tôi vẫn uống L_thyroxin ngày 1,5 viên đến ngày 1-9-2007 dừng thuốc để ngày 1-1-2007 vô bệnh viện uống 150 ml I131.

Tôi biết bệnh tôi không nhẹ, hiện tôi vẫn sờ thấy hạch trên cổ, có một cái gì đó hay chèn cổ họng làm tôi nghẹt thở và muốn ói. Tôi vẫn cố gắng đi làm bình thường và rất muốn được bác sỹ cho biết rõ hơn về tình trạng của mình. Không phải vì tôi mất niềm tin hay chán nán, mà chỉ đơn giản tôi muốn đối mặt với nó và chuẩn bị tinh thần tốt hơn.

- Tư vấn của phòng mạch online:

Trước hết, xin gửi lời cảm thông và chia sẻ với chị về những khó khăn mà khi mắc bệnh của chị. Về chi tiết tình hình bệnh, có lẽ chị hỏi trực tiếp bác sỹ đang theo dõi và điều trị cho chị.

Tôi chỉ xin trao đổi thêm về một số điểm dựa trên mô tả của chị. Bệnh của chị đã tiến triển đến giai đoạn trễ, nghĩa là đã xâm lấn và di căn sang hạch. Việc phát hiện trễ như vậy làm việc điều trị khó khăn và phức tạp hơn.

Tuy nhiên, nếu so với các loại ung thư khác, ung thư tuyến giáp có tiên lượng khá tốt. Loại thuốc điều trị đặc hiệu, sau khi đã phẫu thuật, là Iod đồng vị phóng xạ (I131). Thuốc này có hiệu quả cao, dễ dùng và ít tác dụng phụ hơn nhiều nếu so với các loại thuốc trị ung thư nói chung. Do đó, chị cần duy trì tái khám đều đặn để kiểm tra diễn tiến bệnh và tiếp tục dùng I131 khi có chỉ định.

Bệnh tật, phẫu thuật và thuốc uống đều ảnh hưởng đến sức khỏe chung của cơ thể. Chị cần chú ý đến chế độ ăn uống, nên ăn đủ chất dinh dưỡng và đúng bữa. Dinh dưỡng đối với các bệnh ác tính, bệnh mãn tính là vấn đề rất quan trọng và chị cần cố gắng thực hiện tốt.

Việc dùng thuốc L-thyroxin, ngoài mục đích bổ sung hormon (do chị đã cắt đi tuyến giáp), còn có tác dụng hạn chế sự phát triển của những tế bào ung thư có xuất xứ từ tuyến giáp. Chị không nói rõ là chị đang uống liều bao nhiêu, hiện nay có 2 loại viên là 50 và 100 microgam (μg), có lẽ là 150 μg (1,5 viên). Trong điều trị ung thư, liều thuốc thường cao hơn so với liều điều trị các bệnh khác.

Tác dụng phụ của thuốc khi dùng lâu dài hầu như không đáng kể, chị có thể đọc chi tiết trong tài liệu đi kèm với hộp thuốc. Một điểm lưu ý là chị cần mua đúng một loại thuốc (các thuốc của các công ty dược khác nhau có mức độ tác dụng khác nhau dù đều là loại thuốc L-thyroxin) và nên uống vào buổi sáng, uống cách xa những loại thuốc có khả năng làm giảm sự hấp thu của L-thyroxin ít nhất 4 giờ.

Lúc bắt đầu dùng L-thyroxin và lúc ngưng thuốc 1 tháng để kiểm tra tình trạng bệnh, do sự thay đổi hormon trong người nên có thể làm cho chị cảm thấy mệt, khó chịu. Dựa trên những thông tin chị nêu, tôi nghĩ rằng bệnh ung thư của chị đang có diễn tiến tốt, đáp ứng với trị liệu và có lẽ không phải là nguyên nhân gây ra những khó chịu cho chị.

Nếu tình trạng sức khỏe của chị không tốt, có những triệu chứng bất thường, chị nên đi khám lại. Một số trường hợp sau mổ tuyến giáp, người bệnh bị hạ canxi máu, chị có thể trao đổi với bác sĩ đang theo dõi để kiểm tra lại điều này.

Th.s, BS TRẦN THẾ TRUNG - Bộ môn Nội tiết ĐH Y Dược TP.HCM

Việt Báo (Theo_TuoiTre)
(Dân trí) - Vừa qua, lần đầu tiên mô hình chăm sóc giảm nhẹ đối với các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã được các chuyên gia tình nguyện Singapore chia sẻ với 89 y bác sĩ và nhân viên y tế tại một số BV lớn tại Việt Nam.


Theo bác sĩ Nguyễn Phi Yến, Phó Khoa Điều trị chống đau, Bệnh viện (BV) K, một cuộc điều tra mới đây của BV trong năm 2007 cho thấy, số bệnh nhân chẩn đoán mắc bệnh ung thư đã tăng lên 200.000 người/năm, trong khi đó 2 năm trước đây là 150.000 người.

Điều đáng nói là có đến 80% bệnh nhân ung thư khi được phát hiện thì bệnh đã ở giai đoạn cuối ít có cơ hội cứu chữa. Hầu hết các bệnh nhân không đủ khả năng kinh tế sử dụng thuốc điều trị đắt tiền. Phần lớn bệnh nhân này chọn giải pháp dành những ngày ngắn ngủi còn lại bên gia đình, người thân, chịu đựng đau đớn về thể xác và tinh thần mà không có bất kỳ liệu pháp điều trị nào.

Vì thế, trong 3 năm qua, với sự hỗ trợ của Quĩ Bia Rượu Châu Á – Thái Bình Dương (APB), lần đầu tiên mô hình chăm sóc giảm nhẹ đã được các chuyên gia tình nguyện Singapore chia sẻ với 90 y bác sĩ và nhân viên y tế ở BV K, BV Ung bướu (Hà Nội), BV Chợ Rẫy (TPHCM), BV Đa khoa Huế.

Hàng triệu lượt bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo không đủ khả năng kinh tế sử dụng thuốc điều trị đắt tiền mà lại không phải chịu những cơn đau đớn của bệnh tật đã được hưởng lợi từ dự án này. Sau khi dự án này kết thúc, hoạt động chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân sẽ được sử dụng rộng rãi tại các BV cũng như đưa vào các giáo trình y khoa tới đây.

Theo BS Lương Ngọc Khuê, Phó Vụ trưởng Vụ điều trị, Bộ Y tế Việt Nam, những kinh nghiệm đáng quý của các chuyên gia y tế Singapore đã giúp VN có những phát triển đáng khích lệ trong lĩnh vực chăm sóc giảm nhẹ. "Trải qua chương trình đào tạo trong 3 năm, các bác sĩ của chúng tôi giờ đây được trang bị và sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm đã tiếp thu được", BS Khuê chia sẻ.

Bảo Trung
Ung thư vú là một trong những dạng ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ và việc phát hiện, điều trị sớm có thể đảm bảo tỷ lệ sống cao hơn.

Ung thư vú là một trong những dạng ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ và việc phát hiện, điều trị sớm có thể đảm bảo tỷ lệ sống cao hơn.
1. Ung thư vú là một trong những dạng ung thư thường gặp ở phụ nữ, chúng chỉ đứng sau bệnh ung thư da.

2. Cứ 9 người phụ nữ thì có 1 người bị ung thư vú.

3. Ung thư vú nếu được phát hiện và điều trị trong giai đoạn đầu sẽ đảm bảo tỷ lệ sống 97%.

4. Phương pháp chẩn đoán và phát hiện ung thư vú sớm nhất

- Kiểm tra núi đôi lâm sàng: Phụ nữ độ tuổi từ 20-40 năm nên kiểm tra núi đôi 3 năm/lần. Phụ nữ từ 40  tuổi trở đi phải kiểm tra núi đôi mỗi năm 1 lần.

-Chụp X-quang tuyến vú: Phụ nữ từ 40 tuổi trở đi nên tiến hành chụp X- Quang núi đôi 1 lần/năm. Đặc biệt nếu thấy nghi ngờ điều gì đó bất thường ở núi đôi hoặc trường hợp gia đình có người mắc ung thư vú, hãy đi khám ngay.

Ngay cả khi một số bệnh ung thư có thể không được phát hiện, nhưng X-quang vẫn là một phương pháp tuyệt vời chẩn đoán ung thư vú.

- Tự kiểm tra núi đôi: Tiến hành tự kiểm tra núi đôi thường xuyên sẽ là một phương pháp quan trọng để phát hiện sớm ung thư vú. Để có được kết quả tốt nhất, nên kiểm tra núi đôi 10 ngày sau khi chu kỳ kinh nguyệt “ghé thăm”.

5. Những yếu tố liên quan đến nguồn gốc hình thành bệnh ung thư vú?

- Giới tính, tuổi tác, yếu tố di truyền, tiền sử bệnh gia đình, bức xạ, sinh thiết, quá trình thay thế trị liệu, thói quen uống rượu, béo phì... là những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư vú.

- Việc chăm chỉ điều dưỡng, tập thể dục thể chất, một chế độ ăn uống cân bằng... sẽ góp phần bảo vệ bạn khỏi những yếu tố nguy cơ.

6. Dấu hiệu và triệu chứng của ung thư vú

- Thấy xuất hiện một khối u ở núi đôi hoặc bên cạnh núi đôi. Nếu nó không phải là quá đau đớn, cứng, có cạnh không đều, dính vào các mô xung quanh thì có một xác suất cao bị ung thư vú.

- Thay đổi hình dạng hay kích thước núi đôi

- Da vú nhăn và sần hoặc đỏ

- Đau ở núm vú, đầu vú hoặc đau âm thầm trong vú

-  Có thể tiết sữa hoặc dịch chảy ra từ núi đôi

7. Ung thư vú có thể xuất hiện ở bất kỳ tuổi nào, nhưng nó càng hoành hành nhiều hơn ở những phụ nữ lớn tuổi.

8. Phụ nữ tuổi 70 có nguy cơ ung thư vú cao gấp đôi so với tuổi 50.

9. Hơn 70% số phụ nữ bị ung thư vú không liên quan với di truyền.

10. Một số những yếu tố tăng nguy cơ mắc ung thư vú:

- Phụ nữ có kinh nguyệt sớm; không có con hoặc sinh con đầu lòng sau tuổi 35 hoặc mãn kinh sau tuổi 50.

- Lịch sử gia đình có người bị ung thư vú

- Tuổi tác cũng là một yếu tố gia tăng nguy cơ ung thư vú. 7% các bệnh ung thư vú ảnh hưởng đến phụ nữ tuổi 40, 18% bệnh ung thư vú ảnh hưởng đến phụ nữ 40-50 tuổi, 32% bệnh ung thư vú ảnh hưởng đến phụ nữ 50-60 tuổi và 43% bệnh ung thư vú ảnh hưởng đến phụ nữ trên 65 tuổi.

Lê Nhi
Theo buzzle
Điều trị ung thư cổ tử cung có thể làm giảm ham muốn tình dục, cảm giác hưng phấn và cực khoái ở phụ nữ...

1. Lo lắng và trầm cảm

Ảnh minh hoạ
Điều trị ung thư cổ tử cung có thể làm giảm ham muốn tình dục, cảm giác hưng phấn và cực khoái ở phụ nữ...

1. Lo lắng và trầm cảm

Những phụ nữ bị ung thư cổ tử cung dễ bị rối loạn tâm trạng hơn cũng như dễ trải qua những cơn giận dữ, hỗn loạn hơn. Những bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu hoặc bị thương tổn tiền ung thư có nguy cơ lo lắng và trầm cảm cao hơn so với những phụ nữ khỏe mạnh. Những phụ nữ đang điều trị ung thư cổ tử cung sẽ ít hy vọng hơn vào việc đánh bại ung thư.

2. Cảm thấy mình ít nữ tính hơn

Những phụ nữ bị ung thư cổ tử cung có thể sẽ phải trả qua những cuộc điều trị kéo dài mà có thể khiến họ thất vọng, chán nản. Đối với những người vốn coi việc sinh nở như một yếu tố thể hiện nữ tính của họ, nếu bị ung thư cổ tử cung, có thể họ sẽ cảm thấy mình bị giảm sự nữ tính đó sau khi cắt bỏ cơ quan sinh sản, khiến họ cảm thấy mình không còn là người phụ nữ hoàn hảo.
3. Cảm thấy tội lỗi vì cho đó là nguyên nhân của việc quan hệ tình dục trong quá khứ

Việc điều trị thương tổn tiền ung thư trong thời gian mang thai có thể dẫn đến sinh non, trẻ nhẹ cân và nguy cơ mổ đẻ cao hơn. Một số phụ nữ khó thụ thai có thể ngày càng cảm thấy tội lỗi khi nghĩ rằng căn bệnh này có thể là do việc quan hệ tình dục trong quá khứ gây ra.

4. Giảm ham muốn tình dục

Điều trị ung thư cổ tử cung có thể làm giảm ham muốn tình dục, cảm giác hưng phấn và cực khoái cũng như làm giảm sự bôi trơn, kích thích. Đồng thời nó còn gây ra mãn kinh sớm, giảm sự đàn hồi của âm đạo, và teo bộ phận sinh.

5. Bị mệt mỏi kinh niên

Theo báo cáo, khoảng 30% bệnh nhân ung thư cổ tử cung bị mệt mỏi kinh niên sau khi điều trị bằng phép chữa rơngen và đây cũng là nguyên nhân khiến họ dễ bị giận dữ và trầm cảm.
BACSI.com (Theo aFamily)
Đây là căn bệnh khá phổ biến ở Việt Nam nhưng hiểu biết của người dân về nó còn rất hạn chế.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ung thư gan tập trung cao ở những nước Châu Phi, Trung Quốc và Đông Nam Á, mỗi năm có thêm khoảng hơn 400.000 ca mắc bệnh mới. Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới về tỷ lệ người mắc bệnh ung thư gan. Tuy nhiên, hiểu biết của người dân về bệnh ung thư gan vẫn còn hạn chế. Để hiểu rõ về căn bệnh này, chúng ta đã có cuộc phỏng vấn bác sĩ Nguyễn Đình Song Huy, Trưởng khoa U gan, Bệnh viện Chợ Rẫy.

Đây là căn bệnh khá phổ biến ở Việt Nam nhưng hiểu biết của người dân về nó còn rất hạn chế.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ung thư gan tập trung cao ở những nước Châu Phi, Trung Quốc và Đông Nam Á, mỗi năm có thêm khoảng hơn 400.000 ca mắc bệnh mới. Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới về tỷ lệ người mắc bệnh ung thư gan. Tuy nhiên, hiểu biết của người dân về bệnh ung thư gan vẫn còn hạn chế. Để hiểu rõ về căn bệnh này, chúng ta đã có cuộc phỏng vấn bác sĩ Nguyễn Đình Song Huy, Trưởng khoa U gan, Bệnh viện Chợ Rẫy.
Bác sĩ có thể cho biết thựctrạng bệnh ung thư gan tại Việt Nam?
Ung thư tế bào gan nguyên phát(gọi tắt là ung thư gan) khá phổ biến ở Việt Nam, đứng thứ ba trong các loại ungthư thường gặp và là nguyên nhân gây tử vong thứ hai trong số các bệnh về gan.Tại Việt Nam, chưa có thống kê chính xác số người ung thư gan cũng như số tửvong hàng năm. Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, trong năm 2009, có hơn 5.000 bệnh nhân ungthư gan được khám và điều trị. Trong hai tuần đầu năm 2010, có 97 trường hợp mớiphát hiện ung thư gan, vậy trung bình mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng 10bệnh nhân mới phát hiện ung thư gan đến từ khu vực phía Nam.
Phần lớn bệnh nhân ung thư ganđược phát hiện bệnh ở giai đoạn ung thư tiến triển, chỉ còn sống được 3-6 tháng,tại sao vậy?
Gan được bao bọc bởi lớp màngbụng rất mỏng, gọi là bao gan. Chỉ khi nào lớp bao gan này căng lên một cách bấtthường hay quá mức thì mới gây cảm giác đau ở vùng dưới sườn bên phải. Do đó,bệnh nhân chỉ có cảm giác đâu ở vùng này khi các khối ung thư nằm trên bề mặtgan phát triển nhanh hoặc các khối ung thư phát triển lớn, còn thường thì gầnnhư không có triệu chứng gì.
Một thực tế nữa là hiện nay tạiViệt Nam cũng cần lưu tâm đến vấn đề tầm soát bệnh. Ung thư gan liên quan chặtchẽ với viêm gan siêu vi B hay C, mà tỷ lệ nhiễm vi-rút viêm gan B hay C ở ViệtNam khá cao. Nhiều người biết bị viêm gan siêu vi B hay C, đã hoặc đang điều trịtại các cơ sở y tế trong thời gian dài nhưng không được ác bác sĩ cho làm siêuâm để tầm soát ung thư gan. Chỉ đến khi có triệu chứng hoặc tình cờ siêu âm, họmới phát hiện ra khối ung thư gan. Không ít trường hợp khi phát hiện đã quá chỉđịnh điều trị. Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở các ở các bệnh nhân được điềutrị xơ gan do các nguyên nhân khác như rượu... Do đó, những người có nguy cơ nhưnhiễm vi-rút viêm gan B hay C... nên làm siêu âm bụng mỗi 3-6 tháng để phát hiệnsớm ung thư.
Thông thường bệnh nhân ở giaiđoạn cuối thường chịu đựng những tổn thương gì?
Chúng ta cần phân biệt ung thưgan giai đoạn tiến triển với giai đoạn cuối.
Giai đoạn tiến triển là trườnghợp ung thư gan mà khối ung thư vượt quá chỉ định điều trị, không hoặc đáp ứngkém các phương pháp điều trị. Chúng có thể đã di căn nhưng thể trạng và chứcnăng gan khá, bệnh nhân vẫn sinh hoạt bình thường. Giai đoạn này có thể sử dụnghoạt chất Sorafenib để làm chậm quá trình phát triển khối u.
Giai đoạn cuối là bệnh tiến triểnnặng, khối ung thư phát triển nhanh, chức năng gan suy giảm, các di căn pháttriển gây ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan bị di căn. Thể trạng bệnh nhânsuy sụp, không thể tự chăm sóc bản thân. Họ ăn uống kém, suy kiệt, vàng da, honhiều có thể ho ra máu...
Có cách nào để kéo dài sự sốngcho các bệnh nhân ở giai đoạn cuối?
Nếu bệnh nhân được xác định làung thư gan giai đoạn cuối, có lẽ không có cách nào kéo dài sự sống. Mục tiêuđiều trị tại thời điểm này chỉ là giúp bệnh nhân được nhẹ nhàng trong khoảngthời gian còn lại. Thường thì người ta dùng một số thuốc giảm đau mạnh theo chỉđịnh của bác sĩ chuyên khoa và nuôi dưỡng bệnh nhân qua đường tĩnh mạch bằng cácdịch truyền thích hợp.
BACSI.com (Theo Thoitrangtre)
Việc nghiên cứu khống chế ung thư gan giai đoạn cuối đã được thực hiện nhiều nhưng gần đây, các nước tiên tiến nhất mới đưa hoạt chất sorafenib (Nexavar®) vào điều trị. Đây cũng là liệu pháp nhắm trúng đích đầu tiên trong điều trị ung thư gan ở nước ta.

PGS.TS Đào Văn Long - Giám đốc Bệnh viện ĐH Y, Trưởng khoa Tiêu hoá Bệnh viện Bạch Mai cho biết, ung thư gan có tỷ lệ tử vong/người mắc cao nhất.

Hiện tại, mỗi năm có thêm 10.000 ca mắc mới và đa phần bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn, khối u đã có di căn hạch, khối u lớn, thậm chí xâm lấn vào tĩnh mạch cửa... không còn khả năng phẫu thuật, nút mạch, phá huỷ khối ung thư gan bằng sóng cao tần.

Sorafenib được chỉ định cho bệnh nhân ung thư giai đoạn 3, bệnh nhân sau phẫu thuật nhằm ngăn cản khả năng tái phát.

Tuy không chữa lành bệnh, nhưng thuốc nhắm vào các tế bào ác tính, giảm máu đến nuôi dưỡng khối u, giúp trì hoãn đáng kể quá trình phát triển của khối u, nhờ đó bệnh nhân có thể kéo dài cuộc sống với chất lượng sống tốt hơn.

Nghiên cứu ngẫu nhiên, có kiểm chứng với giả dược trên 602 bệnh nhân ở Châu Âu và 226 bệnh nhân ở Châu Á cho thấy, thời gian sống của bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan kéo dài được 44% so với giả dược, với thời gian sống trung bình là 10,7 tháng của sorafenib và 7,9 tháng của giả dược; Ở bệnh nhân có xâm lấn, thời gian sống kéo dài gấp đôi (9,6 tháng) so với nhóm giả dược là (4,3 tháng).

Liệu pháp điều trị này đã được Bộ Y tế cho phép sử dụng ở Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện K.

Tuy nhiên, theo TS Long, hiện giá thành của thuốc khoảng 50 - 60 triệu đồng/tháng điều trị nên không phải bệnh nhân ung thư gan nào cũng có khả năng áp dụng. Người có bảo hiểm y tế trên 3 năm sẽ được thanh toán 50% khi có chỉ định thuốc này.

Trong quá trình điều trị, bệnh nhân đặc biệt lưu ý các tình trạng nhiễm độc trên da tay và chân, tăng huyết áp, xuất huyết, chảy máu bất thường...
Theo Xã luận
Nhiều trường hợp bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiêu hoá đến khám điều trị ở các phòng mạch tư, phòng khám đa khoa trong một thời gian dài mà không được chụp hoặc soi dạ dày. Đến khi phát hiện ung thư dạ dày thì đã quá muộn không còn cách cứu vãn.

Nam giới mắc bệnh cao gấp ba lần nữ giới

Ung thư dạ dày là loại ung thư xuất phát từ thành dạ dày. Đa số trường hợp là loại ung thư biểu mô tuyến của niêm mạc dạ dày và một số ít trường hợp thuộc loại u ác lympho, u ác cơ trơn. Ung thư dạ dày thường gặp nhất ở đường tiêu hoá và đứng hàng thứ ba trong các loại ung thư ở nam giới.

Nam giới bị bệnh này nhiều hơn nữ giới gấp ba lần. Hiện chưa có lời giải đáp vì sao có chênh lệch này. Tuổi mắc bệnh thường sau 50, nhưng thực tế gần đây cho thấy khá nhiều trường hợp xảy ra ở người trẻ hơn. Tỷ lệ mắc bệnh ở khu vực Hà Nội cao hơn TP.HCM. Trên thế giới, Nhật là nước có tỷ lệ bệnh này rất cao (69 ca/100.000 dân mỗi năm) nhưng người Nhật phát hiện bệnh rất sớm nhờ nội soi tầm soát nên khả năng điều trị khỏi bệnh rất tốt. Tỷ lệ mắc bệnh ở nước ta là 20 – 45 ca/100.000 dân mỗi năm, nhưng thường là phát hiện trễ nên khả năng điều trị khỏi bệnh thấp.

Thủ phạm gây ung thư dạ dày

Nhiễm khuẩn Helicobacter pylori được cho là nguyên nhân chính của bệnh ung thư dạ dày, mặc dù vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ trong mối liên hệ nhân quả này. Không nên vội hoảng hốt khi bị nhiễm Helicobacter pylori, bởi ung thư dạ dày chỉ phát sinh trong khoảng 2% số người bị nhiễm và phải qua nhiều giai đoạn viêm nhiễm ở dạ dày nhưng không được điều trị trong thời gian dài. Ngoài ra, người ta còn nghi ngờ nhiều yếu tố nguy cơ khác như người có nhóm máu A, yếu tố di truyền, viêm dạ dày thể teo, ăn nhiều muối, thức ăn xào – rán – nướng – chả – hun khói…

Ở giai đoạn sớm, người bệnh có thể không có biểu hiện gì hoặc có những triệu chứng không đặc hiệu về tiêu hoá như: chậm tiêu, đầy bụng, ợ hơi, đau không rõ ràng vùng trên rốn, chán ăn… Khám bụng không thể phát hiện bất thường. Ở giai đoạn này, chỉ có nội soi dạ dày và sinh thiết qua nội soi là phương tiện hữu hiệu nhất để xác định bệnh. Ở giai đoạn tiến triển, người bệnh cảm thấy đau âm ỉ vùng trên rốn, chán ăn, rất khó tiêu, sụt cân, mệt mỏi, chóng mặt, xanh xao, có khi tiêu phân đen. Khám bụng có thể sờ thấy khối u vùng trên rốn, có thể không. Nội soi dạ dày hoặc chụp X-quang dạ dày dễ dàng phát hiện khối u. Ở giai đoạn muộn, bệnh nhân suy kiệt, thiếu máu nặng, phù. Đau vùng trên rốn trở nên dai dẳng, nôn ói, nôn ra máu. Khám có thể sờ rõ khối u trên rốn, bụng báng, u di căn lổn nhổn ở bụng. Bệnh ở giai đoạn này thì không còn phương cứu chữa.

Phát hiện sớm, chữa khỏi có thể đạt 100%
Để phát hiện sớm ung thư dạ dày

Phải tầm soát bằng chụp X-quang dạ dày hoặc nội soi dạ dày thì mới có thể phát hiện được ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Nội soi phát hiện thương tổn sớm tốt hơn X-quang. Hiện ngành y tế vẫn chưa đáp ứng được việc tầm soát với tất cả mọi người dân, kể cả ở các nước phát triển. Người có yếu tố nguy cơ là đối tượng cần phải tầm soát như: bị viêm teo dạ dày hoặc thiếu máu ác tính, đã cắt bán phần dạ dày, polyp dạ dày, trong gia đình có người bị ung thư đường tiêu hoá, có triệu chứng rối loạn tiêu hoá thường xuyên. Nếu có điều kiện thì mọi người trên 50 tuổi nên nội soi dạ dày tầm soát trong đợt kiểm tra sức khoẻ định kỳ
Phương pháp điều trị ung thư dạ dày là phẫu thuật cắt bỏ và kết hợp hoá trị sau mổ. Tuỳ giai đoạn bệnh, phẫu thuật có thể tiến hành qua nội soi đường miệng, nội soi ổ bụng hoặc phẫu thuật mở bụng. Ở giai đoạn sớm, ung thư chỉ khu trú ở lớp niêm mạc, có thể cắt bỏ một diện niêm mạc chứa thương tổn qua nội soi đường miệng mà không phải cắt một phần dạ dày. Ở giai đoạn ung thư đã xâm nhập các lớp của thành dạ dày, phẫu thuật thích hợp là cắt bán phần hoặc toàn bộ dạ dày (tuỳ vị trí ung thư ở phần dưới hay phần trên dạ dày) kèm theo là nạo vét các hạch xung quanh dạ dày. Phẫu thuật này có thể thực hiện qua nội soi ổ bụng hoặc mổ mở, tuỳ khả năng trang bị và trình độ kỹ thuật. Ở giai đoạn muộn hơn, ung thư đã ăn lan qua các bộ phận khác, không thể cắt bỏ, phẫu thuật chỉ giải quyết tạm bợ bằng cách nối vị tràng hoặc thậm chí chỉ đặt ống vào ruột non để nuôi ăn. Sau mổ, đối với các trường hợp có di căn hạch hoặc ung thư xâm lấn qua thành dạ dày, cần sử dụng hoá trị hỗ trợ. Có nhiều loại thuốc hoá trị sử dụng đơn độc hoặc phối hợp do các chuyên gia hoá trị chỉ định, dựa vào đặc điểm và giai đoạn của ung thư. Xạ trị hỗ trợ cũng có thể được chỉ định cho trường hợp khối u đã xâm lấn và di căn hạch.

Tỷ̉ lệ chữa khỏi ung thư dạ dày có thể đạt 100% nếu phát hiện ở giai đoạn 0 (ung thư chỉ khu trú ở lớp niêm mạc). Đối với ung thư giai đoạn 1 (chưa di căn hạch, chưa qua hết thành dạ dày), tỷ lệ này đạt trên 80%. Ở các giai đoạn tiến triển hơn, tỷ lệ này sẽ giảm nhiều. Một điểm cần lưu ý, bác sĩ cho dù có nhiều kinh nghiệm cũng không thể khám xác định bệnh dạ dày chỉ bằng lâm sàng, mà phải dùng X-quang hoặc nội soi mới có thể định bệnh và điều trị thích hợp. Vì vậy, lời khuyên cho người bệnh có biểu hiện về tiêu hoá là cần phải được nội soi dạ dày trước khi điều trị.
Theo SGTT
Diệp hạ châu đắng (còn gọi là cây chó đẻ) thân xanh chứa nhiều chất chống oxy hóa thuộc nhóm xanthones, có tác dụng ức chế mạnh quá trình peroxyd hóa lipid ở tế bào gan, do đó hạn chế hiện tượng viêm, hoại tử tế bào gan.

Loài cây này có tên khoa học là Phyllathus amarus Schum.et Thonn, họ thầu dầu phân bố khắp các vùng nhiệt đới cổ. Tại Việt Nam, diệp hạ châu đắng mọc hoang trên đất ẩm ở nhiều nơi. Đây là loại cây thảo, cao chừng 10-40 cm, ít phân cành, màu lục (khác với diệp hạ châu gọt thân đỏ). Diệp hạ châu đắng có thể dùng toàn cây, thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi sấy khô.

Nghiên cứu mới của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế cho thấy một phần 15 dân số Việt Nam thường xuyên sử dụng bia rượu, kéo theo những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, gây tổn hại nặng đến gan với các bệnh như gan nhiễm mỡ, viêm, xơ gan do rượu.

Cây Diệp hạ châu đắng, có trong một số sản phẩm (như viên uống Hamega) giúp giải độc và bảo vệ gan do bia rượu. Ảnh minh họa
Theo một báo cáo tổng hợp của bác sĩ Lê Minh Khôi - Bệnh viện TW Huế nghiên cứu thực hiện năm 2010, 40% người thường xuyên sử dụng bia rượu (trong nhóm được tổng hợp) mắc chứng gan nhiễm mỡ; 10% số đó tiến triển thành ung thư gan. Khoảng một phần hai số bệnh nhân viêm gan do rượu nặng sẽ tiến triển thành xơ gan và khoảng một phần tư tổng số bệnh nhân viêm gan do rượu ở mức độ nhẹ có thể bị xơ gan những năm sau. Bệnh nhân xơ gan thường tử vong do các biến chứng như bệnh não, xuất huyết tiêu hóa, suy kiệt nặng, ung thư gan…

Việc sử dụng các biện pháp bảo vệ gan từ sớm rất cần thiết. Hiện nay, xu hướng sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc dược liệu đang được ưa chuộng vì tính an toàn và có thể sử dụng thường xuyên, lâu dài. Các dược liệu tốt cho gan như actiso, hoàng bá, vọng cách, nhân trần, cà gai leo..., trong đó, cây diệp hạ châu đắng được đánh giá cao.

Diệp hạ châu đắng đã được sử dụng hơn 2.000 năm nay. Theo y học cổ truyền, loài thuốc này vị đắng hơi ngọt, tính mát, quy kinh vào can, đởm nên có tác dụng kích thích tiêu hóa, tăng tiết mật. Công dụng chính là thanh can lương huyết (mát gan, mát máu), giải độc. Trong dân gian, diệp hạ châu đắng được sử dụng để điều trị viêm gan vàng da, rối loạn tiêu hóa.

Những tác dụng này cũng đã được y học hiện đại công nhận và sử dụng. Chất đắng (phyllathin, hypophyllanthin, triacontanal) trong diệp hạ châu đắng có nhiều tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là khả năng giải độc, khôi phục chức năng bình thường của gan, tốt trong các trường hợp suy giảm chức năng gan do sử dụng nhiều bia rượu. Các chất này làm gia tăng lượng glutathione - chất bảo vệ gan thường bị thiếu trầm trọng ở những người thường xuyên sử dụng bia rượu. Năm 1995, các nhà khoa học Brazil cũng phát hiện tác dụng giảm đau mạnh và bền vững của loài cây này. Tác dụng này được cho là do acid gallic, có ý nghĩa trong tình trạng viêm gan, tổn thương gan do bia rượu.

Bác sĩ Hoàng Hiệp
Viện Y học Cổ truyền Quân đội
Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) gần đây đã được xem như là một trong những bệnh lý ác tính đang gia tăng ở Mỹ và trên thế giới . HCC xảy ra chủ yếu ở bệnh gan mạn tính, bao gồm xơ gan và viêm gan virus mạn. Vì vậy để hạn chế ung thư gan , phải chú ý vào các đối tượng nguy cơ trên , phải theo dõi , điều trị , ngăn ngừa từ xa……………..

I.DỊCH TỂ

         HCC xảy ra dường như thường xuyên ở những nước đang phát triển trên khắp thể giới. Tỉ lệ cao nhất được báo cáo ở Trung Quốc, đông nam Á, và một phần Sahara châu phi. Ở những vùng này hầu hết có  liên quan đến nhiễm viêm gan virus B (HBV).  HCC thường được chẩn đoán ở lứa tuổi 30---40 ở những nước này, và hầu hết điều không tránh khỏi cái chết. Vì vậy, bệnh này có một ảnh hưởng kinh tế quan trọng, như nó ảnh hưởng đặc biệt đến những người đàn ông ở độ tuổi đang làm việc của họ.
Cho đến gần đây, HCC vẫn được coi là một bệnh hiếm hay không thường xuyên ở Mỹ, và do đó ít trung tâm có kinh nghiệm trong việc quản lý điều trị căn bệnh ác tính này. Tuy nhiên, một sự gia tăng 80%đến 90% trong tỉ lệ mắc bệnh và tử vong của bệnh này đã được quan sát hơn 2 thập niên qua ở nước này, và nhiều trung tâm chuyên về gan đã phải giải quyết với số lượng lớn những bệnh nhân HCC. Ước chừng xấp xỉ 10.000 đến 12.000 trường hợp mới xảy ra mỗi năm ở Mỹ và trong khi tỉ lệ mắc mới gia tăng ở nam giới vẫn tiếp tục, thì tuổi đỉnh điểm xảy ra HCC có thể 50—60 đã được quan sát ở những nước đang phát triển.

II.NHỮNG YẾU TỐ NGUY CƠ ĐỐI VỚI HCC
Những yếu nguy cơ cơ bản ở Mỹ thì khác nhau hơn những vùng tỉ lệ mắc bệnh cao. Ước chừng khỏang 50% những trường hợp HCC ở Mỹ có liên quan đến nhhiễm virus viêm gan C mãn, và khỏang 15% nhiễm HBV mạn . Một số yếu tố nguy cơ  còn lại thì không được biết. Nhiều bệnh nhân HCC có xơ gan, trong một vài trường hợp liên quan với bệnh gan rượu hay (hiếm khi) một vài người được biết từ bệnh gan chuyển hóa như hemochromatosis (bệnh gan ứ sắt) hay khiếm khuyết alpha-1-antitrypsin. Gần đây , có người cho rằng một tỉ lệ đáng kể những trường hợp HCC ở Mỹ liên quan đến bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (NAFD: noalcoholic fatty liver disease) .
Những người với yếu tố nguy cơ cao nhất của HCC bao gồm những người với xơ gan (do bất kỳ lý do nào), nhiễm HBV mạn tính với bằng chứng có tổn thương gan, hay viêm gan C mạn với xơ gan. Những yếu tố nguy cơ thêm vào có thể xảy ra bao gồm nam giới, lớn tuổi (> 45 tuổi), có sử dụng rượu có ý nghĩa hay tiền sử gia đình có HCC.

III.ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CHẨN ĐÓAN HCC
Những đặc điểm lâm sàng điển hình của HCC bao gồm đau hạ sườn phải và sụt cân ở một bệnh nhân được biết có xơ gan. Khám bệnh, những bệnh nhân này có thể có gan lớn, sờ đau. HCC được chẩn đóan ở những cá thể không triệu chứng và được phát hiện bởi kỹ thuật hình ảnh gan như siêu âm, CT, hay MRI.  Một sinh thiết có thể cần để có sự chẩn đóan chắc chắn. Việc đo mức alpha fetoprotein (AFP) trong huýêt thanh  được dùng để bổ sung cho chẩn đóan, nhưng nó vẫn thường tăng ở   những bệnh nhân có bệnh gan mãn tính bởi viêm gan virus B, C hay những nguyên khác. Mức AFP > 400 ng/ml thì xem xét chẩn đóan HCC khi có một khối tổn thương đặc thù được tìm thấy qua những phát hiện bằng hình ảnh.

IV.NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐIỀU TRỊ ĐỐI VỚI HCC
Ngày nay có nhiều quan điểm điều trị tốt có khả năng đối với bệnh nhân HCC. Việc ghép gan xuất hiện đã giúp đưa ra tiên lượng tốt nhất cho sự sống còn của bệnh nhân, nhưng nó giới hạn đối với những bệnh nhân có khối u < 5 cm đường kính, và có ít hơn 3 khối u,  không có bằng chứng của việc di căn ngòai gan, kèm theo thể trạng còn tốt. Phẫu thuật cắt bỏ thì rất hiệu quả để tiệt trừ HCC, nhưng nó bị giới hạn bởi sự hiện diện và sự trầm trọng của bệnh gan có sẵn, và ít hơn 5% số bệnh nhân có thể chọn được phương pháp này. Vì vậy, những bệnh nhân xơ gan có thể chỉ chấp nhận được việc cắt bỏ gan ít, và việc phẫu thuật có thể khó khăn hoặc không thể nếu khối u có cả cấu trúc mạch máu chính ở trong hoặc gần gan. Thật không may, tỉ lệ phát triển của HCC mới thì hơi cao sau khi phẫu thuật cắt bỏ, có lẽ bởi vì bệnh vẫn tồn tại (xơ gan) nên gan vẫn tiếp tục có khả năng phát triển HCC mới.
Những kỹ thuật không xâm lấn được phát triển gần đây mà được coi là hiệu quả tương tự như phẫu thuật cắt bỏ khối u thì chưa được sử dụng rộng rãi. Những kỹ thuật giải quyết này bao gồm tiêm alcohol và cắt bỏ u bằng sóng radio. Việc thuyên tắc bằng cách bơm hóa chất thông qua một catheter trực tiếp vào trong động mạch cung cấp máu cho khối u gan. Sau đó động mạch này thường được bít bằng cách thuyên tắc với những cái nút được bơm thông qua cùng catheter. Ung thư tế bào gan bị đẩy lùi rõ ràng về kích thước trong quá trình điều trị thuyên tắc bằng hóa chất, và những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng sự sống sót của bệnh nhân được kéo dài ra khi dùng kỹ thuật này. Quan trọng là việc thuyên tắc bằng hóa chất cho thấy được hiệu quả ở những bệnh nhân không cắt bỏ được HCC. Cuối cùng, việc điều trị HCC được thành công hơn trong những năm gần đây bởi vì có sự liên kết nhiều phương pháp và nhiều bác sĩ chuyên khoa, với liên kết những bệnh viện chuyên khoa hay những tổ chức ung thư bao gồm những bác sĩ chuyên khoa gan, bác sĩ phẫu thuật, những bác sĩ chuyên khoa ung thư, và những người phụ tá trong việc ghi nhận những phức tạp trong việc điều trị những bệnh nhân này .

V.SÀNG LỌC VÀ NGĂN NGỪA HCC
Được chứng minh tốt là hình ảnh của gan với kiểm tra bằng siêu âm phối hợp với việc đo đều đặn AFP huyết thanh cho phép những chẩn đóan HCC tại giai đọan sớm, và hình thức theo dõi này đã được đưa vào trong những thực hành tiêu chuẩn. Tuy nhiên, không có bằng chứng rõ ràng rằng cứu sống được bệnh nhân HCC là có thể cải thiện cuộc sống cho bệnh nhân vì mức độ tốn kém và bệnh nhân phải đếm cuộc sống từng ngày. Tuy nhiên, những bệnh nhân được coi có nguy cơ đối với HCC thì thường được sàng lọc trong hy vọng phát hiện HCC ở giai đọan sớm khi những kỹ thuật điều trị tốt vẫn còn có khả năng.
Bởi vì nguyên nhân cơ bản của HCC thông thường đã được xác định, nên ung thư này được quan tâm đến mục đích là những nghiên cứu phòng ngừa ung thư. Trong thực tế, việc hướng dẫn rộng khắp của chương trình tiêm chủng cho trẻ em tòan cầu chống lại HBV thật sự có một tác dụng làm giảm số lượng những trường hợp HCC ở một vài nước, như Đài Loan.
Không may là không có vắc xin tương tự có tác dụng cho HCV; tuy nhiên, số lượng những trường hợp mới của nhiễm HCV đã giảm ở Mỹ hơn thập niên cuối này thông qua những phương tiện sức khỏe cộng đồng hiệu quả thay đổi. Một số lượng lớn những cá nhân với viêm gan C mạn và những bệnh gan khác vẫn duy trì yếu tố nguy cơ của HCC. Những nghiên cứu hồi cứu gần đây, hầu hết từ Nhật đã cho rằng việc dùng interferon như điều trị viêm gan C mạn tính liên quan đến việc giảm đáng kể nguy cơ ở HCC giữa những bệnh nhân đạt được đáp ứng virus  duy trì.  Những thuận lợi được đánh giá trong những nghiên cứu hồi cứu ở những đất nước phía tây. Thật thú vị, việc điều trị chống virus thời gian dài của viêm gan virus B mạn với lamivudine có thể cũng làm giảm nguy cơ HCC.

VI.TÓM TẮT- NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐỐI VỚI THỰC HÀNH LÂM SÀNG
HCC đang gia tăng ở Mỹ và những nước đã phát triển khác.
Sự gia tăng tỉ lệ mắc bệnh có thể tính do bởi sự xuất hiện của viêm gan C.
Những yếu tố góp phần khác có thể là sự gia tăng  nhập cư từ những nước nơi việc nhiễm HBV và HCC là thường xuyên và một sự gia tăng tỉ lệ mắc NAFLD.
Những quan sát bằng hình ảnh của gan như siêu âm, CT, MRI, đại diện cho chỗ dựa chính của chẩn đoán. Mức AFP huyết thanh có thể có ích nhưng thường nhầm lẫn ở những bệnh nhân viêm gan C mạn và xơ gan.
Mặc dù nó chưa là vấn đề được chứng minh, việc theo dõi đối với HCC có thể nên thực hiện ở những bệnh nhân ở nhóm nguy cơ qua việc kiểm tra siêu âm đều đặn và xác định AFP huyết thanh.
Những điều trị tiềm năng đối với HCC bao gồm ghép gan, phẫu thuật cắt bỏ, loại bỏ bằng cách tiêm alcohol hay sóng radio.
Vắc xin chống lại HBV được xem để ngăn ngừa HBV liên quan HCC.
Điều trị thời gian dài chống virus đối với HBV  được xem là một nghiên cứu tiền cứu để giảm nguy cơ HBV liên quan đến HCC.
Điều trị chống virus đối với HCC được gợi ý, nhưng chưa có chứng minh, để giảm nguy cơ HCV liên quan đến HCC.
Theo Dr thu thủy
Bệnh viện Chợ Rẫy TP HCM đang điều trị khá thành công cho các bệnh nhân ung thư gan bằng kỹ thuật nhiệt cao tần.

Bác sĩ Lê Thành Lý đang siêu âm xác định vị trí khối u


Ung thư gan là nguyên nhân gây tử vong cao trên toàn thế giới với hơn 600.000 ca tử vong mỗi năm. Châu Á là nơi có tỷ lệ mắc viêm gan B khá cao nên ung thư gan lại càng phổ biến.

Điều trị nhanh, không đau

Ứng dụng kỹ thuật đốt sóng cao tần, đầu tiên các bác sĩ dùng máy siêu âm để xác định vị trí khối u. Sau đó, máy đốt nhiệt đưa một cây kim đặc biệt vào đo diện tích khối u. Ðầu kim được kiểm soát bởi năng lượng tần số cao và làm nóng những mô ung thư ở xung quanh. Tiếp đến, máy phóng ra luồng điện cao tần có thể lên tới 1.000 độ C để nung chín khối u, khiến nó bị hoại tử và biến thành nang nước. Thời gian chữa trị kéo dài không quá một giờ. Với phương pháp điều trị này, bệnh nhân sẽ ít bị đau đớn, có thể chữa trị cho bệnh nhân có khối u lớn, ít rủi ro.


Tiến sĩ Lê Thành Lý, Trưởng khoa Nội tiêu hóa Gan mật, cho biết kỹ thuật này đã được ứng dụng tại Bệnh viện Chợ Rẫy khoảng 5 năm nay, điều trị các trường hợp ung thư tế bào gan có kích thước nhỏ hơn 3 cm và cho kết quả rất đáng khích lệ, nâng tỷ lệ sống lên trung bình 24 tháng. Ngay năm đầu tiên triển khai kỹ thuật nhiệt cao tần, Bệnh viện Chợ Rẫy đã thực hiện được 50 ca với tỷ lệ sống sau một năm là 96% và không xảy ra tai biến.

Hiệu quả chuyên môn cao

Theo bác sĩ Lý, thực tế phương pháp này rất kinh tế, vừa tiết kiệm chi phí vừa ít rủi ro vì mức độ xâm lấn cơ thể ít. Bởi trước đây, để điều trị được những biến chứng hoặc trường hợp giai đoạn cuối ung thư gan khi khối u vỡ ra thì bắt buộc phải mở ổ bụng bệnh nhân. Tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có khoảng 20% bệnh nhân ung thư gan được phẫu thuật, còn phần lớn ở tình trạng không thể tiến hành phẫu thuật. Vì vậy, điều trị bằng phương pháp đốt sóng cao tần là rất hiệu quả.

Tiến sĩ Lê Thành Lý cho biết thêm, đối với các tế bào gan có kích thước lớn hơn 3 cm hoặc là có nhiều tổn thương, có 2 - 3 khối ung thư trong gan hoặc những trường hợp ung thư tế bào gan phát triển giai đoạn cuối có biến chứng vỡ trong ổ bụng thì ngoài kỹ thuật trên, bệnh viện còn ứng dụng chụp động mạch xóa nền để điều trị. Kỹ thuật này sẽ giúp cho các bác sĩ nhìn rõ được nhánh động mạch tổn thương và ứng dụng kỹ thuật xóa nền để thông mạch, tiếp cận những mạch máu để làm tắc mạch một cách có chọn lọc. Trong khoảng hơn 5 năm nay, bệnh viện đã thực hiện cho khoảng hơn 4.000 bệnh nhân. Kết quả đã khống chế sự phát triển của các tế bào ung thư gan và kéo dài được tuổi thọ cho người bệnh.

Để ngày càng nhiều người được tiếp cận với kỹ thuật này, Bệnh viện Chợ Rẫy đang xúc tiến những hoạt động hỗ trợ cho bệnh nhân. Hiện bệnh viện đã thành lập Đơn vị Y xã hội để giúp đỡ bệnh nhân nghèo, trung bình mỗi năm chi khoảng 6 - 7 tỷ đồng hỗ trợ phẫu thuật, điều trị, ăn uống, đi lại.
Theo BDV
Ung thư tế bào gan là loại ung thư phát triển từ tế bào của gan, chiếm 80 – 90% trong các loại ung thư gan. Ung thư gan thường gặp nhất ở đàn ông, gần tương đương với ung thư phổi. Ở nữ giới, ung thư gan chỉ sau ung thư vú và cổ tử cung. Mỗi năm, khoảng nửa triệu ca ung thư gan mới được phát hiện trên toàn cầu.

Vì đâu nên nỗi?

Viêm gan mạn tính do nhiễm virút B (HBV), virút C (HCV) được xem là nguyên nhân chính gây xơ gan dẫn đến ung thư tế bào gan. Nhiều trường hợp virút đã xâm nhập cơ thể nhưng không có triệu chứng, chỉ khi cơ thể suy yếu, virút mới gây viêm gan cấp tính hay mạn tính. Nước ta ước tính có 10 – 20% dân số – tức 7 – 14 triệu người nhiễm HBV mạn. Đây chính là những người có nguy cơ cao mắc bệnh ung thư tế bào gan. Những nguyên nhân khác gồm: nghiện rượu, độc tố aflatoxin từ các loại nấm mốc của đậu ngô…
Khám lâm sàng không ăn thua
Ung thư tế bào gan hầu như không có biểu hiện gì đặc biệt ở giai đoạn sớm. Bệnh nhân có thể cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, đầy tức bụng, sụt cân không rõ nguyên nhân, đau nhẹ vùng bụng trên bên phải… Đến khi sờ được khối u ở bụng, báng bụng, vàng da... thì bệnh đã ở giai đoạn trễ, không còn khả năng điều trị. Do đó, tầm soát phát hiện bệnh sớm là hết sức quan trọng.

“Hiện các bác sĩ đã có trong tay nhiều phương tiện điều trị tiên tiến. Nếu phát hiện bệnh sớm và chỉ định điều trị hợp lý, điều trị khỏi bệnh ung thư tế bào gan là điều trong tầm tay”
Khám lâm sàng thường không phát hiện triệu chứng gì, ngoại trừ ở giai đoạn quá trễ. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào cận lâm sàng: xét nghiệm AFP (chất chỉ dấu ung thư tế bào gan); siêu âm – phương pháp chẩn đoán thông dụng, thường sử dụng trước tiên như là phương tiện tầm soát ung thư tế bào gan; chụp cắt lớp điện toán và cộng hưởng từ là hai phương tiện chẩn đoán tiếp theo cho thấy hình ảnh tương đối đặc hiệu của ung thư tế bào gan. Nếu các phương tiện trên vẫn chưa đưa đến kết luận rõ ràng, sinh thiết gan bằng kim sẽ được dùng để xác định.
Phát hiện sớm, cơ hội sống cao
Bệnh ung thư gan có nhiều phương pháp điều trị. Bác sĩ sẽ chọn phương pháp tốt nhất dựa vào tình trạng khối u, chức năng gan và sức khoẻ của người bệnh. Hiện thế giới vẫn công nhận phẫu thuật là phương pháp điều trị mang lại hiệu quả khỏi bệnh cao nhất. Các phương pháp điều trị có thể xếp vào hai nhóm như sau:

Hãy tham gia chương trình tầm soát
Để phát hiện bệnh sớm, mọi người nên đi xét nghiệm viêm gan siêu vi. Nếu kết quả âm tính, cần tiêm phòng vắcxin. Nếu dương tính, cần xét nghiệm để biết virút đang “nằm im” hay hoạt động, từ đó điều trị cho ổn định. Người có nguy cơ cao như viêm gan siêu vi B - C, xơ gan, nốt loạn sản ở gan, nên đi khám tầm soát ung thư gan mỗi 3 – 6 tháng.
Phương pháp thông dụng nhất hiện nay để tầm soát ung thư gan là siêu âm bụng và xét nghiệm máu tìm chất alpha fetoprotein (AFP). Chất AFP trong máu mất đi ngay sau khi trẻ sinh ra, nếu hiện diện ở máu người lớn có nghĩa là có biến đổi về tế bào gan. Siêu âm bụng và xét nghiệm AFP có chi phí thấp, không có hại, giúp phát hiện sớm ung thư gan. Khi phát hiện những dấu hiệu đáng ngờ, bác sĩ sẽ chỉ định dùng các biện pháp chính xác hơn để chẩn đoán.
Nhóm điều trị triệt căn: phẫu thuật cắt một phần gan (hiệu quả tốt nhất ở các bệnh nhân có một khối u đơn độc hoặc nhiều khối u khu trú trong một thuỳ gan, chưa xâm lấn vào mạch máu, không xơ gan hoặc xơ mức độ nhẹ. Hiện nay một số trung tâm phẫu thuật nội soi phát triển có thể thực hiện phẫu thuật cắt gan nội soi. Phẫu thuật này giúp bệnh nhân ít đau sau mổ, hồi phục nhanh, ra viện sớm do vết mổ nhỏ hơn); phẫu thuật ghép gan sau khi cắt bỏ toàn bộ gan (chỉ định cho các trường hợp ung thư tế bào gan nhiều khối, kích thước nhỏ, chức năng gan kém không thể thực hiện phẫu thuật cắt một phần gan); huỷ khối u tại chỗ (bằng dòng điện radio cao tần, bằng tiêm rthanol… Chỉ định cho các trường hợp bệnh nhân có một đến ba khối u kích thước dưới 5cm. Có thể thực hiện tại phòng siêu âm, không cần gây mê và có thể ra viện ngày hôm sau).
Nhóm điều trị giảm nhẹ bệnh: làm tắc động mạch nuôi u gan (TAE); làm tắc động mạch gan và bơm hoá chất vào khối u (TOCE – chỉ định cho trường hợp khối u to, nhiều khối, chưa xâm lấn các mạch máu lớn trong gan, không còn khả năng phẫu thuật); xạ trị và hoá trị toàn thân (hiện nay nhiều nghiên cứu trên thế giới chưa chứng minh được hiệu quả của xạ trị và hoá trị toàn thân trong việc điều trị ung thư tế bào gan).
Ung thư tế bào gan nếu được phát hiện sớm, còn khả năng điều trị triệt căn, tỷ lệ sống sau năm năm khoảng 50 – 70%. Nếu phát hiện ở giai đoạn muộn, đa số chỉ sống thêm 3 – 6 tháng. Hiện chỉ khoảng 20% bệnh nhân ung thư gan đến bệnh viện còn khả năng điều trị triệt căn. Chính vì vậy, ung thư tế bào gan vẫn là nguyên nhân gây tử vong thứ ba trong số các bệnh ung thư. Hiện các bác sĩ đã có trong tay nhiều phương tiện điều trị tiên tiến. Nếu phát hiện bệnh sớm và chỉ định điều trị hợp lý, khỏi bệnh là điều trong tầm tay.
Theo Saigontiepthi
SIR-Spheres microspheres, phương pháp điều trị ung thư gan mới, không chiếu xạ, sử dụng hàng nghìn tia microspheres nhỏ có chứa thành phần kích hoạt yttrium-90 tấn công trực tiếp vào khối u.

Phương pháp SIR-Spheres microspheres trong điều trị ung thư gan.
Phương pháp này gọi là liệu pháp phóng xạ nội y được sử dụng trong trường hợp khối u trong gan không thể phẫu thuật được. SIR-Spheres microspheres rất nhỏ, khoảng 32 microns. Tiến trình được diễn ra qua một đường dẫn nhỏ vào gan. SIR-Spheres microspheres được truyền qua ống dẫn này.
Microspheres với chất phóng xạ yttrium-90 được đưa vào máu tới khối u trong gan dẫn tới các mạch máu nhỏ nuôi khối u và đưa dòng phóng xạ vào. Không giống như tia xạ khi chiếu từ bên ngoài chỉ có thể tới một số bộ phận của cơ thể, phương pháp này có khả năng mang lượng phóng xạ trực tiếp vào tế bào ung thư trong thời gian dài hơn. SIR-Spheres microspheres với kỹ thuật SIRT cho phép tiêu diệt tại chỗ khối u trong gan, đồng thời bảo vệ các tế bào khác.
Phương pháp điều trị ung thư gan mới này được thực hiện bởi chuyên gia chuẩn đoán hình ảnh can thiệp. Bệnh nhân có thể được điều trị ngoại trú và gây tê tại vùng. Một vết cắt nhỏ tại phần bẹn cùng ống mềm được đưa vào gan dưới sự trợ giúp của máy X-quang. Ống này đưa vào động mạch gan. Chuyên gia chuẩn đoán hình ảnh can thiệp sẽ đưa SIR-Spheres microspheres vào khối u. SIR-Spheres microspheres được truyền trong 15 phút.
Toàn bộ quá trình sẽ được tiến hành trong một giờ. Sau khi truyền xong, bệnh nhân sẽ được chụp để kiểm tra độ phóng xạ của SIR-Spheres microspheres trong gan. Người bệnh được theo dõi trong vài giờ và xuất viện sau 24 giờ. Một tuần sau khi điều trị, bệnh nhân không nên tiếp xúc với người khác quá 2 giờ. Bạn nên nằm riêng, đặc biệt không gặp gỡ, tiếp xúc gần phụ nữ có thai, trẻ em và vật nuôi. Sau một tuần, bệnh nhân sẽ trở lại cuộc sống sinh hoạt bình thường.



Bệnh nhân ung thư đại tràng đã di căn, không thể phẫu thuật (ung thư bắt nguồn từ bụng, lan tỏa ra gan hoặc ung thư gan) hay người bệnh ung thư có một phần lớn gan bị hủy hoại (điều này thấy được qua thử máu) phù hợp với phương pháp SIR-Spheres. Trước khi được tiến hành, bệnh nhân sẽ chụp động mạch vành để xác định mạch máu gan có khả năng nhận được SIR-Spheres microspheres hay không. Các xét nghiệm cơ bản khác bao gồm thử máu, chụp X-Quang hoặc CT lồng ngực để loại bỏ khả năng ung thư phổi.
Bệnh nhân không bị phản ứng phụ nặng khi được dùng SIR-Spheres microspheres đúng cách. Tuy vậy, trong khi truyền SIR-Spheres microspheres, bệnh nhân có thể cảm thấy đau. Với trường hợp này, bác sĩ sẽ kê thuốc giảm đau trong quá trình truyền SIR-Spheres microspheres. Đôi khi bạn thấy đau ở bụng khoảng vài giờ sau khi truyền SIR-Spheres microspheres. Một số người bị sốt kéo dài khoảng một tuần. Một số khác có thể có cảm giác buồn nôn nhưng triệu chứng này sẽ qua đi theo thời gian và sau khi dùng thuốc. Nhiều bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, kém ăn một vài ngày sau khi truyền nhưng sẽ hết. Một số người cần dùng thuốc phụ trợ trong tháng đầu tiên sau khi truyền SIR-Spheres microspheres để bảo vệ dạ dày và viêm loét dạ dày.
Một số trường hợp rủi ro có thể gây ra phản ứng phụ nghiêm trọng nếu SIR-Spheres microspheres không được đưa vào đúng mạch máu dẫn vào gan. Trường hợp này, SIR-Spheres microspheres có thể bị truyền vào bụng, tá tràng, tụy hoặc các bộ phận khác, gây nguy hiểm, thậm chí dẫn đến tử vong. Chuyên gia chuẩn đoán hình ảnh can thiệp được đào tạo cách truyền SIR-Spheres microspheres. Mỗi bệnh nhân sẽ được truyền theo liều lượng khác nhau. Nếu truyền quá liều, một số người sẽ bị ảnh hưởng lâu dài đến chức năng gan.
Chiều thứ 7 (2/4) và sáng chủ nhật (3/4), bác sĩ Donald Poon sẽ có mặt tại Hà Nội gặp gỡ và tư vấn cho các bệnh nhân ung thư. Bệnh nhân có nhu cầu cần đăng ký với văn phòng thông tin y tế bệnh viện Raffles theo thông tin dưới đây:
Theo Vnexpress
Theo một nghiên cứu đăng trên trang mạng của Viện Khoa học Quốc gia Mỹ ngày 20/6, một nhóm các nhà khoa học đã thành công trong việc tìm ra cơ chế tái sinh phức tạp của gan thông qua việc nghiên cứu một protein chịu trách nhiệm giải mã gen.

Một trong những tác giả tham gia công trình nghiên cứu trên, Phó giáo sư Atsushi Suzuki thuộc Viện Y khoa Bioregulation của Đại học Kyushu cho biết, việc giảm số lượng protein kiểm soát sự sao chép thông tin gen, hay còn gọi là nhân tố sao mã, kích thích sự phát triển của các tế bào gan.

Phó giáo sư Suzuki nói: "Nhờ tìm ra phương pháp kiểm soát nhân tố sao mã này, chúng tôi có thể xác định nguyên nhân gây ra các bệnh như xơ gan và ung thư gan, từ đó phát triển liệu pháp chữa trị cho các bệnh này."

Gan có khả năng tái sản sinh mạnh mẽ. Trong thí nghiệm trên chuột, các nhà khoa học thấy một lá gan sau khi đã bị cắt bỏ 70% có thể mọc trở lại kích cỡ ban đầu trong khoảng một tuần cho đến 10 ngày.

Trong nghiên cứu trên, nhóm các nhà khoa học đã tập trung tìm hiểu nhân tố sao mã có tên "snail" đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển tế bào và các chức năng khác.

Khi họ cắt bỏ một phần lá gan của chuột, số lượng "snail" bên trong các tế bào gan bắt đầu giảm đáng kể trong 12 tiếng trước khi các tế bào gan bắt đầu mọc trở lại.
Theo Vietnamplus
Ung thư vú khá phổ biến ở phụ nữ VN và các nước khác trên thế giới. Việc phát hiện sớm ung thư rất quan trọng trong phòng chống ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng. Phẫu thuật vẫn là phương thức điều trị căn bản. Trong ung thư vú, tình trạng và số lượng hạch nói chung và hạch nách nói riêng được coi là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất liên quan đến tỷ lệ tái phát và thời gian sống thêm.

Y học hạt nhân (YHHN) với kỹ thuật ghi hình cắt lớp đơn photon (SPECT) và PET/CT cải tiến, nhờ các tiến bộ vượt bậc của các dược chất phóng xạ (DCPX) đang có nhiều đóng góp cho ung thư học nói chung và ung thư vú nói riêng. Ghi hình YHHN ngày nay chủ yếu là kỹ thuật SPECT, SPECT/CT và PET/CT. Có thể nói ghi hình phóng xạ vú bằng SPECT là một trong những nghiệm pháp cần thiết cho chẩn đoán ung thư vú. Hình ảnh trao đổi chất của y học hạt nhân ít bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi về mật độ mô, qua đó cung cấp một bổ sung quan trọng đối với chụp nhũ ảnh và các hình ảnh giải phẫu khác. Hơn nữa việc phối hợp các phương thức ghi hình khác nhau làm tăng khả năng chẩn đoán cho ung thư vú rất nhiều. Từ đó tạo ra nhiều kỹ thuật cải tiến khác. Ở những phụ nữ trẻ, một số trường hợp đặc biệt có những tổn thương DCIS xung quanh những khối u xâm lấn. Vùng này dễ được nhìn thấy rõ trên xạ hình hơn các kỹ thuật khác. Xạ hình cũng có một khả năng phát hiện những khối u đa tâm (multi-centric) hoặc những khối u đa ổ (multi-focal) và những bệnh nhân có khối u nhiều nhân.    
Khi khám bệnh tìm thấy u vú với mật độ mô chắc ở bệnh nhân và mammography dương tính thường BN được làm sinh thiết tức thì. Trong những trường hợp đó nên chụp xạ hình đã vì sẽ giúp nhiều cho chẩn đoán nhờ độ đặc hiệu cao của Scintimamography và với giá trị dự đoán dương tính cao. Nếu scintimamography dương nên hướng tới chỉ định sinh thiết tức thì. Nếu Scintimamography âm tính sẽ củng cố suy nghĩ hướng tới một tổn thương lành tính và cần theo dõi trong 6 tháng tiếp theo.
Xạ hình rất có giá trị trong chẩn đoán xác định (indentifying) và loại trừ ung thư khi gặp những dấu hiệu nghi ngờ ở những hình ảnh chụp bằng các kỹ thuật khác. Xạ hình là một kỹ thuật cần thiết đối với những ổ ung thư không phát hiện được bằng CT và MRI. Những bệnh nhân có kết quả nhũ anh (mammography), siêu âm và lâm sàng không rõ thì xạ hình cho thêm thông tin để khẳng định trước khi mổ. Xạ hình có độ nhạy từ 50% (chụp X quang) và 68% (siêu âm) tăng lên 93% (xạ hình). Có tác giả chỉ ra rằng 100% ca có xạ hình âm tính là không có ung thư. Nếu làm thêm xạ hình sau khi chụp X quang sẽ loại bỏ được những bệnh nhân có dương tính giả trong hình ảnh X quang, tức là giảm được nhiều trường hợp không cần phải làm sinh thiết (1,2). Gần đây người ta nói nhiều đến ưu điểm của PET/CT đới với ung thư nói chung. Vậy giá trị của PET/CT với ung thư vú như thế nào và nên áp dụng kỹ thuật đó ra sao trong chẩn đoán và theo dõi bệnh?
Nguyên tắc cơ bản của ghi hình khối u bằng PET là cơ chế tập trung một cách đặc hiệu dược chất phóng xạ (DCPX) đã lựa chọn. DCPX được lựa chọn này dựa trên cơ sở những khác biệt về sinh lý học hoặc chuyển hoá giữa khối u và tổ chức bình thường.Về nguyên tắc thì các hoạt động chuyển hoá trong các tổ chức ung thư  xuất hiện trước khi có những thay đổi về cấu trúc. Nếu sử dụng các chất chuyển hoá (ví dụ glucosse) và đánh dấu chúng bằng các đồng vị phóng xạ phát positron, chúng sẽ theo hệ tuần hoàn máu hấp thụ (tập trung) chủ yếu tại các tổ chức có tế bào ung th­ư và tham gia vào các quá trình chuyển hoá, tổng hợp, biến đổi trong từng tế bào ung th­ư. Vì vậy tại tổ chức bệnh lý hay khối u ung thư sẽ có một sự chênh lệch rõ rệt là hoạt độ phóng xạ ở tổ chức bệnh cao hơn tổ chức lành xung quanh (chỉ số đo bằng giá trị hấp thụ chuẩn (standard uptake value: SUV). Hình ảnh thu đư­ợc sẽ là hình ảnh các tổ chức ung thư­ đặc hiệu ở giai đoạn rất sớm, thậm chí ngay khi các tế bào ung thư­ đang ở giai đoạn rối loạn chuyển hoá cũng có thể thấy đư­ợc hình ảnh của chúng. Điều này là khác biệt so với chụp hình bằng CT, MRI... là khi tổ chức ung thư­ phải bị phá huỷ ở một mức độ đủ lớn thì các thiết bị này mới phát hiện đ­ược các thay đổi.Như vậy, hình ảnh ghi được bằng PET với các DCPX thích hợp có thể giúp chúng ta phát hiện ở giai đoạn rất sớm và chính xác hơn các khối u ung thư so với các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác như CT, MRI... và hình ảnh thu đư­ợc mang đậm tính chất hình ảnh chức năng hơn là hình ảnh cấu trúc giải phẫu. Hiện nay đói với ung thư vú PET/CT có các kỹ thuật sau đây:
- Chụp PET/CT toàn thân hoặc cắt lớp với 18FDG
- Xạ hình PET/CT nghiên cứu về tổng hợp DNA với 18F-L-Thymidine hoặc các acid amin khác.
- Xạ hình các thụ thể  (RS) để phát hiện các đích đặc hiệu cho ung thư vú như các thụ thể Estrogen (ER) với 16-α-[18F]fluoro-17-β-estradiol (FES) và các kháng thể đích , các yếu tố tăng sinh nội mô lòng mạch (VEGF)  và các thụ thể của yếu tố tăng sinh biểu mô (EGFR).
- Chụp nhũ ảnh phát Positron  (Positron Emission Mammography: PEM).
1. Ghi hình PET/CT toàn thân  với 18FDG ( Fluor Desoxy Glucose).
Các tế bào ung thư có tăng nhu cầu glucose nên đã hấp thụ 18F-FDG nhiều hơn những tổ chức lành xung quanh. Glucose tương tự FDG được biết là tập trung ở các khối u vú khiến chúng có thể dễ dàng được phát hiện trong quét PET thông thường do tỷ lệ trao đổi chất tăng lên của các khối u vú. Trong ung thư vú, PET rất có ích để phát hiện những di căn xa và gần kể cả các hạch bạch huyết. Vì vậy có thể dùng kỹ thuật PET với 18F-FDG để chụp toàn thân trong chẩn đoán và theo dõi ung thư nói chung, ung thư vú nói riêng. Ngày nay 18FDG PET/CT được sử dụng rộng rãi (1,6,7). Weir và cs (9) trong phân tích 165 bệnh nhân, đã ghi nhận chuyển giai đoạn 30% bệnh nhân được chẩn đoán là chỉ tái phát tại chỗ với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh thông thường. Schmidt và cs khi phân tích 33 bệnh nhân ung thư vú được đánh giá với cả hai kỹ thuật MRI toàn thân và FDG PET/CT, đã nhận thấy PET/CT là một quy trình hiệu quả để đánh giá bệnh di căn. Kỹ thuật này có độ nhạy với di căn hạch cao hơn so với MRI toàn thân. Hình ảnh PET/CT có độ nhạy cao hơn đối với hạch bạch huyết so với MRI toàn bộ cơ thể. Nhiều tài liệu đã báo cáo độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác là 86 - 100%, 85 - 97% và 90 - 98% đối với ghi hình  18FDG - PET. (7,9,10). Walter và cộng sự  so sánh giá trị chẩn đoán trước mổ để làm tăng chức năng cộng hưởng từ, mammography và FDG-PET như một phương tiện chẩn đoán đơn và phối hợp trong tổn thương vú có nghi ngờ. Cộng hưởng từ và PET có độ nhạy lần lượt là 89% và 63%, độ đặc hiệu lần lượt là 74% và 91%. Sự kết hợp cả hai phương pháp hình ảnh đã làm giảm số trường hợp sinh thiết không cần thiết từ 55% xuống 17%. Nhiều tác giả đã kết luận rằng sự kết hợp giữa cộng hưởng từ và PET có thể làm giảm sinh thiết trên những bệnh nhân có tổn thương lành tính. Cả hai phương pháp trên nên sử dụng trong những trường hợp khó xác định ác tính. Sử dụng PET cũng được đề cập nếu như trên cộng hưởng từ, mammography tìm thấy những tổn thương nghi ngờ.
           Trong những nghiên cứu khác, giá trị của cộng hưởng từ và PET được so sánh trực tiếp để phân biệt tổn thương của vú là lành tính hay ác tính. Riebet và cộng sự kiểm tra 43 bệnh nhân với lâm sàng nghi ngờ ung thư vú được làm MR mammography(MRM) và PET. Hiệu quả của những phương pháp này trong chẩn đoán u nguyên phát, ung thư đối bên, hai tổn thương, ba tổn thương và nhiều tổn thương cũng như là nhiều ung thư không xâm nhập và đánh giá kích thước khối u tốt. Độ nhạy của MRM và PET lần lượt là 100% so với 93.0% trong chẩn đoán u nguyên phát; 100% so với 100% chẩn đoán ung thư đối bên; 95,2% so với 92,5% trong chẩn đoán hai, ba ổ và nhiều ổ. Độ đặc hiệu của MRM và PET lần lượt là 100% so với 97,5% trong chẩn đoán ung thư vú đối bên; 96,8% so với 90,3% trong chẩn đoán hai, ba ổ và nhiều ổ. Cả hai phương pháp xác định ung thư không xâm nhập và kích thước u là ngang bằng nhau. Kết quả của một hay hai phương pháp làm thay đổi chỉ định phẫu thuật của bệnh nhân trong 12,5% - 15% các trường hợp. Kết luận của tác giả trước phẫu thuật là hình ảnh của MRM và PET có thể có ảnh hưởng tích cực đến kế hoạch phẫu thuật (10).
  
Hình 3:Ung thư vú tái phát tại chỗ  Hình 4:Ung thư vú có hạch nách di căn
FDG-PET có độ tương phản tốt dẫn tới lợi ích trong việc tầm soát bệnh để phát hiện ra ung thư vú trong giai đoạn sớm và làm giảm tỉ lệ tử vong. FDG-PET có thể cải thiện sự phân biệt giữa lành tính và ác tính của tổn thương không rõ ràng trên các hình ảnh khác. Do đó, PET cũng là một kỹ thuật tốt hơn so với các phương pháp  khác trong việc phát hiện tái phát ung thư vú và đánh giá kết quả điều trị. Vì vậy, cần áp dụng kỹ thuật này cho các bệnh nhân ung thư vú sau điều trị. Xạ hình PET sử dụng 18FDG có giá trị rất tốt trong chẩn đoán các khối ung thư còn lại sau mổ, tái phát và trong đánh giá hiệu quả điều trị. Mục tiêu chính của ghi hình trước điều trị là để xác định vị trí của khối u và có căn cứ để so sánh với hình ảnh ghi sau điều trị. Mặc dầu 50% bệnh nhân có tình trạng lui bệnh hoàn toàn trên lâm sàng,nhưng trong nhiều trường hợp vẫn còn một khối tồn lưu sau điều trị (9).

Tóm lại ngày nay FDG PET/CT có thể sử dụng để: Chẩn đoán xác định giai đoạn, xác định di căn hạch, xác định di căn xa, theo dõi điều trị, đánh giá đáp ứng điều trị, tiên lượng khả năng đáp ứng điều trị, phát hiện khối u tái phát sớm. Tuy nhiên, một nhược điểm là FDG cũng được hấp thụ cao vào những tổ chức bị viêm nhiễm nên có thể tạo ra các dương tính giả trong chẩn đoán ung thư. PET là một kỹ thuật đắt tiền nên ít dùng để thay thế xạ hình thông thường (Planar, SPECT) trong chẩn đoán ung thư vú tiên phát khi các kỹ thuật xét nghiệm khác vẫn có giá trị của nó. FDG-PET không nên được xem là phương pháp lựa chọn đầu tiên trong chẩn đoán tổn thương nguyên phát nhưng rất cần thiết với nhiều mục tiêu khác nhau trong các ca muộn.Vì có độ nhạy khá cao, mammography rõ ràng nên được lựa chọn ưu tiên sử dụng cho bệnh nhân một cách phổ biến và độ chính xác còn cao hơn nếu mammography có bổ sung thêm siêu âm và sinh thiết.
2. Ghi hình PET/CT với 18FLT (fluorothymidine)
Gần đây ghi hình PET/CT với 18FLT (fluorothymidine) để quan sát sự phát triển và nhân bội lên của tế bào khối u trong ung thư vú. Quá trình này giúp tìm biết xem các tế bào bệnh đã ngừng phát triển hay chưa sau một liệu pháp điều trị . Sự hấp thụ của FLT có sự liên quan chặt chẽ tới hoạt động của men thymidine (TK-1) trong sự sinh sôi của tế bào và có liên quan tới sự tổng hợp DNA trong pha S . Độ tập trung cao của FLT trong sự phát triển nhanh của mô in vivo đã được trình bày trong nhiều nghiên cứu . Sự hấp thụ tăng của FLT được tìm thấy ở hơn 90% khối u. Khối u bỏ sót thường có đường kính chỉ 5 mm. SUVmax  và SUVmean của FDG là cao hơn của FLT, mặc dù sự khác nhau này là không có ý nghĩa thống kê. Sự hấp thu của FLT ở u trong mô vú khác so với sự hấp thụ của FDG cũng không có ý nghĩa thống kê, nhưng tỉ lệ phát hiện u trong trung thất của FLT cao hơn của FDG. Các tác giả kết luận rằng sự tương phản cao của hình ảnh FLT-PET có thể thuận lợi hơn trong việc phát hiện những khối u nhỏ, đặc biệt là ở trung thất. Tóm lại, u vú nguyên phát có thể phát hiện khi dùng FLT-PET, nhưng hiện nay giá trị của nó trong việc phát hiện u vú nguyên phát chưa được đánh giá trên một số lượng bệnh nhân lớn nên chưa được khuyến cáo trong lâm sàng nên sử dụng như một phương pháp thông thường hàng ngày.

3.Ghi hình PET/CT để phát hiện các đích đặc hiệu trong ung thư vú.
- Một ứng dụng khác của PET là nghiên cứu tình trạng receptor của tế bào khối u bằng cách dùng các oestrogen đánh dấu phóng xạ hoặc các DCPX là các thụ thể như Estrogen (ER)(16-α-[18F]fluoro-17-β-estradiol (FES) .ĐVPX có thể dùng là F-18 hoặc C-11. Ostrogen đánh dấu này thường được gắn nhiều vào các tổ chức ung thư qua các receptor đặc hiệu, còn các tổ chức lành thì hấp thụ rất ít hoặc không hấp thụ. Cần lưu ý rằng, ở những bệnh nhân đã điều trị bằng nghiệm pháp anti-oestrogen thì có thể cho kết quả âm tính giả. Phân tích estrogen 16-alpha-F-18-fluoroestradiol-17-beta (FES) có khả năng phát hiện thụ thể estrogen của ung thư vú và định lượng được ảnh hưởng của kháng thể antiestrogen .  Sự bộc lộ quá của HER-2 receptor trong ung thư vú có liên quan chặt chẽ với tiên lượng xấu và cung cấp thông tin giá trị về chẩn đoán và tác động đến lựa chọn phương pháp điều trị. Nghiên cứu hồi cứu trên kháng thể chống lại HER-2 receptor có đánh dấu phóng xạ đã được công bố.

- Những DCPX tiềm năng khác như F-18-fluoromisonidazole (18FMISO) cũng được sử dụng như là một marker giảm oxy huyết trong sarcoma phần mềm [7]. Nó cũng có vai trò trong ung thư vú đặc biệt là trong việc lập kế hoạch điều trị và kiểm tra. I-124-annexin V là một chất gắn với phosphatidylserine (PS) trên bề mặt của tế bào apoptotic cho thấy có  khả năng định lượng được apoptosis ở nghiên cứu trên động vật thực nghiệm [7,10]. Khả năng đánh giá được hiệu quả của liệu pháp điều trị ung thư của nó trên lâm sàng đang được thực hiện trên những thử nghiêm lâm sàng .
- Xạ hình receptor (Receptoe Scintigraphy: RS) còn được thực hiện với các kháng thể đánh dấu hoặc những peptide đánh dấu bằng In-111 dễ sản xuất hơn so với các kháng thể.
Nhiều nghiên cứu PET/CT ghi hình biểu hiện thụ thể của yếu tố phát triển nội mô mạch máu (VEGF): Khả năng sinh mạch máu khối u là một nhân tố có tính quyết định trong việc đánh giá đáp ứng với điều trị ở những khối u đặc và tổn thương di căn. Yếu tố phát triển nội mô mạch máu được gắn với 64Cu (64Cu-VEGF) dùng cho PET/CT ghi hình biểu hiện thụ thể VEGF (VEGFR) trong cơ thể lần đầu tiên được báo cáo bởi nhóm của Sam Gambhir tại Stanford, USA và đã được chứng minh thành công về khả năng ghi hình biểu hiện VEGFR trong cơ thể. Kỹ thuật này ngày nay được dùng để theo dõi điều trị ung thư nhắm trúng đích VEGFR. Các ứng dụng lâm sàng để ghi hình khối u/ sinh mạch và hướng dẫn điều trị chống tăng sinh mạch đang được nhiều nhà nghiên cứu tiến hành.
Ghi hình nhắm trúng vào các đích phân tử được trông đợi là sẽ mở rộng khả năng cho phép các thầy thuốc không chỉ nhìn thấy khối u nằm ở đâu trong cơ thể, mà còn có thể biết được sự biểu hiện và cơ chế hoạt động của các phân tử đặc hiệu (vd., proteases và protein kinases) và các quá trình sinh học (vd., chết theo chương trình, sinh mạch và di căn) ảnh hưởng đến hoạt động khối u và/hoặc đáp ứng điều trị. Thông tin này được trông đợi là sẽ có một ảnh hưởng mạnh mẽ tới phát hiện ung thư, điều trị cho từng cá nhân và phát triển thuốc, cũng như hiểu biết sâu sắc hơn về cơ chế hình thành ung thư trong cơ thể chúng ta.
4. Chụp vú phát xạ positron (positron emission mammography: PEM)
PET và PET/CT là kỹ thuật hình ảnh hiện đại, có rất nhiều ích lợi nhưng tương đối đắt tiền nên không được sử dụng thường xuyên trong việc phát hiện ung thư vú nguyên phát. Gần đây người ta đã kết hợp khả năng chẩn đoán  nhờ  độ phân giải cao của kỹ thuật chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) với kỹ thuật chụp nhũ ảnh (tia X ) có nén nhẹ vú tạo ra kỹ thuật chụp nhũ ảnh phát xạ positron: PEM]) gọi là chụp vú phát xạ positron (PEM). Hệ thống này gồm 2 đầu dò 15x20- cm (tia X) và 3x3x10 mm lutetium gadolinium oxyorthosilicate (PET) đặt ở vị trí trên và dưới vú bị ép cách nhau khoảng 6-9 mm. Hệ thống PEM này thiết kế dành riêng cho ung thư vú. Máy PEM tích hợp hình ảnh chụp nhũ ảnh thông thường bằng tia X và hình ảnh chuyển hóa FDG tại  vú vào một hệ thống giống như máy PET/CT toàn thân. Nó có độ phân giải cao kèm theo hình ảnh rối loạn chuyển hóa trao đổi chất của FDG trong ung thư vú. Hình ảnh thu được là tích hợp hình ảnh chức năng y học hạt nhân của xạ hình vú với  DCPX FDG  và hình ảnh giải phẫu và bệnh lý do thay đổi mật dộ cấu trúc của nhũ ảnh qua tia X, nên dễ dàng quan sat về mối tương quan tại vùng ngực. Đó là một bước phát triển về hình ảnh chức năng và giải phẫu tại mô vú. Chụp nhũ ảnh phát xạ positron (PEM) sẽ cung cấp hình ảnh độ phân giải cao, hiệu quả cao, chi phí thấp và liều xạ bệnh  nhân hấp thụ ít vì sử dụng ít DCPX hơn. Nó có độ nhạy khoảng 20 lần lớn hơn so với một máy quét PET/CT đa lát cắt thông thường cho toàn cơ thể. Bên cạnh các ứng dụng như một công cụ sàng lọc , thiết bị này còn có lợi trong việc đánh giá kết quả sau hóa trị và giúp bác sĩ phẫu thuật trong việc tối ưu hóa việc xác định cắt bỏ các mô bệnh ác tính.Nghiên cứu Phantom với thiết bị PEM cho thấy điểm nóng kích cỡ 1 cc có thể được phát hiện chỉ trong vòng 5 phút. Một thử nghiệm lâm sàng sơ bộ cũng cho thấy xác định được bệnh ung thư vú trong vòng 4 phút. PEM hứa hẹn sẽ đạt được chi phí thấp trong phát hiện các tổn thương của vú và nhiều lợi ích trong hướng dẫn sinh thiết. Kinh nghiệm cho tháy tỉ lệ hấp thu DCPX tại u/nền >2,5 được nghĩ tới tổn thương ác tính. Các kết quả nghiên cứu cho thấy PEM có độ nhạy là 86%, độ đặc hiệu là  91% và độ chính xác là 89%. PEM có giá trị lớn nhất để xác định các ung thư vú không xâm nhập (DCIS) trước mổ. DCIS thường được thấy ở những vùng ung thư vú xâm nhập và nếu biết trước phẫu thuật thì có thể tránh việc phải cắt lại bờ khối u sau PT cắt u. DCIS chiếm đến 30% các ung thư vú mới chẩn đoán và phạm vi của bệnh thường khó xác định trên chụp vú và MRI. PEM đã được ghi nhận có độ nhạy với DCIS tới 91% tức là vượt xa các phương tiện ghi hình khác. Rosen và cộng sự đã chỉ định sử dụng PEM để kiểm tra 23 bệnh nhân với tổn thương mammography bị nghi ngờ ác tính cao, cho thấy độ nhạy khá cao của PEM là: 86% ,với giá trị dự báo dương tính là 90% , độ đặc hiệu là 33% và giá trị dự báo âm tính là 25%. Người ta cho là PEM có thể được tiến hành tiếp sau PET toàn thân để đánh giá di căn hoặc khả năng ung thư vú tái phát. Trong nghiên cứu tại bốn trung tâm, 94 phụ nữ liên tiếp với bệnh ung thư vú hoặc tổn thương vú đáng ngờ,sau khi nhận được 18F-fluorodeoxyglucose (FDG) tiêm tĩnh mạch, tiếp theo là chụp PEM đã rút ra kết luận là PEM có độ nhạy để phát hiện ung thư là 90%, độ đặc hiệu 86%, giá trị dự báo dương tính (PPV) 88%, giá trị tiên đoán âm tính (NPV) 88%, độ chính xác 88%. Như vậy FDG- PEM có độ chính xác cao chẩn đoán tổn thương vú, bao gồm cả DCIS.

KẾT LUẬN
           Y học hạt nhân đang có một vai trò ngày càng tăng vì nó có thể trợ giúp trong cả chẩn đoán và điều trị ung thư vú. Nó có thể phát hiện được các khối u đa nhân (đa ổ và đa tâm). Nó cũng có vai trò trong phát hiện những tái phát ở những vùng xung quanh, dự báo và đánh giá cho hoá trị. Xạ hình vú bằng SPECT có vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán sớm và điều trị ung thư cần được mở rộng ở nước ta mà lâu nay do nhiều nguyên nhân chưa được áp dụng một cách thích đáng. Do giá thành cao của chụp PET/CT nên thông thường ít sử dụng PET/CT cho các ca ung  thư còn ở giai đoạn sớm. Tuy nhiện PET/CT phát huy vai trò rất lớn trong phát hiện xâm lấn và di căn nên giúp ích nhiều trong xếp giai đoạn bệnh, xác định phương thức điều trị, đánh giá và tiên lượng kết quả điều trị. Đác biệt với các DCPX ngoài FDG giúp đi sâu vào bệnh sinh nên có thể giúp  tìm hiểu cơ chế phát triển khối u cơ chế tác dụng thuốc trong hormon liệu pháp và điều trị trúng đích đối với ung thư vú.  
GS.TSKH Phan Sỹ An*, PGS.TS Mai Trọng Khoa**
*Chủ tịch Hội Vật lý y học VN, Phó chủ tịch Hội Điện quang và Y học hạt nhân VN
** Phó giám đốc BV Bach Mai, Giám đốc TT YHHN&UB BV Bạch Mai
Theo Ungthubachmai
Một cuộc nghiên cứu mới cho thấy một số loại thuốc đang được bào chế để chữa các loại bệnh ung thư khác sẽ có khả năng ngăn chặn bệnh ung thư vú trở lại.

Phát hiện mới có thể giúp phụ nữ thoát khỏi nỗi ám ảnh về sự trở lại của bệnh ung thư vú.
Theo trang tin Top News, dù các liệu pháp hormone, chẳng hạn như tamoxifen, nhắm đích một protein giúp khối u tăng trưởng, đã cải thiện đáng kể việc chữa trị bệnh ung thư vú, các liệu pháp này lại không phát huy tác dụng với tất cả bệnh nhân.
Nhóm chuyên gia y học tại Đại học Leeds (Anh) đã “chỉ đích danh” một protein có tên gọi FGFR3 mà họ tin đã giúp bệnh ung thư vú kháng lại các liệu pháp hormone.
Tiến sĩ Darren Tomlinson, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Các lựa chọn sẵn có cho việc chữa trị ung thư vú tái phát hiện rất hạn chế. Vì vậy, điều quan trọng là phải xác định những yếu tố gây ra sức kháng này nhằm thúc đẩy việc bào chế các loại thuốc nhằm ngăn chặn ung thư vú tái phát”.
Cũng theo chuyên gia trên, hiện nhiều loại thuốc đang được bào chế nhằm khống chế protein FGFR3 ở các bệnh ung thư khác. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những loại thuốc này cũng có thể được dùng để chữa trị một số dạng ung thư vú và giúp giải quyết vấn đề kháng các liệu pháp điều trị”, ông Tomlinson nhấn mạnh.
Kết quả nghiên cứu được công bố trên chuyên san International Journal of Cancer.
Theo TNO
Nếu bạn bị viêm khớp mãn tính (VKMT), bạn có thể mắc một số loại bệnh ung thư, do thuốc hoặc chính chứng viêm liên quan đến bệnh. Sau đây là một số bệnh ung thư có liên quan đến VKMT.

Ung thư phổi
Mối liên quan giữa VKMT và ung thư phổi có thể do tác động của việc hút thuốc, vốn làm tăng rủi ro bị VKMT ngay từ đầu. Tuy nhiên, ngay cả người không hút thuốc bị VKMT cũng có nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi vì ảnh hưởng của chứng viêm hoặc sẹo trên phổi do VKMT gây ra.
Bệnh nhân VKMT bị ung thư phổi nên tránh dùng thuốc methotrexate hoặc leflunomide do những loại thuốc này có thể làm cho tổn thương phổi trầm trọng hơn.

Ung thư da
Nghiên cứu cho thấy ung thư da hắc tố, loại ung thư da nguy hiểm nhất, thường xuất hiện ở người dùng các loại thuốc ức chế protein hoại tử khối u (TNF
inhibitor), có thể do chúng kiềm hãm hệ miễn dịch. Một cuộc nghiên cứu ở Mỹ cho thấy bệnh nhân VKMT dùng TNF inhibitor có nguy cơ bị ung thư da hắc tố cao hơn gấp 2 lần so với bệnh nhân VKMT không dùng loại thuốc trên.
Người bị VKMT cũng có nguy cơ bị các loại ung thư da không phải u hắc tố (tức có thể chữa trị được). Một cuộc nghiên cứu được công bố đầu năm nay cho thấy người uống TNF factor có nguy cơ bị ung thư da không u hắc tố tăng 45%.

Đau tủy
Một dạng ung thư hiếm gặp, tác động các tế bào bạch cầu gọi là tế bào plasma. Người bị VKMT có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn 17%, theo một cuộc nghiên cứu ở Mỹ năm 2008. Các chuyên gia cho biết người bị VKMT trong một thời gian dài có thể sản sinh quá mức các protein liên quan đến kháng thể trong máu, một triệu chứng gọi là tăng globulin huyết. Tình trạng này đôi khi phát triển thành bệnh đa u tủy.
Trái lại, một số nghiên cứu quốc tế cho thấy bệnh đa u tủy có thể dẫn đến VKMT.

Bệnh bạch cầu
Một cuộc nghiên cứu trên 12.000 đàn ông và 35.000 phụ nữ ở Phần Lan cho thấy nguy cơ mắc bệnh bạch cầu ở đàn ông bị VKMT cao hơn so với những người không bị bệnh này, nhưng ở phụ nữ bị VKMT, mức gia tăng nguy cơ nói trên không đáng kể.
Theo các chuyên gia, mối liên hệ giữa bệnh bạch cầu và VKMT là khá hiếm và là một biến chứng liên quan đến các liệu pháp ức chế miễn dịch dùng để chữa VKMT. Methotrexate cũng có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ mắc bệnh bạch cầu.
Theo TNO
Các nhà khoa học thuộc Đại học Công giáo Hàn Quốc ngày 17/6 cho biết họ đã phát hiện ra một loại protein tự nhiên có thể ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư dạ dày.

Phát hiện này có thể giúp mang lại một cách thức điều trị mới đối với căn bệnh vốn được coi là rất khó chữa trị này. Nhóm các nhà khoa học về bệnh lý học (pathology) đứng đầu là giáo sư Park Sang-won cho biết họ đã thí nghiệm thành công loại protein mang tên Gastrokine 1 (GKN1) trong việc ngăn chặn các tế bào của các khối u trong dạ dày phát triển.

Các nhà khoa học Hàn Quốc đã lấy 40 mẫu tế bào từ các bệnh nhân đang có khối u trong dạ dày để tiến hành thí nghiệm. Kết quả cho thấy đã có mối liên hệ giữa số lượng GKN1 được sản xuất ra trong dạ dày và sự phát triển của các khối u.

Giáo sư Park cho biết: “Qua quan sát, một số lượng lớn loại protein nói trên đã tham gia vào quá trình ngăn không cho các tế bào ung thư phát triển. Đồng thời, các cuộc thí nghiệm cũng cho thấy có sự suy giảm đáng kể GKN1 trong giai đoạn đầu của căn bệnh ung thư dạ dày.”

Do GKN1 là loại protein tự nhiên nên việc nghiên cứu cách thức để cơ thể con người có thể tự sản sinh ra loại protein này sẽ có thể giúp kiềm chế sự phát triển của tế bào ung thư mà không gây tác dụng phụ.

Giáo sư Park cũng cho biết thêm rằng kết quả kiểm tra hàm lượng protein nói trên trong dạ dày cũng có thể giúp các bác sỹ nhanh chóng có những chẩn đoán chính xác về căn bệnh ung thư ngay từ lúc bắt đầu. Bên cạnh đó, tiến bộ khoa học này có thể mang lại nhiều cơ hội cho việc điều trị thành công căn bệnh ung thư dạ dày gây chết người này
Theo Bacsi.com
Đó là Trastuzumab - Liệu pháp trúng đích phân tử vừa chính thức được giới thiệu tại Việt Nam. Đây là tiến bộ Y khoa mới nhất của thế giới về điều trị ung thư dạ dày (UTDD), mở ra hy vọng sống cho những người mắc bệnh quái ác này.

Ca điều trị UTDD tại BV Bạch Mai
UTDD đứng thứ 3 trong 10 loại ung thư thường gặp ở Việt Nam
Đây là thông tin được đưa ra tại cuộc họp báo do Viện nghiên cứu phòng chống ung thư Quốc gia phối hợp với Công ty Hoffmann La Roche tại Việt Nam tổ chức cuối tuần qua ở Hà Nội. GS-TS Nguyễn Bá Đức - Phó Chủ tịch hội ung thư Việt Nam - Nguyên Giám đốc Bệnh viện K Hà Nội, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phòng Chống Ung thư Quốc gia cho biết, mỗi năm nước ta có trên 15.000 người mắc mới UTDD và hơn 11.000 ca tử vong, cao hơn cả nước Mỹ, trong khi dân số Mỹ gấp 4 lần dân số Việt Nam. Hầu hết người bệnh đến viện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn: rối loạn tiêu hóa, gầy sút nhanh, bệnh đã di căn xa ... Vì thế kết quả điều trị thấp, chỉ có 15% sống sau 5 năm, 81% sống sau 3 năm. Lý do quan trọng của tình trạng khiến bệnh nhân (BN) đến viện muộn là ta chưa có chương trình sàng lọc phát hiện ung thư (UT) sớm trong cộng đồng, người bệnh không có thói quen và nhiều người không có điều kiện đi khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt các biện pháp chẩn đoán, điều trị ở các trung tâm y tế chưa đáp ứng nhu cầu... TS Nguyễn Thị Tuyết Mai- Trưởng Khoa Nội I- Bệnh viện Ung thư Quốc gia (BV K Hà Nội cũ) cho biết, đến nay y học vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân gây UTDD. Tuy nhiên, TS Mai cũng đã chỉ ra một số yếu tố quan trọng khiến nhiều người mắc bệnh đó là do nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori, ăn quá mặn, thức ăn chứa nhiều Nitrat, béo phì, nghiện thuốc lá, nghiện rượu, di truyền và yếu tố gia đình... Điều đáng nói là trên 70% người bệnh tình cờ được phát hiện UTDD qua lần khám bệnh định kỳ. Theo TS Tuyết Mai, người mắc UTDD thường trải qua 3 giai đoạn với những triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Ở giai đoạn sớm, người bệnh thường có triệu chứng khó tiêu, nóng rát vùng thượng vị, ăn không ngon miệng... Đến giai đoạn trung bình, họ bắt đầu có dấu hiệu mệt mỏi, đầy bụng sau ăn... Ở giai đoạn muộn hơn, họ thấy đau bụng, buồn nôn và nôn, rối loạn tiêu hóa, sút cân, xuất huyết tiêu hóa, nuốt nghẹn... Điều đáng nói là trên thực tế, tại BV Ung thư Quốc gia, trên 75% BN bị UTDD có tiền sử viêm loét dạ dày và đã từng điều trị viêm loét dạ dày. Hiện nay việc chẩn đoán UTDD thường là nội soi dạ dày, sinh thiết tổn thương, xét nghiệm tìm vi khuẩn Helicobacter Pylori, siêu âm, X.quang, CT-scanner, xét nghiệm đánh giá tình trạng đột biến gen sản xuất HER2. Với những BN đã bị UTDD, việc điều trị chủ yếu là phẫu thuật (giai đoạn sớm), sử dụng thuốc, xạ trị, nhưng hiệu quả điều trị hạn chế và thời gian sống của bệnh nhân ngắn (6 tháng). Cũng tại cuộc họp này, GS-TS Yoon Koo Kang - Khoa chống ung thư, Bộ môn nội trường Y Khoa Asan, Đại học Ulsan, Seoul, Hàn Quốc thông báo, việc điều trị UTDD ở Hàn Quốc phụ thuộc vào giai đoạn mắc bệnh, trên 50% BN chẩn đoán giai đoạn muộn nên chủ yếu là phẫu thuật vét hạch sâu và hạch xung quanh, sau đó làm chẩn đoán mô học.
Liệu pháp trúng đích phân tử kéo dài cuộc sống cho người UTDD
Theo phân tích của TS Nguyễn Bá Đức, UTDD là một loại UT do đột biến HER2 gây ra, thường có tiên lượng xấu. Để cải thiện cuộc sống cũng như kéo dài sự sống cho những người mắc bệnh này, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã không ngừng nghiên cứu, ứng dụng và phát hiện ra một liệu pháp mới - Trastuzumab. Liệu pháp này là sự kết hợp Trastuzumab với hóa trị liệu không chỉ kéo dài thêm thời gian sống (16 tháng thay vì hơn 11 tháng điều trị thuần túy bằng các phác đồ hóa trị không có Trastuzumab) mà còn giúp cải thiện chất lượng sống cho người bệnh trong quá trình điều trị, đặc biệt hạn chế tình trạng buồn nôn, nôn, chán ăn, rụng tóc, ức chế tủy và viêm niêm mạc miệng...
Đây là một loại thuốc thông dụng được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới cho hơn một triệu bệnh nhân ung thư vú có đột biến HER2. Đặc biệt, những bệnh nhân UTDD có đột biến HER2 dương tính sẽ đáp ứng điều trị tốt với liệu pháp điều trị có Trastuzumab. GS-TS Yoon Koo Kang cho biết, Trastuzumab là một loại thuốc kháng thể đơn dòng có tác dụng tấn công, ngăn chặn và tiêu diệt tế bào UT, thông qua nguyên lý hoạt động là kích thích hoạt động hệ miễn dịch của cơ thể. Ưu điểm của nó là chỉ tấn công vào những tế bào ung thư, bảo tồn những tế bào bình thường. Liệu pháp này cũng đã được nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Âu sử dụng vào điều trị cho 1 triệu bệnh nhân ung thư vú di căn, với hiệu quả điều trị rất khả quan. Và mới đây, Trastuzumab được Liên minh Châu Âu và các quốc gia khối EEA-EFTA như Iceland Liechtenstein, Na Uy chấp thuận cho việc sử dụng trong điều trị UTDD giai đoạn tiến xa hoặc di căn có HER2 dương tính.
Theo TS Nguyễn Bá Đức, liệu pháp đã mở ra những hy vọng mới cho bệnh nhân ung thư dạ dày ở Việt Nam. Để điều trị đạt hiệu quả hơn, người bệnh cần được chỉ định làm xét nghiệm xác định HER2 càng sớm càng tốt. Phương pháp chẩn đoán sớm và có giá trị chẩn đoán cao nhất hiện nay là nội soi. Tại cuộc họp, TS Nguyễn Thị Tuyết Mai thông báo, hiện thuốc Trastuzumab đang được đưa vào danh mục thuốc của BHYT.
Theo Daidoanket
Ngày 19- 8, GS TS Nguyễn Bá Đức, Phó Chủ tịch Hội ung thư Việt Nam cho biết liệu pháp trúng đích phân tử trong điều trị ung thư dạ dày bắt đầu được ứng dụng tại Việt Nam. Đây là liệu pháp đem lại hiệu quả tối ưu cho người bệnh, nhất là người bị ung thư dạ dày giai đoạn muộn.

Liệu pháp mới dùng thuốc Trastuzumab giúp người bệnh hạn chế thấp nhất việc cắt dạ dày, bớt tổn thương vùng niêm mạc dạ dày không có khối u.
Theo ước tính, mỗi năm Việt Nam có khoảng 15 nghìn trường hợp bị ung thư dạ dày và hơn 11 nghìn ca tử vong. Đây là loại ung thư phổ biến hàng thứ ba trong mười loại bệnh ung thư thường gặp ở Việt Nam. Đáng chú ý, có tới ba phần tư người bệnh phát hiện ở giai đoạn muộn làm cho việc điều trị khó khăn, hiệu quả thấp. Trong khi đó, các nghiên cứu cho thấy người bệnh ung thư dạ dày giai đoạn một khi được điều trị có tới 90 đến 95% khỏi bệnh; giai đoạn hai tỷ lệ này là 80%; giai đoạn ba là 40 đến 50%; và giai đoạn bốn (muộn) chỉ còn 15 đến 20%.
Theo GS Yoon Koo Kang, Khoa chống ung thư, trường Y khoa Asan, Đại học Ulsan, Hàn Quốc, tại nhiều nước trên thế giới đều triển khai chương trình sàng lọc ung thư dạ dày trong cộng đồng.
Theo GS Nguyễn Bá Đức, hiện nay, việc chẩn đoán ung thư dạ dày tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn như các biện pháp chẩn đoán điều trị tại các trung tâm y tế chưa đạt yêu cầu. Bởi, để chẩn đoán chính xác thì chỉ có các bệnh viện lớn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Những bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện cũng tiến hành mổ ung thư dạ dày nhưng chưa hiệu quả.
Vì vậy, người dân khi có những triệu chứng lâm sàng như: thấy khó tiêu, nóng rát vùng thượng vị, ăn không thấy ngon miệng, mệt mỏi, đầy bụng sau khi ăn, đau bụng, nôn và buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, sút cân, xuất huyết tiêu hóa, nuốt ngẹn... cần đến ngay các cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ung thư dạ dày là loại ung thư hay gặp ở cả nam và nữ. Mỗi năm khoảng một triệu ca mắc mới (tăng dần theo độ tuổi), là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 800 nghìn người trên toàn thế giới.
Tỷ lệ mắc ung thư dạ dày ở các nước châu Á thường cao hơn các nước phương Tây. Theo thống kê, châu Á chiếm khoảng 2/3 tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của toàn cầu.
Các nước ở khu vực châu Á có tỷ lệ mắc bệnh này cao là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam
Theo báo NhanDan
Tham khảo một số phương pháp điều trị ung thư hiệu quả..

Hình nội soi dạ dày
Phẫu thuật: là phương pháp điều trị căn bản bao gồm điều trị triệt căn và điều trị tạm thời. Nhiều phương pháp cắt dạ dày khác nhau được áp dụng: cắt dạ dày bán phần kèm theo nạo vét hạch tại chỗ, cắt dạ dày toàn bộ với nạo vét hạch, đôi khi kèm theo cắt lách, cắt đuôi tuỵ, cắt đoạn đại tràng ngang . . . Chỉ định cắt dạ dày tuỳ theo vị trí của khối u (u ở môn hang vị: cắt bán phần thấp - u ở vị trí trung bình hoặc u thâm nhiễm toàn bộ dạ dày chỉ định cắt dạ dày toàn bộ).
  Phương pháp nối vị tràng để giải quyết hẹp môn vị khi không còn chỉ định điều trị triệt căn.
  Xạ trị: chỉ định rất hạn chế và còn đang được thảo luận. Có thể xạ trị vào u, vào hạch trong phẫu thuật. Ngoài ra xạ trị vào các ổ di căn như di căn xương.
 Hoá chất: điều trị hoá chất bằng đường tĩnh mạch với 5FU, Adramycin, Mitomycin C, Cisplatin và VP 16 đã cho đáp ứng khách quan 20-40% các trường hợp nhưng chưa phải cải thiện thời gian sống thêm của các bệnh nhân. Hoá chất có thể được thực hiện cho những bệnh nhân có di căn hạc vùng hoặc giai đoạn muộn.

  Kết quả: Nói chung tỷ lệ ung thư dạ dày sống thêm 5 năm là 15%. Với những bệnh nhân được mổ triệt căn để tỷ lệ này tăng lên tới 30%... Tiên lượng ung thư dạ dày phụ thuộc vào mức độ xâm lấn lại cho, tổn thương hạch, vị trí của u và thể giải phẫu bệnh.
Ungthu.net.vn
Tiến sỹ Nguyễn Tuyết Mai, Trưởng khoa Nội Bệnh viện K Hà Nội, cho biết, mỗi năm tại Việt Nam có trên 13.000 số ca mắc mới được chẩn đoán ung thư dạ dày, làm gần 10.000 người tử vong.
Nguyên nhân khiến nhiều trường hợp tử vong do ung thư dạ dày mỗi năm là do nhiều bệnh nhân khi được phát hiện đã ở giai đoạn muộn.

Ngày 19-8, tại cuộc họp về Liệu pháp trúng đích phân tử trong điều trị ung thư dạ dày tổ chức tại Hà Nội, bà Mai đưa ra thông tin Việt Nam nằm trong số những nước có tần suất mắc ung thư dạ dày cao. Ung thư dạ dày trở thành loại ung thư phổ biến hàng thứ 3 trong số 10 loại bệnh ung thư nguy hiểm thường gặp tại Việt Nam.

Hiện nay, nhiều người mắc mới ung thư dạ dày mỗi năm chưa xác định được nguyên nhân. Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy do một số yếu tố như do nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori (trong nước), chế độ ăn như ăn mặn và các thức ăn có chứa nhiều Nitrat, béo phì, hút thuốc lá, uống rượu, di truyền… là tác nhân gây bệnh không nhỏ.


Bệnh nhân ung thư dạ dày thường gầy nhanh, người nóng, da khô, có thể được phát hiện qua chụp X-quang, soi dạ dày, làm sinh thiết...

GS.TS Nguyễn Bá Đức, Phó Chủ tịch Hiệp hội Ung thư Việt Nam, cho biết có tới 3/4 các bệnh nhân khi đến bệnh viện khám thì bệnh đã ở giai đoạn muộn, vì vậy kết quả điều trị không cao. Trong khi đó, tại Hàn Quốc có tới hơn 50% bệnh nhân đến bệnh viện khám mới chỉ ở giai đoạn một (giai đoạn sớm).

Hiện nay, việc chẩn đoán ung thư dạ dày tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, như các biện pháp chẩn đoán điều trị tại các trung tâm y tế chưa đạt yêu cầu. Bởi, để chẩn đoán chính xác thì chỉ có các bệnh viện lớn ở Hà Nội và TPHCM; những bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện cũng tiến hành mổ ung thư dạ dày nhưng chưa hiệu quả.

Vì vậy, các chuyên gia khuyến cáo người dân khi có những triệu chứng lâm sàng như thấy khó tiêu, nóng rát vùng thượng vị, ăn không thấy ngon miệng, mệt mỏi, đầy bụng sau khi ăn, đau bụng, nôn và buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, sút cân, xuất huyết tiêu hóa, nuốt nghẹn… cần đến ngay các cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, ung thư dạ dày là loại ung thư hay gặp ở cả nam và nữ. Mỗi năm khoảng 1 triệu ca mắc mới (tăng dần theo độ tuổi), là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 800.000 người trên toàn thế giới.

Tỷ suất mắc ung thư dạ dày ở các nước châu Á thường cao hơn các nước phương Tây. Theo thống kê, châu Á chiếm khoảng 2/3 tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của toàn cầu.

Các nước ở châu Á có tỷ lệ mắc bệnh này cao là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam.

Theo Tiền Phong
(Dân trí) - Đại đa số bệnh nhân ung thư dạ dày khi đau quá không chịu được, gầy sút nhanh mới đến viện khám và được chẩn đoán K dạ dày, họ rất bất ngờ. Vì họ chỉ nghĩ mình bị viêm dạ dày thông thường, cũng đau rát vùng thương vị, đầy bụng, khó tiêu…
Dễ nhầm với viêm dạ dày

Tiến sĩ Nguyễn Tuyết Mai, Trưởng khoa nội 1, Bệnh viện K Hà Nội cho biết, mỗi năm Việt Nam có trên 15.000 ca mới được chẩn đoán ung thư dạ dày và hơn 11.000 ca tử vong vì bệnh này. Điều này đã khiến ung thư dạ dày trở thành loại ung thư phổ biến hàng thứ 3 trong số 10 loại ung thư nguy hiểm thường gặp tại nước ta. Nam giới có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn phụ nữ khoảng 3 lần. Bệnh hay gặp nhất ở tuổi trung niên, tuy nhiên cũng có những người dưới 30 tuổi đã mắc.

“Có tới 3/4 số người bệnh đi khám khi đã quá đau, bị rối loạn tiêu hóa nghiêm trọng, gầy sút nhanh. Nhưng họ không hề nghĩ mình bị ung thư dạ dày mà chỉ cho rằng mình bị viêm dạ dày mãn tính. Bởi giữa hai căn bệnh này, việc phân biệt giữa các triệu chứng lâm sàng vô cùng khó khăn, đến bác sĩ cũng không thể khẳng định nếu không làm nội soi dạ dày để có thể nhìn thấy tổn thương và lấy mẫu tế bào để sinh thiết tổn thương, làm các xét nghiệm khác”, BS Mai cho biết.


Các thương tổn ở dạ dày (cả với ung thư dạ dày) dễ nhìn thấy qua nội soi
Theo đó, khi bị ung thư dạ dày ở giai đoạn sớm, có các biểu hiện khó tiêu, nóng rát vùng thượng vị, ăn không ngon miệng… Còn ở giai đoạn trung bình, người bệnh thấy mệt mỏi, đầy bụng sau khi ăn. Ở giai đoạn muộn, người bệnh có đau bụng, nôn và buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, sút cân, xuất huyết tiêu hóa… “Những dấu hiệu này có nhưng không đặc hiệu so với các bệnh lý thông thường về dạ dày, tiêu hóa, trong khi rất ít người có thói quen đi khám định kỳ, sợ nội soi mà vẫn tự mua thuốc về uống”, BS Mai nói.

Giáo sư Nguyễn Bá Đức, Phó chủ tịch hội ung thư Việt Nam cho biết, khá nhiều người có tâm lý ngại đi khám. Cứ đau bụng, đầy hơi, khó tiêu họ nghĩ ngay đến viêm dạ dày, căn bệnh mà “ai chẳng bị” nên mua vài liều thuốc về uống, thấy đỡ rồi thôi chứ không có ý thức đi khám, kiểm tra.. Nhiều người cũng lại chỉ yêu cầu khám nội, không dám nội soi. Trong khi đó, dạ dày là một tạng rỗng, có thể hình dung nó như một quả bóng, vì thế khám bên ngoài sẽ không thể thấy được những tổn thương bên trong. Việc siêu âm, chụp dạ dày có cản quang cũng chỉ phát hiện ở một chừng mực nhất định, khi bệnh đã ở giai đoạn muộn do khối u quá lớn. Vì thế, không có cách nào khác để chẩn đoán ung thư dạ dày là phải làm nội soi. Phương pháp nội soi không chỉ phát hiện mà còn là phương pháp điều trị. Như với người mắc bệnh ở giai đoạn sớm, người ta có thể qua phương pháp nội soi hớt phần niêm mạc bị K và giữ nguyên dạ dày.

Sống ít ỏi

“Cới tới 3/4 bệnh nhân K dạ dày ở nước ta được phát hiện muộn nên tiên lượng rất xấu, chỉ có 15% bệnh nhân sống thêm được 5 năm, trong khi đó, cùng bị căn bệnh này nhưng ở Nhật Bản, có tới 50% bệnh nhân sống thêm được 5 năm”, TS Đức nói.

Theo kết quả nghiên cứu bước đầu về bệnh ung thư tại 10 nước trong khu vực ASEAN được công bố mới đây cũng cho thấy, tỷ lệ tử vong của ung thư dạ dày tại Việt Nam cao hơn 4 đến 5 lần so với Lào, Philippines và Thái Lan.

"Đối với ung thư dạ dày, việc phát hiện sớm có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bệnh nhân mắc ung thư này ở giai đoạn khởi phát sớm chỉ cần phẫu thuật hớt niêm mạc, vẫn giữ nguyên được dạ dày và cơ hội khỏi là 99%. Trong khi đó tại Việt Nam chỉ khoảng 6% bệnh nhân phát hiện ở giai đoạn này qua khám sức khỏe định kỳ. Bệnh phát hiện càng muộn, việc điều trị càng khó khăn và cơ hội sống càng ít ỏi. Như ở giai đoạn muộn thì người bệnh vừa phải phẫu thuật, điều trị hóa trị nhưng cuxng chỉ nhằm mục đích giảm đau, kéo dài cuộc sống người bệnh chứ họ không có cơ hội sống thêm nhiều”, BS Mai nói.

Theo bác sĩ Tuyết Mai, hiện tại vẫn chưa tìm ra nguyên nhân trực tiếp gây ung thư dạ dày nhưng một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh: Do nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori (chiếm khoảng 25-50% số ca mắc bệnh); Do chế độ ăn: ăn mặn, các thức ăn có chứa nhiều nitrat, béo phì, Do hút thuốc lá, uống rượu. Khoảng 10% số bệnh nhân ung thư dạ dày do di truyền và có yếu tố gia đình.

Tại buổi họp báo “Liệu pháp trúng đích phân tử trong điều trị ung thư dạ dày” diễn ra hôm 19/8, TS Yoon Koo Kang, Khoa chống ung thư, trường Y khoa Asan, Đại học Ulsan, Seoul, Hàn Quốc cho biết, ở Hàn Quốc, cho biết hơn một nửa số bệnh nhân ung thư dạ dày được chẩn đoán và phẫu thuật ngay từ giai đoạn 1 nên thời gian sống được kéo dài hơn nhiều. Ông chia sẻ cách phát hiện sớm bệnh chính là việc thực hiện chương trình tầm soát toàn quốc gia, áp dụng cho những người từ 40 tuổi trở lên thực hiện soi dạ dày 2 năm một lần. Bản thân ông là một người bị viêm teo dạ dày nên năm nào ông cũng phải nội soi dạ dày và xem xét kết quả này một cách kỹ càng.

Theo giáo sư Đức, việc tầm soát ung thư dạ dày bằng nội soi nên được thực hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi chưa có điều kiện, thì những người có bệnh lý đường tiêu hóa, dạ dày cần phải quan tâm tới mình trước tiên, đi khám, nội soi dạ dày ngay khi có dấu hiệu đau dạ dày, ăn uống khó tiêu, nôn, buồn nôn… Những người từng bị chẩn đoán viêm loét dạ dày hay bị các rối loạn tiêu hóa mà điều trị nội khoa lâu không đỡ cũng cần đi nội soi lại để kịp thời phát hiện bệnh nếu có.

Hồng Hải
Ung thư dạ dày là loại ung thư thường gặp, đứng đầu các loại ung thư tiêu hóa và là nỗi ám ảnh đáng sợ vì nó có thể lan ra khắp dạ dày hoặc những bộ phận lân cận, kể cả thực quản, ruột non, gan, tụy tạng và ruột già. Đôi khi nó còn lan tới phổi, hạch bạch huyết ở vùng cổ hoặc buồng trứng. Ung thư dạ dày thường gặp ở lứa tuổi ngoài 40, tỉ lệ nam cao gấp 2 lần nữ.

Triệu chứng

Triệu chứng chủ yếu là vùng bụng trên (thượng vị) khó chịu hoặc đau nôn, ợ, nôn ra máu, phân đen, sờ thấy có khối u. Triệu chứng ban đầu thường không rõ rệt, dễ lẫn với viêm dạ dày, loét dạ dày tá tràng, rối loạn tiêu hóa. Bệnh thường gặp nhiều ở lứa tuổi từ 40 - 60.

Nhìn bên ngoài, những bệnh nhân mắc ung thư dạ dày thường gầy nhanh, người nóng, da khô, sờ vùng thượng vị thấy có khối u nổi cục, chuyển động theo nhịp thở.

Thức ăn được rán ở nhiệt độ trên 120oC có thể sinh ra độc tố gây ung thư dạ dày

Bên cạnh những nhận biết trên, khi đến bệnh viện, các bác sĩ sẽ dễ dàng phát hiện bệnh nhờ các phương pháp như chụp X-quang dạ dày, soi dạ dày và làm sinh thiết...

Phương pháp chữa trị

Hiện nay, nếu phát hiện ung thư dạ dày sớm, giải phẫu vẫn là biện pháp tốt nhất được chọn lựa với kết quả trên 90% số người sống trên 5 năm và 64% trường hợp sống được đến 10 năm. Tuy nhiên, nếu phát hiện bệnh đã ở giai đoạn tiến triển hoặc muộn, chỉ có 5 - 10% bệnh nhân sống được đến 5 năm.

Phương pháp phẫu thuật được coi là tối ưu so với hóa trị và xạ trị. Tuy nhiên, sau khi phẫu thuật cắt bỏ phần dạ dày, chất dinh dưỡng được truyền qua tĩnh mạch, nhiều ngày sau thì được ăn thức ăn loãng và đặc dần phụ thuộc vào thời gian phục hồi. Bệnh nhân cần ăn nhiều bữa trong ngày, tránh thức ăn ngọt, ăn nhiều chất đạm. Đặc biệt, bệnh nhân phải tránh vừa ăn vừa uống để không đưa quá nhiều chất lỏng vào ruột non, gây đau bụng quặn thắt.

Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu thường cho rằng, vi khuẩn Helicobacter pylori, một loại xoắn khuẩn có khả năng sống trong dạ dày chính là nguyên nhân gây ung thư dạ dày. Tuy nhiên, TS Lê Trần Ngoan, ĐH Y Hà Nội đã đưa ra một cảnh báo về sự tác động từ môi trường và thói quen ăn uống mới thực sự là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh này.


Thức ăn có nguy cơ gây ung thư dạ dày
Ø       Đùi gà rán, một món ăn đang được nhiều người ưa chuộng và hay cho con đi “thưởng thức” vào mỗi dịp cuối tuần, thậm chí còn là “phần thưởng” khi con ngoan hay đạt điểm tốt. Nhưng ít có bậc cha mẹ nào biết rằng, nó là một trong các món ăn được các bác sĩ cảnh báo vì có hàm lượng độc chất gây ung thư dạ dày cao. Để có một thành phẩm là món đùi gà thơm giòn, vàng ươm, béo ngậy, người làm bếp đã phải nướng nó ở nhiệt độ 170oC.

Ø       Đậu phụ mắm tôm, đặc sản của dân tộc và trở thành món khoái khẩu của chị em trong mỗi trưa tan sở hoặc những người đàn ông tụm năm tụm ba chè chén nhấm nháp ly rượu đế. Để có được món đậu phụ giòn tan, người ta phải rán ở nhiệt độ... 245oC.

Ø       Thịt gà rang được các nhà nghiên cứu Nhật Bản đo được ở nhiệt độ 205oC. Bánh mì được nướng chín tại nhiệt độ 165oC, món lợn rán cũng phải đạt 200oC trước khi được đưa lên bàn ăn.

Khi được chế biến đạt đến nhiệt độ trên thì các thức ăn trên đều chuyển hóa thành acrylamid - một chất gây ung thư.

Ø       Muối - đồng phạm gây ung thư dạ dày: Một nghiên cứu trên 5 đàn chuột phơi nhiễm tác nhân ung thư, một nửa cho uống nước muối, một nửa cho uống nước, kết quả cho thấy số chuột được uống nước muối có tỉ lệ trung bình gần 32% mắc ung thư dạ dày. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra khuyến cáo, muối là tác nhân thúc đẩy, kích hoạt các tác nhân gây ung thư. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, nhu cầu bổ sung muối hàng ngày trung bình khoảng 6g/người/ngày.

Tuy nhiên, ở những người lao động trong môi trường nóng, tăng bài tiết muối trong mồ hôi, trung bình họ đưa lượng muối vào cơ thể thông qua ăn uống là từ 13 - 38g/ngày. Những người này có nguy cơ mắc ung thư dạ dày rất cao. Do đó, những người ăn nhiều muối như thói quen ăn rau củ quả muối, thức ăn có nhiều nitrat nên chỉnh sửa và dần từ bỏ thói quen có hại của mình.


Đậu phụ, trái cây, khoai sống (chưa mọc mầm) hoặc hoa quả có màu vàng làm giảm đến 50% ung thư dạ dày
Thói quen cần thay đổi
Ø       Khi phi hành tỏi, nên giữ nguyên màu trắng mà hành, tỏi vẫn thơm, không nên đợi đến khi chín vàng và xuất hiện khói.

Ø       Không sử dụng món nướng: Chị em nên bỏ thói quen mua cho con một que thịt nướng ngoài cổng trường mỗi buổi tan học và mua cho chồng món thịt chó nướng ngoài đường vì chất dinh dưỡng trong thịt đã được thay thế bằng độc chất.

Ø       Thay vì rán đậu vàng ươm, nên rán thật non, hoặc tốt nhất là ăn đậu phụ sống chần qua nước sôi.

Ø       Không sử dụng các loại nước hoa quả ép được bày bán nơi công cộng vì các sản phẩm này thường có chất bảo quản.

Ø       Không ăn nhiều rau củ quả muối

Ø       Hạn chế các thức ăn từ thịt được chế biến sẵn như thịt hun khói, jambon, xúc xích.

Ø       Từ trước đến nay, nhiều người hiểu khái niệm rất đơn giản là uống rượu nhiều gây ung thư. Thực chất, rượu là dung môi hòa tan các chất gây ung thư, hay nói cách khác, rượu là chất dẫn các chất hóa học gây ung thư vào cơ thể. Uống rượu và ăn các thức ăn có nguy cơ gây ung thư như thực phẩm rán, xào ở nhiệt độ cao là con đường ngắn nhất đưa độc chất vào cơ thể.

Lời khuyên: Cách phòng bệnh tốt nhất là không làm đổi màu thức ăn ở nhiệt độ cao. Bên cạnh đó, nên sử dụng thường xuyên các sản phẩm thực phẩm từ rau tươi và rau có màu vàng. Theo nghiên cứu, những loại thực phẩm này làm giảm đến 60% ung thư dạ dày. Trái cây, đậu phụ, khoai sống (chưa mọc mầm) làm giảm 40-50% ung thư dạ dày.

Nguồn Đẹp tháng 10-2008
(NLĐ) - Trong hai ngày 29 và 30-9, nhiều chuyên gia đầu ngành về chuyên khoa viêm gan, ngoại khoa, chẩn đoán hình ảnh, ung thư… đến từ các bệnh viện và trung tâm điều trị lớn trong và ngoài nước cùng tham gia hội thảo khoa học về cập nhật chẩn đoán và điều trị ung thư tế bào gan, tổ chức tại Bệnh viện ĐH Y Dược TPHCM.
PGS-TS-BS Nguyễn Hoàng Bắc, Phó Giám đốc Bệnh viện ĐH Y Dược TPHCM, cho biết tại hội thảo, các chuyên gia đã cùng trình bày, chia sẻ và bàn luận kinh nghiệm về các xu hướng chẩn đoán, điều trị bệnh ung thư tế bào gan. Theo thống kê của Tổ chức Nghiên cứu Ung thư quốc tế, ung thư tế bào gan hiện nay đang là loại bệnh lý ác tính thường gặp nhất ở Việt Nam, tần suất mắc phải nhiều hơn so với các loại ung thư khác như ung thư phổi, dạ dày, vú…

Ung thư tế bào gan cũng là bệnh có tiên lượng xấu và tiên lượng càng xấu hơn đối với bệnh nhân đến nhập viện trễ; trong khi bệnh viện thì chưa áp dụng đồng bộ các chiến lược điều trị tối ưu.

C.Trí
Nếu sờ thấy một cục cứng trong bầu ngực, da vùng này bị lõm, nhăn, đầu vú có tiết dịch... nguy cơ bạn bị ung thư vú khá cao, nhất là khi bạn trên 40 tuổi.

Bài trắc nghiệm nhỏ dưới đây từ Sheknows sẽ giúp bạn tự kiểm tra vú và biết khi nào cần đi khám chuyên khoa để xác định bệnh của mình.

1. Khi tự kiểm tra ngực hằng tháng, bạn cảm thấy:

a. Không có thay đổi nào đáng chú ý
b. Có một cục nhỏ ở một bên ngực
c. Một bên ngực thay đổi rất lớn về kích thước và hình dáng

2. Khi kiểm tra núm vú, bạn thấy:

a. Không có gì khác so với lần kiểm tra tháng trước
b. Nó hơi đau nhưng đó là tuần trước khi bạn "bị"
c. Có tiết dịch như chảy mủ

3. Gần đây, bạn từng trải qua cảm giác đau ngực:

a. Bắt đầu sau khi bạn tập một loạt động tác mới tác động đến ngực
b. Ở một vị trí và dường như không mất đi
c. Chỉ hơi đau thôi nhưng kèm với nó là cảm giác hơi sưng ở một bên ngực

4. Bạn chắc chắn không có một khối cứng có thể sờ thấy được hay một khối u trong ngực:

a. Và không có sự thay đổi đáng chú ý nào nữa
b. Cả hai bên ngực bạn đều sưng
c. Nhưng bạn thấy có vết lõm, nhăn nhúm trên da và một vết nứt trên núm vú

5. Khi nhìn vào ngực mình, bạn thấy:

a. Không có gì thay đổi về màu sắc da, độ săn chắc và trạng thái như bình thường
b. Da khô, có những vết nhám ở ngực
c. Có nốt mụn, tróc vảy, ngứa ở một bên núm vú và rỉ dịch.

Nếu câu trả lời của bạn chủ yếu là a: Ngực bạn có vẻ bình thường và bạn không thấy có bất cứ thay đổi nào đáng chú ý, chứng tỏ bạn không mắc ung thư vú. Đây là một kết quả tốt nhưng bạn đừng quên tiếp tục tự kiểm tra ngực hằng tháng và nên đi khám định kỳ hay chụp X quang để phát hiện khối u ở ngực nếu bạn 40 tuổi trở lên.

Nếu câu trả lời của bạn chủ yếu là b: Những thay đổi đáng lưu ý như một cục cứng nhỏ, cảm giác đau ở ngực hay đầu vú tiết dịch có thể là dấu hiệu của ung thư vú, nhưng chúng cũng có thể liên quan đến sự thay đổi hoóc môn trong cơ thể bạn. Chẳng hạn, sự tiết dịch ở đầu vú có thể do ảnh hưởng của sự thay đổi nội tiết, mang thai và cho con bú. Cơn đau ngực cũng có thể liên quan đến việc khối u trong ngực bạn bắt đầu phát triển nhưng có khi đó chỉ là dấu hiệu bạn sắp đến ngày đèn đỏ hay do tác động của lần "yêu" gần đây.

Bất kể là vì lý do gì, bạn nên đi khám để xác định rõ nguyên do của các triệu chứng bất thường và tìm cách điều trị phù hợp nếu có bệnh.

Nếu câu trả lời của bạn chủ yếu là c: Những thay đổi bất thường ở ngực của bạn là các dấu hiệu cảnh báo bạn có thể mắc ung thư vú. Bạn nên đi khám ngay lập tức để được bác sĩ tư vấn, làm các xét nghiệm cần thiết và nếu cần, chụp Xquang vú để kiểm tra chính xác bệnh. Nếu bạn mắc ung thư vú, việc chữa trị sẽ đơn giản và khả năng thành công cao hơn nếu ở giai đoạn sớm.

Vương Linh
Theo Vnexpress
Khoảng 30% các trường hợp mắc ung thư vú bị nghi ngờ là do béo phì. Trong khi, chỉ cần đi bộ đều đặn khoảng 12 phút mỗi ngày đã có thể giúp chị em giảm 18% nguy cơ mắc bệnh.

Dưới đây The Sun đưa ra một số gợi ý giúp chị em giảm nguy cơ mắc ung thư vú:

1. Giảm ăn thịt đỏ

Phụ nữ ăn nhiều thịt đỏ có nguy cơ bị ung thư vú cao gấp hai lần, theo một nghiên trên 90.000 phụ nữ do Đại học Y Harvard (Mỹ) tiến hành. Thịt đỏ có chứa các axít amin kích thích insulin, trong khi đó insulin máu cao có liên quan đến ung thư vú.

Các loại thịt đã chế biến như giăm bông và xúc xích cũng có mối liên hệ với căn bệnh này bởi vì chúng chứa muối diêm có thể gây ung thư.

2. Sinh con trước tuổi 30

Những chị em không có con hoặc sinh con đầu lòng sau khi đã bước qua tuổi 30 thì nguy cơ bị ung thư vú cũng cao hơn. Các chuyên gia tin rằng, việc sinh con có liên quan đến căn bệnh này là do nó giúp giảm số chu kỳ kinh nguyệt trong vòng đời ở chị em.

Giáo sư Dame Valerie Beral, từng có nghiên cứu về ung thư vú cho biết: "Tôi đã hiểu vì sao nhiều người chết vì căn bệnh này. Chúng ta đều biết lý do chính là việc sinh con hoặc không".

4. Đi bộ thường xuyên

Tác dụng của việc đi bộ với sức khỏe phụ nữ đã được các nhà khoa học chứng minh từ rất sớm. Không những thế, môn thể dục đơn giản này lại rất có ích trong việc phòng tránh ung thư vú. Tuy nhiên, các chuyên gia vẫn chưa thống nhất được việc đi bao lâu là đủ.

Một nghiên cứu cho thấy chỉ cần bạn đi bộ nhanh một đến hơn hai giờ mỗi tuần có thể giảm 18% nguy cơ mắc bệnh. Nếu bạn đi khoảng 10 tiếng một tuần thì sẽ mang lại hiệu quả nhiều hơn nữa.

5. Dầu ôliu

Một ít dầu ôliu vào bữa tối có thể giúp bạn ngừa ung thư. Các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha nhận thấy rằng nó có thể tấn công các khối u, hạn chế sự phát triển của chúng và bảo vệ ADN. Tiến sĩ Eduard Escrich, người đứng đầu nghiên cứu cho rằng 10 thìa cà phê dầu ôliu nguyên chất mỗi ngày là đã có thể đem lại hiệu quả.

6. Giảm cân

Khoảng 30% các trường hợp mắc ung thư vú bị nghi ngờ là do béo phì. Trong số 45.000 ca ung thư vú được chẩn đoán mỗi năm tại Anh, các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Ung thư quốc tế tin rằng hơn 14.000 chị em sẽ không mắc bệnh này nếu họ giảm cân.

Bác sĩ Rachel Thompson, Quỹ nghiên cứu ung thư thế giới cho biết: "chị em có thể phòng bệnh bằng cách năng tập luyện và ăn ít chất béo".

7. Cho con bú

Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc cho con bú cũng có thể giúp giảm nguy cơ bị ung thư vú, đặc biệt nếu chị em cho con bú từ 18 tháng đến 2 năm. Nguyên do là vì nó giúp giảm số chu kỳ kinh nguyệt trong vòng đời ở chị em.

8. Không uống rượu

Rượu là một yếu tố nguy cơ lớn với căn bệnh ung thư vú. Chỉ cần uống một cốc rượu mỗi ngày cũng đã làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Chị em uống nhiều hơn nữa thì nguy cơ mắc bệnh gấp 1,5 lần so với những người không uống rượu.

Các nhà nghiên cứu tại Italy cũng cho rằng, tỷ lệ sống sót ở những bệnh nhân ung thư vú không uống rượu là gần 90% nhưng sẽ giảm xuống 65% nếu chị em chỉ cần uống một cốc rượu mỗi ngày.

Phương Trang
Theo Vnexpress
Nhiều phụ nữ sờ thấy rõ một cục ở trong ngực chỉ bằng hột đậu phộng mà vẫn vô tình bỏ qua, đến khi nó phát triển lớn cỡ hột nhãn mới nghĩ đến chuyện đi khám. Người bệnh đâu biết là thời kỳ khởi phát ung thư rất im lìm, tưởng hiền lành mà lại rất hiểm…

Có thể nói không mấy phụ nữ biết thật rõ về ung thư vú, nhưng nỗi ám ảnh về căn bệnh này lại rất lớn. Vì thế hễ cứ thấy có gì là lạ trong ngực, nhiều người lập tức nghĩ đến ung thư, mà lại giữ lấy nỗi lo âu một mình dẫn đến mất ăn mất ngủ, sụt cân, chỉ vì một dấu hiệu… chẳng hề gì.


Không ít thiếu phụ tuổi trung niên đến gặp bác sĩ với nét mặt đăm chiêu: “Tôi có một cục ở vú, lớn bằng đầu ngón tay cái, lớn bằng đầu ngón tay cái, mà “hạch” này sờ vào nó “chạy” dữ lắm, đau ê ê, mới thấy gần đây thôi”. Người đẹp yên lặng, gần như nín thở theo dõi nét mặt thầy thuốc khám bệnh, rồi trở nên vô cùng căng thẳng khi bác sĩ cho biết có mọt “bọc nước” nhỏ trong vú. Bác sĩ bình thản lấy kim chọc nhẹ vào đó, rút ra độ 3 – 4 cc nước hơi đục, thế là cái bướu xẹp hoàn toàn. Khi được biết đây chỉ là bướu lành, có bệnh bật dậy mắt sáng rỡ, có người thì nước mắt ràn rụa: “Không phải ung thư hả bác sĩ? Trời ơi! Mấy hôm nay không ăn không ngủ, người ta nói tuổi này mà có cục hạch như vậy chắc là… dữ rồi”.

Trường hợp ngược lại, nhiều phụ nữ sờ thấy rõ một cục ở trong ngực chỉ bằng hột đậu phộng mà vẫn vô tình bỏ qua, đến khi nó phát triển lớn cỡ hột nhãn mới nghĩ đến chuyện đi khám: “Ai mà biết, thấy không đau điếc gì, vẫn ăn ngủ bình thường. Tưởng ung thư thì phải đau chớ?”. Người bệnh đâu biết là thời kỳ khởi phát ung thư rất im lìm, tưởng hiền lành mà lại rất hiểm. Bướu ung thư lại thường chắc hoặc cứng, không gây đau và người bệnh vẫn khoẻ mạnh. Còn bướu lành thường tròn, sờ thấy mặt trơn láng “chạy tới chạy lui” dưới ngón tay khám, có thể hơi lớn thêm và hơi đau nhức khi gần tới ngày hành kinh.

Mặc dù hàng ngày luôn phải tiếp xúc với những nỗi đau, nhưng nhiều thầy thuốc chuyên khoa vẫn hết sức chạnh lòng mỗi khi đi thăm trại bệnh ung thư vú, tuy phải giữ vẻ bình tĩnh bề ngoài mà trong dạ thật bùi ngùi. Bởi cứ khoảng mười người bệnh thì có tới ba người mang vú lở loét, thậm chí hôi thúi. Đó là trường hợp những chị em ban đầu sờ trong ngực thấy cục u nhỏ bằng đầu ngón tay cái, rồi nghe lời bày biểu dán các loại thuốc cao, thuốc gia truyền và giã lá cây (lá sống đời, lá đu đủ, cây chó đẻ, hột lình lịch, cây xuyên tâm liên, lá vòi voi…) đắp ngực để… rút mủ lấy cùi. Lúc đó trong người vẫn bình thường nên chị em không nghĩ phải đi bệnh viện mà cứ ở nhà chờ “cùi” ra, rồi đến khi da vú lở loét hay chảy máu thì mừng và cho là… máu độc ra.

Thông thường phụ nữ không dễ để ai sờ mó vào ngực mình, dầu có bệnh gì đi nữa. Vậy mà khi một bà thầy hay ông lang lý luận “Cục u nhỏ cỡ đó mà không đau, do máu độc chớ gì”, nhiều chị em rất tin tưởng và yên tâm để cho châm cứu (thật ra là chỉ dùng kim châm ngay vào bướu vú) hoặc cắt lễ. Nào ngờ chỉ một vài tháng sau, cục u to cứng lên và đỏ ửng, hạch nách sờ thấy cộm. Đó là tình trạng bùng phát theo từ y học, còn nói theo dân gian thì đã… chọc trúng ổ kiến lửa! Một khi bệnh bị kích thích bùng phát lên như thế, thầy thuốc chuyên khoa chỉ còn cách trị liệu tạm bợ, vì “chọc”nó nên ung thư thời kỳ 1 tiến qua thời kỳ 3 hoặc 4 chỉ trong vài tháng. Đúng là nhiều phụ nữ chưa được cảnh giác về tính âm thầm và hiểm ác của ung thư vú.

Ai là người dễ bị ung thư vú?
Từ tuổi 30, phụ nữ có thể bị ung thư vú. Tuổi trẻ hơn, hiếm gặp. Dưới 25 tuổi, thường là các bệnh lành. Phần lớn ung thư vú xảy đến cho phụ nữ trong độ tuổi 35 – 45, nguy cơ càng tăng lên khi người phụ nữ lớn tuổi hơn. Phụ nữ phương Tây có nguy cơ ung thư vú rất cao so với phụ nữ châu Á. Hiện nay ung thư vú là loại thường gặp nhất ở phụ nữ nước ta. Theo số liệu công bố mới đây, ở Hà Nội hàng năm cứ 100.000 phụ nữ thì có 30 người phát hiện bị ung thư vú, còn tại TP. HCM con số này là 20.

Các yếu tố sau đây càng làm tăng nguy cơ: trong gia đình đã có người bị ung thư vú (mẹ, chị, em ruột), xáo trộn di truyền do sự thay đổi đột biến của gen (BRCA 1, BRCA 2 và vài gen khác).

Ngoài ra, càng chịu tác động lâu dài của estrogen thì nguy cơ càng gia tăng, thí dụ như phụ nữ bắt đầu có kinh nguyệt sớm (trước 12 tuổi) và mãn kinh trễ (sau 55 tuổi), hoặc dùng nhiều liệu pháp nội tiết thay thế sau mãn kinh trong thời gian dài; chưa bao giờ sinh con hay có con đầu lòng trễ (sau 30 tuổi). Phụ nữ hút thuốc và uống rượu cũng tăng nguy cơ ung thư vú; chế độ dinh dưỡng nhiều thịt và chất béo, cơ địa béo phì, cũng dễ bị ung thư hơn…

Làm sao biết được ung thư vú?
Như đã nói, ung thư sớm thường không gây đau đớn. Nhưng khi phát triển, nó có thể gây ra các xáo trộn cần lưu ý, chẳng hạn:
- Một cục hoặc một chỗ dày lên ở trong vú hay ở trong nách.
- Có sự thay đổi hình dáng của vú.
- Chất dịch tiết ra ở núm vú hoặc núm vú thụt vào.
-  Thay đổi ở da vú, quầng vú, núm vú (đỏ, sưng, ngứa).
-  Cần đến bác sĩ ngay khi thấy bất cứ triệu chứng nào kể trên. Tuy phần lớn không phải là ung thư, nhưng cần thiết để bác sĩ khám định rõ bệnh và điều trị càng sớm càng tốt. Tóm lại, phụ nữ trên 30 tuổi, hễ sờ nắn trong vú thấy có một cục, dù không đau hoặc hơi đau, cũng nên đi khám ngay.

Và liệu có thể phát hiện bệnh thật sớm?
Kinh nghiệm cho thấy việc tầm soát để phát hiện sớm ung thư vú mang đến hiệu quả rõ rệt. Vì vậy, dẫu bận bịu thế nào chị em phụ nữ cũng nên ráng nhín chút thời giờ để đi khám sức khoẻ toàn diện định kỳ mỗi năm một lần. Đặc biệt là khám ngực, khám lâm sàng tuyến vú (do bác sĩ hoặc chuyên viên khám), hay siêu âm vú.

Chụp nhũ ảnh là phương pháp tốt để rà tìm các xáo trộn ở vú. Việc này nên được thực hiện từ tuổi 40, vì tuổi nhỏ hơn không có lợi do ngực “dầy” quá. Nhũ ảnh có thể cho thấy vài đốm vôi li ti trong vú, đây có thể là triệu chứng sớm của ung thư. Tuy nhiên nhũ ảnh cũng có một số hạn chế, như có thể bỏ sót vài ung thư (âm tính giả), hoặc ghi nhận các dấu hiệu ung thư mà thực sự là xáo trộn lành tính (dương tính giả).
Cũng đừng quá mê tín nhũ ảnh, nên nhớ ngực nhỏ hay ngực mỏng thì khi “ép vú” (chụp nhũ ảnh) có thể rất đau, mà khám tay lại dễ phát hiện bất thường trong vú.

Siêu âm là xét nghiệm không độc hại và góp phần đáng kể trong việc giúp tìm ra các loại xáo trộn của vú trong đó có ung thư. Các bác sĩ siêu âm trong nước đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm giúp phát hiện sớm một số ung thư vú.

Ngoài ra, phụ nữ nên thực hành tự khám vú, bắt đầu khoảng tuổi đôi mươi (từ khi có ngực) và nên tự khám sau mỗi kỳ hành kinh. Với người đã mãn kinh cũng cần tiến hành hàng tháng. Việc tự khám đều đặn giúp chị em biết rõ tình trạng mỗi bên vú nên rất dễ nhận ra một khi có biểu hiện bất thường.

Có thể tự khám vú bằng cách đứng trước gương, ở trần, buông xuôi hai tay, rồi đổi tư thế: hai tay để phía sau mông, nghiêng nhẹ người tới trước. Quan sát cả hai vú xem có thay đổi gì về kích thước (một bên lớn hơn thường lệ, hoặc teo nhỏ lại), da vú (da chuyển màu cam, hay lõm xuống). Ấn nhẹ núm vú xem có máu hoặc chất dịch tươm ra ở đầu vú hay không.

Tiếp theo, nằm ngửa, kê gối dưới vai bên phải, tay phải để sau ót, bàn tay trái xoè thưảng nhẹ nhàng áp sát tuyến vú vào thành sườn, bắt đầu từ phần trên, rồi đến phần dưới của vú, cuối cùng là núm vú, nhằm tìm xem có khối u hay khối bướu nào không. Có thể chia vú ra thành bốn phần để khám lần lượt, không bỏ sót chỗ nào. Khi khám vú trái thì đổi ngược tư thế lại. Khám cả vùng nách để tìm hạch.

Quan trọng nhất là phải khám đúng cách. Thay vì xoè cả bàn tay ép nhẹ nhàng xuống tuyến vú, nhiều người lại lấy hai ngón tay kẹp tuyến vú, hoặc dùng hết mấy ngón tay bóp nặn cả vú, để rồi hốt hoảng khi cảm nhận hình như có khối bướu (Đặc biệt các thiếu nữ tuổi dậy thì ngực nảy nở, tuyến sữa đang phát triển khiến cho cảm giác có cục u, nhất là lúc sắp hành kinh ngực căng lên thấy như có nhiều cục lộm cộm).

Đây là điều rất thường gặp, khiến không ít phụ nữ phải hao phí nhiều giọt nước mắt, đồng thời là cơ hội giúp thầy thuốc chuyên môn có dịp ngắm những nụ cười rạng rỡ, bởi sau khi khám kỹ lại thì… chẳng có cục u cục bướu nào cả!./.

Bướu lành ở vú
Ung thư vú có thể gặp từ tuổi trên 20, nhưng hết sức hiếm hoi, nên một thiếu nữ dưới 25 tuổi nếu có một khối bướu dù rất to ở vú thì hầu như chỉ là một bướu lành. Cung cần lưu ý là một bé gái ngay từ khi lên mười cũng đã có thể gặp vài trục trặc ở ngực, chẳng hạn như:

Xáo trộn nội tiết:
Một cháu gái mới khoảng 10 – 12 tuổi bỗng nhiên một bên ngực hơi u lên, thường ở vùng giữa vú đau chút chút. Tất nhiên mẹ cháu hết sức lo sợ vì: “Nếu dậy thì sớm thì phải lớn cả hai bên ngực chứ!”. Nhưng thật ra không có gì phải lo ngại, rồi mọi việc đâu sẽ vào đấy. Nên để bác sĩ theo dõi, thường chỉ cần cho cháu uống ít thuốc chống đau, chủ yếu để làm… mẹ cháu an tâm. Nhớ đừng nghe lời bày biểu mà chích thuốc kích tố nam (durabolin, testoterone). Cũng đừng để người ta mổ lấy đi “cục u” nhỏ ở núm vú.

Bướu sợi tuyến:
Thiếu nữ tuổi đôi mươi sờ thấy trong ngực có vài cục tròn, láng, lớn cỡ hột đậu phộng, hột nhãn, hột mít, hễ đụng tới nó lại chạy chỗ khác: đó là loại bướu lành thường gặp nhất ở các cô gái mà y học gọi là bướu sợi tuyến (có người còn gọi là bướu sợi hay u xơ). Chẳng có gì đáng lo ngại, ngay cả khi cảm thấy hơi đau hoặc nó hơi lớn lên lúc tới kỳ hành kinh. Không ít thiếu nữ thấy có đôi ba cục lớn nhỏ khác nhau ở một vú, thậm chí ở cả hai vú. Bác sĩ chuyên khoa chỉ cần chích thuốc tê rồi mổ lấy trọn bướu, cố gắng giữ cho sẹo mổ nhỏ.

Và nếu vài tháng hoạc vài năm sau lại có một cục khác xuất hiện ở một trong hai vú thì đừng tưởng là “ung thư tái phát”, vì phần lớn đó vẫn là bướu sợi tuyến lành. Đây không phải là bệnh mà cũng chẳng phải là một tổn thương, chẳng qua là một cái gì đó chưa hoàn chỉnh, tình trạng phì đại khu trú tại chỗ nào đó của tuyến vú. Bướu sợi tuyến có thể gặp ở phụ nữ cho đến tuổi 40.

Bướu sợi tuyến khổng lồ:
Cũng ở tuổi mười tám đôi mươi, có khi một bên vú to hẳn lên rất mau trong vài tháng, tự sờ thấy có một cục lớn bằng trái cam. Đó cũng là bướu lành, gọi là bướu sợi tuyến khổng lồ. Chỉ cần mổ lấy trọn bướu là hết bệnh mà vẫn giữ nguyên vú.

Bướu diệp thể:
Một loại bệnh nữa thấy ở tuổi từ 15 – 16 đến khoảng 20, lớn cỡ hột mít hoặc trứng cút và giống như bướu sợi tuyến, có khi kéo dài một hai năm cũng chẳng sao, nhưng bỗng nhiên lại lớn nhanh vùn vụt chỉ trong vòng năm sáu tháng. Khi đó da vú căng mỏng ra, có nhiều lằn xanh chằng chịt, rồi cả vú to như trái cam sành. Thật ra đó là bướu lành, được gọi là “bướu diệp thể lành tính”. Tuy nhiên vẫn phải cẩn thận làm giải phẫu bệnh để chắc chắn đó không phải là “bướu diệp thể ác” (một loại ung thư). Cần đến khám bác sĩ chuyên khoa. Thầy thuốc có kinh nghiệm sẽ mổ lấy trọn khối bướu mà lại bảo tồn được bầu sữa cho bà mẹ trẻ hoặc bà mẹ tương lai.

Nang vú (Bọc dịch):
Các nang hoặc bọc (chứa chất dịch lỏng) mà dân gian quen gọi là “cục hạch”, còn y học lại dùng các từ như thay đổi sợi bọc hay xơ nang. Tất cả các từ này dùng để chỉ một tình trạng tạm thời thường gặp của tuyến vú, mà đa số phụ nữ thường tự phát hiện khi nằm sấp đè lên ngực mình hay chà xát trong lúc tắm, vì những lúc đó nang vú bị căng lên. Nhưng có khi các nang này lại không đau gì cả và cũng không sờ thấy được. Nang vú không thành bệnh ung thư và cũng không tăng nguy cơ bị ung thư.

Nang chỉ là một hốc chứa đầy chất dịch. Hốc này có được là do một đoạn của ống dẫn sữa bị nở ra. Số lượng nang này nhiều ít tuỳ người, tuỳ lúc và kích thước lớn nhỏ không đều, đường kính từ vài milimét đến vài centimét, thậm chí có nang rất to cỡ trái quýt, chứa đến trên 50cc dịch. Các nang này thường gặp ở phụ nữ ngoài 40, nhưng đến khi mãn kinh có thể bất ngờ lặn mất.

Một khi nghi ngờ có nang vú thì nên đi khám bác sĩ chuyên khoa. Chắc chắn là không thể chờ đến lúc mãn kinh cho nang xẹp. Hiện nay siêu âm có thể giúp cho bác sĩ chẩn đoán dễ dàng bệnh ung thư vú. Sau khi đã định bệnh rõ ràng, bác sĩ dùng kim nhỏ rút dịch trong nang ra một cách rất đơn giản. Nhiều phụ nữ hết sức ngạc nhiên: “Ủa, trước đây nó cứng lắm mà, sao đây lại là nước không vậy?”. Cũng có người e ngại ngỏ ý muốn xét nghiệm thử chất nước đó. Việc này hoàn toàn phí công, bởi chất dịch ấy chẳng qua là vài loại sắc tố khiến cho có màu vàng, xanh nâu hoặc chỉ như nước máy có gợn chút cặn.

Khi nào cần chọc hút dịch? Khi có nang mà mình sờ được hoặc gây đau, khiến phụ nữ lo sợ. Tuy nhiên cũng có thể để yên mà không nguy hiểm gì. Khi đã rút dịch khiến nang xẹp hết thì hiếm khi tái phát. Về sau cho dù lại có một hoặc nhiều nang mọc ở một trong hai bên vú thì không phải “bệnh dữ chạy tùm lum” mà chỉ là sự xuất hiện liên tục của tình trạng đa nang vú lành tính. Tình trạng này sẽ chấm dứt sau khi mãn kinh./.
GS BS Nguyễn Chấn Hùng (bài đăng trên Doanh nhân cuối tuần)
Theo VOV
(VTC News) - Chuyên gia phẫu thuật ở Slovenia đã phát triển một phương pháp tái tạo ngực mới cho các bệnh nhân ung thư, theo báo cáo của hãng thông Tấn Slovania vừa qua.

Bác sĩ phẫu thuật tại Bệnh viện Trung ương Ljubljana sử dụng khuôn mẫu ba chiều để tạo bộ ngực mới từ mỡ được lấy từ bụng bệnh nhân sau đó cấy vào vùng ngực đã bị cắt bỏ do ung thư.



Đây là phương pháp đầu tiên trên thế giới giúp bệnh nhân đối phó với nỗi xấu hổ và đau khổ của người phụ nữ bị mất đi một trong hai trái tuyết lê sau khi phẫu thuật loại bỏ u
Kỹ thuật làm khuôn đang được Khoa Khoa Cơ khí Ljubljana phát triển bằng cách sử dụng tia laser để tạo ra một khuôn mẫu phù hợp và một bầu ngực khỏe mạnh. Khuôn mẫu này sau đó được sử dụng để tạo khuôn mẫu ba chiều cho quá trình tái tạo ngực.

Đây là phương pháp đầu tiên trên thế giới giúp bệnh nhân đối phó với nỗi xấu hổ và đau khổ của người phụ nữ bị mất đi một trong hai trái tuyết lê sau khi phẫu thuật loại bỏ u. Uros Ahcan, giám đốc phẫu thuật thẩm mỹ tại Bệnh viện Trung ương Ljubljana cho biết việc tái tạo bộ ngực được thực hiện một cách càng đối xứng càng tốt để hình thành một bầu vú khỏe mạnh.

Phương pháp tái tạo ngực mới nhất này có lợi thế hơn dùng miếng cấy ghép nhân tạo, bởi vì phần ngực được tái tạo từ mô mỡ có thể lớn lên và nhỏ lại song song với việc tăng và giảm cân của bệnh nhân. Ngoài ra, mạng mô này có nhiệt độ giống như cơ thể của người bình thường.

Cho đến nay, Bệnh viên Trung ương Ljubljana đã tiến hành phẫu thuật tái tạo ngực cho 8 bệnh nhân ung thư. Mọi thứ đã được coi là thành công và kế hoạch cho 10 ca phẫu thuật sẽ được tiếp tục thực hiện trong tuần tới.

Mỗi năm, có khoảng 1.200 phụ nữ Slovania bị chẩn đoán bị ung thư vú. Trong khi khoảng 70% bệnh nhân muốn thực hiện việc tái tạo ngực sau khi bị cắt bỏ.

Fidi (Theo MIOL)