Bệnh thoát vị đĩa đệm - Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
Bệnh thoát vị đĩa đệm
Phân trang 1/1 Trang đầu [1] Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
Nhìn người đàn ông khỏe mạnh, dáng đi hoạt bát, nhanh nhẹn, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi biết trước kia, anh đã từng đi lại khó khăn, phải phẫu thuật, và sau đó, căn bệnh thoát vị đĩa đệm vẫn tiếp tục hành hạ,…
Chỉ thèm đi bộ mà không được
Nhân vật mà chúng tôi nhắc đến là anh Nguyễn Thành C. (SN 1969) ở phường Thuận Giao, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương. Anh C. cho biết: “Năm 1993, do lao động nặng đào đất cao lanh (đất sét dùng làm gốm sứ) nên tôi thấy tê chân, nhức mỏi, vận động khó khăn nhưng lúc đó tôi vẫn không biết là bị bệnh gì. Đến năm 1994, tôi đi khám ở bệnh viện, sau khi chiếu chụp, bác sĩ chẩn đoán bị thoát vị đĩa đệm nặng và yêu cầu nhập viện phẫu thuật ngay”.

Tìm lại được niềm vui trong cuộc sống. Ảnh minh họa
Sau khi mổ, anh C. đỡ đau nhiều. Cứ nghĩ bệnh đã khỏi, tuy nhiên, đến cuối năm 2011 anh lại bị đau thắt lưng, đau lan xuống chân trái và từ từ lan xuống tận bàn chân. Lần này đau dữ dội, thời tiết lạnh bệnh càng nặng hơn: “Ngày xưa, lúc chưa bị bệnh, đi ngủ tôi chỉ mặc quần đùi, cởi trần, nhưng từ khi mắc bệnh, lúc ngủ tôi phải mặc áo và quần dài, đi tất,… Ban đêm, trời trở lạnh là tôi đau đến mất ngủ. Mỗi sáng thức dậy, sợ nhất là lúc đặt bàn chân xuống đất, vì nó tê cứng, phải cử động một lúc lâu mới đứng dậy được. Cả ngày tôi chỉ nằm, đứng dậy thì nhói, không đi lại được nhiều, cúi người xuống cũng đau. Vì vậy, mọi công việc đều do vợ con làm hết. Thời điểm đó, tôi và gia đình rất buồn và lo lắng. Có lúc chỉ thèm được đi bộ một đoạn dài mà cũng không thể vì quá đau” – anh C. nhớ lại.
Kinh nghiệm hữu ích cho nhiều người
Một lần nữa, anh C. lại vào viện. Lần này, bác sĩ nói anh bị thoái hóa cột sống, phải nhập viện để theo dõi nhưng anh về nhà uống thuốc tây: “Cứ buổi chiều uống thuốc tây thì buổi tối tôi ngủ được một chút, nhưng đến khuya lại mỏi, tê chân, vận động đau. Uống thuốc tây còn bị đau bao tử, người khó chịu, mất ngủ, căng thẳng, stress,… nên tôi không dùng nữa”.
Anh C. cũng tâm sự, đã mổ một lần rồi nên rất sợ nếu phải mổ lần nữa, vì mỗi lần như vậy không những tốn tiền mà còn tốn sức và mất nhiều thời gian. Đang lúc buồn chán thì anh gặp một người bạn. Thấy tình cảnh như vậy, người bạn liền nói: “Ông ra hiệu thuốc mua ngay Cốt Thoái Vương về dùng đi. Tôi bị mấy năm rồi uống còn khỏi, huống hồ ông mới bị mấy tháng”. Vậy là anh C. vội ra hiệu thuốc mua Cốt Thoái Vương về sử dụng: “Đúng như lời bạn nói, uống sản phẩm này một thời gian thì tôi ngủ được, không còn đau nhức về đêm. Buổi sáng thức dậy, tôi bước chân xuống đất không còn thấy bị tê nữa. Tôi bắt đầu thực hiện được các động tác thể dục nhẹ nhàng và đi bộ được một đoạn đường dài. Mừng quá! Tôi uống liên tục Cốt Thoái Vương trong 3 tháng với liều mỗi ngày 4 viên chia làm 2 lần thì thấy cơ thể trở lại bình thường, cúi được người xuống để nhặt đồ, đi lại dễ dàng và không còn đau nhức. Tôi cũng có thể đào đất, dọn chuồng gà giúp gia đình,... Dùng sản phẩm này lại thấy cơ thể thoải mái, dễ chịu vì không bị tác dụng phụ” – anh chia sẻ.
Bên cạnh việc duy trì sử dụng Cốt Thoái Vương, anh C. còn chăm chỉ tập thể dục mỗi ngày, thực hiện các động tác nằm đưa chân lên xuống, kết hợp với xoay đầu, nghiêng cổ để bớt cứng cơ, giúp tăng cường lưu thông máu,…
Ngọc Hà
BS Nguyễn Hữu Công cho biết, tùy vào vùng bị thoát vị đĩa đệm mà người ta đặt tên: thoát vị cột sống cổ, thoát vị cột sống lưng, thoát vị cột sống thắt lưng.

Nguyên nhân gây ra thoát vị đĩa đệm rất đa dạng: do chấn thương, bệnh lý, đặc biệt là do thoái hóa xương theo tuổi tác. Người lao động nặng hoặc chơi các môn thể thao sai tư thế cũng dễ dẫn đến tình trạng thoái hóa đĩa đệm cấp tính...

TS. BS. Ngô Minh Lý - Trưởng khoa Cột sống A (BV Chấn thương Chỉnh hình TP.HCM) cũng cảnh báo, giới văn phòng đang là đối tượng nguy cơ của bệnh này. Nếu cứ ngồi làm việc liên tục, không nghỉ ngơi, theo thời gian, các đĩa cột sống bị quá tải. Tuy nhiên, 90% các trường hợp bị thoát vị đĩa đệm không cần can thiệp phẫu thuật.



Ngồi xe máy nhiều dễ thoát vị đĩa đệm

Giữa hai đốt xương sống có một phần đệm bằng chất sụn, xung quanh có vòng xơ. Nếu đĩa đệm bị phồng ra phía sau và vòng xơ vẫn còn nguyên, chuyên môn gọi là lồi đĩa đệm. Nếu vòng xơ bị rách, đĩa đệm trượt ra ngoài gọi là thoát vị đĩa đệm. Vị trí hay bị thoát vị đĩa đệm nhất là ở cột sống cổ, và cột sống thắt lưng do cột sống cử động nhiều. Cột sống cổ cũng ít bị thoát vị hơn so với cột sống thắt lưng vì thắt lưng chịu đựng sức nặng cơ thể nhiều hơn. Bệnh lý thoát vị liên quan chặt chẽ đến bệnh lý thoái hóa cột sống. Một trong những nguyên nhân gây thoái hóa nhanh chính là ngồi xe máy nhiều, đặc biệt phải đi nhiều trên mặt đường rung, xóc nhiều.
BS Công cho biết thêm: “Đối tượng dễ bị thoái hóa cột sống cổ là nhân viên văn phòng. Có những phụ nữ làm công việc thư ký, chỉ khoảng 25 - 26 tuổi, đã mắc bệnh do phải tập trung tư tưởng, căng cơ cổ, đánh máy nhiều. Đầu và cổ ở tư thế bất động kéo dài, các cơ sau gáy phải liên tục kéo căng; trong tình trạng ấy, nếu máy lạnh hoặc quạt xối thẳng vào người thì còn tệ hại hơn nữa…

Biểu hiện của thoái hóa cột sống cổ là mỏi sau ót, mỏi xuống vai, đau lên đầu. Nếu bị lồi hoặc thoát vị đĩa đệm, gây chèn rễ thần kinh, người bệnh sẽ bị đau lan từ bả vai xuống cánh tay và tới tận ngón tay cái và tay trỏ. Triệu chứng tăng lên khi ngồi xe máy nhiều. Điều cần thiết lúc này là phải đi khám chuyên khoa, hoặc chấn thương chỉnh hoặc thần kinh, để làm các xét nghiệm cần thiết. Vì thoát vị đĩa đệm ở cột sống cổ có thể trầm trọng, chèn ép vào tủy sống cổ và gây liệt tứ chi.”

Trong khi đó, những người lao động nặng ở tư thế cúi gập lưng hoặc bê vác nặng; hay tập các môn thể thao nặng như tennis là đối tượng dễ bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Các cử động ở thắt lưng đột ngột và mạnh là nguyên nhân gây bệnh. Khi đó, thoát vị đĩa đệm có thể gây ra đau lưng, chèn ép rễ thần kinh khiến cơn đau lan từ hông xuống mông và đến chân. Thông thường, cơn đau này chỉ diễn ra một bên, nếu xảy ra cả hai bên, tình trạng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng đã trở nên nghiêm trọng.



Không bẻ vặn người đột ngột

Những người làm văn phòng, nên cố gắng ngồi xa máy lạnh. Khi ngồi trên máy tính khoảng 45 phút, cần phải ra ngoài vận động nhẹ nhàng 10 - 15 phút. Nếu bị nhức mỏi sau gáy nhiều, người bệnh có thể tự massage nhẹ nhàng, hoặc cử động cổ một cách từ từ, nhẹ nhàng. Khi thấy đau thì dừng lại ngay. Không nên nhờ người khác bấm, bẻ vặn, xoay, lắc cổ nhiều và nhanh, đột ngột.

BS. Công cho biết, nhiều trường hợp đã bị liệt tứ chi hoàn toàn vì phương pháp “bẻ vặn”. Cách tốt nhất là đi tập vật lý trị liệu để kéo giãn cột sống cổ và cột sống thắt lưng. Đối với những phụ nữ trung niên, khi đã bị thoái hóa cột sống cổ, với những cơn đau lan xuống tay như vậy, không nên chạy, nhảy hoặc aerobic; khi điều khiển xe máy, nên đi chậm, ngồi thẳng lưng, hạn chế đi lại trên các đoạn đường lồi lõm, rung xóc. Những phụ nữ này có thể bổ sung thêm glucosamin kết hợp chondroitin hằng ngày.

Người đau lưng nặng khi ho và hắt hơi sẽ bị đau nhói. Lúc ấy, người bệnh phải nằm một chỗ, trên nệm tương đối cứng và nghỉ ngơi hoàn toàn. Có người quan niệm sai lầm rằng, đi bộ sẽ tốt cho cột sống; nhưng đối với những bệnh nhân bị thoái hóa cột sống thắt lưng và đau thần kinh tọa, càng đi nhiều càng nguy hiểm. Tuy nhiên bệnh nhân có thể đi bơi.

Trong giai đoạn đau cấp, bệnh nhân có thể sử dụng thuốc kháng viêm, thuốc giãn cơ, kết hợp với vật lý trị liệu theo chỉ định của BS chuyên khoa. BS Lý cho biết, đa số các trường hợp đau thần kinh tọa (thoát vị đĩa đệm gây chèn rễ thần kinh) có thể khỏi khi điều trị nội khoa, dù còn hơi ê ẩm và có thể tái phát; chỉ một số ít trường hợp phải phẫu thuật. Đó là những bệnh nhân bị thoát vị kèm biến chứng thần kinh: yếu, liệt chân, ảnh hưởng đến cơ vòng bàng quang dẫn đến rối loạn tiêu tiểu.

Ngoài ra, một bệnh liên quan đến thần kinh mà phụ nữ lớn tuổi thường gặp là hội chứng hẹp ống xương sống thắt lưng, hoặc hội chứng khập khiễng cách hồi. Triệu chứng chung là yếu và tê hai chân khi bước đi, cứ một quãng phải ngồi nghỉ. Yếu chân có thể do mạch máu hoặc thần kinh. Nếu khi bệnh nhân đứng lâu để nấu ăn cũng có cảm giác yếu liệt, có thể do ống xương sống bị hẹp vì thoái hóa cột sống thắt lưng hay thoát vị đĩa đệm. Khi bị hội chứng này, bệnh nhân cần được can thiệp bằng phẫu thuật.


AloBacsi.vn (Theo Phụ nữ TPHCM)

Thoát vị đĩa đệm được xếp vào chứng yêu thống của Ðông y. Nguyên nhân do chính khí suy giảm, tà khí phong hàn thấp thừa cơ xâm nhập cơ nhục, làm tổn thương hệ thống cân cơ làm tắc trở kinh lạc mà gây bệnh. Hiện nay có nhiều phương pháp điều trị như châm cứu, uống thuốc Ðông Tây y, xoa bóp bấm huyệt, vật lý trị liệu, phẫu thuật... Xin giới thiệu với bạn đọc phương pháp tập luyện bằng con lăn đơn giản dễ áp dụng.

Động tác 1:Day lăn dọc đùi tới gan bàn chân.

Bệnh nhân ngồi thả lỏng người tư thế hơi ngả về phía sau, lòng bàn tay úp đặt và chống chắc xuống sàn. Chân duỗi thẳng gác lên con lăn từ từ dùng chính lực của đôi chân lăn nhẹ nhàng từ trái qua phải từ cổ chân lên khoeo chân. Kế tiếp nhẹ nhàng co chân đặt lòng bàn chân lên hai phần gai sần đầu con lăn nhẹ nhàng co duỗi cẳng chân để lòng bàn chân được mát-xa từ đầu ngón tới gót chân. Chuyển con lăn lên trên bắp chân, hai tay chống vững làm trụ người hơi ngả sau đưa trọng lực cơ thể từ phía trước ra sau.

Trong khi con lăn di chuyển kết hợp dạng khép hai chân, lăn từ bắp chân tới phần hông, mỗi động tác làm 10 - 15 lần. Ở động tác này có tác dụng mát-xa làm giãn cơ, giảm đau tăng cường dinh dưỡng, lưu thông máu, kích thích phục hồi thần kinh cơ chi đặc biệt ở người thoát vị đĩa đệm có chèn ép tủy sống gây teo cơ. Ngoài ra còn có tác dụng khai mở huyệt vùng lưng. Động tác này ngoài tác dụng với thoát vị đĩa đệm còn có tác dụng tốt với suy động tĩnh mạch chi, thoái hóa khớp gối, thoái hóa cơ tủy, di chứng liệt... Một số lưu ý khi tập động tác này: người già, người yếu tay, thể trạng kém cần có người hỗ trợ và lăn từng đoạn một. Nên tác động nhiều vào huyệt ủy trung (ngay giữa lằn chỉ ngang khoeo chân), nếu bệnh nhân có co rút cơ nhiều day thêm huyệt thừa sơn (chỗ lõm giữa 2 khe cơ sinh đôi bắp chân).

Động tác này có vai trò “khai huyệt” vùng lưng trị thoát vị đĩa đệm.
Động tác 2:

Lăn và day dọc từ xương cùng tới vai gáy.

Bệnh nhân nằm ngửa thả lỏng người, con lăn để ở phần khoeo chân, từ từ co hai chân vuông góc với sàn tập, nhẹ nhàng đưa hai tay giữ hai phần đầu con lăn đưa lên hông, tiếp đó hai tay đan nhẹ xếp gối sau đầu. Từ từ lấy chân làm trụ, dùng trọng lực của chính cơ thể day chậm trên con lăn khoảng 5 - 10 lần rồi nhẹ nhàng đưa tay xuống giữ hai đầu con lăn chuyển lên trên khoảng 5cm, cứ như vậy khi đến vai gáy. Vẫn tư thế trên lần lượt nghiêng người qua trái qua phải 10 - 30 lần. Ở động tác này, con lăn tác động lên hầu hết hệ thống thần kinh lưng hông vai gáy có tác dụng giãn cơ, giảm đau lưu thông khí huyết tăng cường dinh dưỡng tới các vùng bị bệnh có vai trò nắn chỉnh xương lưng hông, vai gáy.

Tác dụng tốt cho các chứng đau lưng, đau cổ do thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, đau thần kinh liên sườn... Tăng cường cải thiện chức năng can, thận, tỳ, vị và hệ thống tiêu hóa. Cần lưu ý khi tập động tác này: tập nhẹ nhàng không vội vã với tần suất chậm để hệ thống cân cơ thích nghi. Khi tập thấy đau nhiều hơn thì thả lỏng người hơn nữa và giảm lực đè. Không nên lăn quá 1/2 mông trên, bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm thì lăn vùng lưng và hông nhiều hơn.
Chú ý: Không dùng phương pháp này cho các bệnh cấp tính, gãy xương, lao xương, người không điều khiển được hành vi, người loãng xương nặng, người thể trạng quá yếu, không quá no quá đói, thận trọng với bệnh đốt sống tre. Khi muốn nằm xuống, đứng lên hay thay đổi tư thế tập phải đẩy con lăn ra ngoài hoặc giữ chặt hai đầu con lăn để tránh trường hợp đáng tiếc xảy ra. Có thể tập 2 lần/ ngày (sáng, tối) mỗi lần không quá 15 - 20/ngày. Kiên trì tập luyện có thể mấy ngày đầu sẽ đau tăng, sau giảm dần và sẽ đem lại hiệu quả sau 5 -7 ngày tập.

Lương y ChuVăn Tiến
Theo SKĐS
(ĐTĐ) - Vòng sợi bao quanh bị rách, nhân nhầy thoát ra ngoài khỏi vị trí giữa hai đốt sống, thường là về phía sau gây chèn ép tủy sống hoặc các rễ thần kinh - Hiện tượng này gọi là thoát vị đĩa đệm. Theo nhiều nghiên cứu, thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân chủ yếu, chiếm tới 80% các trường hợp đau cột sống thắt lưng.

Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống, trong đó phải kể đến các nguyên nhân hàng đầu là các chấn thương cột sống, sau đó là các tư thế xấu trong lao động. Các chấn thương vào vùng cột sống như ngã ngồi đập mông xuống đất, chấn thương tác động trực tiếp vào vùng cột sống hoặc các tư thế xấu như cúi, nghiêng hay xoay người nhấc vật nặng, đặc biệt nhấc vật nặng ở cách xa người dễ gây thoát vị đĩa đệm. Sở dĩ như vậy vì lúc đó có một lực ép tác động nên các đốt sống và đĩa đệm với phân bố lực không đều: khe giữa hai đốt sống ở phía trước khép lại ép nhiều vào phần trước đĩa đệm trong khi ở phía sau khe lại mở rộng ra dẫn đến đẩy nhân nhày chui ra khỏi lỗ rách vòng sợi về phía sau, chui vào ống sống gây chèn ép rễ thần kinh hay tủy sống.

Phương pháp điều trị bệnh
Tùy theo tính chất tổn thương, vị trí, biến chứng cũng như mức độ ảnh hưởng tới khả năng vận động, lao động và sinh hoạt của người bệnh mà cân nhắc tới các biện pháp điều trị bảo tồn và điều trị can thiệp phẫu thuật. Điều trị bảo tồn bao gồm các biện pháp như: nghỉ ngơi; vật lý trị liệu xoa bóp, tắm suối khoáng, đắp bùn; chiếu đèn hồng ngoại, sóng ngắn, điện phân, đắp dầu paraphin... Có thể dùng các biện pháp như tác động cột sống, kéo giãn cột sống trong điều trị bệnh. Ở một vài tuần đầu tiên, khi tổn thương thoát vị đĩa đệm còn mới chưa bị xơ hóa, việc tác động cột sống làm giãn các mâm sống và dịch chuyển phần đĩa đệm bị lồi trở lại vị trí bình thường. Kéo giãn cột sống bằng dụng cụ cũng có tác dụng tương tự, chỉ định cho lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. Mặc áo nẹp cột sống có tác dụng cố định tạm thời, hạn chế các động tác lên vùng cột sống tổn thương, qua đó giảm lực tác động lên đĩa đệm.
Biện pháp dùng thuốc bao gồm các thuốc giảm đau đơn thuần như paracetamol; giảm đau chống viêm không steroid như diclofenac, meloxicam... uống, tiêm hoặc bôi tại chỗ. Lưu ý các thuốc trên dùng đường toàn thân có thể ảnh hưởng tới dạ dày, chức năng gan, thận... Các thuốc giãn cơ như mydocalm, myonal được chỉ định trong trường hợp co cứng cơ cạnh cột sống. Có thể bổ sung các thuốc bổ thần kinh như vitamin B1, B6, B12; các thuốc giảm đau thần kinh như neurontin. Nhìn chung không có chỉ định dùng thuốc giảm đau chống viêm loại steroid như prednisolon, dexamethason... đường toàn thân vì có nhiều tác dụng phụ. Một số trường hợp hãn hữu như đau nhiều không đáp ứng với các biện pháp trên, đặc biệt kèm phù tủy có thể methylprednisolon đường tĩnh mạch liều cao, ngắn ngày, giảm liều nhanh nhưng phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và phải được theo dõi chặt chẽ các biến chứng. Đối với đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, có thể áp dụng biện pháp dùng thuốc tại chỗ là tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison với liệu trình mỗi đợt 3 mũi, mỗi mũi cách nhau 3-7 ngày cũng cho hiệu quả giảm đau khá tốt. Tuy nhiên, việc tiêm ngoài màng cứng phải được thực hiện tại cơ sở chuyên khoa khớp có kinh nghiệm, trong điều kiện tuyệt đối vô khuẩn.
Gần đây, người ta bắt đầu sử dụng tia laser, sóng radio qua da để điều trị đau do thoát vị đĩa đệm. Đây là các phương pháp an toàn, tuy nhiên chỉ có hiệu quả khi chỉ định trong những trường hợp nhẹ, nhân nhầy mới chỉ lồi vào ống sống và không có các tổn thương kèm theo như gai xương, xẹp trượt đốt sống hay phối hợp dày dây chằng vàng.
Phương pháp phẫu thuật ngoại khoa được chỉ định trong các trường hợp sau: thoát vị đĩa đệm gây hội chứng đuôi ngựa (biểu hiện bí đại tiểu tiện, mất cảm giác đau xung quanh hậu môn và bộ phận sinh dục); có liệt chi; đau quá mức, các thuốc giảm đau không hoặc rất ít tác dụng; sau khoảng 6 tháng áp dụng các biện pháp điều trị nội khoa không có kết quả. Phẫu thuật nhằm giải phóng rễ thần kinh khỏi bị chèn ép, bao gồm các biện pháp: Kinh điển là mổ cắt cung sau lấy bỏ khối thoát vị - nhìn chung là can thiệp rộng, nhiều biến chứng về sau, đặc biệt là tái phát đau do vết mổ cũ xơ dính. Về sau, các kỹ thuật được cải tiến hơn như phẫu thuật mở nhỏ (mini- open); cắt bỏ đĩa đệm qua da; mổ nội soi lấy nhân thoát vị; mổ nội soi hút nhân nhầy... Trường hợp tổn thương có trượt đốt sống phối hợp gây mất vững có thể cố định cột sống bằng khung kim loại. Phẫu thuật thay đĩa đệm mới nhìn chung ít được chỉ định.
Cách nhận biết bệnh thoát vị đĩa đệm
Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Đau thường là dấu hiệu xuất hiện đầu tiên, đau tăng khi làm các động tác gây căng dây thần kinh, đau khi vận động, giảm khi nằm nghỉ. Khi đau, người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo cột sống về một bên để chống đau kèm cơ cạnh cột sống co cứng. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi rặn, ho, hắt hơi, cúi. Đau thường tái phát nhiều đợt, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần sau đó lại khỏi bệnh. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài nếu không được điều trị. Có thể có cảm giác kiến bò, kim châm tương ứng với vùng đau và thường xuất hiện sau đau. Teo cơ, yếu cơ thường xuất hiện muộn do hạn chế vận động vì đau, thường sau một thời gian khá dài mới nhận thấy. Tùy theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng khác nhau. Do đó, khi bệnh nhân thấy đau cần đến gặp bác sĩ để được khám, chẩn đoán và tư vấn điều trị.
Nguồn Suckhoedoisong.vn
(Yduocvn.com) - Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

1. Đặt vấn đề.

1.1. Tầm quan trọng và dịch tễ bệnh:


Thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh lý khá phổ biến, trong đó thoát vị đĩa đệm cột sống cổ đứng hàng thứ hai sau thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Bệnh hay gặp ở lứa tuổi lao động nên ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế xã hội.
Theo Kokubun (Nhật Bản) thì thấy có 1,54 bệnh nhân/100 nghìn dân bị bệnh thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cổ cần can thiệp phẫu thuật.
1.2. Đặc điểm giải phẫu cột sống cổ liên quan đến bệnh:

+ Khớp mỏm móc đốt sống (khớp Luschka):
Mặt trên các thân đốt sống từ CIII - CVII có hai mỏm móc hay mấu bán nguyệt ôm lấy góc dưới của hai bên thân đốt phía trên hình thành khớp mỏm móc đốt sống. Các khớp này có vai trò giữ không cho đĩa đệm lệch sang hai bên.
+ Sự tưới máu của tủy cổ chủ yếu là do động mạch đốt sống cổ chạy trong lỗ ngang từ CVI  trở lên (cấp máu một phần qua động mạch rễ) còn chủ yếu là nguồn động mạch tủy sống trước (1 động mạch) và hai động mạch tủy sống sau (2 động mạch này đều bắt nguồn từ đốt tủy sống hai bên đoạn trong sọ).
+ Động mạch tủy sống trước cấp máu cho 2/3 trước tủy, động mạch tủy sống sau cấp máu cho 1/3 tủy còn lại. Khi TVĐĐ tủy trung tâm sẽ gây chèn ép vào động mạch tủy sống trước gây thiếu máu cục bộ vùng tủy tương ứng tạo lên hội chứng chèn ép tủy trên lâm sàng.
+ Thần kinh thực vật liên quan: từ các hạch giao cảm cổ trên, giữa, dưới và ngực trên (hạch sao) có các nhánh thần kinh giao cảm đi vào các dây thần kinh cổ từ C1  - C4 (hạch giao cảm cao), C5 - C6 (hạch giao cảm giữa), C7 - D2 (hạch giao cảm dưới). Từ các hạch này lại có nhánh đi tới tim, các động mạch và các cơ quan nội tạng khác. Do vậy khi TVĐĐ cổ, ngoài triệu chứng tủy, rễ còn có những triệu chứng của thần kinh thực vật.
+ Dây chằng dọc trước phủ kín mặt trước các thân đốt sống và đĩa đệm rất dày và khỏe, TVĐĐ cổ ít xảy ra ở phía trước. Dây chằng dọc sau thưa, mỏng, đây là điểm yếu, nơi dễ xảy ra TVĐĐ sau bên.
2. Phân loại TVĐĐ cổ.

Có một số phân loại chung:
+ Phân loại theo liên quan đĩa đệm thoát vị với tủy sống và rễ thần kinh: theo Rothman P.H và Marval J.P 1975 có 3 loại:
- TVĐĐ trung tâm chủ yếu chèn ép tủy sống gây hội chứng bệnh lý tủy là chính.
- TVĐĐ cạnh trung tâm: chèn ép cả tủy và rễ thần kinh gây hội chứng bệnh lý tủy kết hợp bệnh lý rễ thần kinh.
- TVĐĐ cạnh bên: còn gọi là TVĐĐ lỗ ghép, gây chèn ép rễ thần kinh là chủ yếu.
+ Phân loại theo bệnh sinh - bệnh căn:
Yumashev G.S; Furman M.E (1916); Yamano Y. (1985); Rothman R.H (1975) chia ra:
- TVĐĐ cứng (hard disc herniation): TVĐĐ hay mỏ xương hoặc đĩa đệm cốt hoá đè ép vào tủy rễ. Bệnh lý loại này mang tính chất mãn tính, TVĐĐ có thoái hoá đi kèm xảy ra chủ yếu ở người nhiều tuổi.
- TVĐĐ mềm (soft disc herniation): không hoặc có ít thoái hoá đi kèm, thường do TVĐĐ cấp tính sau chấn thương gây nên (thợ lặn, ngã, vật nặng rơi, tai nạn giao thông...).
+ Phân loại đĩa đệm thoát vị liên quan với dây chằng dọc sau:
Wagner O.H. (1995) chia ra:
- TVĐĐ nằm dưới dây chằng dọc sau.
- TVĐĐ xuyên  rách qua dây chằng dọc sau.
Woad II G.W. (1992); Arcenia và Cimonescu (1973) chia 4 loại:
- Loại 1: phồng đĩa đệm (normal bulge): nhân nhầy còn nguyên vẹn nhưng nằm lệch vị trí vòng xơ rạn nứt phồng lên.
- Loại 2: lồi đĩa đệm (protrution): đĩa đệm đã xé rách vòng xơ nằm dưới dây chằng dọc sau gọi là tiền thoát vị.
- Loại 3: thoát vị thực sự (extrusion): nhân đĩa đệm đã chui một phần qua dây chằng dọc sau.
- Loại 4: TVĐĐ mảnh rời (sequestration): mảnh đĩa đệm đã rời khỏi đĩa đệm hoặc là nằm trước, sau dây chằng dọc sau di chuyển đi nơi khác (lên trên, xuống dưới ống sống; có trường hợp tưởng nhầm như u tủy (pseudo tumor), cá biệt xuyên thủng màng cứng đè vào rễ - tủy gây bệnh lý nặng nề. Tác giả Arcenia gọi những trường hợp đó là "đĩa đệm lang thang"- Micration (đĩa đệm di chuyển).
3. Bệnh sinh và nguyên nhân cơ chế TVĐĐ cổ.

3.1. Bệnh sinh:


+ Yếu tố dịch tễ: Theo Gore và Kelsey thì TVĐĐ cổ có tỷ lệ 5,5/100.000 dân (tỷ lệ mới mắc). Nam bị nhiều hơn nữ; tuổi trung bình khoảng 40. Vị trí hay gặp là đĩa đệm CV - CVI > CIVCV > CVICVII > CIIICIV > CVIIDI > CIICIII.
Theo Kelsey J.L. các nghề nghiệp thói quen liên quan bệnh là: thợ lặn, khuân vác, hút thuốc, các động tác cúi gập quá mức, lái xe, bấm nắn cổ không đúng kỹ thuật, các nghệ sĩ piano, đánh trống, xiếc nhào lộn... có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.
+ Bệnh sinh: đĩa đệm cổ coi như một loại khớp cột sống đặc biệt, có 3 chức năng chính:
- Gắn kết hai thân đốt sống giữ cho cột sống và tủy sống ổn định.
- Hấp thu lực sang chấn và chịu tải cột sống. Hạn chế tối đa tác động rung sóc làm chấn động não và tủy sống.
+ Tham gia vào chức năng vận động cột sống. Để làm được chức năng đó đĩa đệm có cấu trúc như một bán khớp trong đó dịch khớp chính là nhân nhầy (có gelatin) lỏng sánh đặc, 2 mặt khớp chính là 2 mâm sụn trong (hyalin). Các vòng sợi xơ và dây chằng xung quanh như là bao khớp. Do vậy đĩa đệm cũng chịu sự chi phối của quy luật thoái hóa khớp như mọi khớp khác trong cơ thể.
Khi đĩa đệm chưa bị thoái hóa (dưới tuổi trưởng thành) các thành phần nhân nhầy, bao xơ, mâm sụn... còn tốt, khi có lực nén lên cột sống cổ thì nhân nhầy chịu lực đầu tiên bẹt xuống, các vòng sợi phình ra. Lực nén chia đều ra nhiều hướng vào vòng sợi và tác động lên các tấm sụn trong. Lực nén xuống thân đốt sống dưới giảm đi nhiều. Khi tới tuổi trưởng thành (18 - 20 tuổi) cũng là lúc đĩa đệm bắt đầu thoái hoá, biểu hiện là: nhân nhầy khô kiệt dần, vòng sợi rạn nứt dần. Quá trình phát tán dịch thể  ra khỏi đĩa đệm nhiều lên mà quá trình tái hấp thu dịch thể qua các lỗ nhỏ li ti ở mâm sụn ít dần do bị bít tắc dần. Đĩa đệm dần thoái hoá cùng với sự thoái hoá khác ở các thành phần cột sống và cơ thể.
TVĐĐ là hậu quả của một quá trình thoái hóa sinh lý (hoặc thoái hóa bệnh lý).
Nhân nhầy thoái hóa đầu tiên: mất khả năng hấp thu lực, thoái hóa rách vòng sợi ở các mức độ khác nhau.
Nếu sự căng phồng nhân nhầy còn duy trì ở mức nào mà các vòng sợi và dây chằng đứt rách nhiều thì chỉ cần một lực nhỏ cũng đủ để nhân nhầy thoát ra qua lỗ rách đó, mạch máu sẽ bao quanh nhân nhầy đi sâu vào chỗ đứt rách đó hình thành sẹo đĩa đệm.
Mặt trên của đốt sống phía dưới bị lực tác động mạnh hơn và bị xơ hoá dần các thớ cột sống, các khớp mỏm móc cũng thoái hoá. Các khớp phì đại, nhiều gai xương hình thành, hẹp lỗ ghép chèn ép vào cả rễ thần kinh và mạch máu đốt sống.
Đến lúc dây chằng dọc sau cũng bị đẩy ra sau tách khỏi mặt đốt sống kéo rách màng xương tạo phản ứng sinh xương ở mép thân đốt sống, vôi hoá dây chằng.
Dây chằng vàng cũng bị thoái hóa, kéo giãn làm cho mất khả năng đàn hồi, phì đại dây chằng vàng, từ đó gây hội chứng hẹp ống sống cột sống cổ.
3.2. Nguyên nhân cơ chế TVĐĐ cổ:


Có 2 cơ chế gây ra TVĐĐ cổ đó là: thoái hoá và chấn thương. Trong đó thoái hoá là nguyên nhân chiếm đa số.
Thoái hóa cột sống đĩa đệm (CSĐĐ) tiến triển theo lứa tuổi được các yếu tố vi chấn thương thúc đẩy, một lực chấn thương tác động lên một cơ địa thoái hóa cột sống sẽ là cơ hội gây TVĐĐ.
Ngoài ra có ý kiến nêu thêm là: rối loạn chuyển hoá, dị dạng cột sống cổ, bệnh lý tự miễn dịch. Những yếu tố đó coi như là yếu tố tiền thoái hoá cũng dễ gây TVĐĐ cổ trong một số hoàn cảnh lực tác động vào cột sống cổ.
4. Lâm sàng.

TVĐĐ cột sống cổ xảy ra như là một biến chứng của quá trình thoái hoá đĩa đệm cột sống cổ; nó nằm trong bệnh cảnh chung của hội chứng hẹp ống sống cổ nên lâm sàng rất đa dạng và phong phú (tùy theo vị trí  thoát vị, thể thoát vị, mức độ và giai đoạn bệnh, tính phản ứng của từng cơ thể). Tuy vậy cũng có những bệnh cảnh chung nhất. Các tác giả chia 3 loại.
4.1. Hội chứng chèn ép rễ đơn thuần:


* Nguyên nhân: do TVĐĐ vào lỗ ghép (hoặc cạnh trung tâm chèn ép vào lỗ ghép) kết hợp với mỏ xương, gai xương do thoái hóa cột sống hình thành dần dần làm hẹp lỗ ghép, từ đó gây kích thích, đè ép, căng kéo rễ thần kinh cổ kéo theo viêm, phù nề thần kinh, thiếu máu rễ thần kinh.
* Triệu chứng:
+ Đau kiểu rễ thần kinh: đây là một triệu chứng sớm nhất, hay gặp nhất gây chú ý ở bệnh nhân. Người bệnh thường phàn nàn thấy đau ở gáy cổ lan xuống vùng vai, ngực, đau dần xuống cánh tay, cẳng tay và các ngón tay.
- Đau liên quan tới vận động cúi, ưỡn nghiêng, có thể làm bệnh nhân vẹo cổ (torticolis).
- Đau tăng khi ho hoặc hắt hơi.
- Có thể thấy đau đầu hay đau mặt nhưng ít gặp hơn.
- Khởi phát đau có thể cấp tính sau chấn thương đầu, cổ. Có thể từ từ sau một đêm ngủ dậy hoặc một lần đi xe đường xa về.
- Tính chất đau: hoặc âm ỉ hoặc đau sâu ở trong cơ xương, nhức nhối khó chịu như dao đâm hoặc như bỏng rát ở một vùng nào đó ở chi trên, đau ưu thế ở gốc chi kèm theo tê bì ở các ngón tay.
- Tiến triển: đau thường không liên tục, ban đầu đau ở gáy cổ sau đó đau từng đợt lan xuống chi trên. Nghỉ ngơi có thể đỡ, điều trị có thể ổn định lâu dài.
Khám có thể thấy một số dấu hiệu:
. 2 bàn hay, ngón tay nề, tê phù múp míp (hội chứng Steinbrocker): gặp khoảng 2% các trường hợp.
. Dấu hiệu Spurling: khi ấn tay đỉnh đầu trong khi bệnh nhân nghiêng đầu về bên đau gây đau tăng lên thì đó là dấu hiệu dương tính. Lý do đau tăng vì như vậy làm hẹp lỗ ghép và làm tăng áp lực nội đĩa đệm nên chèn ép thần kinh tăng lên.
. Dấu hiệu bấm chuông: ấn gai sau hoặc cạnh sống cổ, bệnh nhân đau từ cổ xuống vai đi xuống cánh tay, cẳng tay, bàn tay. Đó là dấu hiệu dương tính.
. Dấu hiệu Lhermitle: khi cúi bệnh nhân đau từ gáy cổ lan xuống cánh tay, cẳng tay.
. Test kéo giãn cột sống cổ: cho bệnh nhân nằm hay ngồi, kéo cằm, gáy, đầu bệnh nhân dọc trục cột sống một lực = 10 kg nếu bệnh nhân thấy dễ chịu (triệu chứng rễ giảm) thì test dương tính.
. Test dang vai: bệnh nhân ngồi đưa tay lên đầu nếu bệnh nhân thấy dễ chịu (triệu chứng rễ thần kinh giảm) thì là test dương tính.
Hai test trên mục đích: giảm áp lực nội tủy và giảm căng kéo dây thần kinh, do vậy bệnh nhân giảm đau.
+ Rối loạn cảm giác:
Đặc điểm rối loạn cảm giác thường đi cùng triệu chứng đau tập trung ở chi trên. Vùng rối loạn cảm giác cho phép đánh giá một phần định khu rễ thần kinh bị đè ép. Ví dụ:
- Rối loạn cảm giác đau ngón cái: rễ C6  bị tổn thương.
- Rối loạn cảm giác đau ngón giữa: rễ C7 bị tổn thương.
- Rối loạn cảm giác đau ngón út: rễ C8 bị tổn thương.
+ Rối loạn vận động: tương tự như vậy có thể căn cứ chức năng chi phối vận động của các rễ mà suy luận lâm sàng:
- Yếu dang vai: rễ thần kinh C5 chi phối.
- Yếu gấp khuỷu: rễ thần kinh C6 chi phối.
- Yếu duỗi khuỷu: rễ thần kinh C7 chi phối.
- Yếu gấp và dạng khép ngón tay: rễ thần kinh C8 chi phối.
Thường chỉ yếu động tác chứ ít khi bị liệt hoàn toàn vì đây là bệnh lý mạn tính.
+ Rối loạn phản xạ:
- Mất hoặc giảm phản xạ cơ nhị đầu: rễ C5 tổn thương.
- Giảm phản xạ châm quay: C6 tổn thương.
- Giảm phản xạ cơ tam đầu: C7 tổn thương.
Tóm lại: tùy theo rễ tổn thương mà có triệu chứng rễ khác nhau về vận động, cảm giác, phản xạ. Tuy vậy do sự đan xen chi phối của các rễ thần kinh với nhau, mặt khác có thể  thoát vị cổ kết hợp với hội chứng bệnh lý thoái hóa hẹp ống sống cổ hoặc là TVĐĐ cổ đa tầng, thoát vị cách tầng cho nên không có triệu chứng thần kinh nào có cả độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho đánh giá mức đĩa đệm bị thoát vị. Do vậy cần MRI để chẩn đoán chính xác.
4.2. Hội chứng chèn ép tủy đơn thuần:


* Nguyên nhân: do TVĐĐ tủy trung tâm và cạnh trung tâm lớn gây đè ép trực tiếp vào sừng trước tủy sống, động mạch đốt sống trước (chi phối 2/3 tủy trước).
* Cơ chế bệnh sinh: kết hợp với mỏ xương, gai xương đã gây hẹp ống sống sẵn (bình thường đường kính trước sau tủy sống cổ ³ 12 mm, nhưng có gai xương nên đường kính trở lên hẹp dần £ 12 mm) nên khi có thêm thoát vị thì càng gây thiếu máu tủy tăng lên, có thể gây nên phù tủy ngang mức thoát vị. Nếu chèn ép mạn tính có thể gây thoái hóa một phần sợi trục myelin.
* Lâm sàng hội chứng tủy cổ:
Bệnh thường xảy ra từ từ ở lứa tuổi trung niên hoặc khởi phát đột ngột sau chấn thương. Bệnh có từng đợt tiến triển sau thoái lui do điều trị thuốc, nghỉ ngơi, kéo giãn. Có thể gặp các triệu chứng sau:
+ Rối loạn vận động: là triệu chứng hay gặp nhất, chi trên bệnh nhân thấy tê bì, cầm nắm yếu, sự khéo léo giảm đi. Chi dưới bệnh nhân đi lại khó khăn, chóng mỏi một bên hay cả hai bên chân. Đi thường dạng chân, có khi phải chống gậy khi đi, đôi lúc co giật ở chân làm bệnh nhân có thể ngã.
Có thể triệu chứng ở chi trên xuất hiện trước hoặc xuất hiện sau hay có khi gặp trên một bệnh nhân có liệt ngoại vi một chi trên, liệt trung ương hai chi dưới (nếu thoát vị CV trở xuống).
Nhưng nếu thoát vị CIII - CIV, CIV - CV thì liệt cả tứ chi trung ương. Do vậy mà rối loạn phản xạ ở chi trên có thể là tăng hay giảm phản xạ, trong khi đó phản xạ chi dưới thường tăng trong thoát vị cổ.
+ Rối loạn cơ tròn: thường khó đái, khó ỉa.
Nhiều tác giả Hauser S.L 1988, Clark C.R 1991, Hoff J.T 1997, 5 loại dấu hiệu tổn thương ưu thế.
+ Hội chứng tủy cổ trước: tổn thương chủ yếu bó vỏ gai và tế bào sừng trước sau chấn thương cúi quá mức: đĩa đệm, gai xương chèn vào động mạch tủy trước và phần trước. Bệnh nhân thường liệt hoàn toàn và mất cảm giác nóng, lạnh, đau dưới mức tổn thương.
+ Hội chứng tủy trung tâm: tổn thương cả chất trắng và chất xám trung tâm.
- Mất cảm giác nông: nóng, lạnh, đau ở 2 tay.
- Còn cảm giác sâu và cảm giác rung tứ chi.
+ Hội chứng Brown - Sequard:
- Một bên phía tổn thương do thoát vị đè vào: liệt kiểu trung ương, mất cảm giác sâu và cảm giác rung.
- Bên kia mất cảm giác nông: nóng, lạnh, đau, còn cảm giác sâu và cảm giác rung.
+ Hội chứng tủy cắt ngang: liệt hoàn toàn tứ chi.
+ Hội chứng tủy cổ sau: thiên về tổn thương ở sừng sau nên cổ chấn thương ngửa quá mức (hyper extension), mất cảm giác sâu, vận động, dáng đi loạng choạng, 2 chân dang rộng, còn các cảm giác khác.
+ Hội chứng rễ tủy phối hợp: bao gồm 2 triệu chứng trên. Đây là hội chứng phổ biến nhất. Tuy vậy nhưng triệu chứng tủy vẫn trội hơn triệu chứng rễ (Clark 1991). Rối loạn vận động + phản xạ rõ hơn rối loạn cảm giác; thường giảm cảm giác hơn là mất cảm giác hoàn toàn.
4.3. Hội chứng rối loạn thần kinh thực vật:


* Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
+ Khối thoát vị đè ép vào các màng tủy, mạch máu các thần kinh có các nhánh giao cảm đi lên kích thích ngược lại hạch giao cảm và các nhánh tới các tạng khác (mắt, tim và các cơ quan nội tạng khác).
+ Mỏ xương, gai xương đè ép vào động mạch đốt sống.
+ Bản thân đĩa đệm cổ cùng với cột sống cổ đã có chức năng vận động cổ và điều tiết định hướng không gian và điều khiển tư thế; nên khi TVĐĐ thường gây mất điều khiển trong hoạt động cổ, ảnh hưởng chức năng thực vật cổ thông qua phản xạ điều chỉnh động tác: mắt, đầu, thân mình.
* Lâm sàng:      
+ Chóng mặt, mất thăng bằng.
+ Ù tai, mờ mắt từng cơn.
+ Mặt đỏ từng lúc, hạ huyết áp và vã mồ hôi.
+ Cơn đau ngực do căn nguyên cột sống cổ: hay gặp trong thoát vị CVI - CVII.
5. Các phương pháp chẩn đoán TVĐĐ cột sống cổ.

Các triệu chứng lâm sàng như vừa nêu trên giúp cho người ta định hướng tới bệnh lý vùng cột sống cổ. Các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng đóng vai trò chủ yếu chẩn đoán xác định bệnh và các phương pháp đó từ đơn giản đến hiện đại như sau:
5.1. Chụp X quang thường quy:


Đây là thăm khám cận lâm sàng đầu tiên với chụp thẳng, nghiêng, chếch phải, chếch trái và tư thế Fank chụp CI, CII há miệng to. Đó là các kiểu chụp phim thông thường cột sống cổ.
+ Ưu điểm:
- Đơn giản, giá thành rẻ...
- Cho biết trục cột sống, độ cong sinh lý cột sống ra sao ? hình dạng thân đốt, khe khớp, mỏm móc, gai xương, khe liên đốt, lỗ tiếp hợp (phim chếch 3/4 hai bên).
+ Nhược điểm:
- Đây chỉ là những thông tin ban đầu về xương cột sống cổ không đánh giá đầy đủ các thay đổi về tủy, đĩa đệm cơ và phần mềm cạnh sống.
- Hay bị cản hình bởi khớp hàm phía trên, xương vai ở phía dưới.
5.2. Chụp tủy cản quang:


Sicard (1922) chụp tủy cản quang bằng lipiodol để chẩn đoán bệnh lý tủy. Nhưng nhược điểm là dễ gây viêm dính màng nhện tủy vì tồn tại rất lâu trong tủy sống. Năm 1957, người ta tìm ra amipaque (metrizamid) sau đó tìm ra omnipaque (iohexol) là loại tốt nhất hiện nay (tan trong nước hấp thu nhanh trong vòng 4 - 6 giờ, không bị ion hóa, ít độc lại có độ cản quang cao) nên việc chụp tủy cản quang an toàn hơn nhiều.
+ Kỹ thuật: chọc kim ngang CI - CII ở tư thế nằm sấp hoặc ngửa tối đa, bơm   5 - 10 ml omipaque hàm lượng 300 hoặc 350 (không dùng loại 370). Kỹ thuật này do Henz và Goldmen đề xuất lần đầu tiên (năm 1972).
+ Ưu điểm: xác định được sự đè ép từ xương, đĩa đệm, rễ thần kinh, u, viêm dính của cột sống cổ.
+ Nhược điểm:
- Đây là thủ thuật gây sang chấn.
- Kỹ thuật chọc khó.
- Thuốc cản quang dù tốt đến đâu cũng có một tỷ lệ dù nhỏ gây phản ứng phụ.
- Hình ảnh cho là hình ảnh gián tiếp.
5.3. Chụp đĩa đệm:


Đầu tiên là Lindblom (1948) chụp đĩa đệm vùng thắt lưng, sau đó Smith là người chụp đĩa đệm cột sống cổ.
+ Kỹ thuật: đưa 2 ml thuốc cản quang bơm trực tiếp vào đĩa đệm.
+ Ưu điểm:      
- Đánh giá được trực tiếp hình dáng cấu trúc bên trong đĩa đệm, do đó biết được tổn thương cụ thể của đĩa đệm, các thể bệnh đĩa đệm.
- Là thủ thuật bắt buộc để điều trị theo phương pháp hoá tiêu nhân.
+ Nhược điểm:
- Thủ thuật gây đau đớn, khó làm.
- Có khả năng bị nhiễm khuẩn thứ phát.
Ngày nay ít làm, nhất là từ khi có MRI.
5.4. Chụp cắt lớp vi tính:


Kỹ thuật:
Không dùng thuốc cản quang: cắt lớp ngang mỏng 1mm và chụp kiểu xoắn ốc.
+ Ưu điểm: phương pháp này có thể giúp người ta nhìn thấy các hình ảnh khác của TVĐĐ: trung tâm, lệch bên vào lỗ tiếp hợp. Đó là hình ảnh giảm tỷ trọng đĩa đệm thoát vị » 80 đơn vị HU so với xương ở vị trí đĩa đệm bệnh lý. Có thể thấy thêm hình ảnh mỏ xương, thoái hoá mỏm móc.
+ Nhược điểm: hay bị nhiễu, cản hình ở vùng vai - gáy nên khó làm ở bệnh nhân béo, vai rộng, cổ ngắn; thuận lợi nhất là chụp đĩa đệm  cổ CV - CVI - CVII.
5.5. Chụp CLVT có dùng thuốc cản quang (hoặc là đưa thuốc đường ống sống hoặc là đường tĩnh mạch):
Đa số là chụp CLVT sau bơm thuốc cản quang vào ống sống.
+ Ưu điểm:
- Cho thấy rõ hơn sự đè đẩy của đĩa đệm vào tủy và rễ thần kinh.
- Dễ tái tạo hình ảnh dọc toàn bộ tủy (tất nhiên độ phân giải không cao).
- Có thể chẩn đoán hẹp ống sống cổ hoặc tắc ngẽn lưu thông dịch não tủy, phát hiện bất thường ở xa đường giữa.
Theo Greenberg (1997) giá trị chẩn đoán chính xác phương pháp CLVT + có bơm thuốc cản quang các bệnh cột sống cổ là 98 %.
Phương pháp này chỉ đúng khi không thể chụp MRI hoặc khi cần biết kỹ hơn về xương.
+ Nhược điểm:
- Đây cũng là phương pháp chẩn đoán có can thiệp.
- Hình ảnh bị nhiễu từ CVI - DI vì mắc xương bả vai bệnh nhân.
5.6. Chụp cộng hưởng từ  (MRI - magnetic resonance imaging):
+ Ưu điểm:
- An toàn, thủ thuật không xâm hại.
- Không gây nhiễm xạ cho bệnh nhân và thầy thuốc.
- Cho hình ảnh không gian 3 chiều với nhiều lớp cắt ở nhiều bình diện khác nhau.
- Độ tương phản cao của các tổ chức phần mềm.
- Đánh giá khá toàn diện: tủy sống, dịch não tủy, dây chằng vàng, mạch máu, tổ chức mỡ, xương sống và đĩa đệm.
Tóm lại: MRI là phương pháp tiên tiến nhất hiện nay chẩn đoán các bệnh lý cột sống tủy sống. Đặc biệt chẩn đoán TVĐĐ cột sống cổ, nhất là liên quan chỉ định điều trị nội khoa, ngoại khoa.
+ Hình ảnh TVĐĐ trên phim cộng hưởng từ:
- Đĩa đệm là một tổ chức có ranh giới rõ rệt.
Màu đen trên hình ảnh T1W là tổ chức giảm tín hiệu.
Màu trắng trên hình ảnh T2W là tổ chức tăng tín hiệu.
- Khối TVĐĐ đồng tín hiệu với mô đĩa đệm đẩy nhô ra sau đè vào ống tủy không ngấm thuốc đối quang từ.
- Các hình ảnh Sagittal (cắt dọc trước sau) cho biết đầy đủ kỹ về xương cột sống, độ cong đốt sống cổ, vị trí TVĐĐ, số tầng TVĐĐ. Mức độ đè ép đĩa đệm thoát vị vào tủy, sự phù tủy thế nào ?
- Hình ảnh cắt ngang (axial) cho thấy rõ TVĐĐ là loại TVĐĐ trung tâm, cạnh trung tâm, thoát vị lỗ ghép thậm chí cho biết có rách dây chằng dọc sau do đĩa đệm đè ép hay không.
Với 2 hình ảnh cắt dọc và một hình ảnh cắt ngang cơ bản người ta đo được các kích thước của ống sống và tủy sống. Người ta đánh giá tình trạng có hẹp ống sống cổ không ? Đây là một loại hội chứng bệnh lý khá phổ biến ở người cao tuổi.
Theo nhiều tác giả, các bệnh nhân có đường kính ống sống trước sau £ 12 mm từ CIV - CVII coi như hẹp ống sống. Đường kính rộng bình thường của CIV - CVII là 13 - 14 mm, CI ³ 21 mm, CII ³ 20 mm, CIII ³ 17 mm. Người ta còn thấy nếu đường kính tủy sống hẹp £ 10 mm thì biểu hiện lâm sàng TVĐĐ cổ rõ ràng hơn khi đường kính tủy sống > 13 mm.
+ Nhược điểm MRI:
- Đắt tiền (nhiều người dân không thể làm được).
- Bị nhiễu từ (artifact) khi trong cơ thể bệnh nhân có mảnh kim khí hoặc đặt máy tạo nhịp.
- Có một số bệnh nhân quá sợ hãi (trẻ em, phụ nữ...) không làm được.
Trong một số trường hợp có TVĐĐ cột sống cổ trên phim MRI nhưng không có biểu hiện lâm sàng. Do vậy luôn luôn khám xét lâm sàng thật kỹ trước khi quyết định phương pháp điều trị nào ? Nhất là chỉ định phẫu thuật ?
6. Chẩn đoán phân biệt.

Hội chứng cổ-vai-cánh tay và bại yếu hai chi dưới có thể có do nhiều nguyên nhân khác nhau nên cần phải phân biệt trong chẩn đoán mới có phương pháp điều trị hợp lý. Người ta chia ra 2 nguồn gốc bệnh lý:
+ Nguồn gốc từ cột sống-tủy sống lành tính hoặc ác tính:
- U tủy: u màng tủy (meningioma), u rễ thần kinh (neurinoma, schwannoma), u màng ống nội tủy ependymoma, u tế bào thần kinh đệm của tủy (glioma, astrocytoma), u mỡ (lipoma); các nang nước ở tủy do viêm dính, do máu tụ cũ tiêu đi, do thoái hoá sau chấn thương (kistique).
- U xương sụn (osteochondroma), u xương (osteoma), u ác tính (osteosarcoma), các mỏ xương (osteophis), gai xương chèn ép vào ống sống gây hẹp ống sống cổ. Các loại u vùng này có thể là di căn ung thư phổi, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư tuyến giáp, ở phụ nữ có thể là ung thư tử cung, ung thư tuyến vú...
- 2 loại bệnh lý cũng được nhắc đến nhiều là:
. Xơ cứng cột sống bên teo cơ với triệu chứng chủ yếu là teo cơ, rung giật cơ, không rối loạn cảm giác, có tổn thương kèm theo, tổn thương thần kinh XII, IX, X, phản xạ bệnh lý tháp tăng rõ cả tứ chi (hay gặp độ tuổi 40 - 60).
. Bệnh xơ cứng rải rác: hay gặp độ tuổi từ 20 - 40, tiến triển từng đợt, nặng dần hay rối loạn về mắt hoặc tiểu não.
- Viêm đa khớp dạng thấp không đặc hiệu hay gặp nhất là viêm tiêu mỏm nha gây sai khớp trục-đội, từ đó gây chèn ép tủy sống ngang CI, CII, bệnh nhân bị bại yếu tứ chi, co cứng chân tay, liệt cơ vòng dễ gây thiểu năng động mạch sống-nền (mất thăng bằng, chóng mặt, ù tai, rung giật nhãn cầu). Bệnh lý này cần làm phẫu  thuật Brook and Jenkin đóng cứng chẩm cổ sau.
- Viêm xương khớp do vi khuẩn: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn toàn thân đau, nề sưng to ở gáy cổ, hội chứng rễ-tủy xuất hiện nếu có ổ viêm lan toả đè ép ống sống hoặc trượt đốt sống, xẹp đốt sống do ổ viêm gây nên. Trong đây có tỷ lệ 3 - 5 % viêm xương đĩa đệm do lao đốt sống. Trong 6 năm gần đây ở Bệnh viện 103 gặp 2 trường hợp lao cột sống cổ. Phẫu thuật kết hợp điều trị toàn thân bằng thuốc chống lao đạt kết quả tốt.
- Chấn thương cột sống cổ cũ.
- Bệnh rỗng tủy.
- Bệnh vôi hoá phì đại dây chằng dọc sau hay dây chằng vàng.
+ Nguồn gốc bên ngoài cột sống cổ gây đau thần kinh đám rối cổ:
- Hội chứng phù áo khoác do u đỉnh phổi (pancast).
- Hội chứng viêm quanh khớp vai.
- Bệnh lý đám rối (plexus) và rễ thần kinh.
- Bệnh tâm căn và các bệnh khác ở nội tạng đau theo kiểu xuất chiếu tại cổ có thể đau theo đường thần kinh giao cảm; do đó nên cần khám xét cẩn thận, kỹ lưỡng.
7. Điều trị bệnh TVĐĐ cổ.

7.1. Điều trị nội khoa:


Sau khi khám xét chẩn đoán TVĐĐ cổ người ta điều trị theo nguyên tắc điều trị nội trước, điều trị ngoại sau.
+ Điều trị có hệ thống, bao gồm nhiều biện pháp:
- Uống thuốc chống viêm giảm đau.
- Tiêm thuốc chống viêm giảm đau.
- Xoa bóp, bấm nắn, vật lý trị liệu: bó nến, điện xung, điện phân.
- Châm cứu.
- Bất động cột sống giai đoạn cấp bằng nẹp Minerve hay bằng khung Halo, Coloar.
- Kéo giãn cột sống nếu có chỉ định.
+ Điều trị cơ bản: tùy thể bệnh, người bệnh mà có liều độ trị liệu khác nhau và với phương pháp điều trị thích hợp riêng. Tránh biến chứng và gây tổn thương thêm cho bệnh nhân chỉ vì không hiểu biết giải phẫu sinh lý, bệnh lý, bệnh căn, bệnh sinh. Điều trị theo kiểu mò mẫm, tiêm chích thuốc vào cột sống, tủy sống không đúng nguyên tắc chỉ định.
Định kỳ tái khám xét: có hướng dẫn cho người bệnh biết cách vệ sinh lao động, nghỉ ngơi hợp lý, phòng ngừa tái phát và tai biến. Nếu thấy bệnh lý có xu hướng tăng dần hoặc không thuyên giảm hoặc tái phát nhanh thì cần chẩn đoán xác định lại và chuyển phương pháp điều trị hợp lý hơn.
7.2. Điều trị ngoại khoa:


Sau điều trị nội khoa hệ thống và cơ bản mà không có kết quả.
+ Điều trị ngoại khoa nhằm 3 mục đích:
- Giải phóng chèn ép tủy, rễ thần kinh do đĩa đệm chèn ép hoặc là xơ sợi, dây chằng vàng tăng sinh đè ép.
- Phục hồi giải phẫu cột sống cổ.
- Cố định vững cột sống tránh di lệch tổn thương thứ phát sau khi lấy đĩa   đệm cổ.
+ Chỉ định:
- TVĐĐ trung tâm, cạnh trung tâm, TVĐĐ lỗ ghép đã gây bại yếu tứ chi, chèn ép đau đớn dai dẳng, không khắc phục được bằng thuốc và các phương pháp điều trị nội khoa khác.
- Chụp MRI xác định rõ vị trí, thể bệnh và mức độ bệnh TVĐĐ.
+ Kỹ thuật:
- Trước đây thường làm phẫu thuật đi đường sau:
Tạo hình cung sau cột sống sau giải phóng chèn ép; mở rộng lỗ ghép; tạo hình cung sau mở rộng.
- Vào những năm 50 thế kỷ XX đến nay, phẫu thuật chủ yếu đi đường trước bên với các phương pháp của các tác giả: Cloward, Robinson, Bailey, Badgley, Simmon.
7.3. Các phương pháp không mổ hoặc phẫu thuật gây thương tổn tối thiểu (minimaly invasive neurosurgery):
* Phương pháp hoá tiêu nhân (phương pháp ăn mòn bằng men chemonucleolyse):
Lyman (năm 1963) là người đầu tiên đề xuất và áp dụng phương pháp này. Có giai đoạn áp dụng phổ biến ở Mỹ và Pháp (những năm 1980 - 1990).
+ Nguyên lý: men sẽ phân hủy protein, polysacharide thành nước, nước sẽ được đào thải ra ngoài qua nước tiểu làm đĩa đệm khô xơ cứng lại, áp lực nội đĩa đệm giảm, đỡ chèn ép rễ tủy thần kinh.
+ Nguyên liệu tiêu nhân: chymopapain hoặc aprotimin (trasylon). Đây là những chất men tiêu đạm rất mạnh.
+ Chỉ định: TVĐĐ còn bao xơ tương đối tốt.
Không áp dụng phương pháp này khi TVĐĐ đã vỡ rách bao xơ, TVĐĐ mảnh rời (sequestration) TVĐĐ lớn đè ép tủy sống, TVĐĐ tự do (micration), TVĐĐ xuyên màng cứng, xuyên rễ, thoái hoá cột sống-đĩa đệm, đĩa đệm giàu mạch máu nuôi: chất men dễ hấp thụ qua mạch máu gây sốc phản vệ.
Hạn chế dùng phương pháp này với vùng giải phẫu quan trọng.
+ Ưu điểm:
- Hiệu quả nhanh.
- Thời gian nằm viện ngắn.
- Vô cảm đơn giản: tê tại chỗ, không cần gây mê.
Tất nhiên là cần phải chụp đĩa đệm trước.
+ Biến chứng:
Viêm đốt sống, chảy máu dưới nhện, sốc phản vệ nếu đĩa đệm giàu mạch máu.
* Phương pháp lấy đĩa đệm qua da bằng nội soi:
+ Đây là phương pháp mới cần có dụng cụ tinh xảo chuyên dùng: màn huỳnh quang tăng sáng, dụng cụ mổ nội soi, đó là các dụng cụ:
Vi phẫu tích: rougeur, bipolar, gouse, carry-sion đèn soi nối với một video.
+ Ưu điểm: an toàn, thuận lợi, gây ít tổn thương nhất cho xương sụn cột sống.
+ Nhược điểm: chỉ lấy mảnh đĩa đệm lớn chèn ép nhiều nhất.
Không mổ cho các thể đặc biệt như: đĩa đệm mảnh rời di chuyển (micration), đĩa đệm xuyên màng cứng.
* Dùng Laser YAG giảm áp đĩa đệm:
+ Phương pháp do Choy và Ascher (1980) đề xuất và áp dụng dựa trên nguyên lý năng lượng của laser nd YAG có tác dụng làm quang đông và bốc bay hơi tổ chức cấp thời.
+ Kỹ thuật: dùng kim chọc sống thắt lưng số 18 chọc vào nhân nhầy đĩa đệm, luồn sợi quang dẫn có laser nd YAG dưới gây tê tại chỗ và theo dõi qua màn huỳnh quang khi đúng vị trí tiến hành đốt. Khi đó nhân nhầy đĩa đệm bị co lại. Áp lực bên trong đĩa đệm giảm đi đột ngột gây co toàn bộ đĩa đệm nên sẽ hạn chế đè ép tủy, thần kinh.
+ Chỉ định và chống chỉ định như 2 phương pháp trên.
+ Ưu điểm: rất đơn giản, hiệu quả tức thì. Bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú, có thể làm nhắc lại. Tuy nhiên không phải thể TVĐĐ nào cũng áp dụng phương pháp này được.
Ở Việt Nam hiện tại giá thành của điều trị theo phương pháp này còn đắt.
Phẫu thuật tự động qua da là phương pháp chữa thoát vị đĩa đệm mới, hiệu quả, an toàn tuyệt đối mà Bệnh viện Việt Đức vừa áp dụng thành công. Đây là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam thực hiện phương pháp ưu việt này.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thạch, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật Cột sống, Bệnh viện Việt Đức cho biết, phẫu thuật chữa thoát vị đĩa đệm là phương pháp can thiệp tối thiểu nhất nên an toàn tuyệt đối và không để lại biến chứng.

Bác sĩ sẽ sát trùng vùng da bên ngoài, xác định trên X-quang về đĩa đệm cần điều trị rồi dùng một kim có đường kính 1,5mm chọc vào lòng đĩa đệm, hút phần đĩa đệm bị thoát vị. Việc này có tác dụng làm giảm áp lực lên đĩa đệm khiến phần thoát vị co lại.

Đĩa đệm nằm giữa các xương của cột sống. Khi đĩa đệm nào đó bị rách hoặc đứt, những chất dạng gel bên trong nó (nhân tủy) sẽ tràn ra ngoài. Hiện tượng này được gọi là thoát vị nhân tủy - hay thoát vị đĩa đệm. Những người ở độ tuổi từ 30 đến 50 là có nguy cơ bị thoát vị cao nhất do những thành phần nước và đàn hồi bên trong nhân tủy sẽ giảm đi theo tuổi.
Vì chỉ thực hiện qua da, nên phương pháp này không hề ảnh hưởng tới cấu trúc độ vững của cột sống và ít xâm lấn vào các vùng mô mềm khác, bệnh nhân có thể ra viện sau 1-3 giờ điều trị.

Tuy nhiên, theo bác sĩ Thạch, phương pháp này chỉ định khá hạn chế, áp dụng với những trường hợp bị thoát vị ở giai đoạn từ 2 đến 3 trong 4 giai đoạn bệnh thoát vị đĩa đệm, khi bệnh nhân dùng thuốc không hiệu quả nữa nhưng bệnh chưa quá nặng, bao xơ không bị rách.

Hiện đã có hàng chục bệnh nhân được áp dụng cách chữa này và đều có kết quả tốt.

Tiến sĩ Thạch cho biết, thoát vị đĩa đệm là một bệnh khá phổ biến, thường do quá trình lão hóa hay bị chấn thương. Tại Bệnh viện Việt Đức đã áp dụng nhiều phương pháp chữa bệnh này hiệu quả như thay đĩa đệm nhân tạo, điều trị bằng sóng cao tần, mổ nội soi...

Vương Linh
Theo Vnexpress
Đau lưng luôn là nỗi ám ảnh của người lớn tuổi hoặc người lao động nặng. Đau lưng có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng ngại nhất là tình trạng thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ), chủ yếu gây đau vùng thắt lưng, cản trở hầu như mọi sinh hoạt thường nhật của bệnh nhân. Điều trị TVĐĐ có nhiều phương cách. Thời gian gần đây, y học hiện đại đã mang đến cho bệnh nhân nhiều cơ hội mới.

Nguyên nhân thoát vị đĩa đệm

Đĩa đệm (ĐĐ) là chiếc gối đệm đàn hồi có dạng như một thấu kính lồi chêm vào giữa 2 đốt sống nhằm tạo sự uyển chuyển cho cột sống trong các động tác xoay, nghiêng, ưỡn, cúi… Đồng thời, ĐĐ còn là vật hộ thân giúp cột sống phân tán trọng lực và lực đè ép từ bên trên do khiêng vác vật nặng và chống rung lắc cho cơ thể. Để thực hiện được các chức năng trên, ĐĐ có một cấu tạo đặc biệt gồm nhân nhầy, bao quanh là các vòng sợi và dây chằng, TVĐĐ hình thành khi vì một lý do nào đó (lão hóa, thoái hóa, chấn thương…) các cấu trúc vòng ngoài xuất hiện “lỗ mọt” hay rách hẳn, mở đường cho nhân nhầy thoát ra chảy vào ống sống hay lỗ tiếp hợp, chèn vào búi thần kinh, gây ra hiện tượng đau thắt lưng dai dẳng. TVĐĐ hay xảy ra ở vùng thắt lưng lan xuống mông, chân, thường được gọi là đau thần kinh tọa.

Phương pháp chẩn đoán

Một thầy thuốc kinh nghiệm có thể xác định TVĐĐ qua thăm khám lâm sàng, nhưng để chẩn đoán chính xác cần nhìn qua phim X-quang hay bổ sung chụp cản quang, ghi điện cơ… Hiện nay, người ta còn sử dụng CT scan hay MRI (cộng hưởng từ) khá hiệu quả trong việc chẩn đoán.

Điều trị TVĐĐ thắt lưng

Tùy thuộc mức độ nặng – nhẹ (chủ yếu căn cứ vào lượng nhân nhầy thoát ra nhiều hay ít và mức độ chèn ép thần kinh), các thầy thuốc sẽ dành cho bệnh nhân những can thiệp vừa phải trước, sau đó tùy tình hình sẽ lựa chọn biện pháp triệt để hơn. Lần lượt gồm có:

- Kéo giãn cột sống thắt lưng bằng giường kéo:

Mục đích làm giảm áp lực đè lên các đốt sống thắt lưng mở đường cho nhân nhầy quay trở lại vị trí cũ. Giường kéo là một thiết bị chuyên dụng nhưng không phức tạp lắm, áp dụng nguyên lý đơn giản là cố định phần trên thân thể, phần dưới nối với hệ thống ròng rọc có treo quả cân nặng để duy trì lực kéo thường xuyên và từ từ. Trọng lượng quả cân sẽ tăng dần theo thời gian, đôi khi người ta dùng chính sức nặng của bệnh nhân làm lực kéo (nằm trên giường dốc xuống).

Ngoài ra, các thầy thuốc còn thêm vài trợ giúp như xông hơi thuốc, áp nhiệt, chiếu tia hồng ngoại, xung điện… nhằm mục đích giãn cơ, giảm đau. Mọi chi tiết về chỉ định, kỹ thuật, thời gian kéo sẽ được áp dụng cụ thể cho từng bệnh nhân. Những trường hợp thoát vị bán cấp hay mạn tính thường là lựa chọn của biện pháp này.

- Tiêm nội đĩa đệm:

Tác động vào chính ĐĐ với mong muốn thu nhỏ hay tiêu hẳn khối thoát vị để giảm áp lực căng phồng, giải phóng sự chèn ép của nó vào thần kinh. Biết được thành tố chính của nhân nhầy là một loại protein, nhiều chất tiêu đạm thịnh hành được mang ra dùng như chymopain (trích xuất từ một giống đu đủ), collagenase (men tiêu collagen)… Tuy có vẻ khả thi nhưng cho đến nay, nhiều thầy thuốc thường e dè biện pháp này vì những tai biến sốc phản vệ nguy hiểm. Gần đây, người ta đã tính đến việc tiêm máu tự thân của chính bệnh nhân vào ĐĐ với cùng mục đích trên nhưng có thể tránh được hiện tượng phản vệ.

- Phẫu thuật đĩa đệm:

Lựa chọn sau cùng có tính triệt để, nhất là sau khi các biện pháp bảo tồn thất bại, mở đường vào thẳng ĐĐ và lấy đi khối thoái vị.

- Laser điều trị:

Rất may là “cánh tay” ngày càng dài ra của laser đã vươn tới lĩnh vực điều trị TVĐĐ, triển khai vào thập niên 80 và ngày càng thâu tóm mọi ưu điểm mà các thầy thuốc mong muốn. Không ngoài cung cách phá hủy cấu trúc nhân nhầy giải phóng chèn ép (laser điều trị giảm áp đĩa đệm cột sống xuyên da – Percutaneous Laser Disc Decompresion – PLDD), các bác sĩ dùng kim chuyên dụng chọc vào ĐĐ và gửi theo nó một sợi quang học dẫn đường năng lượng bức xạ từ máy phát laser (loại Nd-YAR) vào khởi hoạt hiện tượng quang động làm bốc cháy và bay hơi một phần nhân nhầy.

Ít tai biến, không “động dao, động kéo” nhiều, thời gian hồi phục nhanh, PLDD thường được chỉ định trong khá nhiều trường hợp, trừ khi kèm theo thoát vị là nhiều tổn thương nặng nề khác như rách dây chằng ĐĐ, khối thoát vị quá to hay có các bất thường của cột sống liên quan… thì không còn cách nào khác là phẫu thuật để giải quyết trọn gói.

Sau cùng,  biện pháp nội khoa hỗ trợ như giảm đau, giảm cứng cơ, vật lý trị liệu… luôn được áp dụng song song. Với các cứu cánh trên cùng với sự hợp tác tích cực của bệnh nhân, đa số các trường hợp đau thắt lưng do TVĐĐ đều đạt kết quả khả quan. Vấn đề còn lại là thời gian, tổn phí nằm viện… có thể trở thành trở ngại lớn với bệnh nhân nghèo  là một trong những đối tượng mà bệnh đau thắt lưng hay “viếng thăm” nhất.

Anh Tuấn
(ĐH Y khoa Hà Nội)
(ĐTĐ) - Thoát vị đĩa đệm do nguyên nhân cột sống kém vận động hay vận động mạnh gây nên. Tập luyện khí công sẽ làm khung cơ thể giãn nở, tăng sức mạnh, dẻo dai bên ngoài là cân cơ xương và cũng tăng sức bền sinh học bên trong là tinh - khí - thần.

Cột sống với chức năng vận động cho phép là xoay tròn 180o, gập xuống 90 - 120o, gập sau 75o. Khi vận động, các đốt sống xoay, nâng, ép để giãn mở sẽ kích thích tủy sống, kích hoạt các rễ thần kinh từ tủy sống lan tỏa ngoại biên và làm cho nội dịch bôi trơn đĩa đệm. Tập luyện khí công sẽ làm khung cơ thể giãn nở, tăng sức mạnh, dẻo dai bên ngoài là cân cơ xương và cũng tăng sức bền sinh học bên trong là tinh - khí - thần.
Nằm, ngồi luôn thả lỏng cơ thể. Khi ngồi ý thủ khoang bụng dưới, khi nằm ý thủ vùng thắt lưng.
Nguyệt túc phan duyên: Ngồi dưới sàn, 2 chân duỗi song song. Khi hít vào 2 tay vươn lên trời hình chữ "V". Khi thở ra, mặt ép sát đầu gối, đồng thời 2 bàn tay nắm lấy chân. Khi dùng thở 2 tay nắm lại thu về bên hông. Thực hiện 9 lần.


Tập luyện khí công sẽ làm khung cơ thể giãn nở, tăng sức mạnh, dẻo dai bên ngoài là cân cơ xương
và cũng tăng sức bền sinh học bên trong là  tinh - khí - thần.

Phiên thân: Chân phải trước, chân trái sau (chân trái như chống chân xe máy), 2 tay xuôi phía trước. Khi hít vào, 2 tay mở rộng ra 2 bên, đồng thời cột sống vận động từ trước ra sau. Thực hiện 9 lần.
Thần long quyển trụ (rồng thần quấn cột): Vẫn ngồi dưới mặt sàn, 2 chân song song phía trước, 2 tay dang ngang bên vai. Khi hít vào xoay eo quay cột sống về bên trái, tay phải tiến tới vai trái (bàn tay ngửa). Mở ra xoay về tư thế ban đầu. Tiếp theo lại quay về phía bên phải theo cách thức như vậy, nhưng bàn tay đổi chiều. Thực hiện 9 lần.
Én bay: Nằm sấp trên mặt bàn, 2 chân co nổi lên mặt sàn, 2 tay song song bên thân cũng nâng nổi lên mặt sàn, người cong hình cánh cung, chỉ có bụng chạm mặt sàn. Thực hiện vận động trước sau như cần bập bênh.
Ngoài tập luyện, chế độ dinh dưỡng nên ăn các chất ăn giàu canxi như tôm, ốc, cua đồng, lươn, chạch, các thức ăn giàu đạm như thịt bò, dê, thịt bê, thịt động vật núi. Tăng cường ăn rau nhiều chất xơ. Bữa chính nên nhiều ngũ cốc như gạo, đỗ, lạc, vừng và các chất tinh dầu.
BS.VS. Nguyễn Văn Thắng - Chưởng môn phái Thăng Long Võ Đạo

Nguồn Bee.net.vn
Thoát vị đĩa đệm là một quá trình thoái hoá tự nhiên và ít khi gây ra đau. Phần lớn các chứng dau lưng, đau vai, cổ đều thuộc hội chứng đau cơ do tâm lý.  Những ức chế tâm lý lâu ngày làm  rối loạn hệ thần kinh tự động gây  co mạch.  Mạch máu co lại khiến máu không lưu thông đủ đến vùng có liên quan, một số cơ, thần kinh hoặc dây chằng thiếu oxy và cảm giác đau xảy ra.

Thoát vị đĩa đệm là một quá trình tự nhiên và ít khi gây ra đau.

Cột sống là trục chống đở chính của toàn cơ thể. Cột sống gồm  33 đốt sống được liên kết với nhau bởi những đĩa đệm.  Đĩa đệm là những bao xơ dày chắc bao bọc một lớp nhầy bên trong có chức năng co dãn để giúp cột sống cúi ngửa, vặn mình qua lại được dễ dàng.  Dưới sức nặng của cơ thể, và áp lực của sự vận động, mang, vác và cả quá trình lão hoá, những đĩa đệm ở những vị trí phải chịu nhiều áp lực của cơ thể như đốt sống cổ, đốt sống thắt lưng dễ bị thoát vị. Được gọi là thoát vị khi đĩa đệm bị xẹp xuống thái quá, bao xơ bị rách và lớp nhân nhầy thoát ra ngoài.  Gai cột sống là tình trạng lắng động calcium qua thời gian chung quanh khớp, tiếp giáp với dây chằng hoặc chỗ thoát vị.  Thoát vị đĩa đệm, gai cột sống là những biểu hiện của sự thoái hoá cơ, xương, khớp. Giống như tóc sẽ bạc, da sẽ nhăn, thoát vị đĩa đệm là một quá trình thoái hoá tự nhiên và không nhất thiết phải gây ra đau.  Y văn đã ghi nhận rất nhiều trường hợp thoát vị đĩa đệm mà không hề đau lưng.  Những trường hợp này không có biểu hiện gì và  thoát vị chỉ bị phát hiện tình cờ khi người bệnh được chụp  CT hoặc MRI trong khi điều trị một căn bệnh khác[i].  Trong quyển sách Những tiến bộ mới trong nghiên cứu và điều trị đau nhức[ii], Bác sĩ Hubert Rosomoff, truởng khoa giải phẫu thần kinh trường Đại Học Y khoa Miami cũng đã nêu lên ý kiến phần lớn các trường hợp thoát vị đĩa đệm đều không làm đau qua bài viết “Phải chăng thóat vị đĩa đệm là nguyên nhân gây ra đau?”  Giáo sư Alf Nachemson, một người Thuỵ Điển cũng cho rằng “người ta chưa biết rõ nguyên nhân trong hầu hết các trường hợp đau lưng và hầu hết đều phải điều trị bằng cách gì khác hơn là phẫu thuật.”[iii].  Cũng vì lý do nầy phần lớn việc điều trị gai cột sống đều nặng về bảo tồn.

Cơ chế gây bệnh của hội chứng đau lưng do tâm lý.

Hiện nay, những hiểu biết thông thường đều cho rằng phần lớn đau lưng là do những hư hao hoặc sai lệch về mặt cấu trúc vật chất của cơ thể, nhất là khi mặc định nầy được cũng cố bằng những “bằng chứng hiển nhiên” qua  hình ảnh được chụp CT hoặc MRI của sự vôi hoá hoặc thoát vị của một vài đốt sống.  Đã có “bằng chứng” không lo gì không tìm ra được thủ phạm.  Đến đây, người bệnh sẽ rất dễ dàng nhớ lại, hoặc một lần vấp ngã ở chân cầu thang, lần đá banh bị va chạm 2 năm trước, lúc nâng phụ một bao tải và bị cụp lưng dạo nọ, thậm chí nhiều người còn đổ lỗi cho . . thoái hoá cột sống vì hay thủ dâm từ thời còn niên thiếu!  Trong nhiều trường hợp, chính những phán quyết và “bằng chứng” nầy đã làm tăng thêm những nổi lo âu, ám ảnh, những dồn nén về mặt tâm lý, nguyên nhân của hầu hết những cơn đau mõi ở vùng  lưng, vai, cổ.   Ông Sensei Adam Rostocki, tác giả quyển sách “Chữa dứt điểm bệnh đau lưng”[iv] đã cho rằng (1) hầu hết các trường hợp thoát vị đĩa đệm đều không có triệu chứng biểu hiện và (2) 75% trường hợp thoát vị không gây đau.  Tiến sĩ John E. Sarno gọi những căn bệnh này thuộc hội chứng đau mõi cơ do tâm lý (Tension Myosity Syndrome), gọi tắt là TMS.

Cuộc sống càng nhiều áp lực, nhiều khó khăn, con người càng dễ bị tác động xấu bởi những stress.  Những cảm xúc dai dẳng về sự thù hận, giận dữ, cảm giác bị chèn ép hoặc sự lo sợ trong môi trường làm việc, trong đời sống gia đình hoặc học đường, thậm chí đã từng tồn tại từ thuở ấu thơ hoặc thời thanh niên, đều có thể là nguyên nhân gây ra những ức chế tâm lý, làm xáo trộn hệ thần kinh trưng ương, đặc biệt là hệ thần kinh tự động.  Hệ quả của rối loạn hệ thần kinh tự động là sự co mạch.  Mạch máu co lại khiến máu không lưu thông đủ đến vùng có liên quan, một số cơ, thần kinh hoặc dây chằng thiếu oxy và cảm giác đau xảy ra.

Những trường hợp điển hình.

Một trường hợp điển hình về đau lưng TMS được ông Sarno ghi lại như sau.

Bệnh nhân nam 29 tuổi có tiền sử đau thắt lưng và đau dọc theo chân phải.  Hai tháng trước, người bệnh đã được chụp cắt lớp và được xác định là đau do thoát vị đĩa đệm, được đề nghị ngưng vận động mạnh và phải tiến hành phẫu thuật. Là một vận động viên bóng rổ, anh rất buồn trước sự chẩn đoán nhất là khi được cho biết tương lai sẽ không còn được tham gia các môn thể thao có cường độ cao.  Anh không chấp nhận  phẫu thuật. Ngược lại,  vẫn tập các bài tập thể dục và vẫn tiếp tục chơi bóng rổ như trước. Thời gian nầy tình trạng bệnh vẫn giữ nguyên, không tiến triển cũng không xấu đi.  Tuy nhiên anh vẫn canh cánh nổi lo bệnh sẽ nặng thêm bất cứ lúc nào.  Đây cũng là lúc anh đến gặp bác sĩ Sarno.  Ông xác định không có dấu hiệu tổn thương thần kinh ở bất cứ chân nào.  Trắc nghiệm nâng chân ở cả 2 chân đều gây ra cảm giác đau ở mông phải.  Như thường xảy ra ở những trường hợp TMS, người bệnh cảm thấy đau khi có áp lực đè lên những vùng cơ mông, cơ  lưng dưới, cơ vai và cơ 2 bên cổ.  Ông cho rằng đau gây ra do TMS chớ không phải do đĩa đệm sai vị trí.  Người bệnh được giải thích cặn kẻ, được tham gia chương trình điều trị không dùng thuốc và khỏi đau trong vòng vài tuần.  Gặp lại 12 năm sau, anh vẫn khoẻ mạnh và vẫn là một vận động viên bóng rổ.

Tài liệu của ông Sarno cũng ghi lại một nghiên cứu  trên một nhóm gồm 109 bệnh nhân đau lưng đã được xác định là thoát vị đĩa đệm qua chụp CT và MRI.  Trong đó, qua giải thích và điều trị không dùng thuốc, 96 người (88%) đã khỏi bệnh, không còn đau, cử động không hạn chế; 11 người (10% ) bệnh biến chuyển tốt nhưng còn hơi đau, cử động còn bị giới hạn; có 2 người không kết quả.

Điều trị đau lưng do TMS.

Trong việc điều trị đau lưng thuộc TMS, bác sĩ Sarno đặc biệt đề cao “liệu pháp hiểu biết” (knowledge therapy).  Khi bệnh nhân được giải thích và hiểu rằng cơn đau không phải do những lệch lạc về cấu trúc vật chất mà chỉ là một hịên tượng tâm lý, không có thật, thì tự khắc cơn đau sẽ biến mất.  Ông cho rằng TMS là một dạng bệnh hystery.  Đau mõi ở đây là một cơ chế tự nhiên của cơ thể giúp bộ não quên đi những cảm xúc, những ký ức không mong muốn.  Ông cho biết một số người đau lưng TMS chỉ cần đọc xong quyển sách[v] của ông, hiểu ra bản chất của vấn đề cũng đã tự khỏi đựơc bệnh.  Giống như một người gặp phải ác mộng, sợ đến toát mồ hôi.  Khi tỉnh dậy hiểu ra mình vừa chiêm bao tự khắc mọi sợ hãi hoặc đau đớn gì cũng không còn.  Tuy nhiên, trên thực tế, không phải mọi trường hợp TMS đều được hoá giải dễ dàng như vậy.  Nhiều trường hợp bệnh mà nguyên nhân ức chế tâm lý đã bắt nguồn từ thời thơ ấu hoặc thậm chí xa hơn.  Edgar Cayce (1877-1945) là một người Mỹ có khả năng chữa bệnh thông qua khả năng tự thôi miên để tìm lại tiền kiếp và truy ra nguyên nhân gây bệnh của một số căn bệnh dai dẳng bất trị. Những ký lục do hội ARE (Association for Research and Enlightment) lưu giữ ở Virginia, Mỹ với khoảng 14.000 trường hợp bệnh lý đã cho thấy một số căn bệnh đã bắt nguồn từ những ức chế tâm lý từ một kiếp trước!

Nói chung, ngoài việc hiểu rõ cơ chế của căn bệnh, người bệnh có thể thực hành một số biện pháp không dùng thuốc gồm những phương pháp thở và một số động tác yoga thích hợp để vừa trực tiếp làm giãn nở mạch máu để tăng cường lưu thông khí huyết đến vùng đau vừa điều hoà thần kinh giao cảm  để  từng bước xoá dần những ức chế từ tiềm thức và lập trình lại bộ não, một bộ não của một cơ thể bình an và mạnh khoẻ.

Lương y VÕ HÀ
Theo SKĐS
Laser được 2 bác sĩ Mỹ là Choy và Ascher dùng để chữa bệnh này lần đầu tiên vào năm 1987. Sau khi dùng laser đốt cháy một phần đĩa đệm, áp lực trong đĩa đệm giảm xuống làm cho khối thoát vị nhỏ lại, không còn chèn ép để gây đau nữa.

Phương pháp trên gọi là PLDD (viết tắt của cụm từ tiếng Anh Percutaneous Laser Disc Decompression, nghĩa là giảm áp lực của đĩa đệm bằng laser xuyên qua da). Trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20, PLDD phát triển rộng rãi trên khắp thế giới, đặc biệt là ở các nước tiên tiến. Gần đây, do sự phát triển mạnh của nội soi, đặc biệt là phương pháp nội soi Yeung, sự ưa thích PLDD đã giảm xuống ở Mỹ và một số nước phát triển khác.

Nhiều công trình nghiên cứu của các bác sĩ nổi tiếng trên thế giới chứng minh rằng PLDD là phương pháp chữa bệnh rất tốt. Tuy nhiên, PLDD chỉ có hiệu quả nếu đĩa đệm thoát vị còn chưa xé rách dây chằng dọc sau (nằm phía sau của đĩa đệm). Còn nếu dây chằng dọc sau của bạn đã bị rách thì tốt nhất tìm một cách chữa bệnh khác. Việc nhận biết khối thoát vị đã xé rách dây chằng này hay chưa không phải là dễ dàng, cần có những bác sĩ giàu kinh nghiệm trong cả khám chữa bệnh thoát vị đĩa đệm và áp dụng PLDD.

Trong kỹ thuật này, người bệnh nằm nghiêng trên bàn mổ (nếu làm PLDD ở lưng) hoặc nằm ngửa (nếu làm PLDD ở cổ). Bác sĩ sát trùng và xác định nơi chích kim trên máy chiếu X-quang. Sau khi gây tê, họ sẽ chích kim từ ngoài da vào đĩa đệm. Một sợi dây bằng thủy tinh nối với máy phát laser được luồn qua kim tới đĩa đệm. Laser sẽ đốt cháy một phần đĩa đệm. Khi đốt, người bệnh sẽ có cảm giác nóng và tức nhẹ ở nơi đốt, gần cuối sẽ có cảm giác nóng chạy dọc theo tay hoặc chân.

Thời gian làm PLDD là khoảng 15 phút cho một đĩa đệm. Sau đó, người bệnh nằm nghỉ khoảng 1-2 giờ và về nhà trong ngày. Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5, một số người bị đau do quá trình viêm gây ra, sau khi dùng thuốc sẽ hết. Thường thì sau một tuần, họ có thể đi làm lại được; nhưng phải 3 tháng sau mới có thể đánh giá được chính xác kết quả PLDD.

Chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng PLDD đơn giản, ít đau đớn, không cần gây mê; người bệnh tiết kiệm được rất nhiều thời gian, đặc biệt là không phải nằm viện. So với mổ hở, biến chứng của PLDD ít gặp hơn rất nhiều và thường cũng không nặng nề. Một số bệnh nhân đau tăng lên đột ngột trong lúc làm PLDD do khi đĩa đệm bị đốt cháy, khói chưa kịp thoát ra làm cho khối thoát vị to thêm, gây chèn ép nhiều hơn. Nếu chọn lựa đúng bệnh nhân để làm PLDD và kỹ thuật này được thực hiện tốt thì tỷ lệ này chỉ chiếm 1/1.000 trường hợp.

Nhiều người bệnh e ngại rằng tia laser và tia X phát ra khi làm PLDD sẽ gây hại cho cơ thể. Thực ra, laser nếu được sử dụng đúng cách và đôi mắt có bảo hiểm tốt thì được coi là vô hại. Về tia X, bạn hãy yên tâm. Mặc dù được áo giáp che chở nhưng những bác sĩ làm PLDD cho bạn sau một thời gian sẽ lãnh lượng tia X cao gấp nhiều lần so với lượng mà bạn hấp thụ trong 1 lần nằm trên bàn mổ. Và nếu họ vẫn còn đủ khả năng làm PLDD cho bạn thì có nghĩa là lượng tia X mà bạn nhận chưa đủ để gây ra chuyện gì cả.????

PLDD cũng có một số nhược điểm nhất định. Đây là một phương pháp kén chọn bệnh nhân. Nhiều trường hợp được điều trị bằng PLDD vẫn còn có thể chữa được bằng thuốc và vật lý trị liệu. Ở những bệnh nhân này, PLDD giúp rút ngắn thời gian điều trị, tăng khả năng chữa hết bệnh và đặc biệt là giảm số lượng thuốc đưa vào cơ thể.

Khả năng chữa hết bệnh của PLDD mặc dù cao hơn nhiều so với dùng thuốc và vật lý trị liệu nhưng lại thấp hơn so với mổ hở hoặc nội soi.

BS Võ Xuân Sơn, Bệnh viện Chợ Rẫy
Theo Ykhoanet
Thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng - cùng là bệnh khá thường gặp trong cuộc sống, bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng tập trung ở lứa tuổi lao động từ 20-50 tuổi. Đối với bệnh lý này, biện pháp điều trị được áp dụng nhiều là nội khoa, tuy nhiên có khoảng 12% phải điều trị bằng phẫu thuật. Có nhiều phương pháp phẫu thuật như tạo hình nhân nhầy đĩa đệm, lấy đĩa đệm qua da, mổ nội soi, mổ mở, mổ vi phẫu… tùy thuộc vào mức độ thoát vị đĩa đệm và các bệnh lý kết hợp. Đối với các bệnh nhân thoát vị đĩa đệm kèm theo hẹp ống sống khi được phẫu thuật không chỉ lấy bỏ khối thoát vị mà phải cắt bỏ dây chằng vàng (đã bị cốt hóa) giải ép cả hai bên. Tuy nhiên, việc cắt cung sau rộng có thể dẫn đến trượt, yếu đốt sống... nên người bệnh cần được làm vững cột sống ngay trong phẫu thuật. Trước đây, bác sĩ sử dụng nẹp vít để làm vững cột sống nhưng lại làm cột sống trở nên cứng, cử động hạn chế. Khắc phục tình trạng này, các bác sĩ Khoa Phẫu thuật thần kinh - Bệnh viện 103 đã thực hiện làm vững cột sống bằng dụng cụ cố định liên gai sau DIAM. Kết quả cho thấy, khi phẫu thuật cho phép mổ giải ép rộng giúp người bệnh đỡ đau ngay sau mổ với tỷ lệ đạt trên 93%. Đồng thời còn tạo điều kiện cho người bệnh tập vận động phục hồi chức năng sớm, trên 74% người bệnh có thể tự đi lại sau 2-4 ngày phẫu thuật. Ngoài ra, dụng cụ DIAM còn không làm cứng đốt sống, tính năng đàn hồi mạnh mẽ và tương thích với chuyển động của cột sống đã giúp bệnh nhân trở lại lao động bình thường và chưa có trường hợp nào trượt đốt sống và sẹo dính phải phẫu thuật lại.        

 Hoàng Khánh
Theo SKĐS
Thoát vị đĩa đệm xảy ra bất kỳ phần nào của cột sống như phần cột sống cổ, cột sống thắt lưng, trong đó chủ yếu thoát vị cột sống thắt lưng với các triệu chứng đau, tê mỏi vùng thắt lưng lan xuống mông, đùi và cẳng chân, cảm giác yếu cơ,... Ðây là căn bệnh rất phổ biến và có thể gây tàn phế nếu không được điều trị. Do đó người bệnh cần đi khám và điều trị sớm khi thấy các triệu chứng của bệnh, không nên chủ quan, nhất là ở một số đối tượng có nhiều nguy cơ như: những người thường xuyên làm việc nặng nhọc, công nhân bốc vác, chơi thể thao, tư thế ngồi học, làm việc sai cách, mắc các bệnh lý cột sống như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống,…

Thoát vị đĩa đệm là gì?

Cột sống do nhiều đốt ghép lại. Giữa các đốt sống lại được ngăn với nhau bởi những đĩa đệm. Đĩa đệm nằm giữa các đốt sống, có tác dụng như một gối đỡ đàn hồi, giúp cột sống thực hiện các động tác cúi, ưỡn, nghiêng, xoay. Cấu trúc của đĩa đệm bao gồm có bao xơ bên ngoài, cấu tạo từ các vòng sợi dai, chắc và nhân nhầy ở dạng keo bên trong. Khi cấu trúc bao xơ bị yếu do đứt một số vòng sợi thì áp lực nhân nhầy sẽ đẩy chỗ đó phình ra khỏi vị trí bình thường, nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài gọi là thoát vị đĩa đệm.


Nhận biết bệnh dựa trên các biểu hiện nào?

Cơn đau do thoát bị đĩa đệm thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thường có triệu chứng như: Đau vùng cổ, gáy, vai, dọc theo cánh tay. Tê cánh tay, bàn tay, các ngón tay. Teo, yếu cơ cánh tay, ngón tay. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thường có triệu chứng như: Đau, tê vùng thắt lưng, mông, dọc theo đùi, cẳng chân, bàn chân. Teo, yếu cơ đùi, cẳng chân, bàn chân. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị. Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt.

Những di chứng của bệnh

Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống gây các triệu chứng đau, tê, teo cơ, liệt cơ. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bệnh có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Người bệnh có thể bị tàn phế do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cũng có thể dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Các chi dần bị teo cơ, có thể mất khả năng lao động và vận động.

Những trường hợp dễ bị thoát vị đĩa đệm?

Có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Thứ nhất do chấn thương cột sống như tai nạn giao thông, tai nạn lao động,… Thứ hai là ở những người trên 30 tuổi, cột sống bắt đầu thoái hóa đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách khi nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống. Hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng sai cách. Thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng. Nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi làm việc không đúng cách gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp… Ngoài ra, các bệnh lý cột sống bẩm sinh như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây thoát vị đĩa đệm


Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm tại Bệnh viện Việt Đức.  Ảnh: Tường Linh
Các phương pháp điều trị

Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm. Để chẩn đoán chính xác thoát vị đĩa đệm người bệnh cần chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ.

Khi có kết luận thoát vị đĩa đêm, tùy thuộc vào mức độ và những triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ quyết định điều trị nội khoa hay chỉ định phẫu thuật. Đối với thoát vị mức độ nhẹ có thể dùng thuốc, thực hiện các bài tập, vật lý trị liệu phục hồi chức năng. Nếu thoát vị nặng, khối thoát vị chèn ép vào dây thần kinh có thể gây biến chứng như: liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn, thì phẫu thuật là phương pháp giúp bệnh nhân giảm chèn ép và tránh các biến chứng do thoát vị gây ra. Hiện nay có nhiểu phương pháp điều trị như làm giảm áp lực nhân đĩa đệm như: đưa sóng radio vào vùng đĩa đệm thoát vị làm cho khối thoát vị bị thu nhỏ, trở về vị trí cũ, giải phóng thần kinh bị chèn ép; dùng hiệu ứng nhiệt của tia laser để hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng chèn ép thần kinh; Lấy nhân đệm bằng phương pháp mổ hở, mổ nội soi,…

Cần có biện pháp phòng tránh

Thoát vị đĩa đệm gây nên những cơn đau khó chịu, thường xuyên tái phát, làm giảm khả năng vận động, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nếu không điều trị bệnh có thể gây biến chứng nặng nề, do đó người bệnh cần đi khám chuyên khoa khi có dấu hiệu của bệnh để được điều trị kịp thời. Không nên chủ quan cho đó là do tuổi tác, lao động nặng nhọc mới bị đau lưng, đến khi bệnh tiến triển nặng, người bệnh không thể chịu nổi các cơn đau thường xuyên hoặc xuất hiện biến chứng mới đi khám thì rất khó điều trị và điều trị rất tốn kém, thậm chí có thể bị tàn phế. Do đó, cần phải có biện pháp phòng tránh thoát vị đĩa đệm như: Luôn duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi hợp lý; thường xuyên tập thể dục rèn luyện để có một cơ thể khỏe mạnh và cột sống vững chắc. Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày (ngồi học, ngồi làm việc, mang vác vật nặng đúng cách...). Hạn chế mọi nguy cơ bị chấn thương khi lao động, tham gia giao thông, các vận động, động tác thể thao quá mức và kéo dài,…

Bác sĩ Trọng Nghĩa  
Theo SKĐS
Đau lưng luôn là nỗi ám ảnh của người lớn tuổi hoặc người lao động nặng. Đau lưng có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng ngại nhất là tình trạng thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ), chủ yếu gây đau vùng thắt lưng, cản trở hầu như mọi sinh hoạt thường nhật của bệnh nhân. Điều trị TVĐĐ có nhiều phương cách.

Thời gian gần đây, y học hiện đại đã mang đến cho bệnh nhân nhiều cơ hội mới.

Nguyên nhân thoát vị đĩa đệm

Đĩa đệm (ĐĐ) là chiếc gối đệm đàn hồi có dạng như một thấu kính lồi chêm vào giữa 2 đốt sống nhằm tạo sự uyển chuyển cho cột sống trong các động tác xoay, nghiêng, ưỡn, cúi... Đồng thời, ĐĐ còn là vật hộ thân giúp cột sống phân tán trọng lực và lực đè ép từ bên trên do khiêng vác vật nặng và chống rung lắc cho cơ thể. Để thực hiện được các chức năng trên, ĐĐ có một cấu tạo đặc biệt gồm nhân nhầy, bao quanh là các vòng sợi và dây chằng, TVĐĐ hình thành khi vì một lý do nào đó (lão hóa, thoái hóa, chấn thương...) các cấu trúc vòng ngoài xuất hiện “lỗ mọt” hay rách hẳn, mở đường cho nhân nhầy thoát ra chảy vào ống sống hay lỗ tiếp hợp, chèn vào búi thần kinh, gây ra hiện tượng đau thắt lưng dai dẳng. TVĐĐ hay xảy ra ở vùng thắt lưng lan xuống mông, chân, thường được gọi là đau thần kinh tọa.

Phương pháp chẩn đoán

Một thầy thuốc kinh nghiệm có thể xác định TVĐĐ qua thăm khám lâm sàng, nhưng để chẩn đoán chính xác cần nhìn qua phim X-quang hay bổ sung chụp cản quang, ghi điện cơ... Hiện nay, người ta còn sử dụng CT scan hay MRI (cộng hưởng từ) khá hiệu quả trong việc chẩn đoán.

Điều trị TVĐĐ thắt lưng

Tùy thuộc mức độ nặng - nhẹ (chủ yếu căn cứ vào lượng nhân nhầy thoát ra nhiều hay ít và mức độ chèn ép thần kinh), các thầy thuốc sẽ dành cho bệnh nhân những can thiệp vừa phải trước, sau đó tùy tình hình sẽ lựa chọn biện pháp triệt để hơn. Lần lượt gồm có:

- Kéo giãn cột sống thắt lưng bằng giường kéo:

Mục đích làm giảm áp lực đè lên các đốt sống thắt lưng mở đường cho nhân nhầy quay trở lại vị trí cũ. Giường kéo là một thiết bị chuyên dụng nhưng không phức tạp lắm, áp dụng nguyên lý đơn giản là cố định phần trên thân thể, phần dưới nối với hệ thống ròng rọc có treo quả cân nặng để duy trì lực kéo thường xuyên và từ từ. Trọng lượng quả cân sẽ tăng dần theo thời gian, đôi khi người ta dùng chính sức nặng của bệnh nhân làm lực kéo (nằm trên giường dốc xuống).

Ngoài ra, các thầy thuốc còn thêm vài trợ giúp như xông hơi thuốc, áp nhiệt, chiếu tia hồng ngoại, xung điện... nhằm mục đích giãn cơ, giảm đau. Mọi chi tiết về chỉ định, kỹ thuật, thời gian kéo sẽ được áp dụng cụ thể cho từng bệnh nhân. Những trường hợp thoát vị bán cấp hay mạn tính thường là lựa chọn của biện pháp này.

- Tiêm nội đĩa đệm:

Tác động vào chính ĐĐ với mong muốn thu nhỏ hay tiêu hẳn khối thoát vị để giảm áp lực căng phồng, giải phóng sự chèn ép của nó vào thần kinh. Biết được thành tố chính của nhân nhầy là một loại protein, nhiều chất tiêu đạm thịnh hành được mang ra dùng như chymopain (trích xuất từ một giống đu đủ), collagenase (men tiêu collagen)... Tuy có vẻ khả thi nhưng cho đến nay, nhiều thầy thuốc thường e dè biện pháp này vì những tai biến sốc phản vệ nguy hiểm. Gần đây, người ta đã tính đến việc tiêm máu tự thân của chính bệnh nhân vào ĐĐ với cùng mục đích trên nhưng có thể tránh được hiện tượng phản vệ.

- Phẫu thuật đĩa đệm:

Lựa chọn sau cùng có tính triệt để, nhất là sau khi các biện pháp bảo tồn thất bại, mở đường vào thẳng ĐĐ và lấy đi khối thoái vị.

- Laser điều trị:

Rất may là “cánh tay” ngày càng dài ra của laser đã vươn tới lĩnh vực điều trị TVĐĐ, triển khai vào thập niên 80 và ngày càng thâu tóm mọi ưu điểm mà các thầy thuốc mong muốn. Không ngoài cung cách phá hủy cấu trúc nhân nhầy giải phóng chèn ép (laser điều trị giảm áp đĩa đệm cột sống xuyên da - Percutaneous Laser Disc Decompresion - PLDD), các bác sĩ dùng kim chuyên dụng chọc vào ĐĐ và gửi theo nó một sợi quang học dẫn đường năng lượng bức xạ từ máy phát laser (loại Nd-YAR) vào khởi hoạt hiện tượng quang động làm bốc cháy và bay hơi một phần nhân nhầy.

Ít tai biến, không “động dao, động kéo” nhiều, thời gian hồi phục nhanh, PLDD thường được chỉ định trong khá nhiều trường hợp, trừ khi kèm theo thoát vị là nhiều tổn thương nặng nề khác như rách dây chằng ĐĐ, khối thoát vị quá to hay có các bất thường của cột sống liên quan... thì không còn cách nào khác là phẫu thuật để giải quyết trọn gói.

Sau cùng,  biện pháp nội khoa hỗ trợ như giảm đau, giảm cứng cơ, vật lý trị liệu... luôn được áp dụng song song. Với các cứu cánh trên cùng với sự hợp tác tích cực của bệnh nhân, đa số các trường hợp đau thắt lưng do TVĐĐ đều đạt kết quả khả quan. Vấn đề còn lại là thời gian, tổn phí nằm viện... có thể trở thành trở ngại lớn với bệnh nhân nghèo  là một trong những đối tượng mà bệnh đau thắt lưng hay “viếng thăm” nhất.

Anh Tuấn
(ĐH Y khoa Hà Nội)
Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) thắt lưng là một bệnh phổ biến hiện nay trong các loại bệnh đưa đến đau lưng . Đây là một loại bệnh làm mất khả năng lao động rất nhiều. Phần lớn bệnh nhân trong độ tuổi lao động bị TVĐĐ thắt lưng.

Dấu hiệu của bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng

+ Đau vùng thắt lưng và đau thần kinh toạ. Triệu chứng từ nhẹ đến nặng.

+ Đau mỏi thắt lưng

+ Đau mông có thể lan ra háng. Lan xuống mặt sau đùi, bắp chân, bàn chân.

- Tê chân, cảmgiác kiến bò, cảm giác nóng rát chân.

- Bắt đầu teo cơ tứ đầu đùi (quadriceps), cơ bắp chuối (Gastroenemius).

- Liệt nhẹ chân.

- Các dấu hiệu dương tính: Lasèque (+). Déjerine (+). Sonnette (+). Test passiveextension (+)... góp phần xác định chẩn đoán. Ngoài ra, các xét nghiệm cận lâm sàng giúp chẩn đoán chính xác, nhất là MRI.

* Điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm

Như báo "Sức Khỏe & Đời Sống" số 76 đã đăng "điều trị đau lưng tại nhà" của BS Phan Hữu Phước. Ngoìa ra các bài tập làm mạnh cơ bụng, cơ lưng, kéo dãn cơ lưng, cơ Hamstrings (cơ ba đầu đùi),... vật lý trị liệu còn có kỹ thuật kéo xương chậu (Pelvic Traction) rất quan trọng cho việc phục hồi bệnh nhân bị TVĐĐ thắt lưng. Trọng lượng kéo thay đổi tùy theo tuổi, bệnh lý (tim mạch, loãng xương,...), tình trạng co cứng cơ duỗi lưng, thể lực của bệnh nhân,...

Thông thường bắt đầu kéo xương chậu từ 1/3 trọng lượng cơ thể và tăng dần từ từ đến 1/2 trong lượng cơ thể là tối đa. Dưới 1/4 trọng lượng cơ thể sẽ không có giá trị phục hồi.

* Mục đích kéo xương chậu:

Tứ thế bệnh nhân: nằm ngửa, hông và gối được nâng đỡ ở tư thế gập, sẽ có những ưu dđiểm sau:

- Giảm sức ép lên các đĩa đệm vùng thắt lưng, do cơ hông thăn (psoas) ở tư thế dãn, nghỉ.

- Giảm sức ăng lên dây thần kinh tọa.

- Tứ thế dễ chịu, giu1p bệnh nhân thư giãn.

Lực kéo xương chậu là hợp lực của 2 lực: một phía bờ trước hỏm chén và một phía bờ sau hõm chén của đầu trên xương đùi. Hợp lực này đi qua một ròng rọc cố định và hợp với mặt phẳng ngàng một góc không quá 30 độ.

Vật lý trị liệu rất cần cho bệnh nhân bị TVĐĐ thắt lưng trong điều trị bảo tồn. Trong đó với phương pháp kéo xương chậu đúng tư thế sinh cơ học (biómechanic) thắt lưng và đủ trọng lượng sẽ giúp bệnh nhân phục hồi rất nhanh từ 3 tuần đến 10 tuần tùy theo tình trạng nặng nhẹ (trừ trường hợp rách đĩa đệm và thoát vị đĩa đệm trung ương).

Phương pháp kéo đơn giản, dễ thực hiện, rẻ tiền và có hiệu quả cao, những bệnh nhân ở xa nơi điều trị có thể tự thực hiện tại nhà và kết quả vẫn tốt.

Giảm dùng thuốc quá lâu (gây loét dạ dày...) bệnh nhân chỉ dùng thuốc trong giai đoạn đầu, khi giảm đau trên 50% sẽ bỏ thuốc dần và tập vật lý trị liệu thuần túy (theo ý kiến BS).

Sau đây là thống kê 2 năm (1997 - 1998) số lượng bệnh nhân bị TVĐĐ được điều trị vật lý trị liệu tại Bệnh viện CTVT 8:

Thời gian tập VLTL

Số lượng bệnh nhân

Kết quả

Thất bại (mổ) TB Tốt

Dưới 1 tuần và tự bỏ

372



1/2 tháng

303

2 207 94

3 tuần

323

1 117 205

1 tháng

420

0 97 323

2 tháng đến 3 tháng

259

0 46 213

Tổng số bệnh nhân: 1677        Tự bỏ điều trị                 372

                                                           Phục hồi trung bình         467

                                                           Phục hồi tốt                               835

                                                           Thất bại                                    03

Thất bại : Bệnh nhân bị rách đĩa đệm trung ương nên cần can thiệp                         bằng phẫu thuật.

Trung bình : Giảm đau từ 40% đến 60%

Tốt       : Giảm đau trên 60%, Lasẽque (-) hay (+) yếu.

BS. CK II NGUYỄN ĐỨC HIỆP

Giám đốc BVGTVT 8

Cử nhân VLTL NGUYỄN THỊ THU
Theo Ykhoanet
Điều trị thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cột sống bằng sóng radio là một phương pháp được ứng dụng ở nhiều chuyên khoa thần kinh, cột sống ở nước ta. Tuy nhiên đây là một kỹ thuật nội khoa với chỉ định rất hạn chế. Vì vậy không phải ai cũng có thể điều trị hiệu quả bằng biện pháp này.

Dùng sóng radio điều trị thoát vị đĩa đệm

Dùng sóng radio điều trị TVĐĐ thuộc phạm vi điều trị nội khoa. Các phương pháp điều trị nội khoa bao gồm dùng thuốc, vật lý trị liệu, tia hồng ngoại, chườm nóng… nhằm hạn chế sự chèn ép của khối thoát vị đối với các rễ thần kinh. Riêng với phương pháp dùng sóng radio được tiến hành như sau: Người ta đưa sóng radio vào nơi đĩa đệm bị thoát vị thông qua một mũi kim. Với nguồn nhiệt độ từ 40-700C, các bước sóng radio sẽ tác động đến khối thoát vị, làm cho khối thoát vị thu nhỏ lại, trở về đúng vị trí, làm cho nó không còn chèn ép vào các rễ thần kinh cột sống nữa. Ưu điểm của nó là ít đau, bệnh nhân có thể ra viện trong ngày, ít gặp biến chứng.

Tuy nhiên đây là một biện pháp nội khoa có chỉ định rất hạn chế. Nếu chỉ định đúng thì có thể mang lại thành công khoảng 80-90%. Tại Việt Nam, để sàng lọc ra những bệnh nhân theo đúng yêu cầu chỉ định của phương pháp là không dễ vì đa số bệnh nhân đến bệnh muộn, có nhiều biến chứng.


Thoát vị đĩa đệm.
Điều trị bằng sóng radio không thay thế được phẫu thuật

Dùng sóng radio là biện pháp nội khoa điều trị TVĐĐ vì thế nó cũng không thay thế được phẫu thuật khi không mang lại hiệu quả. Trước đây vài năm người ta rộ lên điều trị TVĐĐ bằng tia laser. Nguyên lý của phương pháp này là dùng hiệu ứng nhiệt của laser đốt hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng rễ thần kinh. Tuy nhiên nhiều trường hợp điều trị không đạt kết quả, thậm chí đã tiến hành laser vài lần. Thất bại của điều trị laser không phải tại phương pháp mà phải xem lại chẩn đoán đã đúng chưa, kỹ thuật thực hiện có đảm bảo không, người bệnh có tuân thủ đúng những yêu cầu sau điều trị không…

Chỉ định của phương pháp này rất hẹp, nó chỉ được áp dụng cho những bệnh nhân chỉ có TVĐĐ trong thời gian chưa lâu và không có bệnh lý nào khác ở cột sống đi kèm. Trong khi hầu hết bệnh nhân TVĐĐ ở nước ta đến bệnh viện điều trị thường có thời gian mắc bệnh đã lâu, đều có các bệnh lý cột sống đi kèm, hay gặp nhất là thoái hoá cột sống, gai cột sống… Điều trị bằng sóng radio chỉ giải quyết được phần thoát vị mà không xử trí được các bệnh cột sống khác, do vậy những bệnh nhân không được chẩn đoán chính xác sẽ vẫn còn đau sau điều trị, sẽ làm nhiều người nghi ngờ biện pháp này.

Đối với người bệnh đã xác định bị TVĐĐ, cần được khám kỹ xem có mắc các bệnh lý khác ở cột sống không mới nên tiến hành điều trị bằng radio. Nếu bệnh đã lâu, có các bệnh khác ở cột sống đi kèm, các biện pháp điều trị nội khoa không hiệu quả thì nên được phẫu thuật sớm.          

ThS. Phan Ngọc Minh
Theo SKĐS
Các phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm

Điều trị thoát vị đĩa đệm tùy theo tính chất tổn thương, biến chứng của bệnh cũng như mức độ ảnh hưởng của bệnh lên khả năng vận động và sinh hoạt của người bệnh. Các biện pháp điều trị bao gồm điều trị nội khoa, Đông y, vật lý trị liệu, phục hồi chức năng và cả ngoại khoa. Điều trị nội khoa bằng thuốc có thể chữa khỏi đa số các trường hợp thoát vị đĩa đệm. Đó là dùng thuốc giảm đau (paracetamol, efferalgan codein), thuốc chống viêm không steroid (celebrex, mobic), thuốc giãn cơ (myonal). Ở cơ sở chuyên khoa khớp có điều kiện kỹ thuật và vô khuẩn người ta còn tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison. Có thể dùng các biện pháp nắn chỉnh cột sống như tác động cột sống, kéo dãn cột sống, mang dụng cụ cố định cột sống cổ hay thắt lưng bị đau. Ở 1-3 tuần đầu tiên, việc tác động cột sống làm giãn các mâm sống và dịch chuyển phần đĩa đệm bị lồi trở lại vị trí bình thường. Kéo dãn cột sống bằng dụng cụ chỉ định cho lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. Đeo đai lưng hay yếm cổ có tác dụng làm giảm tải tác động lên đĩa đệm. Gần đây người ta bắt đầu sử dụng laser, sóng radio để điều trị đau thần kinh tọa. Về điều trị bằng Đông y, người ta thường áp dụng các phương pháp xoa bóp, châm cứu, ấn huyệt, thủy châm. Xoa bóp có tác dụng giảm đau, chống co cứng và cải thiện chức năng các cơ cạnh cột sống. Trị bệnh bằng châm cứu được phát triển ở Trung Quốc từ 2-3 ngàn năm nay. Châm cứu kích thích tiết ra những chất hóa học tự nhiên có tác dụng giảm đau. Các biện pháp vật lý trị liệu thường dùng là liệu pháp nhiệt như chườm túi lạnh, tắm nước nóng, dùng đệm sưởi nóng. Có thể dùng các biện pháp khác như chiếu tia hồng ngoại, laser, sóng ngắn, từ trường, điện dẫn thuốc... Khi có điều kiện có thể dùng liệu pháp tắm cát, đắp bùn, tắm suối khoáng, tắm biển. Phẫu thuật chỉ có chỉ định trong một số rất ít các trường hợp. Đó là khi điều trị nội khoa không đỡ sau 6 tháng, hay có một số biến chứng của bệnh như liệt và teo cơ, rối loạn cơ tròn. Phẫu thuật nhằm giải phóng rễ thần kinh khỏi bị chèn ép. Đó là các biện pháp cắt bỏ đĩa đệm qua da, mổ cắt cung sau, mổ lấy nhân thoát vị.
Các biện pháp phòng tránh và luyện tập cho người bệnh bị thoát vị đĩa đệm

Để phòng tránh thoát vị đĩa đệm cần phải rèn luyện một cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc, ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý. Điều quan trọng là biết giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng. Điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm. Người trưởng thành cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Hiện nay các nhân viên văn phòng thường ngồi làm việc liên tục hàng giờ liền bên máy vi tính. Điều đó làm cho cơ vai, cổ phải co cứng thường xuyên để giữ đầu cố định, gây chứng đau vai, gáy. Ngoài ra cột sống cổ cũng phải gánh tải trọng của đầu trong thời gian dài, làm tăng áp lực lên đĩa đệm. Kết quả là đĩa đệm cột sống cổ dễ bị thoái hóa và thoát vị. Ngồi lâu kéo dài trong tư thế gò bó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cột sống thắt lưng và cũng là yếu tố nguy cơ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Do vậy sau khi ngồi khoảng 1 giờ cũng nên đứng dậy nghỉ ngơi 5-10 phút, vừa bảo vệ mắt lại vừa giữ gìn đĩa đệm cột sống. Cũng cần tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức và kéo dài.

Khi đã bị thoát vị đĩa đệm rồi thì cần phải áp dụng bổ sung các biện pháp dự phòng bệnh tái phát. Bệnh nhân cần bỏ rượu, thuốc lá, giảm cân với những người béo phì, tránh những căng thẳng quá mức về tâm lý. Thực hiện các động tác sinh hoạt hằng ngày thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần đeo đai lưng hay bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống cổ cần đeo yếm cổ. Cần tập thể dục nhẹ nhàng thường xuyên, không quá sức để nâng cao thể lực. Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng cần áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai của các khối cơ lưng và cơ bụng. Có thể đi bộ trên nền phẳng, bơi, đạp xe. Cần chú ý rằng đi xe máy, ô tô trên đường xóc, mấp mô cũng là một nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Do vậy người bị thoát vị đĩa đệm cần tránh đi xe đường xóc. Nếu cần phải đi ô tô, xe máy thì cần đeo đai lưng. Ngoài ra cần điều trị kịp thời các bệnh lý cột sống. Cần cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế các sang chấn về tinh thần, chấn thương do lao động. Thích nghi với nghề nghiệp: tránh các nghề như lái mô tô, máy kéo...
Theo SKĐS
Nhờ tính chất đàn hồi nên đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm sóc, giúp cho cột sống thực hiện chức năng vận động của mình (cúi, ngửa, nghiêng...) một cách mềm dẻo. Khi vòng sợi bao quanh bị rách, nhân nhầy thoát ra ngoài khỏi vị trí giữa hai đốt sống, thường là về phía sau gây chèn ép tủy sống hoặc các rễ thần kinh. Hiện tượng trên gọi là thoát vị đĩa đệm. Theo nhiều nghiên cứu, thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân chủ yếu chiếm tới 80% các trường hợp đau cột sống thắt lưng.

Có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống, trong đó phải kể đến các nguyên nhân hàng đầu là các chấn thương cột sống, sau đó là các tư thế xấu trong lao động. Các chấn thương vào vùng cột sống như ngã ngồi đập mông xuống đất, chấn thương tác động trực tiếp vào vùng cột sống hoặc các tư thế xấu như cúi, nghiêng hay xoay người nhấc vật nặng - đặc biệt nhấc vật nặng ở cách xa người dễ gây thoát vị đĩa đệm.

Tùy theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng khác nhau. Thoát vị đĩa đệm ở vùng cột sống thắt lưng hay gặp nhất (trên 90% các trường hợp thoát vị đĩa đệm cột sống) gây đau thắt lưng cấp hay mạn tính, đau thần kinh tọa một hay cả hai bên, đau thần kinh đùi bì. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ gây đau cổ, đau vai gáy, đau cánh tay: hội chứng cổ - vai - cánh tay. Trường hợp nặng chèn ép vào tủy sống sẽ gây yếu cánh tay hoặc liệt tứ chi.


Điều trị

Tùy theo tính chất tổn thương, vị trí, biến chứng cũng như mức độ ảnh hưởng tới khả năng vận động, lao động và sinh hoạt của người bệnh mà cân nhắc tới các biện pháp điều trị bảo tồn và điều trị can thiệp phẫu thuật. Điều trị bảo tồn bao gồm các biện pháp như: nghỉ ngơi; vật lý trị liệu xoa bóp, tắm suối khoáng, đắp bùn; chiếu đèn hồng ngoại, sóng ngắn, điện phân, đắp dầu paraphin... Có thể dùng các biện pháp như tác động cột sống, kéo giãn cột sống trong điều trị bệnh. Một vài tuần đầu tiên, khi tổn thương thoát vị đĩa đệm còn mới chưa bị xơ hóa, việc tác động cột sống làm giãn các mâm sống và dịch chuyển phần đĩa đệm bị lồi trở lại vị trí bình thường. Kéo giãn cột sống bằng dụng cụ cũng có tác dụng tương tự, chỉ định cho lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. Mặc áo nẹp cột sống có tác dụng cố định tạm thời, hạn chế các động tác lên vùng cột sống tổn thương, qua đó giảm lực tác động lên đĩa đệm.

Biện pháp dùng thuốc bao gồm các thuốc giảm đau đơn thuần như paracetamol; giảm đau chống viêm không steroid như diclofenac, meloxicam... uống, tiêm hoặc bôi tại chỗ. Lưu ý các thuốc trên dùng đường toàn thân có thể ảnh hưởng tới dạ dày, chức năng gan, thận... Các thuốc giãn cơ như mydocalm, myonal được chỉ định trong trường hợp co cứng cơ cạnh cột sống. Có thể bổ sung các thuốc bổ thần kinh như vitamin B1, B6, B12; các thuốc giảm đau thần kinh như neurontin. Nhìn chung không có chỉ định dùng thuốc giảm đau chống viêm loại steroid như prednisolon, dexamethason... đường toàn thân vì có nhiều tác dụng phụ. Một số trường hợp hãn hữu như đau nhiều không đáp ứng với các biện pháp trên, đặc biệt kèm phù tủy có thể methylprednisolon đường tĩnh mạch liều cao, ngắn ngày, giảm liều nhanh nhưng phải có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa và phải được theo dõi chặt chẽ các biến chứng. Đối với đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, có thể áp dụng biện pháp dùng thuốc tại chỗ là tiêm ngoài màng cứng bằng hydrocortison với liệu trình mỗi đợt 3 mũi, mỗi mũi cách nhau 3-7 ngày cũng cho hiệu quả giảm đau khá tốt. Tuy nhiên, việc tiêm ngoài màng cứng phải được thực hiện tại cơ sở chuyên khoa khớp có kinh nghiệm, trong điều kiện tuyệt đối vô khuẩn.

Gần đây, người ta bắt đầu sử dụng tia laser, sóng radio qua da để điều trị đau do thoát vị đĩa đệm. Đây là các phương pháp an toàn, tuy nhiên chỉ có hiệu quả khi chỉ định trong những trường hợp nhẹ, nhân nhầy mới chỉ lồi vào ống sống và không có các tổn thương kèm theo như gai xương, xẹp trượt đốt sống, hay phối hợp dày dây chằng vàng.

Phương pháp phẫu thuật ngoại khoa được chỉ định trong các trường hợp sau: thoát vị đĩa đệm gây hội chứng đuôi ngựa (biểu hiện bí đại, tiểu tiện, mất cảm giác đau xung quanh hậu môn và bộ phận sinh dục); có liệt chi; đau quá mức, các thuốc giảm đau không hoặc rất ít tác dụng; sau khoảng 6 tháng áp dụng các biện pháp điều trị nội khoa không có kết quả. Phẫu thuật nhằm giải phóng rễ thần kinh khỏi bị chèn ép. Bao gồm các biện pháp: Kinh điển là mổ cắt cung sau lấy bỏ khối thoát vị - nhìn chung là can thiệp rộng, nhiều biến chứng về sau, đặc biệt là tái phát đau do vết mổ cũ xơ dính. Về sau, các kỹ thuật được cải tiến hơn như phẫu thuật mở nhỏ (mini- open); cắt bỏ đĩa đệm qua da; mổ nội soi lấy nhân thoát vị; mổ nội soi hút nhân nhầy... Trường hợp tổn thương có trượt đốt sống phối hợp gây mất vững có thể cố định cột sống bằng khung kim loại. Phẫu thuật thay đĩa đệm mới nhìn chung ít được chỉ định.

Phòng thoát vị đĩa đệm

Cần rèn luyện để đạt được cơ thể khỏe mạnh và đặc biệt là một cột sống vững chắc ngay từ tuổi trẻ bằng chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý. Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong lao động, học tập cũng như sinh hoạt hàng ngày; tránh cúi người khiêng vác vật nặng; tránh mọi chấn thương cho cột sống.          

ThS. Bùi Hải Bình
suckhoedoisong.vn
Thoát vị đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài và chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống. Những chấn thương như ngã ngồi, trượt chân, cố sức nâng vật nặng... có thể gây bệnh.

Các triệu chứng của bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống có thể xuất hiện ngay sau chấn thương hoặc vài tháng, thậm chí vài năm sau đó. Vì thế, phương pháp xác định bệnh hiệu quả nhất là chụp cộng hưởng từ MRI. Nếu chụp phim sẽ khó phát hiện do nhân keo đĩa đệm không cản quang, hoặc chỉ nhận ra qua những dấu hiệu như cột sống lệch trục, hẹp khoảng liên đốt sống. Lưu ý là có thể nhầm thoát vị đĩa đệm với bệnh thoái hóa đốt sống, viêm cột sống dính khớp, lao cột sống hay u rễ thần kinh.

Một số triệu chứng điển hình của thoát vị đĩa đệm cột sống:

- Đau lưng: cảm giác đau giảm khi nằm nghiêng và tăng khi ho hoặc đại tiện.

- Đau khi gõ hoặc ấn vào khoảng liên đốt.

- Đau tự nhiên vùng xung quanh gai sau. Nếu bệnh nặng có thể cảm giác đau lan xuống vùng mông và đùi.

- Hạn chế cử động cột sống: không còn khả năng ưỡn của thắt lưng.

- Không cúi được sâu: khoảng cách giữa ngón tay và mặt đất khi cúi người thả lỏng tay lớn hơn 50 cm.

- Giảm vận động chân và giảm cảm giác vùng da chân. Trường hợp nặng có thể bị liệt.

Cách điều trị:

- Áp dụng xen kẽ việc nằm nghỉ trên nền cứng, bó bột, làm nóng tại chỗ bằng chiếu tia, xoa bóp.

- Dùng thuốc giảm đau hoặc tiêm corticoid tại chỗ.

- Dùng phương pháp kéo nắn cột sống giúp đẩy đĩa đệm về vị trí cũ.

- Sau giai đoạn cấp, cần tránh những động tác quá sức như mang vác nặng, cúi gập người…

- Khi có rối loạn vận động trầm trọng hoặc bị ép tủy, đã điều trị phục hồi 3 tháng nhưng không có kết quả, cần cắt là cột sống, cắt thoát vị, nạo đĩa đệm…

- Làm giảm áp đĩa đệm bằng laser: dùng kim chọc vào nhân keo dưới sự hướng dẫn của X-quang tăng sáng 3 chiều. Dây dẫn của máy phát laser được luồn qua kim tới nhân. Khi phát tia, nhân keo bị tiêu hủy một phần nên co lại, làm giảm áp lực đè lên các dây thần kinh. Kỹ thuật này có thể áp dụng cho hầu hết các thoát vị đĩa đệm, trừ những trường hợp quá nặng như khối thoát vị quá lớn, trượt đốt sống...

Bác sĩ Nguyễn Minh Hồng, Sức Khỏe Gia Đình

Việt Báo (Theo_VnExpress.net)
Dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia Đức, ngày 3/9, bệnh viện Việt Đức (Hà Nội) tiến hành ca mổ phẫu thuật nội soi lấy thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng qua lỗ liên hợp đầu tiên. Đây là kỹ thuật mới nhất, lần đầu tiên được áp dụng tại châu Á. Bệnh nhân là anh Đinh Văn H. 40 tuổi ở Lý Nhân, Hà Nam.

TS Đinh Ngọc Sơn, Phó trưởng khoa cột sống cho biết, bệnh nhân bị tái phát thoát vị đĩa đệm đốt sống 3 – 4 đã bị vỡ và di dời trong ống sống. Nguyên nhân là cách đây 7 năm bệnh nhân đã được mổ mở tại một bệnh viện khác, sau đó lại tái phát và đau ngày càng nhiều. Cách đây 6 tháng, bệnh nhân bị đau dữ dội và đi lại rất khó khăn. Nếu tiến hành mổ mở hay các phương pháp khác sẽ rất khó khăn do vết môt cũ bị tổn thương và dính nhiều. Vì vậy, các bác sĩ đã quyết định tiến hành mổ nội soi.

9h15 phút ca mổ được bắt đầu. Các bác sĩ nhẹ nhàng tạo một lỗ thông rất nhỏ 5mm bên sườn bệnh và đưa đường cáp quang nhỏ và một ống thông vào. Vừa làm các bác sĩ vừa hỏi chuyện xem bệnh nhân có đau không. Sau đó chụp toàn bộ các tổn thương xung quanh và bắt đầu đưa dụng cụ vào gỡ dính và lấy nhân đĩa đệm. Trong cả quá trình thực hiện, bệnh nhân không bị chảy máu (do hệ thống đốt và cầm máu bằng sóng cao tần đi cùng kỹ thuật) và không có tổn thương xung quanh. Sau 40 phút thực hiện, ca mổ đã hoàn tất.

Kết thúc ca mổ, TS.BS Nguyễn Văn Thạch, Phó Giám đốc, Trưởng khoa cột sống bệnh viện Việt Đức cho biết, bình thường ca mổ chỉ mất khoảng 15 phút, xong ca đầu tiên do kỹ thuật mới, chuyên gia Đức vừa mổ vừa chuyển giao kỹ thuật cho các bác sĩ Việt Nam nên ca mổ kéo dài. Kết quả bước đầu cho thấy, ca mổ đã thành công. Bệnh nhân đã giảm đau rõ rệt và khỏe mạnh gần như bình thường. Bệnh nhân có thể ra viện ngay chiều 3/9, song vì đây là ca đầu tiên nên các bác sĩ sẽ giữ lại cho đến ngày mai để theo dõi. Trong ngày hôm nay, bệnh viện sẽ tiếp tục mổ cho 4 bệnh nhân khác từ 20 – 36 tuổi.

Sau ca mổ, bệnh nhân H tươi cười cho biết: “Tôi không cảm thấy đau, nó chỉ như khi châm cứu, bấm huyệt. Đặc biệt, tôi cảm thấy gần như mình đã hết đau hẳn. Nếu so với cách mổ trước đây, thì phương pháp này nhẹ hơn nhiều...”.

TS Thạch cho biết thêm, đây là kỹ thuật mới lần đầu tiên áp dụng tại châu Á nên bệnh nhân chưa được chi trả bằng bảo hiểm. Song sắp tới, bệnh viện sẽ đề nghị Bộ Y tế đưa kỹ thuật này vào triển khai đại trà và thực hiện chi trả bảo hiểm cho bệnh nhân. Dự kiến mỗi ca khoảng hơn chục triệu đồng.

(Theo Website ĐCSVN)
(Dân trí) - Thoát vị đĩa đệm gây nên các cơn đau thắt lưng với các triệu chứng nhức, tê lan dọc từ thắt lưng xuống mông và chân, hay đau từ vùng cổ - gáy lan ra hai vai và xuống các cánh tay, bàn tay… khiến người bệnh rất khó chịu, đau đớn.


Gặp nhiều ở lứa tuổi lao động
PGS.TS Nguyễn Văn Thạch, Chủ nhiện khoa Phẫu thuật cột sống, bệnh viện Việt Đức cho biết: Thoát vị đĩa đệm là căn bệnh rất phổ biến. Bệnh xảy ra ở khoảng 30% dân số, hay gặp ở lứa tuổi lao động từ 20 - 55 tuổi. Ngoài nguyên nhân do thoái hoá tự nhiên, do bị tai nạn, thì bị thoát vị đĩa đệm phần nhiều là do tư thế lao động, tư thế ngồi, mang vác nặng sai cách.

“Hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng. Thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng, thoát vị đĩa đệm… Đã có nhiều bệnh nhân phải nằm viện điều trị dài ngày chỉ vì hành động bất cẩn đó”, TS Thạch cảnh báo.

GS.TS Trần Ngọc Ân, Chủ tịch Hội thấp khớp học Việt Nam cũng cho rằng: Những trường hợp bị chấn thương cột sống, thoát vị đĩa đệm do bê vác nặng sai tư thế không phải là hiếm. Không chỉ bê vác nặng, mà nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp…

Theo PGS Thạch, thoát vị đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài và chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống. Hiểu nôm na là tình trạng đĩa đệm bị ép lồi ra khỏi vị trí bình thường, giữa các đốt sống.

Cột sống của chúng ta do nhiều đốt ghép lại. Giữa các đốt sống lại được ngăn với nhau bởi những đĩa đệm. Cấu trúc này cho phép các đốt sống chuyển động tương đối với nhau, giúp cơ thể có khả năng cúi, ưỡn, xoay, nghiêng. Nhưng khả năng này sẽ bị mất khi đĩa đệm bị ép lồi ra khỏi vị trí bình thường.

Khi bị thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ, người bệnh có biểu hiện đau vùng gáy, vai. Ðau, tê, mất cảm giác từng vùng ở cả tay, cổ tay, bàn tay. Giảm cơ lực tay. Các hiện tượng đau, nhức, tê tăng lên hay giảm xuống theo cử động cổ tay...

Thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng thì gây đau vùng thắt lưng: cảm giác đau tăng khi nằm nghiêng, ho và đại tiện. Ðau, tê, mất cảm giác từng vùng ở mông, chân, bàn chân, trường hợp nặng có thể bị liệt. Hạn chế cử động cột sống: không còn khả năng ưỡn của thắt lưng, không cúi được xuống thấp…

Tuy nhiên, khi có những dấu hiệu trên, phần lớn người bệnh vẫn cố chịu đựng mà ít chịu đến viện sớm. Vì thế, đa phần bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm đều tới viện khi không thể chịu được tình trạng đau nhức hơn, thường ở giai đoạn muộn 3 và 4, nên khó có thể điều trị nội khoa hoặc tái tạo nhân nhầy được mà phải điều trị bằng ngoại khoa.

Mổ thoát vị đĩa đệm bằng kỹ thuật ít xâm lấn

Theo BS Thạch, mổ hở có thể giải quyết tốt tình trạng thoát vị đĩa đệm tuy nhiên, nó lại có thể để lại những biến chứng đáng ngại cho người bệnh. Sau mổ, người bệnh có thể bị nhiễm trùng, đau, nặng hơn, có thể gây biến chứng liệt, thậm chí tử vong.

“Không chỉ có thể gây biến chứng ở giai đoạn hậu phẫu, mà các biến chứng muộn như viêm vùng mổ, tăng sinh mô xơ sợi, dính rễ thần kinh... có thể xuất hiện. Hơn nữa, cơn đau rất hay tái phát. Có những bệnh nhân sau 3 hoặc 6 tháng đã tái phát các cơn đau...”, BS Thạch nói.

Điều đáng mừng là hiện nay, người bệnh có thể được mổ thoát vị đĩa đệm ít xâm lấn lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam, đã được viện Việt Đức triển khai thành công.

“Sau khi rạch một đường nhỏ 1cm, bác sĩ sẽ đưa hai ống cáp quang vào làm tăng sáng và nhân rộng hình ảnh vùng mổ, giúp phẫu thuật viên tránh làm tổn thương khu vực xung quanh, lấy nhân thoát vị một cách dễ dàng vẫn giúp bệnh nhân giữ được độ vững cột sống, tránh được khả năng tái phát hơn hẳn so với mổ thông thường”.

Đặc biệt, sau mổ, thời gian nằm hậu phẫu được rút ngắn, sau hai ngày mổ bệnh nhân có thể đi lại bình thường, còn sau một tuần là được xuất viện. Một tháng sau có thể đi làm trở lại và đến 6 tháng thì hồi phục hoàn toàn. Hiện đã có trên 100 bệnh nhân được mổ bằng phương pháp này trong 1 năm qua và không thấy tai biến.

Để phòng căn bệnh này, mọi người cần chú ý đến tư thế ngồi, lao động, bê vác… để tránh gây tổn thương cho cột sống.

Tú Linh
Đau vùng cổ là bệnh khá phổ biến, thường gặp ở những người trên 40 tuổi do nhiều nguyên nhân gây nên, trong đó thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là nguyên nhân hay gặp.

Những tư thế nào gây thoát vị đĩa đệm cột sống cổ?

Bình thường cột sống cổ có 7 đốt sống, từ C1 đến C7. Giữa các đốt sống từ C2 trở xuống có các đĩa đệm. Mỗi đĩa đệm dày khoảng 3mm, được cấu tạo bởi các vòng sợi, mâm sụn và nhân nhầy. Khi cột sống di động nhân nhầy di chuyển làm giảm lực tỳ đề lên các đốt sống. Ở những người trên 40 tuổi, đĩa đệm bị thoái hóa, vòng sợi bị nứt rách gây thoát vị nhân nhầy ra khỏi giới hạn của các vòng sợi gọi là thoát vị đĩa đệm.

Thoát vị đĩa đệm có thể diễn ra từ từ trên cơ sở một đĩa đệm đã bị thoái hóa hoặc khởi phát đột ngột sau một động tác cúi, nghiêng hoặc ưỡn cổ quá mức, mạnh và đột ngột (động tác vặn cổ đột ngột trong một số bài massage, động tác gập, ưỡn có quá mức trong một số bài tập Yoga...).

Biểu hiện của thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

Hầu hết là khởi hành từ từ, với biểu hiện đau mỏi và hạn chế vận động cột sống cổ, đau sau khi ngủ dậy, vận động vài động tác đỡ đau. Những trường hợp này bệnh thường diễn biến từng đợt. Tuy nhiên, có khoảng 15% bệnh khởi phát đột ngột, sau một sang chấn cúi hoặc ưỡn cột sống cổ quá mức. Tùy thuộc vào vị trí thoát vị đĩa đệm cột sống cổ (TTĐĐCSC) mà bệnh có thể có các biểu hiện khác nhau.

Đau, là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Đau có thể khu trú ở vùng cổ hoặc vùng vai gáy lan lên chẩm. Đau rát, đau nông ở vùng cổ do rễ thần kinh chi phối, hoặc đau cơ vùng vai gáy. Đau tăng khi vận động cột sống cổ.

Đau vai gáy cấp tính hay vẹo cổ cấp: Đau vùng vai gáy một bên, thường xuất hiện sau khi ngủ dậy. Đau tăng khi ho hắt hơi. Nguyên nhân thường do lao động nặng hoặc bị lạnh gây nên tình trạng co cứng cơ đột ngột. Bệnh có thể khỏi sau vài ngày nhưng dễ tái phát.

Đau vai gáy mạn tính: đau âm ỉ, khi tăng khi giảm. Hạn chế vận động cột sống cổ khi gấp, duỗi, nghiêng, xoay, đôi khi có thể nghe thấy tiếng lạo xạo khi vận động quay cổ.

Ấn vào mỏm vai cột sống cổ thấy đau, có điểm đau cạnh cột sống cổ, co cứng cơ cạnh cột sống. Có tư thế giảm đau như: nghiêng đầu về một bên, vai bên đau nâng cao hơn bên lành. Đau tăng lên khi vừa ấn đầu bệnh nhân xuống vừa cúi, ngửa, xoay nghiêng cổ. Tầm vận động của cột sống cổ bị hạn chế.

Hội chứng rễ thần kinh cổ: Gặp ở 100% trường hợp thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Đau vùng gáy lan theo vị trí do rễ thần kinh chi phối. Thường gặp ở một bên. Tùy theo vị trí đĩa đệm bị thoát vị và rễ thành kinh chi phối mà đau có thể lan tới mỏm vai, cánh tay, cẳng tay, ngón tay, ngực vùng trước tim. Tương ứng với cá vùng có cảm giác đau, người bệnh có thể có biểu hiện yếu cơ delta, cơ nhịp đầu cánh tay, cơ duỗi các ngón tay, cơ gấp ngón tay và cơ bàn tay...

Lưu ý trong sinh hoạt khi bị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

Với những trường hợp cấp tính, cần nghỉ ngơi tuyệt đối (bất động 5 - 7 ngày đầu) Với những trường hợp không cấp tính, nên nghỉ ngơi tương đối: tránh những động tác làm bệnh nặng thêm như mang vác nặng, bẻ cổ, nên nằm nghỉ khi đau nhiều. Ngoài ra, có thể bất động cột sống cổ bằng đai cổ, để cổ trong tư thế thẳng. Tuy nhiên để tránh tình trạng phụ thuộc vào đai cổ phải kết hợp điều trị và tập luyện. Tuy nhiên để tránh tình trạng phụ thuộc vào đai cổ... kết hợp điều trị và tập luyện nhẹ nhàng theo phương pháp vật lý trị liệu.

Theo Quỳnh Nga
Theo Tin tức online
Phẫu thuật tự động qua da là phương pháp chữa thoát vị đĩa đệm mới, hiệu quả, an toàn tuyệt đối mà Bệnh viện Việt Đức vừa áp dụng thành công. Đây là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam thực hiện phương pháp ưu việt này.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thạch, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật Cột sống, Bệnh viện Việt Đức cho biết, phẫu thuật chữa thoát vị đĩa đệm là phương pháp can thiệp tối thiểu nhất nên an toàn tuyệt đối và không để lại biến chứng.

Bác sĩ sẽ sát trùng vùng da bên ngoài, xác định trên X-quang về đĩa đệm cần điều trị rồi dùng một kim có đường kính 1,5mm chọc vào lòng đĩa đệm, hút phần đĩa đệm bị thoát vị. Việc này có tác dụng làm giảm áp lực lên đĩa đệm khiến phần thoát vị co lại.

Đĩa đệm nằm giữa các xương của cột sống. Khi đĩa đệm nào đó bị rách hoặc đứt, những chất dạng gel bên trong nó (nhân tủy) sẽ tràn ra ngoài. Hiện tượng này được gọi là thoát vị nhân tủy - hay thoát vị đĩa đệm. Những người ở độ tuổi từ 30 đến 50 là có nguy cơ bị thoát vị cao nhất do những thành phần nước và đàn hồi bên trong nhân tủy sẽ giảm đi theo tuổi.
Vì chỉ thực hiện qua da, nên phương pháp này không hề ảnh hưởng tới cấu trúc độ vững của cột sống và ít xâm lấn vào các vùng mô mềm khác, bệnh nhân có thể ra viện sau 1-3 giờ điều trị.

Tuy nhiên, theo bác sĩ Thạch, phương pháp này chỉ định khá hạn chế, áp dụng với những trường hợp bị thoát vị ở giai đoạn từ 2 đến 3 trong 4 giai đoạn bệnh thoát vị đĩa đệm, khi bệnh nhân dùng thuốc không hiệu quả nữa nhưng bệnh chưa quá nặng, bao xơ không bị rách.

Hiện đã có hàng chục bệnh nhân được áp dụng cách chữa này và đều có kết quả tốt.

Tiến sĩ Thạch cho biết, thoát vị đĩa đệm là một bệnh khá phổ biến, thường do quá trình lão hóa hay bị chấn thương. Tại Bệnh viện Việt Đức đã áp dụng nhiều phương pháp chữa bệnh này hiệu quả như thay đĩa đệm nhân tạo, điều trị bằng sóng cao tần, mổ nội soi...

Vương Linh
Theo Vnexpress
Đau lưng luôn là nỗi ám ảnh của người lớn tuổi hoặc người lao động nặng. Đau lưng có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng ngại nhất là tình trạng thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ), chủ yếu gây đau vùng thắt lưng, cản trở hầu như mọi sinh hoạt thường nhật của bệnh nhân. Điều trị TVĐĐ có nhiều phương cách. Thời gian gần đây, y học hiện đại đã mang đến cho bệnh nhân nhiều cơ hội mới.

Nguyên nhân thoát vị đĩa đệm

Đĩa đệm (ĐĐ) là chiếc gối đệm đàn hồi có dạng như một thấu kính lồi chêm vào giữa 2 đốt sống nhằm tạo sự uyển chuyển cho cột sống trong các động tác xoay, nghiêng, ưỡn, cúi… Đồng thời, ĐĐ còn là vật hộ thân giúp cột sống phân tán trọng lực và lực đè ép từ bên trên do khiêng vác vật nặng và chống rung lắc cho cơ thể. Để thực hiện được các chức năng trên, ĐĐ có một cấu tạo đặc biệt gồm nhân nhầy, bao quanh là các vòng sợi và dây chằng, TVĐĐ hình thành khi vì một lý do nào đó (lão hóa, thoái hóa, chấn thương…) các cấu trúc vòng ngoài xuất hiện “lỗ mọt” hay rách hẳn, mở đường cho nhân nhầy thoát ra chảy vào ống sống hay lỗ tiếp hợp, chèn vào búi thần kinh, gây ra hiện tượng đau thắt lưng dai dẳng. TVĐĐ hay xảy ra ở vùng thắt lưng lan xuống mông, chân, thường được gọi là đau thần kinh tọa.

Phương pháp chẩn đoán

Một thầy thuốc kinh nghiệm có thể xác định TVĐĐ qua thăm khám lâm sàng, nhưng để chẩn đoán chính xác cần nhìn qua phim X-quang hay bổ sung chụp cản quang, ghi điện cơ… Hiện nay, người ta còn sử dụng CT scan hay MRI (cộng hưởng từ) khá hiệu quả trong việc chẩn đoán.

Điều trị TVĐĐ thắt lưng

Tùy thuộc mức độ nặng – nhẹ (chủ yếu căn cứ vào lượng nhân nhầy thoát ra nhiều hay ít và mức độ chèn ép thần kinh), các thầy thuốc sẽ dành cho bệnh nhân những can thiệp vừa phải trước, sau đó tùy tình hình sẽ lựa chọn biện pháp triệt để hơn. Lần lượt gồm có:

- Kéo giãn cột sống thắt lưng bằng giường kéo:

Mục đích làm giảm áp lực đè lên các đốt sống thắt lưng mở đường cho nhân nhầy quay trở lại vị trí cũ. Giường kéo là một thiết bị chuyên dụng nhưng không phức tạp lắm, áp dụng nguyên lý đơn giản là cố định phần trên thân thể, phần dưới nối với hệ thống ròng rọc có treo quả cân nặng để duy trì lực kéo thường xuyên và từ từ. Trọng lượng quả cân sẽ tăng dần theo thời gian, đôi khi người ta dùng chính sức nặng của bệnh nhân làm lực kéo (nằm trên giường dốc xuống).

Ngoài ra, các thầy thuốc còn thêm vài trợ giúp như xông hơi thuốc, áp nhiệt, chiếu tia hồng ngoại, xung điện… nhằm mục đích giãn cơ, giảm đau. Mọi chi tiết về chỉ định, kỹ thuật, thời gian kéo sẽ được áp dụng cụ thể cho từng bệnh nhân. Những trường hợp thoát vị bán cấp hay mạn tính thường là lựa chọn của biện pháp này.

- Tiêm nội đĩa đệm:

Tác động vào chính ĐĐ với mong muốn thu nhỏ hay tiêu hẳn khối thoát vị để giảm áp lực căng phồng, giải phóng sự chèn ép của nó vào thần kinh. Biết được thành tố chính của nhân nhầy là một loại protein, nhiều chất tiêu đạm thịnh hành được mang ra dùng như chymopain (trích xuất từ một giống đu đủ), collagenase (men tiêu collagen)… Tuy có vẻ khả thi nhưng cho đến nay, nhiều thầy thuốc thường e dè biện pháp này vì những tai biến sốc phản vệ nguy hiểm. Gần đây, người ta đã tính đến việc tiêm máu tự thân của chính bệnh nhân vào ĐĐ với cùng mục đích trên nhưng có thể tránh được hiện tượng phản vệ.

- Phẫu thuật đĩa đệm:

Lựa chọn sau cùng có tính triệt để, nhất là sau khi các biện pháp bảo tồn thất bại, mở đường vào thẳng ĐĐ và lấy đi khối thoái vị.

- Laser điều trị:

Rất may là “cánh tay” ngày càng dài ra của laser đã vươn tới lĩnh vực điều trị TVĐĐ, triển khai vào thập niên 80 và ngày càng thâu tóm mọi ưu điểm mà các thầy thuốc mong muốn. Không ngoài cung cách phá hủy cấu trúc nhân nhầy giải phóng chèn ép (laser điều trị giảm áp đĩa đệm cột sống xuyên da – Percutaneous Laser Disc Decompresion – PLDD), các bác sĩ dùng kim chuyên dụng chọc vào ĐĐ và gửi theo nó một sợi quang học dẫn đường năng lượng bức xạ từ máy phát laser (loại Nd-YAR) vào khởi hoạt hiện tượng quang động làm bốc cháy và bay hơi một phần nhân nhầy.

Ít tai biến, không “động dao, động kéo” nhiều, thời gian hồi phục nhanh, PLDD thường được chỉ định trong khá nhiều trường hợp, trừ khi kèm theo thoát vị là nhiều tổn thương nặng nề khác như rách dây chằng ĐĐ, khối thoát vị quá to hay có các bất thường của cột sống liên quan… thì không còn cách nào khác là phẫu thuật để giải quyết trọn gói.

Sau cùng,  biện pháp nội khoa hỗ trợ như giảm đau, giảm cứng cơ, vật lý trị liệu… luôn được áp dụng song song. Với các cứu cánh trên cùng với sự hợp tác tích cực của bệnh nhân, đa số các trường hợp đau thắt lưng do TVĐĐ đều đạt kết quả khả quan. Vấn đề còn lại là thời gian, tổn phí nằm viện… có thể trở thành trở ngại lớn với bệnh nhân nghèo  là một trong những đối tượng mà bệnh đau thắt lưng hay “viếng thăm” nhất.

Anh Tuấn
(ĐH Y khoa Hà Nội)

Thoát vị đĩa đệm cột sống luôn là một vấn đề thời sự vì đó là một nguyên nhân phổ biến gây đau cột sống cổ, cột sống thắt lưng cũng như đau chân tay. Ở Việt Nam có tới 17% người trên 60 tuổi bị mắc chứng đau lưng. Còn ở Mỹ, hằng năm có khoảng 2 triệu người phải nghỉ việc do đau thắt lưng, với chi phí điều trị lên tới 21 tỷ đô-la. Hiểu biết vấn đề này giúp chúng ta dự phòng có hiệu quả thoát vị đĩa đệm cột sống và giảm bớt chi phí điều trị bệnh.  

Các nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm  

Có nhiều nguyên nhân gây nên thoát vị đĩa đệm cột sống. Đầu tiên đó là các chấn thương cột sống. Thứ hai là tư thế xấu trong lao động. Đau thường xuất hiện khi ta nhấc vật nặng ở tư thế xấu. Tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây bệnh. Cần chú ý rằng tổn thương đĩa đệm cũng có thể do nguyên nhân di truyền. Nếu bố mẹ có đĩa đệm yếu do bất thường về cấu trúc thì con cái cũng dễ bị thoát vị đĩa đệm. Cơ chế thoát vị đĩa đệm được giải thích như sau. Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, có lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm. Nhờ tính đàn hồi, đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương. Ở những người trên 30 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách. Trên cơ sở đó nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức...), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống.  

Các biểu hiện của thoát vị đĩa đệm

Đau cột sống và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh. Đau thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi bệnh. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị.    Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh. Tuỳ theo vị trí đĩa đệm thoát vị có thể có các triệu chứng đặc trưng. Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ sẽ gây đau cột sống cổ, đau vai gáy, đau cánh tay. Nếu thoát vị đĩa đệm cột sống lưng thì sẽ có triệu chứng đau thần kinh liên sườn. Bệnh nhân sẽ thấy đau vùng cột sống lưng, lan theo hình vòng cung ra phía trước ngực, dọc theo khoang liên sườn. Còn nếu thoát vị đĩa đệm xảy ra ở vùng thắt lưng thì bệnh nhân sẽ thấy đau thắt lưng cấp hay mạn tính, đau thần kinh tọa, đau thần kinh đùi bì.  Người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo về một bên để chống đau, cơ cạnh cột sống co cứng. Có trường hợp đau rất dữ dội và người bệnh phải nằm bất động về bên đỡ đau.  Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt. Bệnh nhân rất khó thực hiện các động tác cột sống như cúi ngửa, nghiêng xoay. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu tổn thương thần kinh tọa thì bệnh nhân có thể không nhấc được gót hay mũi chân. Dần dần xuất hiện teo cơ chân bên tổn thương. Khi bệnh nặng người bệnh thấy chân tê bì, mất cảm giác ở chân đau hay đại, tiểu tiện không kiểm soát được.

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm  

Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm không phải dễ dàng. Trên thực tế bệnh hay bị chẩn đoán nhầm với nhiều bệnh khác hay bị chẩn đoán muộn. Đó là do các triệu chứng lâm sàng chỉ có tính chất gợi ý. Để chẩn đoán xác định cần phải làm các xét nghiệm hiện đại, tốn kém mà không phải bệnh nhân nào cũng có điều kiện để làm. Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm vì tổn thương đĩa đệm không cản quang, do đó không thấy được trên phim. Người ta chỉ gián tiếp đánh giá tổn thương đĩa đệm khi thấy giảm chiều cao khe liên đốt sống, vẹo cột sống. Để “nhìn thấy” đĩa đệm bị tổn thương và thoát vị, phải chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ hạt nhân. Khi đó đĩa đệm được “cắt thành từng lát” như khi người bán thịt ở chợ cắt miếng thịt trên sạp để cho người mua xem. Qua đó người ta có thể đánh giá được hình thái, tính chất tổn thương đĩa đệm, vị trí thoát vị vào ống sống hay vào lỗ liên hợp, cũng như mức độ hẹp ống sống do thoát vị đĩa đệm gây ra. Từ đó bác sĩ lập ra kế hoạch để quyết định các biện pháp điều trị hợp lý.  

Hậu quả của thoát vị đĩa đệm  

Thoát vị đĩa đệm có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Thứ nhất, bệnh nhân có thể bị tàn phế suốt đời do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cùng, bệnh nhân có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Ngoài ra bệnh nhân bị teo cơ các chi nhanh chóng, khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động. Tất cả các biến chứng đó ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, chưa kể những tốn kém do chi phí điều trị.  Tóm lại, thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh khá thường gặp, có thể để lại nhiều hậu quả, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh. Do vậy khi bệnh nhân có các triệu chứng nói trên cần đến khám ở cơ sở y tế chuyên khoa, tốt nhất là gặp các bác sĩ chuyên khoa cơ xương khớp để được chẩn đoán và điều trị bệnh kịp thời.

Teo SKĐS
Thoát vị đĩa đệm xảy ra bất kỳ phần nào của cột sống như phần cột sống cổ, cột sống thắt lưng, trong đó chủ yếu thoát vị cột sống thắt lưng với các triệu chứng đau, tê mỏi vùng thắt lưng lan xuống mông, đùi và cẳng chân, cảm giác yếu cơ,... Ðây là căn bệnh rất phổ biến và có thể gây tàn phế nếu không được điều trị. Do đó người bệnh cần đi khám và điều trị sớm khi thấy các triệu chứng của bệnh, không nên chủ quan, nhất là ở một số đối tượng có nhiều nguy cơ như: những người thường xuyên làm việc nặng nhọc, công nhân bốc vác, chơi thể thao, tư thế ngồi học, làm việc sai cách, mắc các bệnh lý cột sống như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống,…

Thoát vị đĩa đệm là gì?

Cột sống do nhiều đốt ghép lại. Giữa các đốt sống lại được ngăn với nhau bởi những đĩa đệm. Đĩa đệm nằm giữa các đốt sống, có tác dụng như một gối đỡ đàn hồi, giúp cột sống thực hiện các động tác cúi, ưỡn, nghiêng, xoay. Cấu trúc của đĩa đệm bao gồm có bao xơ bên ngoài, cấu tạo từ các vòng sợi dai, chắc và nhân nhầy ở dạng keo bên trong. Khi cấu trúc bao xơ bị yếu do đứt một số vòng sợi thì áp lực nhân nhầy sẽ đẩy chỗ đó phình ra khỏi vị trí bình thường, nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài gọi là thoát vị đĩa đệm.


Nhận biết bệnh dựa trên các biểu hiện nào?

Cơn đau do thoát bị đĩa đệm thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thường có triệu chứng như: Đau vùng cổ, gáy, vai, dọc theo cánh tay. Tê cánh tay, bàn tay, các ngón tay. Teo, yếu cơ cánh tay, ngón tay. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thường có triệu chứng như: Đau, tê vùng thắt lưng, mông, dọc theo đùi, cẳng chân, bàn chân. Teo, yếu cơ đùi, cẳng chân, bàn chân. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị. Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt.

Những di chứng của bệnh

Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống gây các triệu chứng đau, tê, teo cơ, liệt cơ. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bệnh có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Người bệnh có thể bị tàn phế do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cũng có thể dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Các chi dần bị teo cơ, có thể mất khả năng lao động và vận động.

Những trường hợp dễ bị thoát vị đĩa đệm?

Có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Thứ nhất do chấn thương cột sống như tai nạn giao thông, tai nạn lao động,… Thứ hai là ở những người trên 30 tuổi, cột sống bắt đầu thoái hóa đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách khi nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống. Hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng sai cách. Thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng. Nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi làm việc không đúng cách gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp… Ngoài ra, các bệnh lý cột sống bẩm sinh như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây thoát vị đĩa đệm


Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm tại Bệnh viện Việt Đức.  Ảnh: Tường Linh
Các phương pháp điều trị

Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm. Để chẩn đoán chính xác thoát vị đĩa đệm người bệnh cần chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ.

Khi có kết luận thoát vị đĩa đêm, tùy thuộc vào mức độ và những triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ quyết định điều trị nội khoa hay chỉ định phẫu thuật. Đối với thoát vị mức độ nhẹ có thể dùng thuốc, thực hiện các bài tập, vật lý trị liệu phục hồi chức năng. Nếu thoát vị nặng, khối thoát vị chèn ép vào dây thần kinh có thể gây biến chứng như: liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn, thì phẫu thuật là phương pháp giúp bệnh nhân giảm chèn ép và tránh các biến chứng do thoát vị gây ra. Hiện nay có nhiểu phương pháp điều trị như làm giảm áp lực nhân đĩa đệm như: đưa sóng radio vào vùng đĩa đệm thoát vị làm cho khối thoát vị bị thu nhỏ, trở về vị trí cũ, giải phóng thần kinh bị chèn ép; dùng hiệu ứng nhiệt của tia laser để hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng chèn ép thần kinh; Lấy nhân đệm bằng phương pháp mổ hở, mổ nội soi,…

Cần có biện pháp phòng tránh

Thoát vị đĩa đệm gây nên những cơn đau khó chịu, thường xuyên tái phát, làm giảm khả năng vận động, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nếu không điều trị bệnh có thể gây biến chứng nặng nề, do đó người bệnh cần đi khám chuyên khoa khi có dấu hiệu của bệnh để được điều trị kịp thời. Không nên chủ quan cho đó là do tuổi tác, lao động nặng nhọc mới bị đau lưng, đến khi bệnh tiến triển nặng, người bệnh không thể chịu nổi các cơn đau thường xuyên hoặc xuất hiện biến chứng mới đi khám thì rất khó điều trị và điều trị rất tốn kém, thậm chí có thể bị tàn phế. Do đó, cần phải có biện pháp phòng tránh thoát vị đĩa đệm như: Luôn duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi hợp lý; thường xuyên tập thể dục rèn luyện để có một cơ thể khỏe mạnh và cột sống vững chắc. Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày (ngồi học, ngồi làm việc, mang vác vật nặng đúng cách...). Hạn chế mọi nguy cơ bị chấn thương khi lao động, tham gia giao thông, các vận động, động tác thể thao quá mức và kéo dài,…

Bác sĩ Trọng Nghĩa  
THeo SKĐS
Trong hầu hết các trường hợp, nếu một bệnh nhân đau ở vùng thắt lưng và hoặc đau lan xuống chân thì vấn đề này sẽ được giải quyết sau khi bác sĩ khám và chẩn đoán xác định vị trí tổn thương, sau đó quyết định điều trị trong khoảng 6 tuần.

Giảm các triệu chứng khó chịu do thoát vị đĩa đệm gây ra

Chúng tôi khuyên bệnh nhân thực hiện theo những cách dưới đây nhằm làm giảm các triệu chứng đau lưng, đau chân hay khó chịu do đĩa đệm thoát vị gây ra:

- Liệu pháp vật lý

- Các phương pháp điều trị bằng nắn xương/ nắn khớp xương

- Sử dụng các loại thuốc chống viêm thông thường(non steroid)

- Thuốc uống chống viêm giảm đau loại steroid (ví dụ: Prednisone hoặc methprednisolone )

- Thuốc gây tê ngoài màng cứng (hormone chữa viêm và dị ứng)

Vi phẫu thuật đối với thoát vị đĩa đệm cột sống

Sử dụng phương pháp vi phẫu là phẫu thuật nhỏ sử dụng kính hiển vi để điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống.  

Vi phẫu cắt bỏ đĩa đệm có thể thực hiện với bệnh nhân ngoại trú hoặc ở lại bệnh viện 1 ngày, hầu hết bệnh nhân có thể làm việc bình thường trở lại trong 1 đến 3 tuần. Lúc đó các chứng tê liệt hay yếu vận động mới có thể cải thiện tốt, các triệu chứng đau chân giảm ngay lập tức.

Với một bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm, tỉ lệ thành công đối với 1 ca phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống là khoảng 95%. Thường có khoảng(5 - 8%) bệnh nhân thoát vị đĩa đệ gây chèn ép rễ thần kinh cần được cắt bỏ và phần đĩa đệm chính sẽ không bị ảnh hưởng.  

Khi nào cần phẫu thuật xương sống cắt bỏ đĩa đệm?

Cách thức tiến hành của phương pháp này về cơ bản giống như phương pháp vi phẫu trong điều trị giải phóng các rễ dây thần kinh để giúp cho dây thần kinh có được điều kiện lành bệnh nhanh.  

Tuy nhiên trong trường hợp bệnh nhân thấy giảm đau và các chức năng hoạt động bình thường thì nên tạm trì hoãn việc phẫu thuật trong thời gian ngắn để xem xét triệu chứng đau có thể điều trị bằng phương pháp bảo tổn (không phẫu thuật - ví dụ như uống steroid, thuốc chống viêm nhiễm không chứa steroid và trị liệu vật lý) hay không.

Phẫu thuật xương sống tức thời chỉ cần thiết trong trường hợp không kiểm soát được đại tiểu tiện (triệu chứng đuôi ngựa) hoặc thiếu hụt thần kinh tiến triển. Phương pháp phẫu thuật lưng cũng có thể cân nhắc trong trường hợp bệnh nhân bị đau chân nghiêm trọng.

Phẫu thuật xương sống vi phẫu cắt bỏ đĩa đệm thường được cân nhắc đối với những bệnh nhân đã bị đau chân trong khoảng 6 tuần nhưng không giảm đau khi điều trị bằng phương pháp bảo tồn. Tuy nhiên, sau 3 đến 6 tháng nếu kết quả phẫu thuật xương sống không tốt như mong đợi thì không thể kéo dài thời gian trì hoãn việc phẫu thuật cắt bỏ đĩa đệm hơn nữa.

Sau phẫu thuật cắt bỏ đĩa đệm

Một số bác sĩ phẫu thuật khuyên bệnh nhân hạn chế cúi gập người, rướn lên hoặc vặn người trong sáu tuần đầu sau khi phẫu thuật. Tuy nhiên theo một số báo cáo y học thì việc vận động ngay lập tức (trở lại hoạt động bình thường) không làm tăng nguy cơ tái phát thoát vị đĩa đệm.

Tuy nhiên, bệnh nhân có thể tham gia một chương trình luyện tập kéo căng củng cố và chương trình aerobic để ngăn chặn nguy cơ tái phát đau lưng hay thoát vị đĩa đệm.

Tỉ lệ thành công của phẫu thuật xương sống cắt bỏ đĩa đệm

Tỉ lệ thành công đối với phẫu thuật xương sống cắt bỏ đĩa đệm khoảng chừng từ 90% đến 95%, mặc dù 5% đến 10% bệnh nhân sẽ có nguy cơ  bị tái phát thoát vị đĩa đệm tại một số điểm trong tương lai.

Thoát vị đĩa đệm tái phát có thể xảy ra trực tiếp sau khi phẫu thuật hoặc nhiều năm sau đó, mặc dù tình trạng của bệnh nhân trong 3 tháng đầu sau khi mổ hầu hết là giống nhau. Nếu đĩa đệm bị thoát vị trở lại thì nói chung việc phẫu thuật điều chỉnh lại chỉ có tác dụng trong lần phẫu thuật đầu tiên. Tuy nhiên, sau khi bị tái phát, bệnh nhân gặp rủi ro tái phát đĩa đệm cao hơn (15 đến 20% nguy cơ).

Đối với những bệnh nhân bị tái phát thoát vị nhiều đĩa đệm thì phương pháp phẫu thuật “hàn xương sống” (cắt bỏ toàn bộ khoang đĩa đệm và ghép lại xương sống bằng cách nuôi cấy một mảnh xương vào phần đã cắt bỏ) có thể được sử dụng nhằm ngăn chặn nguy cơ tái phát.  

Người ta không cho rằng các đĩa đệm bị thoát vị tái phát liên quan tới các hoạt động của bệnh nhân mà cần kiểm tra trên thực tế có thể trong một số khoang đĩa đệm có nhiều mảnh đĩa đệm bị rời ra sau đó mà trong quá trình phẫu thuật không thể nhìn thấy hết được.  

Rủi ro và biến chứng trong vi phẫu cắt bỏ đĩa đệm

Giống như với các loại hình phẫu thuật xương sống khác, có một số rủi ro và biến chứng liên quan tới phương pháp phẫu thuật xương sống vi phẫu cắt bỏ đĩa đệm, bao gồm:

- Rách màng cứng (rò rỉ dịch não tuỷ). Nguy cơ này chiếm 1 - 2 % trong các ca phẫu thuật dạng này, không làm thay đổi kết quả của phẫu thuật nhưng sau mổ bệnh nhân có thể được yêu câu nằm nghiêng trong vòng 1 đến 2 ngày để đảm bảo không còn rò rỉ dịch.

- Nguy hại tới rễ thần kinh

- Mất kiểm soát tiểu/ đại tiện

- Chảy máu

- Nhiễm trùng

Tuy nhiên những biến chứng trên đối với phẫu thuật cắt bỏ đĩa đệm là khá hiếm.

Theo dantri.com.vn
Cột sống cổ thường xuyên phải chịu áp lực trọng tải của đầu với trường vận động rộng và linh động nhất của cơ thể nên dễ bị thoái hóa. Thoái hóa không phải là một bệnh mà là quá trình biến đổi sinh học của con người nhưng nếu không được phát hiện sớm và điều trị tại cơ sở chuyên khoa sẽ để lại những hậu quả nặng nề.


Thoát vị đĩa đệm - hậu quả của quá trình thoái hóa đĩa đệm?
Nhân nhầy chảy ra ngoài do thoát vị đĩa đệm.

Đĩa đệm là một khoang giữa 2 đốt sống gồm vòng sợi, nhân nhầy và mâm sụn của 2 đốt sống trên và dưới. Vòng sợi chứa một chất dịch cơ bản, được nuôi dưỡng bởi sự trao đổi chất giữa trong và ngoài đĩa đệm qua các lớp của vòng sợi được xem như màng bán thấm. Đĩa đệm không có mạch máu nuôi dưỡng riêng mà chỉ được tưới máu theo phương thức khuếch tán. Bởi vậy, khi cột sống không chuyển động, ở tư thế không đổi quá lâu sẽ tạo nên sự ngưng trệ trao đổi chất nuôi dưỡng nên dần dần sẽ bị thoái hóa. Thoái hóa đĩa đệm làm mất khả năng căng phồng để chống đỡ và phân bố lực ép nén ra toàn đĩa đệm. Hậu quả cuối cùng là đĩa đệm xẹp, rách, nứt tạo đường cho nhân nhầy luồn thoát ra ngoài vòng sợi, gây chèn ép hàng loạt các tổ chức liền kề như mạch máu (động mạch sống), các rễ thần kinh, các sợi thần kinh từ tủy chạy ra chui qua lỗ tiếp hợp. Nhiều lỗ tiếp hợp của mỗi đốt sống liên kết với nhau tạo thành một ống xương. Trường hợp khối thoát vị lớn và nhiều tầng sẽ lấn vào trong ống sống làm hẹp ống sống và chèn ép luôn tủy sống. Bình thường đường kính trước- sau của ống sống, đoạn giữa cột sống cổ là 15mm, nếu nhỏ hơn số đó được coi như hẹp ống sống.
Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ gây nên hậu quả gì?

Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) chèn ép động mạch sống gây nên tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng não, hình thành "hội chứng thiếu máu não cục bộ sau những cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời liên tiếp. TVĐĐ chèn ép cả hệ thần kinh giao cảm cổ, gây nên hội chứng giao cảm cổ sau rất phức tạp về triệu chứng lâm sàng như đối với tim và các nội tạng khác. TVĐĐ chèn ép các rễ thần kinh chạy từ tủy sống ra để chi phối thần kinh cho các khu vực đai vai và hai tay. TVĐĐ chèn ép rễ thần kinh cổ 2, 3 gây đau dây thần kinh chẩm lớn ở phía sau đầu. Tủy sống bị chèn ép sẽ gây rối loạn vận động tay chân. Trường hợp TVĐĐ lớp, nhiều tầng còn gây nên liệt nửa người hoặc liệt hai chân.
Biểu hiện đặc trưng
Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ gây rối loạn vận động ở tay.

TVĐĐ cột sống cổ thường gặp là TVĐĐ ở vị trí sau - bên nên gây chèn ép rễ thần kinh, gây đau đớn với tư thế sai lệch cột sống cổ. Do bị chèn ép nên có thể đau một rễ hay nhiều rễ, phần lớn ở một bên, có khi ở cả hai bên cổ trong hội chứng đau rễ thần kinh cổ. Ngoài ra, TVĐĐ còn gây nên hội chứng tủy sống, là biến chứng quan trọng nhất do cột sống cổ bị chèn ép. Bệnh tiến triển từ từ, thường dễ bỏ qua vì có nhiều triệu chứng của những tổn thương cấu trúc khác che khuất. Trong giai đoạn quá độ chuyển sang mạn tính, người bệnh bị rối loạn dáng đi và thất điều (thất điều là rối loạn vận động do khả năng phối hợp vận động các động tác giữa các cơ ở chi dưới gây tổn thương hai bó dọc sau của tủy sống chèn ép).

Chẩn đoán TVĐĐ dựa trên các xét nghiệm cận lâm sàng như chụp Xquang, chụp tủy cản quang, chụp cộng hưởng từ...
Điều trị và dự phòng TVĐĐ cột sống cổ

Điều trị: Khi đã xác định bệnh, người bệnh cần được điều trị bảo tồn nội khoa đúng cách như sử dụng các loại thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ, chống thoái hóa rễ - dây thần kinh, điều hòa tuần hoàn não, trấn tĩnh thần kinh...  điều trị bằng các phương pháp trấn tĩnh tại chỗ, đeo đai cổ, kéo giãn cột sống cổ tại cơ sở chuyên khoa. Bên cạnh đó, người bệnh còn có thể được điều trị bằng phẫu thuật khi điều trị nội khoa không có kết quả. Phẫu thuật sẽ mang lại hiệu quả tốt khi giải phóng được yếu tố chèn ép. Điều trị phục hồi chức năng tại cơ sở chuyên khoa.

Dự phòng: Có phong cách sinh hoạt đúng: tránh ngồi cúi gấp cổ quá lâu. Cần có bản tựa đầu và lưng, nhất là khi ngồi tàu xe đường dài. Tránh các động tác vận động cổ đột ngột và quá mạnh. Bàn ghế làm việc phải thích hợp, tránh dùng bàn quá thấp, ngồi lâu ở tư thế không đổi. Khi nằm, tránh để tư thế quá ưỡn hoặc cúi gấp cổ. Cần có gối đầu với độ dày thích hợp. Đối với nghề nghiệp buộc phải ở tư thế bất lợi, cần có thời gian nghỉ sau 1 - 2 giờ bằng cách vận động cột sống cổ và lưng nhẹ nhàng về các phía. Tránh các chấn thương vào đầu và cột sống cổ. Các nghề buộc phải dùng đầu đội vật nặng được coi như vi chấn thương đều làm tăng tốc độ quá trình thoái hóa cột sống cổ rồi sẽ dẫn tới TVĐĐ cột sống cổ.
Theo suckhoedoisong.vn
(ĐTĐ) - Thoát vị đĩa đệm tiếng Pháp gọi là Hernie dícale. Từ thoát vị - Hernie dùng để mô tả rất nhiều biểu hiện đặc trưng bởi sự nhô ra hay lồi ra một cơ quan hay một phần cơ quan ngoài vị trí bình thường của nó, ta vẫn thường nói thoát vị bẹn, thoát vị rốn... Đĩa đệm - Discale nằm giữa liên đốt sống, như vậy thoát vị đĩa đệm là sự nhô ra một phần của đĩa liên đốt sống.




Thoát vị đĩa đệm xảy ra như thế nào?

Đĩa đệm nằm giữa liên đốt sống, xung quanh cấu tạo bởi các cung xơ, ở giữa là nhân cứng gelatine, đĩa đệm có vai trò như chống xóc và tạo tính mềm dẻo cho cột sống. Cung xơ có vai trò giữ cho nhân gelatine nằm trong đĩa đốt sống. Tránh rách, đứt chui ra khỏi vòng cung xơ. Bình thường, nhân gelatine nằm chính giữa đĩa đệm xung quanh có các cung xơ. Nhân gelatine nhô ra và băng qua khỏi cung xơ gọi là thoát vị đĩa đệm, thoát vị di chuyển và thoát vị xuyên qua ngoài dây chằng, ép rễ gây đau thần kinh vùng tổn thương, nhân gelatine chui ra khỏi cung xơ gây ép tuỷ. Một số người có thoát vị đĩa đệm nhưng không nhận thấy triệu chứng vì thoát vị không liên quan đến thần kinh, như vậy tỷ lệ thoát vị đĩa đệm khó đánh giá. Thoát vị đĩa đệm có thể ép tuỷ nhưng hiếm gặp.





Cột sống có ba đoạn: đoạn cổ, đoạn ngực và đoạn thắt lưng. Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra bất kỳ đoạn nào của cột sống. Khoảng 95% thoát vị đĩa đệm ở đoạn cột sống thắt lưng. Trong trường hợp này thoát vị có thể gây đau vùng thắt lưng gọi là đau thắt lưng - Lombalgie. Nếu thoát vị ép vào rễ của thần kinh toạ có thể gây đau dọc mặt sau của chân, ta gọi là đau thần kinh toạ.Thoát vị đĩa đệm hay gặp những người tuổi từ 35 - 55 tuổi, nam hay gặp hơn nữ liên quan thể lực khoẻ, liên quan nghề nghiệp hoặc chơi thể thao.

Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm: Người ta nhận thấy thoát vị có liên quan đến tuổi, do thoái hoá đĩa đệm, cột sống thiếu mềm dẻo, mất trương lực, mất tính đàn hồi, giảm chiều cao. Các động tác đột ngột ở tư thế xấu hoặc nâng vật nặng ở vị trí xoay cơ thể. Những người quá béo hoặc phụ nữ thời kỳ mang thai ép lên cột sống thường xuất hiện đau vùng lưng. Một số người đau lưng do ảnh hưởng yếu tố di truyền nên có thể thấy thoát vị đĩa đệm từ lúc còn rất trẻ.
Biểu hiện của thoát vị đĩa đệm

Ngày nay, nhờ các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ cột sống mà hình ảnh thoát vị đĩa đệm sẽ được phát hiện, mặc dù hình ảnh thoát vị đĩa đệm có giống nhau giữa người này và người khác, song biểu hiện triệu chứng khác nhau. Một số người có thể có thoát vị đĩa đệm nhưng không có triệu chứng đau lưng, đối với người khác đau khủng khiếp. Đôi khi thoát vị đĩa đệm ép vào rễ thần kinh. Thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng gây đau thắt lưng, nếu đau dọc chân gọi là đau thần kinh tọa. Thoát vị đĩa đệm ở vùng cổ, gây cứng cổ và đau vùng cổ, đôi khi lan ra hai vai và cánh tay. Thoát vị đĩa đệm cổ có thể thấy cảm giác như dị cảm đầu chi hoặc cảm giác yếu mỏi vùng cẳng tay và cánh tay.
Điều trị thoát vị đĩa đệm

Thái độ trước tiên để giảm sức căng cho cột sống nằm nghỉ trên giường và dùng thuốc làm dịu đau và giảm viêm. Phần lớn, các trường hợp thực hiện như trên là đủ để giảm triệu chứng và chữa khỏi thoát vị đĩa đệm. Ngoại khoa rất ít khi phải can thiệp, tuy nhiên khi có thoát vị phối hợp với yếu tay chân hoặc liệt tay chân hay có biểu hiện rối loạn đại tiểu tiện thì cần can thiệp ngoại khoa sớm. Trường hợp đau cấp và đau nhiều nằm nghỉ trên giường từ một hoặc hai ngày và lấy lại các hoạt động nếu có thể để tránh teo cơ và yếu cơ lưng.
TS. Mai Thị Minh Tâm: Khoa Cơ Xương Khớp - Bệnh viện E
Theo suckhoedoisong.vn
1. Đại cương.
1.1. Định nghĩa.

Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi chèn ép vào ống sống hay các rễ thần kinh sống. Về giải phẫu bệnh có sự đứt rách vòng sợi, về lâm sàng gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình.
1.2. Bệnh căn và bệnh sinh.

- Yếu tố dịch tễ học:

+ Về giới: nam nhiều hơn nữ, thường chiếm tới 82%.

+ Tuổi: thường xảy ra ở lứa tuổi lao động từ 20-49 chiếm tới trên 90%.

+ Vị trí hay gặp: thường xảy ra ở đĩa đệm L4-L5 và L5-S1, do hai đĩa đệm này là bản lề vận động chủ yếu của cột sống.

+ Nghề nghiệp: đa số là những người lao động chân tay nặng nhọc.

- Yếu tố chấn thương: là nguyên nhân hàng đầu. Trong đó chấn thương cấp tính, mạn tính và vi chấn thương đều là những nguyên nhân gây ra thoát vị đĩa đệm. Tuy nhiên chấn thương gây ra thoát vị đĩa đệm chỉ phát sinh khi bệnh nhân bị bệnh lý hư xương sụn cột sống thắt lưng hoặc thoái hóa đĩa đệm.

- Thoái hóa đĩa đệm: đĩa đệm có thể bị thoái hóa sinh lý (lão hóa) hay thứ phát đến một mức độ nào đó sẽ không chịu đựng được một lực chấn thương nhẹ hay một tác động của tải trọng nhẹ cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm.

- Những yếu tố gây nên thoát vị đĩa đệm:

+ áp lực trọng tải cao.

+ áp lực căng phồng của tổ chức đĩa đệm cao.

+ Sự lỏng lẻo trong từng phần với sự tan rã của tổ chức đĩa đệm.

+ Lực đẩy, nén ép, xoắn vặn quá mức vào đĩa đệm cột sống.

Nói tóm lại có thể khái quát, thoái hóa đĩa đệm là nguyên nhân cơ bản, tác động cơ học là nguyên nhân khởi phát và sự phối hợp của hai yếu tố đó là nguồn phát sinh thoát vị đĩa đệm.
1.3. Phân loại thoát vị đĩa đệm.

1.3.1. Phân loại theo sự liên quan với rễ thần kinh và tủy sống.

Rothman và Marvel đã chia thoát vị đĩa đệm ra sau thành 3 loại:

- Loại thoát vị trung tâm chủ yếu chèn ép tủy sống gây bệnh lý tủy.

- Loại thoát vị cạnh trung tâm chèn ép cả tủy và rễ thần kinh gây ra bệnh lý tủy rễ.

- Loại thoát vị cạnh bên còn gọi là thoát vị lỗ ghép chủ yếu chèn ép rễ thần kinh gây ra bệnh lý rễ.

Cách phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong lâm sàng.

1.3.2. Phân loại theo liên quan với dây chằng dọc sau.

Wegeber chia các thoát vị đĩa đệm thành 2 loại:

- Thoát vị nằm trước dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau còn nguyên vẹn chưa bị rách.

- Thoát vị qua dây chằng dọc sau: dây chằng dọc sau bị rách, khối thoát vị chui qua chỗ rách vào trong ống sống.

Wood chia thoát vị đĩa đệm làm 4 loại dựa trên sự tương quan giữa khối thoát vị với vòng sợi, và dây chằng dọc sau:

- Loại 1: phồng đĩa đệm (normal bulge), vòng sợi chưa bị rách hết, nhân nhày vẫn còn nằm trong vòng sợi nhưng lệch vị trí.

- Loại 2: lồi đĩa đệm hay dạng tiền thoát vị (protrusion), khối thoát vị đã xé rách vòng sợi nằm ở trước dây chằng dọc sau.

- Loại 3: thoát vị thực thụ (extrusion), khối thoát vị đã chui qua dây chằng dọc sau, nhưng còn dính liền với phần nhân nhày nằm phía trước.

- Loại 4: thoát vị đĩa đệm có mảnh rời (sequestration), là có một phần khối thoát vị tách rời khỏi phần đĩa đệm nằm trước dây chằng dọc sau, có thể di trú đến mặt sau thân đốt sống. Mảnh rời này thường nằm ngoài màng cứng, nhưng đôi khi xuyên qua màng cứng gây chèn ép tủy.

Cách phân loại này liên quan chặt chẽ đến chỉ định và kết quả điều trị. Vì tỷ lệ bệnh nhân có phồng và lồi đĩa đệm tuy rất cao nhưng không nhất thiết phải điều trị phẫu thuật. Ngược lại, kết quả phẫu thuật lại đạt cao nhất ở nhóm thoát vị có mảnh rời và tiếp đến là thoát vị đĩa đệm thực thụ.

Ngoài ra còn có kiểu phân loại thoát vị theo vị trí: ra sau, ra trước, vào thân đốt (thoát vị Schmol).

2. Triệu chứng.
2.1. Lâm sàng.

- Hoàn cảnh phát bệnh: thường xuất hiện sau một chấn thương hay gắng sức của cột sống.

- Tiền sử: thường bị đau thắt lưng tái phát nhiều lần.

- Tiến triển: bệnh thường phát triển theo 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn đau cấp: Là giai đoạn đau lưng cấp xuất hiện sau một chấn thương hay gắng sức. Về sau mỗi khi có những gắng sức tương tự thì đau lại tái phát. ở giai đoạn này có thể có những biến đổi của vòng sợi lồi ra sau, hoặc toàn bộ đĩa đệm lồi ra sau mà vòng sợi không bị tổn thương.

+ Giai đoạn chèn ép rễ: Đã có những biểu hiện của kích thích hay chèn ép rễ thần kinh, xuất hiện các triệu chứng của hội chứng rễ: đau lan xuống chi dưới, đau tăng khi đứng, đi, hắt hơi, rặn... nằm nghỉ thì đỡ đau. ở giai đoạn này vòng sợi đã bị đứt, một phần hay toàn bộ nhân nhầy bị tụt ra phía sau (thoát vị sau hoặc sau bên), nhân nhầy chuyển dịch gây ra chèn ép rễ. Bên cạnh đó, những thay đổi thứ phát của thoát vị đĩa đệm như: phù nề các mô xung quanh, ứ đọng tĩnh mạch, các quá trình dính... làm cho triệu chứng bệnh tăng lên. Biểu hiện lâm sàng điển hình với hai hội chứng: cột sống và rễ thần kinh.

- Các hình thức thoát vị đĩa đệm:

+ Thoát vị đĩa đệm thành một khối: do gấp mạnh cột sống thắt lưng nên một phần lớn hay cả khối nhân bị lồi xuyên qua dây chằng dọc sau. Về triệu chứng do chèn ép rễ đột ngột nên sớm xuất hiện liệt cơ và rối loạn cơ vòng.

+ Thoát vị đĩa đệm hai bên: phía sau của vòng sợi có thể bị hư ở cả hai bên làm các mảnh vỡ nhân nhầy lồi ra cả hai bên cùng một lúc hoặc hai lần khác nhau, do đó bệnh nhân có thể bị đau cả hai bên cách nhau hoặc cùng một lúc.

+ Thoát vị đĩa đệm nhiều nơi (đa tầng), những không nhất thiết phải ở các đĩa đệm kế bên, và cùng một bên.

+ Thoát vị đĩa đệm nhân nhầy bị kẹt: nhân nhầy lồi qua vòng sợi có thể bị kẹt giữa các mép thân đốt sống kề nhau gây cơn đau đột ngột ở vùng thắt lưng. Đau tăng khi vận động cột sống, có thể kèm theo đau dây thần kinh hông to nặng. Đau có thể biến mất đột ngột khi nhân nhầy hết bị kẹt.
2.2. Cận lâm sàng.

2.2.1. X quang thường (thẳng - nghiêng):  Tam chứng Barr:

- Gẫy góc cột sống thắt lưng.

- Xẹp đĩa đệm.

- Mất ưỡn cong sinh lý.

2.2.2. Chụp X quang bao rễ cản quang.

Dùng các thuốc cản quang có Iod, không ion hóa, không độc với tủy sống (như Amipaque, Lipamiro...) bơm vào bao rễ thần kinh, rồi chụp phim thẳng, nghiêng và chếch 3/4 phải và trái.

Trên phim chụp bao rễ, ta thấy hình ảnh bao rễ bị chèn ép có thể cắt cụt một rễ hay toàn bộ bao rễ. Đôi khi chỉ thấy dấu hiệu “đồng hồ cát” hoặc các trường hợp chèn ép bao rễ nhẹ. Đồng thời chúng ta có thể biết được chính xác vị trí đĩa đệm thoát vị, và thể thoát vị ra sau hay sau bên (hình 6.7).

2.2.3. Chụp cộng hưởng từ (MRI).

Chụp cộng hưởng từ (MRI): là xét nghiệm số 1 để đánh giá về cột sống đặc biệt là trong chẩn đoán thoát vị đĩa đệm, cho phép loại trừ các tổn thương bên trong tủy sống: trên ảnh MRI tổ chức có nhiều nước bị giảm tín hiệu trên ảnh T1 và tăng tín hiệu trên ảnh T2. Đĩa đệm bình thường có ranh giới rõ, giảm tín hiệu trên T và tăng tín hiệu trên T2 do có nhiều nước. Các đĩa đệm thoái hóa do không có nước nên trên T2 tín hiệu không tăng so với các đĩa đệm khác. Khối đĩa đệm thoát vị là phần đồng tín hiệu với đĩa đệm và nhô ra phía sau so với bờ sau thân đốt sống và không ngấm thuốc đối quang từ. Các ảnh cắt dọc giúp đánh giá toàn bộ cột sống, vị trí và số tầng thoát vị. Các ảnh cắt ngang cho thấy các kiểu thoát vị (trung tâm, cạnh trung tâm và lỗ ghép). Phối hợp hình ảnh cắt dọc và ngăng đánh giá được mức độ thoát vị chèn ép vào tuỷ sống và rễ thần kinh, gây đè ép khoang dịch não tủy và phù tủy cùng mức. Các chi tiết về xương trên MRI cho hình ảnh không rõ lắm.
3. Chẩn đoán
3.1. Chẩn đoán xác định.

- Lâm sàng: theo Saporta (1970) nếu có 4 triệu chứng trở lên trong số 6 triệu chứng sau:

(1) Có yếu tố chấn thương.

(2) Đau cột sống thắt lưng lan theo rễ, dây thần kinh hông to.

(3) Đau tăng khi ho, hắt hơi, rặn.

(4) Có tư thế giảm đau: nghiêng người về một bên làm cột sống thắt lưng bị vẹo.

(5) Có dấu hiệu chuông bấm.

(6) Dấu hiện Lasègue (+).

- Cận lâm sàng: X quang thường có tam chứng Barr, chụp bao rễ cản quang có hình ảnh chèn ép, chụp cộng hưởng từ thấy rõ hình ảnh đĩa đệm thoát vị.
3.2. Chẩn đoán định khu.

- Rễ L1-2: đau vùng bẹn và mặt trong đùi, yếu cơ thắt lưng - chậu.

- Rễ L3-4: đau mặt trước đùi, yếu cơ tứ đầu đùi và giảm phản xạ gối.

- Rễ L5: đau mặt ngoài đùi và cẳng chân, tê mu bàn chân và ngón cái.

- Rễ S1: đau mặt sau ngoài đùi, cẳng chân, tê ngón út, giảm phản xạ gót.

- Rễ S2: đau mặt sau trong đùi, cẳng chân, gan chân, yếu cơ bàn chân.

- Rễ S3, S4, S5: đau vùng "yên ngựa" đáy chậu, yếu cơ tròn tiểu tiện.
3.3. Chẩn đoán thể thoát vị.

3.3.1. Thoát vị đĩa đệm ra sau:

- Là thể thường gặp nhất, khởi phát cấp tính sau chấn thương hoặc gắng sức đột ngột.

- Có hội chứng cột sống và hội chứng rễ.

- Đau giảm khi nằm nghỉ.

- Các hình thái thoát vị ra sau (Hình 6.8).

- Trường hợp đau một rễ: thường gặp trong thoát vị đĩa đệm sau bên (cạnh trung tâm) do đĩa đệm ngay ở tầng trên nó bị thoát vị. Ví dụ: tổn thương rễ L2 do đĩa đệm L1-L2 thoát vị chèn ép, rễ S1 do đĩa đệm L5-S1 chèn ép. Riêng rễ L5 do thoát vị đĩa đệm ở cả L4-L5 và L5-S1 chèn ép.

Trường hợp thoát vị đĩa đệm vào lỗ ghép: rễ thần kinh cùng tầng đĩa đệm sẽ bị chèn ép. Hình ảnh thoát vị đĩa đệm thấy rõ trên phim chụp bao rễ chếch 3/4.

- Trường hợp đau hai rễ:

+ Đau hai rễ ở hai bên: thường gặp trong thoát vị đĩa đệm ra sau giữa. Triệu chứng đau rễ thường tăng giảm không đều nhau ở hai bên, lúc bên này đau tăng, lúc khác bên kia lại đau nặng hơn, do đó tư thế chống đau cũng thay đổi bên. Chẩn đoán định khu loại thoát vị này cũng giống thoát vị đĩa đệm một bên.

+ Đau hai rễ kề nhau cùng bên: thường là rễ L4 và L5, hoặc L5 và S1. Khi đó chẩn đoán định khu cần phải được cân nhắc kỹ, có thể phải dựa vào chụp bao rễ thần kinh hoặc chụp MRI, vì có mấy khả năng xảy ra:

* Thoát vị hai đĩa đệm cùng một lúc.

* Thoát vị một đĩa đệm L5-S1 nhưng chèn ép cả hai rễ L5 và S1.

* Thoát vị đĩa đệm nhưng có phản ứng viêm ngoài màng cứng gây nên viêm rễ thần kinh kế cận ở phía trên hay phía dưới.

- Trường hợp đau nhiều rễ: ít gặp, nhưng quan trọng vì đó là sự khởi đầu của hội chứng đuôi ngựa do khối lượng thoát vị lớn (thể giả u chèn ép đuôi ngựa).

+ Hội chứng đuôi ngựa toàn bộ: do thoát vị đĩa đệm L1-L2 và L2-L3 (hiếm gặp).

+ Hội chứng giữa thắt lưng - cùng: do thoát vị đĩa đệm L3-L4 và L4-L5.

+ Hội chứng cùng: do thoát vị đĩa đệm L5-S1.

- Trường hợp thoát vị đĩa đệm ra sau đã làm đứt đây chằng dọc sau do khối thoát vị lớn, có thể:

+ Thoát vị đĩa đệm chưa xuyên màng cứng: khối thoát vị chưa tách rời hoặc đã tách rời phần còn lại tròn khoang gian đốt sống, di chuyển lên trên hoặc xuống dưới.

+ Thoát vị đĩa đệm xuyên màng cứng: ít gặp, mảnh vỡ của đĩa đệm thường dính vào rễ thần kinh, đôi khi phải dựa vào phẫu thuật.

Các thể này chẩn đoán định khu dựa vào lâm sàng rất dễ bị nhầm lẫn, nên phải dựa vào phim chụp bao rễ hay phim chụp MRI để chẩn đoán.
.3.2. Thoát vị đĩa đệm ra trước:



- Loại thoát vị này thường khởi phát đột ngột sau chấn thương cột sống hoặc vận động mạnh đột ngột trong lúc cột sống thắt lưng đang ở tư thế ưỡn quá mức. Tuy nhiên thoát vị đĩa đệm ra trước có thể xảy ra từ từ do cột sống luôn ở tư thế bất lợi kéo dài của nghề nghiệp, trên cơ sở thoái hóa đĩa đệm:

- Lâm sàng:

+ Có hội chứng cột sống.

+ Không có hội chứng rễ.

+ Giai đoạn đầu thì đau lưng cấp (lumbago), sau chuyển thành đau lưng mạn tính (lombalgie), hay tái phát, đau tăng khi vận động cột sống.

3.3.3. Thoát vị đĩa đệm vào phần xốp thân đốt (kiểu Schmorl).

- Là kiểu thoát vị điển hình của thoái hóa đĩa đệm. Hay gặp ở lứa tuổi già thoát vị đĩa đệm kiểu Schmorl ở các đĩa đệm liên tiếp nhau, nhất là ở các đĩa đệm lưng và thắt lưng, tạo nên sự thay đổi đường cong sinh lý, giảm chiều cao cột sống. ở lứa tuổi trẻ ít gặp thoát vị kiểu này, chỉ xảy ra trên cơ sở chấn thương hoặc trọng tải quá mức.

Thoát vị đĩa đệm Schmorl
Thoát vị đĩa đệm Schmorl

- Đặc điểm lâm sàng:

+ Khởi phát từ từ do nguyên nhân vi chấn thương.

+ Đau thắt lưng ít dữ dội, thường thoái lui nhanh chóng sau vài ngày nhưng dễ tái phát với biểu hiện đau thắt lưng mạn.

+ Có hội chứng cột sống, không có hội chứng rễ.

+ Thoát vị đĩa đệm chỉ có thể chẩn đoán bằng chụp đĩa đệm.
3.4. Chẩn đoán giai đoạn thoát vị đĩa đệm.

Arseni (1974) phân loại thoát vị đĩa đệm theo 4 giai đoạn tiến triển như sau:

- Giai đoạn 1 (giai đoạn đầu của thoái hóa đĩa đệm): nhân nhầy biến dạng bắt đầu xuất hiện vài chỗ đứt rách nhỏ ở phía sau của vòng sợi và nhân nhầy ấn lõm vào chỗ khuyết này. Hình ảnh này chỉ thấy trên phim chụp đĩa đệm và MRI.

- Giai đoạn 2 (lồi đĩa đệm): nhân nhầy bị lồi vào phía vòng sợi bị suy yếu, đĩa đệm phình ra, nhất là phía sau. Vòng sợi có nhiều chỗ rạn, rách rõ rệt nhưng chưa xâm phạm hết chiều dày của vòng sợi. Bắt đầu xuất hiện giảm chiều cao khoang gian đốt sống, hình thành thoát vị đĩa đệm, ở giai đoạn này đã có dấu hiệu tổn thương khá phong phú. Biểu hiện lâm sàng bằng đau lưng cục bộ, đôi khi có kích thích rễ thần kinh.

- Giai đoạn 3 (thoát vị đĩa đệm thực thụ): đứt rách hoàn toàn các lớp của vòng sợi, tổ chức nhân nhầy cùng với các tổ chức khác của đĩa đệm thoát ra khỏi khoang gian đốt, hình thành một khối thoát vị đĩa đệm. Giai đoạn này chụp đĩa đệm và MRI cho thấy thoát vị nhân nhầy đã gây đứt dây chằng dọc sau. Các triệu chứng lâm sàng của hội chứng rễ thần kinh xuất hiện và có thể chia làm 3 mức độ:

+ Kích thích rễ.

+ Chèn ép rễ (còn một phần dẫn truyền thần kinh).

+ Mất dẫn truyền thần kinh.

- Giai đoạn 4 (hư đĩa đệm khớp đốt sống): nhân nhầy bị biến dạng, xơ hóa, vòng sợi bị vỡ, rạn, rách nhiều phía. Giảm rõ chiều cao khoang gian đốt sống, hư khớp đốt sống, giữa các mấu khớp mọc đai xương và ở bờ viền của thân đốt sống, về lâm sàng thường là đau thắt lưng mạn tính hay tái phát, có thể có hội chứng rễ nặng do chèn ép rễ trong lỗ ghép đã bị hẹp bởi các biến đổi thứ phát của cấu trúc xương.
Giới áo đầm, cổ cồn cũng có nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm, cứ tưởng bệnh chỉ "kết” người mang vác nặng, làm việc chân tay nhiều..

Ngồi lâu một tư thế, đổi tư thế đột ngột là lỗi phổ biến, gây thoát vị đĩa đệm

Dấu hiệu nhận biết

Dấu hiệu nhận biết đầu tiên thường là đau lưng, đau cổ lan xuống vai, tê mỏi chân tay, háng, rồi theo thời gian sẽ diễn tiến xuống chân hay rối loạn vận động cảm giác phần thân dưới... Có thể nói, thoát vị đĩa đệm chẳng kiêng dè độ tuổi nào.

Trong khi những người thuộc nhóm ngành nghề khác thường bị thoát vị đĩa đệm do tai nạn lao động, phải mang vác nặng, té ngã, chấn thương hay do tuổi tác thì nhân viên văn phòng lại chủ yếu do ngồi một chỗ trong nhiều tiếng đồng hồ liên tục, không vận động.

Họ cũng thường hay dư cân, bụng to. Những điều này làm đĩa đệm giữa hai đốt sống bị tăng áp lực, dễ thoát vị ra phía ngoài, chèn vào các rễ thần kinh tủy sống và gây đau đớn.

Điều trị

Hầu hết bệnh nhân thoát vị đĩa đệm bắt đầu điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu và dùng thuốc, trừ khi có tổn thương quá nặng, có liệt chân, tay - phải can thiệp ngoại khoa ngay. Việc điều trị bảo tồn này có thể kéo dài từ 3 đến 6 tháng.

Nếu may mắn kết quả tốt, tình trạng bệnh sẽ được cải thiện thấy rõ, hết viêm, sưng đau. Ngược lại, bệnh nhân cần chuẩn bị tâm lý cho các phương pháp điều trị có xâm lấn.

Đến nay, nhiều người vẫn nghĩ điều trị bằng vật lý trị liệu chỉ là tập theo một số động tác nào đó. Thật ra, điều trị vật lý trị liệu còn bao gồm việc sử dụng máy móc với các tia chiếu phù hợp, có tác dụng giảm đau, chống co cứng cơ, giãn mạch, tăng cường chuyển hóa dinh dưỡng như kéo giãn cột sống bằng hệ thống kéo giãn kỹ thuật số...

Rất nhiều nhân viên văn phòng thấy vật lý trị liệu hiệu quả, giúp họ bớt hẳn tê đau cứng vùng cổ, lưng, tay, vai khi điều trị khoảng một tiếng đồng hồ mỗi ngày với các phương pháp thích hợp.

Phòng tránh

Nhân viên văn phòng nên có một số bài thể dục cho vùng cổ, lưng ngay tại ghế làm việc. Sau mỗi tiếng, nên đứng dậy đi lại, vận động nhẹ nhàng.

Những người dư cân, đặc biệt là béo phì, bụng bự sẽ tăng nguy cơ võng cột sống, từ đó gián tiếp tăng nguy cơ bị thoát vị đĩa đệm. Thay vì đến các quán nhậu sau giờ làm, nhân viên văn phòng nên chọn đăng ký một môn thể dục vừa sức mà mình yêu thích.

Tránh việc thay đổi tư thế đột ngột. Chẳng hạn, bạn quay ngoắt đầu khi nghe có tiếng gọi, bất ngờ quay vẹo cột sống để lấy đồ mà không xoay cả người cũng có thể gây thoát vị đĩa đệm rồi.

Đa số các chấn thương khi tập thể dục thể thao cũng do không khởi động, dẫn đến co cơ đột ngột.

Theo BS-CK1 Nguyễn Xuân Diệm - Đẹp Online
Do bệnh tồn tại trong khoảng thời gian dài mà không ảnh hưởng gì đến chức năng cơ thể, cũng như không gây khó chịu đáng kể nên có không ít người nhầm tưởng bệnh thoát vị không nguy hiểm. Thực tế điều trị đã ghi nhận có trường hợp bị biến chứng nặng, tử vong do chậm trễ điều trị.

Các loại thoát vị vùng bụng

Thoát vị là từ dùng để chỉ tình trạng một bộ phận nào đó của cơ thể bị đẩy ra khỏi vị trí bình thường được giới hạn của nó trong cơ thể. Tình trạng này làm ảnh hưởng đến cấu trúc hay chức năng của bộ phận đó hoặc các bộ phận khác. Ở vùng bụng có thể có những loại thoát vị sau:

Thoát vị thành bụng: một chỗ thành bụng có lớp cân cơ bị hở hoặc yếu (do vết sẹo mổ hoặc chấn thương, do bẩm sinh) làm ruột hoặc mỡ chài lòi ra qua chỗ yếu này và đội da bụng phồng lên thành một khối.

Thoát vị rốn: rốn là một sẹo tự nhiên của cơ thể. Nếu sau khi cuống rốn rụng, sự lành sẹo chỉ xảy ra ở lớp da, còn lớp cân cơ thì không liền sẹo chắc, sẽ xảy ra thoát vị qua chỗ yếu này (kiểu thoát vị thành bụng). Trẻ nhỏ khóc nhiều, ho nhiều làm tăng áp lực ổ bụng là điều kiện thuận lợi để bị thoát vị rốn.

Thoát vị bẹn: dân gian còn gọi là bệnh ruột thòng, sa ruột. Trong bệnh này, chỗ yếu của thành bụng là vùng bẹn, ruột và mỡ chài chui qua đó, có thể xuống đến bìu. Đây là loại thoát vị thường gặp nhất do bẹn là vùng mà cơ thành bụng không bao bọc kín, vì phải cho thừng tinh đi qua từ bụng xuống bìu, mỗi người đều có đến hai bẹn (phải và trái).

Thoát vị đùi: là thoát vị qua “lỗ đùi”, phồng ra vùng đùi ngay dưới nếp bẹn.

Ngoài ra còn phải kể đến “thoát vị bên trong” là thoát vị qua các khe, lỗ bẩm sinh hay mắc phải bên trong ổ bụng. Bệnh không biểu hiện thành khối phồng lên ngoài thành bụng, nên bệnh nhân hoàn toàn không hay biết trước khi có các biến chứng xảy ra.

Cảnh giác khối phồng bất thường

Ngoài loại thoát vị bên trong, các loại thoát vị còn lại rất dễ nhận biết bởi sự xuất hiện một khối phồng lên bất thường ở các vị trí thành bụng, tương ứng với chỗ thoát vị. Khối này mềm, lùng nhùng, không đau hay chỉ cảm giác tưng tức nếu không bị biến chứng nghẹt. Khi đi đứng, ho rặn thì khối thoát vị xuất hiện và to ra. Khi nằm nghỉ thì tự nhỏ lại hoặc biến mất. Đôi khi phải dùng tay đẩy ép mới đẩy được khối thoát vị biến vào trong bụng. Các vị trí thoát vị thường là vùng bẹn một hay hai bên, có thể xuống bìu, vùng rốn, vùng vết mổ ở bụng. Nếu tồn tại lâu, khối thoát vị có thể bị kẹt lại và lúc nào cũng phồng, không đẩy xẹp được. Trường hợp biến chứng nghẹt thì bệnh nhân rất đau ở khối thoát vị, kèm theo có thể có những biểu hiện tắc ruột như đau quặn bụng, nôn ói, bí trung đại tiện, trướng bụng. Nặng hơn nữa có thể nhiễm trùng, nhiễm độc và choáng.

Bệnh thoát vị có thể tồn tại trong khoảng thời gian dài mà không ảnh hưởng gì đến chức năng cơ thể và không gây khó chịu đáng kể. Tuy nhiên, không sớm thì muộn sẽ gây ra những hậu quả ở những mức độ khác nhau. Khối thoát vị lớn dần theo thời gian gây cảm giác căng tức và vướng víu khó chịu trong sinh hoạt. Khối này kẹt không xẹp xuống được mà lúc nào cũng phồng to, gây khó chịu và mất thẩm mỹ. Biến chứng nghẹt là hậu quả nghiêm trọng nhất, gây hoại tử thành phần bên trong túi thoát vị (ruột, mỡ chài) làm bệnh nhân đau dữ dội, và thậm chí có thể dẫn đến tử vong nếu không phẫu thuật cấp cứu kịp thời.

Có chữa khỏi thoát vị?

Điều trị khỏi bệnh thoát vị chỉ có một chọn lựa duy nhất là phẫu thuật. Những trường hợp có chống chỉ định phẫu thuật không thể mổ (bệnh nhân có bệnh khác quá nặng, thể trạng quá suy kiệt, rối loạn đông máu bẩm sinh...) thì không chữa khỏi mà chỉ dùng những biện pháp giảm nhẹ như mặc quần thun ôm sát vùng bẹn nếu thoát vị bẹn, mang đai bụng nếu thoát vị thành bụng, hạn chế gắng sức, điều trị các chứng bệnh gây tăng áp lực bụng.

Ngoại trừ biến chứng nghẹt phải mổ cấp cứu, bệnh thoát vị không cần phải mổ gấp. Tuy nhiên, bệnh không thể chữa khỏi nếu không phẫu thuật nên cần phải mổ càng sớm càng tốt. Nếu để lâu, khối thoát vị sẽ lớn dần và khó phẫu thuật hơn, chưa kể nguy cơ biến chứng nghẹt có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Nên mổ mở hay mổ nội soi?

Ngày xưa có rất nhiều phương pháp phẫu thuật thoát vị bẹn, bụng theo kỹ thuật mổ mở. Tuy nhiên, các phương pháp này đều có một hạn chế chung là tỷ lệ tái phát khá cao, từ 5 – 10%. Hiện nay, nhờ công nghệ tiên tiến chế tạo ra các mảnh ghép nhân tạo để đặt vào diện yếu của vị trí thoát vị, kết quả phẫu thuật cải thiện hơn nhiều. Đặt các mảnh ghép này có thể qua phẫu thuật mở hoặc nội soi.

Mổ nội soi ngoài ưu điểm sẹo mổ nhỏ, ít đau, mau bình phục còn có ưu điểm nổi bật là không có tái phát nếu mổ đúng kỹ thuật. Đa số trường hợp đều có thể mổ nội soi, ngoại trừ trẻ em và các trường hợp thoát vị kẹt hoặc nghẹt. Mổ mở cũng rất nhẹ nhàng và kết quả tốt ở trẻ em.

TS.BS Đặng Tâm

(SGTT)
Thoát vị đĩa đệm nhiều tầng - một bệnh lý lâm sàng rất phức tạp, đa dạng, nhất là trường hợp khối lượng thoát vị quá to gây chèn ép tủy sống và đuôi ngựa. Đây là chùm hội tụ nhiều rễ thần kinh thắt lưng - cùng gây đau đớn cho người bệnh tới cực điểm, đòi hỏi phải xử trí cấp cứu kịp thời.

Hậu quả do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Đau rễ thần kinh

Đau rễ phản ánh một quá trình tổn thương kích thích rễ thần kinh. Có thể do chèn ép cơ học (thoát vị đĩa đệm, chèn ép do xương); do viêm rễ, viêm ngoài màng cứng, viêm màng nhện của tủy sống; do u rễ. Đau rễ thần kinh thường đau theo dải, lan từ thắt lưng xuống chân, tương ứng với vùng phân bố của rễ thần kinh. Đau rễ xuất hiện sau giai đoạn đau thắt lưng cục bộ, đau tăng lên khi đi lại, đứng lâu, ngồi lâu. Đau dội mạnh lên khi ho, hắt hơi, rặn đại tiện. Nằm nghỉ tại giường lại giảm đau nhanh chóng. Đó là kiểu đau mang tính chất cơ học, thường gặp trong cơ chế xung đột giữa đĩa đệm với rễ thần kinh do thoát vị đĩa đệm.

Đau rễ lại xuất hiện khi đi được một đoạn làm bệnh nhân phải dừng lại để nghỉ. Khi đi tiếp một đoạn nữa, đau lại xuất hiện, buộc bệnh nhân phải nằm nghỉ. Người ta gọi đó là hội chứng đau khập khễnh cách hồi.

Trường hợp đau một rễ thần kinh thường gặp trong thoát vị đĩa đệm tầng L4 - L5 (đốt thắt lưng 4 - 5) và thoát vị đĩa đệm L5 - S1 (đốt thắt lưng 5 - xương cùng thứ nhất). Trường hợp thoát vị đĩa đệm hai tầng sẽ gây đau hai rễ thần kinh, thường gặp ở hai đĩa đệm cuối là L4 - L5 và L5 - S1 vì đây là đoạn bản lề của cột sống thắt lưng, nơi chịu sức ép mạnh của tải trọng phần trên cơ thể và sự chuyển động của cột sống về nhiều phía.

Rối loạn cảm giác thường gặp là giảm cảm giác nông (nóng, lạnh, xúc giác) ở những khu vực khoang da tương ứng với rễ thần kinh bị tổn thương. Đây là biểu hiện mức độ tổn thương sâu sắc của rễ thần kinh.

Rối loạn vận động: bại và liệt cơ ở hai chân do rễ thần kinh chi phối.

Rối loạn cơ thắt: trong tổn thương các rễ vùng xương cùng (rễ S3, S4, S5) có biểu hiện lúc đầu bí tiểu sau đái dầm dề, luôn luôn có nước tiểu chảy rỉ ra một cách thụ động do liệt cơ thắt kiểu ngoại vi không giữ được nước tiểu.

Ngoài các triệu chứng trên, thầy thuốc chuyên khoa thần kinh có những nghiệm pháp khám khách quan như rối loạn phản xạ, rối loạn thần kinh thực vật…
Các giai đoạn tiến triển của thoát vị đĩa đệm.

Và hội chứng đuôi ngựa

Tủy sống tận cùng ở ngang mức đốt sống thắt lưng 2 (L2). Tiếp theo khoanh tủy cuối là nón cùng (hình tam giác giống như cái nón). Đuôi ngựa là hội tụ của các rễ thần kinh thắt lưng cùng, gồm các rễ L2, L3, L4, L5, S1, S2, S3, S4, S5 chi phối thần kinh vận động, cảm giác và dinh dưỡng cho các cơ quan trong chậu hông và hai chân.

Trường hợp đau nhiều rễ thần kinh do chèn ép của khối thoát vị đĩa đệm lớn, nhiều tầng tạo nên bảng lâm sàng như là một khối u, được gọi là hội chứng đuôi ngựa. Đau nhiều rễ cũng ít gặp nhưng rất quan trọng vì thường là khởi đầu của bệnh cảnh hội chứng đuôi ngựa do khối thoát vị đĩa đệm lớn (thể giả u) chèn ép đuôi ngựa. Đặc điểm lâm sàng là đau khốc liệt, người bệnh không thể chịu nổi, đòi hỏi cấp cứu về thần kinh. Đau lại kèm theo liệt cơ, mất cảm giác, rối loạn cảm giác…

Có 3 hội chứng đuôi ngựa tùy theo tầng thoát vị đĩa đệm, có các hội chứng khác nhau:

Hội chứng đuôi ngựa trên: liệt ngoại vi toàn bộ ở hai chân, rối loạn cảm giác hai chân từ nếp bẹn trở xuống, rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi. Thể này ít gặp vì thoát vị đĩa đệm ở đoạn cao (L1 -  L2 và L2 - L3) ít có điều kiện xảy ra.

Hội chứng đuôi ngựa dưới: do thoát vị đĩa đệm L5 - S1, có rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi, rối loạn cảm giác vùng đáy chậu, không có liệt hoặc chỉ liệt một số động tác của bàn chân (rễ L5, S1, S2).

Hội chứng đuôi ngựa giữa: thường gặp do thoát vị đĩa đệm L3 - L4 và L4 - L5. Liệt gấp cẳng chân, liệt các động tác của bàn chân và ngón chân, mất cảm giác toàn bộ ngón chân; mất cảm giác toàn bộ cẳng chân, bàn chân, mặt sau đùi và mông; rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi.

Chẩn đoán xác định viêm đa rễ thần kinh dựa trên cơ sở lâm sàng và các kỹ thuật cận lâm sàng như chụp Xquang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ…
Thoát vị đĩa đệm gây nhiều rối loạn khác nhau.

Chữa trị bằng các biện pháp kết hợp

Chế độ vận động: trong thời kỳ cấp tính, nằm nghỉ tại giường là nguyên tắc quan trọng đầu tiên. Tư thế nằm ngửa trên ván cứng, có đệm ở vùng khoeo làm co nhẹ khớp gối và khớp háng.

Điều trị vật lý và các liệu pháp phản xạ: bao gồm phương pháp nhiệt như chườm nóng (túi nước, muối rang, cám rang, lá lốt, lá ngải cứu nóng); dùng các dòng điện tại khoa vật lý trị liệu, điều trị bằng laser; châm cứu.

Dùng thuốc: chủ yếu là dùng các loại thuốc chống viêm, giảm đau, giãn cơ, an thần, trấn tĩnh thần kinh và vitamin nhóm B liều cao (B1, B6, B12). Các thuốc này đều có những chống chỉ định nên phải do thầy thuốc chuyên khoa sử dụng.

Các biện pháp điều trị đặc hiệu khác đều phải điều trị nội trú tại các trung tâm chuyên khoa thần kinh và phẫu thuật thần kinh.

PGS. Vũ Quang Bích

(suckhoe-doisong)
Thoát vị đĩa đệm là một bệnh vào loại thường gặp nhất trong số các bệnh về cột sống với tỉ lệ thoát vị đĩa đệm ở người trưởng thành là 30%. Dưới đây là phần giải đáp những thắc mắc của bạn đọc gửi về trong buổi giao lưu trực tuyến “Những căn bệnh tiềm ẩn của giới văn phòng” vừa tổ chức mới đây.

Bác sĩ Prem Pillay trả lời:


Tại sao lại bị thoát vị đĩa đệm?


Thoát vị đĩa đệm có thể do vận động quá mức hoặc có thể do đĩa đệm yếu đi theo tuổi tác. Đĩa đệm sẽ dần bị mất nước, co lại và đôi khi có thể bị rạn nứt.

Khi đĩa đệm bị thoát vị hoặc bị vỡ, nó sẽ chèn ép vào các dây thần kinh.Ví dụ khi bị thoát vị đĩa đệm thắt lưng, nó sẽ chèn vào dây thần kinh chạy dọc xuống 2 bên chân gây ra cảm giác đau và tê ở 2 chân, nhưng thực chất vấn đề không phải ở chân mà là ở cột sống thắt lưng.


Nhiều người thường dùng dầu hoặc rượu để xoa bóp ở chân, có thể có cảm giác đỡ nhưng chỉ là tạm thời vì nguyên nhân của nó là ở cột sống.

Khi bị thoát vị đĩa đệm để lâu thì gây ra hiện tượng gì?



Bệnh thoát vị đĩa đệm có nhiều mức độ khác nhau, có người bị nhẹ, có người bị nặng, có người bị rất nặng.


Nếu bệnh nhân chỉ bị thoát vị đĩa đệm nhẹ, có thể áp dụng các bài tập thể dục, phương pháp vật lý trị liệu và uống một số loại thuốc giảm đau. Nhưng khi bị thoát vị đĩa đệm thể nhẹ mà cứ để nguyên, không điều trị, bệnh này sẽ tiến triển nặng thêm, nó có thể tạo ra các cơn đau đột ngột hoặc từ từ.


Bị bệnh thoát vị đĩa đệm không nên để lâu vì có thể gây chèn ép vào dây thần kinh. Khi bị chèn ép bệnh nhân sẽ bị tê tay chân, đau hoặc trong trường hợp xấu nhất bệnh nhân sẽ bị liệt.


Vì vậy, bạn nên phát hiện sớm để điều trị khỏi bằng một số những phương pháp điều trị đơn giản như bằng thuốc và tập thể dục.


Thoát vị đĩa đệm gây đau đớn như thế nào?



Khi cột sống của bạn bị thoái, hệ thống các dây chằng giữa các đốt sống lỏng lẻo, nó có thể thoát vị (đẩy nhân nhầy bên trong ra) ra sau hoặc vào trong ống sống. Biểu hiện triệu chứng lâm sàng là bệnh nhân cảm thấy đau dọc cột sống có thể lan xuống chân hoặc chèn ép vào các dây thần kinh gây hiện tượng liệt, mất hay tăng cảm giác vận động.


Khoảng 90% trường hợp thoát vị cột sống xảy ra ở L4-L5 (tổn thương ở cột sống thắt lưng 4 và 5) hoặc L5-S1 (đoạn đốt sống thắt lưng 5 và xương cùng đốt sống 1), thoát vị tại những vị trí này sẽ gây ra các cơn đau mất chi phối cảm giác kiểu đuôi ngựa.


Sự ảnh hưởng của thoát vị đĩa đệm tới dây thần kinh L5 có thể gây ra sự suy yếu khi cử động xoè ngòn chân cái và có khả năng ảnh hưởng tới vận động cổ chân. Bệnh nhân có thể cảm thấy tê và đau ở đầu ngón chân cái và các cơn đau cũng có thể lan ra phía gan chân.


Sự ảnh hưởng của thoát vị đĩa đệm tới dây thần kinh S1 có thể gây ra mất phản ứng của cổ chân và/hoặc khó cử động chân (ví dụ bệnh nhân không thể cong ngón chân cái). Cảm giác tê và đau có thể lan toả xuống gan bàn chân hoặc mặt ngoài của bàn chân.


Bệnh thoát vị đĩa đệm chữa bằng biện pháp chiếu tia hồng ngoại hoặc mát xa bằng máy có được không?


Bạn cần phải hiểu được rằng dù chiếu tia hồng ngoại hay mát xa bằng máy, thì bệnh thoát vị đĩa đệm vẫn như vậy không hề biến mất. Đĩa đệm bị trượt không thể về vị trí cũ. Chỉ có tác dụng giảm đau tại các vùng đó tạm thời. Cho nên nếu bạn đứng, ngồi, làm việc đúng tư thế sẽ có lợi hơn nhiều so với việc chiếu tia hồng ngoại hay mát xa.

Tôi bị thoát vị đĩa đệm thì có nên phẫu thuật hay không?

Bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm tuỳ theo mức độ của từng người mà bác sĩ sẽ quyết định có cần tiến hành phẫu thuật hay không. Đối với thoát vị mức độ nhẹ có thể tập luyện theo các bài tập đặc biệt để đĩa đệm không thoát vị thêm. Nếu bệnh nhân đã bị thoát vị ở mức độ gây chèn ép vào dây thần kinh thì phẫu thuật là phương pháp giúp bệnh nhân giảm chèn ép và tránh các biến chứng do thoát vị gây ra.

Khi phẫu thuật thay đĩa đệm bằng phương pháp sử dụng đĩa đệm nhân tạo thì sau bao lâu bệnh lại tái phát và thời gian sử dụng đĩa đệm nhân tạo là bao nhiêu lâu?

Đĩa đệm nhân tạo được cấu tạo bằng hợp chất đặc biệt nên có thể sử dụng trong thời gian dai, có thể là 15, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Tỉ lệ tái phát đối với đĩa đệm đã thay thế là rất thấp, dưới 5%.


Tỉ lệ thành công của phương pháp thay đĩa đệm cột sống bằng vật liệu nhân tạo là bao nhiêu phần trăm?

Tỉ lệ thành công là 80 - 90 % nếu như bệnh nhân được quyết định phương pháp điều trị đúng.


PV ghi
(Dantri)
Thoát vị đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài và chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống. Những chấn thương như ngã ngồi, trượt chân, cố sức nâng vật nặng... có thể gây bệnh.

Các triệu chứng của bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống có thể xuất hiện ngay sau chấn thương hoặc vài tháng, thậm chí vài năm sau đó. Vì thế, phương pháp xác định bệnh hiệu quả nhất là chụp cộng hưởng từ MRI. Nếu chụp phim sẽ khó phát hiện do nhân keo đĩa đệm không cản quang, hoặc chỉ nhận ra qua những dấu hiệu như cột sống lệch trục, hẹp khoảng liên đốt sống. Lưu ý là có thể nhầm thoát vị đĩa đệm với bệnh thoái hóa đốt sống, viêm cột sống dính khớp, lao cột sống hay u rễ thần kinh.

Một số triệu chứng điển hình của thoát vị đĩa đệm cột sống:


- Đau lưng: cảm giác đau giảm khi nằm nghiêng và tăng khi ho hoặc đại tiện.

- Đau khi gõ hoặc ấn vào khoảng liên đốt.

- Đau tự nhiên vùng xung quanh gai sau. Nếu bệnh nặng có thể cảm giác đau lan xuống vùng mông và đùi.

- Hạn chế cử động cột sống: không còn khả năng ưỡn của thắt lưng.

- Không cúi được sâu: khoảng cách giữa ngón tay và mặt đất khi cúi người thả lỏng tay lớn hơn 50 cm.

- Giảm vận động chân và giảm cảm giác vùng da chân. Trường hợp nặng có thể bị liệt.

Cách điều trị:


- Áp dụng xen kẽ việc nằm nghỉ trên nền cứng, bó bột, làm nóng tại chỗ bằng chiếu tia, xoa bóp.

- Dùng thuốc giảm đau hoặc tiêm corticoid tại chỗ.

- Dùng phương pháp kéo nắn cột sống giúp đẩy đĩa đệm về vị trí cũ.

- Sau giai đoạn cấp, cần tránh những động tác quá sức như mang vác nặng, cúi gập người…

- Khi có rối loạn vận động trầm trọng hoặc bị ép tủy, đã điều trị phục hồi 3 tháng nhưng không có kết quả, cần cắt là cột sống, cắt thoát vị, nạo đĩa đệm…

- Làm giảm áp đĩa đệm bằng laser: dùng kim chọc vào nhân keo dưới sự hướng dẫn của X-quang tăng sáng 3 chiều. Dây dẫn của máy phát laser được luồn qua kim tới nhân. Khi phát tia, nhân keo bị tiêu hủy một phần nên co lại, làm giảm áp lực đè lên các dây thần kinh. Kỹ thuật này có thể áp dụng cho hầu hết các thoát vị đĩa đệm, trừ những trường hợp quá nặng như khối thoát vị quá lớn, trượt đốt sống...

Bác sĩ Nguyễn Minh Hồng, Sức Khỏe Gia Đình
(vnexpress)