Bệnh khớp - Viêm khớp - Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
benh khop | viem khop | thoai hoa khop | dau khop | chua benh khop ...
Phân trang 1/2 Trang đầu [1] [2] Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
Viêm đa khớp dạng thấp gây nhiều biến chứng cho bệnh nhân, thường gặp ở nữ giới. Đây là bệnh tự miễn gây viêm màng bao khớp, sau đó phá hủy mặt sụn khớp, gây tàn phế cho bệnh nhân rất nhanh.

Bản thân các phương pháp điều trị bệnh này tiềm ẩn nhiều biến chứng do chính thuốc điều trị gây ra như viêm loét dạ dày, tổn thương gan và thận, hội chứng cushing do dùng thuốc corticoide (bệnh nhân bị teo cơ, tụ mỡ ở mặt và lưng, mỏng da, loãng xương, lệ thuộc vào thuốc corticoide, suy tuyến thượng thận...). Sau đây là các câu hỏi người bệnh thường đặt ra cho chúng tôi khi đi khám bệnh.

* Tôi hiện nay bị đau nhiều khớp, mỗi khi sáng dậy hay bị cứng các khớp, nhất là ngón tay. Không biết tôi có bị viêm đa khớp dạng thấp hay không?

- Đặc trưng của bệnh viêm đa khớp dạng thấp là tình trạng viêm màng bao khớp, do đó các khớp bị viêm phải sưng lên, có thể gặp ở bất kỳ khớp nào nhưng các khớp bàn ngón tay, cổ tay, gối hay bị tổn thương, thường là đối xứng hai bên. Tình trạng cứng khớp buổi sáng kéo dài hơn so với tình trạng thoái hóa khớp. Khi bị đau nhiều khớp không nhất thiết phải là viêm đa khớp dạng thấp mà có thể bị thoái hóa khớp. Tuy nhiên nếu chỉ bị viêm một khớp cũng không thể loại trừ viêm đa khớp dạng thấp.

* Nếu bác sĩ chẩn đoán bị viêm đa khớp dạng thấp, tôi có cần làm xét nghiệm máu hay không?

- Để chẩn đoán viêm đa khớp dạng thấp, các bác sĩ sẽ cho bệnh nhân làm hai nhóm xét nghiệm. Nhóm thứ nhất để chứng minh bệnh nhân có tình trạng viêm bao gồm tốc độ máu lắng và CRP. Thông thường ở bệnh nhân viêm đa khớp dạng thấp các chỉ số này sẽ tăng rất cao. Nhóm xét nghiệm thứ hai để chẩn đoán bệnh, bao gồm yếu tố thấp RF và anti-CCP. Xét nghiệm dương tính cộng thêm với tình trạng lâm sàng sẽ giúp chẩn đoán xác định bệnh viêm đa khớp dạng thấp.

Những điều cần biết về bệnh viêm đa khớp dạng thấp 1
Một ca viêm đa khớp dạng thấp cổ tay - Ảnh: T.H.N.A

* Tôi được chẩn đoán bị viêm đa khớp dạng thấp và được cho uống thuốc nhưng bệnh cứ tái đi tái lại. Xin hỏi có phương thuốc nào điều trị dứt điểm bệnh này không?

- Cho đến nay việc điều trị dứt điểm bệnh này là không thể. Để giúp bệnh nhân bớt đau, giảm triệu chứng sưng đau của khớp, bác sĩ có thể kê dùng các thuốc kháng viêm giảm đau có hay không có chất corticoide.

Tuy nhiên các thuốc này không thể làm giảm tiến triển của bệnh. Tình trạng sưng màng bao khớp nhiều lần sẽ gây phá hủy sụn khớp và làm hư khớp. Những thuốc điều trị cổ điển có thể làm chậm diễn tiến bệnh bao gồm nhiều chất nhưng phổ biến nhất là methotrexate. Thuốc này phải dùng lâu dài song lại có nguy cơ gây hư gan, thận, cũng như làm viêm dạ dày và nhiều khi không có tác dụng. Đây là vấn đề lớn của bệnh này.

Gần đây có nhiều thuốc điều trị sinh học ra đời giúp điều trị bệnh này và có nhiều kết quả tốt nhưng giá thành rất cao, chưa được bảo hiểm y tế thanh toán nên rất ít bệnh nhân có thể tiếp cận được loại thuốc này. Các loại thuốc này tấn công trực tiếp vào các yếu tố viêm như interleukine 1, interleukine 6, hoặc trực tiếp vào tế bào B nhằm làm giảm tiến trình viêm. Thuốc được sử dụng dưới dạng tiêm truyền hay chích dưới da và cần bảo đảm loại trừ nguy cơ mắc bệnh lao tiềm ẩn trước khi dùng thuốc.

* Tôi bị viêm đa khớp dạng thấp và các khớp của tôi bị đau khi cử động, mặc dù uống thuốc điều trị nhưng vẫn không bớt. Xin hỏi ngoài cách dùng thuốc có cách nào để giảm bớt đau khớp và giúp sử dụng lại khớp được không?

- Một khi khớp đã bị hư hại và biến dạng thì việc dùng thuốc không có tác dụng. Phẫu thuật tái tạo khớp giúp bệnh nhân có thể sử dụng khớp của mình không đau đớn. Đối với khớp gối và khớp háng, có thể dùng biện pháp thay khớp nhân tạo. Với các khớp khác như cổ tay, cổ chân, có thể hàn cứng khớp giúp bệnh nhân giảm đau đớn, đi lại hay làm nặng được.

Các phẫu thuật này được bảo hiểm y tế chi trả. Nội soi cắt màng bao khớp khi mặt sụn khớp còn tốt hoặc ở một số khớp không chịu lực như khuỷu, vai, cổ tay cũng giúp giảm đau và cải thiện tầm vận động của khớp. Tùy diễn tiến bệnh, các bác sĩ sẽ chỉ định phẫu thuật khi cần thiết.

Theo Afamily
ANTĐ - Đau nhức, tê buốt ở các khớp, đặc biệt là ở khớp gối, khớp cổ chân tay, vai.... là những biểu hiện thường gặp ở bệnh nhân thoái hóa khớp. Bệnh nặng sẽ dẫn tới sưng khớp, viêm khớp thậm chí là vôi khớp khiến cho việc đi đứng, vận động gặp rất nhiều khó khăn. Vậy đâu là giải pháp ngăn ngừa đau khớp, sưng khớp hiệu quả?
Như chúng ta đã biết, thoái hóa khớp là do phần sụn khớp bị bào mòn, hư tổn, kèm theo đó là phần dịch khớp – có tác dụng bôi trơn cho khớp chuyển động cũng dần cạn kiệt, giảm sút. Quá trình thoái hóa hư tổn của sụn khớp, dịch khớp thường bắt đầu sau tuổi 30, tăng nhanh hơn sau tuổi 40. Ban đầu thường chỉ là những cơn đau thoáng qua, sau tăng lên về tần suất và cường độ, lúc này các cơn đau thường mạnh hơn, kéo dài hơn, nếu để lâu, sụn khớp bào mòn, dịch khô cạn sẽ rất khó phục hồi.

Các nghiên cứu mới đây tại Mỹ cho thấy, giải pháp lâu dài, cơ bản giúp giảm đau nhức tê buốt, ngăn ngừa thoái hóa khớp đó là phải tái tạo sụn và chất nhờn cho các khớp, tăng độ đàn hồi và tính linh hoạt của khớp và sụn khớp. Từ nghiên cứu này, các nhà khoa học Mỹ đã tạo nên một sản phẩm có công thức, thành phần, tác dụng ưu việt, tiên tiến - đó là viên uống ARTHRI-FLEX. Không giống như bất kỳ sản phẩm nào khác hiện có trên trị trường, ARTHRI-FLEX có tới 10 thành phần thiết yếu hàm lượng cao, mang tới 2 tác dụng ưu việt là giúp phục hồi lớp sụn khớp, đồng thời giúp sản sinh lượng dịch khớp, nhờ đó sẽ làm tăng khả năng bôi trơn, tăng độ đàn hồi và tính linh hoạt của khớp, giúp người bệnh đẩy lui cảm giác đau đớn khi vận động.

Sản phẩm được nhập khẩu nguyên hộp từ Mỹ, hiện đã có mặt tại Việt Nam, thông tin chi tiết xin liên hệ ĐT Tư vấn: 043 971 2592.

TRẦN THẮNG
ANTĐ - Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí “Nghiên cứu viêm khớp và trị liệu” của Thụy Điển ngày 22-4, phụ nữ hút thuốc hoặc đã từng hút thuốc đều có nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp.
Các nhà nghiên cứu tại Viện Karolinska và Bệnh viện Đại học Karolinska, Stockholm cho biết khi phân tích dữ liệu thu thập được từ 34.000 phụ nữ đang hút thuốc hoặc đã từng hút thuốc có độ tuổi từ 54 đến 89 ở Thụy Điển thì có tới 219 người bị bệnh viêm khớp dạng thấp. Viêm khớp dạng thấp là loại bệnh gây ra viêm ở các khớp, dẫn đến sưng, cứng, đau và giảm các chức năng ở khớp. Nó cũng gây ảnh hưởng xấu đến chức năng các cơ quan khác trong cơ thể. Phụ nữ hút từ 1 đến 7 điếu thuốc mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cao gấp đôi những người không hút thuốc. Bỏ thuốc lá sớm có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh theo thời gian. Đối với những người đã bỏ hút thuốc được 15 năm, nguy cơ mắc bệnh giảm tới 1/3. Daniela Di Giuseppe, trưởng nhóm nghiên cứu khuyến cáo: “Để bảo vệ sức khỏe cũng như ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp, hãy bỏ thuốc lá càng sớm càng tốt, đặc biệt là phụ nữ”.
Mai Loan
(Theo HealthDay)
ANTĐ - Cũng như nhiều cơ quan khác trong cơ thể, hệ xương, khớp bắt đầu thoái hóa ở tuổi trung niên và tăng nhanh sau tuổi 50.
Nguyên nhân là do sụn khớp bào mòn, dịch khớp cạn kiệt, các đầu xương phải tiếp xúc trực tiếp với nhau dẫn đến sưng khớp, viêm khớp... gây nên những cơn đau nhức, tê buốt điếng người. Việc dùng kháng sinh, giảm đau, tiêu viêm tuy có tác dụng nhanh nhưng chỉ mang tính tạm thời, nếu dùng nhiều sẽ hại dạ dày, gan, thận... Giải pháp căn bản, lâu dài để loại bỏ từ gốc các cơn đau nhức đó là cần phục hồi lớp sụn khớp bị lão hóa, tăng cường dịch khớp giúp tăng độ trơn, giảm ma sát tiếp xúc giữa các khớp nhằm hạn chế nguyên nhân gây đau buốt.

Tin vui cho các bệnh nhân thoái hóa khớp là hiện nay các nhà khoa học của Mỹ đã nghiên cứu, tìm ra giải pháp ưu việt giúp phục hồi sụn khớp, dịch khớp thông qua việc tổng hợp nên một sản phẩm có công thức vượt trội gồm nhiều thành phần hữu ích cho khớp. Công thức này được tổng hợp trong sản phẩm ARTHRI-FLEX. ARTHRI-FLEX là thực phẩm chức năng dạng viên uống với công thức tiên tiến, độc đáo. Không như các giải pháp thông thường khác chỉ giúp giảm đau tạm thời, viên uống ARTHRI-FLEX với công thức tiên tiến nhất hiện nay gồm UC – II (Collagen tuýp 2 không biến tính - hàm lượng lên tới 941mg ) và 10 thành phần thiết yếu khác. Đặc biệt là có chứa Glucosamine Sulfat, Chondroitin hàm lượng cao (lên tới 1500mg) và các hoạt chất giúp tăng dịch khớp như Acid Hyaluronic (80mg), Flexicol... mang tới 2 tác dụng ưu việt là Giúp phục hồi lớp sụn khớp, đồng thời giúp sản sinh lượng dịch khớp, nhờ đó sẽ làm tăng khả năng bôi trơn, tăng độ đàn hồi và tính linh hoạt của khớp, giúp người bệnh đẩy lui cảm giác đau đớn khi vận động. ARTHRI-FLEX thực sự là giải pháp cơ bản, lâu dài trong phòng và hỗ trợ điều trị bệnh lý thoái hóa khớp. Vì thế, người bệnh chỉ dần dùng ARTHRI-FLEX là đủ, không cần dùng thêm bất kỳ sản phẩm nào khác có chứa Glucosamin.

Sản phẩm nhập khẩu nguyên hộp từ Mỹ, hiện đã có mặt tại Việt Nam. Thông tin về sản phẩm vui lòng liên hệ: 043 971 2592- 04 6278 0112 hoặc xem tại: thoaihoakhop.vn

TRẦN THẮNG
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh tự miễn, viêm nhiều khớp mạn tính, nữ mắc bệnh chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam giới (tỷ lệ giữa nam và nữ là 1/3). Bệnh VKDT có thể để lại nhiều hậu quả xấu cho người bệnh. Bệnh được chữa khỏi với điều kiện là phải chẩn đoán sớm, chính xác, điều trị đúng phác đồ và người bệnh phải kiên trì điều trị.
Khớp nào hay bị viêm?
Ở nước ta có khoảng 0,55% dân số mắc bệnh VKDT, tuổi từ 40 - 60 chiếm tỷ lệ cao (70%). Cho đến nay thì nguyên nhân gây bệnh VKDT chưa được làm sáng tỏ. Do chưa tìm thấy nguyên nhân gây VKDT một cách chắc chắn cho nên việc điều trị cũng gặp không ít khó khăn. Bệnh mang tính chất mạn tính, gây đau, sưng khớp, viêm bao hoạt dịch, dây chằng, gây bào mòn xương, hủy xương tại khớp một cách từ từ và phá hủy sụn khớp.

Các khớp dễ bị tổn thương.
Các khớp thường bị viêm sớm nhất và hay gặp nhất là bàn tay, cổ tay rồi đến khớp bàn chân - ngón chân, khớp bàn - ngón tay, khớp bàn - ngón chân. Các khớp thường bị sưng, đau kéo dài và đối xứng nhau. Bên cạnh các triệu chứng lâm sàng thì tốc độ máu lắng tăng,  tỷ lệ CRP tăng cao (C- Reactive Protein), có yếu tố dạng thấp RF xuất hiện (Rheumatoid Factor), chụp Xquang khớp bị đau thấy có hình ảnh biến đổi của xương (mất vôi, hình dải hoặc xói mòn hoặc khuyết xương ở khớp bàn tay - ngón tay, bàn chân - ngón chân hoặc hẹp khe khớp hoặc dính khớp). Nhiều trường hợp VKDT có nốt thấp xuất hiện dưới da.
Có thể để lại di chứng?
Thống kê cho thấy, hậu quả của VKDT có thể để lại di chứng biến dạng khớp bị viêm, co quắp các ngón tay, hạn chế chức năng vận động, teo cơ và có thể bị tàn phế (khoảng từ 10 - 15%). Tuy nhiên, biến chứng của VKDT còn tùy thuộc vào mức độ của bệnh và số lượng khớp bị viêm. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, nếu số lượng khớp bị sưng và đau nhiều; thời gian mắc bệnh kéo dài trên 1 năm; các hình ảnh tổn thương xương thể hiện trên phim chụp Xquang thấy rõ (xương bào mòn, hẹp khe khớp...); tốc độ máu lắng và chỉ số CRP tăng cao thì nguy cơ để lại di chứng là rất lớn.
Một số yếu tố khác có thể làm ảnh hưởng đến tính mạng người bệnh như người bệnh VKDT có kèm bệnh tim mạch thì có thể làm bệnh nặng thêm hoặc mắc thêm bệnh nhiễm khuẩn cấp tính. Đối với VKDT cũng cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có triệu chứng hơi giống VKDT như  đau nhức xương hoặc mỏi cơ hoặc mỏi khớp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp phản ứng, viêm khớp vẩy nến... Đây là những bệnh thuộc về khớp nhưng phản ứng huyết thanh về yếu tố RF âm tính, viêm khớp không đối xứng ở một hoặc nhiều khớp, các bệnh này thường gặp ở nam giới. Hoặc một số bệnh có liên quan đến khớp nhưng không phải VKDT như Lupus ban đỏ hệ thống, thoái hóa khớp hoặc viêm khớp do liên cầu nhóm A (S. pyogenes) gây thấp tim tiến triển.
Bệnh nhân nên làm gì?
Người bệnh không nên tự mua thuốc hoặc nghe sự chỉ dẫn của dược tá bán thuốc ở các quầy thuốc tư nhân mà mua thuốc điều trị. Làm như vậy bệnh không những không khỏi mà đôi khi còn nặng hơn, nguy hiểm hơn nhất là dùng không đúng chỉ định. Không được tiêm bất cứ loại thuốc gì vào vùng đau của khớp khi chưa có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa khớp. Đối với phụ nữ trong thời gian mang thai mà bị VKDT thì phải được chỉ dẫn tỉ mỉ của thầy thuốc chuyên khoa khớp; cần ăn uống đủ chất, làm việc và chế độ sinh hoạt điều độ.
Bệnh VKDT không chỉ là một bệnh ở khớp mà là một hệ thống. Bệnh mang tính chất mạn tính, kéo dài, để lại nhiều hậu quả xấu, có thể gây tàn phế. VKDT không phát hiện sớm có thể là tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, loãng xương. Tuy vậy, VKDT chưa được xác định nguyên nhân một cách chắc chắn do đó khi nghi ngờ bị bệnh VKDT cần đi khám bác sĩ ngay, tốt nhất là khám bác sĩ chuyên khoa xương khớp. Khi đã bị bệnh VKDT cần xác định là điều trị sớm, tích cực, liên tục (khoảng 4 tháng kể từ khi bị bệnh VKDT).
Người bệnh VKDT nên có chế độ sinh hoạt hợp lý và rèn luyện cơ thể đều dặn nhằm tránh biến dạng khớp, cứng khớp, teo cơ. Tập thể dục thường xuyên nhưng trong giai đoạn bệnh cấp tính thì cần nghỉ ngơi nhưng không có nghĩa là nghỉ hoàn toàn (tức là không làm các động tác căng cơ mạnh) như phải vận động nhẹ nhàng các khớp, căng nhẹ các cơ để hạn chế cứng khớp. Khi bệnh đã thuyên giảm thì nên đi bộ hoặc tập các động tác thể dục nhẹ nhàng hợp với sức mình để tăng sức mạnh cho các cơ bắp.
Dinh dưỡng hợp lý như đa dạng nguồn dinh dưỡng, ăn nhiều rau, quả, cá, thịt trắng (thịt gà), giảm ăn ngọt. Một số thức ăn có giàu chất omega -3, các loại acid béo không no như mỡ cá, dầu cá giúp giảm đau, cứng khớp thì nên tận dụng. Nên đi khám bệnh theo định kỳ để bác sĩ theo dõi tình trạng sức khỏe của mình thuận lợi hơn, nếu thấy cần kết hợp điều trị giữa nội khoa, ngoại khoa hoặc lý liệu pháp thì bác sĩ sẽ tư vấn kịp thời cho người bệnh biết. VKDT là một trong những bệnh cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc, người bệnh và gia định bệnh nhân thì hiệu quả điều trị sẽ được tăng lên.    
PGS.TS. TTƯT. Bùi Khắc Hậu
Theo SKĐS
ANTĐ - Đau nhức, tê buốt khi đi lại, vận động; đau khi thay đổi tư thế, mang vác vật nặng, thậm chí cúi xuống, đứng lên, quay ngang đều đau… là những biểu hiện đặc trưng ở các bệnh nhân bị thoái hoá khớp. Nguyên nhân là do khớp bị thoái hóa. Khi sụn khớp bị lão hóa sẽ trở nên sần sùi, mất độ trơn nhẵn, lớp sụn ngày càng mỏng đi, giảm đàn hồi, khô và nứt nẻ… để trơ lại lớp xương ở bên dưới. Đồng thời, lượng dịch nhầy (dịch khớp) - có tác dụng bôi trơn các đầu khớp xương và sụn cũng dần cạn kiệt. Điều này khiến những khớp xương hoạt động không “trơn tru” và phát ra tiếng kêu… đó chính là nguyên nhân của những cơn đau ở người thoái hóa.
Tin vui cho các bệnh nhân thoái hóa khớp là hiện nay các nhà khoa học của Mỹ đã nghiên cứu, tìm ra giải pháp ưu việt giúp phục hồi, tái cấu trúc khớp, sụn thông qua việc tổng hợp nên một sản phẩm có công thức vượt trội gồm nhiều thành phần hữu ích cho sụn khớp. Công thức này được tổng hợp trong Viên uống ARTHRI-FLEX dành cho bệnh nhân thoái hóa khớp. Không như các giải pháp thông thường khác chỉ giúp giảm đau tạm thời, viên uống ARTHRI-FLEX với công thức tiên tiến nhất hiện nay gồm UC - II (Collagen tuýp 2 không biến tính) và  10 thành phần thiết yếu khác như: MSM, Acid Hyaluronic, Flexicol, Vitamin C, Magnesium; Copper; Manganese; Molybdenum, Hydroxypropyl Cellulose, Stearic và đặc biệt là có chứa Glucosamine và Chondroitin hàm lượng cao (lên tới 1500mg)… nhờ đó ARTHRI-FLEX mang tới 2 tác dụng ưu việt là giúp phục hồi, nuôi dưỡng sụn khớp, đồng thời giúp sản sinh lượng dịch khớp. Nhờ đó, sẽ làm tăng khả năng bôi trơn, tăng độ đàn hồi và tính linh hoạt của khớp, giúp người bệnh đẩy lui cảm giác đau đớn khi vận động. ARTHRI-FLEX thực sự là giải pháp cơ bản, lâu dài trong phòng và hỗ trợ điều trị bệnh lý thoái hóa khớp.
Sản phẩm này được nhập khẩu nguyên hộp từ Mỹ, hiện nay đã có bán tại các nhà thuốc trên toàn quốc. Điện thoại tư vấn: 043.971 2592. Website: thoaihoakhop.vn

Trần Thắng
Khi bị viêm khớp mãn tính, trẻ thường sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirine liều thông thường.
Viêm khớp mạn tính trong độ tuổi thiếu niên là một trong những bệnh phổ biến nhất ở lứa tuổi này. Bệnh có thể gây ra những tổn thương ở màng ngoài tim, các mạch máu trong và ngoài tim, viêm cơ tim.

5-15 tuổi dễ mắc bệnh

Đây là nhóm bệnh tự miễn dịch, nguyên nhân gây bệnh chưa rõ, được định nghĩa là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, khởi phát bệnh trước 16 tuổi. Bệnh thường khởi phát sau khi nhiễm virut, Chlamydia mycoplasma, Streptococus, Salmonella, Shigella.

Khi bị viêm khớp mãn tính, trẻ thường sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirine liều thông thường. Trẻ có thể bị nổi mẩn đỏ ở thân mình và các gốc chi, nhưng các mẩn đỏ này mất rất nhanh. Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, thường là trẻ bị sưng đau các khớp cổ tay, khớp gối và mắt cá chân. Ở trẻ lớn thường là thể viêm ít khớp, chủ yếu ở một vài khớp to như khớp gối, khuỷu tay, háng, nhưng cũng có thể gặp ở khớp thái dương hàm và khớp cổ. Nơi khớp sưng thấy phù nề, sờ ấm nhưng không đỏ và ít đau. Khi sụn khớp đã bị dính và xơ thì khớp trở nên cứng và hạn chế sự vận động kèm theo các cơ ở chi đó bị teo.


Một ca can thiệp cho trẻ bị dính khớp tại BV Nhi TƯ. Ảnh: P.Ninh.

Các tổn thương khác cũng có thể gặp như trẻ bị nổi hạch, gan lách to, viêm đa màng như tràn dịch màng phổi,viêm màng tim hay viêm cầu thận.

Theo các chuyên gia tim mạch, trên 38% trẻ bị viêm khớp mạn tính có biểu hiện các bệnh về tim mạch như: viêm cơ tim, bệnh van tim... Đặc biệt là những bệnh nhân bị tổn thương khớp lan rộng, viêm đa khớp và rối loạn miễn dịch. Những bệnh nhân này tập trung chủ yếu ở hai nhóm tuổi chính là 5 - dưới 10 tuổi và nhóm 10 - 15 tuổi. Trong đó hơn 10,9% bị viêm cơ tim, 10,9% mắc bệnh van tim với tổn thương van hai lá chủ yếu, 9,1% rối loạn dẫn truyền.

Dinh dưỡng tốt, ngủ đủ

Khi mắc bệnh, bệnh nhân cần phải được khám và điều trị của bác sĩ chuyên khoa khớp vì có thể trẻ bị thể bệnh nặng gây nguy hiểm. Mục đích của điều trị là kiểm soát tiến triển của bệnh càng sớm càng tốt, nhằm hạn chế đến mức tối đa những thương tổn gây phá hủy và biến dạng khớp. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc (vật lý trị liệu, duy trì sinh hoạt thường ngày), dùng thuốc và điều trị ngoại khoa.

Vật lý trị liệu nhằm duy trì đến mức tối đa tầm vận động của khớp, tránh cứng khớp, dính khớp. Có thể dùng các biện pháp như sóng ngắn, tia hồng ngoại, tắm suối khoáng, tập các bài tập phục hồi chức năng vận động khớp... Tuy nhiên trong thời gian đau nhiều có thể tạm thời bất động khớp nhưng cần lựa chọn tư thế sao cho giữ được biên độ vận động lớn nhất.

Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những đứa trẻ khác. Tuy nhiên trong những đợt tiến triển nên cho trẻ nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.
Theo Afamily
Khi bị viêm khớp dạng thấp, người bệnh có thể mắc phải một số loại ung thư, tùy thuộc vào các loại thuốc viêm khớp dạng thấp mà bạn đang sử dụng.
Ung thư phổi: Người hút thuốc lá có nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp cao. Dù tỉ lệ bị ung thư phổi thấp hơn những người hút thuốc nhưng những người bị viêm khớp mà không hút thuốc cũng có nguy cơ bị ung thư phổi do viêm khớp dạng thấp có thể gây viêm phổi.

Do vậy, nếu đang hút thuốc, bạn nên bỏ thuốc lá ngay lập tức. Những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp bị các bệnh về  phổi nên tránh thuốc methotrexate hoặc leflunomide vì chúng sẽ làm phổi ngày càng yếu.

Ung thư da: Nghiên cứu chỉ ra rằng khối u hắc tố ác tính, một loại ung thư da nguy hiểm nhất có khả năng xuất hiện ở những người thường sử dụng chất ức chế hoại tử khối u (TNF inhibitor), do những loại thuốc này sẽ kìm hãm chức năng của hệ miễn dịch.

Một nghiên cứu vào năm 2007 tìm ra rằng những người mắc viêm khớp dạng thấp mà sử dụng các chất ức chế TNF này sẽ tăng gấp đôi nguy cơ mắc ung thư da hắc tố. Ngoài ra, những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cũng có nguy cơ cao mắc các loại ung thư da khác có thể chữa trị được.



Ung thư tủy: Ung thư tủy là loại ung thư hiếm gặp. Theo nghiên cứu năm 2008, những bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp tăng 17% nguy cơ mắc bệnh này. Điều này được giải thích do những bệnh nhân bị chứng bệnh này trong thời gian dài sẽ sản xuất quá mức các loại protein kháng thể trong máu (gây hội chứng tăng globulin huyết).

Ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin và bệnh hodgkin: Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ 2 loại bệnh trên. Nghiên cứu năm 2003 trên 76.000 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp Thụy Điển cho thấy: nguy cơ mắc ung thư hệ bạch huyết cao gấp 2-3 lần so với những người bình thường. Điều này có thể là do hệ miễn dịch bị kích thích mãn, thường xảy ra ở những bệnh nhân bị viêm khớp nặng trong thời gian dài mà  không có sự kiểm soát kịp thời và đúng hướng.

Ung thư hệ bạch huyết liên quan đến chất ức chế TNF: Những người sử dụng Humira, một loại chất ức chế TNF điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp sẽ tăng nguy cơ phát triển ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin hiếm gặp và nguy hiểm.

Bệnh bạch cầu: Một nghiên cứu trên khoảng 12.000 nam giới và 35.000 nữ giới cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu ở những nam giới mắc chứng viêm khớp dạng thấp cao hơn so với người bình thường. Trong khi ở phụ nữ lại không đáng kể.

Mối liên quan giữa bệnh bạch cầu và viêm khớp dạng thấp là khá hiếm và đây cũng là biến chứng liên quan đến các liệu pháp ức chế miễn dịch như Cytoxan và Azasan dùng để chữa trị viêm khớp dạng thấp. Methotrexate cũng làm tăng tỷ lệ mắc phải bệnh bạch cầu.

Ung thư vú và ung thư đại trực tràng: Trái với những loại ung thư trên, những bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp sẽ có nguy cơ thấp mắc hai loại ung thư này. Nghiên cứu năm 2008 ước tính những người mắc viêm khớp dạng thấp giảm 16% mắc ung thư vú và giảm 23% ung thư đại trực tràng. Điều này là do nhiều bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp thường uống thuốc kháng viêm.



Ung thư tuyến tiền liệt: Việc sử dụng dài kỳ thuốc chống viêm không steroid (NSAID) có thể giảm nguy cơ tử vong ở nam giới bị viêm khớp dạng thấp mà mắc ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu trên gần 100.000 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt Thụy Điển cho thấy, nguy cơ tử vong giảm 2% so với những người bình thường. Tỷ lệ tử vong cũng giảm đến 6 lần ở bệnh nhân có kèm viêm khớp dạng thấp.
Theo Afamily
Thói quen lười vận động là nguyên nhân gây thoái hóa khớp ở dân văn phòng.
Ngồi nhiều dễ đau xương nhức khớp

Mấy tháng trước, chị Hà My 30 tuổi, nhân viên truyền thông làm việc tại Hà Nội đột nhiên thấy tê buốt, đau nhức cổ tay, đầu gối và đốt sống cổ. Nhất là những ngày gần đây, khi thời tiết chuyển lạnh cơn tê nhức càng dữ dội, khó chịu hơn.
Bê chậu quần áo đi phơi tay chân run, đau, cảm giác khớp mỏi như muốn rời ra, nhiều lúc đang ngồi máy tính ngoái cổ, quay đầu cũng khó khăn nên chị rất hay mất tập trung làm việc.

Chị chuẩn bị nhiều cao dán nóng, lạnh đủ loại, mỗi lúc đau chị lại lấy ra dán hoặc xoa bóp bằng dầu nóng nhưng chỉ đỡ được một thời gian ngắn rồi lại đau như cũ. Dán cao, xoa bóp không tác dụng chị tìm mua thuốc giảm đau dành cho viêm cơ, viêm khớp. Khi mới uống chị thấy giảm đau nhanh nhưng cũng chỉ được vài ngày bệnh lại tái phát.

Lúc này chị đi khám thì bác sĩ kết luận chị bị thoái hóa khớp, cần thực hiện điều trị đúng liệu trình, uống thuốc theo đơn và tập các bài tập vận động phù hợp theo hưỡng dẫn của bác sĩ.

Bác sĩ điều trị còn nói rõ, bệnh của chị là do quá ít vận động, quá trình tái tạo sụn không đuổi kịp việc lớp sụn ở khớp bị mất đi. Như vậy, lớp sụn trên bề mặt xương dần bị mỏng đi và hư tổn gây đau, nhức, hạn chế vận động, thậm chí bệnh nhân có thể bị tàn phế.

Chị Hà My cũng thừa nhận, hàng ngày đến cơ quan, chị chỉ ngồi lì trước máy tính, tối về nhà lại ôm laptop. Chị chỉ nghĩ rằng đau cổ, vai gáy và lưng là chuyện bình thường do ngồi lâu thì mỏi, chị không ngờ còn ít tuổi vậy mà đã bị thoái hóa khớp nhanh đến vậy.


Có nhiều người trẻ xấp xỉ 30 tuổi mà đã bị bệnh xương khớp hành hạ.

Chị Hà My chỉ là một trong rất nhiều người làm công việc văn phòng đối mặt với việc thoái hóa khớp sớm. Mặc dù chưa có nghiên cứu riêng về tình trạng này song theo các chuyên gia, bệnh này thường gặp ở dân công sở do thói quen ít vận động. Trên thực tế có nhiều người trẻ xấp xỉ 30 tuổi mà đã bị bệnh xương khớp hành hạ.

Thoái hóa khớp tấn công chị em văn phòng

Trong cuộc sống hiện đại, con người làm việc luôn có máy móc và phương tiện hỗ trợ khiến giới trẻ lười vận động. Đây không chỉ là nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp mà còn làm cho nhiều bộ phận khác trên cơ thể dễ bị thoái hóa.

Tiến sĩ Đoàn Văn Đệ, Phó chủ tịch hội thấp khớp học Việt Nam cho biết, thoái hóa khớp thường xảy ra ở người cao tuổi, nhưng gần đây thoái hóa khớp đang trẻ hóa, chuyển hướng tấn công mạnh người trẻ tuổi đặc biệt là dân văn phòng. Bằng chứng là thời gian gần đây số bệnh nhân trẻ phải đi khám khớp gia tăng, trong đó số đông bệnh nhân là công chức, nhân viên văn phòng.

Thoái hóa khớp là tình trạng tổn thương sụn khớp gây đau đớn, biến dạng chi khiến người bệnh cử động rất khó khăn, thậm chí gây tàn phế. Các bệnh thường gặp ở những người làm việc bên máy tính trong phòng máy lạnh thường là viêm quanh khớp vai, đau vai gáy dẫn tới đau nửa đầu, đau cột sống thắt lưng, đau nhức khớp cổ tay…


Làm việc với máy móc hiện đại hỗ trợ khiến giới trẻ lười vận động và dễ dẫn đến thoái hóa khớp.

Tuy nhiên, khác với người già, bệnh nhân bị thoái hóa khớp khi còn trẻ vẫn có cơ hội để phục hồi, do xương khớp chưa bị tổn thương nhiều. Nếu hoạt động thể lực nhẹ và nâng dần mức độ, kết hợp chế độ ăn uống cân bằng, cung cấp các thành phần dinh dưỡng cho sụn và tránh các thói quen ngồi xổm, leo cầu thang, khiêng vác nặng… thì các tổn thương khớp có thể phục hồi.

Theo tiến sĩ Đệ, để phòng ngừa thoái hóa khớp tốt nhất, khi gặp các triệu chứng đau nhức khớp, người bệnh cần đi khám để được bác sĩ tư vấn, tránh tự ý mua thuốc giảm đau cấp tốc, bởi trong nhiều trường hợp, các bệnh về khớp có biểu hiện giống nhau nên dễ bị kết luận nhầm.

Hơn nữa, cần xây dựng một chế độ sinh hoạt điều độ, thường xuyên tập thể thao, chế độ ăn cân bằng đầy đủ các chất… ngay từ khi chưa xuất hiện các dấu hiệu đau khớp để tránh bệnh phát triển.

Đối với người phải ngồi nhiều như giới văn phòng, cần nghỉ giải lao, thay đổi tư thế thường xuyên sau 1-2 giờ, nên tạo cho mình quỹ thời gian hợp lý như dậy sớm tập thể dục từ 15- 30 phút mỗi sáng, buổi trưa cũng nên vận động sau khi tan ca bằng một vài tư thế thể dục đơn giản từ 5- 10 phút.
(SKDS) - Viêm khớp dạng thấp là một bệnh mạn tính, nó khá nguy hiểm vì khiến người bệnh đau đớn, giảm chất lượng cuộc sống và có thể dẫn đến tàn phế. Quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục, thông thường là suốt cả cuộc đời người bệnh. Phải sử dụng kết hợp nhiều biện pháp điều trị như nội khoa, ngoại khoa, vật lý, chỉnh hình, phục hồi chức năng và tái giáo dục lao động, nghề nghiệp.
Việc điều trị bệnh cụ thể phải tùy thuộc vào từng giai đoạn tiến triển khác nhau của bệnh. Mỗi giai đoạn khác nhau đòi hỏi các thuốc và biện pháp hỗ trợ khác nhau. Có thể phân chia như sau:
Với thể nhẹ, giai đoạn I có thể dùng aspirin đường uống, để tránh gây kích ứng niêm mạc dạ dày, thuốc phải được uống sau khi ăn no hoặc chloroquin (delagyl), dùng kéo dài.
Với thể trung bình, giai đoạn II có thể dùng spirin đường uống, delagyl. Dùng một trong những thuốc chống viêm không có steroid sau: profenid, ibuprofen, diclofenac, piroxicam.

Có thể dùng thuốc nhóm steroid liều trung bình 40mg prednison mỗi ngày rồi giảm dần, không nên dùng thuốc kéo dài.
Thể nặng tiến triển nhiều: steroid liều cao; prednisolon liều cao hoặc sử dụng đường tiêm; hemisucinat hydrocortison tĩnh mạch liều cao, rồi giảm dần liều, duy trì bằng liều tối thiểu.
Điều trị bằng ngoại khoa và vật lý: Điều trị ngoại khoa được chỉ định trong hai trường hợp: cắt bỏ màng hoạt dịch khi bệnh chỉ còn khu trú ở một mình khớp gối và phẫu thuật chỉnh hình để phục hồi lại chức năng (thay thế bằng khớp nhân tạo bằng chất dẻo hay kim loại).
Điều trị vật lý đối với bệnh viêm khớp dạng thấp là một yêu cầu bắt buộc nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các di chứng, nhằm tái giáo dục lại khả năng lao động nghề nghiệp cho bệnh nhân. Điều trị vật lý bao gồm điều trị bằng điện (điện xung, điện phân…); bằng tay (xoa bóp phục hồi chức năng, day bấm huyệt…), nước khoáng (tắm hoặc ngâm nước khoáng nóng; tắm bùn…) kết hợp với các biện pháp tập vận động thụ động và chủ động.
Tuy nhiên, việc dùng thuốc và lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào giai đoạn bệnh của từng bệnh nhân, vì vậy, để điều trị bệnh hiệu quả và an toàn, bệnh nhân cần đi khám chuyên khoa và tuân thủ chặt chẽ chỉ định thuốc của bác sĩ.  

 TS. Thu Hồng
(SKDS) - Thoái hoá khớp (THK) bàn tay là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân. Ở Việt Nam, THK bàn tay chiếm tỉ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí THK thường gặp.
Ai hay bị THK bàn tay?
THK bàn tay thường hay gặp ở độ tuổi từ 60 - 65 tuổi. Tuy nhiên, từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THK bàn tay. Tỉ lệ THK tăng dần theo tuổi, cao hơn ở nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 - 79 tuổi. Tuổi cao là yếu tố nguy cơ cao nhất của THK, vì lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hoá sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp.
Bệnh cũng thường gặp ở nữ giới (75%). Số lượng bệnh nhân nữ mắc THK bàn tay nhiều gấp 3 lần so với nam giới. Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi hormon như estrogen dẫn đến thay đổi tế bào sụn khớp.
Những người béo phì cũng dễ bị THK bàn tay. Có tới 1/3 bệnh nhân THK bàn tay bị béo phì.
THK bàn tay thường xuất hiện sau một số bệnh lý bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường...

Tuổi cao là yếu tố nguy cơ gây bệnh thoái hóa khớp.   Ảnh: MHoa
Khớp nào dễ bị tổn thương?
Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn vì đa số trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất khi cầm, nắm, mang, vác hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay thì khớp ngón xa hay khớp ngón gần, khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan đến việc sử dụng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm, nắm đồ vật của bàn tay, do đó dễ bị tổn thương hơn.
Dấu hiệu nhận biết THK bàn tay
Có 4 dấu hiệu cơ bản của THK bàn tay là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương. Người bệnh thường bị đau khớp bàn tay một bên hoặc cả hai bên, đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng lên khi mặc quần áo, khi cài khuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào li và đỡ đau khi nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, người bệnh thấy khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 - 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở nên khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo khi cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ.
Ở các giai đoạn muộn, có 1/3 bệnh nhân có các ngón tay bị biến dạng. Khoảng 50% số bệnh nhân THK bàn tay gặp khó khăn khi thực hiện các công việc tự chăm sóc bản thân, nội trợ và các công việc trong sinh hoạt hằng ngày khác như chải đầu, giặt giũ, mặc quần áo, ăn uống, chăm sóc con cháu, bế trẻ nhỏ...
Khi có những triệu chứng như trên, người bệnh cần đi khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Có thể sử dụng thêm chụp Xquang bàn tay để chẩn đoán THK bàn tay. Đây là kĩ thuật đơn giản, ít tốn kém, được sử dụng để đánh giá mức độ tổn thương của THK trong nhiều năm nay.            
BS.Ngọc Vĩnh
Bao hoạt dịch khớp gối khi bị tổn thương sẽ gây ra một số bệnh như u nang bao hoạt dịch, bệnh Hoffa, nếp gấp bao hoạt dịch (plica) mà chúng tôi đã giới thiệu trên trang 4 số báo 167. Để bạn đọc có thêm thông tin, chúng tôi giới thiệu tiếp bài tràn dịch khớp gối là bệnh lý gặp nhiều nhất so với các bệnh của bao hoạt dịch khớp gối.
Tràn dịch khớp gối là tổn thương gây ra tình trạng dịch trong khớp gối quá nhiều làm cho khớp gối bị phù nề, sưng to, giảm chức năng vận động, đau khi vận động… Tràn dịch khớp gối do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó thường gặp nhất là do chấn thương, nhiễm khuẩn ở khớp gối và một số bệnh lý. Nếu bị chấn thương, bệnh nhân sẽ bị đau và tràn dịch khớp gối.

Các chấn thương thường gặp là: gãy xương, rách sụn chêm khớp gối, đứt các dây chằng khớp gối như dây chằng chéo trước hoặc dây chằng chéo sau, chấn thương do quá tải khớp gối, thường gây tổn thương sụn khớp. Do nhiễm khuẩn và bệnh lý gồm: nhiễm khuẩn khớp gối, thoái hóa khớp gối, viêm khớp dạng thấp ở khớp gối, bệnh gút ở khớp gối, viêm bao hoạt dịch khớp gối, viêm màng hoạt dịch khớp gối mạn tính, các dạng nang bao hoạt dịch khớp, u ở khớp gối…

Đeo nẹp trong điều trị tràn dịch khớp gối.
Biểu hiện của tràn dịch khớp gối
Các yếu tố nguy cơ đến tràn dịch khớp gối
Tuổi cao trên 50 tuổi, hoạt động thể thao cường độ cao như bóng đá, bóng rổ, béo phì: trọng lượng cơ thể quá lớn dồn xuống khớp gối gây quá tải khớp gối, gây vi chấn thương cho các thành phần của khớp gối.
Tràn dịch khớp gối nếu không được điều trị sẽ dẫn đến biến chứng hạn chế vận động khớp; khi phải chọc hút dịch khớp nhiều lần sẽ tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, nếu bị nhiễm khuẩn sẽ dẫn đến phá hủy khớp, ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân.
Thông thường, một người bị tràn dịch khớp gối có các triệu chứng như: sưng nề một bên gối to hơn bên lành, đánh giá bằng cách dựa vào các mốc xương để so sánh hai bên đầu gối. Hạn chế vận động khớp: khớp gối bị tràn dịch sẽ hạn chế vận động do lượng dịch trong khớp cản trở vận động của khớp. Đau nhiều hoặc ít tùy thuộc vào nguyên nhân gây tràn dịch khớp, có thể do đau mà bệnh nhân không thể đi lại được.
Chụp Xquang có thể thấy các tổn thương như: gãy xương, trật khớp hoặc bệnh lý u xương, thoái hoá khớp… Chụp cộng hưởng từ có thể phát hiện các tổn thương xương và phần mềm của khớp gối như sụn chêm, dây chằng, gân hay sụn khớp. Các xét nghiệm máu có thể xác định được tình trạng nhiễm khuẩn, viêm, viêm khớp dạng thấp, bệnh ưa chảy máu, gút… Chọc hút dịch khớp để xác định bản chất của dịch khớp: có máu hay không, liên quan đến chấn thương hoặc bệnh lý ưa chảy máu, vi khuẩn gây tình trạng nhiễm khuẩn, các tinh thể gây bệnh gút hoặc giả gút. Tràn dịch khớp gối nhiều sẽ làm hạn chế cử động của khớp gối và gây đau khi bệnh nhân đi lại.
Điều trị  và phòng bệnh
Các phương pháp điều trị tràn dịch khớp gối gồm: điều trị giảm đau, sử dụng một số thuốc giảm đau thông thường theo sự tư vấn của bác sĩ để cải thiện triệu chứng.Thuốc kháng sinh được chỉ định  khi có nguy cơ hoặc đang bị nhiễm khuẩn. Thuốc kháng viêm corticosteroid có thể sử dụng đường uống hoặc tiêm trực tiếp vào khớp gối. Do thuốc corticoid có một số tác dụng phụ, vì vậy phải được bác sĩ chuyên khoa kê đơn và theo dõi điều trị.

Các can thiệp xâm lấn: tràn dịch nhiều gây đau cho bệnh nhân nên việc chọc hút dịch có thể sẽ làm cho bệnh nhân dễ chịu, nhưng tốt nhất vẫn là xác định được chính xác nguyên nhân để điều trị triệt để. Chọc hút dịch khớp nhằm giảm áp lực đồng thời có thể kết hợp điều trị tiêm corticoid vào trong khớp. Nội soi khớp vừa giúp chẩn đoán nguyên nhân của tràn dịch khớp vừa có thể kết hợp điều trị như sửa chữa các thương tổn sụn, dây chằng hay tổn thương thoái hóa khớp. Phẫu thuật thay khớp sử dụng khi có tổn thương thoái hóa khớp gối.

Chọc hút dịch khớp gối có lẫn máu.
Bệnh nhân có thể tự chăm sóc khi bị tràn dịch khớp gối như sau: xắp xếp để được nghỉ ngơi, tránh việc đi lại để trọng lượng dồn xuống gối vì có thể làm tăng tình trạng tràn dịch và đau. Chườm đá và kê cao chân có tác dụng rất tốt đối với những trường hợp tràn dịch do chấn thương, kê chân cao giúp cho tuần hoàn ở dưới chân được tốt, tránh hoặc giảm được tình trạng sưng nề.
Tràn dịch khớp gối thường gặp do bệnh lý mạn tính hoặc chấn thương. Vì vậy, để phòng bệnh và phát hiện sớm tràn dịch khớp gối, cần thực hiện một số biện pháp như sau: thăm khám định kỳ khoảng 6 tháng/lần để phát hiện và điều trị tích cực các bệnh lý mạn tính như thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp hay gút. Dùng thuốc điều trị các bệnh lý là nguyên nhân gây tràn dịch khớp gối, đeo nẹp gối khi cần thiết theo yêu cầu điều trị.

Bệnh nhân cần chú ý luyện tập khỏe khối cơ đùi vì cơ đùi khỏe là yếu tố quan trọng hỗ trợ cho vận động khớp gối, nếu cơ đùi yếu thì  gối nhanh bị mỏi, dễ chấn thương. Tập các bài tập mềm dẻo cho gối theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Những người béo phì hoặc thừa cân cần tập luyện để giảm cân và thực hiện chế độ ăn ít năng lượng, nhiều rau và chất xơ.
BS. Trần Văn Phong
Theo SKĐS
Muốn giảm các triệu chứng đau khớp không chỉ nhờ vào tập luyện và thuốc men, mà còn phải chú trọng chế độ ăn giúp xoa dịu các khớp bị chứng viêm hành hạ.
Sau đây là những thực phẩm mà bệnh nhân viêm khớp có thể cần đến:
Dâu tây: Loại trái cây này chứa nhiều vitamin C. Một số nghiên cứu cho rằng vitamin C có thể ngăn chặn sự phát triển của chứng viêm khớp và tình trạng mất sụn thường đi kèm. Những nguồn thực phẩm giàu vitamin C còn có cam quýt, đào và ớt chuông đỏ.
Dầu ô liu: Các khớp xương đau nhức của người bệnh có thể rất cần dầu ô liu. Kết quả nghiên cứu cho thấy chất polyphenol trong dầu ô liu có thể giảm tình trạng viêm nhiễm trong cơ thể.
Cá hồi: Loại cá này giàu 2 loại chất dinh dưỡng có thể nuôi dưỡng sự khỏe mạnh của khớp xương, đó là vitamin D và a xít béo omega-3. Nếu thiếu vitamin D, như phần lớn những người trưởng thành, việc bổ sung loại vitamin này có thể góp phần xoa dịu những cơn đau do viêm khớp và hạn chế khả năng tàn tật. Còn a xít béo omega-3 luôn được giới chuyên gia khuyên dùng do khả năng chống viêm nhiễm của nó.
Trà xanh: Loại thức uống dịu thần kinh này chứa đầy các chất chống oxy hóa gọi là catechin, có tác dụng chống viêm nhiễm và do đó có thể trì hoãn các tổn thương về sụn ở những người bị viêm khớp.
Rau lá xanh đậm: Ăn nhiều rau quả rất tốt cho sức khỏe nói chung cũng như tăng cường khả năng chịu đựng của xương khớp. Một chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải với các món chủ đạo là rau, quả, hạt, có thể giúp xóa tan tình trạng viêm nhiễm. Rau cải lá xanh đậm còn giàu vitamin K, chất dinh dưỡng đóng vai trò ngăn chặn bệnh viêm khớp.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Cá hồi có lợi cho người viêm khớp.
Trong khi đó, bệnh nhân viêm khớp nên cân nhắc tránh dùng hoặc giảm bớt sự hấp thu một số thực phẩm sau:
Dầu bắp: Chất béo có trong dầu bắp, dầu hạt hướng dương và dầu đậu nành chứa chủ yếu a xít béo omega-6. Dù những chất béo này không gây hại, một số cuộc nghiên cứu cho rằng sự mất cân bằng quá lớn giữa omega-3 và omega-6 có thể gây nên tình trạng viêm nhiễm. Do đó, nên dùng dầu ô liu.
Bánh mì trắng: Một nghiên cứu từng đặt ra nghi vấn rằng hạt ngũ cốc đã qua xử lý có thể kích thích tình trạng viêm khớp. Trong khi đó, chế độ giàu chất xơ lại giúp giảm nhẹ tình trạng này. Do vậy, nên chọn ngũ cốc nguyên hạt cho bữa ăn hằng ngày và hạn chế ngũ cốc đã qua xử lý như trong trường hợp bánh mì trắng.

Theo Thanh Niên
ANTĐ - Thoái hóa khớp là trình trạng bệnh lý của tuổi già, bệnh nặng thường khiến cho xương khớp đau nhức khi vận động. Người bệnh thường thấy đau buốt ở khớp ngay cả với những vận động thường ngày như khi cúi xuống, leo cầu thang hay thậm chí đứng lâu, mang xách đồ vật.
Nguyên nhân là sụn khớp bị bào mòn, dịch khớp cạn kiệt. Vì thế, để giảm nhanh cảm giác đau thì việc bổ sung hoạt chất cất thiết giúp tái tạo sụn, tăng dịch nhầy cho các khớp được xem là giải pháp tối ưu nhất. May mắn cho nhiều bệnh nhân thoái hóa khớp khác là hiện nay trên thị trường đã có một sản phẫm hỗ trợ điều trị bệnh khớp có hiệu quả cao, được sản xuất theo tiêu chuẩn cao nhất của FDA Hoa Kỳ, hiện đã được nhập khẩu nguyên hộp về Việt Nam đó là viên uống ARTHRI - FLEX.

Không như các giải pháp thông thường khác chỉ giúp giảm đau tạm thời, Viên uống ARTHRI - FLEX, với công thức vượt trội không những làm giảm nhanh các cơn đau do bệnh thoái hóa khớp mà còn giúp ngăn chặn quá trình thoái hóa khớp, hỗ trợ điều trị hiệu quả bệnh thoái hóa khớp. Viên uống ARTHRI- FLEX có chứa đầy đủ các hoạt chất tối ưu cần thiết cho hệ xương khớp: Nếu như các sản phẩm hiện có trên thị trường chủ yếu chỉ gồm Glucosamine và Chondroitin thì công thức của ARTHRI- FLEX có chứa tới 11 thành phần, với hàm lượng cao như: Glucosamine (hàm lượng 1500mg), MSM (Methyl Sulfonyl Methane - hàm lượng 1500mg), Acid Hyaluronic. Tinh chất Collagen từ Sụn gà (Prenium Chicken Strenum Type II Collagen - hàm lượng 80mg ), Flexicol…

Trong đó, đáng chú ý là Acid Hyaluronic lên tới 80mg - giúp duy trì tính đàn hồi và linh hoạt của các cơ liên kết, giúp tăng độ dày và hiệu quả việc bôi trơn các khớp nhờ đó làm giảm nhanh cảm giác đau ở các bệnh nhân thoái hóa khớp. Vì thế, ARTHRI- FLEX được xem là giải pháp lâu dài, cơ bản giúp cải thiện cấu trúc cơ bản và chức năng của xương khớp và sụn, từ đó giúp tái tạo sụn và chất nhờn cho các khớp, tăng độ đàn hồi và tính linh hoạt của khớp và sụn khớp, giúp người bệnh đẩy lui cảm giác đau đớn khi vận động. Sản phẩm được nhập khẩu nguyên hộp từ Mỹ, hiện đã có bán tại các nhà thuốc. Thông tin cần tư vấn, bạn đọc có thể liên hệ qua số điện thoại: 04.3971 2592. Website: thoaihoakhop.vn

DS. VÂN ANH
(SKDS) - Hai khớp cùng chậu nằm ở phía sau, giữa hai mông, nơi tiếp giáp giữa xương cùng cụt nằm dưới cột sống thắt lưng và phía sau của hai xương cánh chậu. Khi khớp cùng chậu bị viêm, bệnh nhân bị đau ở vùng cột sống thắt lưng cùng, giữa hai mông, vùng chậu hông kèm theo teo cơ mông. Vì vậy, bệnh dễ bị nhầm với đau thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng hoặc đau thần kinh tọa.
Viêm khớp cùng chậu thường xảy ra sau khi bệnh nhân bị mắc các bệnh ở đại tràng như viêm đại trực tràng, viêm nhiễm đường tiết niệu sinh dục. Phụ nữ trong thời gian mang thai, khi thai lớn, chèn ép tiểu khung, gây ứ huyết vùng khung chậu, chèn ép bàng quang nên việc thải tiết nước tiểu khó khăn, dễ gây nhiễm khuẩn ngược dòng. Từ chỗ nhiễm khuẩn chỉ khu trú trong vùng sinh dục tiết niệu, dần dần lan đến vùng khớp cùng chậu. Do đó, viêm khớp cùng chậu đặc biệt hay gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, thời kỳ mang thai, sau khi sinh.
Biểu hiện viêm khớp cùng chậu
Khi khớp cùng chậu bị viêm, người bệnh thấy đau âm ỉ, kéo dài ở vùng cột sống thắt lưng cùng, giữa hai mông, vùng chậu hông có thể kèm theo teo cơ mông. Với các triệu chứng này, nhiều người bị chẩn đoán nhầm là tổn thương cột sống, đau thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng, đau thần kinh tọa… Đau trong viêm khớp cùng chậu thường có tính chất âm ỉ, kéo dài dai dẳng. Tuy nhiên, có những trường hợp sản phụ sau khi sinh bị đau vùng khớp cùng chậu dữ dội đến mức không thể chịu nổi, ảnh hưởng đến vận động như: không thể ngồi lâu, khó cúi xuống, nghiêng hay xoay người rất khó khăn.


Tổn thương cứng khớp do viêm khớp cùng chậu trên phim Xquang.
Đau còn làm cho bệnh nhân mất ngủ, gây tâm trạng buồn rầu, lo lắng. Viêm khớp cùng chậu có thể lây lan gây tổn thương dây thần kinh tọa, làm teo cơ đùi, cơ mông. Ở thai phụ, bệnh thường xuất hiện vài tháng sau khi có thai, kéo dài trong suốt thời kỳ mang thai và sau khi sinh. Một số trường hợp, bệnh nhân còn bị viêm vùng chậu với các triệu chứng đau bụng âm ỉ, đau bụng dưới, đau khi đại tiểu tiện, tiết dịch hay chảy máu âm đạo bất thường, giao hợp đau, sốt và rét run, buồn nôn, nôn. Khám thấy đau cổ tử cung, đau túi cùng âm đạo.

Những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, viêm khớp cùng chậu thường thể hiện của viêm nhiễm vùng chậu như viêm vòi trứng, viêm cổ tử cung. Bệnh dẫn đến  tắc vòi trứng gây vô sinh, thai ngoài tử cung, nhiễm khuẩn mạn tính, tích mủ vòi trứng, buồng trứng... Tổn thương viêm khớp cùng chậu mạn tính dẫn đến dính khớp, làm cho khung chậu không thể giãn ra được trong thời kỳ mang thai và sinh đẻ sau này, khiến cho thai nhi khó có thể đi qua tiểu khung đã trở nên bị hẹp, nên phải mổ lấy thai.
Bệnh dễ bị chẩn đoán nhầm với đau thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng, đau thần kinh tọa.
Thầy thuốc có thể khám để phát hiện bệnh viêm khớp cùng chậu bằng các thủ thuật khám như sau: bệnh nhân nằm nghiêng, hai chân duỗi thẳng, thầy thuốc khám ấn mạnh lên vùng xương cánh chậu, bệnh nhân sẽ cảm thấy đau ở vùng khớp cùng chậu. Hoặc bệnh nhân nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng, người khám ấn mạnh lên hai cánh chậu từ trên xuống theo tư thế ép ngửa khung chậu, bệnh nhân sẽ thấy đau ở khớp cùng chậu. Chụp Xquang khung chậu thấy khớp cùng chậu có thể bị tổn thương ở những mức độ khác nhau.

Chẳng hạn ở những giai đoạn muộn, khớp có thể dính hoàn toàn, thậm chí không thể phân biệt được khớp cùng chậu nữa. Trên phim chụp Xquang khung chậu còn có thể thấy các hình ảnh khác như viêm khớp mu, viêm khớp háng và gai xương chậu. Điều cần lưu ý là thai phụ tuyệt đối không được chụp Xquang khung chậu vì có nguy cơ gây tổn thương cho thai nhi.

Viêm khớp cùng chậu 2 bên trên phim chụp Xquang.
Phương pháp điều trị
và phòng bệnh
Để điều trị viêm khớp cùng chậu hiện nay thường chỉ định dùng các kháng sinh có hoạt phổ rộng hoặc tốt nhất là theo kháng sinh đồ. Những trường hợp nặng cần phải dùng phối hợp các thuốc cefotaxime, ceftriaxone với  metronidazole, azithromycine, roxithromicine, clindamycine, gentamycine... Điều trị triệu chứng cần dùng các loại thuốc chống viêm, giảm đau, tiêm corticoid vào khớp cùng chậu. Ở giai đoạn lui bệnh, bệnh nhân cần tập thể dục theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị để duy trì các chức năng vận động của cột sống, tránh các tư thế xấu sau này.
Muốn phòng bệnh, cần thực hiện phối hợp các biện pháp như sau: điều trị tích cực các bệnh viêm đại trực tràng. Tương tự cũng phải chữa khỏi hẳn các bệnh viêm nhiễm đường tiết niệu như: viêm niệu đạo, bàng quang, niệu quản, viêm nhiễm đài, bể thận. Cần uống nước đầy đủ, nhất là mùa nắng nóng để phòng bệnh sỏi tiết niệu vì dễ gây viêm đường tiết niệu do sỏi. Đối với phụ nữ, cần giữ vệ sinh tốt trong thời kỳ hành kinh. Phải điều trị triệt để các bệnh nhiễm khuẩn ở cơ quan sinh dục, nhất là đối với phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ như viêm âm hộ, âm đạo, tử cung, vòi trứng. Phòng tránh và xử lý tốt các chấn thương vùng đáy chậu, dập đứt niệu đạo…        
BS. Ninh Thanh Tùng
Theo SKĐS
(SKDS) - Viêm khớp là bệnh thoái hóa của khớp, một phần vì sự hư tổn với thời gian sử dụng, nhưng cũng gây ra do nếp sống của con người và sự không có hiểu biết rõ ràng về bệnh. Viêm khớp là rối loạn thường thấy ở người cao tuổi. Bệnh cũng xảy ra ở lớp tuổi trung niên, thậm chí trẻ hơn.
Trong viêm khớp, sụn hao mòn, rách, đưa đến hậu quả là hai đầu xương cọ vào nhau, gây ra đau, sưng và giảm sự cử động của khớp người bệnh chịu nhiều đau đớn hơn. Các nhà chuyên môn đều có ý kiến, bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp hãy tìm cách sống chung với bệnh. Tức là thay đổi nếp sống và thói quen để đối phó với khó chịu của bệnh đồng thời cũng tránh những gì có thể gây tổn thương thêm cho khớp đã bị hư tổn.
Trước hết là cần sớm xác định bệnh rồi điều trị nhờ đó giảm thiểu tổn thương và giảm đau. Hiện có nhiều thuốc chống viêm, chống đau mà bác sĩ có thể chỉ định cho từng người bệnh. Tuy nhiên, người bệnh cần uống theo đúng hướng dẫn, nếu có tác dụng ngoại ý, cần thông báo cho bác sĩ biết để đổi thuốc. Trong trường hợp trầm trọng mà chữa trị bằng thuốc không được như ý muốn thì bác sĩ có thể đề nghị giải phẫu khớp. Không tự ý dùng thuốc và làm theo mách bảo dễ bị biến chứng.

Tập thể dục giúp bệnh viêm khớp giảm đau.
Hiểu rõ về bệnh:
Cần tìm hiểm thông qua bác sĩ cũng như sách báo, internet, hãy tìm hiểu cặn kẽ về diễn tiến, biến chứng của bệnh để có thể “sống chung hòa bình”, tránh những gì có thể làm bệnh gia tăng đồng thời áp dụng các phương thức giảm thiểu triệu chứng bệnh.
Bảo vệ khớp: Gượng nhẹ và không dùng khớp đang bị tổn thương để làm công việc cần sức mạnh, như nâng nhấc vật nặng, di động quá nhanh; không đi giày, dép cao suốt ngày khi bị viêm khớp đầu gối, cổ chân; không bẻ khớp ngón tay ngón chân để tránh viêm căng dây chằng, gân quanh khớp đưa tới giảm sức mạnh bàn tay, bàn chân.
Kiểm soát cân nặng: Ăn uống vừa đủ với nhu cầu, tránh béo phì. Thống kê cho hay 2/3 người béo phì bị viêm khớp.
Tập luyện cơ thể: Nhiều người cho là bị viêm khớp mà vận động cơ thể sẽ làm bệnh trầm trọng hơn. Nhưng với các nhà chuyên môn y khoa học, vận động là phương thức hiệu nghiệm nhất vùa phòng tránh vừa giảm khó chịu của viêm khớp.
Bên cạnh đó, cần sống thoải mái cũng tăng sản xuất hóa chất endorphin trong người (là chất làm giảm đau) giúp bệnh nhân viêm khớp. Bên cạnh thỉnh thoảng massage, ngâm tắm nước nóng để máu huyết lưu thông, thư giãn xương khớp, ngủ ngon, giảm đau cũng là một biện pháp hữu hiệu.   
 Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
(SKDS) - Viêm khớp khuỷu tay thường gặp ở những người thường xuyên vận động tay như: thợ nề, mộc, thợ hàn, thợ rèn và các vận động viên bóng bàn, bóng chuyền… Do đặc điểm nghề nghiệp  vận động nhiều bằng tay lặp đi lặp lại nhiều lần các động tác xoay cánh tay trong thời gian dài; co duỗi khớp khuỷu tay, cổ tay và sử dụng bộ phận cánh tay cổ tay quá sức.


Gạo lứt...
Khi bị viêm khớp khuỷu tay người bệnh thường có cảm giác đau nhức ở phía ngoài khớp khuỷu tay, cầm nắm khó khăn; khi quay cánh tay, co duỗi khớp cổ tay thấy đau lan truyền xuống dưới; phía bên ngoài khớp khuỷu tay, xương cổ tay có những điểm đau, sưng tấy. Nếu thấy sắc xanh là gân bị tổn thương; sắc tía là huyết ứ đọng. Khi mới bị thương thì hơi sưng, nếu bị nặng hơn thì người bệnh có cảm giác đau nhiều khi ấn vào da thịt, đó là bị thương nhiều. Trường hợp bệnh nặng sẽ  sưng đau, khớp co duỗi khó.
Theo y học cổ truyền, nguyên nhân của viêm khớp khuỷu tay là do vận động quá mạnh hoặc cầm vật quá nặng hay bị ngã, kéo co, làm trở ngại sự vận hành của kinh khí; gân mạch khớp bị tổn thương.

Hồng táo...
Sau đây là một số bài thuốc hỗ trợ điều trị bệnh tổn thương nhẹ.
Bài 1: Đỗ đen 100g, tô mộc 15g, kê huyết đằng 30g, gạo lứt 100g. Cách chế biến như sau: Đỗ đen, rửa sạch cho vào nồi, nước vừa phải đun sôi cho chín bỏ ra. Sau đó cho tô mộc, kê huyết đằng vào, đun sôi nhỏ lửa khoảng 40 phút rồi lọc bỏ bã lấy nước, cho đỗ đen và gạo lức (đã vo sạch) vào nồi, đổ thêm 1 lít nước, đun sôi rồi hạ nhỏ lửa nấu thành cháo, thêm đường đỏ tùy thích. Ăn nóng ngày 2 lần, ăn liền 6 ngày.
Bài 2: Hoài sơn 40g, hoàng kỳ 29g, ý dĩ 10g, lá lách lợn 1 bộ, hành lá, gia vị vừa đủ: Cách chế biến như sau: ý dĩ rửa sạch ngâm nước cho nở, hoàng kì, hoài sơn rửa sạch để ráo. Lá lách lợn rửa sạch cắt miếng ướp gia vị và hành khoảng 15 phút. Sau đó cho ý dĩ, hoàng kì, hoài sơn, lá lách, vào nồi. Nước vừa đủ, đun sôi cho nhỏ lửa khi hoài sơn nở mềm là được. Cho các gia vị vừa ăn. Ăn trong ngày. Ăn liền 9 ngày.

... Củ từ - Những vị thuốc chữa viêm khớp khuỷu tay.
Bài 3:
Gạo lứt 250g, củ từ tươi 100g, hồng táo 10 quả. Tất cả rửa sạch, cho vào nồi, thêm nước vừa đủ đun to lửa cho sôi rồi chuyển đun nhỏ lửa ninh nhừ thành cháo, ăn lúc nóng ngày 2 lần. Ăn liền 6 ngày.
Ngoài ra có thể áp dụng bài thuốc đắp ngoài như lá hẹ 20g, hành củ 20g, gừng 6g. Tất cả các vị rửa sạch, giã nhuyễn đắp chỗ đau ở khuỷu tay, băng chặt lại. Ngày thay thuốc 1 lần, đắp liền 5 ngày.
Nếu áp dụng các bài thuốc trên mà các triệu chứng không thuyên giảm cần đến cơ sở y tế để được khám và điều trị.            
 Lương y Hữu Đức
Theo SKĐS
(ĐTĐ) - Thông thường đau khớp thuộc loại đau cấp tính và cũng có khi bệnh tự khỏi. Nhưng nếu không điều trị kịp thời, bệnh có thể chuyển sang mạn tính và lâu ngày có thể dẫn đến thoái hóa xương khớp.

Bệnh thấp khớp (Rheumatoid Arthritis RA) là một bệnh viêm mạn tính của khớp. Bệnh nhân chiếm 0,8% trong tổng số người lớn trên toàn thế giới. Độ tuổi mắc bệnh thường là từ 30 đến 50, trong đó tỉ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao gấp hai lần nam giới.
Thuốc tươi xanh ở khắp nơi
Nếu không chữa trị kịp thời thì 20%-30% bệnh nhân sẽ mất khả năng làm việc trong vòng 2-3 năm. Các triệu chứng thường thấy là sưng và đau ở các khớp nhất là vào buổi sáng. Triệu chứng thường bắt đầu xuất hiện ở bàn tay và bàn chân, sau đó là ở cột sống và các vùng khác. Thời tiết ẩm ướt và lạnh sẽ làm các khớp đau hơn khiến người bệnh khó đi lại và bị hạn chế vận động.
Theo y học cổ truyền, đau khớp được gọi là chứng tý, tùy theo nguyên nhân và triệu chứng gây ra do các thể phong tý, hàn tý, nhiệt tý hoặc thấp tý mà người bệnh khớp dùng thuốc thích hợp.
Phép chữa trị theo y học cổ truyền khuyên chúng ta nên ăn uống phòng bệnh trước khi dùng thuốc. Các chuyên gia khớp còn khuyên không nên ăn nhiều thịt đỏ (thịt bò, heo, cừu, dê,…), giảm bớt chất béo, đường, bột, nên ăn nhiều cá có chứa chất béo omega-3, nhiều rau cải và các loại trái cây có màu sậm. Nếu người bệnh khớp có dùng thuốc thì nên dùng ngay các loại thảo dược từ thiên nhiên. Cách dễ nhất là sắc uống hoặc pha chế như trà, vì các nhóm hoạt chất chiết được từ các thảo dược này có tác dụng giảm đau kháng viêm rất tốt mà không gây ra tác dụng phụ.

Tùy nghi sử dụng, tai hại khó lường
Các bệnh nhân khớp đừng nên quá tin tưởng vào các loại thuốc nhập ở dạng tân dược hoặc các dạng cao trên thị trường hiện nay được quảng cáo như “thuốc tiên”. Nếu người bệnh uống thuốc này thấy hết đau ngay mà tăng cân cũng rất nhanh, cơ thể nặng nề thì phải ngưng dùng ngay. Nguyên nhân do trong thuốc pha trộn thêm nhiều corticoid, hậu quả là tích nước gây phù. Corticoid có thể gây ra các tác dụng phụ như giòn xương, xốp xương, loãng xương, chảy máu dạ dày, gây phù và tăng huyết áp… Corticoid cũng không tốt khi sử dụng cho trẻ em dưới 12 tuổi, phụ nữ có thai và cho con bú. Việc sử dụng các biện pháp trị liệu khác như thủy châm, điện châm... cũng giảm đau nhưng chỉ cho kết quả tạm thời và rất nguy hiểm. Bên cạnh đó, cũng có các loại thuốc điều trị đau khớp nhưng lại có độc tố như thịt rắn hổ, nọc rắn hổ. Cả hai loại thuốc này dù được bào chế dưới dạng uống hoặc thoa, nếu sử dụng không đúng liều lượng hoặc do quá trình bào chế không đúng quy cách, đều có thể gây ngộ độc cho người sử dụng. Hậu quả là có thể gây tê liệt hệ thần kinh và tử vong.
Cao hổ cốt cũng tốt trong việc điều trị đau khớp. Nhưng hiện nay giá thành cao hổ cốt rất cao nên trong các thành phẩm của cao hổ cốt đôi khi bị pha trộn các loại xương động vật khác. Cao hổ cốt tính nhiệt, những người âm hư hỏa vượng, nhiệt chứng, thấp nhiệt, người nóng hay đổ mồ hôi thì không nên dùng.
Cao ô đầu phụ tử cũng có tác dụng chữa trị đau khớp nhưng trong quá trình bào chế, nếu chưa được giảm độc hoặc bảo quản không tốt có thể bị biến chất và phóng thích độc chất. Hậu quả có thể gây tê liệt phản xạ vận động, hạ thân nhiệt và ức chế thần kinh gây tử vong cho người bệnh.Sử dụng thảo dược chữa bệnh đang là vấn đề được thế giới quan tâm, tuy nhiên quá trình chữa trị cần được đảm bảo sao cho khí huyết lưu thông trong một thân thể khỏe mạnh, xương khớp cứng chắc. Bệnh nhân khớp cũng cần quan tâm đến việc ăn uống, ngủ nghỉ và tập thể dục thường xuyên. Ngoài ra, người bệnh cũng nên thực hiện các thao tác vận động khớp để tự bảo vệ mình trước khi dùng thuốc.
Các nhóm thảo dược phòng, chống đau khớp
● Nhóm cây cỏ có tinh dầu tác dụng giảm đau và thư giãn gân cốt: Lá lốt, thiên niên kiện, khương hoạt, độc hoạt, phòng phong, kinh giới, quế chi, tế tân, bạch chỉ, xuyên khung, ngũ gia bì…
● Nhóm cây cỏ có chứa saponosid có tác dụng kháng viêm mạnh: Cỏ xước, ngưu tất, thổ phục linh, cốt toái bổ, tang ký sinh.
● Nhóm cây cỏ có chứa flavonoid giúp giảm viêm, chống sưng, tăng cường chất keo trong khớp và còn có tác dụng chống oxy hóa tế bào: Xoài đất, kim ngân, các loại rau củ quả có màu sậm như anh đào, mận, nho, việt quất, dâu tằm...
● Nhóm vitamin A hoặc beta carotene và vitamin C như đu đủ, dâu tây, cam chanh quýt, cà chua, khoai lang, cà rốt… có tác dụng kháng viêm và tăng sức đề kháng cho cơ thể và đồng thời bổ sung canxi mỗi ngày.
Phẫu thuật giảm cân có thể ngăn ngừa tiểu đường
Một nghiên cứu mới tại Trung tâm Nghiên cứu Y sinh Pennington tại Louisiana cho thấy rằng phẫu thuật giảm cân (Bariatric Surgery) không chỉ giúp giảm cân mà còn giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2.
Theo nghiên cứu mới này, 80% bệnh nhân đã phẫu thuật Bariatric ít có khả năng phát triển bệnh tiểu đường so với các hình thức giảm cân khác, thậm chí những người có mức đường huyết tồi tệ cũng giảm được 90% nguy cơ mắc bệnh.
TÚ QUYÊN (Theo The NewYork Times)

Nguồn Phapluattp.vn
(ĐTĐ) - Khoa cơ - xương - khớp, Bệnh viện Bạch Mai hiện đang áp dụng liệu pháp huyết tương giàu tiểu cầu (Platelet Rich Plasma - PRP) tự thân cho một số bệnh nhân thoái hóa khớp đã cho kết quả rất khả quan. Liệu pháp này tuy đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới, nhưng ở nước ta, BV Bạch Mai là đơn vị đầu tiên được Bộ Y tế cho phép ứng dụng liệu pháp này.

Huyết tương giàu tiểu cầu là gì?
Huyết tương giàu tiểu cầu tự thân là huyết tương có nồng độ tiểu cầu cao gấp nhiều lần so với huyết tương trong máu bình thường được tách chiết từ máu của chính bệnh nhân. Sở dĩ cần một nồng độ lớn tiểu cầu trong liệu pháp PRP vì khi tiểu cầu được hoạt hóa sẽ dẫn đến quá trình ly giải các hạt α chứa bên trong tiểu cầu, từ đó giải phóng ra nhiều loại protein là các cytokine chống viêm và hàng chục các yếu tố tăng trưởng (growth factor) có vai trò quan trọng đối với quá trình làm lành vết thương. Các protein trên sẽ gắn vào các thụ thể (receptor) của các tế bào đích tương ứng như tế bào nguồn gốc trung mô, nguyên bào xương, nguyên bào sợi, tế bào biểu mô, tế bào nội mô...
Sự gắn kết này sẽ hoạt hóa một loại protein dẫn truyền tín hiệu nội bào để truyền thông tin tới gen đặc hiệu tương ứng, kết quả là tạo nên sự tăng sinh tế bào, hình thành chất căn bản, các sản phẩm dạng xương, sụn, tổng hợp collagen... tham gia vào quá trình sửa chữa, tái tạo tổ chức tổn thương sụn, xương, phần mềm... Trong chuyên ngành cơ xương khớp, liệu pháp PRP tự thân được sử dụng để điều trị bệnh thoái hóa khớp gối, chấn thương thể thao, viêm gân và các điểm bám tận, kích thích sự lành vết thương phần mềm cũng như làm nhanh liền xương sau phẫu thuật.
Triển vọng trong tương lai
Trên thế giới, trong khoảng vài năm trở lại đây, nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ PRP tự thân tiêm trực tiếp vào trong khớp là một liệu pháp có triển vọng trong điều trị thoái hóa khớp gối với cơ chế là PRP chứa chất chống viêm và các yếu tố tăng trưởng thúc đẩy sự tăng sinh của sụn khớp. Nghiên cứu của tác giả Sampson và cộng sự trên các bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát và thứ phát: các bệnh nhân được tiêm 3 mũi PRP tự thân khớp gối tổn thương với liệu trình cách 4 tuần tiêm một mũi.

Nhóm nghiên cứu chỉ dùng acetaminophen để giảm đau khi đau nhiều mà không dùng kèm các thuốc cũng như các biện pháp khác vẫn thường dùng để điều trị bệnh thoái hóa. 6 tháng sau điều trị, một số bệnh nhân có sự cải thiện bề dày sụn khớp khi đo trên siêu âm chứng tỏ liệu pháp tác động tích cực đến sự tăng sinh sụn khớp. Các tai biến, tác dụng phụ hầu như không có, ngoại trừ một số bệnh nhân có cảm giác đau tăng tại chỗ ít ngày sau tiêm.
Một nghiên cứu khác của tác giả Kon và cộng sự trên 100 bệnh nhân thoái hóa khớp gối được tiêm PRP. Mỗi khớp gối được tiêm 3 mũi PRP tự thân theo liệu trình cách 3 tuần tiêm 1 mũi. Kết quả 80% bệnh nhân bày tỏ sự hài lòng với kết quả điều trị. Trong nghiên cứu này không có tác dụng phụ nghiêm trọng, ngoại trừ một trường hợp khớp gối sưng đau rõ rệt sau tiêm nhưng tự giảm đau dần sau 2 tuần. Các tác dụng phụ hay gặp là đau nhẹ thường gặp trong 2 hay 3 ngày đầu tiên, thường tự khỏi hoặc sau uống thuốc giảm đau acetaminophen liều thấp, ngắn ngày.
Một nghiên cứu khác cũng của tác giả Kon và cộng sự trên 150 bệnh nhân được chia làm 3 nhóm: nhóm 1 gồm 50 bệnh nhân điều trị PRP, nhóm 2 gồm 50 bệnh nhân được điều trị acid hyalorunic trọng lượng phân tử cao (HHA - Hight weight hyalorunic acid) và nhóm 3 gồm 50 bệnh nhân được điều trị acid hyalorunic trọng lượng phân tử thấp (LHA - Low weight hyalorunic acid). Các chỉ số về tuổi, giới, tiền sử bệnh... không có sự khác biệt giữa 3 nhóm.
Theo dõi từ thời điểm 2 đến 6 tháng thì nhóm điều trị PRP có kết quả tốt hơn rõ ràng so với nhóm điều trị LHA và HHA (kết quả ở nhóm này kém nhất). Mức độ hài lòng của nhóm điều trị PRP là 82% so với 64% trong nhóm điều trị LHA và 66% trong nhóm điều trị HHA. Như vậy kết quả điều trị bằng PRP tốt hơn và ổn định hơn (thời gian duy trì kéo dài hơn) so với điều trị bằng acid hyalorunic (HA).
Nghiên cứu của Sanchez và cộng sự trên 60 bệnh nhân thoái hóa khớp gối chia làm hai nhóm đồng nhất về tuổi, giới, chỉ số BMI và phân bố mức độ nặng trên Xquang: 30 bệnh nhân nhóm nghiên cứu điều trị PRP với liệu trình 3 mũi, mỗi tuần tiêm khớp gối 1 mũi. 30 bệnh nhân nhóm được tiêm HA cũng với liệu trình 3 mũi như trên. Kết quả sau 2 tháng điều trị tỷ lệ bệnh nhân trong nhóm điều trị PRP cải thiện triệu chứng đau thành công cao hơn so với nhóm điều trị HA. Các tác dụng phụ được ghi nhận là đau nhẹ, phản ứng viêm và có thể tràn dịch khớp gối sau tiêm được ghi nhận ở một số bệnh nhân thuộc cả hai nhóm, không có biến chứng nặng.
Tóm lại, với tác động vào cơ chế bệnh sinh của bệnh thoái hóa khớp, kỹ thuật tách chiết PRP đơn giản, an toàn do lấy máu tự thân, liệu pháp điều trị PRP đang hứa hẹn là một trong những lựa chọn điều trị tốt cho bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Nó cho kết quả tốt hơn và lâu dài hơn với điều trị bằng tiêm tại chỗ chất nhờn acid hyalorunic, một liệu pháp điều trị được coi là tiêu chuẩn và đang được sử dụng rộng rãi hiện nay.
Nguồn Suckhoedoisong.vn
(SKDS) - Thấp khớp cấp là một thể lâm sàng của bệnh tự miễn dịch, thường gặp ở lứa tuổi 5 - 20, hiếm gặp ở trẻ dưới 3 tuổi và người trên 30 tuổi. Việc điều trị phải được thực hiện sớm, lâu dài và theo dõi chặt chẽ để tránh những biến chứng nguy hiểm.
Bệnh thường xảy ra sau nhiễm liên cầu khuẩn β tan huyết nhóm A (LCK β - A) ở đường hô hấp trên gây tổn thương ở mô liên kết của nhiều cơ quan, trong đó quan trọng nhất là tổn thương khớp và tim. Các tổn thương tại khớp thường chỉ thoảng qua và không để lại di chứng gì, nhưng tổn thương tại tim (chủ yếu các van tim) lại để lại những hậu quả nhiều khi rất nặng nề (do vậy bệnh còn được gọi là thấp tim) như hở van, hẹp van hoặc kết hợp.
Các biểu hiện của bệnh
Đa số bệnh nhân mở đầu bằng viêm họng: Có trường hợp viêm họng nhẹ thoảng qua biểu hiện bằng đau họng đơn thuần, cũng có khi không có biểu hiện viêm họng ban đầu. Sau viêm họng 7 - 15 ngày các triệu chứng của thấp khớp cấp xuất hiện: bệnh nhân sốt cao 38 - 39oC , tim đập nhanh, da tái xanh, vã mồ hôi.

Hình ảnh hở van 2 lá do thấp tim
Viêm khớp:
Các khớp sưng nóng đỏ đau nhiều, hạn chế vận động do sưng đau kéo dài vài ngày đến một tuần rồi khỏi chuyển sang khớp khác, không để lại di chứng gì. Các khớp hay bị là khớp gối, cổ chân, khuỷu, vai; rất ít gặp các khớp nhỏ ngón chân, tay; hầu như không gặp ở cột sống và khớp háng. Đôi khi triệu chứng ở khớp rất kín đáo chỉ có cảm giác đau mỏi hoặc viêm khớp kéo dài ít di chuyển, hoặc viêm các khớp nhỏ.
Các biểu hiện trên tim: thấp khớp có thể gây tổn thương trên cả 3 phần của tim: viêm màng trong tim; viêm cơ tim và viêm màng ngoài tim. Tỉ lệ tổn thương tim gặp trong khoảng 30 - 90% bệnh nhân thấp tim.
Điều trị như thế nào?
Phòng bệnh
Dự phòng thấp khớp rất quan trọng vì đây là một mắt xích chính trong việc kiểm soát bệnh. Do đó cần phải được tiến hành ngay từ giai đoạn cấp của bệnh.
Phòng thấp thứ phát: Benzathin penicillin tiêm bắp, cứ 3 tuần tiêm nhắc lại một lần. Penicilin V uống hằng ngày.
Thời gian phòng ngừa thấp tim. Với thấp khớp không có tổn thương tim cần phải dự phòng thấp trong 5 năm; thấp tim có di chứng nhẹ ở một van tim thì người lớn dự phòng 5 năm, trẻ em dự phòng cho tới 18-20 tuổi.
Thấp tim di chứng van tim nặng cần dự phòng thấp tái phát cho tới 40 tuổi hoặc suốt đời.
Phòng thấp tiên phát: Phòng ngừa đợt thấp đầu tiên lúc trẻ chưa bị thấp. Tích cực phát hiện và điều trị viêm họng do liên cầu khuẩn.
Cần phải tiến hành đồng thời điều trị và dự phòng thấp tim bởi chúng liên quan chặt chẽ với nhau.        Kháng sinh: penicillin G tiêm bắp trong thời gian 1 - 2 tuần hoặc penicillin V uống. Đây là kháng sinh có tác dụng với phần lớn các vi khuẩn gram (+), gram (-) vài chủng spirccheta, antinomyces. Điều trị dự phòng thấp khớp cấp tính, viêm màng trong tim, viêm màng não mủ, tủy sống - não.Thuốc có thể gây tác dụng quá mẫn, do đó cần ngừng ngay thuốc và thay bằng kháng sinh khác như erythromycin.      
Sử dụng thuốc chống viêm
Với viêm khớp đơn thuần dùng aspirin liều tấn công trong 2 tuần. Sau đó dùng liều duy trì aspirin trong 4-6 tuần hoặc cho tới khi hết các triệu chứng viêm. Aspirin là thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid. Với tác dụng chống viêm, thuốc được chỉ định trong trường hợp viêm nhẹ như viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp, viêm khớp do bệnh vảy nến, viêm cơ, viêm màng hoạt dịch, viêm gân...

Thuốc có tác dụng phụ trên đường tiêu hóa gây xuất huyết tiêu hóa, do đó thuốc chống chỉ định với các bệnh nhân mẫn cảm với thuốc, tiền sử có bệnh xuất huyết tiêu hóa - loét dạ dày, rối loạn đông máu, bệnh gan thận, phụ nữ có thai...  Với viêm tim mức độ nhẹ và trung bình, dùng liều tấn công bằng prednisolon, uống kéo dài 2-3 tuần rồi giảm dần liều cho tới khi hết các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm máu, miễn dịch trở về bình thường (2-3 tháng).

Khi giảm liều prednisolon có thể bổ sung aspirin và tiếp tục trong 4 - 6 tuần sau khi đã ngừng prednisolon. Với thể nặng có thể dùng steroid đường tĩnh mạch với liều tấn công bằng solumedrol trong 2-3 ngày sau đó chuyển uống prednisolon kéo dài trong 3 - 6 tuần. -phối hợp với aspirin.
Thuốc gây tác dụng phụ là rối loạn điện giải (gây hạ huyết áp, kiềm máu, gây giữ nước và muối nên gây tăng huyết áp...); rối loạn nội tiết chuyển hóa (hội chứng Cushing, ngừng lớn ở trẻ nhỏ; rối loạn kinh nguyệt, giảm dung nạp glucose, đái tháo đường tiềm ẩn...); rối loạn tiêu hóa (gây xuất huyết tiêu hóa, loét ruột non, viêm tụy cấp...); rối loạn cơ xương (gây teo cơ, yếu cơ, loãng xương...), rối loạn da (teo da, ban xuất huyết, chậm liền sẹo, trứng cá...); rối loạn thần kinh (hưng phấn quá độ, rối loạn giấc ngủ...); rối loạn mắt (tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể...).
Điều trị múa vờn bằng phenobarbital. Với bệnh nhân không đáp ứng thuốc này có thể thay bằng haloperidol.
Nếu bệnh nhân có suy tim cấp hoặc có bệnh van tim phối hợp cần sử dụng các loại thuốc lợi tiểu, trợ tim.

 TS.Nguyễn Hải
(ĐTĐ) - Theo một nghiên cứu gần đây, sau sáu tuần thực hành yoga, những người trẻ tuổi bị viêm khớp mãn tính (VKMT) có thể cải thiện đáng kể tình trạng bệnh của mình.

Nhà nghiên cứu Kirsten Lung, người chuyên nghiên cứu các cơn đau tại ĐH California, Los Angeles (Mỹ) cho biết trong một cuộc họp thường niên gần đây của Hiệp hội cơn đau Mỹ rằng yoga như một “phương thuốc điều trị thực tế, khả thi” cho các bệnh nhân VKMT. Theo nhà vật lý trị liệu Kathleen Sluka, người chuyên nghiên cứu cơn đau tại Đại học Lowa (Mỹ, tất cả các hoạt động thể chất đều hữu ích với bệnh viêm thấp khớp, vì vậy kết quả trên không có gì đáng ngạc nhiên.  Đây là một dạng VKMT và rối loạn tự miễn, thường xuất hiện phổ biến ở phụ nữ hơn là nam giới.

Bệnh này có triệu chứng ban đầu mệt mỏi, đau khớp và cứng khớp. Sau đó, người bệnh có thể cảm thấy như bị cúm, đau nhức cơ bắp và mất cảm giác ngon miệng. Nếu điều trị sớm và hiệu quả, có thể ngăn ngừa giai đoạn phá hủy xương và khớp xương. Các nhà nghiên cứu cho biết, một số loại thuốc điều trị VKMT có khả năng mang tới rủi ro cho các bệnh nhân trẻ, vì vậy các phương pháp khác được cân nhắc nhiều hơn.
Nghiên cứu này tập trung quanh phương pháp yoga Iyengar, trong đó các học viên có thể sử dụng các khối, dây đai, đệm và các đạo cụ khác để kéo và tăng cường cơ bắp của họ.
Nhóm nghiên cứu lựa chọn 26 phụ nữ tuổi từ 21 đến 35 bị VKMT. Họ chỉ định 11 phụ nữ tham gia lớp học yoga Iyengar, số còn lại vào danh sách đợi lớp học yoga tiếp sau. Sau khóa luyện sáu tuần, các nhà nghiên cứu hỏi các phụ nữ ở cả hai nhóm xem họ cảm thấy thế nào. Nhóm phụ nữ ở danh sách đợi khóa học tiếp theo cho biết họ không thấy tiến triển khá hơn. Trong khi đó nhóm phụ nữ đã tham gia khóa luyện cho biết thấy dễ chịu hơn so với khi chưa tập luyện.
Các bệnh nhân cũng cho biết các cơn đau của họ đã giảm hẳn, sức khỏe nói chung và mức năng lượng được cải thiện. Theo nhà nghiên cứu Sluka, các bài tập thể dục thường phải mất tám tuần mới mang lại hiệu quả đáng kể, giúp tăng cường cơ bắp và ngăn chặn tổn thương khớp do các cử động không thoải mái, cũng như kích hoạt hệ thống thần kinh góp phần làm giảm các cơn đau. Tuy nhiên, bà cũng cho biết, những kết luận từ những nghiên cứu nhỏ như vậy không thể mang tới một kết luận chính thức chung. Những cải thiện về sức khỏe như vậy cũng có thể là do tác động từ tâm lý nhưng nghiên cứu có thể cung cấp cho những người VKMT thêm một lựa chọn để cải thiện bệnh tình. Một số người khác có thể lựa chọn phương pháp giảm trọng lượng hay chạy bộ.
Theo HealthCare Today - Nguồn Phunuonline.com.vn
(ĐTĐ) - Đột nhiên đau dữ dội ở ngón chân cái, có vết sưng lạ trên ngón tay, mắc các triệu chứng như bị cúm... là những dấu hiệu cảnh báo của bệnh viêm khớp.

Cứng khớp xương vào buổi sáng
Biểu hiện của triệu chứng này là khó đi lại trong khoảng hơn nửa giờ sau khi thức dậy. Trên thực tế, hiện tượng cứng khớp xương vào buổi sáng xảy ra với tất cả mọi người nhưng thường đỡ dần khi bắt đầu sải chân và bước đi.
"Với bệnh viêm khớp dạng thấp, có thể mất tới 30 phút để các khớp xương mềm trở lại, đôi lúc cần tới nhiều giờ, thậm chí cả ngày", Chaim Putterman, Trưởng khoa Thấp khớp tại Đại học Albert Einstein (Mỹ) nhận định.
Đau khớp khi leo cầu thang
Ở triệu chứng này, phần khớp đầu gối cứng hoặc đau nhói mỗi khi bị gập lại như lúc di chuyển lên, xuống cầu thang, đặc biệt là với người quá cân hoặc béo phì.
Theo Patience White, Phó Chủ tịch Quỹ Phong thấp tại Mỹ: "Mỗi 0,5kg cân nặng thừa giống như một khối nặng 2kg đè lên đầu gối". 60% người béo phì mắc bệnh viêm khớp.
Một số biểu hiện khác của triệu chứng gồm đi tập tễnh, không thể duỗi khuỷu tay, khó đi đứng vững và kiễng chân.

Đột nhiên đau dữ dội ở ngón chân cái
Khớp sưng đỏ lên, cảm giác nóng rát khi chạm vào và mềm hơn. Mặc dù hiện tượng này có thể xảy ra ở các vùng khớp khác nhưng ngón chân cái thường là vị trí phát bệnh phổ biến nhất. Thường thì trong cùng một thời điểm, chỉ một khớp bị ảnh hưởng.
Có các triệu chứng như bị cúm
Thường xuyên mệt mỏi, ăn không ngon, giảm cân, thiếu máu hoặc sốt kéo dài hằng tuần, những triệu chứng này thường xuất hiện cùng lúc với những cơn đau và cứng khớp xương.
Ngoài ra, còn có một số dấu hiệu khác như mắt bị khô, đau và có thể có màu đỏ. Những triệu chứng này có thể đến từ từ hoặc xuất hiện đột ngột.
Vết sưng lạ trên ngón tay
Những vết sưng lạ có thể xuất hiện ở đốt cuối hoặc đốt giữa của ngón tay. Ngoài ra, những đốt xương thường bị cứng, khó di chuyển, mặc dù có thể hiện tượng này không gây đau đớn.
Không chỉ ngón tay, ngón chân của những bệnh nhân bị viêm khớp cũng có thể xuất hiện các triệu chứng tương tự.
Đau đến mất ngủ
Khi bị viêm khớp, người bệnh thường đau khớp đến mức không thể ngủ được hoặc bị tỉnh giấc giữa đêm.
Một khi những cơn đau này trở nên mãn tính, bệnh nhân thường tránh tham gia những hoạt động ngoài xã hội và có thể bị trầm cảm.
Đau nhức, khó cử động tay
Biểu hiện của triệu chứng là khó khăn trong việc buộc dây giày, xoay chìa khóa trong ổ, dùng dao và nĩa... Những khớp xương bị tác động có thể đỏ hơn vùng da xung quanh, khi chạm vào thấy đau và nóng.
Khi bị viêm khớp dạng thấp, rất nhiều khớp xương khác nhau ở bàn tay và cổ tay đều bị ảnh hưởng, khiến việc điều khiển bàn tay và ngón tay trở nên khó khăn. Viêm khớp dạng thấp là một căn bệnh đối xứng, nghĩa là cả hai bên của cơ thể, chân và tay đều có xu hướng bị ảnh hưởng cùng một lúc. Trong khi đó, nếu bị bệnh viêm khớp xương mãn tính, các khớp bị tác động thường không đối xứng.
Theo Caring - Nguồn Tuoitre.vn
Có thể cải thiện chức năng của khớp và giảm đau nhờ một phương pháp trị liệu không cần thuốc lại giúp "ngon miệng" hơn, đó là nhờ những thực phẩm sau đây:
1. Đậu nành

Theo các nhà khoa học thuộc Đại học bang Oklahoma, những người bị chứng đau đầu gối tham gia vào cuộc nghiên cứu đều cho biết sau khi hấp thụ nguồn chất đạm từ đậu nành mỗi ngày trong vòng ba tháng, họ đã cảm thấy bớt khó chịu và ít đau hơn trước đó.

Hiệu quả này là do trong đậu nành rất giàu chất isoflavones - kích thích tố thực vật có tính kháng viêm.


2. Trái cây

Trong một nghiên cứu ở Úc với 293 người trưởng thành tham gia, các nhà khoa học cũng nhận thấy: việc ăn nhiều trái cây có thể giúp giảm nguy cơ phát triển sự tổn thương tủy xương – một "báo động" cho tình trạng đau và viêm khớp gối trở nên trầm trọng.

Các nhà nghiên cứu nghi ngờ vitamin C trong trái cây giúp bảo vệ khớp đầu gối và hỗ trợ các cấu trúc, chức năng của cơ xương. Những loại hoa quả giàu vitamin C có trong kiwi, cam, xoài, bưởi, đu đủ.


3. Cá

Cá và dầu cá cũng có tác dụng giảm triệu chứng đau khớp và cứng khớp trong viêm khớp dạng thấp.

Một nghiên cứu gần đây cho thấy axit béo Omega-3 chứa trong cá không chỉ giúp ngăn chặn các hóa chất gây viêm trong bệnh viêm xương khớp mà còn ngăn sự phân hủy tế bào sụn.

Nên ăn hai khẩu phần cá (cá thu hoặc cá hồi) hàng tuần hoặc bổ sung từ viên nang Omega-3 1gram mỗi ngày để cải thiện tình trạng đau nhức.

Theo Nguyệt Hương

Phụ nữ Online/Reader's Digest
Theo Afamily
ANTĐ - Phần lớn mọi người vẫn nghĩ bệnh viêm khớp thường chỉ xuất hiện ở người lớn do quá trình thoái hóa của hệ xương khớp, tuy nhiên thực tế có khá nhiều trẻ em cũng mắc bệnh này, nhất là thể viêm khớp dạng thấp. Không những thế, số trẻ em bị viêm khớp ngày càng có xu hướng tăng.

Khớp do viêm họng, kháng sinh


Trẻ em cũng có nguy cơ mắc bệnh viêm khớp

Những ngày gần đây tại các tỉnh phía Bắc, thời tiết thay đổi thất thường, khó chịu, khiến những người có tiền sử mắc bệnh viêm khớp phải nhập viện điều trị tăng cao. Hầu hết những bệnh nhân viêm khớp dạng này là người cao tuổi, do ảnh hưởng của quá trình lão hóa hệ xương khớp. Tuy nhiên, tại bệnh viện Nhi Trung ương, số trẻ bị bệnh đau khớp, viêm khớp dạng thấp cũng khá nhiều. TS. Lê Minh Hương, Trưởng khoa Miễn dịch - Dị ứng - Khớp, BV Nhi Trung ương cho biết, gần đây số trẻ nhập viện vì viêm khớp có xu hướng ngày càng tăng. Có nhiều nguyên nhân khác nhau khiến cha mẹ đưa con đi khám như: đau mỏi xương khớp tuổi đang lớn, viêm khớp cấp tính do vi khuẩn, do lao, viêm sau chấn thương, bệnh khớp mãn tính…

Chúng tôi gặp bệnh nhân Nguyễn Đăng L, (10 tuổi, ở Phú Thọ) đang nằm điều trị viêm khớp tại BV Nhi Trung ương. Mẹ cháu L kể, hơn 1 năm trước, thấy cháu kêu bị đau nhức gối, gia đình đưa đến BV huyện khám thì được bác sĩ chẩn đoán cháu bị viêm cơ cần tiêm kháng sinh. Tuy nhiên mới cho tiêm được khoảng 2 tháng thì cháu càng đau dữ dội hơn, “may trong nhà có người em làm nghề y yêu cầu dừng tiêm kháng sinh ngay nếu không muốn bị liệt”. Tại BV Nhi Trung ương, sau một thời gian ngắn điều trị, hiện tình trạng bệnh của cháu đã tiến triển tốt, các cơn đau giảm dần.

Lương y Vũ Quốc Trung, Hội Đông y Hà Nội cho biết, trong quá trình hành nghề khám bệnh ông cũng đã gặp và chữa trị cho rất nhiều cháu bé mới chỉ 5, 6 tuổi cũng đã mắc bệnh đau cơ, khớp. Tuy nhiên khác với viêm khớp ở người lớn, bệnh đau khớp ở trẻ em thường gặp nhất là viêm khớp dạng thấp, thể bệnh rất nguy hại đến tim. Ông Trung nhấn mạnh, dù hiện nay y học vẫn chưa khẳng định rõ các nguyên nhân gây bệnh viêm khớp ở trẻ, tuy nhiên phần lớn trẻ mắc bệnh này là do biến chứng của bệnh viêm họng và uống kháng sinh quá liều, lạm dụng kháng sinh quá mức dẫn đến những phản ứng có hại của cơ thể.

Không thể chủ quan

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi - BV Bạch Mai cho biết, không phải mọi trẻ em viêm họng đều bị viêm khớp dạng thấp (thấp tim) tuy nhiên trên thực tế vẫn có khoảng 20-30% các ca viêm họng do nguyên nhân liên cầu khuẩn tan huyết nhóm A dễ gây ra nhiều biến chứng nặng nề như thấp tim, viêm khớp, viêm cầu thận. Đặc biệt, việc tùy tiện sử dụng kháng sinh điều trị viêm họng rất nguy hiểm, làm tăng nguy cơ gây biến chứng.

Theo ông Dũng, vào mùa hè bệnh viêm họng ở trẻ em thường gia tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó phần lớn là do virus, một phần nhỏ hơn do vi khuẩn... Đáng chú ý, việc sử dụng kháng sinh chỉ có tác dụng với những trường hợp viêm họng do vi khuẩn, trong khi có đến 80% bệnh nhân viêm họng là do virus và viêm họng mãn tính thì dùng kháng sinh không có tác dụng. Vì vậy, khi trẻ bị viêm họng mà có các biểu hiện như viêm kết mạc, chảy mũi, ho, tiêu chảy… các bậc cha mẹ không nên quá lo lắng, không nên vội mua kháng sinh về cho trẻ uống. Nếu trẻ bị sốt cao, mệt mỏi, sưng đau hạch cổ, xương khớp, nổi xuất huyết… thì cần đưa trẻ đi khám ngay.

Ngoài bệnh viêm khớp dạng thấp thì viêm khớp mãn tính ở trẻ cũng là bệnh khá phổ biến, bệnh có thể kéo dài từ vài tháng đến vài năm. Theo TS. Lê Minh Hương, khi bị viêm khớp mãn tính, trẻ thường sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirin liều thông thường. Bệnh có thể gây ra những tổn thương ở màng ngoài tim, các mạch máu trong và ngoài tim, viêm cơ tim… Viêm khớp mãn tính ở trẻ được điều trị bằng các thuốc giảm đau, kháng viêm, corticoid, ức chế miễn dịch, vật lý trị liệu… Nếu được chẩn đoán và điều trị sớm, trẻ có thể bảo tồn được các khớp và hạn chế tối đa sự biến dạng gây tàn phế.
Nguyễn Phan
Bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh là bệnh có những thay đổi về xương, khớp thứ phát do giảm hay mất cảm giác chi phối vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên.
Bệnh còn có tên là bệnh khớp Charcot, do Charcot là người đầu tiên mô tả mối liên quan giữa một số bệnh khớp và triệu chứng mất cảm giác vào năm 1868.
Cơ chế của bệnh vẫn còn chưa rõ ràng. Tuy nhiên, nhìn chung đa số các tác giả cho rằng bệnh có liên quan đến rối loạn mất nhận cảm và cảm giác sâu cơ thể làm mất cơ chế tự bảo vệ dẫn đến các chấn thương tại chỗ tái phát liên tục, gây tổn thương hủy hoại, thoái hóa cấu trúc sụn, xương và phần mềm quanh khớp. Một số tác giả khác lại đề ra giả thuyết phản xạ mạch máu - thần kinh làm giãn mạch, tăng lưu lượng máu tại chỗ gây sung huyết, ứ máu dẫn đến tăng hoạt tính tiêu xương làm hủy hoại khớp, xương.
Nguyên nhân và triệu chứng
Nguyên nhân của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh có nhiều, hay gặp nhất là do bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), giang mai biến chứng thần kinh (còn có tên là bệnh Tabes dorsalis) và bệnh rỗng tủy xương (Syringomyelia). Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, có tới 15% số bệnh nhân ĐTĐ, 10 - 20% số bệnh nhân giang mai và 20 - 25% số bệnh nhân rỗng tủy xương có biểu hiện bệnh khớp Charcot.

Đau khớp có thể xuất phát từ bệnh lý của dây thần kinh ngoại biên
Ngoài ra, triệu chứng bệnh còn gặp trong nhiều bệnh khác như sau chấn thương đặc biệt có chèn ép tủy sống hay tổn thương thần kinh ngoại biên, nhiều bệnh thần kinh di truyền khác, bệnh lý nhiễm khuẩn, do dùng corticoid, nghiện rượu, bệnh phong, bệnh nhiễm bột (amyloidosis), hội chứng Raynaud, cường vỏ tuyến thượng thận, bệnh hệ thống như xơ cứng bì, viêm khớp dạng thấp, trẻ dị tật bẩm sinh do mẹ dùng thuốc Thalidomide trong thời kỳ mang thai, rối loạn cảm giác cận ung thư…
Tỉ lệ mắc bệnh cũng như tỉ lệ tử vong phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn bệnh cũng như các biến chứng kèm theo, đặc biệt tiên lượng xấu hơn nếu có kèm nhiễm khuẩn phần mềm hay viêm xương, khớp nhiễm khuẩn.
Triệu chứng bệnh đa dạng, phụ thuộc vào nguyên nhân, giai đoạn của bệnh. Nhìn chung biểu hiện khớp bắt đầu xuất hiện muộn nhiều năm sau các biểu hiện thần kinh của bệnh chính, tuy nhiên lại tiến triển nhanh và hủy khớp chỉ trong vài tháng. Tùy nguyên nhân mà có các vị trí khớp hay gặp khác nhau: do bệnh ĐTĐ các triệu chứng chủ yếu ảnh hưởng tới khớp ở bàn chân và cổ chân; trong bệnh giang mai là khớp gối, háng và cổ chân; trong bệnh rỗng tủy xương ảnh hưởng tới cột sống và chi trên, đặc biệt ở khớp vai và khớp khuỷu. Thông thường biểu hiện ở một khớp (trừ khi ở khớp nhỏ bàn chân có thể ảnh hưởng tới vài khớp), không đối xứng. Triệu chứng khớp ban đầu thường nhẹ, tiến triển âm ỉ, tái phát từng đợt đặc biệt sau những chấn thương nhẹ. Đau khớp xuất hiện ở một phần ba số bệnh nhân nhưng thường là đau ít, nhất là khi so sánh với mức độ tổn thương khớp khá nhiều. Khớp sưng nhẹ, phù nề, sung huyết hoặc xuất huyết quanh khớp, sờ ấm hơn bình thường. Có thể tràn dịch khớp. Khớp có biểu hiện mất vững hoặc bán trật nhẹ. Ở giai đoạn muộn, đau có thể nặng hơn nếu hủy khớp tiến triển nhanh gây trật khớp hoặc có khối máu tụ, mảnh sụn hay xương vỡ nằm trong khớp. Khớp sưng, biến dạng nhiều do màng hoạt dịch khớp dày, do trật khớp hoặc gãy xương. Có thể gặp một số biến chứng kèm theo, đặc biệt hay gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, như nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, viêm khớp nhiễm khuẩn và cốt tủy viêm.
Chẩn đoán
Các xét nghiệm cận lâm sàng: chụp X-quang khớp bị tổn thương. Ở giai đoạn sớm có các dấu hiệu sau: hình mờ quanh khớp do sưng nề phần mềm kèm có thể tràn dịch khớp, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, canxi hóa phần mềm, bán trật khớp nhẹ, mất khoáng chất trong xương. Giai đoạn muộn hơn có biểu hiện: hẹp khe khớp nhiều, bề mặt diện khớp nham nhở, xơ hóa nhiều xương dưới sụn, mọc gai xương tân tạo, có những mảnh xương hoặc sụn canxi hóa trong khớp, trật khớp rõ. Đối với khối xương bàn chân có thể có hình ảnh tiêu đầu xa xương đốt bàn chân tạo hình ảnh thon nhọn giống đầu bút chì, hoặc phối hợp với hình ảnh mọc xương tân tạo ở xương đốt ngón chân giống như hình càng cua hoặc hình miệng chén ôm lấy đầu bút chì. Trên X-quang cần chẩn đoán phân biệt bệnh với các bệnh thoái hóa khớp, hoại tử xương, bệnh khớp lắng đọng tính thể canxi pyrophosphat, bệnh khớp do tiêm corticoid nội khớp, nhiễm khuẩn xương khớp…
Siêu âm khớp, chụp cắt lớp vi tính: không có vai trò trong chẩn đoán bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh vì hình ảnh không đặc hiệu. Siêu âm có thể phát hiện dịch trong khớp, dày màng hoạt dịch, hẹp khe khớp, định hướng cho hút dịch làm xét nghiệm để chẩn đoán những trường hợp viêm khớp nhiễm khuẩn. Chụp cắt lớp vi tính có thể giúp đánh giá tốt hơn tổn thương vỏ xương, mảnh xương chết hay khí ở trong xương.
Chụp cộng hưởng từ, đặc biệt có phối hợp thuốc cản quang, có ích trong phân biệt tổn thương tủy trong bệnh rỗng tủy với các viêm tủy nhiễm khuẩn, viêm đĩa đệm đốt sống nhiễm khuẩn cũng như giúp chẩn đoán một số biến chứng nhiễm khuẩn xương, khớp ở vị trí khác ngoài cột sống.
Chẩn đoán xác định bệnh dựa vào tiền sử bệnh nhân có bệnh lý tổn thương thần kinh (như ĐTĐ, giang mai, phong, bệnh rỗng tủy…) trước đó nhiều năm, xuất hiện đau, sưng khớp với tiến triển từ từ tăng dần, có sự bất cân xứng giữa mức độ đau với tổn thương khớp, xương. Cần kết hợp với chụp X-quang để khẳng định chẩn đoán.
Chẩn đoán phân biệt với các bệnh thoái hóa khớp, bệnh gút, bệnh giả gút (khớp viêm do lắng đọng tinh thể pyrophosphat), viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp do bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vảy nến…), viêm khớp phản ứng, hội chứng loạn dưỡng thần kinh giao cảm (hội chứng Sudeck). Ví dụ: trong giai đoạn sớm của bệnh khớp do nguyên nhân thần kinh, hình ảnh trên X-quang gần tương tự như trong thoái hóa khớp với tam chứng hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, mọc gai xương ở rìa khớp, tuy nhiên tiến triển của bệnh nhanh hơn thoái hóa khớp, không cân xứng giữa mức độ đau khớp với tổn thương trên X-quang: mức độ đau ít hơn trong khi tổn thương trên X-quang nặng hơn. Cần đặc biệt chú ý phân biệt bệnh với bệnh nhiễm khuẩn xương khớp hoặc phát hiện nhiễm khuẩn xương khớp với tư cách là biến chứng kèm theo để có thái độ điều trị thích hợp.
Điều trị
Điều trị bệnh: điều trị nguyên nhân, đặc biệt khi phát hiện sớm, điều trị tích cực bệnh chính có thể làm chậm quá trình tổn thương khớp.
Điều trị bảo tồn: những trường hợp phát hiện sớm cần bất động khớp (bằng giày thiết kế chuyên dụng, bó bột hay dụng cụ nẹp ngoài…), hạn chế tối đa trọng lực cơ thể cũng như các lực ngoại cảnh tác dụng lên khớp tổn thương để bảo vệ khớp khỏi các chấn thương tiếp diễn, qua đó làm chậm tiến trình bệnh. Một số thuốc như biphosphonat (alendronat, pamidronat) hay hoóc-môn tế bào nang cạnh giáp là calcitonin cũng có tác dụng làm giảm đau, giảm sưng nề khớp cũng như tăng mật độ xương tại chỗ. Phối hợp các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng chống loét do tì đè.
Trường hợp khớp tổn thương biến dạng nặng hay gãy xương có thể cần phải phẫu thuật nẹp vít bên trong xương, lấy bỏ các mảnh dị vật - các canxi hóa trong khớp, làm cứng khớp hay phẫu thuật thay khớp toàn bộ.
Phòng và điều trị các biến chứng, đặc biệt biến chứng nhiễm khuẩn phần mềm quanh khớp, nhiễm khuẩn khớp, xương.
ThS. BÙI HẢI BÌNH
Theo SKĐS
Khi bị viêm khớp mãn tính, trẻ thường sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirine liều thông thường.
Viêm khớp mạn tính trong độ tuổi thiếu niên là một trong những bệnh phổ biến nhất ở lứa tuổi này. Bệnh có thể gây ra những tổn thương ở màng ngoài tim, các mạch máu trong và ngoài tim, viêm cơ tim.

5-15 tuổi dễ mắc bệnh

Đây là nhóm bệnh tự miễn dịch, nguyên nhân gây bệnh chưa rõ, được định nghĩa là tình trạng viêm khớp mạn tính kéo dài ít nhất 6 tuần, khởi phát bệnh trước 16 tuổi. Bệnh thường khởi phát sau khi nhiễm virut, Chlamydia mycoplasma, Streptococus, Salmonella, Shigella.

Khi bị viêm khớp mãn tính, trẻ thường sốt, mệt mỏi, đau nhức cơ toàn thân và các triệu chứng này không giảm khi dùng aspirine liều thông thường. Trẻ có thể bị nổi mẩn đỏ ở thân mình và các gốc chi, nhưng các mẩn đỏ này mất rất nhanh. Triệu chứng viêm khớp có thể xảy ra ngay từ đầu hay sau vài ngày, thường là trẻ bị sưng đau các khớp cổ tay, khớp gối và mắt cá chân. Ở trẻ lớn thường là thể viêm ít khớp, chủ yếu ở một vài khớp to như khớp gối, khuỷu tay, háng, nhưng cũng có thể gặp ở khớp thái dương hàm và khớp cổ. Nơi khớp sưng thấy phù nề, sờ ấm nhưng không đỏ và ít đau. Khi sụn khớp đã bị dính và xơ thì khớp trở nên cứng và hạn chế sự vận động kèm theo các cơ ở chi đó bị teo.


Một ca can thiệp cho trẻ bị dính khớp tại BV Nhi TƯ. Ảnh: P.Ninh.

Các tổn thương khác cũng có thể gặp như trẻ bị nổi hạch, gan lách to, viêm đa màng như tràn dịch màng phổi,viêm màng tim hay viêm cầu thận.

Theo các chuyên gia tim mạch, trên 38% trẻ bị viêm khớp mạn tính có biểu hiện các bệnh về tim mạch như: viêm cơ tim, bệnh van tim... Đặc biệt là những bệnh nhân bị tổn thương khớp lan rộng, viêm đa khớp và rối loạn miễn dịch. Những bệnh nhân này tập trung chủ yếu ở hai nhóm tuổi chính là 5 - dưới 10 tuổi và nhóm 10 - 15 tuổi. Trong đó hơn 10,9% bị viêm cơ tim, 10,9% mắc bệnh van tim với tổn thương van hai lá chủ yếu, 9,1% rối loạn dẫn truyền.

Dinh dưỡng tốt, ngủ đủ

Khi mắc bệnh, bệnh nhân cần phải được khám và điều trị của bác sĩ chuyên khoa khớp vì có thể trẻ bị thể bệnh nặng gây nguy hiểm. Mục đích của điều trị là kiểm soát tiến triển của bệnh càng sớm càng tốt, nhằm hạn chế đến mức tối đa những thương tổn gây phá hủy và biến dạng khớp. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc (vật lý trị liệu, duy trì sinh hoạt thường ngày), dùng thuốc và điều trị ngoại khoa.

Vật lý trị liệu nhằm duy trì đến mức tối đa tầm vận động của khớp, tránh cứng khớp, dính khớp. Có thể dùng các biện pháp như sóng ngắn, tia hồng ngoại, tắm suối khoáng, tập các bài tập phục hồi chức năng vận động khớp... Tuy nhiên trong thời gian đau nhiều có thể tạm thời bất động khớp nhưng cần lựa chọn tư thế sao cho giữ được biên độ vận động lớn nhất.

Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những đứa trẻ khác. Tuy nhiên trong những đợt tiến triển nên cho trẻ nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.
Theo Afamily
Bệnh thoái hóa khớp rất thường gặp ở NCT. Đây là hiện tượng già của sụn khớp cũng giống như các bộ phận khác của cơ thể, tăng dần theo thời gian. Từ tuổi 70 trở đi hầu như mọi người đều có dấu hiệu thoái hóa khớp.
Tổn thương thoái hóa khớp thường gặp ở cột sống (nhất là ở cột sống thắt lưng và cột sống cổ); ở chi dưới như khớp gối, khớp háng; ở chi trên như khớp vai. Phần lớn người bệnh chỉ bị tổn thương một vài khớp, ít khi bị nhiều khớp.
Tập thể dục đều đặn giúp phòng chống thoái hoá khớp.
Trong cấu tạo của khớp xương, sụn khớp có vai trò rất quan trọng. Sụn bao phủ đầu xương như một chiếc đệm giảm xóc, vừa chống va đập khi khớp chuyển động vừa làm giảm ma sát giúp các xương trườn lên nhau dễ dàng. Trong bệnh thoái hóa khớp, lớp bề mặt sụn bị khô nứt, xói mòn. Sụn mất chức năng đệm, làm cho các khớp xương khi chuyển động cọ xát vào nhau gây đau và sưng tấy. Lâu dần khớp sẽ bị biến dạng; các chồi xương được hình thành và phát triển ở bờ xương làm sự cọ xát tăng lên, bệnh nhân càng bị đau khớp nhiều hơn.

Triệu chứng sớm nhất của bệnh là đau khi vận động, mới đầu chỉ đau khi khớp hoạt động, nghỉ sẽ hết đau; sau đó có thể đau âm ỉ liên tục và đau trội hẳn lên khi vận động. Nếu thoái hóa khớp háng, người bệnh đau ở vùng bẹn, vùng trước trong đùi, có thể đau cả vùng mông lan xuống mặt sau đùi. Nếu thoái hóa khớp gối, người bệnh đau nhiều khi đi lại, đứng lên ngồi xuống khó khăn, nhất là lúc lên xuống thang gác hoặc đang ngồi xổm đứng lên, có khi đau quá bị khụy xuống đột ngột. Nếu thoái hóa cột sống thắt lưng, người bệnh bị đau âm ỉ ở vùng thắt lưng và thường đau trội lên về chiều sau một ngày làm việc phải đứng nhiều hay lao động nặng, lúc nằm nghỉ đau sẽ giảm. Khi đau, bệnh nhân làm các động tác cúi, nghiêng, ngửa hoặc xoay người rất khó khăn.
Sau triệu chứng đau là tình trạng hạn chế vận động. Nếu bị thoái hóa khớp háng, người bệnh đi khập khiễng, giạng háng khó khăn, khó gập đùi vào bụng. Nếu bị thoái hóa khớp gối, các động tác gấp và duỗi thẳng chân bị hạn chế, đứng lên ngồi xuống khó khăn, có thể thấy tiếng lắc rắc khi vận động khớp. Nếu bị thoái hóa khớp vai sẽ hạn chế các động tác đưa tay ra trước, ra sau, quay tay và không làm được một số động tác đơn giản như gãi lưng, chải đầu...
Ngoài hai triệu chứng chính là đau và hạn chế vận động, người bệnh có thể bị teo cơ, nhất là các chi.
Phòng và điều trị bệnh
Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi còn ở lứa tuổi ngoài 40 cần tập thể dục đều đặn và cố tránh bị béo phì hoặc bị tiểu đường vì thoái hóa khớp rất thường gặp, dễ xảy ra nặng ở những người bệnh này. Chú ý tránh những động tác quá mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống.
Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động phải điều trị ngay. Trước đây người ta chủ yếu dùng các thuốc giảm đau, chống viêm steroid và phi steroid để làm giảm triệu chứng đau và viêm cho người bệnh. Như vậy là chữa triệu chứng chứ chưa phải chữa nguyên nhân gây bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ, có những loại thuốc chữa bệnh tận gốc chứ không dừng lại ở chữa triệu chứng.
Loại thuốc có hiệu quả tốt trong điều trị thoái hóa khớp hiện nay là Glucosamine. Thuốc này không những có tác dụng làm giảm đau, chống viêm mà quan trọng nhất là kích thích sản xuất sụn, ngăn chặn tiến triển của bệnh, giải quyết được tận gốc nguyên nhân gây bệnh. Về dược lí, Glucosamine tham gia quá trình chuyển hóa tổng hợp nên sụn khớp đồng thời ức chế các enzym phá huỷ sụn khớp và giảm các gốc tự do phá huỷ các tế bào sinh sụn. Glucosamine còn kích thích sinh sản mô liên kết của xương, làm giảm quá trình mất canxi của xương.

Nó cũng làm tăng sản xuất chất nhầy dịch khớp nên tăng độ nhớt, tăng khả năng bôi trơn của dịch khớp. Vì thế Glucosamine không những làm giảm triệu chứng của thoái hóa khớp (đau, khó vận động) mà còn ngăn chặn quá trình thoái hóa khớp, ngăn chặn bệnh tiến triển, tác dụng vào cơ chế bệnh sinh của thoái hóa, phục hồi lại cấu trúc sụn khớp.
Theo nguoicaotuoi
Theo SKĐS
ANTĐ - Quả anh đào chua có hàm lượng chất chống viêm cao nhất trong các loại thực phẩm và có thể giúp bệnh nhân viêm xương khớp kiểm soát bệnh.
Trẻ mắc bệnh viêm khớp dễ bị nhiễm trùng bệnh viện
Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim
Dầu gan cá chữa trị bệnh viêm khớp
Nghiên cứu 20 phụ nữ từ 40 đến 70 tuổi bị viêm xương khớp thấy rằng uống nước ép anh đào chua 2 lần/ngày trong 3 tuần đã giảm các chỉ báo viêm quan trọng, đặc biệt đối với những người có mức viêm cao nhất lúc bắt đầu nghiên cứu.

Viêm xương khớp là loại viêm khớp phổ biến nhất. Theo Quỹ Viêm khớp, vận động viên là những người đặc biệt có nguy cơ viêm xương khớp, do sử dụng khớp quá mức có thể gây tổn thương sụn, dẫn tới đau và chấn thương.



Nghiên cứu trước của cùng tác giả đã cho thấy lợi ích chống viêm của anh đào chua, ở dạng khô, đông lạnh và nước ép, có thể đặc biệt quan trọng đối với vận động viên. Những người đã uống nước ép anh đào chua khi tập chạy cự li dài ít bị đau sau tập luyện hơn so với những người không uống.

Hợp chất chống ô-xy hóa trong anh đào chua, được gọi là anthocyanin, mang lại màu tươi sáng của nước ép, liên quan tới khả năng chống ô-xy hóa cao và giảm viêm, ở mức tương tự như một số thuốc giảm đau thông thường.  
Liều lượng anh đào chua (như chiết xuất anh đào) hàng ngày làm giảm 20% đau do viêm xương khớp ở phần lớn người dùng. Hơn nữa, hợp chất chống ô-xy hóa trong quả anh đào cũng làm giảm đau nhức cơ và khớp.

Q. Chi
Theo MNT
ANTĐ - Nghiên cứu mới cho thấy một loại siêu âm đặc biệt có thể phát hiện sớm bệnh tim ở những người bị viêm khớp dạng thấp.
Trẻ mắc bệnh viêm khớp dễ bị nhiễm trùng bệnh viện
Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim
Bệnh lupus, viêm khớp dạng thấp liên quan với hiếm muộn, xảy thai
Các tác giả thuộc Bệnh viện Mayo tại Rochester, Minn, Mỹ giải thích rằng bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có nguy cơ cao bị bệnh tim, điều quan trọng là có thể phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và bắt đầu điều trị trước khi bệnh tiến triển tới thời điểm khiến người bệnh có nguy cơ bị cơn đau tim hoặc suy tim.

Trong nghiên cứu này, các tác giả đã dùng siêu âm tim tìm vết để đánh giá chức năng tim ở 100 người bị viêm khớp dạng thấp và 50 người không bị viêm khớp dạng thấp hoặc bệnh tim.


Bệnh nhân viêm khớp bị kiểu suy tim không gặp ở người khỏe mạnh, và sự suy giảm này có mô hình khác nên có thể được dùng để phát hiện bệnh tim trước khi người bệnh có dấu hiệu lâm sàng.

Hai phương pháp đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim được dùng rộng rãi – bảng điểm Framingham và Reynolds – thường đánh giá thấp nguy cơ tim ở nhiều bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Loại siêu âm này có thể cải thiện việc phát hiện sớm rối loạn tim ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

Nghiên cứu này được trình bày tại hội nghị thường niên của Liên hiệp chống thấp khớp châu Âu, tại Berlin, Đức.

Q. Chi
Theo HD
(TNO) Để giảm đau do viêm khớp, hãy tập thể thao và bổ sung những thực phẩm có lợi cho xương, theo Times of India.

Tiến sĩ Shekhar Agarwal, Giám đốc điều hành và là bác sĩ giải phẫu chính của Viện Chấn thương chỉnh hình Delhi (Ấn độ) đã chỉ ra 5 cách để làm dịu cơn đau do viêm khớp:

1. Áp dụng chế độ ăn kiêng nhẹ:  Bổ sung những thực phẩm có lợi cho sức khỏe vào khẩu phần của bạn. Nên dùng những thực phẩm có chứa axit béo Omega-3 - chất chống oxy hóa, làm giảm chứng viêm và giúp giảm đau.Tránh chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa vì chúng làm tăng cân, dẫn đến tăng gánh nặng lên các khớp xương.


Ảnh minh họa: Shutterstock

2. Dùng những thực phẩm tốt cho xương và khớp xương: Trái cây nhiệt đới tươi như ổi, cam, chanh và tiêu là nguồn cung cấp vitamin C. Cà rốt và củ cải có chứa beta carotien - chất chống oxy hóa rất hữu hiệu. Sữa và hải sản chứa nhiều vitamin D - chất rất cần thiết cho xương và khớp xương

3. Chơi thể thao: Thể thao giúp làm tăng sự rắn chắc và khỏe mạnh của cơ bắp, bảo vệ vùng quanh khớp và ngăn ngừa sự suy yếu của khớp. Các môn thể thao như đi bộ nhanh, chạy bộ, đạp xe đạp… giúp duy trì sự chắc khỏe của xương và tránh loãng xương. Hãy tham khảo ý kiến của các huấn luyện viên và các nhà chuyên môn trước khi bắt đầu lịch trình tập luyện các môn thể thao trên.

4. Tập vật lý trị liệu: Vật lý trị liệu giúp vận động các khớp bị cứng, giúp các cơ quanh khớp mạnh hơn. Tập vật lý trị liệu một hoặc hai lần mỗi tuần sẽ giúp giảm cơn đau do chứng viêm khớp gây ra.

5. Giảm cân: Giảm cân sẽ giúp bệnh nhân viêm khớp giảm các chứng viêm và đau ở khớp. Tuy nhiên, việc giảm cân nên được thực hiện điều độ, vừa sức.

Đức Trí
Một nghiên cứu gần đây cho thấy, những phụ nữ nuôi con bằng sữa của mình ít có khả năng bị viêm khớp mãn tính hơn những người không cho con bú.

"Ngoài tác dụng làm giảm nguy cơ ung thư vú và buồng trứng, giảm nguy cơ bị viêm khớp mãn tính có thể là một lợi ích nữa của việc cho con bú", tiến sĩ Elizabeth Wood Karlson tại Bệnh viện Brigham and Women, Boston, Mỹ, tuyên bố.

Karlson và cộng sự đã phân tích số liệu của nhiều phụ nữ để tìm hiểu vai trò của các yếu tố hoóc môn đối với bệnh viêm khớp. Họ nhận thấy những bà mẹ cho con bú với tổng thời gian từ 12 tới 23 tháng trong cuộc đời giảm được 30% nguy cơ bị viêm khớp mãn tính, còn những người cho con bú từ 24 tháng trở lên giảm được 50% nguy cơ.

Kết quả phân tích cũng cho thấy, chu kỳ kinh nguyệt không đều và tình trạng có kinh nguyệt sớm cũng làm tăng nguy cơ bị viêm khớp mãn tính. Song tình hình sử dụng thuốc tránh thai, số con và số tuổi của phụ nữ trong lần sinh nở đầu tiên không có tác động gì tới nguy cơ mắc bệnh.

Việt Linh (theo Reuters)
Theo Ykhoa.net
Tác giả : BS. HUỲNH BÁ LĨNH (BV. Chấn thương Chỉnh hình - TPHCM)

Thoái hóa khớp là nguyên nhân hàng đầu gây ra chứng đau khớp ở người trưởng thành. Từ chuyên môn gọi là viêm xương khớp (osteoarthritis). Trước đây người ta xem nó là căn bệnh của người cao tuổi. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy có rất nhiều người dưới 40 tuổi cũng bị thoái hóa khớp. Thường gặp nhất là do chấn thương và khớp làm việc quá tải. Ngoài ra còn một nguyên nhân trước đây ít gặp nhưng nay khá phổ biến là bệnh béo phì. Hiếm gặp hơn là các nguyên nhân về di truyền (gen) hay khiếm khuyết bẩm sinh về xương khớp.

Ðiểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là 10 biện pháp được các nhà chuyên môn đề nghị:

1. Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp

Khi bạn càng béo, sức nặng đè lên khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối và bàn chân.

2. Siêng vận động

Luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Ðó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương trong vận động.

3. Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng

Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa, vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

4. Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng

Khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay là khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân.

5. Giữ nhịp sống thoải mái

Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

6. Phải biết "lắng nghe" cơ thể

Cơ thể chúng ta có cơ chế báo động rất tuyệt vời. Khi có vấn đề nó sẽ báo động ngay cho bạn. Trong đó đau là dấu hiệu báo động chủ yếu. Phải ngưng ngay lập tức các vận động nếu chúng gây đau.

7. Thay đổi tư thế thường xuyên

Nên thường xuyên thay đổi các tư thế sinh hoạt. Tránh nằm lâu, ngồi lâu, đứng lâu một chỗ vì sẽ làm ứ trệ tuần hoàn và gây cứng khớp. Có thể đây là yếu tố chính yếu gây ra thoái hóa khớp do nghề nghiệp, nhất là ở những người lao động trí óc.

8. Sự luyện tập "như một chiến binh" sẽ làm hại bạn

Khi khớp của bạn có vấn đề, lời khuyên nên vận động của bác sĩ có thể được bạn hăng hái thực hiện một cách quá mức. Nguyên nhân thường là nỗi lo sợ thầm kín báo hiệu tuổi già của những người thành đạt trong cuộc sống, là sự âu lo nếu bạn là trụ cột của gia đình. Những lý do này khiến bạn vội vã lao vào tập luyện như những người lính cứu hỏa dập tắt đám cháy. Tuy nhiên điều này không thể áp dụng cho tổn thương khớp. Do sụn khớp phải trải qua một thời gian dài tác động mới bị hư hỏng (thoái hóa), vì vậy khi bạn cảm thấy đau nghĩa là nó đã hư khá nặng. Sự nghỉ ngơi sẽ làm ngừng gia tăng mức độ tổn thương. Còn sự vận động sẽ giúp nó phục hồi nhưng cần phải tăng dần cường độ. Nếu bạn quá gắng sức hay nóng nảy trong luyện tập để đốt giai đoạn, thì vô tình sẽ làm chết lớp sụn mới còn non yếu do các lực tác động quá mức của chính mình. Nên bắt đầu bằng những động tác nhẹ nhàng và chậm rãi, sau đó mới tăng dần lên tùy vào sự phản ứng của cơ thể.

9. Bảo vệ cơ thể trước những bất trắc trong sinh hoạt

Khi ra khỏi nhà, bạn nên cẩn thận chuẩn bị những dụng cụ bảo vệ cổ tay và khớp gối, nhằm đề phòng những tình huống bất ngờ có thể làm bạn bị chấn thương.

10. Ðừng ngại ngần khi có yêu cầu trợ giúp

Bạn không nên cố gắng làm một việc gì đó quá sức của mình. Nếu cảm thấy khó khăn, nên nhờ người khác trợ giúp. Mang vác hay xách một vật nặng có thể làm bạn đau nhức kéo dài nhiều ngày. Tình trạng đau nhức này thể hiện sự tổn thương của cơ thể. Từ những lỗ nhỏ có thể phát triển thành những sang thương lớn hơn trên mặt sụn khớp.
Theo Ykhoa.net
Bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay ở người cao tuổi (NCT) tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng gây cản trở nhiều trong sinh hoạt và cuộc sống hàng ngày.
Càng lơn tuổi, bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay càng dễ phát triển. Thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay là một bệnh khớp gặp ở cả nam lẫn nữ nhưng nữ giới chiếm tỉ lệ cao hơn.
Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay, trong đó tuổi tác và giới tính cần quan tâm nhất. Bệnh thường xảy ra ở người trưởng thành, đặc biệt là NCT, trong đó nữ giới chiếm tỉ lệ 2/3 các trường hợp thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay.


Tuổi đời càng càng cao, bệnh thoái hóa khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng càng gia tăng do hiện tượng lão hóa các chức năng của cơ thể đặc biệt đối với nữ giới do suy giảm lượng hoóc-môn sinh dục. Sự thoái hóa khớp là do lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng giảm sút một cách đáng kể và từ từ làm cho tổ chức sụn khớp thiếu chất dinh dưỡng. Trong khi sự thiếu hụt ngày càng gia tăng, sưc chịu đựng của sụn khớp càng ngày càng giảm bởi các tác động hàng ngày, liên tục lên khớp. Những người phải làm việc nhiều với bàn tay của mình như phụ nữ làm công việc nội trợ (giặt giũ, lao động tay chân…), béo phì, gia tăng trọng lượng… càng dễ mắc bệnh thoái hóa khớp nói chung và khớp bàn tay, ngón tay nói riêng.  Sự thoái hóa khớp cũng hay gặp ở bàn tay, ngón tay nào vận động nhiều hơn. Người thuận tay phải thì khớp bàn tay phải va khớp các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa cũng sẽ dễ bị thoái hóa hơn các khớp bàn tay trái không thuận và khi bị thoái hóa thì các khớp bàn tay phải cũng có biểu hiện nặng hơn, thoái hóa, biến dạng khớp nhiều hơn. Trong các trường hợp viêm đa khớp dạng thấp, hiện tượng thoái hóa khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay cũng chiếm tỉ lệ cao hơn các khớp khác.
Ngoài ra, cũng nên đề cập đến hiện tượng thoái hóa khớp do sự thiếu hụt canxi. Tỉ lệ người thiếu hụt canxi chiếm đa số là người lớn, trong đó đáng chú ý nhất là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh và mãn kinh.
Thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay cũng có thể gặp sau chấn thương, gãy xương, viêm khớp dạng thấp, bệnh gút hoặc một số bệnh  rối loạn chuyển hóa như bệnh đái tháo đường. Đối với NCT còn có một nguyên nhân nữa là ít vận động cơ thể hoặc lười vận động.
Triệu chứng
Thường bệnh được biểu hiện sau khi nghỉ ngơi một thời gian dài như sau ngủ dậy hoặc sau khi ngủ buổi trưa. Có một số triệu chứng cần quan tâm là đau, cứng khớp.
Đau xảy ra khi vận động, gọi là đau kiểu cơ học và giảm đau khi các khớp được nghỉ ngơi (không cử động, không vận động). Đau chỉ biểu hiện ở mức nhẹ hoặc trung bình, thời gian kéo dài khoảng từ 15 - 30 phút, có khi lâu hơn, tùy thuộc vào mức độ nặng, nhẹ của tổn thương khớp. Các khớp bị đau đôi khi còn bị sưng nhẹ.
Biểu hiện cứng khớp thường rõ ràng hơn nhiều. Cứng khớp xuất hiện lúc mới ngủ dậy buổi sáng sớm hoặc sau giấc ngủ buổi trưa, biểu hiện như khó cứ động hoặc cử động không mềm mại, uyển chuyển và dần dần bàn tay sẽ khó thực hiên các thao tác trong sinh hoạt hàng ngày như cầm nắm đồ vật không chắc (có khi cầm không chắc bị rơi đồ vật)… Các cơ ở bàn tay, ngón tay cũng sẽ bị teo nhỏ dần và các khớp bàn tay, ngón tay bị biến dạng.
Để chẩn đoán bệnh thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay  thì ngoài các triệu chứng lâm sàng còn có thể chụp X-quang khớp cổ tay, bàn tay, ngón tay. Kỹ thuật chụp X-quang tuy đơn giản nhưng giúp cho bác sĩ khám bệnh chẩn đoán bệnh chính xác hơn. Trên các phim chụp bàn tay, ngón tay bị thoái hóa khớp có thể thấy hiện tượng mọc gai xương, hẹp các khe khớp, mất vôi, hình dải, khuyết xương, xói mòn hoặc khuyết xương hoặc biến dạng khớp…
Nếu có điều kiện cũng nên tiến hành một số xét nghiệm như máu lắng, CRP (C - Reactive Protein), xác định yếu tố dạng thấp RF (Rheumatoid Factor)… Những trường hợp nghi ngờ bị thoái hóa khớp nên được khám bệnh sớm để xác định và điều trị kịp thời, tránh để xảy ra các biến chứng về xương khớp. Vì vậy, sau khi được chẩn đoán là thoái hóa khớp bàn tay, ngón tay nên tuân thủ các chỉ định điều trị của bác sĩ khám bệnh, nhất là các bác sĩ chuyên khoa xương khớp.
Phòng bệnh như thế nào?
Những đối tượng có nguy cơ cao bị thoái hóa khớp bàn tay, cổ tay (phụ nữ làm việc chân tay nhiều, những người nội trợ…) tránh lao động nặng, nhọc. Khi làm việc với đôi tay của mình, nên có thời gian nhất định để bàn tay được nghỉ ngơi không làm việc liên tục nhiều giờ liền. Trong cuộc sống hàng ngày hoặc trong lao động nếu có máy móc thay thế cho bàn tay, nên tận dụng (ví dụ máy rửa bát đĩa, cối xay thịt…).
Sau mỗi  buổi sáng ngủ dậy nên tập nhẹ nhàng các khớp cổ tay, bàn tay và ngón tay. Nếu có điều kiện nên ngâm bàn tay vào nước muối sinh lý, ấm, mỗi ngày khoảng 2 lần (sáng và tối trước khi đi ngủ), mỗi lần khoảng 10 phút. Tránh hiện tượng tăng cân, ăn uống hợp lý, năng vận động cơ thể. Nếu mắc một số bệnh về chuyển hóa hoặc chấn thương bàn tay, ngón tay nên điều trị dứt điểm và theo chỉ định của bác sĩ.
PGS.TS. BÙI KHẮC HẬU
THeo SKĐS
ANTĐ - Rung nhĩ là một vấn đề thường gặp làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Nghiên cứu mới đây phát hiện ra rằng những người viêm khớp dạng thấp tăng nguy cơ bị một rối loạn nhịp tim được gọi là rung nhĩ.

Nghiên cứu này gồm hơn 4 triệu người, trong đó có hơn 18.000 người bị viêm khớp dạng thấp, được theo dõi trong thời gian trung bình là 5 năm.  

Trong suốt thời gian này, những người bị viêm khớp dạng thấp tăng gần 40% nguy cơ rung nhĩ so với những người trong dân số nói chung. Trong số những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, phụ nữ có nguy cơ bị rung nhĩ cao hơn đôi chút so với nam giới.



Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng những người bị viêm khớp dạng thấp có nguy cơ đột quỵ cao hơn 30% so với dân số nói chúng.  

Hướng dẫn mới khuyến nghị bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp nên tiến hành sàng lọc hàng năm các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch, bao gồm cả sàng lọc phát hiện bệnh rung nhĩ.

Nghiên cứu được đăng trực tuyến trên tờ BMJ ngày 8/3.

Quỳnh Chi
Theo HD
ANTĐ -Một nghiên cứu mới cho thấy những trẻ bị viêm khớp thiếu niên có tỷ lệ nhiễm khuẩn khi nằm viện cao hơn so với những trẻ không bị bệnh viêm khớp.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích dữ liệu y tế trên gần 8.500 trẻ em bị viêm khớp vô căn thiếu niên và hơn 360.000 trẻ em không bị bệnh.

Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Timothy Beukelman, ở Đại học Alabama tại Birmingham cho biết những trẻ bị viêm khớp không được điều trị bằng methotrexate hoặc các thuốc ức chế TNF có tỷ lệ nhiễm khuẩn khi nằm viện tăng gấp 2 lần so với những trẻ không bị bệnh.


Trong số những trẻ bị viêm khớp thiếu niên thì tỷ lệ nhiễm trùng liên quan đến điều trị bằng methotrexate hoặc thuốc ức chế TNF là như nhau.

Sau khi điều chỉnh việc sử dụng methotrexate và thuốc ức chế TNF ở các bệnh nhân viêm khớp, các nhà nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ nhiễm khuẩn ở những bệnh nhân dùng steroid liều cao (≥ 10 mg prednisone/ngày) cao hơn 2 lần so với những bệnh nhân không dùng steroid.

Beukelman kết luận: hạn chế dùng steroid có thể giảm nguy cơ nhiễm trùng nghiêm trọng ở trẻ bị viêm khớp.

N. Diệp
Theo Healthday
Đối với những trường hợp bệnh nhân thoái hóa khớp thì hiện nay các bác sỹ đều sử dụng nhóm thuốc tác động lâu dài lên bệnh lý sụn khớp, đó là các thuốc có chứa Glucosamin.
Khi sử dụng thuốc chống viêm, giảm đau để điều trị các bệnh khớp mạn tính, bác sỹ cũng như người bệnh luôn luôn lo lắng về tác dụng phụ của thuốc như chảy máu dạ dày, suy thận, phù… Vì vậy chúng ta có xu thế hạn chế sử dụng các thuốc nhóm này.

Glucosamin kích thích tế bào sụn sản sinh ra thành phần thiết yếu của sụn khớp là PROTEOGLYCAN, đồng thời glucosamin còn ức chế một số tác nhân gây tổn hại sụn như các men collagenase, phospholinase… Tác dụng giảm đau của Glucosamin tương đương với các thuốc nhóm hạ sốt giảm đau chống viêm nhưng an toàn hơn. Thực tế lâm sàng thì chỉ một số ít trường hợp dị ứng nhẹ khi sử dụng glucosamin. Bên cạnh đó nếu sử dụng đủ liệu trình thì khi ngừng sử dụng glucosamin, thuốc vẫn còn tác dụng trong một thời gian dài sau đó, nhưng với nhóm thuốc hạ sốt giảm đau chống viêm, nếu ngưng thuốc thì tác dụng giảm đau cũng không còn nữa.

Ngày nay, việc sử dụng Glucosamin trong điều trị thoái hóa khớp đã được nâng lên một bước khi các sản phẩm thường là phối hợp một số hoạt chất với nhau, trong đó mỗi hoạt chất đều có những tác dụng giải quyết một số tổn thương hay vấn đề của thoái hóa khớp. Một sản phẩm đang được quan tâm của người bệnh cũng như bác sỹ hiện nay tại Việt Nam là Hyalob.

HYALOB, sản xuất tại Mỹ, hầu như không có tác dụng phụ, phục hồi sự khoẻ mạnh cho khớp xương, làm hết đau và giúp khớp cử động dễ dàng trong các trường hợp: thoái hoá khớp, gai cột sống, viêm khớp. Phối hợp cùng glucosamin là chondroitin, MSM và đặc biệt là Hyaluronic Acid, trong đó vai trò của từng hoạt chất như sau:

* Chondroitin: làm tăng tính bền vững và tính đàn hồi cho sụn khớp do có tác dụng làm tăng tính bền vững của COLLAGEN, ngoài ra chondroitin cũng kích thích sản sinh thành phần thiết yếu của sụn khớp là PROTEOGLYCAN vì vậy giúp phục hồi sự khoẻ mạnh của các khớp xương đã bị tổn thương.

* MSM (Methyl Sulfony Methane) làm tăng hiệu quả của hai hoạt chất nói trên đồng thời làm tăng khả năng cung ứng máu nuôi dưỡng khớp, làm giảm co thắt cơ quanh khớp. Việc hạn chế cử động ở khớp thoái hóa do hai nguyên nhân chính là đau và co cứng cơ quanh khớp. MSM làm mềm các cơ đó để khớp có thể cử động dễ dàng hơn.

Hyaluronic axit: Hyalob là sản phẩm đầu tiên có chứa thành phần này. Hyaluronic Acid là chất nhầy dịch khớp. Người ta thường sử dụng chất này để tiêm trực tiếp vào khớp thoái hóa (tiêm nội khớp) khi thoái hóa khớp nặng, khớp bị khô… Việc tiêm này thường chỉ được thực hiện tại các bệnh viện  lớn có chuyên khoa khớp như Bạch Mai, Chợ Rẫy… những nơi có các bác sỹ chuyên khoa và có phòng vô trùng. Việc tiêm nội khớp thường tốn kém, chỉ có tác dụng tại khớp tiêm trong một thời gian ngắn và mỗi lần chỉ được tiêm tại một khớp. Việc phối hợp Hyaluronic acid trong viên Hyalob là một cải tiến giúp việc bổ sung chất này thuận lợi và dễ dàng hơn.

Với sự kết hợp một các hợp lý nhất 4 hoạt chất nói trên Hyalob giúp bảo vệ và tái tạo sụn khớp, làm giảm đau các khớp thoái hóa, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân thoái hóa khớp.

Hyalob, là sản phẩm của tập đoàn EARTH’S CREATION, sản xuất tại Mỹ, nhập khẩu và phân phối bởi Công ty CP CN Y Dược Hà Nội và Công ty Mỹ Việt (VNUS).

Công ty Mỹ Việt (VNUS), nhà nhập khẩu Hyalob, có mạng lưới phân phối đến hầu hết các nhà thuốc tại Tp.HCM, Hà Nội và có đại lý tại các tỉnh thành trên cả nước.
Theo 24h
Nếu trong điều trị chỉ dựa dẫm vào thuốc mà không chăm sóc khớp gối viêm đúng cách thì khó lòng mà hồi phục hoàn toàn thậm chí chuyện khỏi bệnh là còn xa vời.
Những bệnh có thể gặp ở khớp gối
Bệnh đầu tiên là thấp khớp cấp. Đây là một bệnh được cho là liên cầu khuẩn beta tan máu nhóm A gây ra. Chỉ cần một nhiễm khuẩn ở họng, một nhiễm khuẩn ở bàn tay hay thậm chí là một nhiễm khuẩn ở bàn chân cũng có thể gây ra bệnh này, nhất là lứa tuổi trẻ em. Trong trường hợp này, không chỉ khớp bị ảnh hưởng mà tim và thận cũng bị tác động. Vì thế mà trong các trường hợp thấp khớp cấp, chúng ta cần phải khám xét toàn diện và cẩn trọng.

Khớp bình thường (trái) và khớp bị thoái hóa (phải).
Bệnh thứ hai phải kể tới là thoái hoá khớp gây viêm khớp gối vô khuẩn.
Sở dĩ nó gây viêm là vì “tự nhiên” trong khớp gối mọc ra các “gai xương”. Đây chính là điểm mà y học gọi là thoái hoá xương ở người già.
Tầm quan trọng của khớp gối
Có thể nói rằng, khớp gối là một khớp đa dụng nhất của cơ thể. Hầu như trong mọi hình thức vận động, không ít thì nhiều đều liên quan tới sự vận động của khớp gối. Cho dù đó là vận động tay hay vận động chân.
Khớp gối được coi là một khớp lớn của cơ thể. Nó có một khối lượng mạch máu vô cùng nhiều và vô hình trung nó cũng chính là điểm quy tụ của nhiều bệnh tật. Và vì là một khớp lớn nên nó sẽ là một khớp gần như đầu tiên bị bệnh thoái hoá khớp. Do vậy biểu hiện đau khớp gối gặp trong khá nhiều bệnh và buộc chúng ta phải đặt vào nó một mức độ quan tâm xứng đáng.
Bệnh thứ ba là bệnh gút. Bệnh gút, hiểu đơn giản là bệnh tạo ra quá nhiều acid uric trong cơ thể dẫn đến lắng đọng trong khớp gây ra viêm khớp. Có nhiều khớp bị viêm và bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gút này nhưng một trong các khớp đó là khớp gối. Nó biểu hiện đặc biệt rõ khi người bệnh nhậu nhẹt, uống rượu bia và ăn nhiều thịt chó. Bệnh hay gặp ở những người béo, nghiện rượu, mắc hội chứng chuyển hoá.
Bệnh thứ tư gây ảnh hưởng tới khớp gối là bệnh viêm xương tủy xương. Đây là bệnh nhiễm khuẩn xương khớp điển hình. Đặc thù của bệnh này là chỉ tấn công vào các khớp lớn như khớp gối. Người ta không hiểu vì sao các vi khuẩn lại “thích” khớp gối, nhưng một giả thiết được đặt ra là do khớp có quá nhiều mạch máu ở các đầu xương tại khớp nên khi vi khuẩn xâm nhập, di chuyển thì chúng định cư luôn tại khớp gối. Nếu không được can thiệp điều trị bài bản, người bệnh có nguy cơ bị cắt cụt chân.
Chỉ cần uống thuốc là xong?
Trong điều trị viêm khớp gối nói chung và viêm khớp nói riêng, sử dụng thuốc là một điều bắt buộc. Các thuốc chống viêm khớp có tác dụng giảm các hoạt chất trung gian hoá học của viêm và do đó tạo ra nhiều tác dụng có lợi. Giảm được các chất trung gian hoá học của viêm sẽ làm giảm đau khớp vì đây chính là những tác nhân gây ra đau. Giảm được chất gây viêm sẽ giảm được hỏng khớp vì đây là những chất làm thay đổi tính chất dịch nuôi màng khớp. Giảm được chất trung gian của viêm sẽ làm khớp bớt sưng, da bớt đỏ vì thế mà da vùng xung quanh khớp được nuôi dưỡng đầy đủ.
Song có một điều hết sức quan trọng trong điều trị là nếu chỉ dựa vào thuốc mà không chăm sóc nó xứng đáng thì nó khó lòng mà hồi phục hoàn toàn.
Tại sao vấn đề chăm sóc lại được quan tâm? Đó là vì khớp gối rất hay vận động. Mặc dù rất đau và rất giữ gìn nhưng nhiều khi người bệnh vô tình vận động nó vì nó quá cần thiết để thực hiện những động tác từ đơn giản nhất.
Ở đây, thuốc có thể ức chế gần như hoàn toàn chất gây viêm sau những liều đầu tiên uống thuốc. Biểu hiện minh chứng là triệu chứng đau gần như giảm hẳn. Nhưng nếu bạn đi lại bình thường ngay hay đi nhanh một chút thì gần như chất gây viêm lại được khôi phục hoàn toàn. Hậu quả là khớp vừa mới khỏe đau xong bao nhiêu thì nó đau lại bấy nhiêu. Khớp giảm sưng được bao nhiêu thì nó lại sưng lại bấy nhiêu, mặc dù lượng thuốc còn tồn lưu trong máu. Vì thế mà chìa khoá giúp điều trị thành công căn bệnh này là bất hoạt được vận động của khớp gối.

Luyện tập phục hồi khớp gối.
Ba nguyên tắc để mau khỏi bệnh
Như trên đã đề cập, việc bất hoạt vận động khớp gối thực sự quan trọng. Nó được ví như là cái bản rộng của chìa khoá để chiếc chìa khoá dễ mở hơn. Thế cho nên 3 nguyên tắc sau không bao giờ được quên với cả bác sĩ và người bệnh.
Nguyên tắc 1: Căn dặn bệnh nhân đầy đủ. Nếu bạn chỉ kê đơn thuốc rồi vội vàng “xong” để sang người tiếp theo thì kể như bạn cầm chắc một cái hẹn với người bệnh trong một vài ngày tới. Bạn cần bình tĩnh khám và ước lượng mức độ bệnh để ra chỉ định thuốc đầy đủ. Song hành với đó là căn dặn bệnh nhân về chế độ hạn chế vận động thật kỹ để đạt được mục tiêu cuối cùng. Ở đây, sự căn dặn chăm sóc quan trọng như chính việc căn dặn dùng thuốc vậy.
Nguyên tắc 2: Người bệnh phải tự biết chăm sóc mình. Việc hạn chế vận động là việc không bao giờ được quên. Đừng nên chỉ đơn giản hoá điều trị là tiêm và uống thuốc. Ở đây có một mối tương quan thuận, càng hạn chế vận động tốt bao nhiêu bạn càng nhanh khỏi bấy nhiêu. Hạn chế vận động có nghĩa là hạn chế đi lại, hạn chế bước lên bước xuống bậc thang. Bạn gần như cố định chân trong tư thế duỗi thẳng. Gần như chỉ nằm nghỉ hay ngồi nghỉ trong những ngày đầu tiên điều trị. Nếu bạn đã chấp hành tốt việc hạn chế vận động nhưng bạn ngày nào cũng bước lên taxi để đến nhà bác sĩ khám thì coi như không thành công. Hãy nhớ rằng, chỉ một động tác gấp duỗi gối cũng làm hỏng tiến trình điều trị của bạn.
Nguyên tắc 3: Cố định khi cần thiết. Trong những trường hợp mà việc hạn chế vận động xem ra có vẻ khó thực hiện thì chúng ta có thể áp dụng biện pháp hạn chế vận động cưỡng bức. Biện pháp đơn giản nhất là quấn băng chun quanh gối. Hãy thực hiện và thử kiểm nghiệm xem, sự nhanh hay chậm khỏi bệnh đúng là hoàn toàn phụ thuộc vào bạn.
BS. Yên Lâm Phúc
THeo SKĐS
Ngồi lâu, làm việc quá sức... Đặc biệt, khi về già hay đau, thoái hóa khớp cổ. Bạn có thể khắc phục tình trạng này bằng một số bài tập.



Ảnh minh họa
Động tác 1: Người nhà đứng sau lưng bệnh nhân, một tay đỡ cằm, tay kia để ở xương chẩm từ từ vận động đầu bệnh nhân qua phải, trái với góc độ tăng dần, khi làm nhớ bảo bệnh nhân không cưỡng lại, đến khi nào thầy thuốc cảm thấy cơ mềm và không thầy trở lực gì ở tay, lúc đó thầy thuốc sẽ dùng sức hơi mạnh lắc đầu bệnh nhân sang phải và làm tiếp phía bên kia. Trong khi vận động lắc như vậy có thể nghe thấy tiếng kêu ở khớp cổ.

Động tác 2: Cẳng tay người nhà để sát bên cổ trái người bệnh, tay kia làm động tác nghiêng cổ người bệnh vài lần rồi đột nhiên nghiêng đầu mạnh sang bên trái. Lúc đó có thể gây tiếng kêu ở khớp cổ. Làm tiếp bên cổ phải cũng như bên cổ trái.

Động tác 3: Cẳng tay người nhà để sau gáy người bệnh, tay kia để ở trán, làm động tác ngửa cổ, cúi cổ người bệnh vài lần rồi đột nhiên ngửa mạnh cổ ra sau. Có thể gây  tiếng kêu ở khớp cổ.

Chú ý: Khi vận động cổ, người bệnh cần phối hợp chặt chẽ để tự nhiên không lên gân, không cự lại, chỉ trong điều kiện này thủ thuật vận động mới đạt kết quả.

Theo Xã luận
Viêm khớp là một dạng phổ biến của hơn 100 căn bệnh khác nhau như: thấp khớp, bệnh viêm khớp xương mãn tính, bệnh gút, bệnh lupus, bệnh viêm khớp ở trẻ chưa thành niên... Sự viêm nhiễm ở các khớp xương kèm với sưng, đau là những triệu chứng phổ biến từ nhẹ đến nặng của bệnh viêm khớp.



Viêm khớp xương mãn tính là căn bệnh mãn tính ở các khớp xương, đặc biệt là những khớp phải chống đỡ sức nặng của cơ thể như hông, đầu gối và mắt cá. Bệnh xảy ra khi lớp đệm ở giữa các khớp bị phá vỡ. Điều này làm các khớp bị mòn, trở nên đau nhức, không còn khả năng chống đỡ hay di chuyển.

Khi mắc phải bệnh viêm khớp, một chế độ ăn uống hợp lý là điều cần thiết giúp giảm hoặc tránh được những cơn đau do căn bệnh này gây ra. Hãy tham khảo những thực phẩm cần thiết cho việc chữa trị căn bệnh này:

1. Cá nước lạnh

Các loại cá nước lạnh cung cấp nguồn axít béo thiết yếu omega 3 như DHA (docosohexanoic acid) và EPA (eicosapentanoic acid). Loại chất béo này có khả năng chống viêm rất hiệu quả. Một số loại cá nước ngọt như cá hồi Atlantic, cá trích, cá sardin, cá ngừ da sáng… cũng có nhiều các axít béo omega 3. Bạn cũng có thể sử dụng dầu cá để thay thế.

2. Rau xanh và trái cây

Trong rau xanh và trái cây có chứa các chất dinh dưỡng được gọi là những chất hoá học từ thực vật và các chất chống oxy hoá giúp ngăn ngừa, thậm chí có thể đẩy lùi quá trình viêm nhiễm. Người bệnh cần ăn nhiều rau quả mỗi ngày. Mỗi khẩu phần gồm:

- 1 dĩa rau, trái cây có kích cỡ trung bình

- ½ ly nước trái cây

- 1 chén salad

- ½ chén rau xanh hoặc trái cây đóng hộp để lạnh

Rau quả, trái cây càng nhiều màu sắc thì chất dinh dưỡng và khả năng phòng chống bệnh càng cao. Các loại rau, trái cây có màu đỏ, tím, xanh, vàng, cam như quả việt quất, mâm xôi, dâu tây, bông cải xanh, cải bó xôi, cải xoăn, cà rốt và khoai lang luôn là những lựa chọn tốt.

3. Gừng

Gừng có khả năng chống viêm nhiễm rất hiệu nghiệm. Do vậy, chúng được cho thêm vào món ăn như một loại gia vị trong quá trình chế biến hoặc làm tăng hương vị của các loại trà nóng.

4. Nghệ

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nghệ có thể giúp chữa bệnh viêm khớp bằng cách kiềm chế các chất hoá học gây viêm nhiễm trong cơ thể.

5. Đậu và hạt

Các loại đậu và hạt như hạnh nhân, óc chó, mè… có chứa loại axít béo có khả năng chống viêm. Việc rắc thêm các loại đậu, hạt này vào món salad hay nhâm nhi chúng  cũng đều mang lại lợi ích cho người bệnh.

Bạn cũng đừng quên uống thật nhiều nước. Thông thường, quá trình đào thải nước ra khỏi cơ thể cũng có tác dụng làm dịu sự viêm nhiễm. Hãy nhớ uống đủ từ 6 - 8 ly nước mỗi ngày.

* Lưu ý: Những điều cần tránh

Một số thói quen có hại  trong ăn uống  và lối sống cũng là nguyên nhân kích thích sự viêm nhiễm trở nên nặng nề hơn. Cần tránh:

- Phô mai giàu chất béo (bao gồm cả kem và phô mai kem)

- Các loại thịt đỏ: thịt bò, hamburger, hotdog, thịt heo muối xông khói

- Các axít béo bão hòa có nhiều trong các loại thực phẩm được chế biến, đóng gói sẵn.

- Bột mì trắng và những thực phẩm chứa nhiều đường như các loại bánh, bột ngũ cốc có đường, sôđa

- Thức ăn chiên nhiều dầu mỡ

- Những đồ uống có chất cồn

- Căng thẳng

- Thuốc lá

* Để kiềm chế quá trình viêm khớp, cần xây dựng chế độ ăn uống với nhiều thực phẩm có khả năng chống viêm nhiễm, duy trì cân nặng ổn định, uống nhiều nước và tập thể dục hàng ngày, đặc biệt là các bài tập kéo dãn, duỗi các cơ.


Theo Homemakers
Theo Tapchilamdep
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh hệ thống, mạn tính, không rõ nguyên nhân, đặc trưng bởi viêm màng hoạt dịch mạn tính, gây sự bào mòn sụn, tổn thương xương và dính khớp. Bệnh được xếp vào nhóm bệnh tự miễn với sự tham gia của nhiều yếu tố như: virut, vi khuẩn; cơ địa (giới tính, tuổi); di truyền… Viêm khớp dạng thấp thường gặp ở các vị trí như khớp cổ tay, khớp ngón gần, gối, cổ chân… với các biểu hiện tại khớp: sưng đau, ít nóng đỏ, đau kiểu viêm kèm dấu hiệu cứng khớp buổi sáng. Các di chứng của bệnh rất rõ nét: bàn tay gió thổi; cổ tay hình lưng lạc đà; ngón chân hình vuốt thú. Ngoài ra, khi bị viêm khớp dạng thấp, bệnh nhân có các biểu hiện toàn thân như sau: hạt dưới da, viêm mao mạch, viêm gân. Viêm khớp dạng thấp là bệnh mạn tính kéo dài nhiều năm, vì vậy, việc điều trị phải kiên trì, liên tục, kết hợp nhiều biện pháp nội – ngoại khoa, vật lý trị liệu, chỉnh hình… Điều rất quan trọng cần lưu ý là điều trị phục hồi chức năng – chỉnh hình. Phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp bằng bùn khoáng – nước khoáng ở một số bệnh viện phục hồi chức năng đã đạt được một số kết quả hết sức khích lệ: giảm 50% thời gian cứng khớp so với trước điều trị. Giảm 40% số khớp sưng đau so với trước điều trị. Cải thiện chức năng khớp tổn thương 35% so với trước điều trị lại không có phản ứng phụ. Trường hợp của bạn có thể áp dụng phương pháp điều trị này.

(Theo suckhoedoisong)
1. ĐẠI CƯƠNG
Viêm khớp phản ứng (VKPU) là một bệnh viêm khớp vô khuẩn xuất hiện sau nhiễm khuẩn chủ yếu là nhiễm khuẩn tiết niệu sinh dục, nhiễm khuẩn hô hấp. Bệnh gây tổn thương ở khớp và các cơ quan khác như mắt, hệ tiết niệu sinh dục, hệ tiêu hóa.. thường gặp ở lứa tuổi trẻ, tỷ lệ mắc bệnh ở nam và nữ như nhau. Bệnh VKPU do Hans Reiter mô tả năm 1916 và còn có tên gọi là hội chứng Reiter với ba triệu chứng : viêm kết mạc mắt, viêm niệu đạo và viêm khớp (tam chứng Reiter)
Cơ chế bệnh sinh của bệnh VKPU chưa được biết rõ. VKPU là một tình trạng viêm khớp vô khuẩn xẩy ra sau một nhiếm khuẩn nào đó trong cơ thể mà không tìm thấy vi khuẩn tại khớp. Biểu hiện lâm sàng của VKPU là hậu quả của quá trình tồn tại dai dẳng của kháng nguyên vi khuẩn, sự khuyếch tán của kháng nguyên vi khuẩn hoặc các phức hợp miễn dịch lắng đọng tại khớp. Yếu tố gene giữu vai trò quan trọng trong bệnh sinh của bệnh VKPU, có 30-70% bệnh nhân VKPU dương tính với yếu tố kháng nguyên bạch cầu HLA-B27.
2. CHẨN ĐOÁN
2.1. Chẩn đoán xác định
2.1.1. Áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán của Amor (1983):
*Viêm vô khuẩn một hoặc vài khớp không đối xứng.
*Ỉa chảy hoặc có hội chứng lỵ
*Viêm màng tiếp hợp mắt.
*Viêm niệu, viêm cổ tử cung.
*Viêm loét trợt niêm mạc, da.
* Cơ địa HLA-B27 (+) hoặc có tiền sử gia đình bệnh viêm cột sống dính khớp.
*Các xét nghiệm tìm thấy tác nhân gây bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp.
Bệnh VKPU được chẩn đoán khi có 4/7 triệu chứng trên
2.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán của nhóm bệnh lý cột sống thể huyết thanh âm tính Châu Âu::
*Đau , viêm đốt sống
*Hoặc viêm màng hoạt dịch khớp (chủ yếu là khớp ở chi dưới và không đối xứng). Có kèm theo một trong các hội chứng sau đây:
-Có tiền sử gia đình bệnh viêm cột sống dính khớp.
-Viêm khớp vẩy nến
-Bệnh lý ruột.
-Đau vùng chậu hông.
-Bệnh lý phần mềm quanh khớp.
-Viêm khớp cùng chậu.
-Viêm niệu đạo sinh dục.
2.2. Chẩn đoán phân biệt
*Viêm khớp nhiễm khuẩn
*Bệnh Gút
*Viêm khớp dạng thấp thể một khớp
*Viêm khớp trong các bệnh suy giảm miễn dịch mắc phải.
3. CÁC XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG CẦN LÀM
3.1. Xét nghiệm máu, nước tiểu
-Công thức máu, máu lắng
- Protein C phản ứng (CRP)
-Sinh hóa máu: chức năng gan, thận
-Nước tiểu: tổng phân tích, tế bào.
-Xét nghiệm xác định kháng nguyên Chlamydia trachomatis, shigella, Salmonella trong nước tiểu , huyết thanh
3.2. Chẩn đoán hình ảnh
-Chụp xquang khung chậu, cột sống , các khớp viêm
-Chụp cộng hưởng từ khớp cùng chậu
-Siêu âm các khớp viêm
3.3. Các xét nghiệm khác
-Xét nghiệm tế bào, nuôi cấy dịch khớp
-Xác định yếu tố HLA-B27
-Điện tâm đồ, siêu âm tim
-Xác định yếu tố dạng thấp.
4. ĐIỀU TRỊ:
4.1. Điều trị tại tuyến tỉnh
*Thuốc giảm đau
Có thể lựa chọn một trong các thuốc giảm đau
-Acetaminophen (Paracetamol, Dolodon, Tylenol…) 0,5g x 2-4 viên /24h
-Floctafenine (Idarac) 200mg x 2 viên/24h.
*Thuốc chống viêm không steroid
Có thể lựa chọn một trong các loại thuốc chống viêm không steroid sau
-Diclofenac (Voltaren…) 50-150 mg/24h
-Piroxicam (Felden, Brexin…) 20mg/24h
-Tenoxicam (Tilcotil…) 20mg/24h
-Meloxicam (Mobic, Melgesic, Mcam…) 7,5-15 mg/24h
-Celecoxib (Celebrex, Celcoxx…) 200 mg/24h
*Thuốc tác dụng chậm:
-Sulfasalazine (Salazopyrine) 1000-2000mg/24h, điều trị kéo dài 1-3 tháng
4.2. Điều trị tại tuyến trung ương
Điều trị thuốc giảm đau, thuốc chống viêm không steroid, ngoài ra có thể áp dụng các thuốc và phương pháp điều trị khác:
*Thuốc:
-Corticoid: Điều trị corticoid toàn thân trong các trường hợp bệnh tiến triển nặng không đáp ứng với các thuốc chống viêm không steroid hoặc trường hợp bệnh nhân phụ thuộc corticoid, liều dùng 1-1,5 mg/kg/24h và giảm liều dần theo tình trạng tiến triển và đáp ứng của bệnh nhân.
Điều trị corticoid tại chỗ: tiêm khớp, tiêm các điểm bám gân.
-Kháng sinh (chỉ áp dụng điều trị khi xác định được nguyên nhân gây bệnh): quinolone, tetracycline…
5. PHÒNG BỆNH
Điều trị sớm các tình trạng nhiễm khuẩn (nhiễm khuẩn hệ tiết niệu sinh dục, hô hấp, tiêu hóa…)

Theo benhhoc.com
Hiểm họa xuất hiện từ chính những thói quen đặc trưng của chúng mình đấy!




Mọi người thường nghĩ đau xương, khớp thường chỉ xuất hiện ở bố mẹ hay ông bà chúng mình! Ấy thế mà, càng ngày càng nhiều teens thấy xuất hiện những triệu chứng đau nhức đáng ghét này! Vì sao lại vậy nhỉ? Chúng mình cùng lật tẩy những mối nguy hiểm hay rình rập teens thôi!

Xương giòn vì kem chống nắng

Nhiều teens cho rằng mọi thứ ánh nắng đều kẻ thù của làn da vì chúng gây nên tình trạng da sạm đen, cháy nắng. Vì thế, cứ mỗi khi ra đường là các ấy thường ngụy trang bằng đủ mọi loại vũ khí tránh nắng như nón, mũ, áo… và nhất là kem chống nắng để gìn giữ vẻ đẹp nõn nà, trắng ngần cho làn da của mình.

Tuy nhiên, teens đâu biết rằng chính sự bảo vệ gắt gao của kem chống nắng lại hãm hại quá trình phát triển xương trong tuổi dậy thì. Ánh nắng mặt trời không hẳn đã đáng sợ đến thế đâu. Trái lại những ánh nắng nhẹ dịu lúc ban mai luôn rất cần thiết cho cơ thể vì chúng giúp tổng hợp vitamin D – một loại vi chất thúc đẩy hấp thụ canxi. Nếu thiếu đi loại vitamin này thì canxi sẽ có nguy cơ bị vô hiệu hóa và bộ xương của chúng mình sẽ giòn, yếu và dễ gãy lắm.

Do vậy, teens chỉ nên tránh nắng gắt vào thời điểm từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều thôi nhé! Khi ấy là lúc ánh mặt trời chứa nhiều UVA và UVB – hai loại tia cực tím khắc tinh của làn da nhất. Đồng thời đó cũng là lúc chúng mình dễ trở nên sạm đen và bắt nắng nhất đấy!

Máy tính và hiểm họa vẹo cột sống

Theo nhiều nghiên cứu gần đây thì số lượng teens mắc phải những căn bệnh liên quan đến cột sống đang tăng lên một cách chóng mặt, nhất là các bạn hay tiếp xúc với máy tính trong khoảng thời gian dài trên 5 tiếng/ngày.

Thật vậy, việc dùng chuột và bàn phím không ngừng sẽ khiến cho cột sống cùng các khớp xương ở tay phải gánh chịu nhiều tác hại do các cơ và dây chằng phải chịu sức ép khi hoạt động liên tục. Không những thế nếu các ấy thường xuyên ngồi lì trước máy tính thì sẽ khiến cho khớp lưng phía dưới phải liên tục chịu phần lớn trọng lượng của cơ thể làm tăng nguy cơ gặp phải những rắc rối liên quan đến cột sống như vẹo, lệch cột sống nữa.

Quần áo ngắn cũn, bó sát và nguy cơ viêm xương

Trong ngày hè nắng nóng thì những chiếc quần soóc hay váy ngắn bó sát dường như là lựa chọn tối ưu của tất cả XX vì chúng vừa mát mẻ lại vừa thời trang. Tuy nhiên, đằng sau vẻ bề ngoài sành điệu đó, các ấy sẽ có thể phải đối mặt với những nguy cơ uy hiếp sức khỏe của hệ xương khớp đấy! Điển hình nhất là hiện tượng máu khó lưu thông bởi mạch máu ở chân bị gò bó, dẫn đến các cơ co rút lại rồi gây áp lực sâu cho khớp.

Vì vậy, dần dần, những teens có tên trong danh sách các tín đồ trung thành của loại trang phục này mọi lúc mọi nơi sẽ dễ gặp phải hậu quả là trở thành nạn nhân của chứng viêm xương khớp khó ưa đó các ấy ạ!

Giày dép cao gót khiến xương bị vẹo

Không thể phủ nhận rằng giày cao gót có tác dụng thần kỳ trong việc giúp teens nấm lùn cải thiện chiều cao của mình. Tuy nhiên, mặt trái của “anh bạn” này chính là các chứng bệnh liên quan đến xương và khớp bàn chân đó nha!

Nguyên nhân vì khi diện giày cao gót là lúc đôi bàn chân chúng mình phải sinh sống trong một môi trường chật hẹp, gò bó và bị yếm khí. Không những thế, sự chênh lệch độ cao giữa đế giày và mũi giày gây ra bất lợi cho sức khỏe của các khớp xương. Nó có thể dẫn đến các chứng bệnh khó chữa như viêm khớp, vẹo xương bàn chân… cơ í!

Do vậy, để hạn chế tối đa tác hại của giày cao gót thì các ấy nhớ tuyệt đối không đi giày cao hơn 5 cm và chỉ nên sử dụng chúng không quá 4 lần mỗi tuần thôi nhé!

(Theo kenh14)
Viêm khớp dạng thấp là bệnh viêm nhiễm khớp mạn tính tiến triển, thường dẫn đến dính khớp và biến dạng khớp, kèm theo sự có mặt của “yếu tố dạng thấp” trong máu người bệnh.

Người bệnh có thể có chất lượng cuộc sống gần như bình thường. Việc điều trị đòi hỏi phải kiên trì. Các bài thuốc và chế độ luyện tập phải được duy trì lâu dài. Tuỳ theo giai đoạn tiến triển của bệnh mà bác sĩ sẽ thay đổi liều thuốc và hướng dẫn chế độ luyện tập phù hợp. Do đó, việc tái khám hết sức quan trọng. Khi một khớp bị tổn thương nặng, gây đau nhiều và kéo dài… ảnh hưởng đến đời sống của người bệnh, có thể thay khớp nhân tạo. Và một điều quan trọng mà các bác sĩ luôn nhắc nhở các bệnh nhân, đó là chế độ dinh dưỡng.


Trong chế độ dinh dưỡng, người bị thấp khớp cần chú ý tới những loại thực phẩm giàu vitamin C, D, E, một số loại acid béo có tác dụng tốt với khớp.

- Acid béo hệ Omega-3: Acid này có nhiều trong các loại cá giàu chất béo, có khả năng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh.

Những loại cá giàu acid béo hệ Omega-3 gồm: Cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi, cá ngừ… Bên cạnh đó, dầu cá có thể loại bỏ tình trạng cứng khớp buổi sáng và làm giảm số lần đau khớp ở những bệnh nhân viêm khớp mạn tính.

- Vitamin C và D có khả năng cải thiện bệnh viêm xương – khớp. Vitamin E như đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương có tác dụng giảm đau chống viêm.

- Với những người bị viêm khớp, nên ăn nhiều bắp cải. Loại rau này giống như một chất bôi trơn, làm linh hoạt chuyển động các khớp.

- Một thực phẩm khác là cà chua cũng rất tốt cho người bị thấp khớp nhờ hàm lượng lycopen và chất carotenoit chống ôxy hoá. Một cốc nước ép cà chua chín mỗi ngày thực sự rất cần thiết cho việc bảo vệ sụn.

- Một vài nhánh tỏi ăn sống hoặc chế biến cùng thức ăn cũng rất tốt cho khớp. Và nếu bạn thích ăn các loại rau thơm như như hành, húng, mùi tây, cà rốt, rau diếp thì đó đều là những thực phẩm được khuyên dùng cho người bệnh thấp khớp.

(Theo vtv)
Viêm khớp là bệnh gây tổn thương sưng, đau và hạn chế hoạt động của khớp, do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có nguyên nhân từ thức ăn: có những loại thức ăn làm cho bệnh nặng lên và cũng có nhiều loại thức ăn giúp cho bệnh nhẹ đi. Cho nên người ta có thể dùng thức ăn phòng và chữa bệnh viêm khớp. Trong điều trị các bệnh viêm khớp, phải phối hợp dùng thuốc, luyện tập và dinh dưỡng, trong đó chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với công tác phòng và chữa bệnh. Các chất giúp phòng chữa bệnh viêm khớp gồm: acid béo omega-3, có tác dụng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, chất này có nhiều trong cá, nhất là mỡ các loại cá thu, cá ngừ, cá trích, cá mòi, cá hồi… Acid béo omega-6: có tác dụng ức chế sự sản sinh ra chất gây viêm prostaglandin, có nhiều trong thịt động vật và hầu hết các loại dầu thực vật. Các vitamin có tác dụng chống ôxy hóa: C, D, E và beta-caroten phòng tránh được một số dạng viêm khớp, có nhiều trong rau củ quả các loại. Chất canxi có tác dụng phòng tránh loãng xương, chống đau khớp, có nhiều trong sữa, các loại rau xanh, thủy hải sản…

BS. Ninh Thanh Tùng

Bấm huyệt chữa đau khớp gối

Đau khớp gối ở đây chỉ bệnh thoái hoá khớp xương từ độ tuổi trung niên về sau. Người bệnh cảm thấy tê nhức, mức cử động không còn linh hoạt, đặc biệt là buổi sáng ngủ dậy hoặc ngồi lâu, đứng lâu thì càng tê nhức trầm trọng. Nếu có hoạt động chốc lát thì sẽ giảm nhẹ đi nhưng sau đó lại đau hơn. Bệnh tiến triển chậm, thường là do tổn thương mạn tính mà ra. Lúc đầu chỉ phát sinh ở một khớp xương sau đó thì các khớp gối, cổ tay, cột sống đều đau nhức, tê mỏi.

Cách chữa

- Điểm huyết hải: Người bệnh ngồi hoặc nằm, hơi co gối, người chữa bệnh dùng một tay đỡ trên gối, tay kia dùng ngón cái điểm vào huyệt huyết hải để điều hoà khí huyết (hình 1).

Vị trí huyết hải: Bờ trong đầu xương bánh chè đo thẳng lên 4 – 5cm (2 thốn).

- Điểm bánh chè: Tư thế như trên, người chữa bệnh dùng hai ngón cái điểm vào hai bên bánh chè (hình 2).

- Đè đẩy: Tư thế như trên, người chữa bệnh chéo hai ngón tay cái đè vào dây chằng dưới khớp xương bánh chè, sau đó đẩy lên trên, lặp lại nhiều lần (hình 3).

- Đẩy vuốt: Người bệnh duỗi thẳng gối, người chữa bệnh đè hai ngón cái vào dưới xương bánh chè sau đó ấn dần lên trên rồi vuốt xuống (hình 4).

- Ôm vuốt: Người chữa bệnh chụm hai tay vào chỗ gối đau người bệnh, dùng cạnh chưởng bàn tay đẩy vuốt vùng gối (hình 5).

- Ấn vuốt: Người chữa bệnh dùng một tay ấn vuốt vào gối người bệnh (hình 6). Bệnh này đa số phát sinh ở hai bên (2 cạnh) cho nên sau khi xong cạnh bên phải thì thực hiện cạnh bên trái.

(Theo suckhoedoisong)
Không chỉ mang lại sự ngon miệng khi ăn, những thực phẩm này còn có tác dụng như thuốc giảm đau đối với nhiều bệnh sau khi ăn. Không những vậy, chúng còn không gây tác dụng phụ như thuốc aspirin.

Cam

Bằng cách phân tích chế độ ăn của hơn 25.000 cá nhân, một nhóm nghiên cứu của Trường ĐH Manchester, Anh đã phát hiện thấy, những người có nhiều beta-cryptoxanthin trong chế độ ăn chắc chắn ít bị mắc bệnh viêm khớp và giảm được các cơn đau. Nghiên cứu được xuất bản trên Tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng Mỹ cho biết, chỉ cần uống một tuần vài cốc nước cam ép cũng đủ tạo nên sự khác biệt. Họ khuyên rằng, những người bị đau trong người hoặc viêm khớp (thường xuyên đau nhức) thì nên chăm uống nước cam.


Ăn thực phẩm giàu omega-3

Một nghiên cứu của Trường ĐH Pittsburgh ở những bệnh nhân thường xuyên bị tra tấn bởi những cơn đau cổ và lưng, kết quả cho thấy, 60% số bệnh nhân đã giảm được đáng kể cơn đau và mức độ đau sau ba tháng được cho ăn những thực phẩm giàu axit béo omega-3 (chất được phát hiện có chứa nhiều trong cá ngừ, cá hồi, cá kiếm, cá trích). Kết quả này tiếp tục củng cố những nghiên cứu khác cho thấy, dầu cá có tác dụng chống viêm. Ngoài cá thì những thực phẩm giàu chất béo omega-3 như hạt hướng dương, hạt vừng, hạt điều, và hạt lanh. Tuy nhiên, omega-3 trong cá vẫn là tốt nhất, do vậy các bệnh nhân này cần ăn cá ít nhất mỗi tuần 3 lần.

Nho

Thành phần hóa học resveratrol có trong vỏ quả nho, đặc biệt là nho màu đỏ có thể ngăn chặn được enzyme cyclooxygenase(COX). Các loại trái cây trên có tác dụng giống như thuốc giảm đau và các loại dược phẩm kháng viêm khác. Nhưng còn một lợi ích khác khi ăn nho: Giống như thuốc giảm đau, resveratrol làm cản trở COX-2 gây viêm và đau nhưng không giống thuốc giảm đau nó không cản trở COX-1, loại enzyme hỗ trợ làm lành vết thương ở dạ dày.

Ăn thực phẩm giàu chất chống oxi hóa

Những thực phẩm giàu chất chống oxi hóa như măng tây, súp lơ, cải bắp, cà chua, lê, bưởi, cam, đào, dưa hấu đều giàu chất chống oxi hóa glutathione. Nhiều bằng chứng cho thấy, glutathione hạ thấp nguy cơ mắc bệnh viêm khớp. Các loại thực phẩm giàu chất chống oxi hóa khác nhưng ít hơn là chanh, kiwi và quả mọng.

Lạc, vừng

Lạc, vừng và cả hạt hướng dương là những thực phẩm giàu chất tryptophan. Trong các nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện thấy tryptophan có khả năng giảm được sự nhạy cảm của cơn đau khoảng 1 giờ sau khi đi vào cơ thể. Do vậy, bạn cần tăng cường ăn lạc vừng để thay thế thuốc giảm đau mà không gây tác dụng phụ. Các thực phẩm khác giàu tryptophan là sữa, sữa đậu nành, đậu phụ, đậu lăng, và gạo.

Thực phẩm giàu Flavanoids

Những hợp chất mà tạo nên màu sắc của trái cây và rau củ là thành phần chủ chốt trong việc ngăn chặn bệnh là chất flavanoids. Flavanoids làm chậm quá trình suy hóa-yếu tố dẫn đến cơn đau nhiều hơn. Điều này có nghĩa rằng, các thực phẩm này đã góp phần ngăn chặn vết đau trên cơ thể. Những thực phẩm đó là táo, trà xanh, hành, tỏi, đậu tương.

Dâu tây

Một nghiên cứu được xuất bản năm 2007 trên tạp chí của Trường cao đẳng dinh dưỡng Hoa Kỳ cho biết, quả dâu tây có thể làm giảm chứng viêm và đau. Kết quả cho thấy, những người ăn nhiều dâu tây giảm được đáng kể cơn đau. Thành phần mang lại lợi ích này chính là resveratrol giàu có trong dâu tây.

Táo

Ăn táo không chỉ chống lại nhiều bệnh ung thư mà nó còn giúp bạn cải thiện được những cơn đau khớp mãn tính. Lý do là trong quả táo có chứa baron, một loại khoáng chất giúp làm giảm sự phát triển bệnh viêm khớp xương mãn tính. Hơn nữa, khi baron được đưa cho những người bị thương sử dụng thì cơn đau của họ cũng giảm. Như vậy, bạn cần tăng cường ăn táo để nhận được chất này.

Ớt

Ớt là gia vị có chứa nhiều capsaicin-thành phần giúp ớt có vị cay nóng. Nhờ nó mà ớt có thể giúp giảm được các cơn đau bằng cách kích thích sức đề kháng của một số tế bào thần kinh. Các nhà khoa học ở trường King’s College, London cho biết, những người viêm khớp mà thường xuyên ăn ớt sẽ giảm được đáng kể các cơn đau hành hạ. Đó là lý do tại sao mà ngày nay nhiều hãng dược phẩm đã sử dụng capsaicin trong ớt để làm kem bôi da chống mụn và đau.

Tỏi

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho biết, ăn tỏi có thể giảm được các cơn đau ở bệnh lao, phổi, và viêm khớp. Thành phần trong tỏi mang lại lợi ích tốt này chính là sulphur (chất giúp tỏi có mùi hăng). Một nghiên cứu khác thì cho thấy, hợp chất dialyl disulphide trong tỏi có tác dụng ngăn chặn enzyme bị phá hủy, điều này cũng giúp giảm bớt các cơn đau cho người ăn tỏi.

Gừng

Gừng giúp làm giảm nồng độ prostaglandin gây đau trong cơ thể và từ lâu loại gia vị này đã được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ để điều trị đau nhức viêm tấy. Một nghiên cứu của các nhà khoa học Ấn Độ phát hiện thấy rằng, những người mà bị đau cơ được cho sử dụng gừng đã được cải thiện đáng kể. Liều lượng dùng gừng mỗi ngày là từ 500-1.000 miligram.

Cần tây

Tiễn sỹ James Duke, tác giả của công trình nghiên cứu nổi tiếng “Dược phẩm xanh” (những loại rau xanh có tác dụng chống bệnh như thuốc) đã phát hiện hơn 20 hợp chất chống viêm ở trong rau và hạt cần tây, trong đó có hợp chất apigenin-chất có tác dụng chống đau và viêm cực mạnh. Ngoài việc sử dụng rau cần tây để xào nấu thì bạn có thể dùng hạt cần tây để cho vào súp, hầm với thịt…

(Theo nongnghiep.vn)
Thoái hóa khớp (còn gọi là hư khớp, viêm xương khớp) là bệnh lý cơ xương khớp thường gặp nhất trên lâm sàng. Vị trí bị thoái hóa khớp có tỷ lệ cao nhất là: cột sống thắt lưng 31%, cột sống cổ 14% và ở khớp gối 13%. Riêng thoái hóa khớp gối có tỷ lệ mắc bệnh đứng hàng thứ 3, nhưng đứng đầu thoái hóa khớp ở các chi và đang là nguyên nhân hàng đầu gây hạn chế vận động và tàn tật ở người có tuổi.

Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh là đau, cứng khớp và hạn chế vận động.

Người bệnh thường khởi đau sau vận động đi lại nhiều, mang xách nặng và thay đổi thời tiết… Đau sâu ở khớp gối kiểu cơ học (đau tăng khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi), khó khăn khi đi lại, lên xuống cầu thang. Cứng khớp buổi sáng kéo dài từ 5 – 30 phút và dấu lạo xạo ở khớp khi vận động.


Đôi khi khớp gối có sưng, phù nề các tổ chức tổ chức quang khớp, hoặc có thể teo cơ cạnh khớp gối do hạn chế vận động.

Dấu hiệu chụp X-quang(khớp gối)có: gai xương, hẹp khe khớp gối và xơ xương dưới sụn.

Các biểu hiện lâm sàng của thoái hóa khớp gối theo Y học cổ truyền: được mô tả trong phạm vi chứng Tý hay bệnh Tý: biểu hiện bằng đau sưng khớp, gối kêu lạo xạo, co cứng gân cơ, đi lại khó khăn,..

Nguyên nhân

Ngoại nhân(thay đổi thời tiết): thừa khi cơ thể suy yếu (vệ khí là yếu tố bảo vệ không đầy đủ) thì tà khí: phong, hàn, thấp tà (gió, lạnh, ẩm thấp) xâm nhập vào làm cho sự vận hành của khí huyết tắc lại, gây sưng, đau, tê nặng ở khớp. Gặp ở những bệnh nhân đau khớp sau nhiễm mưa, nhiễm lạnh, thời tiết chuyển mùa…

Nội thương (yếu tố thể tạng, cơ địa): do người già lớn tuổi hoặc mắc bệnh lâu ngày làm cho tạng can, tạng thậnn bị hư suy, khí huyết giảm sút dẫn đến thận hư không chủ được cốt tủy gây đau nhức trong xương – khớp, gối kêu lạo xạo, đi đứng yếu đau.

Tạng can hư không nuôi dưỡng được gân (theo YHCT gối là chỗ biểu hiện của gân) gân yếu bại thì co duỗi cứng hoặc yếu, teo. Kết quả làm khớp xương bị đau, co duỗi cứng và đi lại khó khăn. Nặng thì khớp bị biến dạng, còn gân cơ bị teo. Gặp ở những trường hợp đau khớp ở người có tuổi, bệnh mạn tính như: đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa mỡ, béo phì…

Nguyên nhân khác (môi trường sống): điều kiện sống và làm việc trong môi trường ẩm thấp, ngâm tẩm thường xuyên dưới nước, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, làm việc mệt nhọc lại bị mưa rét thường xuyên. Vận động quá mức, mang xách nặng (gây sang chấn).

Thực tế khó phân biệt được nguyên nhân cụ thể, mà các nguyên nhân gây bệnh thường kết hợp với nhau, tạo ra nhiều thể lâm sàng đa dạng, ví dụ trên một người lớn tuổi kết hợp với nhiễm mưa lạnh hoặc đi bộ quá nhiều gây đau sưng khớp gối.

Điều trị

Không có thuốc chữa quá trình thoái hóa của khớp; điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng là quan trọng. Mục đích điều trị: giảm đau cho người bệnh và duy trì chức năng vận động của khớp. Qua thực tiễn lâm sàng, để đạt kết quả điều trị tốt cần phối hợp toàn diện giữa phương pháp dùng thuốc và phương pháp không dùng thuốc như: châm cứu. tập vật lý trị liệu, chế độ chăm sóc, dinh dưỡng hợp lý.

Với mỗi bệnh nhân với mỗi mức độ bệnh cần được bác sĩ khám và hướng dẫn điều trị phù hợp.

Phương pháp chữa nhằm: lưu thông khí huyết, đưa tà khí ra ngoài, bổ khí huyết và bổ can than, mạnh gân xương để giảm đau và chống tái phát.

Trong kho tàng YHCT còn lưu truyền và sử dụng rộng rãi nhiều bài thuốc trong điều trị bệnh thoái hóa khớp gối như bài Bạch hổ thang, Thược dược tri mẫu thang, PT5… Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang thường được chỉ định nhất, cũng đã có nhiều nghiên cứu chứng minh tác dụng tốt và không có tác dụng phụ.

Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang:

Độc hoạt 12g, tế tân 4, sinh địa 12g, đảng sâm 12g, quế chi 4g, phòng phong 10g, đương quy 12g, phục linh 10g, tang ký sinh 16g, ngưu tất (Bắc) 12g, bạch thược 10g, cam thảo(Bắc) 4g, tần giao 8g, đỗ trọng(Bắc) 12g, xuyên khung 8.

Bài thuốc PT5 :

Lá lốt 10g, thiên niên kiện 10g, hà thủ ô 12g, mắc cỡ (trinh nữ) 12g, cỏ xước 16g, sinh địa 12g, quế chi 8g, thổ phục linh 16g.

Các phương pháp không dùng thuốc:

Châm cứu: thường chọn các huyệt tại chỗ như: độc tỵ, hạc đỉnh, âm lăng tuyền… Châm tả (kích thích xung điện với tần số 60 -100Hz), hoặc cứu tả.

- Kết hợp bổ khí huyết, bổ can thận, mạnh gân xương: dùng châm bổ các huyệt can du, thận du, dương lăng tuyền, huyết hải…

- Thủy châm (vitamine nhóm B…): thận du, can du, huyết hải…

- Điện phân (dùng dòng điện một chiều đều), tác dụng tốt cho giảm đau và tăng nuôi dưỡng khớp, tránh teo cơ.

- Châm ngày 1 lần, một liệu trình từ 10 -20 lần châm.

Nghỉ ngơi: nên nghỉ nghơi, hạn chế đi lại khi khớp gối đau sưng.

- Các biện pháp bảo vệ khớp: tránh đi bộ nhiều, đeo băng thun khớp gối.

Đau nhiều dùng nạng, can chống.

- Chú ý vấn đề giảm cân đối với các bệnh nhân béo phì… Với nghề nghiệp phải đứng lâu, nếu có thể hướng dẫn cho người bệnh nhân thích nghi với điều kiện làm việc.

Vật lý trị liệu: phục hồi chức năng nhằm giảm đau, duy trì vận động khớp, làm mạnh cơ tứ đầu đùi, ngăn ngừa biến dạng khớp gối.

- Tập theo hướng dẫn của kỹ thuật viên.

- Đạp xe đạp từ 10 – 30 phút/ ngày

- Nhiệt trị liệu: chiếu đèn hồng ngoại 15 – 30 phút/ ngày. Tắm nước khoáng nóng, đắp bùn…
Theo benhviemkhop.net

Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tà, đọng ở các khớp, uất lâu hóa nhiệt, khí trệ huyết ứ.

Cách trị: Sơ phong thanh nhiệt, hoạt huyết hóa ứ.

Đơn thuốc: Hi đồng ẩm, xạ hương, tam thất hoàn.

Công thức: Hi đồng ẩm: Hi thiêm thảo 30g, Hải đồng bi 30g, Nhẫn đông đằng 30g, Tang chi (non) 30g, Kê huyết đằng 15g, Tần giao 10g, Tri mẫu 10g, Cát cǎn 10g, Sinh ý mễ 30g, Phòng kỷ 10g. Thêm nước vừa đủ, nấu sôi 20 phút, sắc lại còn 300 ml, uống lúc còn ấm, mỗi ngày 2 lần. Xạ hương tam thất hoàn: Sinh toàn yết 60g. Tam thất 30g, Địa long 90g, Sinh hắc đậu 60 hạt, Xuyên ô 15g, Xạ hương 3g (nghiền nhỏ, bỏ vào sau). Tất cả nghiền thành bột mịn, dùng hồ gạo làm thành hoàn to bằng hạt đỗ xanh, mỗi ngày uống 2 lần (sáng, chiều) mỗi lần 7 đến 10 hoàn, với nước ấm.

Bàn luận: Bệnh viêm đa khớp dạng tháp thuộc phạm vi trù chứng “tí” của đông y. “Chứng tí” phát sinh là do lỗ chân lông mở kết, doanh vệ không vững chắc, phong hàn thấp tà thừa hư xâm nhập vào mà thành. Vì tà làm tắc chính khí, không tuyên hành được mà đọng lại, khí huyết ngưng trệ, lâu thành ra tí. Tí là có ý bất thông, bất thông tắc thống, thấp tà trú ở khớp nên sưng, tà lâu hóa nhiệt, chuyển thành nhiệt tí, ca bệnh trên dùng phép sơ phong thanh nhiệt, hoạt huyết hóa ứ, phối hợp với thuốc lá côn trùng để thu tà có công hiệu.

Theo Top Sante
Theo một số nghiên cứu hiện nay, hơn 2/3 trường hợp viêm khớp dạng thấp có liên quan đến cơ chế tự miển dịch. Ở  những người nầy, hệ kháng nhiễm của cơ thể đã nhận lầm một số yếu tố bình thường và vô hại như những tác nhân lạ và tấn công chúng.  Quá trình nầy đã tạo ra viêm nhiễm.  Do đó,  bên cạnh việc rèn luyện và vận động hợp lý việc phòng ngừa và điều trị kịp thời căn bệnh phải  bắt đầu từ việc điều chỉnh chế độ ăn uống để loại bỏ hoặc hạn chế các tác nhân gây bệnh.

         

Nguyên nhân

           Viêm khớp dạng thấp là một dạng bệnh do thoái hoá cơ, xương, khớp.  Mỗi khớp thường được bảo vệ bởi nhiều thành phần như cơ, gân, sụn và màng hoạt dịch.  Trong quá trình cuộc sống, do tuổi đời, do chấn thương, do lao động nặng nhọc hoặc do tích lũy những chất độc hại, các khớp có thể bị thoái hóa, các tổ chức ở khớp bị khô nước, hóa vôi, xơ hóa hoặc biến dạng.  Những sự thay đổi này làm mất đi tính đàn hồi và sự linh hoạt cần thiết nên gây đau nhức và khó khăn khi chuyển động.  Bệnh thường xảy ra ở những khớp nhỏ và có tính đối xứng nhau như khớp ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, ngón chân, đầu gối. . Bệnh cũng có thể xảy ra ở khớp háng, hoặc các đốt sống.  Thoái hoá khớp thường được xem là một hệ quả tự nhiên của quá trình lão hoá.  Tuy nhiên theo một số nghiên cứu của khoa học hiện nay, phần lớn trường hợp viêm khớp mãn tính có liên quan đến những vấn đề của hệ miển dịch.

           Theo y học cổ truyền, Can chủ gân, Thận chủ xương và Tỳ chủ vận hóa khí huyết.  Do đó, khi Can, Thận hư tổn và Tỳ Vị suy yếu thì phong, hàn, thấp xâm nhiễm khiến chân tay đau nhức, co duỗi khó khăn. Ngoài ra,  cơ chế “tự miển dịch” có liên quan đến cơ địa dị ứng và yếu tố “phong” của y học cỗ truyền.



Điều trị

           Viêm khớp dạng thấp là một loại bệnh phong thấp thuộc phạm vi chứng Tý của y học cổ truyền.  Bệnh biểu hiện rõ khi thời tiết thay đổi hoặc khí trời ẩm ướt.  Phong và thấp là hai yếu tố gây bệnh luôn đi kèm với bệnh viêm khớp mãn tính.  Tỳ Vị thuộc Thổ.  Trong ngũ hành khí, Thổ khí là loại khí đối kháng với thấp khí.  Nếu Tỳ Vị sung mãn sẽ giúp tiêu trừ thấp khí, tăng cường chuyển hóa và thúc đẩy khí huyết lưu thông.  Khi “huyết hành, phong sẽ tự diệt”, những điểm ứ trệ khí huyết gây tê, đau  cũng sẽ dần dần được giải tỏa.  Do đó, ngoài việc bổ Can Thận, sơ phong tán thấp thì việc kiện Tỳ, bổ khí là khâu chủ đạo trong phép chữa bệnh thấp khớp.  Tỳ Vị là cơ quan thu nạp và chuyển hoá thức ăn, Tỳ  lại “chủ tứ chi và cơ nhục” nên chế độ ăn uống và vận động hợp lý  có liên quan mật thiết đến thịnh suy của Tỳ.  Dù có dùng thuốc hay không thì chế độ ăn uống và luyện tập thể lực luôn là yếu tố quyết định trong việc phòng ngừa và điều trị viêm khớp.  Chế độ ăn uống ngoài việc  cung cấp đủ những nhóm thức ăn thiết yếu và vi chất cần thiết còn phải biết nhận dạng và kiêng cử những thức ăn sinh phong, có phong  để loại bỏ các tác nhân có khả năng kích hoạt quá trình viêm nhiễm.



Bài thuốc

                     

Độc hoạt tang ký sinh .  Độc hoạt tang ký sinh là một cỗ phương thông dụng để chữa trị các chứng phong thấp, thấp khớp gây đau nhức, chân tay co duỗi khó khăn.  Phương thang bao gồm Sâm, Linh, Quế,Thảo để kiện Tỳ, ôn dương hoá thấp, gia tăng trương lực cơ và tăng cường chính khí; Khung, Quy, Thục, Thược, Đỗ trọng, Ngưu tất để dưỡng Can, Thận, khỏe mạnh gân cốt; thêm các vị thuốc có tác dụng khu phong, thông kinh hoạt lạc như Độc hoạt, Tang ký sinh, Tế tân, Tần giao, Phòng phong.  Bài thuốc này thiên về sơ phong, tán tà, chữa phong thấp, thấp khớp ở vùng hạ tiêu như eo lưng. đầu gối, khớp chân.  Nếu đau nhức ở vùng cánh tay, bàn tay có thể gia thêm Khương hoạt 8gr, Quế chi 4gr.  Sau đây là nguyên thang của bài Độc hoạt ký sinh thang.



Nhân sâm 8gr

Thục địa 16gr

Tang ký sinh 12gr

Phục linh 8gr

Bạch thược 12gr

Tần giao 12gr

Cam thảo 6gr

Đỗ trọng 12gr

Phòng phong 12gr

Xuyên khung 8gr

Ngưu tất 8gr

Nhục quế 4gr

Đương quy 12gr

Độc hoạt 12gr

Tế tân 4gr

           Đổ vào 3 chén nước sắc còn hơn nữa chén.  Nước thứ hai đổ vào thêm 2 chén, sắc còn hơn nữa chén.  Trộn đều hai lần thuốc sắc được.  Chia làm hai hoặc ba lần uống trong một ngày.  Uống trong lúc thuốc còn ấm.  Mỗi đợt có thể uống từ 5 đến 7 thang.



Thương truật phòng kỷ thang.  Trong một số trường hợp cấp diễn, phong thấp sinh nhiệt, hóa hỏa gây sưng, nóng, đỏ, đau.  Trường hợp này hỏa đang thịnh nên không dùng Sâm. Quế.  Phép chữa chủ yếu chỉ nhằm khu phong giải độc, hoạt huyết tiêu ứ.  Có thể dùng bài thuốc Thương truật phòng kỷ thang:



Thương truật 12gr

Kim ngân hoa 24gr

Ngưu tất 12gr

Phòng kỷ 12gr

Liên kiều 12gr

Tô mộc 8gr

Thông thảo 12gr

Ý dĩ 15gr

Cam thảo 6gr

Bồ công anh 30gr

Địa long 12gr





           Sắc uống giống như những thang trên.



Thuốc chườm bên ngoài

           Trong những lúc thời tiết ẩm ướt, đau nhức gia tăng, người bệnh có thể dùng biện pháp chườm nóng bên ngoài để sức nóng và sức thuốc thấm qua da tăng cường tác dụng làm tan ứ huyết và giảm đau.

Dùng gừng tươi, lá ngủ trảo, lá ngải cứu tươi hoặc lá lốt rửa sạch, giả nát, có thể thêm vào một chút rượu.  Xào nóng, bỏ vào túi vải, chườm nóng bên ngoài chỗ đau.
Dùng muối hột rang nóng bỏ vào túi vải, chườm nóng bên ngoài chỗ đau.
Ngâm nước gừng nóng: Quậy đều 1 muổng bột gừng vào trong một chậu nước nóng hoặc bồn tắm nóng. Độ nóng vừa đủ.  Ngâm vùng thân thể có khớp bị đau nhức từ 10 đến 15 phút mỗi lần.
Không chườm nóng trong những trường hợp có sưng, nóng, đỏ, đau.


Điều trị không dùng thuốc



Chế độ ăn uống. Chế độ ăn uống và sinh hoạt có ảnh hưởng rất lớn đến việc phòng ngừa cũng như điều trị bệnh thấp khớp.  Yếu tố nào giúp ích cho Tỳ Vị vượng thịnh hoặc tăng cường khả năng giải độc của Can Thận sẽ có tác động hỗ trợ điều trị.  Yếu tố nào làm suy yếu Vị khí sẽ có tác động tiêu cực đối với bệnh  Để được hấp thu và tiêu hóa, thức ăn, thức uống phải thông qua dạ dày nên có tác dụng trực tiếp đến khí hóa của Tỳ Vị.  Những vật thực cay, ấm, dễ tiêu và việc ăn uống tiết độ có thể phát huy Vị khí.  Trái lại, “Tỳ ố thấp”, những thức ăn hàn, lạnh đình tích khó tiêu, dễ sinh thấp khí sẽ làm trệ Tỳ.  Ngoài ra, việc ăn nhiều protein động vật dễ sinh ra nhiều chất cặn bả không được phân giải tốt, bám vào các tổ chức bị xơ hoá hoặc vôi hoá chung quanh khớp có thể  làm nặng thêm tình trạng của bệnh.  Hiện nay nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh viêm khớp dạng thấp thường liên quan đến những vấn đề của hệ miển dịch hơn là sự hư hoại tự nhiên của các khớp qua thời gian hoặc tuổi đời.  Tiến sĩ Andrew Nicholson, một nhà nghiên cứu về y tế dự phòng của Mỷ cho biết ở hơn 2/3 số người bị thấp khớp hệ kháng nhiễm của cơ thể đã nhận dạng nhầm những yếu tố tự nhiên hoặc vô hại (thường là một số protein trong các loại động vật hoặc những chế phẩm từ sữa) như những tác nhân lạ và tấn công chúng.  Quá trình nầy đã tạo ra sự kích thích và viêm nhiễm.  Ở bệnh viêm khớp, sự viêm nhiễm đã thúc đẩy sự giải phóng các chất bị hư hoại.  Điều nầy càng làm tăng thêm mức độ tổn thương cho các mô ở vùng khớp làm cho tình trạng viêm nhiễm ngày càng trầm trọng thêm.  Đây là một cơ chế tự miễn dịch đã được “lập trình” sẳn từ gen di truyền  mà cho dến nay khoa học vẫn chưa có cách để khắc phục.  Thông thường, vì không thay đổi được cơ chế tự miễn dịch, chu kỳ viêm và dùng thuốc chống viêm cứ tiếp tục phải tái diễn.  Đây chính là một bi kịch cho người bệnh vì  dùng thuốc ức chế miển dịch lâu dài sẽ làm giảm khả năng chống lại các vi trùng gây bệnh và vì những phản ứng phụ nguy hại mà các loại thuốc kháng viêm có thể gây ra như xuất huyết tiêu hoá, loãng xương, phù . . Do đó, một biện pháp quan trọng trong chữa bệnh thấp khớp là chận đứng và kiểm soát được các yếu tố nguy cơ dẫn đến phản ứng dây chuyền.  Điều này phải bắt đầu từ việc nhận dạng và điều chỉnh chế độ ăn uống để loại bỏ hoặc hạn chế các tác nhân gây bệnh.  Đó là lý do tại sao nhiều trường hợp bệnh viêm khớp đã thất bại với các liệu pháp chính thống, người bệnh đã phải chịu đựng những cơn đau dai dẵng suốt hàng chục năm trời nhưng lại chuyển biến khá tốt chẳng mấy chốc sau một thời gian ngắn thay đổi chế độ ăn uống.  Cũng vì điều nầy, khi điều trị viêm khớp, các thầy thuốc Đông y thường khuyên bệnh nhân phải kiêng cử một số vật thực được cho là có phong, hay sinh phong như thịt gà, bò, tôm, cá biển . . .Nếu bệnh đã diển tiến nhiều năm, các khớp đã bị biến dạng, liệu pháp tự nhiên không thể phục hồi nguyên vẹn các khớp nhưng có thể giúp người bệnh giảm bớt đau đớn và không phải lệ thuộc vào những loại thuốc độc hại. Ngày nay những chuyên gia dinh dưỡng cho biết những loại rau xanh và ngũ cốc thô, các loại đậu, các loại hạt còn nguyên lớp vỏ lụa bên ngoài chứa rất nhiều chất xơ, sinh tố và khoáng chất có tính năng giải độc, chống béo phì và tăng cường sức đề kháng, những yếu tố hửu ích cho việc điều trị và phục hồi sức khoẻ trong bệnh thấp khớp.  Tiến sĩ Alan J. Silman  thuộc trường Đại Học Manchester (Anh) qua phân tách dử liệu ăn uống của  hơn 25.000 người đã cho biết những người ăn nhiều các loại rau có lá màu xanh đậm hoặc vàng  có chứa nhiều  chất chống oxy hoá như beta-cryptoxanthin, zeaxanthin và Vit C có thể phòng chống hiệu quả các chứng bệnh viêm khớp. Ăn ngũ cốc thô và rau quả tươi thay thế cho phần lớn những loại thực phẩm công nghiệp hoặc chế độ ăn có nhiều đạm động vật là yếu tố rất quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị loại bệnh nầy.  Mặt khác, lớp vỏ ngoài của các loại ngủ cốc có nhiều sinh tố nhóm B.  Về thuộc tính Âm, Dương, lớp vỏ ngoài thuộc dương, tính ấm.  Cả hai yếu tố này đều có tác dụng hỗ trợ cho sự chuyển hóa ở dạ dày và việc tăng cường khí hóa của Tỳ Vị.



Vận động thân thể.  Về mặt sinh hoạt, Tỳ chủ về tay chân và chủ về sự lưu thông khí huyết.  Khí của Tỳ Vị không thể phát huy nếu không có sự vận động.  Tiến sĩ Arthur Brownstein, Giám đốc Bệnh viện Princeville, Hawaii cũng cho rằng “90% các chứng đau nhức là hậu quả của việc thiếu vận động.” Mới đây, những nhà khoa học của trường đại học Queensland (Úc) cũng vừa công bố một kết luận cho thấy việc vận động thân thể có thể giúp tránh khỏi bệnh viêm khớp.  Kết luận nầy được đưa  ra sau nhiều năm theo dõi sự liên hệ giữa tình trạng viêm khớp và sự vận động thân thể của những phụ nử tuổi từ 72 đến 79 tuổi.  Nghiên cứu cho thấy những người tập thể dục trên 60 phút mỗi tuần đã giảm đáng kể nguy cơ viêm khớp,  những người tập trên 2,5 giờ mỗi tuần đã ngừa được nguy cơ viêm khớp.  Do đó,vận động, rèn luyện thân thể trong điều kiện sức khỏe cho phép là biện pháp  trực tiếp và quan trọng để cải thiện sức khỏe trong bệnh thấp khớp.  Một vài động tác  căng giãn thích hợp của Yoga hoặc vài chục phút đi bộ mỗi ngày  sẽ làm linh hoạt các cơ và khớp, tăng cường sự lưu thông khí huyết để giúp phân tán và đào thải những cặn bả ra khỏi cơ thể.



Hít thở sâu.  Hít vào sâu đến bụng dưới giúp tạo phản xạ thở bụng để tăng cường nội khí.  Thở ra tối đa, ép sát bụng dưới khi thở ra có tác dụng xoa bóp nội tạng, gia tăng nhu động ruột, tăng cường khí hóa ở Tỳ Vị.  Điều này sẽ thúc đẩy khí huyết lưu thông, giúp tán hàn, trừ thấp, giải tỏa những điểm ứ trệ gây đau nhức.  Việc thở ra chậm và đều còn có tác dụng điều hòa thần kinh giao cảm để điều hòa nội tiết, nội tạng và phục hồi tính tự điều chỉnh của cơ thể trong việc cải thiện sức khỏe.  Thực hành: Nằm hoặc ngồi thoải mái.  Hít vào đến bụng dưới.  Hít vào vừa với sức của cơ thể, không cần cố căng bụng ra.  Thở ra từ từ, chậm và nhẹ.  Cố ép sát bụng vào tối đa ở cuối thì thở ra.  Thở chậm và đều từng hơi thở một, từ hơi thở này đến hơi thở khác.  Có thể tập mỗi lần khoảng 10 đến 15 phút.  Cũng có thể thở mỗi lần vài hơi bất kỳ ở đâu hoặc bất kỳ lúc nào.



Phất thủ liệu pháp.  Phất thủ liệu pháp còn gọi là Dịch cân kinh với ý nghĩa là thay đổi gân cốt nên có thể được vận dụng để điều trị thấp khớp.  Phất thủ liệu pháp là một phương pháp khí công đơn giản, có tác dụng làm cho Dương giáng, Âm thăng, tăng cường nội khí và cải thiện lưu thông khí huyết.  Tác dụng trực tiếp nhất của Phất thủ liệu pháp là gia tăng nhu động ruột, tăng cường khả năng giải độc, cải thiện khí hóa của Tỳ Vị và kích hoạt chân hỏa ở Trường cường để gia tăng Dương khí  tán hàn, trừ thấp. Trong cơ thể con người, các khớp có hình dạng (khớp) và công năng (tiếp hợp) giống nhau nên có tương quan và tác động lẫn nhau về mặt khí hoá.  Do đó một khớp bị thoái hoá có khuynh hướng dẫn đến thoái hoá dần các khớp khác.  Ngược lại, khi thực hành PTLP, việc chuyển động linh hoạt và liên tục 2 khớp vai và 2 khớp cổ tay lâu dài có tác dụng hoạt hoá toàn bộ các khớp  qua đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến bệnh viêm khớp.  Ngoài ra, giống như nhiều phương pháp khí công khác, Phất thủ liệu pháp còn có tác dụng tăng cường chức năng của các cơ quan và điều hoà khí hoá giữa các phủ tạng qua đó có thể điều chỉnh tình trạng “tự miễn dịch” trong các chứng viêm khớp mãn tính. Thực hành: Đứng thẳng, hai chân dang ra song song ngang vai.  Các ngón chân bám chặt mặt đất.  Bụng dưới hơi thót lại.  Ngực hơi thu vào.  Vai xuôi tự nhiên.  Hai mắt khép nhẹ.  Đầu lưỡi chạm nướu răng trên.  Tâm ý hướng vào Đan điền.  Hai cánh tay, bàn tay và ngón tay duỗi thẳng tự nhiên.  Hai cánh tay hơi cong ở khuỷu tay.  Đưa hai cánh tay về phía trước động thời hít vào.  Dùng lực vẩy hai cánh tay ra phía sau đến hết tầm tay đồng thời với thở ra và nhíu hậu môn lại.  Khi hết tầm tay ra phía sau thì hai cánh tay theo đà của luật quán tính sẽ trở về phía trước, đồng thời với hít vào.  Một lần hít vào và một lần thở ra là một cái lắc tay.  Làm liên tục nhiều cái.  Để chữa bệnh cần thực hành mỗi lần từ 800-1000 cái.  Mỗi ngày 2 lần.  Động tác lắc tay cần phải nhẹ nhàng, linh hoạt.  Không cần dùng sức mạnh để cố vẫy tay ra phía sau mà chỉ cần dùng sức bình thường ứng với nhịp thở điều hòa để có thể làm được nhiều lần.  Việc nhíu hậu môn và bám các đầu ngón chân xuống đất cũng vậy.  Chỉ cần dùng sức vừa phải nhằm bảo đảm tâm lý thoải mái và thể lực dồi dào để có thể thực hành hàng ngàn cái mỗi lần.



Thư giãn tâm & thân. Bên cạnh việc ăn uống hợp lý và vận động thân thể thì tinh thần lạc quan, thoải mái là một yếu tố quan trọng cần thiết để phục hồi sức khoẻ trong bất cứ chứng bệnh mãn tính nào.  Đối với bệnh thấp khớp, yếu tố nầy còn có một ý nghĩa đặc biệt.  Tỳ chủ lưu thông khí huyết nhưng  tính của Tỳ là “hoãn” , nhịp sống nhanh và tâm lý căng thẳng dễ làm thương tổn Tỳ khí.  Do sự tương tác giữa thần kinh và cơ, căng thẳng tâm lý thường xuyên còn tạo ra tình trạng cường cơ, gây co cứng vùng  khớp.  Điều này không những làm tiêu tốn nhiều năng lượng mà còn  làm xấu thêm tình trạng sưng và đau ở vùng khớp bị bệnh.  Trái lại một nếp sống lạc quan, yêu đời, giữa được tâm bình, khí hòa có tác dụng tư dưỡng cho Tỳ.  Do đó, những biện pháp để thư giãn thân và tâm như tập dưỡng sinh ngồi thiền, tập khí công, sinh hoạt nhóm . .  sẽ hữu ích cho việc phòng và điều trị bệnh viêm khớp.
Lương y VÕ HÀ
Theo Ykhoanet
Từ lâu, nhân dân ta đã biết sử dụng các biện pháp chườm nóng hoặc chườm lạnh để chữa đau lưng, đau khớp, sưng nề sau chấn thương, hoặc điều trị các vùng viêm tấy.

Trong y học, người ta sử dụng nhiệt nóng và nhiệt lạnh để điều trị.

Trong các khoa vật lý trị liệu người ta sử dụng paraffin, túi silicagen, khay nhiệt điện, túi chườm nhiệt sử dụng điện. Trong dân gian thường dùng cám rang, muối rang, lá cây sao nóng, túi nước nóng, ngâm trong nước nóng để làm các chất trung gian truyền nhiệt. Sử dụng nhiệt để điều trị đã mang lại hiệu quả rất tốt, nhưng nếu dùng không đúng có thể gây thêm tác dụng có hại. Vì vậy, hiểu biết về tác dụng của nhiệt trong chữa bệnh là kiến thức cần thiết đối với mỗi người.


Nhiệt nóng: Gây ra giãn mạch, làm tăng lượng máu đến vùng điều trị. Nhờ việc tăng tuần hoàn và dinh dưỡng cho vùng điều trị sẽ kích thích quá trình tái tạo tế bào, hàn gắn tổn thương. Làm tăng các phản ứng sinh học, tăng quá trình chuyển hóa của mô, làm tăng tái tạo mô. Làm tăng tính thấm của mô, tăng trao đổi dịch giữa khoang máu và khoang kẽ tế bào, do đó làm tăng quá trình hấp thu dịch nề, làm giảm nề, giảm đau. Làm tăng khả năng xuyên mạch của bạch cầu, tăng khả năng thực bào của bạch cầu, làm phân tán nhanh các chất trung gian gây viêm, do đó làm giảm viêm cả viêm do nhiễm khuẩn và viêm không do nhiễm khuẩn. Nhiệt nóng được dùng rộng rãi để điều trị các vùng viêm do nhiễm khuẩn giai đoạn viêm tấy chưa hóa mủ (như viêm cơ, viêm tắc tia sữa, viêm tổ chức liên kết do răng, mụn nhọt, chắp lẹo); điều trị các trường hợp viêm không do nhiễm khuẩn (như viêm khớp dạng thấp, viêm quanh khớp vai, viêm cột sống dính khớp); điều trị các vùng thiếu nuôi dưỡng do tổn thương thần kinh, mạch máu (như những vùng đe dọa loét hoặc do đè ép ở người phải nằm bất động lâu, các vùng thiếu nuôi dưỡng ở bàn chân, cẳng chân do bệnh đái tháo đường); điều trị các vùng đau do thoái hóa (như đau cột sống cổ, đau thắt lưng, đau khớp do thoái hóa cột sống, thoái hóa khớp); làm giảm nề, tan khối máu tụ sau chấn thương; làm nhanh liền sẹo vết thương, làm sẹo mềm mại, chống dính và co kéo do sẹo; điều trị dị ứng do lạnh. Thời gian đắp nóng khoảng 20-30 phút, ngày 1-4 lần. Cách dùng: Mỗi lần nóng lên duy trì khoảng 20-30 phút, một ngày có thể đắp nóng 1-4 lần. Mỗi lần đắp nóng không quá 1/6 diện tích cơ thể để tránh gây rối loạn thân nhiệt. Khi đắp nóng cần chú ý tránh để nhiệt độ quá cao > 40o vì có thể gây bỏng.

Chống chỉ định các vùng đang chảy máu hoặc đe dọa chảy máu, các ổ viêm đã hóa mủ, các vùng có khối u cả u lành và u ác tính, các vùng lao đang tiến triển như lao khớp, lao cột sống, các chấn thương mới trong một hai ngày đầu, những người đang sốt.

Nhiệt lạnh

Nhiệt lạnh gây ra các tác dụng ngược lại so với nhiệt nóng, như làm co mạch, giảm tuần hoàn, giảm dinh dưỡng, giảm chuyển hóa, giảm tiêu thụ ôxy, giảm tính thấm của mô. Nếu bị lạnh quá lâu có thể gây ra thiếu dinh dưỡng và hoại tử mô do lạnh. Nhiệt lạnh được dùng để làm giảm sưng nề sau các chấn thương mới, làm giảm chảy máu ở những vùng đang chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu, như chườm lạnh vùng thượng vị trong chảy máu dạ dày, giảm tụ máu, giảm nề trong chấn thương mới (một hai ngày đầu), chườm lạnh để hạ nhiệt độ khi sốt cao, bảo quản mô ghép giúp mô ghép chịu đựng được tình trạng thiếu ôxy kéo dài mà không bị hủy hoại. Người ta thường dùng túi nước lạnh, túi nước đá hoặc ngâm chi trong nước lạnh. Cần chú ý thời gian chườm lạnh cần ngắn vài phút, không kéo dài để tránh gây tổn thương mô do thiếu dinh dưỡng.

(theo suckhoedoisong)
Với sự ra đời rất sớm của ngành thấp khớp học, các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh cơ xương khớp ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, để chẩn đoán và điều trị bệnh lý xương khớp thực sự không đơn giản, các bác sĩ nội khoa phải qua những khóa đào tạo chuyên ngành khớp và chuyên sâu. Kỹ thuật tiêm khớp được ứng dụng 60 năm nay. Năm 1951, Hollander nghiên cứu đầu tiên tác dụng của tiêm thấm corticoid vào khớp. Vậy ai có thể thực hiện được kỹ thuật này? Đó là các bác sĩ khớp, bác sĩ chấn thương chỉnh hình và phục hồi chức năng đều có thể ứng dụng kỹ thuật tiêm khớp trong công tác điều trị bệnh khớp.

Tại Pháp, tình trạng viêm khớp được phát hiện sớm và điều trị cơ bản ngay từ khi mới phát hiện. Trong thực hành hàng ngày, các thầy thuốc chuyên khoa khớp ít phải điều trị tại chỗ như tiêm khớp và cạnh khớp. Một kỷ niệm khó quên vào năm 1999 khi chúng tôi thực tập ở Khoa Thấp khớp, Bệnh viện Conception, Marseille. Ở đây vấn đề tiêm nội khớp ít được thực hiện bởi lẽ các bác sĩ khớp chỉ định tiêm khớp và cạnh khớp theo đúng nguyên tắc mà điều đầu tiên là điều trị tốt cơ bản các bệnh khớp. Vào một buổi sáng tại phòng khám khớp, tôi còn nhớ một thanh niên bị viêm lồi củ trước xương chày gọi là bệnh Osgood-Schlatter, tôi mới nói tiêm thấm - infiltration corticoid chưa dứt lời thì Giáo sư Hubert Roux nói với tôi “jamais” nghĩa là không bao giờ tiêm thấm corticoid.


Một số vị trí tiêm khớp cổ chân, khớp cổ tay và vai.
Những điều bệnh nhân cần hiểu khi được tiêm khớp? Khi thực hiện tiêm khớp, chúng ta nên giải thích cho người bệnh hiểu được mục đích tiêm, kết quả đạt được của tiêm khớp và các biến chứng trong và sau khi tiêm, phản ứng đau sau khi tiêm. Cần để vùng tiêm nghỉ 24-48 giờ, lưu băng dính 24 giờ. Đặc biệt trước khi tiêm cần biết các biến chứng có thể xảy ra như: nhiễm khuẩn; teo da tại chỗ; biến chứng không nhiễm trùng (chảy máu chỗ tiêm, đau chỗ tiêm, tổn thương gân, tổn thương sụn).
Tuân thủ các chỉ định tiêm khớp

Thầy thuốc cần tuân thủ các chỉ định tiêm khớp, không được tiêm quá 4 lần/1 năm trên cùng một vị trí. Tiêm khớp cho các trường hợp như bị bệnh viêm khớp mạn tính (viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp phản ứng, viêm khớp vảy nến), bệnh gút, thoái hoá khớp đợt tiến triển, bệnh viêm quanh khớp vai, viêm điểm bám gân, hội chứng đường hầm cổ tay, cổ chân. Những bệnh nhân không uống được thuốc chống viêm như bị loét dạ dày tiến triển hoặc tăng huyết áp nặng có thể ứng dụng tiêm khớp.

Không nên tiêm khớp trong các trường hợp nào?

Vùng da tiêm khớp nóng đỏ do mới đắp thuốc. Nhiễm khuẩn tại chỗ, viêm các mô, áp xe, nhiễm khuẩn toàn thân, uống thuốc chống đông, prothèse trong khớp, chấn thương khớp, loãng xương tại chỗ, đái đường chưa bình ổn, dị ứng với chất tiêm.

Lợi ích của tiêm khớp

Kết quả của tiêm đem lại nồng độ thuốc tại chỗ tối đa, mang lại hiệu quả chống viêm tối đa và giảm lượng thuốc chống viêm. Tiêm khớp có hiệu quả trong điều trị các bệnh khớp vì viêm màng hoạt dịch giải phóng ra cytokine và protease, tiêm corticoid ức chế cytokine và protease làm giảm đau nhanh.

Tiêm thuốc nội khớp chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng

Điều quan trọng nên nhớ tiêm corticoid vào khớp chỉ làm giảm phản ứng viêm và giảm đau. Chính vì vậy, điều trị gốc mới là nền tảng.

Trước thực trạng lạm dụng tiêm các thuốc chống viêm corticoid và chỉ định tiêm rộng rãi, kỹ thuật tiêm chưa đúng và không tuân thủ nguyên tắc tiêm khớp, gây ra nhiều hậu quả nặng nề như nhiễm khuẩn khớp. Ảnh hưởng sức khỏe và chức năng vận động khớp, ảnh hưởng kinh tế gia đình và xã hội. Hậu quả nhiễm khuẩn khớp do tiêm khớp cũng là tiếng chuông thức tỉnh người bệnh và thầy thuốc nên tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ định tiêm khớp.

Mỗi thầy thuốc và người bệnh nên xem xét “cái được và cái không được của tiêm khớp”. Là thầy thuốc chuyên khoa khớp, chúng tôi rất thận trọng khi  bệnh nhân yêu cầu thầy thuốc cho tiêm khớp vì biết rằng người bệnh quá tin vào giá trị tiêm khớp.    

TS. Mai Thị Minh Tâm (Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện E)
Theo SKĐS
Thời tiết thay đổi, khí hậu lạnh là những yếu tố ngoại cảnh tác động lớn đến các khớp trong cơ thể, nhất là khớp gối và cột sống. Biểu hiện đau là dấu hiệu dễ nhận biết nhất, khi các khớp đã bị thoái hóa thì đau càng rõ ràng hơn, gây tâm lý lo lắng và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sống của người bệnh. Tuy nhiên, nếu thực hiện những chỉ dẫn dưới đây, người bệnh vẫn có những biện pháp để loại trừ chứng đau do thoái hóa khớp.

Phương pháp điều trị thoái hóa khớp

Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động ở khớp, cần phải đi khám bệnh để các bác sĩ đánh gía tình trạng bệnh và cho các điều trị thích hợp. Việc điều trị sẽ bao gồm:

Điều trị không dùng thuốc: tăng cường các kiến thức về sức khỏe, đặc biệt sức khỏe xương khớp; vận động, tập luyện, làm việc vừa sức; ăn uống dinh dưỡng hợp lý; tránh dư cân, béo phì, tránh mang vác vật nặng, tránh tăng áp lực cho sụn khớp và đĩa đệm; phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý tại hệ thống xương khớp.

Điều trị bằng thuốc: điều trị triệu chứng đau và viêm cho người bệnh bằng thuốc giảm đau và các thuốc kháng viêm; làm chậm quá trình thoái hóa bằng các thuốc có thể cải thiện được tiến triển của bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ với nhiều thuốc hữu hiệu: glucosamine sulfate dạng tinh thể, diacerein, acid hyaluronic… Các thuốc này đều cần được điều trị đủ liều theo hướng dẫn của các thầy thuốc.

Phẫu thuật: Trong những trường hợp bệnh nặng, không đáp ứng với điều trị nội khoa cần xem xét việc điều trị ngoại khoa kết hợp: mổ nội soi để cắt xương, loại bỏ dị vật, sửa trục khớp; mổ thay khớp nhân tạo khi khớp bị mất chức năng.


Thoái hóa cột sống thắt lưng.
Các cách phòng ngừa thoái hóa khớp

Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi còn trẻ cần tập thể dục đều đặn, tránh bị dư cân, tránh những động tác quá mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống. Điểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là các biện pháp được các nhà chuyên môn khuyến cáo:

- Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp, tránh dư cân béo phì.

- Tập vận động thường xuyên và vừa sức: luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Đó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương và giảm khả năng té ngã trong sinh hoạt và lao động.

- Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng và cân bằng: Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

- Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng và tránh quá sức: khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay và khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân và nên tận dụng thêm sự hỗ trợ (của dụng cụ hay người khác).

- Giữ nhịp sống thoải mái và thường xuyên thay đổi tư thế: Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

- Điều trị tích cực các bệnh lý xương khớp mắc phải.

Biểu hiện của thoái hóa khớp

Đau:Triệu chứng sớm nhất của thoái hóa khớp là đau khi vận động, mới đầu chỉ đau khi khớp hoạt động, nghỉ sẽ hết đau; sau đó có thể đau âm ỉ, liên tục cả khi nghỉ, đau trội hơn khi vận động. Nếu thoái hóa khớp gối, người bệnh đau nhiều khi đi lại, đứng lên ngồi xuống khó khăn, nhất là lúc lên xuống thang gác hoặc đang ngồi xổm đứng lên, có khi đau quá bị khuỵu xuống đột ngột. Nếu thoái hóa cột sống thắt lưng, người bệnh bị đau âm ỉ ở vùng thắt lưng và thường đau trội lên về chiều sau một ngày làm việc phải đứng nhiều hay lao động nặng, lúc nằm nghỉ đau sẽ giảm. Khi đau, bệnh nhân làm các động tác cúi, nghiêng, ngửa hoặc xoay người rất khó khăn. Nếu thoái hóa khớp háng, người bệnh đau ở vùng bẹn, vùng trước trong đùi, có thể đau cả vùng mông lan xuống mặt sau đùi và dọc theo đường đi của thần kinh tọa.

Hạn chế vận động:Sau triệu chứng đau là tình trạng hạn chế vận động. Nếu bị thoái hóa khớp gối, các động tác gấp và duỗi thẳng chân bị hạn chế, đứng lên ngồi xuống khó khăn, có thể không ngồi được. Nếu bị thoái hóa khớp vai sẽ hạn chế các động tác đưa tay ra trước, ra sau, quay tay và không làm được một số động tác đơn giản như gãi lưng, chải đầu. Nếu bị thoái hóa khớp háng, người bệnh đi khập khiễng, giạng hay khép háng đều khó khăn, khó gập đùi vào bụng.

Tiếng kêu tại khớp:vận động khớp thường thấy tiếng lạo xạo hoặc lục khục.

Kèm theo có thể thấy đầu xương bị phì đại, lệch trục khớp, teo cơ…

PGS.TS.BS. Lê Anh Thư
(Khoa Nội cơ xương khớp - BV Chợ Rẫy)
Theo SKĐS
(ĐTĐ) - Thời tiết lạnh, ẩm khiến người mắc các bệnh xương khớp khổ sở hơn rất nhiều. Nếu biết cách vận động và giảm đau, có thể giúp làm dịu những cơn đau khớp và phòng căn bệnh này.

Bệnh có tỷ lệ tàn tật cao
Theo các bác sĩ, viêm khớp là một trong những dạng bệnh mạn tính có tỷ lệ tàn phế cao nhất và thực tế có rất nhiều người đã trở nên tàn tật vì căn bệnh này, dẫn đến giảm và mất khả năng lao động sinh hoạt, lao động hàng ngày.

Người mắc các bệnh lý về khớp nên vận động nhẹ nhàng để tránh các cơn đau cho khớp. Ảnh: minh họa - Internet

Theo ThS Võ Tường Kha, Trưởng khoa Đông y, Viện Khoa học TDTT, thời tiết từ nóng sang lạnh là lúc bệnh phát triển mạnh. Đau là triệu chứng đầu tiên của bệnh này. Lúc khởi đầu chỉ có một vài khớp bị đau, rồi từ từ nhiều khớp và có thể toàn thân bị đau nhức.
Mưa lạnh, ẩm thấp đau tăng, thường hay tái phát mỗi khi thay đổi thời tiết. Bệnh âm ỉ kéo dài, thường kèm theo các rối loạn khác như rối loạn tiêu hóa, mất ngủ, ăn uống kém…
Nguyên nhân của bệnh là do ổ khớp có rất ít mạch máu, chủ yếu hoạt động là do thẩm thấu. Vì vậy, những ổ khớp nào có nhiều mạch máu lưu thông thì ít bị đau và ngược lại. Mùa này vừa ẩm thấp, lại lạnh gây co mạch, làm máu lưu thông kém làm khớp bị loạn dưỡng và gây đau, tê cứng…
Ngoài ra, nguyên nhân gây đau khớp là do sức đề kháng và khả năng tự bảo vệ của cơ thể không đầy đủ, các yếu tố gây bệnh là Phong – Hàn - Thấp cùng phối hợp tác động xâm phạm đến kinh lạc – cơ – khớp, làm cho sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn không thông gây ra sưng đau, hoặc không sưng mà chỉ đau tê mỏi nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân.
Đặc biệt, ở người già, các chức năng hoạt động cơ thể bị suy yếu, làm cho khí huyết cũng giảm sút không nuôi dưỡng được cân mạch gây nên tình trạng thoái hóa khớp xương và gây đau.
Càng xoa bóp càng hỏng khớp
Bác sĩ Kha cho biết, nhiều người đã rất sai lầm khi thấy đau là xoa bóp, điều đó sẽ rất có hại, làm cho khớp các đau thêm. Xoa bóp có thể có ích trong một số trường hợp, với các dụng làm giảm cơn co cứng.
Tuy nhiên, không bao giờ được xoa bóp trực tiếp lên vùng khớp viêm cấp (sưng, nóng, đỏ, đau…). Khi đau có thể dùng châm cứu để giảm đau. Bởi theo y học cổ truyền, các biểu hiện bệnh lý tại khớp xương như sưng, đau, mỏi, nặng, phù, biến dạng khớp… được gọi là chứng Tý. Tý có nghĩa là sự bế tắc, không thông, tắc nghẽn khí huyết sinh ra chứng sưng, đau nhức…
Cách giảm đau và phòng ngừa
Lấy lá ngải cứu trắng rửa sạch, cho lẫn muối vào rồi nướng nóng lên, sau đó đắp vào khớp. Khi khớp bị sưng, đắp ngải cứu muối ấm sẽ làm cơn đau giảm đi, khớp bớt sưng hơn.
Hoặc mỗi ngày, tốt nhất ngâm chân một lần vào thời gian thuận lợi, ngâm từ 15 - 30 phút. Nước muối ấm và gừng cũng có tác dụng làm dịu cơn đau, phòng bệnh đau khớp cổ chân và còn giúp phòng ngừa nhiều bệnh cho toàn thân.
Do đó, khi dùng kim châm vào những huyệt ở vùng khớp bệnh và xung quanh, sẽ làm kinh mạch được khơi thông, khi huyết được điều hoà, sẽ có kết quả giảm đau. Ngoài ra, những người bệnh bị đau khớp, viêm khớp dạng thấp, thấp tim cần lưu ý không nên ra ngoài khi trời lạnh. Độ ẩm không khí cao là nguy cơ gây đau, sưng. Hãy luôn giữ ấm bàn chân để phòng bệnh một cách hiệu quả nhất
Khi bị đau, cách tốt nhất để giảm đau là làm nóng (khi người bệnh không có bệnh lý gì đặc biệt): tắm nước nóng toàn thân (áp dụng cho các trường hợp viêm nhiều khớp), tắm nóng từng phần (những người không tắm được toàn thân hay đau khớp cục bộ, tay chân…), đắp nóng hoặc chườm nóng, dùng đèn hồng ngoại…
Đối với tắm nóng, nhiệt độ nước từ 30 – 40oC, thời gian tắm từ 15 – 20 phút. Nước nóng có tác dụng giảm đau, tăng tuần hoàn ngoại vi, tạo thư giãn cơ, giảm cơn co cứng cơ và giúp người bệnh thực hiện một số cử động chủ động của khớp trong nước. Đắp nước nóng bằng túi chườm nóng cho đau ở một hoăặ 2 khớp. Thời gian đắp tối đa 20 phút. Đèn hồng ngoại đặt cách da 60 cm, thời gian chiếu tối đa 30 phút…
ThS Đỗ Sĩ Hùng, Trưởng khoa Vật lý trị liệu Trung tâm Cơ Xương khớp, bệnh viện E Hà Nội nhấn mạnh, nghỉ ngơi có tác dụng giảm đau ở người bệnh viêm khớp mạn tính và trong nhiều trường hợp có thể làm lui cơn bệnh. Đây cũng là lý do quan điểm điều trị trước đây thường xuyên người bệnh nghỉ ngơi tại giường.
Nếu khớp đau do nguyên nhân cơ học như đau dây chằng hoặc lớp sụn thì nghỉ ngơi hoặc bất động khớp đó – là cách điều trị tốt nhất. Tuy nhiên, việc nằm lâu một chỗ cũng tạo ra các nguy cơ ảnh hưởng tới chức năng vận động và gây ra những thương tật thứ cấp. Vì vậy, người bệnh vẫn có thể di chuyển nhẹ nhàng để tránh co rút khớp.
Tuy nhiên, các chuyên gia đều khuyên, nếu sau vài ngày áp dụng các biện pháp này, không thấy thuyên giảm hoặc giảm rất ít, người bệnh nên đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh, không nên tự ý dùng thuốc để tránh những hậu quả đáng tiếc.
Nguồn Tienphong.vn
(ĐTĐ) - Biểu hiện đầu tiên của viêm khớp cổ là cổ đau cứng và chứng dính cứng khớp cổ có thể tăng nặng do tư thế ngồi trước máy tính hay các hoạt động khác (là ủi quần áo) không đúng, khiến các đĩa đệm bị ép về phía trước...

>> Khi các khớp kêu lạo xạo…
Vai
Vai không phải gánh trọng lượng vì thế nó ít bị viêm hơn cả. Tuy nhiên, ở nam giới trung niên, những người thường xuyên phải làm các công việc nâng vác, chứng bệnh hay gặp là trật khớp. Đó là vì khớp vai có mức độ dịch chuyển không lớn như hông nên các hốc cũng rất hẹp, vì thế các đầu xương có xu hướng bị trượt ra ngoài hay không còn ở đúng vị trí khi bị quá sức.

Nâng vật nặng nhiều có nguy cơ mòn và hư khớp vai
Vai cũng có nguy cơ bị căng cơ hay giãn dây chằng do bất ngờ nâng một vật nặng qua đầu hoặc ném cái gì đó.
Phòng ngừa: Sự thoái hóa của khớp vai thực tế là không chỉ ảnh hưởng riêng tới khớp. Nhiều người bị đau vai nhưng là ở các mô mềm xung quanh khớp, đó là vì chúng không được kéo căng vừa đủ. Kết quả là mỏm xương và hốc xương gần nhau quá và các xương bắt đầu chà xát vào nhau.
Dấu hiệu đầu tiên thường là rất khó tự gội đầu. Một biểu hiện thường gặp khác là cứng vai. Điều này diễn ra khi không sử dụng khớp vai thường xuyên và khiến nó bị “tê liệt”.
“Tại sao điều này lại xảy ra thì đến nay chưa rõ nhưng có thể là các mô và bao quanh khớp bị viêm và làm cho khớp vai bị “kẹt cứng”, một chuyên gia về khớp vai cho biết.
Những động tác hỗ trợ khớp vai: vươn tay qua đầu để vai được vận động. Đánh tay trong khi đi bộ cũng rất tốt.
Các nguy cơ: Chúng ta cũng nên bảo vệ vai bằng cách tránh uốn cong vai hay gập vai quá mức.
Nếu vai bị uốn cong, khớp sẽ không còn ở đúng vị trí, sẽ nhanh “xuống cấp”.
Cổ
Cổ là bộ phận có nhiều cử động và vì thế mà các khớp cổ cũng dễ bị suy yếu. Điều này có thể dẫn tới dính cứng khớp cổ, nơi các đĩa đệm giữa các các đốt sống mất đi chức năng “giảm xóc”.
Phòng ngừa: Chứng dính cứng khớp cổ có thể tăng nặng do tư thế ngồi trước máy tính hay các hoạt động khác (là ủi quần áo) không đúng, khiến các đĩa đệm bị ép về phía trước.
Theo chuyên gia phẫu thuật Steve Krikler, để phòng tránh bệnh này, đặc biệt là ở nhóm dân văn phòng, dân công nghệ, “Khi ngồi vào bàn, cần phải chú ý chiều cao giữa ghế và bàn làm việc sao cho đầu không phải cúi hay ngầng khi nhìn vào màn hình máy tính”.
Những động tác hỗ trợ khớp cổ: cúi đầu sao cho cằm hướng về phía ngực và rồi ngước mắt lên trần nhà. Làm động tác này 5 lần. Sau đó từ từ quay đầu sang 2 bên hết mức có thể trong 10 lần.
Các nguy cơ: Không cúi đầu khi làm việc với máy tính, làm vườn, là quần áo… trong 1 thời gian dài.
Mắt cá chân
Khớp mắt cá chân là chịu áp lực đầu tiên khi đi hay chạy. Mắt cá nhân cho phép bàn chân di chuyển lên xuống, trong khi khớp sên gót sau khớp dưới sên lại có nhiệm vụ giúp bàn chân di chuyển theo hướng vào trong hay ra ngoài.
Viêm mắt cá chân thường gặp ở phụ nữ bởi vì họ thường mang giày cao gót. Vấn đề này thường gặp ở 2 giới khi trong độ tuổi 35-45. Một nguyên nhân khác gây ra viêm khớp mắt cá là do những chấn thương trước đó.

Đi bộ hay chạy có lẽ không phù hợp với người có bàn chân khum hoặc phẳng

Phòng ngừa: mặc dù đi bộ là một cách luyện tập tốt nhưng những người có bàn chân khum hay phẳng thì khả năng hấp thụ áp lực khi đi bộ thường kém hơn, vì thế dây chằng dễ bị ảnh hưởng. Khi dây chằng bị yếu sẽ gây áp lực cho khớp mắt cá trong mỗi bước đi, thậm chí là ảnh hưởng tới cả hệ thống xương chân.
Khoảng 40% chúng ta bị bàn chân bẹt và cứ 10 người sẽ có 1 người mắc chứng viêm khớp do cấu tạo chân đặc biệt này.
Để giảm thiểu tất cả các vấn đề, cần mua giày có gót phù hợp để giảm áp lực lên chân. Tránh đi các loại giày dép phẳng hoặc có gót quá cao vì sẽ gây hại cho gót chân.
Các động tác hỗ trợ: Cử động chân và mắt cá khi ngồi và vận động các ngón chân lên xuống 10 lần trước khi xoay chúng theo chiều kim đồng hồ và ngược lại.
Thực hiện điều này mỗi sáng và tối.
Các nguy cơ: mang giày không phù hợp với bàn chân hoặc đi giày quá cao.
Khuỷu tay
Mặc dù khớp khuỷu tay ít bị suy yếu hơn các khớp khác nhưng nguy cơ có thể xảy ra khi nâng các vật nặng. Những vấn đề khác thường gặp là khi tay bị bẻ quặt, gây giãn dây chằng. Vấn đề này cũng thường gặp ở những người chơi tennis hay chơi golf do họ thường xuyên phải ngửa cổ tay hoặc xoay tròn cẳng tay.
Phòng ngừa: Không để tay thực hiện đi thực hiện lại một động tác trong một thời gian dài. Có thể đeo nẹp tay để chấm dứt tình trạng căng dây chằng.
Các động tác hỗ trợ: Gập rồi duỗi thẳng tay 10 lần mỗi ngày để rèn luyện dây chằng và gân tay. Nếu dùng máy tính, nên để chuột ở gần người để tránh bị căng cơ, dây chằng do với tay.
Các nguy cơ: làm vườn hay bất kỳ công việc nào mà động tác chỉ lặp đi lặp lại trong một thời gian dài.
Cổ tay và bàn tay
Tình trạng suy yếu thường gặp ở các khớp gốc ngón tay. Phụ nữ lớn tuổi dễ gặp hiện tượng này, có lẽ là do họ làm các công việc chân tay lặp đi lặp lại trong một thời gian dài.
Các động tác hỗ trợ: ngón cái dễ bị viêm nhất, đặc biệt nếu phải lặp đi lặp lại các hoạt động như đan lát, thêu thùa vì thế cần thường xuyên nắm mở tay, xoay cổ tay và gập lên gập xuống cổ tay 10 lần mỗi ngày.
Các nguy cơ: dùng ngón cái để cầm các đồ vật.
Theo DM - Dantri.com.vn
(ĐTĐ) - Số người mắc bệnh xương khớp ở Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc biệt ở nhóm trung niên và người cao tuổi.

Theo TS.BS Trần Đắc Nghĩa, Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Saint Paul, biến chứng dễ nhận thấy nhất ở bệnh nhân bị mắc bệnh xương khớp là cứng khớp, tàn phế, không còn khả năng lao động, chịu đau đớn trong thời gian dài, gây khó khăn trong sinh hoạt… Với những bệnh nhân này, nếu được điều trị thay khớp thì có thể trả lại hoạt động sinh hoạt tương đối bình thường, trong thời hạn khoảng 10 - 30 năm (tùy theo từng loại khớp).
Tự làm bệnh nặng hơn
Theo tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Ngọc, Khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, vì xương khớp là nhóm bệnh gần như gắn liền với hệ thống miễn dịch của cơ thể nên bệnh nhân thường rất nhạy cảm với sự thay đổi khí hậu, thời tiết. Khí hậu ở Việt Nam dù nóng hay lạnh đều có độ ẩm khá cao so với các nước vùng ôn đới, áp suất không khí cao là những yếu tố khiến bệnh khớp trở thành căn bệnh phổ biến



Một ca phẫu thuật thay khớp tại bệnh viện. Ảnh: K.Linh.

Ngoài ra, các nguyên nhân khác như tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng cao làm tăng tỷ lệ người bị thoái hóa xương khớp (chủ yếu ở người già); các vụ tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt xảy ra nhiều; tình trạng lạm dụng rượu; bệnh nhân nhiễm HIV tăng; đối tượng phụ nữ ở các vùng nông thôn phải lao động nặng nhọc… Đặc biệt là tình trạng lạm dụng các loại thuốc chứa corticoid ngày càng phổ biến (dẫn đến giòn xương)…
Tuy nhiên, theo các bác sĩ, bệnh ngày càng nặng hơn do sự thiếu hiểu biết của người bệnh khi lạm dụng thuốc, gây ra nhiều tai biến như chảy máu và thủng dạ dày, tăng huyết áp, dễ nhiễm khuẩn, tăng đường trong máu, loãng xương, suy tuyến thượng thận (dẫn đến tử vong).
Thậm chí, nhiều bệnh nhân còn dùng thuốc nam dài ngày vì cho rằng không độc hại mà không biết rằng nhiều loại thuốc nam không đạt tiêu chuẩn, thuốc bị trộn nhiều thuốc tây có chứa corticoid khiến không ít bệnh nhân phù nề, suy giảm sức khỏe. Ngoài ra, các bác sĩ khuyến cáo, các loại thực phẩm chức năng như Luxy Samin, Glucosamine… chỉ có tác dụng hỗ trợ điều trị chứ không phải là thuốc đặc trị các bệnh về khớp.
Nên phẫu thuật thay khớp ở bệnh viện chuyên khoa
Theo TS.BS Trần Đắc Nghĩa, trong số các bệnh nhân đến điều trị viêm khớp, có một tỷ lệ không nhỏ buộc phải thay khớp (chủ yếu là khớp háng, khớp gối).
Tuy nhiên, có một thực trạng đáng lo ngại hiện nay là rất nhiều bệnh viện, kể cả các bệnh viện tuyến huyện cũng tham gia thực hiện phẫu thuật thay khớp cho bệnh nhân, trong khi trình độ chuyên môn của các bác sĩ thực hiện kỹ thuật này còn hạn chế. Trong khi, đây là một kỹ thuật chuyên khoa sâu đòi hỏi phải được đào tạo và thực hành bài bản, kỹ lưỡng. Việc điều trị không đúng chuyên môn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây biến chứng cho bệnh nhân sau mổ như nguy cơ bị nhiễm trùng, trật khớp, lỏng, tụt phương tiện… hoặc đau đớn hơn nhiều.
Khi bệnh nhân có biểu hiện như viêm, sưng nóng, đau các khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối…cần đến các cơ sở chuyên khoa khớp để được khám và điều trị đúng. Việc điều trị phải kiên trì, tuân thủ lịch tái khám do bác sĩ đưa ra. Tùy theo giai đoạn tiến triển của bệnh, bác sĩ sẽ thay đổi liều thuốc và hướng dẫn chế độ luyện tập phù hợp.
Theo Baodatviet.vn
(ĐTĐ) - Phương pháp điều trị phổ biến nhất là các loại thuốc chống viêm đơn thuầnnhư steroid, như Vaux, Celebrex và Extra. Nhưng các thuốc này có thể có tác dụng phụ gây đau đớn.

Đau khớp là cảm giác đau hoặc khó chịu ở một hoặc nhiều khớp xương của cơ thể. Khớp là hai xương gặp nhau, chẳng hạn như khớp ở hông, đầu gối, khuỷu tay, vai và mắt cá chân. Đau khớp có thể xảy ra khiến bạn khó cử động, trường hợp nghiêm trọng làm cho bạn không thể di chuyển.
Khi bị đau khớp, bệnh nhân có thể có những cảm giác như khó chịu, sưng, tăng nhiệt độ cơ thể hoặc cảm thấy nóng, đau hoặc tê cứng ở khớp.
Khớp là mối nối giữa các xương. Chúng hỗ trợ và giúp bạn di chuyển. Bất kỳ thiệt hại nào ở khớp hoặc chấn thương khớp cũng có thể cản trở sự chuyển động và gây đau nhiều.
Nguyên nhân dẫn tới đau khớp rất đa dạng, có thể là viêm khớp thoái hóa khớp dạng thấp, viêm bao hoạt dịch, bệnh gút, bong gân, căng thẳng và các thương tích khác... trong đó đau khớp là phổ biến nhất ở lứa tuổi trưởng thành.
Đau đầu gối là dễ gặp nhất, tiếp theo vai và đau hông. Đau khớp có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào trên cơ thể, từ mắt cá chân tới vai.

Các triệu chứng khi bị đau khớp, viêm khớp
Nguyên nhân khác nhau của chứng đau khớp dẫn đến các triệu chứng khác nhau và mức độ nghiêm trọng cũng thay đổi tùy theo từng trường hợp.
Nếu đau khớp là do bệnh viêm nhiễm như viêm khớp hay chấn thương, các triệu chứng có thể có hoặc có thể không. Một số người có thể thấy bị đỏ hoặc sưng khớp, có thể sốt hoặc cứng xương sau một khoảng thời gian không hoạt động hoặc sau một giấc ngủ.
Nếu đau khớp là kết quả của sự rối loạn do viêm thì bệnh nhân thường chỉ có độ cứng khớp nhẹ, đau tăng lên trong khi tập luyện, và giảm đau đớn sau khi nghỉ ngơi.
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn dịch và cũng là nguyên nhân gây đau và cứng khớp. Viêm xương khớp là kết quả của sự thoái hóa ở sụn của khớp. Nó là rất phổ biến ở người trên 45 tuổi và có thể gây đau ở các khớp.
Đau khớp cũng có thể là do viêm (viêm cơ xương khớp). Cơ xương khớp là nền tảng xương, chứa đầy túi chất lỏng có tác dụng làm đệm cho xương, cho phép các cơ bắp và dây chằng di chuyển tự do hơn xương.
Điều trị chứng viêm khớp
Hàng triệu người bị các triệu chứng đau của viêm khớp và các bệnh liên quan, bao gồm viêm, đỏ, sưng đau và cứng khớp. Trong khi có hàng trăm loại khác nhau của viêm khớp, thì viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp và bệnh gút là ba phổ biến nhất. Cho đến gần đây, phương pháp điều trị phổ biến nhất là NSAID (thuốc giảm đau ngoại vi) hoặc thuốc chống viêm đơn thuần khác như steroid, như Vaux, Celebrex và Extra.
Tuy nhiên các loại thuốc trị đau khớp có thể có tác dụng phụ là gây đau đớn. Một trong những loại thuốc là Vaux có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ và đau tim ở bệnh nhân dùng thuốc này trong một thời gian dài.
Mặc dù các thuốc này có thể hữu ích trong điều trị triệu bệnh, nhưng bên cạnh đó vẫn có nhiều bệnh nhân đang tìm kiếm phương pháp an toàn hơn, đó là lựa chọn biện pháp thay thế mang tính tự nhiên hơn như glucosamine, chondroitin, nghệ, dầu cá… để điều trị các triệu chứng đau.
Theo Health - Nguồn Afamily.vn
(ĐTĐ) - Khoảng  0,3 - 1% dân số trưởng thành trên toàn thế giới mắc bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT), nữ có tần xuất cao gấp 2 - 3 lần so với nam và tăng theo tuổi.

Một số nghiên cứu cho thấy, sau 5 năm bị viêm khớp chỉ 40% bệnh nhân (BN) còn chức năng bình thường, 16% bị mất chức năng nghiêm trọng. Đa số nghiên cứu đều cho thấy ở BN VKDT bị viêm khớp trên 10 năm, tỷ lệ mất khả năng làm việc lên tới 40 – 60%. Tuổi thọ của những BN VKDT nặng thường bị rút ngắn khoảng 7 năm với nam và 4 năm với nữ. Nguyên nhân tử vong thường liên quan đến một số bệnh cùng mắc, như xơ vữa động mạch, nhiễm khuẩn và bệnh ác tính - TS Lê Anh Thư, Trưởng khoa Cơ Xương Khớp (BV Chợ Rẫy) cho biết tại hội thảo cập nhật các phương pháp về điều trị viêm khớp dạng thấp, ngày 1/10.

VKDT là bệnh khớp mạn tính quan trọng nhất trong các bệnh cơ xương khớp và đứng hàng thứ 2 trong các bệnh tự miễn (sau Lupus ban đỏ hệ thống), có liên quan đến di truyền, hormon, nhiễm khuẩn, môi trường và chế độ ăn uống. Triệu chứng điển hình của bệnh là sưng, đau các khớp nhỏ đối xứng ở tay và chân, đặc biệt đau nhiều về đêm hay gần sáng. Cứng khớp buổi sáng, thường kéo dài hơn 1 giờ. Các triệu chứng toàn thân như: Mệt mỏi, sụt cân, thỉnh thoảng sốt nhẹ. Hiện tượng viêm tiến triển, dẫn đến tổn thương sụn khớp, ăn mòn xương gây biến dạng khớp không hồi phục, dính khớp, mất chức năng hoạt động của khớp.
Nguồn Phunuonline.com.vn
(Dân trí) - Khi bị viêm khớp dạng thấp, người bệnh có thể mắc phải 1 số loại ung thư nhưng cũng có thể giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư khác. Lý do nằm ở các loại thuốc viêm khớp dạng thấp mà bạn đang sử dụng.


Sau đây là 8 loại ung thư thường gặp có liên quan đến chứng viêm khớp dạng thấp này:

Nhóm bệnh có nguy cơ cao

Ung thư phổi: Người hút thuốc lá có nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp cao. Tuy nhiên, mặc dù tỉ lệ bị ung thư phổi thấp hơn những người hút thuốc nhưng những người bị viêm khớp mà không hút thuốc cũng có nguy cơ bị ung thư phổi do viêm khớp dạng thấp có thể gây viêm phổi.

Vậy nên nếu đang hút thuốc, bạn nên bỏ thuốc lá ngay lập tức. Những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp mà bị các bệnh về  phổi nên tránh thuốc methotrexate hoặc leflunomide vì chúng sẽ làm phổi ngày càng yếu dần.

Ung thư da: Nghiên cứu chỉ ra rằng khối u hắc tố ác tính, một loại ung thư da nguy hiểm nhất có khả năng xuất hiện ở những người thường sử dụng chất ức chế hoại tử khối u (TNF inhibitor), do những loại thuốc này sẽ kìm hãm chức năng của hệ miễn dịch.

Một nghiên cứu vào năm 2007 tìm ra rằng những người mắc viêm khớp dạng thấp mà sử dụng các chất ức chế TNF này sẽ tăng gấp đôi nguy cơ mắc ung thư da hắc tố.

Ngoài ra, những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cũng có nguy cơ cao mắc các loại ung thư da khác có thể chữa trị được. Theo số liệu phân tích năm 2011, những người sử dụng chất ức chế TNF sẽ tăng 45% nguy cơ mắc ung thư da không hắc tố.

Ung thư tủy: Ung thư tủy là loại ung thư hiếm gặp. Theo nghiên cứu năm 2008, những bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp tăng 17% nguy cơ mắc bệnh này. Điều này được giải thích do những bệnh nhân bị chứng bệnh này trong thời gian dài sẽ sản xuất quá mức các loại protein kháng thể trong máu (gây hội chứng tăng globulin huyết).

Ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin và bệnh hodgkin: Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ 2 loại bệnh trên. Đây là các loại ung thư tế bào miễn dịch (tế bào bạch huyết).

Nghiên cứu năm 2003 trên 76.000 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp Thụy Điển cho thấy: nguy cơ mắc ung thư hệ bạch huyết cao gấp 2-3 lần so với những người bình thường.

Theo giáo sư, bác sỹ  Hochberg, trường ĐH Y Maryland (Baltimore), điều này có thể là do hệ miễn dịch bị kích thích mãn, thường xảy ra ở những bệnh nhân bị viêm khớp nặng trong thời gian dài mà  không có sự kiểm soát kịp thời và đúng hướng.

Ung thư hệ bạch huyết liên quan đến chất ức chế TNF: Những người sử dụng Humira, một loại chất ức chế TNF điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp sẽ tăng nguy cơ phát triển ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin hiếm gặp và nguy hiểm.

Bệnh bạch cầu: Một nghiên cứu trên khoảng 12.000 nam giới và 35.000 nữ giới cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu ở những nam giới mắc chứng viêm khớp dạng thấp cao hơn so với người bình thường. Trong khi ở phụ nữ lại không đáng kể.

Theo bác sỹ Hochberg, mối liên quan giữa bệnh bạch cầu và viêm khớp dạng thấp là khá hiếm và đây cũng là biến chứng liên quan đến các liệu pháp ức chế miễn dịch như Cytoxan và Azasan dùng để chữa trị viêm khớp dạng thấp. Methotrexate cũng làm tăng tỷ lệ mắc phải bệnh bạch cầu.

Nhóm bệnh “khó” mắc

Ung thư vú và ung thư ruột kết: Trái với những loại ung thư trên, những bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp sẽ có nguy cơ thấp mắc hai loại ung thư này.

Nghiên cứu năm 2008 ước tính những người mắc viêm khớp dạng thấp giảm 16% mắc ung thư vú và giảm 23% ung thư ruột kết.

Điều này là do nhiều bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp thường uống thuốc kháng viêm.

Ung thư tuyến tiền liệt: Việc sử dụng dài kỳ thuốc chống viêm không steroid (NSAID) có thể giảm nguy cơ tử vong ở nam giới bị viêm khớp dạng thấp mà mắc ung thư tuyến tiền liệt.

Nghiên cứu trên gần 100.000 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt Thụy Điển cho thấy, nguy cơ tử vong giảm 2% so với những người bình thường. Tỷ lệ tử vong cũng giảm đến 6 lần ở bệnh nhân có kèm viêm khớp dạng thấp.

Quách Vinh
Theo Health
Tại hội nghị thường niên Hiệp hội Các nhà khoa học dược Mỹ (AAPS) tổ chức cuối tháng 10/2011 vừa qua, nhóm nghiên cứu Benech Reseach và Pjizer của Mỹ đã công bố kết quả một nghiên cứu mang tính khả thi cao, sử dụng hạt nano để đưa thuốc chống viêm vào khoang khớp gối, tăng thời gian lưu giữ thuốc và kéo dài tác dụng của thuốc. Qua thử nghiệm cho thấy, 70% hạt nano có chứa thuốc này lưu lại trong khoang gối dài tới hơn một tuần so với một hoặc hai ngày ở liệu pháp truyền thống.

Trong kỹ thuật này, các hạt nano tích điện dương mang thuốc liên kết với tích điện âm của các phân tử tự nhiên trong khớp gối để tạo ra dạng gel. Đến lượt nó, gel lại đóng vai trò hoạt hoá giống như một kho chứa để lưu giữ thuốc. Phương pháp này khắc phục hiện tượng rửa trôi thuốc thường thấy ở các phương pháp truyền thống, làm giảm đau do ít phải tiêm, tiết kiệm chi phí và kéo dài hiệu quả trị bệnh. Theo thống kê, tại Mỹ hiện có trên 30 triệu người mắc bệnh viêm xương khớp, dự báo đến năm 2025 sẽ tăng thêm khoảng 20% nữa, vì vậy phương pháp nói trên nếu thành công sẽ mở ra triển vọng cho nhóm người mắc bệnh xương khớp.
KHẮC NAM (Theo PO/AAPS, 10/2011)
Theo SKĐS
Bệnh gắn liền với đau đớn, mất sức, tật nguyền, trầm cảm và mất việc làm. Bệnh viêm khớp dạng thấp có thể gặp ở mọi lứa tuổi và mọi giới. Bệnh xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau, diễn biến phức tạp, gây hậu quả nặng nề.

Đeo đẳng người bệnh
Tại VN, bệnh thường xảy ra ở phụ nữ với tỉ lệ nữ nhiều gấp 3 lần nam, đa số khởi phát bệnh từ 30 – 60 tuổi, bệnh thường đeo đẳng người bệnh cho đến cuối đời. Bệnh khởi phát từ từ và thường diễn biến kéo dài, tiến triển từng đợt, có xu hướng tăng dần nhưng đôi khi cũng tiến triển rất nhanh, dẫn đến tổn thương sụn khớp và đầu xương gây dính khớp, biến dạng khớp và mất chức năng vận động của khớp.
Diễn biến của bệnh rất khác nhau với từng người bệnh, thường qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu thường kéo dài 1 - 2 năm với biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau, hạn chế vận động các khớp do hiện tượng viêm màng hoạt dịch của khớp. Ở giai đoạn sau (giai đoạn muộn), bệnh bắt đầu xuất hiện tổn thương bào mòn ở sụn khớp và đầu xương. Các tổn thương này một khi đã xuất hiện thì không thể mất đi. Nếu không được điều trị, các tổn thương sụn khớp và đầu xương ngày càng nặng nề gây biến dạng khớp, dính khớp, cứng khớp và mất khả năng vận động của khớp.
Nguy hiểm từ tác dụng phụ của thuốc
Chú ý cứng khớp buổi sáng
Vị trí bắt đầu thường ở các khớp nhỏ ở hai bàn tay, sau đó ảnh hưởng tới các khớp khác như khớp gối, khớp cổ chân, khớp khuỷu tay, khớp vai, khớp háng... Các triệu chứng thường gặp của bệnh là cứng khớp buổi sáng (gây khó cử động các khớp vào buổi sáng lúc mới ngủ dậy, kéo dài hàng giờ), hiện tượng sưng, đỏ, nóng, đau các khớp nhỏ, đặc biệt ở bàn tay như cổ tay, bàn tay, các ngón tay, ngón chân và khớp gối, đối xứng hai bên và kèm theo các dấu hiệu toàn thân như sốt, mệt mỏi, xanh xao, gầy sút.
Bệnh viêm khớp dạng thấp rất cần được chẩn đoán sớm (trong 1 – 2 năm đầu) khi chưa có các tổn thương làm hư hỏng sụn khớp và đầu xương. Lúc này người bệnh cần được khám lâm sàng, làm các xét nghiệm chuyên biệt, chụp X-quang... để chẩn đoán bệnh. Khi các tổn thương sụn khớp và đầu xương đã nặng nề bệnh thường kèm theo các ảnh hưởng toàn thân: sốt, xanh xao, mệt mỏi, suy nhược, chán ăn, gầy sút, teo cơ... Tuy nhiên, nếu để trễ như vậy thì việc điều trị sẽ rất ít kết quả, khó lòng cứu người bệnh thoát khỏi tàn phế.
Do khó khăn về các thuốc đặc trị nên việc điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp ở nước ta (đặc biệt ở các vùng xa) còn chưa đầy đủ. Người bệnh mới chỉ được làm giảm đau, giảm sưng bằng các loại thuốc kháng viêm giảm đau mà chưa làm thay đổi diễn tiến tự nhiên bất lợi, dẫn tới hư hỏng các khớp và gây tàn phế.
Vì dùng thuốc kháng viêm giảm đau kéo dài nên nhiều người bệnh đã bị ảnh hưởng nặng nề của tác dụng phụ thuốc (viêm, loét, thủng, chảy máu dạ dày, loãng xương, tiểu đường, rối loạn nội tiết, suy thận...). Do đó, người bị viêm khớp dạng thấp cũng cần điều trị các biến chứng do thuốc điều trị và sửa chữa các di chứng dính khớp, biến dạng khớp bằng phẫu thuật chỉnh hình.
Điều trị bệnh bằng các loại thuốc chống thấp khớp có thể cải thiện bệnh viêm khớp dạng thấp. Việc lựa chọn thuốc, thời gian điều trị, liều thuốc, phối hợp thuốc, ngưng thuốc, thêm thuốc, đổi thuốc dựa trên mức độ bệnh, giai đoạn bệnh, tình trạng sức khỏe, đáp ứng điều trị và hoàn cảnh kinh tế của từng người bệnh... Ngưng thuốc tùy tiện, dùng thuốc không đều, không đủ liều, không theo dõi sát, bỏ dở điều trị... là những nguyên nhân làm giảm hoặc làm mất hiệu quả điều trị. Việc điều trị toàn diện bệnh viêm khớp dạng thấp cần được áp dụng càng sớm càng tốt vì đây là cách duy nhất để ngăn chặn ngay từ đầu các tổn thương sụn khớp và xương – nguyên nhân gây tàn phế cho người bệnh.
Ngoài ra, người bệnh cũng cần được điều trị hỗ trợ gồm tập luyện, dự phòng, phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, thuốc y học dân tộc, châm cứu, xoa bóp...
Theo TS – BS Lê Anh Thư / Người Lao Động
(Khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Chợ Rẫy
Người cao tuổi hay bị các bệnh xương khớp như hở sụn, loãng xương, thoái hóa khớp, viêm khớp... gây đau đớn làm hạn chế vận động và trở ngại sinh hoạt.


Tốt nhất là đi bộ và đi xe đạp tại chỗ, có tác dụng thư giãn khớp
Bệnh nhân có thể tập vài động tác như xoa bóp huyệt thận du, động tác này có tác dụng bổ thận giãn gân cơ. Đứng thẳng, úp hai bàn tay vào vùng thắt lưng, xát lên xuống 20 lần tới khi nóng lên rồi đặt hai bàn tay vào vùng hông, ngón cái hướng ra sau bấm nhẹ vào huyệt thận du (huyệt nằm cách khe giữa đốt sống thắt lưng 2 và 3 hai bên khoảng 2cm) day huyệt khoảng 20 lần theo chiều kim đồng hồ rồi day ngược lại.

Khi bị thoái hóa khớp gối thì có thể xoa nhẹ phần đùi trên khớp và phần cẳng chân dưới khớp khi ngồi và khi nằm giúp tăng cường tuần hoàn đến khớp, mỗi lần khoảng 15 phút, ngày 2 lần sáng tối.

Ngoài ra, bạn nên lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp với tình trạng sức khỏe bản thân, tốt nhất là đi bộ và đi xe đạp tại chỗ, nó có tác dụng thư giãn khớp, tránh tình trạng để cho các khớp bị ì ít hoạt động mà không cần vận động quá sức.

PGS.TS Phạm Thúc Hạnh
(Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam)
Theo Bee
Thoái hóa khớp là bệnh mãn tính thường gặp ở người trung niên và người có tuổi, do hậu quả của quá trình tích tuổi và sự chịu lực tác động thường xuyên lên khớp, ngoài ra có thể do yếu tố di truyển, nội tiết hay chuyển hoá.
Điều trị thoái hóa khớp

Thoái hóa  khớp gây đau và biến đổi cấu trúc khớp có thể dẫn đến tàn phế làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ làm chậm phát triển của bệnh, giảm đau đớn và duy trì hoạt động bình thường.

Vị trí các khớp thường bị thoái hóa: Cột sống thắt lưng chiếm: 38%; Cột sống cổ: 14%; Gối: 14%; Háng: 8%; Các ngón tay: 5 %; Các khớp khác: 21 %.

Đây là tình trạng xảy ra do sự mất cân đối giữa sự tái tạo và sự thoái hóa sụn, gồm 2 quá trình song song là: Thoái hóa phá hủy dần sụn khớp phủ ở đầu xương cùng với thay đổi cấu trúc khớp và hiện tượng viêm những tổ chức quanh khớp.

Điều trị viêm khớp chủ yếu là dùng các thuốc kháng viêm giảm đau (NSAID) nhằm mục đích giảm các triệu chứng đau và hạn chế vận động khớp. Những thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ đặc biệt trên đường tiêu hoá như chảy máu dạ dày… và thường không cải thiện được tình trạng bệnh lý của sụn khớp. Tác dụng của nhóm thuốc này chủ yếu nhằm giảm bớt viêm và cắt cơn đau. Theo GS. TS Đào Văn Phan, nguyên chủ nhiệm bộ môn Dược lý trường Đại học Y Hà Nội, ngày nay, người ta thường sử dụng Glucosamine trong điều trị thoái hóa khớp. Vì glucosamine có nhiều ưu điểm hơn hẳn NSAID. Ưu điểm lớn nhất là rất an toàn, một vài trường hợp dị ứng nhẹ. So sánh Glucosamine với NSAID cho kết luận: Giảm đau và chống viêm tương đương nhau, song sau khi ngưng sử dụng thì tác dụng giảm đau của Glucosamine sẽ tiếp tục được duy trì, nhưng đối với NSAID sẽ không còn nữa. Glucosamine an toàn hơn hẳn, không gây chảy máu dạ dày và có thể sử dụng lâu dài. Có thể phối hợp Glucosamine với NSAID trong khoảng 5-7 ngày đầu, sau đó sử dụng Glucosamine đơn thuần cho kết quả tốt hơn.

Bước đột phá trong điều trị thoái hóa khớp

Tập đoàn EARTH’S CREATION (Hoa Kỳ) chính thức đưa vào thị trường Việt Nam một sản phẩm nổi tiếng của mình trong dự phòng và điều trị thoái hóa khớp là MoveFree.



MoveFree phối hợp ba thành phần: Glucosamine 750 mg; Chondroitin 600 mg và MSM 400 mg. Ngoài Glucosamine có tác dụng như đã nói trên, thì Chondroitin (sụn vi cá mập) có tác dụng làm tăng tính đàn hồi của sụn, tăng nuôi dưỡng sụn và duy trì dịch ổ khớp; còn MSM thì làm giảm co cơ, giúp khớp cử động dễ dàng, tăng cường máu nuôi dưỡng khớp;

MoveFree được sử dụng để khôi phục lại sụn khớp bị tổn thương trong các bệnh khớp có tổn thương sụn như: Thoái hoá khớp, thấp khớp,viêm khớp, chấn thương khớp, gút…

MoveFree rất hiệu quả trong điều trị và dự phòng thoái hóa khớp. Hiệu quả giảm đau thường bắt đầu sau 10-15 ngày sử dụng. Khi đau nhiều, bệnh nhân nên kết hợp MoveFree với một thuốc giảm đau (NSAID) ví dụ như Meloxicam, Tenoxicam… trong một tuần đầu tiên, sau đó tiếp tục sử dụng MoveFree thêm 3-4 tuần nữa thì sẽ cho kết quả cao nhất.

Theo ông Donald Passwater, đại diện nhà sản xuất Earth’s Creation, MoveFree đã được xuất khẩu đến 75 quốc gia trên thế giới.

Theo lời khuyên của  Bác Sỹ, bệnh nhân nên sử dụng trong ít nhất 4-6 tuần mỗi đợt, với liều thông thường là 2 viên/ ngày, mỗi lần một viên. Mỗi năm bốn đợt, hoặc sử dụng liên tục.
Hồng Hương

MoveFree đã được nhiều người Việt Nam sử dụng và cho hiệu quả cao. Sản phẩm đã chính thức có mặt tại Việt Nam.

Công ty Mỹ Việt (VNUS), nhà nhập khẩu MoveFree, có mạng lưới phân phối đến hầu hết các nhà thuốc tại Tp. HCM, Hà Nội và có đại lý tại các tỉnh thành trên cả nước.
Theo 24h
Bạn sẽ không phải lo lắng về chứng viêm khớp dạng thấp nếu biết cách “chung sống hòa bình” với nó. Sau đây là những điều “thú vị” quanh chứng bệnh này có thể giúp bạn yên tâm hơn khi bị mắc viêm khớp dạng thấp.



Ảnh minh họa
Ảnh hưởng không giống nhau

Có nhiều loại viêm khớp mà phản ứng từ hệ miễn dịch gây ra đau ở các khớp và khó vận động. Ở viêm khớp dạng thấp, hệ miễn dịch hướng đến mô hoạt dịch ở các khớp.

Đây là một loại bệnh nhưng viêm khớp dạng thấp có ảnh hưởng khác nhau ở những người khác nhau. Một số ca nhẹ kéo dài một vài tháng hoặc một vài năm, nhưng sau đó sẽ biến mất.

Vẫn có một số trường hợp mắc bệnh khá nặng gây ra các cơn đau thường xuyên và phá hủy các khớp.

Một tin tốt lành là những năm gần đây, với những hiểu biết sâu sắc về căn bệnh này mà các bác sỹ đã có thể tìm ra các cách chữa trị khác nhau cho tất cả các loại viêm khớp dạng thấp.

Chữa trị là vấn đề ở từng cá nhân

Do các triệu chứng viêm khớp dạng thấp là khác nhau ở mỗi người nên cũng có những cách chữa trị khác nhau.

Bác sỹ sẽ trực tiếp thăm khám cho bạn để tìm ra cách chữa trị tốt nhất để xóa tan cơn đau, làm nhẹ chỗ viêm và ngăn ngừa sự phá hủy khớp tạm thời.

Phong cách sống thay đổi như chế độ ăn và các bài tập thể dục có thể giúp đỡ người bệnh, tuy nhiên hầu hết đều cần dùng đến thuốc để kiểm soát bệnh.

Phẫu thuật có thể giúp một số ca nặng

Một số loại phẫu thuật có thể chữa trị viêm khớp dạng thấp bao gồm chỉnh sửa các khớp và gân bị phá hủy hoặc thay thế chúng. Phương pháp phẫu thuật có thể an toàn và hiệu quả hơn.

Xóa tan lo lắng = xóa tan cơn đau

Lo lắng và áp lực tăng nguy cơ bị viêm khớp dạng thấp và thúc đẩy bệnh phát triển nhanh hơn.

Do vậy, bên cạnh các biện pháp chữa trị thì các “kỹ thuật thư giãn” cũng là những yếu tố xóa tan cơn đau và hồi phục hoạt động cho cơ thể. Bạn có thể hỏi bác sỹ một số bài tập để thư giãn.

Hệ xương có thể gặp nguy hiểm

Bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp có thể bị loãng xương và dễ gãy. Có thể là do các loại thuốc dùng để điều trị kháng viêm ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên, phần xương gần khu vực khớp bị ảnh hưởng thường yếu nhất, do vậy gãy xương có thể xảy ra như hậu quả trực tiếp từ bệnh viêm khớp dạng thấp.

Bổ sung chế độ ăn giàu can-xi và vitamin D sẽ giúp bạn có bộ xương chắc khỏe. Ngoài các sản phẩm từ sữa, rau xanh, cá nước mặn và lòng đỏ trứng cũng là lựa chọn hoàn hảo cho bạn.

Từ bỏ thói quen hút thuốc lá

Thuốc lá không chỉ có hại cho phổi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Theo nghiên cứu đăng tải trên trang Annals of the Rheaumatic Diseases, các nhà nghiên cứu cho biết rằng 1/3 các trường hợp viêm khớp dạng thấp nặng có liên quan đến hút thuốc lá.

Viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến tim

Cũng giống như hàm lượng cholesterol hay huyết áp cao, viêm khớp dạng thấp cũng có thể khiến tim bạn bị ảnh hưởng nguy hiểm. Điều này được giải thích do các khớp bị sưng sẽ lan rộng ra khắp cơ thể và dần đến tim. Trong một nghiên cứu gần đây trên tạp chí Journal of Internal Medicine, nguy cơ bị đau tim tăng 60% ở những người bị mắc chứng viêm khớp dạng thấp.

Hoàn toàn có thể “sống hòa bình” với chứng bệnh này

Duy trì các khớp luôn hoạt động sẽ có thể giúp xóa tan cơn đau và bảo vệ những bạn khỏi những biến chứng như bệnh tim. Hãy dành 30 phút mỗi ngày để có những bài tập luyện chuyên sâu vừa phải. Tập trung vào 3 loại vận động sau:

- Hoạt động tăng cường nhịp hô hấp và nhịp tim mà không ảnh hưởng đến các khớp như bơi, đi

bộ.

- Hoạt động tăng cường sức mạnh cho cơ khớp nhưng các bài tập cân nặng nhằm giảm áp lực

lên các khớp.

-Hoạt động cân bằng như đứng bằng một chân để giảm nguy cơ bị ngã.

Tuy nhiên cần có sắp xếp hợp lý và thời gian nghỉ ngơi phù hợp nhất.

Theo SKĐS
Trong môi trường lạnh, thân nhiệt của người mắc bệnh viêm khớp thấp hơn còn khi chuyển sang môi trường ấm áp, thân nhiệt của người mắc bệnh viêm khớp lại tăng chậm hơn so với người bình thường.



Giữ ấm là cách phòng bệnh quan trọng đối với người mắc viêm khớp
Trên thực tế, hiện tượng đau nhức do thay đổi của thời tiết không có nghĩa là bệnh viêm khớp nặng thêm. Khi thời tiết ấm lên thì đau nhức cũng dần dần theo đó mà mất đi. Tuy nhiên, để giảm bớt đau nhức, người bệnh nên chuẩn bị sức khỏe khi nghe tin dự báo thời tiết sắp chuyển lạnh như tăng cường giữ ấm cơ thể, tránh lao động quá sức….

Ngoài ra, có thể tập luyện hợp lý để cải thiện chức năng của khớp hoặc có thể mát-xa, dùng phương pháp trị liệu hoặc uống thuốc để giảm nhẹ triệu chứng đau nhức.

Thời tiết lạnh làm cho độ kết dính niêm dịch của khớp tăng lên, tăng thêm trở ngại cho các hoạt động của khớp, khiến người bệnh viêm khớp thấy đau nhức các khớp.

Lúc này, để giảm đau cần giảm hoạt động và áp lực cho khớp như dùng gậy chống, vịn tay, mang găng hay miếng dán ở các khớp xương; với người thừa cân thì cần giảm cân.

Người bị viêm khớp dạng phong thấp rất cần sự trợ giúp của người nhà, không nên vì điều trị khó khăn mà mất đi lòng tin. Thực tế, chỉ cần chú ý một số chi tiết nhỏ là có thể khống chế được bệnh tình. Khi bệnh phát tác cấp tính thì cần nghỉ ngơi điều độ, giảm bớt hoạt động. Khi bệnh tạm lui thì nên tập luyện giúp duy trì chức năng các khớp.

Người bị viêm khớp khi ăn uống cần phải chú ý bổ sung đầy đủ protein và các loại vitamin, đặc biệt là vitamin C, D; đồng thời ăn nhiều thực phẩm hàm chứa can-xi như sữa, chế phẩm từ đậu, tránh ăn các thực phẩm kích thích, đông lạnh. Nếu trong khi uống thuốc bị phù thũng và huyết áp cao thì nên hạn chế lượng muối nạp vào cơ thể.

Còn có một số thực phẩm kỵ với người mắc bệnh viêm khớp dạng phong thấp bởi vì những thực phẩm này sẽ sinh ra các chất có thể làm tăng gánh nặng cho khớp, trong đó bao gồm các thực phẩm chất béo cao, hải sản (ví dụ như hải sâm, tảo biển, cá biển, tôm biển…) và các sản phẩm quá chua, quá mặn (ví dụ như lạc, rượu trắng, các loại rau củ muối, trứng muối, cá muối vv).


Theo Xã luận
Vị thuốc lô hội (A loe) là dịch cô đặc của lá cây lô hội. Lô hội được dùng cả trong đông y và tây y. Theo tài liệu cổ, lô hội vị đắng, tính hàn vào 4 kinh can, tỳ, vị và đại tràng. Có tác dụng sát khuẩn, thông tiện, thanh nhiệt, lương can. Theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi thì lô hội có hai tác dụng: liều nhỏ (0,05- 0,10g) lô hội là một vị thuốc bổ, giúp sự tiêu hóa; liều cao nó là vị thuốc tẩy mạnh, nhưng tác dụng chậm gây xung huyết ở các cơ quan bụng, nhất là ở ruột già; liều quá cao (8g) có thể ngộ độc chết người. Hiện nay về chứng thấp khớp và viêm đa khớp, người ta đã chứng minh: thoa gel tươi (chất nhớt) trong lá lô hội có tác dụng làm giảm sưng và giảm đau trong các trường hợp sưng đau do ngã trật khớp hoặc thấp khớp. Trong lô hội có aloetin A là một glycoprotein được chứng minh có tác dụng viêm khớp trên chuột gây viêm bằng sarrog carrageene. Thông thường tác dụng của lô hội chỉ tốt khi dùng tươi. Còn dùng rượu ngâm lô hội nên thực hiện trong một liệu trình từ 7 đến 15 ngày rồi nghỉ một thời gian mới dùng tiếp. Theo thư bạn nói bị viêm đa khớp, tôi không hiểu bạn đã khám và điều trị ở đâu, đã dùng những thuốc gì, tiến triển ra sao. Theo tôi, bạn nên đi khám tại chuyên khoa xương khớp để được tư vấn điều trị cụ thể. Còn dùng rượu ngâm lô hội hay rượu gừng cũng là để hỗ trợ và nên kết hợp với thuốc điều trị khớp khác.
BS. Đỗ Minh Hiển
Thoái hoá khớp gối là những biến đổi của hiện tượng lão suy dẫn tới tăng sinh chất xương và hình thành “gai xương”. Đây là một bệnh rất thường gặp ở tuổi trung niên và người cao tuổi.

Biểu hiện khớp gối đau, đi lại khó khăn thường phải chống tay vào mới đứng được, nhất là khi lên xuống cầu thang, khi ngồi xuống đứng lên. Những triệu chứng này sau khi được điều trị và nghỉ ngơi thì có thể giảm nhiều. Nhưng nếu lại lao động quá độ hoặc thời tiết âm u lạnh giá thì có thể tăng nặng. Bệnh tiến triển dần thành mạn tính. Trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn tới teo cơ, biến dạng khớp, ảnh hưởng tới chất lượng sống sinh hoạt của người bệnh. Đây chính là viêm khớp dạng phì đại hay viêm khớp dạng thoái hoá.

Nguyên nhân dẫn tới viêm khớp xương rất nhiều: tổn thương, lao động mệt mỏi, bị lạnh, béo mập, ít hoạt động, dinh dưỡng thiếu, môi trường lao động quá ẩm ướt lạnh giá....

Đông y cho rằng, người ta đến tuổi trung niên chức năng gan thận không đầy đủ, gân xương mất nuôi dưỡng, lại thêm mệt mỏi kéo dài, giá lạnh xâm nhập, khí huyết lưu thông bị ngăn cản gây ra các chứng bệnh về khớp. Đông y cũng có nhiều phương pháp điều trị. Bài này xin giới thiệu cùng bạn đọc một số món ăn bài thuốc điều trị chứng bệnh thoái hóa khớp gối.


Khớp bình thường. -                                   Khớp bị thoái hóa.
Nguyên tắc ăn uống:

Tại giai đoạn phát cơn, khớp sưng đau rõ rệt, có khi kèm nóng, đỏ ở các mức độ khác nhau, nên ăn uống thanh đạm, chủ yếu các thức ăn giải nhiệt, thông ẩm như dưa hấu, bí xanh, ngó sen, đậu phụ... kiêng ăn các thức cay nóng, nướng, quay trợ hoả hoặc mỡ béo, ngọt sinh ẩm như ớt, rượu, thịt mỡ, thịt dê...

Ở giai đoạn giải trừ dần, do căn bản là gan thận không đầy đủ, gân xương mất nuôi dưỡng, do vậy ăn uống nên bồi ẩm, chủ yếu là các thức ăn bổ lách tiêu ẩm như hồng táo, ý dĩ nhân, thịt chó, thịt dê...

Bệnh này là sự suy thoái dạng toàn thân biểu hiện cục bộ ở khớp gối, nên chữa trị cần chú ý chăm sóc toàn thân như ăn sữa bò, sữa đậu nành, xích đậu, đại táo...

Đây là bệnh có tổn thương sụn khớp nên cần ăn nhiều thức ăn có giàu chất sụn và có lợi cho việc sửa chữa khôi phục sụn khớp như vây cá, tai lợn, gân móng khuỷu, xương sườn thực phẩm có mai vỏ, như cua, tôm tép, trứng ngâm dấm...

Một số món ăn bài thuốc:

Bài 1: Bí xanh 500g, xương sườn của lợn 250g, nấu canh ăn, nên ăn nhạt, dùng chữa giai đoạn phát cơn, chủ yếu là giai đoạn sưng, ít nóng đỏ, hoặc giai đoạn giải trừ bệnh để giữ gìn sức khỏe, phòng tái phát.

Bài 2: Mướp tươi 250g, đậu phụ 250g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn, dùng chữa giai đoạn phát cơn cấp tính có sưng, nóng đỏ đau ở mức độ nhẹ.


Canh bí xanh sườn lợn.
Bài 3: Đậu xanh 100g, ý dĩ nhân 50g, đường cát, hoa quế vừa đủ, nấu canh ăn điểm tâm, sớm tối ngày 2 lần, dùng chữa giai đoạn cấp tính, sưng nóng đỏ đau rõ rệt, hạn chế cử động.

Bài 4: Hồng táo 10 quả, ý dĩ nhân 50g, không dùng đường nấu canh ăn điểm tâm, chia 2 lần sớm tối ăn hết, dùng chữa, giai đoạn giải trừ dần, sưng đau không còn rõ nữa, chỉ còn mệt mỏi.

Bài 5: Ý dĩ nhân 50g, đậu xanh 25g, bách hợp tươi 100g. Bách hợp tẽ cánh, xé bỏ màng trong, dùng chút muối tinh bóp nhẹ, rửa sạch để bỏ vị đắng, đậu xanh và ý dĩ nhân rửa sạch, đun sôi, đun nhỏ lửa tới khi đậu nhừ, sau thêm bách hợp cùng nấu tới đặc. Khi ăn thêm chút đường trắng, sớm tối mỗi lần ăn 1 bát con, dùng chữa âm hư, nóng trong, khớp gối sưng nóng đỏ đau nhiều.

Bài 6: Bột bạch phục linh 20g, xích tiểu đậu 50g, đại táo 10 quả, gạo tẻ 100g. Xích tiểu đậu nấu tới mười phần chín năm, rồi thêm gạo tẻ và đại táo vào nấu cháo, khi sắp đặc, thêm bột phục linh vào nấu thành cháo đặc, dùng chữa khớp gối sưng lan, hơi nóng.

Bài 7:  Nam ngũ gia bì 50g, gạo nếp 500g, ngũ gia bì rửa sạch, thêm nước ngâm no, sắc nước, cứ 30 phút lấy nước sắc một lần, cộng lại 2 lần, đem nước đó nấu với gạo nếp thành cơm nếp hơi khô, để nguội, thêm men rượu vừa đủ, trộn đều, lên men thành rượu cái. Mỗi ngày lượng vừa đủ ăn trong bữa ăn, dùng chữa giai đoạn giải trừ dần, có đau mỏi không chịu được gió lạnh.

Bài 8: Đậu tương 30g, hồng trà 2g, muối ăn 0,5g, nước 500ml. Nấu đậu tương tới chín, lấy nước, thêm hồng trà, muối ăn đun sôi. Mỗi lần uống 100ml, chia 4 lần, sau ăn đậu tương, mỗi ngày 1 thang, có tác dụng thông ẩm tiêu sưng, dùng chữa khớp gối sưng khá rõ nhưng không nóng đỏ.

BS. Thu Hương
Theo SKĐS
Thời tiết thay đổi, khí hậu lạnh là những yếu tố ngoại cảnh tác động lớn đến các khớp trong cơ thể, nhất là khớp gối và cột sống. Biểu hiện đau là dấu hiệu dễ nhận biết nhất, khi các khớp đã bị thoái hóa thì đau càng rõ ràng hơn, gây tâm lý lo lắng và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sống của người bệnh. Tuy nhiên, nếu thực hiện những chỉ dẫn dưới đây, người bệnh vẫn có những biện pháp để loại trừ chứng đau do thoái hóa khớp.

Phương pháp điều trị thoái hóa khớp

Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động ở khớp, cần phải đi khám bệnh để các bác sĩ đánh gía tình trạng bệnh và cho các điều trị thích hợp. Việc điều trị sẽ bao gồm:

Điều trị không dùng thuốc: tăng cường các kiến thức về sức khỏe, đặc biệt sức khỏe xương khớp; vận động, tập luyện, làm việc vừa sức; ăn uống dinh dưỡng hợp lý; tránh dư cân, béo phì, tránh mang vác vật nặng, tránh tăng áp lực cho sụn khớp và đĩa đệm; phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý tại hệ thống xương khớp.

Điều trị bằng thuốc: điều trị triệu chứng đau và viêm cho người bệnh bằng thuốc giảm đau và các thuốc kháng viêm; làm chậm quá trình thoái hóa bằng các thuốc có thể cải thiện được tiến triển của bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ với nhiều thuốc hữu hiệu: glucosamine sulfate dạng tinh thể, diacerein, acid hyaluronic… Các thuốc này đều cần được điều trị đủ liều theo hướng dẫn của các thầy thuốc.

Phẫu thuật: Trong những trường hợp bệnh nặng, không đáp ứng với điều trị nội khoa cần xem xét việc điều trị ngoại khoa kết hợp: mổ nội soi để cắt xương, loại bỏ dị vật, sửa trục khớp; mổ thay khớp nhân tạo khi khớp bị mất chức năng.


Thoái hóa cột sống thắt lưng.
Các cách phòng ngừa thoái hóa khớp

Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi còn trẻ cần tập thể dục đều đặn, tránh bị dư cân, tránh những động tác quá mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống. Điểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là các biện pháp được các nhà chuyên môn khuyến cáo:

- Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp, tránh dư cân béo phì.

- Tập vận động thường xuyên và vừa sức: luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Đó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương và giảm khả năng té ngã trong sinh hoạt và lao động.

- Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng và cân bằng: Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

- Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng và tránh quá sức: khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay và khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân và nên tận dụng thêm sự hỗ trợ (của dụng cụ hay người khác).

- Giữ nhịp sống thoải mái và thường xuyên thay đổi tư thế: Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

- Điều trị tích cực các bệnh lý xương khớp mắc phải.

Biểu hiện của thoái hóa khớp

Đau:Triệu chứng sớm nhất của thoái hóa khớp là đau khi vận động, mới đầu chỉ đau khi khớp hoạt động, nghỉ sẽ hết đau; sau đó có thể đau âm ỉ, liên tục cả khi nghỉ, đau trội hơn khi vận động. Nếu thoái hóa khớp gối, người bệnh đau nhiều khi đi lại, đứng lên ngồi xuống khó khăn, nhất là lúc lên xuống thang gác hoặc đang ngồi xổm đứng lên, có khi đau quá bị khuỵu xuống đột ngột. Nếu thoái hóa cột sống thắt lưng, người bệnh bị đau âm ỉ ở vùng thắt lưng và thường đau trội lên về chiều sau một ngày làm việc phải đứng nhiều hay lao động nặng, lúc nằm nghỉ đau sẽ giảm. Khi đau, bệnh nhân làm các động tác cúi, nghiêng, ngửa hoặc xoay người rất khó khăn. Nếu thoái hóa khớp háng, người bệnh đau ở vùng bẹn, vùng trước trong đùi, có thể đau cả vùng mông lan xuống mặt sau đùi và dọc theo đường đi của thần kinh tọa.

Hạn chế vận động:Sau triệu chứng đau là tình trạng hạn chế vận động. Nếu bị thoái hóa khớp gối, các động tác gấp và duỗi thẳng chân bị hạn chế, đứng lên ngồi xuống khó khăn, có thể không ngồi được. Nếu bị thoái hóa khớp vai sẽ hạn chế các động tác đưa tay ra trước, ra sau, quay tay và không làm được một số động tác đơn giản như gãi lưng, chải đầu. Nếu bị thoái hóa khớp háng, người bệnh đi khập khiễng, giạng hay khép háng đều khó khăn, khó gập đùi vào bụng.

Tiếng kêu tại khớp:vận động khớp thường thấy tiếng lạo xạo hoặc lục khục.

Kèm theo có thể thấy đầu xương bị phì đại, lệch trục khớp, teo cơ…

PGS.TS.BS. Lê Anh Thư
(Khoa Nội cơ xương khớp - BV Chợ Rẫy)
Theo SKĐS
Viêm khớp phản ứng là một hội chứng đặc trưng bởi tình trạng viêm khớp vô khuẩn ở một khớp hay vài khớp, sau một bệnh nhiễm khuẩn. Triệu chứng của bệnh gồm: viêm một khớp hoặc vài khớp, thường gặp: khớp gối, cổ chân và ngón chân; các khớp: vai, khuỷu và cổ tay hiếm gặp. Viêm khớp thường kèm theo viêm nơi bám tận của gân cơ gây đau nhất là gân gót. Bệnh nhân có sốt nhẹ, mệt mỏi, chán ăn, sút cân. Tổn thương da tăng sừng ở lòng bàn tay, bàn chân, bìu, da đầu giống mụn mủ của vảy nến. Viêm niêm mạc miệng, lưỡi, bao quy đầu: thường nông, không đau tự lành không để lại sẹo. Viêm kết mạc, viêm màng bồ đào trước. Điều trị: dùng thuốc kháng viêm, vật lý trị liệu: nghỉ ngơi tại giường; tập vận động để ngăn ngừa teo cơ, cứng khớp; chườm lạnh tại chỗ để giảm đau. Kháng sinh chỉ dùng khi bệnh nhân có biểu hiện nhiễm khuẩn đường sinh dục hay tiêu hóa. Bôi cortiod và pomat acid salicylic chữa tổn thương da ở bàn tay, chân…

BS. Trần Thanh Tâm
Theo SKĐS
Thoái hóa khớp (THK) bàn tay là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân.

Ở Việt Nam, THK bàn tay chiếm tỷ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí THK thường gặp.

Ai hay bị thoái hóa khớp bàn tay?

Đầu tiên, THK thường đi kèm với người cao tuổi. Tuổi trung bình của bệnh nhân THK bàn tay là 60 – 65 tuổi. Tuy nhiên từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THK bàn tay. Tỷ lệ bệnh tăng dần theo tuổi, cao hơn ở nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 - 79 tuổi.


Tuổi càng cao, lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hoá sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp. Ngoài ra, người già vẫn phải làm việc để kiếm sống, chăm lo các công việc trong gia đình như giặt giũ, bế cháu, các công việc nội trợ khác. Họ lao động chân tay là chủ yếu, tạo điều kiện cho bệnh phát triển.
Bệnh cũng thường gặp ở nữ giới, gấp 3 lần so với nam giới. Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi hormon như estrogen dẫn đến thay đổi tế bào sụn khớp.

Những người béo phì cũng dễ bị THK bàn tay. Có tới 1/3 bệnh nhân THK bàn tay bị béo phì. THK bàn tay thường xuất hiện sau một số bệnh lý bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường...

Cách nhận biết

Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn vì đa số trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất khi cầm, nắm, mang, vác hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay, khớp ngón xa hay khớp ngón gần, khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan đến việc sử dụng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm, nắm đồ vật của bàn tay, do đó dễ bị tổn thương hơn. Hiện nay người ta đã chứng minh vai trò chắc chắn của yếu tố nghề nghiệp trong THK gốc ngón tay cái ở phụ nữ. Người bệnh than phiền đau khớp bàn tay 1 bên hoặc cả 2 bên, đau kiểu cơ học, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng lên khi mặc quần áo, khi cài khuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào ly và đỡ đau khi nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, người bệnh thấy khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 – 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở nên khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo khi cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ.

Ở các giai đoạn muộn, có 1/3 số bệnh nhân có các ngón tay bị biến dạng. Đó là do sự có mặt của các chồi xương, mọc ở khớp ngón xa (hạt Heberden) hay ở khớp ngón gần (hạt Bouchad), gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

Các xét nghiệm máu thường bình thường. Có thể sử dụng thêm chụp X-quang bàn tay để chẩn đoán THK bàn tay. Đây là kỹ thuật đơn giản, ít tốn kém, được sử dụng để đánh giá mức độ tổn thương của THK trong nhiều năm nay. Có 4 dấu hiệu cơ bản của THK bàn tay là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương.

Phòng tránh

Tránh lao động, mang vác nặng. Không nên sử dụng đôi tay trong thời gian liên tục, quá dài. Các thành viên trong gia đình và cộng đồng xã hội nên quan tâm, chia sẻ bớt gánh nặng của người cao tuổi. Tăng cường việc sử dụng máy móc hỗ trợ cho lao động và sinh hoạt nếu có thể. Việc phát hiện sớm THK bàn tay là cần thiết vì sẽ giúp điều trị sớm, giảm thiểu các hậu quả của bệnh. Khi có các dấu hiệu như đau khớp bàn tay, biến dạng khớp hay cứng khớp buổi sáng, hạn chế vận động bàn tay, nên đến khám chuyên khoa xương khớp để được tư vấn và điều trị kịp thời

PGS.TS.BS. NGUYỄN VĨNH NGỌC
Theo SKĐS
Viêm khớp dạng thấp là bệnh khớp mạn tính thường gặp nhất trong số các bệnh khớp viêm. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, song thường gặp ở tuổi 30-50.

Tuy không gây tử vong, nhưng viêm khớp dạng thấp gây mất chức năng vận động của khớp, khiến bệnh nhân nhanh chóng tàn phế với rất nhiều biến chứng và ảnh hưởng đến tuổi thọ. Việc điều trị bệnh sớm và đúng cách có thể giúp lấy lại sức khỏe và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

Viêm khớp dạng thấp được coi là bệnh tự miễn với nhiều yếu tố ảnh hưởng như môi trường, cơ địa, di truyền, hoặc hoóc môn. Biểu hiện đặc trưng là hiện tượng viêm các khớp ngoại biên, cụ thể là viêm màng hoạt dịch, dẫn đến hiện tượng hủy khớp, dính khớp. Các khớp tổn thương thường là khớp ở bàn tay, bàn chân, khuỷu, gối, cổ chân..., cả hai bên. Tình trạng viêm khớp diễn biến kéo dài, có những đợt tiến triển cấp tính và có xu hướng tăng dần. Tuy nhiên, do chưa nhận thức đúng về bệnh, khi thấy đau khớp, nhiều người thường coi đó chỉ là các hiện tượng nhức mỏi khớp thông thường do thời tiết, lao động nặng..., không đi khám. Điều này khiến cơ hội có thể can thiệp điều trị nhằm bảo toàn chức năng vận động của khớp bị bỏ qua, tình trạng bệnh ngày càng xấu. Nếu khớp đã bị hủy hoại nặng, dính khớp thì dù được điều trị tích cực, bệnh nhân cũng khó lòng phục hồi chức năng vận động của khớp.


Theo một số nghiên cứu, sau 5 năm bị bệnh, chỉ 40% số bệnh nhân còn chức năng khớp bình thường.
Ngoài ra, bệnh viêm khớp dạng thấp còn có các biểu hiện toàn thân (gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu) cũng như biểu hiện về tim mạch và nhiều cơ quan khác. Việc điều trị thuốc không đúng, đặc biệt là lạm dụng các thuốc điều trị triệu chứng như chế phẩm chứa corticoid, khiến bệnh nhân có thể gặp nhiều tai biến (tổn thương dạ dày, tá tràng, tăng huyết áp, đái tháo đường, loãng xương, nhiễm khuẩn, suy thượng thận...).

Hiện viêm khớp dạng thấp vẫn chưa thể điều trị khỏi hoàn toàn. Mục đích cao nhất của điều trị bệnh là đạt được sự lui bệnh lâm sàng, giảm đau, giảm các triệu chứng khó chịu, ngăn ngừa các biến dạng và giữ gìn những chức năng bình thường của khớp. Trước đây các loại thuốc như Diclofenac, Ibuprofen, Meloxicam... hay corticoid được sử dụng để giảm đau và viêm tức thì, giúp bệnh nhân cảm thấy giảm bệnh. Tuy nhiên, hai nhóm này thực tế không thật sự đẩy lui bệnh. Các tổn thương khớp vẫn tiếp tục phát triển, khiến bệnh nhân dần trở nên tàn phế, cứ ngừng thuốc là khớp lại sưng đau. Bên cạnh đó, chúng còn có thể gây một số tác dụng phụ trong quá trình sử dụng thuốc như: viêm lóet dạ dày, tá tràng, chảy máu dạ dày - ruột, thủng dạ dày - ruột, các tác dụng phụ lên hệ tim mạch, thận gan… Với những trường hợp nặng, khi khớp mất chức năng, có thể phẫu thuật thay khớp nhân tạo. Tuy nhiên, phẫu thuật không làm thay đổi diễn tiến bệnh do viêm khớp dạng thấp có tổn thương rất nhiều khớp.

Những năm gần đây, các thuốc điều trị sinh học (Biological Therapy) giúp việc điều trị bệnh có hiệu quả cao, tác dụng nhanh, và dung nạp tốt hơn. Trong số các thuốc điều trị sinh học, những loại chứa Tocilizumab là thuốc đầu tiên trong nhóm ức chế thụ thể IL-6 (một tín hiệu hóa học trong cơ thể chịu trách nhiệm thông tin đau và viêm hệ thống ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp), được phép sử dụng để điều trị viêm khớp dạng thấp tại châu Âu (1/2009), Mỹ (1/2010) và tại Việt Nam (4/2011). Các nghiên cứu cho thấy Tocilizumab giúp giảm nhanh triệu chứng, hiệu quả điều trị tăng theo thời gian ở tuần thứ tư trở đi.

Với việc điều trị sớm bằng các thuốc như methotrexat kết hợp thuốc điều trị sinh học như Tocilizumab sẽ giúp kiểm soát được bệnh. Đây là cách để tránh tổn thương khớp không hồi phục, cải thiện triệu chứng, hạn chế tàn phế. Các thuốc này nói chung khá an toàn nếu được theo dõi, quản lý tốt. Trong mọi trường hợp người bệnh vẫn phải tuân thủ điều trị, tái khám đều đặn và kết hợp chặt chẽ với thầy thuốc.

PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Ngọc Lan
Trưởng Khoa Cơ Xương Khớp, BV Bạch Mai
Theo Vnexpress
Một nghiên cứu gần đây cho thấy, những phụ nữ nuôi con bằng sữa của mình ít có khả năng bị viêm khớp mãn tính hơn những người không cho con bú.

"Ngoài tác dụng làm giảm nguy cơ ung thư vú và buồng trứng, giảm nguy cơ bị viêm khớp mãn tính có thể là một lợi ích nữa của việc cho con bú", tiến sĩ Elizabeth Wood Karlson tại Bệnh viện Brigham and Women, Boston, Mỹ, tuyên bố.

Karlson và cộng sự đã phân tích số liệu của nhiều phụ nữ để tìm hiểu vai trò của các yếu tố hoóc môn đối với bệnh viêm khớp. Họ nhận thấy những bà mẹ cho con bú với tổng thời gian từ 12 tới 23 tháng trong cuộc đời giảm được 30% nguy cơ bị viêm khớp mãn tính, còn những người cho con bú từ 24 tháng trở lên giảm được 50% nguy cơ.

Kết quả phân tích cũng cho thấy, chu kỳ kinh nguyệt không đều và tình trạng có kinh nguyệt sớm cũng làm tăng nguy cơ bị viêm khớp mãn tính. Song tình hình sử dụng thuốc tránh thai, số con và số tuổi của phụ nữ trong lần sinh nở đầu tiên không có tác động gì tới nguy cơ mắc bệnh.

Việt Linh (theo Reuters)
TTO - Những người có xu hướng mắc bệnh viên khớp di mặt truyền đồng thời vừa hút thuốc thì sẽ ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm hơn trong tương lai. Các nhà nghiên cứu cảnh báo.

Mọi người đều biết rằng những người hút thuốc thường có nguy cơ mắc bệnh viên khớp cao và bệnh viên khớp có thể di truyền sang người trong gia đình.

Một nhóm người Thuỵ Điển từ viện Karolinska đã cho thấy rằng kết hợp với hai yếu tố rủi ro trên sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh của con người lên đến 15 lần.

Các chuyên gia đã kết luận rằng đối với bệnh viêm khớp và thấp khớp, điều quan trọng là phải từ bỏ thuốc lá, như vậy mới hy vọng bảo vệ được sức khoẻ.

NHƯ BÌNH(Theo BBC)
ĐẠI CƯƠNG

Sưng đau các khớp theo Ðông y thuộc phạm vi chứng tý. Bệnh thuộc hệ cơ, khớp xương ở tứ chi và cơ nhục.

Tý có nghĩa là không thông của kinh lạc, khí huyết gây ra bệnh lý ở các phần kể trên.

Chứng tý tùy nguyên nhân gây bệnh khác nhau mà chia làm 3 loại: Phong thắng gọi là hành tý; Hàn thắng gọi là thống tý; Thấp thắng gọi là trước tý.

NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

Nguyên nhân do thời tiết ẩm thấp hoặc tiếp xúc, lao động, nằm ngồi nơi ẩm ướt, hay sau khi làm việc mệt nhọc, bị mưa, rét làm cho ba thứ khí: Phong, Hàn, Thấp nhân lúc chính khí hư yếu, tấu lý sơ hở, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể, lưu lại ở kinh lạc, gân cơ, xương khớp làm cho khí huyết không lưu hành được mà phát ra bệnh.

BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ

1. Hành tý: Do phong tà là chính

Triệu chứng lâm sàng: Sưng đau hoặc đau mỏi các khớp, gân cơ, thớ thịt, đau di chuyển, có khi hết hẳn nhưng tự nhiên lại xuất hiện trở lại; sợ gió, rêu lưỡi trắng, mạch phù.

Phương pháp điều trị: Tán phong, khu hàn, trừ thấp.

Bài thuốc: Bài phòng phong thang:

Phòng phong 16g, hoàng cầm 12g, xuyên quy 16g, cát căn 16g, xích phục linh 12g, khương hoạt 10g, hạnh nhân 8g, quế chi 8g, tần giao 12g, cam thảo 6g.

Cách bào chế: Hạnh nhân bỏ vỏ, xuyên quy tẩm rượu, quế chi cạo bỏ vỏ. Mười vị trên + 2.000ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 250ml.

Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

2. Thống tý: Do hàn là chính

Triệu chứng lâm sàng: Sưng đau các khớp, cơ, xương. Ðau cố định dữ dội, ít hoặc không di chuyển. Tại vùng sưng đau không nóng, không đỏ, chân tay lạnh, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng. Mạch phù, trì hoặc nhu hoãn.

Phương pháp điều trị: Tán hàn, khu phong, trừ thấp, hành khí, hoạt huyết.

Bài thuốc: Ðộc hoạt tang ký sinh gia giảm.

Ðộc hoạt 12g, đương quy 12g, ngưu tất 8g, tang ký sinh 8g, thục địa 12g, nhân sâm 8g, tần giao 8g, thược dược 12g, phục linh 12g, phòng phong 8g, xuyên khung 6g, cam thảo 4g, tế tân 4g, đỗ trọng 8g, quế tâm 6g.

Cách bào chế: Các vị trên + 1.900ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 300ml.

Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

3. Trước tý: Do thấp tà là chính

Triệu chứng lâm sàng: Các khớp đau mỏi, nặng nề, vận động khó khăn, cảm giác tê, đôi khi sưng đau nếu thấp phối hợp với nhiệt có sưng nóng, người mệt mỏi rã rời. Rêu lưỡi dính, nhớt. Mạch nhu hoãn.

Phương pháp điều trị:

+ Nếu thiên về thấp hàn: Táo thấp khu hàn, tán phong.

+ Nếu thiên về thấp nhiệt: Táo thấp thanh nhiệt, tán phong.

Bài thuốc

+ Nếu thiên về thấp hàn: Bài trừ thấp quyên tý thang.

Thương truật 16g, trần bì 8g, bạch truật 16g, cam thảo 6g, phục linh 16g, khương hoạt 12g, trạch tả 16g, sinh khương trấp 4 giọt, trúc lịch 4 thìa cà phê.

- Cách bào chế: Thương truật tẩm nước gạo sao. Bảy vị trên (trừ sinh khương và trúc lịch) + 1.500ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 250ml.

- Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

+ Nếu thiên về thấp hàn, dùng bài Nhị diệu thang: thương truật 48g, hoàng bá 48g.

- Cách bào chế: Thương truật tẩm nước gạo sao, hoàng bá tẩm rượu vi sao. Hai vị trên + nước 1.200ml, sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.

- Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

Chú ý: Trong quá trình biện chứng luận trị cần lưu ý 3 loại: phong, hàn, thấp tý thường phối hợp với nhau, nhưng khi thấp đã hóa nhiệt hoặc hợp với ngoại nhiệt, ngoại hàn gây các chứng thiên về phong thấp hàn hoặc thiên về phong thấp nhiệt; hoặc thiên về thấp hàn hoặc thấp nhiệt, phải gia giảm thuốc cho phù hợp để chữa trị có kết quả.

Nếu chứng tý đã lâu ngày làm cho khí huyết đều suy kém, khi chữa phải bổ chính khu phong tán hàn, trừ thấp. Thường dùng bài Tam tý thang:

Nhân sâm 8g, bạch truật 12g, phục linh 12g, cam thảo 4g, đương quy 12g, xuyên khung 6g, bạch thược 12g, hoàng kỳ 12g, bào ô đầu 2g, quế tâm 6g, phòng phong 8g, phòng kỷ 12g, tế tân 4g, sinh khương 8g, đại táo 7 quả.

- Cách bào chế: Các vị trên + 1.900ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 250ml.

- Cách dùng: Uống ấm, chia đều 6 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 2 lần.

+ Nếu bệnh lâu ngày biểu hiện tổn thương: Tâm, can, thận, khí huyết nghiêm trọng gây ra các chứng sưng đau khớp, gầy yếu xanh xao, hồi hộp đánh trống ngực, mất ngủ..., khi chữa phải tư bổ can thận, an thần khu phong, trừ thấp; Thêm các vị táo nhân, viễn chí, thạch xương bồ.

Nếu bệnh lâu ngày biểu hiện khớp ngón tay, ngón chân to, cứng, hạn chế vận động do phong đàm bế tắc kinh lạc thì thêm các vị: Nam tinh, bán hạ, bạch giới để hóa đàm; Thiên ma, tần giao để thư cân.


Tác giả : BS. TRẦN VĂN BẢN (Tổng thư ký Hội Ðông y Việt Nam)
Theo Ykhoa
Việc tập luyện giúp giảm đau và cứng khớp, tăng sức dẻo dai, làm mạnh cơ bắp, khỏe tim. Nó còn giúp giảm cân và làm cơ thể khỏe khoắn. Tuy nhiên, nếu tập không đúng cách, bệnh sẽ nặng thêm.

Có 3 cách tập luyện tốt nhất cho người bị viêm khớp. Tập nhẹ (như khiêu vũ) giúp khớp hoạt động bình thường và giảm sự căng khớp; giúp duy trì và tăng sự dẻo dai. Tập mạnh (như cử tạ) làm mạnh cơ bắp; cơ có mạnh mới hỗ trợ và bảo vệ được các khớp bị viêm. Thể dục nhịp điệu (aerobic) hay tập luyện kéo dài (như đi xe đạp) giúp cải thiện tim mạch, kiểm soát trọng lượng cơ thể và cải thiện toàn bộ chức năng. Kiểm soát thể trọng là yếu tố rất quan trọng đối với người bị viêm khớp bởi sự dư cân sẽ làm tăng áp lực lên các khớp.

Để thiết lập chương trình tập luyện, nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa. Hãy khởi đầu việc tập luyện với sự giám sát của chuyên viên vật lý trị liệu. Trước hết, phải làm ấm các khớp bị viêm, khởi động với các bài tập nhẹ. Sau đó, thực hiện các bài tập nặng hơn một cách từ từ với các trọng lượng nhỏ, tập thật chậm.

Hãy chọn chương trình tập luyện phù hợp nhất và tập luyện thường xuyên với nó. Sau tập, cần dùng các túi chườm lạnh.

Các phương pháp sau sẽ giúp bạn chặn đứng cơn đau trong thời gian ngắn để thấy dễ chịu hơn khi tập luyện:

- Chườm nóng: Có thể sử dụng túi chườm nóng hay tắm nóng, thực hiện tại nhà, mỗi lần khoảng 15-20 phút, thực hiện 3 lần/ngày sẽ giúp giảm triệu chứng đau.

- Dùng sóng ngắn, vi ba và siêu âm để đưa nhiệt xuống sâu hơn ở những vùng khớp không bị viêm, thường dùng ở khớp vai để làm giãn cơ gân do tập luyện quá căng. Nhiệt sâu không được chỉ định đối với những bệnh nhân bị viêm khớp cấp tính.

- Chườm lạnh: Có thể sử dụng các túi đựng nước đá, làm giảm đau và viêm, thường dừng khoảng 10-15 phút mỗi lần. Chườm lạnh được chỉ định trong viêm khớp cấp tính.

- Thủy liệu pháp (hydrotherapy): Có thể làm giảm đau và căng cơ. Tập luyện trong bể rộng có vẻ dễ hơn bởi vì nước làm giảm sức nặng của cơ thể lên khớp bị viêm.

- Vật lý trị liệu: Bao gồm các biện pháp như kéo giãn, massage và tẩm quất. Với các chuyên viên, những phương pháp này có thể làm giảm đau và làm tăng độ dẻo dai của cơ khớp.

- Giãn cơ: Bệnh nhân cần học cách thư giãn để làm giãn cơ và giảm đau. Các chuyên viên có thể thực hiện những biện pháp giãn cơ chuyên nghiệp.

- Châm cứu: Đây là phương pháp cổ truyền của Trung Quốc có thể giúp giảm đau. Các nhà nghiên cứu tin rằng kim châm cứu sẽ kích thích các sợi thần kinh cảm giác sâu, sau đó được truyền lên não và làm giãn cơ.

BS. Nguyễn Văn Thông, Sức Khỏe & Đời Sống
GLUCOSAMINE LÀ GÌ?

Glucosamine là một amino-mono-saccharide có trong mọi mô của cơ thể con người. Glucosamine được cơ thể dùng để sản xuất ra các proteoglycan. Những phân tử proteoglycan này hợp với nhau thành mô sụn. Nguồn cung cấp để tổng hợp Glucosamine lấy từ glucose trong cơ thể.

Glucose è Glucosamin è proteoglycan è sụn khớp.

Trong các khớp bị viêm, lớp mô sợi của bao khớp và màng hoạt dịch làm giảm sự khuếch tán glucose vào mô sụn. Hơn nữa hiện tượng viêm trong khớp đã tiêu thụ lượng glucose có giới hạn của cơ thể. Chính vì thế có sự thiếu hụt Glucosamine.

Lúc này, Glucosamine sulfate ngoại sinh là nguồn cung cấp tốt nhất cho sự sinh tổng hợp các proteoglycan. Người ta thấy Glucosamine sulfate có ái lực đặc biệt với các mô sụn. Nó còn giúp ức chế các men sinh học như stromelysin và collagenase gây phá hủy sụn khớp.

Trong thực nghiệm trên thỏ con, người ta thấy Glucosamine sulfate chỉ làm tăng thành phần các proteoglycan trong các vị trí mô sụn hư cần phải sửa chữa mà không có tác dụng tương tự trên phần sụn khớp bình thường.

ỨNG DỤNG TRÊN LÂM SÀNG

Trong nhiều thập niên qua, việc điều trị viêm khớp chủ yếu là dùng các thuốc kháng viêm giảm đau nhằm mục đích giảm các triệu chứng đau và hạn chế vận động khớp viêm cho người bệnh. Tuy nhiên những thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ và thường không cải thiện được tình trạng bệnh lý của sụn khớp bị hư hỏng. Vì vậy tác dụng của nhóm thuốc này chủ yếu chỉ nhằm giảm bớt hiện tượng viêm, cắt cơn đau mà thôi.

Ðến vài năm gần đây, người ta đã tìm ra một số loại thuốc tương tác lên bệnh lý của sụn khớp một cách hiệu quả, trong đó có Glucosamine. Thực tế lâm sàng cho thấy nó mang lại nhiều ưu điểm trong điều trị hơn hẳn NSAID.

Ưu điểm lớn nhất ghi nhận được đến nay là có rất ít tác dụng phụ khi sử dụng Glucosamine sulfate. Một vài trường hợp dị ứng không đáng kể đối với người có cơ địa quá mẫn cảm với thuốc.

Trước đây Glucosamine được xếp vào nhóm thuốc bảo vệ sụn (gồm có Glucosamine sulfate, Chondroitin sulfate và Diacerin) hay thuốc tác dụng chậm với các bệnh viêm khớp. Hiện nay nó được cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMEA) chấp nhận xét vào danh mục thuốc giúp cải thiện cấu trúc trong bệnh viêm khớp. Các loại khác chưa được chấp nhận vì không đáp ứng được các yêu cầu thực nghiệm lâm sàng.

Ðã có rất nhiều nghiên cứu thử nghiệm so sánh với các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), cho kết quả như sau:

1. Cải thiện triệu chứng viêm khớp như đau, tầm độ khớp tương đương với NSAID trong thời gian ngắn và càng vượt trội hẳn nếu uống thuốc thời gian càng dài.

2. Tính an toàn hơn hẳn với các loại NSAID luôn luôn có rất nhiều tác dụng phụ kèm theo.

3. Người ta dùng phối hợp Glucosamine và NSAID cho kết quả tốt hơn khi dùng đơn độc NSAID trong thời gian ngắn. Sau đó ngưng NSAID, tiếp tục sử dụng Glucosamine thì tình trạng cải thiện vẫn tiếp tục được duy trì theo kiểu tuyến tính.

4. Người ta thấy dùng NSAID, những ích lợi giảm triệu chứng cho bệnh nhân sẽ nhanh chóng mất đi ngay sau khi ngưng thuốc. Ngược lại, ngưng uống Glucosamine tác dụng vẫn tiếp tục kéo dài trong nhiều tháng sau đó.

5. Với những bệnh nhân tuân thủ phác đồ điều trị dùng Glucosamine càng dài thì lợi ích kinh tế càng lớn vì tính an toàn và hiệu quả của nó càng được phát huy.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG

Liều khuyến cáo là 1.500mg mỗi ngày, dùng liên tục hay có chu kỳ trong một năm.

Tác dụng giảm đau thường có sau khoảng 10 ngày dùng thuốc. Vì thế người ta có khuynh hướng kết hợp với NSAID trong tuần lễ đầu tiên. Sau đó ngưng NSAID và tiếp tục sử dụng Glucosamine sulfate.

Sự phối hợp với chondroitin sulfate chưa có thử nghiệm nào cho thấy cho kết quả tốt hơn sử dụng đơn độc Glucosamine. Hơn nữa người ta khó đảm bảo được chất lượng của chondroitin do quá trình sản xuất chưa được chuẩn hóa.

Bệnh xương khớp đang là vấn đề lớn của thế giới vì nó có thể làm người bệnh tàn phế, suy giảm sức lao động của toàn xã hội. Vì thế 10 năm đầu của thế kỷ 21 đã được Tổ chức Y tế Thế giới chọn là thập niên xương khớp (Bone & Joint Decade). Việc tìm ra các loại thuốc mới nhằm giúp bệnh nhân khớp phục hồi lại được sức khỏe cộng đồng là những cống hiến quí báu cho nhân loại. Chúng ta hãy tiếp tục chờ đón những thành tựu mới nhằm cải thiện hơn nữa chất lượng điều trị các bệnh khớp.

BS. HUỲNH BÁ LĨNH (BV. Chấn thương Chỉnh hình TPHCM)
Theo Ykhoanet
Với sự gia tăng của tuổi thọ và sự phát triển xã hội, mỗi chúng ta đều được tận hưởng một cuộc sống lâu dài hơn, tiện nghi hơn, hạnh phúc hơn. Tuy nhiên chúng ta cũng phải đương đầu với không ít khó khăn của cuộc sống hiện đại. Riêng đối với ngành Thấp khớp học, ngoài việc phải đương đầu với nhóm bệnh phức tạp như bệnh tự miễn, còn phải đối phó với các bệnh lý đang có xu hướng gia tăng theo sự gia tăng của tuổi thọ như Loãng xương và Thoái hóa Khớp, và một loạt bệnh lý liên quan đến cuộc sống hiện đại - các bệnh lý xương khớp trong chấn thương (đặc biệt là trong tai nạn giao thông và trong thể thao).

Những tiến bộ vượt bậc về khoa học - kỹ thuật trong nhiều thế kỷ, đặc biệt thế kỷ XX vừa qua đã mang lại cho con người nhiều khả năng và giải pháp mới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có khả năng và giải pháp cứu chữa bệnh tật của Y học, nhờ đó sức khỏe và tuổi thọ của con người ngày càng được nâng cao rõ rệt.

Tuổi thọ ngày càng cao nên tỷ lệ người có tuổi (>= 65 tuổi) trong cộng đồng cũng ngày càng tăng. Theo thống kê gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới, người có tuổi đang chiếm 11 - 12% dân số, ước tính đến năm 2020 con số này sẽ lên đến 17%, thậm chí có thể lên tới 25% ở các nước Âu, Mỹ, tuổi thọ tăng cao, dân số thế giới ngày càng già đi và tuổi già đã trở thành thách thức của nhân loại. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người đặc biệt là cho người có tuổi, một bộ phận rất quan trọng trong mỗi gia đình và cộng đồng đang là một mục tiêu quan trọng của công tác y tế trong giai đoạn chuyển tiếp sang Thiên niên kỷ mới.

Mặc dù đã có rất nhiều tiến bộ Y học nhưng vẫn còn nhiều căn bệnh gây đau đớn, gây tàn phế và giảm chất lượng sống... vẫn tiếp tục đeo bám con người.

Thập niên Não bộ 1990 - 2000 đã kết thúc với nhiều kết quả đáng khích lệ, trong việc đầu tư nghiên cứu các bệnh lý của hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là các bệnh thoái hóa của hệ thần kinh trung ương mà điển hình là căn bệnh Alzheimer.

Các bệnh lý Xương Khớp thường gặp nhất (chiếm tỷ lệ cao nhất cả ở các nước phát triển và đang phát triển), gây đau đớn kéo dài cho hàng trăm triệu người, gây tàn phế cho nhiều người. Nhóm bệnh lý này gắn liền với nghỉ việc, giảm năng suất lao động và hạn chế hoạt động hàng ngày. Trong tương lai, tỷ lệ này còn đang tiếp tục tăng cao vì sự gia tăng tuổi thọ... Ngoài tác động rất lớn về kinh tế, xã hội, các bệnh Xương Khớp còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý tình cảm của con người. Chỉ riêng ở Mỹ, thiệt hại do nghỉ việc, giảm năng suất lao động của các bệnh Xương Khớp tương đương với 2,5% tổng sản phẩm quốc gia (GNP), các bệnh Xương Khớp ảnh hưởng hàng trăm triệu người mà ước tính tiêu tốn của xã hội tới 215 tỷ USD hàng năm.

Nhận thức rõ tầm quan trọng và ảnh hưởng to lớn của các bệnh Xương Khớp đối với toàn xã hội, GS. TS Lars Lidgren, Trưởng khoa Phẫu thuật Chỉnh hình Trường Đại học Lund Thụy Điển, Chủ tịch Hội nghiên cứu Chỉnh hình châu Âu đề xướng thập niên 2000 - 2010 là Thập niên Xương và Khớp và ý tưởng này đã được Hội đồng Nghiên cứu Y học Thụy Điển và Tổ chức Y tế Thế giới hết sức ủng hộ.

Tháng 4/1998, một cuộc hội thảo lớn với sự tham gia của các tổ chức nghề nghiệp và nhiều chuyên gia về Phẫu thuật Chỉnh hình, Thấp Khớp học, Loãng xương, Chấn thương, Y học thể lực, Phục hồi chức năng... Hội thảo đã thảo luận về tầm quan trọng và ảnh hưởng của các bệnh Xương Khớp đối với xã hội và nhất trí phát động Thập niên Xương và Khớp, 2000 - 2010.

Tháng 5/2000 vừa qua, ông Kofi Annan, Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã gặp gỡ GS. TS Lars Lidgren và tiếp theo đó hàng trăm tổ chức từ gần 40 quốc gia đã ký kết tham gia chiến dịch quốc tế về Thập niên Xương và Khớp của Liên hiệp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới.

1. Mục đích của chiến dịch

Nhằm tìm thêm những giải pháp hữu hiệu mới góp phần cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân Xương Khớp và giảm bớt các chi phí cho mỗi bệnh nhân và cho toàn xã hội.

2. Các vấn đề được tập trung nghiên cứu là

* Bệnh lý xương khớp ở người có tuổi

           - Thoái hóa khớp

           - Loãng xương

* Các bệnh lý Khớp, đặc biệt các bệnh tự miễn như: Viêm khớp dạng thấp (người lớn và trẻ em), Lupus ban đỏ hệ thống...

* Các bệnh lý cột sống ở người trẻ

           - Viêm cột sống dính khớp

           - Vẹo và dị tật cột sống

           - Đau thắt lưng

* Các chấn thương Xương Khớp liên quan tới tai nạn giao thông và hoạt động thể thao.

3. Các mục tiêu cụ thể

* Tăng cường các hiểu biết chung của toàn dân về những gánh nặng kinh tế, xã hội, tâm lý của các bệnh Xương Khớp lên toàn xã hội. Hiện tại đã có gần 40 quốc gia tham gia chiến dịch, dự tính, tới năm 2002, sẽ có 100 quốc gia tham gia.

* Tăng cường chương trình giáo dục cho các sinh viên đại học Y các kiến thức cơ bản, và cập nhật về Thấp khớp học, phương pháp khám bệnh và hỏi bệnh, các kỹ thuật thăm dò thường quy... trong Thấp khớp học. Tăng cường đào tạo sau đại học và đầu tư cho các nghiên cứu các bệnh Xương Khớp quan trọng và thường gặp ở từng quốc gia.

* Giáo dục phổ cập về các bệnh Xương Khớp cho bệnh nhân và cộng đồng. Khuyến khích người bệnh tham gia vào nhóm điều trị để có thể tự chăm sóc sức khỏe và góp phần cho việc điều trị đạt hiệu quả cao nhất.

* Khuyến khích dùng các biện pháp dự phòng, ngăn ngừa và ngăn chặn các hậu quả xấu của bệnh, đặc biệt những bệnh có thể dự phòng được như Thấp khớp cấp, Loãng xương, Vẹo cột sống, Đau thắt lưng, Chấn thương do tai nạn giao thông...

* Áp dụng các kiến thức mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ tàn phế của bệnh.

Thông tin về Thập niên Xương và Khớp đã lan rộng tới nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều quốc gia đã ký kết và hình thành các mạng lưới hoạt động của mình và với các quốc gia khác. Hy vọng những thành tựu mà Thập niên Xương và Khớp đem lại sẽ giúp cho việc cải thiện chất lượng sống cho các bệnh nhân Xương Khớp, các bệnh Xương Khớp ngày càng được quan tâm hơn, được đầu tư nghiên cứu nhiều hơn, được điều trị và phòng ngừa tốt hơn, đặc biệt ở một số nước đang phát triển như nước ta. Hy vọng rằng, vấn đề này sẽ được Chính phủ, Bộ Y tế, Hội Thấp khớp học và các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác quan tâm hơn nữa, đề ra kế hoạch hoạt động cụ thể để tham gia vào chiến dịch quốc tế này và để chiến dịch này thực sự mang lại lợi ích cho những bệnh nhân Xương Khớp của nước ta, giảm nhẹ những gánh nặng về kinh tế, xã hội, tâm lý - tình cảm cho mỗi gia đình và cho toàn xã hội.


TS. BS LÊ ANH THƯ

Bệnh viện Chợ Rẫy
Theo Ykhoanet
Các nhà khoa học đã dùng kim tiêm hút các tế bào mỡ dưới da bệnh nhân rồi nuôi cấy trong môi trường đặc biệt có trộn gluco-corticoid và chất tăng trưởng. Sau 14 ngày ủ ẩm, một mảnh sụn nhỏ đã hình thành, hoàn toàn giống như chất sụn của khớp bệnh nhân.

Mảnh sụn này sẽ được ghép vào khớp bị thoái hoá để khôi phục lại chức năng khớp. Phương pháp độc đáo này là sáng tạo của Tiến sĩ Fashid Guilak và các cộng sự thuộc Trung tâm Y khoa của Đại học Duke, Bắc Carolina (Mỹ). Nó có thể được áp dụng rộng rãi để thay thế cho phương pháp ghép sụn cổ điển theo kiểu "giật gấu vá vai" gây tổn thương cho khớp lành mạnh. Một ưu điểm nổi trội nữa của phát minh này là chi phí rẻ và rất dễ thực hiện

Sức Khoẻ & Đời Sống
Thuốc dùng trong các bệnh viêm khớp, chủ yếu là viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthritis) và viêm khớp thoái hóa (Osteoarthritis) đều có tác dụng điều trị, nhưng bên cạnh đó cũng có thể gây những ảnh hưởng xấu cho sức khỏe. Ðể tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, các bệnh nhân viêm khớp cần có sự hiểu biết nhất định về một số loại thuốc thường dùng, đồng thời hợp tác chặt chẽ với bác sĩ để kịp thời tư vấn khi cần thiết.

ÐỀ PHÒNG PHẢN ỨNG PHỤ CỦA THUỐC

Tác dụng phụ là các phản ứng có hại cho người bệnh khi dùng thuốc đúng liều lượng. Trước khi đưa vào sử dụng, tất cả các loại thuốc đều được thử nghiệm trên người khỏe mạnh và bệnh nhân. Tác dụng chữa bệnh sẽ được so sánh với những tác dụng có hại để có sự chỉ định hợp lý cho việc dùng thuốc. Mặc dù vậy, có những phản ứng phụ không phổ biến, chỉ xảy ra ở 1-2 trên tổng số 1.000 người dùng thuốc cũng như các triệu chứng xuất hiện sau một thời gian dùng thuốc kéo dài đã không được nhắc đến trong đơn thuốc. Mặt khác, các tác dụng chữa bệnh của mỗi loại thuốc cũng thường giảm đi cùng với thời gian.

Một số phản ứng có hại của thuốc rất dễ được phát hiện như: dị ứng thuốc (tăng nhiệt độ, mẩn ngứa, nổi mề đay, nhức đầu, nôn mửa) hoặc shock phản vệ (ngứa toàn bộ cơ thể: nhất là ở bàn tay và bàn chân, phù ở mắt như bị bỏng nặng, phù cuống họng, khó thở, chóng mặt, tụt huyết áp và có thể ngất xỉu). Hiện tượng không dung nạp thuốc có thể xảy ra ở khoảng 25% bệnh nhân. Hệ miễn dịch không có vai trò trong loại phản ứng này. Ðau bụng, nôn mửa, đau gân, chóng mặt, buồn ngủ, tiêu chảy có thể là biểu hiện của tình trạng không dung nạp thuốc. Giảm liều thuốc hoặc dùng thuốc sau bữa ăn đôi khi làm thuốc dễ dung nạp hơn.

MỘT SỐ HỘI CHỨNG DO THUỐC ÐIỀU TRỊ CÁC BỆNH VIÊM KHỚP

Ngộ độc thuốc khi điều trị các bệnh khớp có thể từ nhẹ đến nặng, phục hồi hoặc không phục hồi được. Thường những xét nghiệm lâm sàng và cận lâm sàng sẽ giúp chúng ta phát hiện sớm các biểu hiện nhiễm độc như: cao huyết áp, loét và chảy máu đường tiêu hóa, hạ đường huyết, tổn thương hoàng điểm, tổn thương gan, thận, rối loạn về chuyển hóa và nội tiết, suy tủy dẫn đến giảm các tế bào máu... Bệnh nhân phải dùng thuốc ngay lập tức khi có các biểu hiện ngộ độc trên.

Ngoài các biến chứng thông thường vừa kể, một số hội chứng không điển hình dưới đây cũng cần được chú ý khi điều trị viêm khớp:

1. Các biểu hiện viêm khớp gia tăng: Bệnh nhân cảm thấy đau hơn, sưng hơn cùng với cứng khớp. Cần biết rằng ban đầu có thể xuất hiện các phản ứng theo xu hướng xấu do thuốc bắt đầu tác dụng. Nếu sau một ngày, các biểu hiện này không được cải thiện và tiếp tục phát triển thì rất có thể thuốc đã không có tác dụng, cần phải thay thế thuốc hoặc điều chỉnh lại liều dùng.

2. Tăng nhiệt độ: Nếu nhiệt độ tăng không đáng kể (dưới 380C), đó có thể là biểu hiện bình thường của phản ứng viêm khớp, nhưng nếu nhiệt độ tăng hơn nhiều (trên 380C), phải nghĩ đến khả năng về một bệnh nhiễm trùng. Nhiều thuốc trị viêm khớp đã làm suy giảm hệ miễn dịch cũng như giảm thiểu tuần hoàn và làm tăng một cách đáng kể nguy cơ bị các bệnh do vi trùng và siêu vi trùng. Các thuốc chính gây suy giảm hệ miễn dịch là: Methotrexate, Immuran, Remicade, Infliximab, Enbrel, Cyclosporine, Cytoxan. Phát hiện và điều trị kịp thời các biểu hiện nhiễm trùng sẽ giúp giảm bớt những biến chứng nặng nề có thể xảy ra.

3. Tê hoặc cảm giác kiến bò: Các phản ứng này có thể xảy ra vì sự đè nén do phù và viêm vào các dây thần kinh. Một nguyên nhân khác là do thoái hóa dây thần kinh, do hiện tượng viêm và tổn thương mạch máu. Ngoài ra, độc tính của một số thuốc kháng viêm cũng như thuốc làm suy giảm miễn dịch có thể làm tổn hại hệ thần kinh ngoại vi và gây ra cảm giác tê hoặc kiến bò. Bệnh nhân cần phải thông báo ngay với bác sĩ những biểu hiện này để tìm ra nguyên nhân và điều trị kịp thời.

4. Mẩn đỏ: Rất hiếm khi do các bệnh khớp gây ra, nguyên nhân của triệu chứng này thường là do các thuốc: Solganal, Myochrysine - các thuốc có gốc vàng; (Rheumatrex, Trexall) - Methoratrexate; (Arava) - Leflueno-mide và (Plaquenill) - Hydroxychloro-quine.

5. Ðỏ mắt: Có thể do nhiễm trùng mắt. Nếu kèm theo đau nhức nặng cần phải nghĩ đến bệnh viêm các mạch máu.

6. Không phân biệt được màu đỏ và xanh lá cây: Thường do Plaquenil làm tổn hại võng mạc gây ra. Bệnh nhân phải báo với bác sĩ và dùng thuốc ngay.

7. Buồn nôn: Hầu hết các thuốc trị viêm khớp đều có thể gây nên cảm giác rất khó chịu này, đặc biệt là: Ibuprofen, Naproxen và một số thuốc kháng viêm giảm đau khác như: Azathiprine - (Immuran), Prednisolone, Methotrexate.

8. Ho và đau ngực: Viêm các khớp liên sườn có thể gây đau ngực. Tuy nhiên cũng cần được khám để loại trừ khả năng có bệnh về tim và phổi. Như đã trình bày, khả năng bị nhiễm trùng đường hô hấp do tác dụng giảm miễn dịch của thuốc điều trị viêm khớp có thể xảy ra và phải được điều trị bằng kháng sinh kịp thời. Methotrexate có thể gây viêm phổi do làm tổn thương mô và mạch máu, biểu hiện đầu tiên là ho kéo dài. Các thuốc kháng viêm cũng thường gây ợ acid và đau rát ở lồng ngực.

Trên đây là một số dấu hiệu chính nhưng không phải hoàn toàn đầy đủ của các phản ứng do thuốc điều trị các bệnh viêm khớp có thể dẫn đến. Thuốc như con dao hai lưỡi, có thể gây ra bệnh tật, thậm chí tử vong nếu không được dùng đúng và không có bác sĩ theo dõi liên tục. Bệnh nhân cũng như thầy thuốc cần luôn cảnh giác để phát hiện và xử lý kịp thời những biến chứng để ngăn chặn các hậu quả nặng nề cũng như phải dùng thêm thuốc không cần thiết.

Tác giả : TS. HOÀNG XUÂN BA (Viện nghiên cứu về dị ứng, California)
Theo Ykhoanet
Muối ăn còn có tên là Thực diêm.

Tên khoa học: Natrium Cloiloridum Curdum.

Muối có hình thể lập phương, dính kết nhau thành một tháp rỗng, không mùi, có vị mặn.

Muối rất hút nước khi có độ ẩm. Nhưng khi rang dòn thì tính chất hút nước sẽ không còn.

Thành phần hóa học của muối gồm: Natri clorua, Kali clorua, magiê clorua, muối canxi, magiê, sulfat và chất sắt... Muối trong công nghiệp dược phẩm là chất vô cùng quan trọng, được xem như một dung môi chủ yếu, còn hơn cả dược phẩm Corticoide có nhân Steroide. Trong tất cả những bệnh nội khoa (các đa chấn thương, bỏng) với tình trạng nguy kịch, nếu không có muối sẽ không có các dung dịch nước truyền buộc phải có muối. Muối chỉ chống chỉ định với bệnh huyết áp cao, cơn sản giật, phù thũng...

TÁC DỤNG CỦA MUỐI ĂN THEO ÐÔNG Y

Trong Ðông y, muối vào 3 kinh thận, tâm, vị. Tác dụng tả hỏa, thanh tâm lượng huyết, nhuận táo, dẫn các thuốc vào kinh lạc làm chất gây nôn, chữa viêm họng, đau răng, rửa vết bỏng...

Muối cũng có tác dụng tốt với các loại bệnh đau nhức khớp đầu ngón bàn tay, bàn chân, các dạng thấp, ra mồ hôi tay, viêm dây thần kinh ngoại vi...; Tác dụng theo cơ chế "Nóng giãn, lạnh co cục bộ". Vì trong thành phần có các muối, các cation (dương) và nation (âm) giúp cân bằng sự sống của cơ thể. Khi chườm muối rang trộn với lá náng trắng (Lá đại tướng quân) để điều trị đau lưng cấp; Hoặc khi rang muối bỏ vào túi vải thô chườm vùng rốn để điều trị đau bụng cấp..., muối sẽ hoạt động theo cơ chế trao đổi các cation và nation như một chất điện phân.

Theo phương pháp điều trị y học cổ truyền đối với đau nhức xương khớp, chúng ta thường dùng "lực" để đè ép, ấn, bấm và xoa bóp cục bộ vùng đau. Qua ứng dụng lâm sàng trong phối trợ điều trị các bệnh đau nhức xương khớp, chúng tôi đã thu được một số kết quả tốt. Nhiều bệnh nhân sau khi bị tai nạn trật cổ xương cẳng chân..., nhờ cho ngâm 2 chân với nước ấm có muối sống ngày 3 lần nên đã lành và đi lại rất tốt.

Qua phương pháp trị liệu ngâm muối sống với nước ấm cho nhiều bệnh nhân, tất cả đều cho biết có cảm giác dễ chịu, thoải mái. Muối điều trị khô bằng cách rang nóng trộn với lá trảy, ngải cứu, lá náng trắng gói vào giấy báo đắp lên vùng đau (Những nơi không thể ngâm nước được).

Thiết nghĩ có thể áp dụng phương pháp này cho các vận động viên tham dự SEA Games 22. Chẳng hạn ngâm chân tay với nước muối ấm trong thời gian 30-45 phút mỗi tối.

Ðây là một phương pháp điều trị tại nhà đơn giản, dễ làm lại không tốn kém, rất phù hợp với những bệnh nhân nghèo ở vùng sâu, vùng xa.
Tác giả : BS. TRANG XUÂN CHI
Theo Ykhoanet
1. Bệnh thống phong (Bệnh Gout - Goutty Arthritis)

           Thuộc nhóm các bệnh khớp vi tinh thể do rối loạn chuyển hóa Purine.

           Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,3% dân số người lớn, nghĩa là cứ 330 người lớn thì có 1 người mắc bệnh Gout.

           Thường gặp ở nam( chiếm tỉ lệ trên 90%)

           Tuổi bắt đầu mắc bệnh, trung niên, từ 35 đến trên 40.

           Khởi bệnh: Cấp tính, đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa các đợt khớp hoàn toàn trở lại bình thường.

           Vị trí bắt đầu thường là các khớp chi dưới, đặc biệt là ngón 1 bàn chân(70%).

           Tính chất: Sưng nóng đỏ đau dữ dội, đột ngột.

           Ở một hoặc rất ít khớp, không đối xứng

           Có thể tự khỏi sau 3 - 7 ngày ( ở giai đoạn đầu)

           Giai đoạn muộn thể hiện ở nhiều khớp, có thể đối xứng, xuất hiện các u cục (Tophy) ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp, ở vành tai.

           Dấu hiệu toàn thân: Khi bị viêm khớp cấp, có thể sốt cao, đột ngột kèm rét run.

           Thể trạng thường khỏe mạnh, mập mạp, sung túc.

           Có thể kèm cao huyết áp, tiểu đường, rối loạn lipid máu.

           Điều trị rất có hiệu quả khi kết hợp tốt giữa điều trị triệu chứng (thuốc kháng viêm giảm đau), điều trị phòng ngừa đều đặn, liên tục, lâu dài (thuốc làm giảm acid uric máu), điều trị các bệnh kèm theo, tuân thủ chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.

2. Bệnh sốt thấp cấp / thấp khớp cấp / thấp tim (Rheumatic Fever)

           Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn gián tiếp (qua cơ chế miễn dịch).

           Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,5 - 0,6% dân số trẻ em (dưới 15 tuổi), nghĩa là cứ khoảng 200 trẻ thì có 1 trẻ bị bệnh, bệnh rất ít gặp ở người lớn.

           Gặp đều ở cả hai giới (nữ = nam)

           Bệnh thường mắc ở trẻ em lứa tuổi đến trường (thường từ 5 - 15 tuổi).

           Khởi bệnh thường là cấp tính với sốt, đau - viêm họng, đau - viêm khớp.

           Vị trí bắt đầu thường ở các khớp lớn (khớp gối, khớp khuỷu tay, khớp cổ chân).

           Tính chất: Sưng nóng đỏ đau, khớp lớn, không hoặc ít đối xứng.

           Di chuyển từ khớp này sang khớp khác, khi chuyển sang khớp mới khớp cũ hết đau, không để lại di chứng tại khớp.

           Có thể có viêm màng ngoài tim, màng trong tim, viêm cơ tim.

           Dấu hiệu toàn thân: Sốt, viêm họng, mệt mỏi, xanh xao, múa vờn, suy tim.

           Điều trị: Bệnh phải được chẩn đoán xác định sớm để có điều trị chống liên cầu tan huyết nhóm A ở họng, phòng thấp, ngừa tái phát, ngăn ngừa các tổn thương vĩnh viễn ở tim, van tim của trẻ.

           Điều trị phòng thấp phải liên tục, đều đặn, đủ thời gian, đủ liều lượng.

3. Bệnh lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erithematosus - SLE)

           Là bệnh nặng, thuộc nhóm các bệnh của tổ chức liên kết.

           Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,02 - 0,1 % dân số người lớn (nghĩa là cứ 1.000 - 5.000 người lớn mới có một người bị bệnh, chỉ chiếm 1/30 - 1/5 số bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

           Đại đa số là nưõ (90%). Bệnh bắt đầu mắc ở lứa tuổi trẻ (20 - 40), 55% dưới 30 tuổi.

           Khởi bệnh: Có thể là cấp tính hoặc bán cấp, cũng có thể từ từ tăng dần, sốt dai dẳng.

           Vị trí bắt đầu thường không rõ ràng, ở nhiều khớp, ở toàn thân.

           Tính chất: Cứng khớp buổi sáng nhẹ và ngắn.

           Đau nhức, nhức mỏi là chính.

           Đối xứng, ít gây biến dạng khớp.

           Dấu hiệu toàn thân: Sốt kéo dài, xanh xao, ban cánh bướm ở mặt, mệt, khó thở, phù, xạm da, rụng tóc, loét miệng, rối loạn kinh nguyệt, viêm mạch máu.

           Điều trị: Đây là bệnh toàn thân khá nặng, các điều trị hiện nay đều nhằm kéo dài thời gian lui bệnh, điều trị triệu chứng và điều trị biến chứng ở tim, thận, phổi, thần kinh trung ương (nếu có) của bệnh.

Tiên lượng của bệnh rất dè dặt, đặc biệt khi bệnh nhân còn trẻ, tổn thương nhiều cơ quan (tim, thận, thần kinh trung ương.). Bệnh thường bột phát, nặng lên trong thời kỳ thai nghén, sinh đẻ và cho con bú.

4. Các bệnh viêm khớp do vi khuẩn gồm lao và vi khuẩn (tụ cầu, lậu cầu. )

           Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn trực tiếp.

           Vi khuẩn có thể vào khớp theo các đường chính: ngoài da, đường niệu, và đường máu.

           Trực khuẩn lao vào khớp hoặc cột sống (sụn khớp hoặc đĩa đệm) qua đường máu, sau nhiễm lao đặc biệt là lao phổi.

           Có thể gặp ở cả hai giới, mọi tuổi, đặc biệt trẻ em, người già và những người suy giảm sức đề kháng, suy giảm miễn dịch.

           Khởi bệnh thường là cấp tính (nếu do vi khuẩn) hoặc bán cấp (nếu do lao).

           Vị trí bắt đầu thường ở một khớp, khớp lớn (khớp gối, khớp háng, cột sống).

           Tính chất: Không cứng khớp buổi sáng.

           Sưng nóng đỏ đau một khớp, cố định. Không đối xứng.

           Dấu hiệu toàn thân: Sốt cao, dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân và tại chỗ.

           Có đường vào của vi khuẩn (ngoài da, đường niệu và đường máu.)

           Sốt về chiều, có dấu hiệu nhiễm lao, có nguồn lây bệnh.

           Điều trị: Thuốc kháng sinh đặc hiệu theo mầm bệnh (nếu viêm khớp do vi khuẩn).

           Thuốc kháng lao theo các phác đồ điều trị lao hiện hành (nếu lao khớp).

           Điều trị tại chỗ, bất động trong giai đoạn viêm cấp.

           Tập vận động, phục hồi chức năng sớm để tránh cứng khớp, teo cơ.

           Tiên lượng tốt, có thể chữa khỏi nếu điều trị đúng, đủ và sớm.

KẾT LUẬN

           Với hoàn cảnh và trang bị kỹ thuật hiện đại, các bệnh khớp thường gặp nêu trên có thể được xác định sớm bởi các thầy thuốc chuyên khoa ở các cơ sở y tế. Rất mong các thầy thuốc và người bệnh quan tâm hơn nữa tới việc xác định chuẩn đoán sớm các bệnh thấp khớp để việc điều trị đạt kết quả cao nhất, hạn chế các tác dụng bất lợi không đáng có của việc điều trị triệu chứng đơn thuần kéo dài, bảo vệ sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho một số rất lớn bệnh nhân là góp phần làm giảm bớt gánh nặng kinh tế cho mỗi gia đình và cho toàn xã hội.

TS - BS LÊ ANH THƯ

Bệnh viện Chợ Rẫy TP. Hồ Chí Minh
Theo Ykhoa net
Nhiều người tưởng rằng phong thấp là bệnh của tuổi già. Nhưng họ đã nhầm to, vì không hiếm người ở độ tuổi 20-40 cũng mắc bệnh này. Khi đó, phải chuẩn bị tư tưởng để chung sống suốt đời với nó.

Giai đoạn chuyển mùa là những ngày khổ cực nhất của người bị bệnh phong thấp. Họ thường than thở rằng da thịt, thậm chí toàn bộ xương cốt trong người cứ như bị bó chặt, đau tựa kim châm, như bị dao cứa...

Phong thấp chính là bệnh viêm khớp xương. Triệu chứng ban đầu là khớp xương sưng đau, mà trước tiên là các khớp ngón tay và cổ tay. Sau đó, hiện tượng này chuyển dần tới khuỷu tay, mắt cá chân và các khớp khác, chẳng bao lâu sau sẽ lan dần đến hai mươi khớp xương còn lại. Đặc trưng của bệnh là các khớp sưng đau có tính chất đối xứng. Nếu thấy xuất hiện thêm triệu chứng cứng chân, cứng tay vào sáng sớm khi ngủ dậy có nghĩa là bệnh đã chuyển thành mạn tính.

Triệu chứng của bệnh phong thấp rất dễ lẫn với một số bệnh xương khớp khác như chứng khớp xương biến dạng, hiện tượng xương và khớp bị lão hóa. Vì vậy, trong thực tế, đã có những người bị chẩn đoán mắc chứng phong thấp, nhưng khi khám kỹ ở chuyên khoa thì hóa ra lại bị khớp xương lão hóa, biến dạng.

Về điều trị, loại hoóc môn do vỏ bên ngoài tuyến thượng thận tiết ra rất công hiệu với bệnh. Tuy nhiên, ngoài những tình huống đặc biệt, không nên sử dụng vì hoóc môn này làm giảm sức đề kháng của cơ thể đối với vi khuẩn và gây những phản ứng phụ khó lường. Nhưng dù dùng loại thuốc nào, người bệnh đều phải nghiêm ngặt tuân theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Ngoài việc dùng thuốc, có thể áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như: dùng sóng cực ngắn, tắm hơi (xông hơi), tắm nước nóng, châm cứu, tắm nắng...

Điều tối quan trọng trong việc điều trị bệnh phong thấp là chuẩn bị tâm lý chữa bệnh. Đây là thứ bệnh chưa rõ nguyên nhân và chưa có phương sách gì điều trị dứt điểm. Vì vậy, cần chuẩn bị tư tưởng và có kế hoạch để "chiến đấu" lâu dài.

(Theo Khoa Học & Đời Sống)