Răng hàm mặt - Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
Răng hàm mặt
Phân trang 1/2 Trang đầu [1] [2] Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
Răng rung rinh: nhổ, răng hư: cũng nhổ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nha khoa, không phải răng nào "có vấn đề", bệnh nhân muốn nhổ cũng được.

Không bị đau nhưng chiếc răng cứ lung lay mãi khiến chị Thu (Q.Bình Tân, TP.HCM) rất khó chịu. Chị quyết định đến bệnh viện (BV) để nhổ. Thế nhưng, tại BV, chị nhận được lời khuyên nên giữ lại răng, không nên nhổ mà chỉ nên trám lại.

Những trường hợp không nên nhổ răng

Theo Thạc sĩ – bác sĩ Nguyễn Bá Lân, Trưởng phòng Nha khoa 126 Nguyễn Cư Trinh, Q.1, TP.HCM, các trường hợp không thể nhổ răng có thể liên quan đến bệnh lý toàn thân hay tại chỗ.

- Các bệnh lý toàn thân bao gồm những bệnh lý về đông máu, bệnh tim mạch không kiểm soát, bệnh máu ác tính, bệnh tiểu đường không kiểm soát và một số loại thuốc điều trị. Trong những trường hợp này, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa. Vì vậy, bác sĩ chỉ quyết định can thiệp khi bệnh lý của bệnh nhân đã ổn định sau điều trị nội khoa.

- Các bệnh lý tại chỗ bao gồm những răng trong vùng đang điều trị xạ trị và bị nhiễm trùng cấp tính.                  

Ngoài ra, còn chống chỉ định nhổ răng nếu xét thấy vấn đề này không khẩn cấp ở phụ nữ có thai.

Những trường hợp cần phải nhổ răng:

- Răng bị sâu trầm trọng, không thể phục hồi.

- Hoại tử tủy nhưng không thể điều trị được với thủ thuật nội nha.

- Bệnh nha chu tiến triển dẫn đến răng lung lay trầm trọng không thể phục hồi.

- Răng mọc sai vị trí và răng không có chức năng.

- Răng nứt hoặc vỡ nhưng không thể tái tạo để bảo tồn.

- Khi có chỉ định phục hình lại răng.

- Răng ngầm được chỉ định. Tuy nhiên, không phải tất cả răng ngầm đều có chỉ định nhổ.

- Răng dư.

- Răng có sang thương bệnh lý như là khối u nhưng không thể điều trị hoàn toàn nếu không nhổ răng.

- Trước khi điều trị ung thư loại bỏ tủy trầm trọng hoặc xạ trị, bất kì răng nào có tiên lượng mơ hồ hay có tiềm năng nhiễm trùng đều phải được nhổ đi.

- Răng nằm trong vùng gãy xương hàm.

Số răng nhổ ở mỗi lần tùy thuộc vào vị trí của các răng, tình trạng răng và sức khỏe của bệnh nhân. Có thể nhổ 2 - 3 răng cùng một lần. Không nên nhổ các răng ở hai bên hàm trong một lần vì sẽ gây trở ngại trong quá trình ăn uống.

Nguyên An (ghi)
(PNO)
[b]Thông thường, ta chỉ nhận ra răng miệng của mình có vấn đề khi chuyện đã rồi như đau răng, chảy máu, viêm lợi, hôi miệng... Ở ta, ít người có điều kiện và thói quen khám nha sĩ định kỳ.
[/b]
Hầu hết bệnh răng miệng đều có thể phòng và trị nếu phát hiện sớm bằng mắt thường. Chẳng hạn, mọi chiếc răng sâu đều bắt đầu từ một vết ố trên men răng. Vấn đề là khoang miệng lại tự gây bất lợi cho mình vì khó quan sát.

Nhiều người nghiêm túc vệ sinh răng miệng hằng ngày nhưng ít ai chịu khó bỏ công và thời gian nhìn vào khoang miệng một cách nghiêm túc, nhất là những vị trí trắc trở như vòm miệng, hàm trên, mặt cạnh răng, mặt dưới lưỡi...

“Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”, một chiếc răng sâu đủ gây lắm thiệt hại cho sức khỏe lẫn tiền bạc. Việc phòng tránh, ngoài đánh răng súc miệng, cần thêm động tác “thị sát” trước gương mỗi ngày, tốt nhất thành nếp sau mỗi lần đánh răng.

Vượt qua trở ngại tầm nhìn có thể dùng loại gương soi nhỏ có cán của nha sĩ (bán ở các cửa hàng thiết bị y tế) hoặc khéo tay ai cũng có thể tự tạo một cái. Sẽ hiệu quả hơn nếu cha, mẹ, con cái cùng làm… nha sĩ giúp nhau.

Kiểm tra khoang miệng thường xuyên còn có ích với quý ông thâm niên hút thuốc lá. “Mục sở thị” dung nhan ám khói, đen kịt ở mặt sau hàm răng, các ông sẽ có thêm động lực thảo “quân lệnh trạng” từ bỏ khói thuốc. Thai kỳ là cơ hội vàng của bệnh răng miệng và khá phiền nếu sản phụ mắc sâu răng, do vậy thanh sát khoang miệng kỹ là việc cần làm của các bà bầu.

Hãy thử sẽ biết: đây là một biện pháp phòng tránh bệnh răng miệng “nhỏ mà có võ”.

BS Đỗ Minh Tuấn
(PNO)
Răng chuyển màu không chỉ làm mất thẩm mỹ, mà ẩn chứa nhiều nguy cơ khác. Vì thế, cần hiểu rõ nguyên nhân để có hướng điều trị thích hợp.

ThS-BS Trần Ngọc Phương Thảo - Khoa Kỹ thuật cao - BV Răng Hàm Mặt TP.HCM cho rằng, nguyên nhân làm cho răng sậm màu thường do vết dính trên bề mặt men gây ra bởi thức ăn, thức uống, thuốc lá, do thuốc súc miệng (thường được gọi là nguyên nhân ngoại sinh). Những người thường xuyên ăn trầu, uống nước chè đặc, ăn sôcôla nhiều cũng làm cho răng trở nên sậm màu. Một số người có sở thích trám lên răng những kim loại đắt tiền, do lâu ngày sự ôxy hóa kim loại làm cho răng bị ố vàng. Mặt khác, chỗ trám kim loại trên răng là điều kiện cho các loại vi khuẩn, bợn thức ăn bám vào làm đổi màu răng và có thể làm gia tăng nguy cơ sâu răng, nhất là đối với những người vệ sinh răng miệng kém.

Cơ chế thứ hai do sự hiện diện của các chất có màu trong men hay trong ngà răng (thường được gọi là nguyên nhân nội sinh). Các chất này có thể đi sâu vào trong cấu trúc răng trước hay sau khi mọc răng. Bên cạnh đó, sự sậm màu răng còn do nhiễm tétracycline xảy ra trong quá trình tạo ngà và là kết quả của sự tương tác kháng sinh với tinh thể hydroxyapatite trong giai đoạn khoáng hóa mô răng.


Ảnh: Gettyimages.com

Các kháng sinh cùng nhóm với tétracycline như doxycycline, oxytétracycline, minocycline cũng gây ra sự đậm màu răng tương tự. Răng sữa có thể bị ảnh hưởng sớm nếu người mẹ dùng tétracycline sau khi mang thai được bốn tháng hoặc trẻ được dùng tétracycline trước chín tháng tuổi. Sậm màu răng sẽ xảy ra trên răng vĩnh viễn nếu trẻ dùng tétracycline trước bảy tuổi. Răng cũng có thể sậm màu do nuốt fluor quá nhiều trong quá trình hình thành và canxi hóa men răng tạo thành những điểm hơi nâu hay trắng đục. Những trường hợp nhiễm nặng gây khiếm khuyết men nhiều hơn không thể điều trị tẩy trắng răng thông thường mà phải phối hợp phục hình răng sứ thay thế hoàn toàn men răng bị khiếm khuyết đó.

Một số bệnh rối loạn máu như erythroblastosis fetails (phá hủy hồng cầu không tương hợp yếu tố rhesus giữa mẹ và thai nhi), thalassemia… có thể làm cho răng có màu nâu xanh hay nâu đỏ. Sự đậm màu răng sau khi mọc răng cũng xảy ra theo cơ chế tương tự trong trường hợp hoại tử tủy do chấn thương: việc chảy máu trong tủy dẫn đến sự xâm nhập máu vào các ống ngà. Tuổi càng cao cũng gây ra sậm màu răng do sự tích tụ ngà thứ cấp, hay do những thay đổi trên bề mặt men (mòn, nứt…) làm cho răng dễ nhiễm màu hơn. Ngoài ra các thủ thuật nha khoa có thể gây sậm màu răng do sự phóng thích kim loại từ miếng trám amalgam hay để sót lại mô tủy trong điều trị. Yếu tố di truyền có một vai trò quan trọng trong sự biểu hiện màu răng.

Thông thường, các vết sậm màu răng bên ngoài này thường có thể được điều trị bằng phương pháp đánh bóng răng (đối với những người bị răng đen, vàng do khói thuốc hoặc dùng nước chè đặc lâu ngày, muốn làm cho răng trắng trở lại thường là đi lấy cao răng, cạo sạch những vùng răng bị bám đen). Trám răng bằng vật liệu composite là cách thường được áp dụng cho những trường hợp răng mất men nhiều, đen sậm màu không có khả năng hồi phục độ sáng trắng.

Đối với sậm màu nội sinh thì cần đến phương pháp phức tạp và cao cấp hơn là phục hình răng sứ thay đổi màu răng. Tuy nhiên, hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại răng sứ, do đó nên tìm đến các nha sĩ có chuyên môn cao để được tư vấn kỹ, tránh tình trạng thay răng theo cảm tính, mất tiền, không có chất lượng.

Điều quan trọng là phải giữ gìn vệ sinh răng miệng thường xuyên sạch sẽ. Phụ nữ trong thời kỳ mang thai cũng như trẻ ở độ tuổi mọc răng, thay răng cần có chế độ dinh dưỡng bảo đảm. Khi bị sâu răng, viêm lợi, viêm tủy răng nên đi khám để được điều trị sớm, tránh để bệnh nặng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng màu răng.

Quỳnh Mai (ghi)

PNO
Có những nơi khuyên lấy cao răng hàng ngày, hàng tuần hay hàng năm. Vậy như thế nào là nên?
  
Sự nở rộ của các dịch vụ chăm sóc răng miệng đã làm "điên đầu" nhiều người khi hàng loạt các kỹ thuật lấy cao răng được quảng cáo rầm rộ kèm theo những lời khuyên rất khác nhau. Có nơi khuyên nên lấy hàng ngày, có nơi kêu hàng tuần, có nơi lại khuyên hàng năm. Nên ứng xử với cao răng như thế nào cho đúng cách?

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Cao răng: ổ vi khuẩn


Sau khi ăn khoảng 15 phút sẽ có một lớp màng mỏng bám trên bề mặt răng. Nếu màng này không được làm sạch, các vi khuẩn sẽ kéo đến và tích tụ ngày càng dày lên, gọi là mảng bám. Có một nghiên cứu cho thấy khoảng 70% trọng lượng mảng bám là vi khuẩn, tức trong 1mg mảng bám (bằng kích thước đầu tăm) chứa tới một tỉ vi khuẩn. Khi mảng bám còn mềm, có thể làm sạch khỏi bề mặt răng bằng bàn chải hoặc chỉ nha khoa. Nhưng khi tồn tại lâu, mảng bám vôi hoá bởi hợp chất muối vô cơ trong nước bọt và cặn mềm (mảnh vụn thức ăn, các chất khoáng trong môi trường miệng), xác tế bào biểu mô, sự lắng đọng sắt của huyết thanh... trở nên cứng, bám rất chắc vào bề mặt răng hoặc dưới mép lợi, gọi là cao răng (vôi răng). Đến lúc này chỉ có nha sĩ mới có thể làm sạch bằng các dụng cụ chuyên dùng.
Cao răng có hai loại: cao răng thường và cao răng huyết thanh. Cao răng thường như đã mô tả ở trên. Khi cao răng thường gây viêm lợi, lợi ở vùng viêm sẽ tiết dịch viêm và chảy máu, máu ngấm vào cao răng thường tạo nên màu nâu đỏ, lúc này mảng cao răng đó được gọi là cao răng huyết thanh.

Đừng đợi có cao răng mới đi lấy

Nếu không lấy cao răng, độc tố của vi khuẩn trong cao răng sẽ gây ra viêm lợi với các biểu hiện răng chảy máu, miệng có mùi hôi. Hoặc cũng có thể gây viêm nha chu dẫn đến tiêu xương làm răng bị đau, ê buốt khi ăn uống, nặng hơn có thể lung lay và rụng. Cao răng còn gây ra viêm tuỷ ngược dòng. Vi khuẩn trong mảng cao răng cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các bệnh ở niêm mạc miệng: viêm niêm mạc miệng, lở miệng, viêm amidan, viêm họng… Do những ảnh hưởng này mà cao răng cần được lấy sạch. Tốt nhất nên kiểm tra các mảng bám răng định kỳ 3 – 6 tháng/lần. Không nên đợi có cao răng mới đi lấy, vì khi cao răng hình thành thì đã gây ra tổn thương và để lại hậu quả. Có nhiều phương pháp lấy cao răng, phổ biến nhất hiện nay là:

Lấy bằng máy thổi cát: tuy làm sạch cao răng khá tốt và hạn chế được lây nhiễm chéo nhưng lại dễ làm rỗ bề mặt răng do những hạt cát được phun ra trong quá trình làm sạch, khiến răng dễ nhiễm màu và tạo điều kiện cho mảng bám hình thành nhanh hơn.

Lấy bằng máy siêu âm: là phương pháp lấy cao răng triệt để với cảm giác êm ái. Với những bệnh nhân nhiều cao răng, nên sử dụng phương pháp này thay vì máy thổi cát (rất khó lấy cao răng dưới nướu).

Làm gì để phòng ngừa?


Trong quá trình lấy cao răng có thể bị chảy máu, nguy cơ lây nhiễm bệnh có thể xảy ra. Do đó, để lấy cao răng an toàn, đòi hỏi các dụng cụ và thiết bị phải được tiệt trùng nghiêm ngặt. Tốt hơn hết, mỗi người nên tự giữ cho răng luôn sạch để hạn chế tổn thương, cũng như các thao tác kỹ thuật phải can thiệp vào răng.

Để ngăn ngừa cao răng, cần đánh răng đúng cách sau khi ăn, sử dụng chỉ nha khoa lấy sạch mảnh vụn thức ăn ở kẽ răng. Ngậm nước súc miệng hoặc nước muối pha loãng. Kiểm tra răng miệng định kỳ 3 – 6 tháng/lần, nhất là trẻ nhỏ rất cần khám răng định kỳ và lấy cao răng thường xuyên theo chỉ định của nha sĩ.

TS.BS Lương Hải Minh
hội răng hàm mặt Việt Nam
Theo sgtt
Với những độc chất như nicotin, monoxyd de carbon và acid cyanhydrid có trong thuốc lá được coi là "sát thủ" đối với bệnh răng miệng, đặc biệt là bệnh nha chu và implant nha khoa. Mặc dù cơ chế gây bệnh của thuốc lá đến các tổ chức này còn chưa được chứng minh rõ ràng nhưng hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng thuốc lá có hại cho tổ chức nha chu và các implant nha khoa.

Thuốc lá gây bệnh răng miệng và làm giảm kết quả điều trị

Gây nên các bệnh viêm quanh răng: Trong thuốc lá có 3 thành phần chính ảnh hưởng đến khoang miệng là: nicotin, monoxyd de carbon và acid cyanhydrid. Các thành phần này có các tác dụng: co mạch ngoại vi, chậm liền thương, rối loạn chức năng các tế bào đa nhân trung tính, giảm đáp ứng miễn dịch, giảm nồng độ oxygen trong mô, mất thăng bằng hệ vi khuẩn miệng, giảm lưu lượng máu trong xương ổ răng, giảm chất lượng xương, giảm nồng độ kháng thể trong nước bọt và máu... Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng thuốc lá là yếu tố nguy cơ cao cho bệnh viêm quanh răng. Người hút thuốc lá nhiều thường có đáp ứng miễn dịch kém, ít kháng thể trong máu. Hút thuốc lá nhiều có thể gây co lợi, mất bám dính, tiêu xương và cuối cùng là mất răng.

Bệnh răng miệng khó điều trị ở người hút thuốc lá.

Implant nha khoa được chống chỉ định tương đối với người hút thuốc lá.

Điều trị các bệnh răng miệng kém hiệu quả: Thuốc lá dường như không ảnh hưởng trực tiếp lên hệ thống vi khuẩn nha chu mà ảnh hưởng đến sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể. Thuốc lá có thể làm giảm các yếu tố kháng thể như IgG, IgA, IgM. Thuốc lá có khả năng làm tổn thương chức năng của các bạch cầu đa nhân trung tính, các cytokin. Các nicotin trong thuốc lá có thể được tích trữ và giải phóng ra bởi các nguyên bào tạo xơ và ức chế sự tăng trưởng của các nguyên bào tạo xơ lợi, do vậy ảnh hưởng đến khả năng liền sẹo của tổ chức quanh răng, kết quả điều trị viêm quanh răng cũng kém hơn ở những bệnh nhân có hút thuốc lá. Việc làm giảm độ sâu túi lợi, tái tạo lại bám dính lợi ở các bệnh nhân viêm quanh răng có hút thuốc lá là rất khó khăn. Ngoài ra nếu ngà bị hở, bề mặt chân răng không đều, nicotin có thể thấm sâu vào bên trong đến tủy răng, do vậy làm nhẵn bề mặt chân răng là hết sức cần thiết đối với các bệnh nhân hút thuốc lá.

Thuốc lá là một chống chỉ định tương đối đối với cấy ghép implant

Cấu tạo răng bình thường bao gồm phần thân răng, là phần bạn có thể thấy được trên nướu và phần chân răng, là phần nằm sâu trong xương hàm giúp giữ răng vững chắc. Khi bị mất răng do nguyên nhân nào đó, cấy ghép implant sẽ giúp phục hình hoàn toàn răng bị mất giống như răng thật bao gồm cả thân răng và chân răng mà không ảnh hưởng đến sức khỏe. Tuy nhiên, nếu bạn hút thuốc lá thì đều ảnh hưởng đến chất lượng cấy ghép cũng như thời gian bảo tồn implant.

Bệnh răng miệng khó điều trị ở người hút thuốc lá.

Người hút thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh viêm quanh răng cao do dễ tích tụ mảng bám vi khuẩn, cao răng và phá hủy mô. Tình trạng cao răng, mảng bám răng nhiều hay ít còn phụ thuộc vào thói quen vệ sinh răng miệng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhóm người hút thuốc lá có bệnh viêm quanh răng nặng hơn, tiêu xương viền, mất bám dính nhiều hơn, tổn thương lan rộng xuống vùng chân răng nhiều hơn. Tác dụng của thuốc lá lên mô nha chu là gián tiếp.

Trên lâm sàng, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ thất bại implant ở nhóm bệnh nhân có hút thuốc lá cao hơn nhóm bệnh nhân không hút thuốc lá.

Đáp ứng của mô ở người hút thuốc lá thay đổi xấu theo số lượng thuốc lá tiêu thụ. Các giả thuyết cho rằng do tổn thương chuyển hóa xương và quá trình liền sẹo. Tác nhân chính gây ra hậu quả này là nicotin có trong thuốc lá. Hiện tượng này là hiện tượng có khả năng hồi phục và biến mất nếu ngừng tiêu thụ thuốc lá. Nhiều nghiên cứu thấy rằng các bệnh nhân hút thuốc lá thì sau phẫu thuật hay bị đau nhiều hơn. Quá trình liền sẹo rõ ràng được cải thiện sau khi ngừng hút thuốc lá.

Ở các bệnh nhân hút thuốc lá, khi cắm ghép implant nếu phải ghép thêm xương thì có nguy cơ thất bại cao hơn. Do vậy việc ngừng hoàn toàn hút thuốc lá 1 tuần trước khi can thiệp và 8 tuần sau khi cấy ghép là điều rất cần thiết cho bất kỳ một bệnh nhân nào được cấy ghép implant. Trong trường hợp không thể bỏ được thuốc lá thì hãy ghi nhớ rằng, nghiện thuốc lá cũng là một chống chỉ định tương đối của cấy ghép implant nha khoa.

ThS. Võ Trương Như Ngọc

In bài viếtnày

Tin khác:

6 lợi ích của việc giữ vệ sinh răng miệng (09/07) Giải pháp giúp bệnh nhân tự tin hơn (29/06) Viêm nha chu sử dụng thuốc gì? (15/06) Răng mọc trong xoang? (26/05) Lotte Việt Nam chung sức “Vì nụ cười rạng rỡ Việt Nam” (05/05) Đánh răng sáng, tối: cải thiện sức khỏe răng miệng (14/04) Câu chuyện về men răng (03/03) Có nên tẩy trắng răng? (23/01) Răng ê buốt và những câu chuyện kể (21/01) Colgate – Palmolive Việt Nam giới thiệu công nghệ đột phá trong giảm nhạy cảm ngà (*) (20/01)

TIN TIÊU ĐIỂM

“Sát thủ” của răng miệng 6 lợi ích của việc giữ vệ sinh răng miệng Giải pháp giúp bệnh nhân tự tin hơn Răng mọc trong xoang? Lotte Việt Nam chung sức “Vì nụ cười rạng rỡ Việt Nam” Câu chuyện về men răng Răng ê buốt và những câu chuyện kể Colgate – Palmolive Việt Nam giới thiệu công nghệ đột phá trong giảm nhạy cảm ngà (*) Những thức ăn, đồ uống và thói quen có hại cho răng Các phương pháp điều trị co lợi

Video clip

Sơ cứu ban đầu ngộ độc thực phẩm Sơ cứu ban đầu chảy máu cam Sơ cứu ban đầu do điện giật

ĐỌC NHIỀU NHẤT

Tẩy trắng răng có hại gì không?

Có nên thường xuyên lấy cao răng?

Làm gì để phòng ngừa cao răng?

Sâu răng và lựa chọn nhổ bỏ hay bảo tồn

Các phương pháp điều trị răng khôn hàm dưới mọc lệch

Cơ quan chủ quản: Bộ Y tế - Đơn vị cung cấp thông tin © Báo SứcKhỏe và Đời Sống

Giấy phép của Bộ Văn hóa Thông tin, Cục báo chí số 215/GP-BC, cấp ngày 31/5/2007

Địa chỉ: 138A Giảng Võ - Hà Nội Điện thoại: 3.8461684 - 3.8461685 Fax: 3.8443144

Phòng thông tin tuyên truyền quảng cáo và phát hành: 111B phố Núi Trúc -

P. KimMã - Q. Ba Đình - Hà Nội.

ĐT: 04 37365634 Fax: 04 37365634

Cơ quan đại diện phía Nam: 213 Điện Biên Phủ, Q.3. TP.HCM – ĐT: 38229942

Fax: (84.8)38237593 và Email: skds@saigonnet.vn

Ghi rõ nguồn www.suckhoedoisong.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này. Liên hệ quảng cáo báo in:

- Miền Bắc: Phòng thông tin tuyên truyền quảng cáo và phát hành:

111B phố Núi Trúc – P. Kim Mã – Q. Ba Đình – Hà Nội

ĐT: 04 37365634 - Fax: 04 37365634 –

Email: quangcaoskds@yahoo.com.vn

- Miền Nam: 213 Điện Biên Phủ, Q.3. TP. HCM

ĐT: 3 8229942 Fax: (84.8) 3 8237593 – Email:skds@saigonnet.vn

- Báo điện tử: Admicro

ĐT: (04) 39743410 máy lẻ 435. - Fax: (04) 39743413

Email: cs@admicro.vn

Hotline: 0932 267 899 (Ms Thanh Thủy) - 01693434343 (Ms Thanh Hà)

Liên hệ nội dung: baoskds@yahoo.com

Điện thoại: (04) 38461684 - 38461042. Fax: (04) 38443144
(suckhoe&doisong)
Rất nhiều người thường xuyên phải chịu đựng rắc rối từ chứng loét miệng, thậm chí đến cả việc uống nước cũng gặp khó khăn. Trước đây, chứng bệnh này được cho là do hỏa khí trong cơ thể quá lớn mà phát sinh. Tuy nhiên hiện nay, giới y học đã có thêm những phát hiện và lời khuyên mới dành cho người bệnh.
\"BấmLoét miệng là một loại bệnh về miệng thường gặp với triệu chứng là những vết loét nhỏ hình tròn hoặc hình bầu dục. Trong loại bệnh này, chứng “loét miệng mang tính tái phát” là loại thường thấy nhất. Vết loét phát sinh bên trong môi, trên lưỡi hay những vị trí khác của khoang miệng. Qua nghiên cứu, nguyên nhân bệnh là do cơ thể bị nhiễm virus, mà hai loại virus dẫn đến bệnh loét miệng là CMV ở người và ER.
Trong đó, virus CMV ở người tiềm ẩn trong tế bào lympho T (lymphocyte T) trong máu, còn virus ER ẩn trong tế bào lympho B (lymphocyte B) trong máu. Khi bạn nhiễm cảm, tinh thần stress, cơ thể mệt mỏi hay hệ thống miễn dịch suy giảm, virus sẽ phát tác. Chính vì vậy, giảm áp lực, thả lỏng tinh thần, tránh lao động quá sức, và đảm bảo một giấc ngủ đầy đủ là những biện pháp rất quan trọng trong phòng tránh bệnh loét miệng.
Phụ nữ mắc chứng bệnh này nhiều hơn nam giới, đặc biệt là trước thời kì kinh nguyệt. Tính khởi phát của bệnh có liên quan đến lượng estrogen (Estrogen được các tế bào hạt của buồng trứng tiết ra, được gọi là nội tiết tố nữ), một khi lượng estrogen giảm, rất dễ mắc bệnh loét miệng.
Do đó, chị em phụ nữ tuyệt đối nên chú ý đến việc chăm sóc cơ thể, không nên giảm cân quá nhanh, phải nạp đủ protein mỗi ngày, và thường xuyên bổ sung chất estrogen từ các loại thực phẩm tự nhiên như đậu tương, hành...
Nếu sau khi sử dụng một loại thuốc đánh răng mới hay ăn những món ăn lạ mà bạn gặp rắc rối với bệnh loét miệng, thì trước hết nên xem xét có phải nguyên nhân là do dị ứng hay không, sau đó lập tức ngưng sử dụng. Bên cạnh đó, nên súc miệng bằng nước ấm, và dùng một lượng nhỏ mật ong xoa lên vùng bị loét, làm nhiều lần như thế, sau 2 ngày vết loét sẽ lành đáng kể.
“Kết bạn” với những vết loét miệng còn là hiện tượng [size=5]táo bón
hôi miệng, vì vậy, bạn phải ăn nhiều hoa quả, rau xanh, uống nhiều nước, thậm chí nên uống 1.000ml nước mỗi ngày. Biện pháp này có thể giúp thanh lọc dạ dày, tránh táo bón, có lợi cho việc hồi phục vết loét nhanh chóng.
Thiếu vitamin B2 cũng là một trong những nguyên nhân gây nên bệnh loét miệng. Trị liệu bằng cách dùng các vitamin nhóm B như B2, B6 rất có hiệu quả. Có nhiều loại rau quả tươi giàu vitamin và khoáng chất, bạn nên ăn nhiều rau quả có màu xanh sậm và vàng, chí ít mỗi ngày cũng nên ăn khoảng 500 gam rau quả, để bổ sung lượng vitamin cơ thể thiếu. Ngoài ra, còn phải chú ý ăn đầy đủ các loại thực phẩm khác để nạp thêm vitamin A và kẽm.
Bệnh loét miệng cũng được coi là tín hiệu thể chất yếu, do đó người bệnh trong quá trình chữa trị, không nên bỏ qua việc tăng cường sức khỏe, cải thiện thể chất.
Nếu những vết loét xuất hiện cùng lúc với việc bạn cảm thấy rất mệt mỏi, thì nên đi kiểm tra xem liệu chất dinh dưỡng trong cơ thể bạn hiện có cân bằng không, bạn nghỉ ngơi đã đầy đủ chưa, đồng thời phải tăng lượng vitamin và khoáng chất bồi dưỡng cho cơ thể.
Đặc biệt, loét miệng không chỉ là loại bệnh của người lớn mà còn xuất hiện với tỷ lệ khá cao ở trẻ em từ 1- 6 tuổi.
Trị liệu cho những trẻ mắc chứng loét miệng do nhiệt, do thiếu dinh dưỡng, các bà mẹ bên cạnh việc bổ sung cho trẻ vitamin và khoáng chất, có thể sử dụng một số phương cách đơn giản như: Cán nát từ 1 đến 2 viên vitamin C, rắc lên trên bề mặt vết loét, sau đó ngậm miệng lại một lúc, làm 2 lần một ngày. Hoặc cho trẻ ngậm nước ép cà chua mỗi ngày khoảng 3-4 lần cũng là biện pháp làm vết loét mau lành.
Tuy nhiên, loét miệng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có loại đơn thuần nhưng có loại nguyên nhân gây loét miệng và biến chứng nguy hiểm, vì vậy khi bị loét miệng kéo dài, nên đi khám bệnh để bác sĩ để có hướng điều trị thích hợp.

(Theo An ninh thủ đô)[/size]
Có thể bạn sẽ không từ bỏ nó hoàn toàn nhưng nếu hạn chế được ở mức tối đa, chắc chắn hàm răng bạn sẽ trắng đẹp hơn.

Có thể bạn sẽ không từ bỏ nó hoàn toàn nhưng nếu hạn chế được ở mức tối đa, chắc chắn hàm răng bạn sẽ trắng đẹp hơn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Dù dùng một số lượng nhỏ, cà phê vẫn rất gây hại cho men răng.

1. Cà phê

Rất nhiều người yêu thích cà phê nhưng không may rằng đó chính là một trong những nguyên nhân khiến răng ngày càng ố vàng và xỉn màu, thậm chí bạn chỉ dùng với một số lượng nhỏ. Tuy nhiên nếu bạn không thể từ bỏ được thói quen này thì sau mỗi lần uống nên súc miệng và đánh răng thật kĩ.
http://xinhxinh.com.vn/UserFiles/Image/0-2010/06-2010/22/ld/201062212033-2.jpg

Các loại quả thẫm màu cũng là 'kẻ địch' cho màu răng trắng sáng.

2. Trà

Cũng tương tự như cà phê, trà cũng khiến màu răng của bạn có vấn đều. Tuy nhiên trong các loại trà thì trà xanh hay trà trắng sẽ không làm tổn hại màu răng của bạn nhưng trà đen thì có. Chính vì vậy hãy tránh xa loại trà này.

3. Sô cô la


Sô cô la cũng có khả năng làm biến màu hàm răng của bạn. Thế nên nếu gặp khó khăn trong việc từ bỏ loại đồ ăn có sức hấp dẫn này thì cũng nên hạn chế nếu muốn có một hàm răng trắng đẹp.

http://xinhxinh.com.vn/UserFiles/Image/0-2010/06-2010/22/ld/201062212033-1.jpg

Bạn phải biết hạn chế đến mức tối đa những tác nhân gây ảnh hưởng tới màu răng của mình.

4. Cây việt quất

Nước ép và màu da của quả nam việt quất đều có chứa chất nhuộm màu vĩnh cửu điều đó có nghĩa là nếu bạn ăn nhiều loại quả này thì răng bạn cũng bị biến màu đồng thời

5. Colas

Colas (như Coca Cola hay Pepsi) là một thành phần chất gây hại đặc biệt cho màu răng. Nó không chỉ làm tăng lượng đường, axit và một số thành phần chất không có lợi khác cho cơ thể mà còn ‘địch thủ’ của màu răng và hơi thở thơm tho.

(eva)
Nếu bị viêm xoang dai dẳng, nếu gặp chứng viêm da hay dị ứng không có nguyên do, bạn cần phải tìm đến một... nha sĩ. Điều tưởng chừng rất vô lý này chính là phát hiện mới nhất của giới y khoa. Một cái miệng không được chăm sóc kỹ không chỉ khiến răng bị sâu mà vi khuẩn từ miệng có thể lan rộng khắp cơ thể. Chúng rình rập, đợi khi cơ thể suy yếu để làm khởi phát đủ các loại bệnh và quật ngã bệnh nhân.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

500 loại mầm bệnh ở răng miệng

Cách đây chưa lâu, người ta mới hiểu rằng sâu răng và những bệnh vùng quanh răng là những bệnh nhiễm khuẩn. Sự tiến bộ trong những năm gần đây về miễn dịch học, sinh vật học hay sinh học phân tử đã làm thay đổi cách nhìn những bệnh này. Một phương pháp hữu hiệu để ngừa sâu răng là hướng dẫn trẻ em cách chải răng, đồng thời giải thích cho chúng biết những mảng vàng bám trên răng là những khối vi sinh vật sẽ tăng trưởng và sinh sản nếu không bị trục xuất thường xuyên. Dưới kính hiển vi, người ta nhận ra 500 loại mầm bệnh thường trực trong miệng chúng ta.

Tất cả chúng ta đều có những tạp khuẩn cộng sinh đảm nhận chức năng bảo vệ răng miệng. Nhưng trong đám vi sinh vật vô hại ấy luôn trà trộn một số loài hiểm ác như streptocoque và những loại khác gây sâu răng nếu bám vào men răng và khi có đường (đồ ngọt), chúng sẽ tiết ra những acid làm mất chất khoáng của răng - bước đầu tiên trong việc gây sâu răng. Vệ sinh răng miệng kém (dù không phải lý do duy nhất) cũng tạo nên sự mất cân bằng về số lượng vi sinh vật: kẻ hiền mất đi, kẻ ác thay thế. Sự lão hoá của các mảng bám răng sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển của bệnh: những lớp bề mặt nhận được oxy trong khi lớp sâu không nhận được nữa. Tức là những tạp khuẩn bình thường hiếu khí bị thay thế bằng những mầm bệnh kỵ khí, trong số đó có vi khuẩn Gram (-) gây những bệnh vùng quanh răng.

Hôn nhau cũng nguy hiểm

Những tổn thất (sâu răng, phá huỷ mô) do các mầm bệnh gây ra sẽ tạo thuận lợi cho sự sinh sôi nảy nở và phân tán những vi sinh vật khác. Chúng có thể sống trong miệng mà không gây ra điều gì bất thường, nhưng sẽ trở nên nguy hiểm khi tiến vào hệ tuần hoàn. Thông với môi trường bên ngoài qua tiếp xúc với không khí và thực phẩm, miệng không phải là chỗ vô trùng. Tuy nhiên, bình thường miệng được bảo vệ chu đáo: nước bọt tạo sự bảo vệ mang tính cơ học do chúng thường xuyên lau sạch bề mặt của răng và màng nhầy. Nước bọt cũng chứa một kho vũ khí về vi khuẩn và miễn dịch: một số mầm bệnh như virut gây sổ mũi sẽ bị vô hiệu hoá nhanh chóng do những enzime của nước bọt. Thế nhưng, vẫn có những loài virut khác nhau hay loài streptocoque được trang bị "hùng hậu" chống lại được sự bảo vệ đó. Bằng chứng: hôn nhau là lối lây nhiễm cổ điển chứng tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm khuẩn (với triệu chứng sốt, viêm họng loét...).

Bệnh sâu răng đe dọa tim

Răng là một trong những cơ quan rất hiếm của cơ thể con người tiếp xúc với cả môi trường bên ngoài lẫn môi trường bên trong. Một răng sâu chạm tuỷ răng là một vết thương há miệng luôn mở lối vào cơ thể cho các loại vi khuẩn. Mầm bệnh xâm nhập từ răng, đến chân răng - tức là mô xương - rồi đi vào máu. Từ lúc này, mầm bệnh có thể đi khắp cơ thể và đóng ở bất kỳ chỗ nào. Chẳng hạn chứng viêm xương ở gót chân có thể biến mất sau khi nhổ một răng hàm! Do một sự rủi ro, mầm bệnh có thể đến trú ở tim. Theo những thống kê gần đây, 30%-50% trường hợp viêm màng trong tim có nguồn gốc từ răng miệng. Bệnh tim bẩm sinh sẽ tạo thuận lợi cho vi khuẩn trong máu đến trú ở tim. Mặc dù đã có kháng sinh và những tiến bộ về phẫu thuật, song trong số 1.300 trường hợp được chẩn đoán mỗi năm ở Pháp, 260 người đã bị tử vong.

Răng lợi yếu - sức khoẻ bị đe dọa

Bệnh viêm quanh răng (ở những mô trụ lợi, dây chằng xương của răng) cũng là một nỗi đe dọa nghiêm trọng ngang với sâu răng. Khi người mắc bệnh này nhai một quả táo cứng hay một vỏ bánh mỳ làm xước màng nhầy sẽ khiến mầm bệnh xâm nhập vào chỗ tổn thương. Theo một nghiên cứu gần đây ở Mỹ với những người dưới 60 tuổi, bị bệnh viêm quanh răng cũng là một yếu tố gây nguy cơ tim mạch ngang với chứng cao huyết áp. Độc chất của vi khuẩn vào máu qua lợi viêm, tạo thuận lợi cho sự hình thành các cục máu gây chứng huyết khối. Một tài liệu y học của Mỹ xuất bản năm 2007 kết tội bệnh viêm quanh răng đã làm tăng 7,5 lần nguy cơ sinh sớm ở thai phụ và sinh ra những đứa trẻ dưới 2,5kg. Những mầm bệnh ở răng lợi tiết ra nội độc tố, theo hệ tuần hoàn của người mẹ đến nhau và làm tăng sự sản xuất prostaglandine trong nước ối, tạo thuận lợi cho sự co giãn sớm cổ tử cung, gây nên tình trạng sinh sớm. Một răng sâu không được chữa trị hay một áp-xe lợi có thể làm hại sự phát triển của phôi, gây sảy thai hay làm tăng nguy cơ sốt sản. Vì vậy, phụ nữ có thai được khuyên nên chăm sóc răng cẩn thận.

Ruột, xoang, phổi cũng là nạn nhân của răng sâu

Theo đường máu không phải là lối lan truyền độc nhất của vi khuẩn. Nuốt mủ cũng mở ra những xa lộ khác cho vi khuẩn: răng, lợi nhiễm khuẩn thường xuyên tiết mủ mà khi người ta vô tình nuốt nó, nguy cơ lây nhiễm đường tiêu hoá sẽ xảy ra ở bất kỳ nơi nào, từ thực quản đến trực tràng. Một vi khuẩn từ răng có thể lan theo chuỗi: mầm bệnh đi vào ống dẫn tuyến nước bọt, gây viêm tuyến nước bọt (bệnh quai bị). Một số mầm bệnh còn lên đến xoang: viêm xoang hàm do răng là hậu quả của một quá trình nhiễm khuẩn từ một răng lan đến màng nhầy của xoang. Xoang viêm biểu hiện bằng cảm giác đau dưới mắt, đau tăng lên khi ấn vào, ho hay tiếp xúc với răng liên quan (thường là răng hàm thứ nhất hay răng tiền hàm thứ hai ở hàm trên), xoang bị viêm nhanh chóng trở thành trạm tiếp sức cho những mầm bệnh ác hiểm nhất và có thể lan đến tận hốc mắt, gây viêm giác mạc, viêm kết mạc.

Theo đường hô hấp, một vi khuẩn ở khoang miệng có thể bị hít vào đến cuống phổi, gây viêm phổi và viêm cuống phổi. Cũng vậy, một mối đe doạ thật sự cũng xảy ra với bệnh nhân được đặt ống nội khí quản khi gây mê: ống xông đi qua miệng không ở trạng thái hoàn hảo khiến vi khuẩn theo ống tiến đến phổi.

Nguy cơ đối với bệnh nhân được phẫu thuật


Đương nhiên, những biến chứng có nguồn gốc từ răng thường xảy ra và đối với những người sức khỏe yếu. Việc nạo cao răng bình thường có thể biến thành một động tác tai hại gây tổn thương. Vì vậy, mới có những đòi hỏi khắt khe về trạng thái răng: răng miệng phải thật sạch sẽ và những người mắc bệnh tim có nguy cơ bị viêm màng trong tim hoặc những người mang bộ phận giả ở háng không được mang hàm giả. Những đòi hỏi này không chỉ liên quan đến người mắc bệnh mạn tính (đái tháo đường, suy thận, suy giảm miễn dịch...) mà cả những ai phải dùng thuốc kháng viêm (vì dùng thuốc này lâu dài sẽ làm yếu hệ miễn dịch). Để đề phòng sự bội nhiễm nơi những bệnh nhân được phẫu thuật, trước một cuộc mổ dạ dày, thực quản, tim, chỉnh hình ... việc chuẩn bị vệ sinh răng miệng thường xuyên là cách chắc chắn nhất nhằm đề phòng và chống lại bệnh tật.

Lê Anh(Theo News Siences)
(suckhoe-doisong)
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Uống rượu vang đỏ với hàm lượng vừa phải có thể giúp tiêu diệt các vi khuẩn gây sâu răng trong và sau bữa ăn. Đây là kết luận của các nhà khoa học thuộc Đại học Pavia (Ý), theo hãng tin ANI.

Nghiên cứu cho thấy hợp chất chống ô-xy hóa proanthocyanidin có trong rượu vang đỏ có tác dụng giúp bảo vệ răng. Những hợp chất này cũng có trong táo, quế, hạt ca cao và trà. Trong khi đó, một cuộc nghiên cứu khác của các nhà khoa học thuộc Đại học Laval (Canada) cho kết quả polyphenol có trong rượu vang đỏ cũng có tác dụng kiểm soát các tế bào miễn dịch chống lại tình trạng nhiễm khuẩn trong nướu răng. Nhiều nghiên cứu trước đó cho thấy uống rượu vang đỏ ở mức vừa phải giúp kéo dài tuổi thọ và giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch cũng như bệnh về thần kinh.


Theo TNO



  

Không phải ai cũng có được hàm răng như ý muốn. Một cái miệng đẹp, một nụ cười duyên dáng phụ thuộc rất nhiều vào vẻ đẹp của hàm răng. Tiêu chuẩn của một hàm răng đẹp là răng phải đều đặn, trắng bóng, sạch sẽ và lợi phải hồng hào. Vậy phải làm gì để chăm sóc hàm răng luôn trắng đẹp?




Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Hạn chế ăn thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh.




  

Những thức ăn đồ uống nào có hại cho răng?

- Thức ăn chứa nhiều chất bột đường: bánh kẹo, nước ngọt, kem, si-rô… Trong thành men răng của chúng ta có hàng tỷ vi sinh vật sinh sống, chỉ 15 phút sau khi ăn những chất ngọt, các sinh vật này đã sinh sôi nảy nở nhanh chóng, chúng cũng hấp thu và tiêu hóa số đường này và biến đường thành acid hữu cơ tấn công men răng dẫn đến sâu răng, cho nên cần phải hạn chế tối đa các loại thực phẩm này, nếu ăn thì phải đánh răng ngay sau khi ăn.

- Rượu, cà phê, nước trái cây cũng là những thứ dễ làm đổi màu men răng, vì vậy nên tạo thành thói quen xúc miệng hoặc đánh răng ngay sau khi thưởng thức những món ăn này.

- Đồ uống có gas: khiến cho men răng bị hủy hoại nghiêm trọng, vì trong đồ uống có gas có chứa hàm lượng lớn acid gây bào mòn men răng.

- Những trái cây có vị chua: các acid trong trái cây có vị chua có thể bào mòn men răng.

- Hút thuốc lá: không những gây nguy cơ ung thư phổi, vòm họng mà còn là nguy cơ của các bệnh quanh răng và ung thư khoang miệng. Hút thuốc lá gây chứng tụt lợi để lộ chân răng, đặc biệt là ở những răng cửa gây mất thẩm mỹ, giảm khả năng liền vết thương của lợi, răng ố vàng, nhiều cao răng, cho nên không hút thuốc lá hoặc bỏ hút thuốc lá là một trong những biện pháp giữ gìn sức khỏe cho răng miệng và cho cả cơ thể nói chung.

Cần tránh những thói quen có hại cho răng


- Thói quen ăn vặt nhiều: khi mảng bám kết hợp với đường và tinh bột sẽ sinh ra acid tấn công men răng làm răng bị sâu, ăn vặt quá nhiều sẽ làm quá trình phá hủy men răng diễn ra nhanh hơn.

- Ăn đồ quá nóng, quá lạnh, dùng răng cắn mạnh vào vật cứng, ra sức xé thức ăn quá dai là những thói quen nên tránh, vì nó sẽ tác động trực tiếp đến lớp men răng, xuyên qua lớp men răng ảnh hưởng đến các bộ phận bên trong răng như tủy răng và chân răng, có thể làm sứt tủy, ê răng, hỏng lớp men răng và tủy răng.

- Không đánh răng sau khi ăn: đánh răng giúp loại bỏ mảng bám gây phá hủy men răng.

- Không lấy hết những thức ăn thừa mắc lại ở các kẽ răng mà bàn chải không lấy hết đi được.

- Xỉa răng quá nhiều và quá lâu: làm rộng các kẽ răng, làm thức ăn dễ bị mắc lại sau ăn và gây tổn thương lợi.

- Không khám răng và làm sạch cao răng định kỳ: khám răng định kỳ giúp phát hiện ra những vấn đề về răng miệng để điều trị kịp thời, việc lấy cao răng định kỳ có tác dụng chống viêm lợi và viêm quanh răng.

- Không trám răng sâu: khi bị sâu răng nên đến nha sĩ trám hoặc nhổ răng nếu cần thiết, điều này giúp bảo vệ hàm răng và chống lại nguy cơ răng bị lung lay, rụng răng.

- Dùng bàn chải không tốt: không nên dùng bàn chải cứng và quá cũ dễ gây tổn thương cho răng và miệng, nên thay bàn chải 3 tháng 1 lần.

Như vậy để có một hàm răng trắng bóng, không sâu răng chúng ta cần hạn chế các loại thức ăn, đồ uống gây hại cho răng đã nêu ở trên, loại bỏ những thói quen không tốt có hại cho răng miệng. Việc giữ vệ sinh và chăm sóc răng miệng đúng cách giữ một vai trò quan trọng. Đánh răng ngay sau khi ăn là điều quan trọng nhất và phải thực hiện thành thói quen. Thời gian cho mỗi lần đánh răng là 2 phút, chải kỹ cả 3 mặt của hàm răng, chải răng theo chiều dọc chứ không đánh ngang cổ răng. Nên dùng chỉ nha khoa làm sạch những kẽ răng bên trong. Khi đánh răng xong nên xúc miệng bằng nước súc miệng để làm sạch mọi ngóc ngách trong miệng. Khám răng định kỳ và lấy cao răng 6 tháng 1 lần là một thói quen tốt.


Theo sk&đs

Hàm răng giúp chúng ta ăn uống được bình thường nhằm cung cấp năng lượng cho các hoạt động và tu bổ cho các cơ quan của cơ thể. Song, qua nhiều năm hàm răng đã bị hao mòn và suy yếu. Vì vậy việc bảo vệ giữ gìn hàm răng đảm bảo chức năng tiêu hoá là vấn đề cần được quan tâm. Ngoài phương pháp chữa trị của bác sĩ nha khoa, YHCT cũng có các phương pháp hỗ trợ điều trị. Sau đây xin giới thiệu phương pháp day bấm huyệt giúp giảm đau răng và làm răng chắc khỏe, bạn đọc có thể tham khảo áp dụng.

Gõ răng: Trước hết, gõ răng cửa phía trên, dưới; sau gõ răng bên phải, bên trái. Khi gõ, ngậm hai hàm răng lại, gõ vừa phải, mỗi lần gõ 30 - 50 lần.

http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2009/11/24/hi.JPG

Day huyệt hạ quan: dùng ngón tay giữa áp vào huyệt hạ quan. Ban đầu dùng một ngón tay, sau có thể dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) đồng thời day vào huyệt hạ quan, mỗi bên 50 lần.

Day huyệt giáp xa: Dùng ngón tay giữa ấn vào huyệt giáp xa, mỗi bên day 50 lần.

Bấm huyệt hợp cốc: Dùng ngón tay cái bấm vào huyệt hợp cốc mỗi bên 10 lần.

Day huyệt thái khê: Dùng ngón cái day huyệt thái khê mỗi bên khoảng 100 lần.

Chú ý:

- Để đạt được hiệu quả giảm đau tốt nhất, cần tiến hành thủ thuật đúng phương pháp với một lực tương đối mạnh (đương nhiên là người bệnh phải chịu được), có thể tiến hành vài ba lần, mỗi lần cách nhau chừng vài giờ.

Vị trí huyệt:

- Hạ quan: Khi ngậm miệng lại, huyệt ở chỗ lõm phía trước tai, dưới xương gò má.

- Giáp xa: Cắn chặt răng lại, huyệt ở trước góc hàm và ở trên bờ dưới xương hàm dưới một khoát ngón tay, đè vào chỗ trũng có cảm giác ê tức.

- Hợp cốc: Khép chặt hai ngón tay cái và ngón tay trỏ, huyệt nằm ở điểm cao nhất của khối cơ nổi lên giữa hai xương bàn tay 1 và 2.

- Thái khê: Tại trung điểm giữa đường nối bờ sau mắt cá trong và mép trong gân gót, khe giữa gân gót chân ở phía sau.

Theo Lương y Đình Thuấn (Suckhoedoisong)
Trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày, đôi khi có những thói quen chúng ta thấy rất bình thường nhưng nếu tiếp diễn trong thời gian dài, các thói quen này có thể là nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể nói chung và ảnh hưởng đến sự phát triển của khuôn mặt nói riêng. Nghiêm trọng hơn, chúng có thể gây ra một số bệnh lý ảnh hưởng đến sức khỏe...

Các thói quen có thể gây bệnh sâu răng và bệnh nha chu

Có thói quen chăm sóc răng miệng kém

Một số trẻ được sinh ra và lớn lên trong các gia đình không ý thức về chăm sóc răng miệng và không thấy được tầm quan trọng của việc chăm sóc răng miệng, của việc chải răng hàng ngày với kem đánh răng có fluor để phòng ngừa bệnh sâu răng. Chính cha mẹ và các người lớn trong gia đình chưa làm gương cho các cháu, như cha mẹ không có thói quen chải răng với kem có fluor sau mỗi buổi sáng, sau khi ăn hay trước khi ngủ...

Do đó, những trẻ sinh ra và lớn lên trong các gia đình kém ý thức về chăm sóc răng miệng thường có tỉ lệ bệnh sâu răng và bệnh nha chu khá cao.

Ngoài ra do hiểu biết và nhận thức của mỗi gia đình có khác nhau, do đó ý thức về chăm sóc răng miệng cũng khác nhau.

Chưa có thói quen chải răng sạch sau khi ăn và trước khi ngủ

Chải răng sau mỗi bữa ăn và trước khi đi ngủ tưởng chừng là việc làm đơn giản, nhưng thực tế không đơn giản chút nào, việc chải răng sạch sau khi ăn và trước khi ngủ là công việc đòi hỏi nhiều yếu tố:

- Kiến thức về phòng bệnh và chăm sóc răng miệng.

- Ý thức về việc tự chăm sóc răng miệng của từng cá nhân.

- Kỹ năng làm sạch răng - nướu - lưỡi... (đây là công việc khó khăn đối với trẻ em).

- Chải răng là công việc đòi hỏi phải thực hành liên tục mỗi ngày, thường xuyên liên tục.

Nhiều bác sĩ nha khoa khuyên rằng: cha, mẹ hay người trông nom các cháu nên theo dõi, giám sát việc chải răng của các cháu đến 10 - 12 tuổi và hỗ trợ các cháu trong việc vệ sinh răng miệng.

Trẻ có thời gian bú bình kéo dài

Nhiều nghiên cứu cho thấy, những trẻ em có thói quen bú bình khi ngủ mà không vệ sinh răng miệng hay súc miệng lại với nước sạch dễ bị sâu răng hơn. Vì sau khi bú, sữa sẽ đọng lại trên răng, các trẻ có thói quen bú bình và kéo dài trong nhiều ngày thì vi khuẩn có trong miệng sẽ lên men acid (do lên men sữa) tấn công men răng, lâu ngày sẽ tạo thành lỗ sâu răng.

Không được bổ sung các dạng fluor ngừa sâu răng.

Như ta biết rằng, chất fluor có vai trò rất quan trọng trong việc phòng chống bệnh sâu răng và giúp cho men răng cứng chắc, tăng cường sức đề kháng của men răng, làm cho răng cứng chắc dưới tác dụng của acid.

Chất fluor có tác dụng làm tăng sự tái khoáng hóa của men răng và làm giảm sự mất khoáng, nhờ sự thành lập chất fluoro - apatite có khả năng làm cho men răng cứng chắc và đề kháng với bệnh sâu răng.

Thói quen sử dụng đường, các thức ăn có đường

Nguyên nhân gây bệnh sâu răng là do 3 yếu tố: răng, vi khuẩn, chất bột đường dưới tác dụng của yếu tố thời gian.

Do đó, nếu có thói quen sử dụng nhiều thức ăn có đường và ăn quà vặt thường xuyên, kéo dài mà vệ sinh răng miệng kém là những yếu tố nguy cơ rất dễ gây ra bệnh sâu răng.

Trái cây tươi và rau xanh trong các bữa ăn

Trái cây tươi và rau xanh ngoài việc cung cấp sinh tố cho cơ thể, các loại thức ăn này còn có nhiều chất xơ, chúng giúp cho việc làm sạch răng nướu trong quá trình ăn nhai... Các loại trái cây tươi, và rau xanh có tác dụng rất tốt trong việc phòng chống bệnh sâu răng và bệnh nha chu. Do đó, nên tập cho trẻ ăn nhiều trái cây tươi tráng miệng sau các bữa ăn chính để phòng ngừa các bệnh răng miệng.

Thói quen đi khám răng miệng định kỳ

Sâu răng và nha chu là bệnh răng miệng rất phổ biến, thường xuất hiện rất sớm ở nhiều lứa tuổi. Tuy nhiên, những bệnh răng miệng này cũng rất dễ dự phòng và chúng ta có thể kiểm soát và điều trị ở giai đoạn sớm nếu chúng ta có thói quen đi khám răng miệng định kỳ 6 tháng hay 1 năm/lần, sẽ giúp kiểm soát và phòng ngừa được bệnh sâu răng và bệnh nha chu một cách có hiệu quả nhất.

Các thói quen có thể gây nên lệch lạc răng hàm

Ngoài các nguyên nhân nêu trên, trong sinh hoạt hàng ngày đôi khi có những thói quen chúng ta thấy rất bình thường nhưng nếu để tiếp diễn trong thời gian dài sẽ để lại hậu quả rất nghiêm trọng trên răng và hàm, làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của trẻ.

Mút ngón tay và mút núm vú

Mút ngón tay là một phản xạ tự nhiên giúp cho bé phát triển cơ và hàm. Tuy nhiên, nếu hiện tượng này tiếp tục xảy ra sau thời kỳ mọc răng sữa (đến 6 tuổi) và kéo dài nó sẽ trở thành một thói quen xấu, có thể đẩy các răng phía trước ra ngoài gây “hô răng” và làm sai khớp răng, gây mất thẩm mỹ cho gương mặt của trẻ.

Thực tế, thói quen mút ngón tay thường làm cha mẹ lo ngại vì sự mất vệ sinh hơn là việc gây ảnh hưởng đến răng và hàm.

Thở bằng miệng

Có thể trẻ bị một trở ngại về đường mũi khiến trẻ không thể thở bằng mũi được, mà phải thở bằng miệng. Khi thởbằng miệng lâu ngày sẽ làm cho niêm mạc miệng bị khô, đôi khi làm lệch lạc răng và hàm. Nếu thói quen này xảy ra lâu ngày mà không được điều trị, các răng của trẻ sẽ dễ bị sâu và nhiễm trùng đường hô hấp…

Tật đưa lưỡi ra trước

Các trẻ có thói quen đưa luỡi ra trước lâu ngày cũng dễ gây hô răng và gây cắn hở các răng trước, hay các răng trước cắn không khít nhau làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ và chức năng ăn nhai.

Xử trí: nếu phát hiện sớm, khuyên bé không nên đưa lưỡi ra trước. Nếu không loại bỏ, nên đến BS chuyên khoa RHM làm khí cụ ngăn chặn đưa luỡi ra trước.

Tật chống cằm

Thói quen này không gây xô lệch răng nhiều, nhưng nếu trẻ có thói quen chống cằm lâu ngày có thể gây ra nhô hàm dưới hay gây cắn lệch một bên, lâu ngày sẽ gây nên sự mất cân xứng của hàm.

Cắn móng tay, nghiến răng, cắn vật cứng…

Các thói quen này nếu không được phát hiện và loại bỏ sớm, lâu ngày sẽ làm cho răng dễ bị mòn, bị mẻ, dễ bị rạn nứt, răng có thể bị chết tủy và gây ảnh hưởng đến khớp thái dương hàm...

Dùng các vật nhọn xỉa răng

Nếu có thói quen sử dụng các vật cứng, vật nhọn xỉa răng lâu ngày sẽ làm các răng bị hở, bị thưa hay làm trầy xước nướu răng và gây tụt nướu ở các kẽ răng.

Nếu dùng tăm, nên thực hiện động tác “khều” để loại bỏ thức ăn còn đọng lại trên răng hơn là động tác “xỉa qua kẽ răng”. Nên dùng tăm xỉa răng có đầu nhỏ vừa với kẽ răng và tương đối mềm để tránh tổn thương nướu răng. Nếu bị vắt thức ăn ở kẽ răng, nên dùng chỉ tơ nha khoa làm sạch và loại bỏ các mảng bám răng, nên hạn chế sử dụng tăm xỉa răng.

Thói quen nằm nghiêng một bên

Lâu ngày sẽ dẫn đến lép hàm một bên, cha mẹ nên theo dõi và hướng dẫn trẻ loại bỏ thói quen này từ lúc còn nhỏ.

Vai trò của cha mẹ

Dựa vào các nguyên nhân nêu trên, nếu người lớn chúng ta quan tâm và thường xuyên nhắc nhở các cháu sẽ giúp các cháu thay đổi các thói quen và hành vi chăm sóc răng miệng ngay từ lúc nhỏ. Tốt nhất nên chăm sóc kỹ lưỡng cho cả bộ răng sữa và bộ răng vĩnh viễn bằng các biện pháp cơ bản như sau sẽ giúp các cháu có hàm răng chắc khỏe, nụ cười xinh tuơi và quan trọng nhất là tiết kiệm cho gia đình và xã hội rất nhiều thời gian, tiền bạc.

- Tập cho bé thói quen chải răng sau khi ăn và trước khi đi ngủ.

- Dùng kem đánh răng có chất fluor ngừa sâu răng.

- Hạn chế các thức ăn có đường và thức ăn ngọt, hạn chế ăn quà vặt.

- Nên ăn nhiều trái cây tươi và rau xanh giúp làm sạch răng nướu.

- Tập thói quen đi khám răng miệng định kỳ, điều trị sớm các bệnh răng miệng và dự phòng các lệch lạc về răng và hàm.

Theo BS.CKII. NGUYỄN ĐỨC HUÊ (suckhoedoisong)
Răng miệng không được vệ sinh sạch sẽ, đúng cách sẽ dẫn đến chứng hôi miệng. Tuy nhiên, đây còn là dấu hiệu của nhiều bệnh lý nguy hiểm.

Các bác sĩ cho biết, có tới 50% trường hợp bệnh lý về tai, mũi, họng và 90% trường hợp bệnh lý về răng, lợi có kèm theo triệu chứng hôi miệng.

Khổ vì bệnh hôi miệng

Thời gian gần đây, chị T. ở Hai Bà Trưng, Hà Nội, phát hiện ra hơi thở của mình có mùi hôi. Dù đã đánh răng ba lần mỗi ngày và súc miệng bằng dung dịch sát khuẩn liên tục nhưng tình trạng này vẫn không được cải thiện. Chị luôn cảm thấy tự ti, ngần ngại khi tiếp xúc, trò chuyện với mọi người. Chỉ đến khi nuốt nước miếng thấy đau rát, chị mới đi khám và biết mình bị viêm amidan. Bề mặt amidan lấm tấm mủ, là căn nguyên khiến hơi thở của chị có mùi hôi.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dinh, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, cho biết bà từng gặp một bệnh nhân rơi vào hoàn cảnh mếu dở, khóc dở vì bệnh hôi miệng. Cô gái 18 tuổi ở Lập Thạch, Vĩnh Phúc tâm sự với bác sĩ rằng, cô không dám về ra mắt bố mẹ chồng tương lai chỉ vì miệng bị hôi. Qua thăm khám và nội soi, bác sĩ phát hiện cô bị viêm xoang nặng, quanh vùng họng, mủ đọng thành dòng nhưng bệnh nhân không khạc ra được. Bệnh nhân còn bị thêm bệnh viêm nha chu khiến cho miệng càng hôi.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Thuốc lá, bia rượu cũng gây hôi miệng

Bác sĩ Bạch Dương, Viện Răng Hàm Mặt Quốc gia, cho biết hôi miệng là biểu hiện của nhiều bệnh lý như viêm lợi, viêm quanh răng. Chính những túi mủ quanh chân răng là ổ vi khuẩn khiến hơi thở có mùi hôi. Tuy nhiên, bệnh viêm quanh răng, viêm lợi phát triển rất thầm lặng. Người bệnh thường bỏ qua triệu chứng hôi miệng, không nghĩ rằng đây là biểu hiện của bệnh lý nên không đi khám sớm. Chỉ đến khi thấy lợi đau, chảy máu nhiều khi đánh răng mới đến bệnh viện. Giai đoạn này, bác sĩ có thể làm thủ thuật hút hết mủ, bệnh nhân không còn hôi miệng nhưng lợi đã bị hủy hoại, răng mất chức năng nhai, nghiền. “Có trường hợp phải nhổ răng, làm lại răng giả với chi phí rất tốn kém”, bác sĩ Bạch Dương nói.

Theo tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Dinh, viêm amidan và viêm xoang cũng gây hôi miệng do thường có đờm, túi mủ ở trong họng, mũi. Nếu không điều trị kịp thời, các vi khuẩn này xâm nhập cơ thể qua đường họng, vào máu, gây biến chứng nguy hiểm như viêm khớp, viêm cầu thận, viêm màng tim, rối loạn tiêu hóa, viêm phổi, ù tai, mắt mờ…

Bà Dinh cho biết, các loại nước súc miệng, kẹo thơm… chỉ có tác dụng giảm mùi hôi trong miệng trong một thời gian nhất định. Việc sử dụng dung dịch súc miệng chứa cồn còn gây khô miệng, khiến tình trạng hôi miệng càng trở nên trầm trọng. Muốn chữa được tận gốc bệnh hôi miệng thì phải tìm ra căn nguyên gây bệnh.

Để đề phòng bệnh hôi miệng, các bác sĩ khuyến cáo cần vệ sinh răng miệng đúng cách, kiểm tra răng miệng sáu tháng một lần và lấy cao răng thường xuyên theo chỉ định của bác sĩ. Hạn chế ăn nhiều hành, tỏi, hút thuốc lá, uống rượu bia vì đây cũng là nguyên nhân gây hôi miệng. Khi đã vệ sinh răng miệng đầy đủ và đúng cách mà vẫn có hiện tượng này thì nên đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được chẩn đoán và điều trị sớm.

Theo Xuân Trường (Baodatviet.vn)
Đau răng, hôi miệng khiến nhiều chị em tự ti, ngại giao tiếp. Để giúp chị em cải thiện được tình hình, Xinh Xinh giới thiệu vài bài thuốc nhỏ chữa trị căn bệnh này.

Chữa đau nhức răng: lấy một quả sung dùi một lỗ nhỏ, moi bỏ hết hạt, đổ đầy muối vào rồi sao thật khô, tán nhỏ, lấy bột bôi vào nơi bị đau.

-Súc miệng bằng nước muối: Mỗi ngày dùng nước muối nhạt súc miệng 2-3 lần, có thể phòng chống bệnh chảy máu lợi.

Chữa sâu răng: Lá hứng giổi tươi đem sắc thật đặc, lấy nước súc miệng và ngậm thường xuyên.

Chữa chảy máu răng kéo dài 3 - 4 ngày: Lấy lá mướp đem phơi khô hoặc sao khô, tán nhỏ, thật mịn, bôi vào chỗ đau nhức, chảy máu.

Vài bài thuốc chữa hôi miệng, đau răng, Làm đẹp,

Đẹp răng



Chữa sưng mộng răng:

Cách 1:

Lấy quả vỏ bàng, đem lấy với muối ăn, ngậm 5 - 10 phút. Sau đó, nhổ ra không nuốt.

Cách 2:

Dùng quả bồ kết đốt cháy tồn tính (cháy 70%), đem giã nhỏ, pha vào rượu, ngậm nhưng không uống. Ngậm khoảng 1 0 - 15 rồi nhổ ra.

Chữa hôi miệng:

- Xúc miệng bằng nước pha sẵn được chế từ cây ngải, hay bạc hà.

-Uống một cốc sữa bò.

-Hoặc là uống nước sắc từ vỏ cây sồi, cây tầm ma, hoa cúc, cây bulô.

Ngoài ra, táo tươi, chè xanh cũng được dùng để chữa chứng hơi thở có mùi hôi hay một loại chè có chất polyphenol - chất kháng vi khuẩn giúp làm trung tính mùi trong miệng.

Theo 24H.COM.VN (xinh xinh)
Nhiều người cho rằng chứng khô miệng là biểu hiện bình thường của tuổi tác và chỉ ảnh hưởng tới người già. Tuy nhiên, thực ra chứng khô miệng không phải là biểu hiện bình thường của tuổi tác và có thể ảnh hưởng tới tất cả các lứa tuổi.
Nhiều người chỉ bị khô miệng một lần trong khi những người khác lại bị liên tục dù là họ đang tức giận, lo lắng hoặc căng thẳng.

Theo Hiệp hội Răng miệng Mỹ (ADA), khoảng 10% dân số mắc chứng khô miệng thường xuyên và khô miệng trở thành một trong những yếu tố khiến các bệnh về sức khỏe răng miệng phát triển nhanh nhất.

Khô miệng là tình trạng không có đủ nước bọt để giữ miệng ẩm ướt. Khô miệng có thể gây ra những khó khăn khi nói chuyện, nuốt, nhai, nếm và đeo răng giả. Và rồi sẽ dẫn tới chứng hôi miệng, sâu răng hoặc các chứng viêm nhiễm trong miệng.

Điều gì dẫn tới khô miệng?

Khô miệng xảy ra khi các tuyến tạo nước bọt hoạt động không đúng, do đó không có đủ nước bọt để giữ miệng ẩm ướt. Một số nguyên nhân khiến các tuyến nước bọt không hoạt động đúng là:

- Có hơn 400 thuốc có thể khiến các tuyến nước bọt tạo ít nước bọt và gây khô miệng như một tác dụng phụ, đặc biệt là những người dùng thuốc điều trị các chứng huyết áp cao và suy nhược.

- Một nguyên nhân khác gây ra chứng khô miệng đó là khi mắc các bệnh như tiêu chảy, bệnh Parkinson, HIV/AIDS, viêm khớp và hội chứng Sjogren.

- Khô miệng có thể bị gaya ra bởi hóa học trị liệu, điều trị phóng xạ hoặc bị thương ở đầu hoặc cổ. Các chấn thương ở đầu hoặc cổ có thể tác động tới các dây thần kinh điều khiển các tuyến nước bọt.

Điều trị chứng khô miệng như thế nào?

Nếu bị khô miệng do thuốc, nha sĩ của bạn có thể xác định nguyên nhận và thay đổi thuốc hoặc liều dùng. Với những trường hợp nặng, phải điều trị bằng các loại thuốc tăng lượng nước bọt. Tuy nhiên, những loại thuốc này luôn có tác dụng phụ và cần phải cân nhắc trước khi dùng.

Ngoài ra, một số chất có thể thay thế nước bọt hoặc tạo nước bọt nhân tạo cũng được sử dụng để giữ cho miệng ẩm. Đó là các sản phẩm như kẹo cao su, chất keo, hoặc nước súc miệng.

Thay đổi lối sống cũng có thể giúp bạn giải quyết chứng khô miệng

- Tránh dùng chất caffein, đồ uống có cồn và hút thuốc, tất cả những chất này đều gây khô miệng.

- Uống nước cả ngày.

- Ăn kẹo hoặc kẹo cao su không đường để kích thích các tuyến nước bọt.

- Sự dụng máy tạo độ ẩm để tăng độ ẩm trong nhà, đặc biệt là vào ban đêm.

- Sử dụng keo dính để giữ hàm răng giả.

- Chăm sóc và giữ răng miệng sạch sẽ bằng cách đánh răng hàng ngày, dùng thuốc đánh răng có chất fluoride, hạn chế ăn đồ ngọt và nên đến nha sĩ kiểm tra răng miệng thường xuyên.
Thanh Bình (Theo seacoastonline) - laodong
Nước súc miệng có nhiều công dụng khác nhau. Một vài loại có hiệu quả trong việc che giấu hơi thở “khó ưa” bằng cách loại bỏ một số loại vi khuẩn. Một số loại khác có chứa fluoride nhằm làm chắc răng và ngăn ngừa sâu răng.
Một người dân TP.HCM đang dùng nước súc miệng - Ảnh: GIA TIẾN

Có thể phân loại nước súc miệng dưới hai dạng là dạng thẩm mỹ và dạng điều trị. Nước súc miệng dạng thẩm mỹ có vai trò chính là che giấu hơi thở hôi và loại bỏ những mảng bám ở răng, nướu. Cũng có một số loại nước súc miệng dạng thẩm mỹ có chứa những tác nhân làm trắng răng. Nước súc miệng dạng này chỉ có vai trò thẩm mỹ chứ không có tác dụng ngăn ngừa sâu răng.

Trong khi đó, nước súc miệng dạng điều trị được bào chế với những thành phần công thức có thể giúp ngăn ngừa hoặc trị liệu những bệnh về răng miệng. Đây là những loại nước súc miệng tương đối “nặng đô” và không được dùng cho trẻ em vì chúng có thể nuốt vào bụng.

Các chuyên gia răng miệng cho rằng tính hiệu quả của nước súc miệng tùy thuộc cách sử dụng chúng. Nếu sử dụng không đúng cách thì cũng như... nước đổ đầu vịt. Chẳng hạn một loại nước súc miệng có chứa fluoride nhằm ngăn ngừa sâu răng, nếu đem dùng vào mục đích loại bỏ những mảng bám ở răng thì trở nên vô dụng.

Hiệp hội Nha khoa Hoa Kỳ không khuyến khích sử dụng nước súc miệng như là một phương pháp đơn lẻ để duy trì vệ sinh răng miệng mà nên “hiệp lực” với những phương pháp khác như chải răng và dùng chỉ răng.

Tác dụng phụ

Dù được cho là an toàn nhưng nước súc miệng vẫn gây nên những tác dụng phụ cho người sử dụng, thường gặp nhất là ố răng, hư những mảnh trám răng, rối loạn vị giác, bệnh nha chu, kích ứng miệng, lưỡi...

Chải răng đều

Để chăm sóc sức khỏe răng miệng, tốt nhất là cứ theo cách cổ điển, chải răng đều đặn và đúng cách, thường xuyên sử dụng chỉ răng. Nước súc miệng không thể thay thế việc đánh răng và chỉ dùng một cách hạn chế trong những trường hợp khẩn cấp. Nếu phải dùng nên chọn những loại nước súc miệng có nồng độ cồn thấp, tốt nhất là dung dịch trong suốt, không “màu mè”.
Những sản phẩm nước súc miệng bán rộng rãi ở siêu thị, vốn không cần toa của nha sĩ, bác sĩ răng hàm mặt, thường có chứa một hàm lượng lớn chất cồn (ethanol) với tỉ lệ 6-27% - nồng độ này cao hơn nhiều loại thức uống pha cồn như bia, rượu vang. Nếu được sử dụng thường xuyên và lâu dài, nước súc miệng có thể gây cảm giác nóng rát ở má trong, nướu, lưỡi... Chất cồn còn gây nên tình trạng khô miệng vốn càng làm tăng thêm nguy cơ sâu răng.

Trước đây người ta ngộ nhận chất cồn có trong nước súc miệng có thể tiêu diệt những vi khuẩn gây hôi miệng. Thật ra chất cồn chỉ có thể “cảm hóa” những hợp chất sulfur được tạo ra bởi vi khuẩn gây hôi miệng. Thay vào đó, chất cồn sẽ đi “săn lùng” những vi sinh vật có lợi mà cơ thể cần. Những vi khuẩn gây hôi miệng khó sống trong môi trường ẩm ướt. Do chất cồn làm mất nước, gây khô miệng, tạo điều kiện cho những vi sinh vật gây hôi miệng có đất “hành nghề”. Sự khô miệng còn gây nên những tác hại khác cho răng miệng như tăng nguy cơ nhiễm nấm, sâu răng, các bệnh về nướu, hơi thở hôi, chứng khó nuốt.

“Màu mè hoa lá”

Đã có nhiều khuyến cáo nồng độ chất cồn cao có trong nước súc miệng có thể gây ung thư miệng, nguy cơ càng tăng nếu người sử dụng nghiện rượu và thuốc lá. Nồng độ cồn có trong nước súc miệng được cho là cao khi cồn chiếm tỉ lệ trên 25% thể tích. Một nghiên cứu thực hiện vào năm 1991 bởi Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ trên 850 bệnh nhân ung thư miệng, phát hiện rằng hầu hết bệnh nhân này đã sử dụng thường xuyên các sản phẩm nước súc miệng có nồng độ cồn cao.

Các nhà sản xuất cũng đã “màu mè hoa lá” cho các loại sản phẩm của họ để tạo cảm giác tin tưởng ở người tiêu dùng. Màu xanh da trời làm người ta nghĩ đến sự tươi mát, màu xanh lá cây tạo cho người dùng một cảm giác the của hương vị bạc hà... Thực chất các loại phẩm màu trong nước súc miệng không có một giá trị sức khỏe nào cho răng miệng. Trái lại nó càng làm cho răng chúng ta nhanh chóng ngả màu.

Nước súc miệng chứa trong những chai đủ lớn có thể là nguy cơ đối với trẻ em. Khi trẻ em nuốt nước súc miệng có nồng độ cồn cao với một số lượng lớn có thể lên cơn co giật, tổn thương não, thậm chí tử vong. Trung tâm Kiểm soát độc chất Hoa Kỳ đã báo cáo có hơn 10.000 trường hợp trẻ em nuốt phải nước súc miệng và đã xảy ra một số trường hợp tử vong. Vì vậy, không bao giờ để nước súc miệng trong tầm với của trẻ em.

DS NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG (ĐH Dược Curtin, Úc) - Tuoitre
Súc miệng với nước giữa các bữa ăn, đặc biệt sau khi uống nước ngọt, rượu, hay cà phê - những đồ uống làm ố răng.
[img]http://www.ktdt.com.vn/images_upload/small_125412.jpg[/img]
Trước tình hình số bệnh nhân đi khám chứa răng giảm tới hơn một nửa, các nha sĩ Mỹ đã đưa ra 10 lời khuyên để có một hàm răng vừa chắc khoẻ mà vẫn bảo vệ được túi tiền trước khủng hoảng cũng như trong tương lai.

1. Uống nhiều nước. Súc miệng với nước giữa các bữa ăn, đặc biệt sau khi uống nước ngọt, rượu, hay cà phê - những đồ uống làm ố răng. Thói quen này còn giúp bạn tránh được hơi thở nhiều “mùi”.

Nên súc miệng với nước máy, vì nó chứa những thành phần khoáng chất không thể tìm thấy trong nước khoáng.

2. Nhâm nhi một mẩu pho mát cuối bữa ăn sẽ giúp bạn trung hoà được các mùi vị.

3. Làm bạn với các thanh kẹo cao su không đường. Nó không chỉ giúp bạn tự tin trong giao tiếp mà còn khiến nước bọt của bạn được tiết ra liên tục nhằm rửa trôi axit bám vào men răng.

4. Không nên đánh răng ngay sau khi dùng những đồ uống chứa nhiều axit như nước cam hay soda. Tốt nhất nên súc miệng với nước máy hoặc nhai kẹo cao su không đường để ngăn ngừa axit tấn công men răng. Chỉ đánh răng ít nhất 20 phút sau khi uống.

5. Sau khi đánh răng, nên sử dụng nước súc miệng hay nước muối. Nhưng nhớ đừng để nước súc miệng trôi xuống cổ họng.

6. Rắc một ít muối lên bàn chải đã được làm ướt và đánh răng như bình thường. Muối cũng có tác dụng như kem đánh răng, Cách làm ít tốn kém này vừa giúp răng lợi sạch sẽ, lại còn tiêu diệt mọi ổ vi khuẩn trú ngụ trong miệng.

7. Sử dụng ống hút khi uống nước ngọt, soda, cà phê nhằm mục đích hạn chế sự tiếp xúc của răng với đồ uống, giúp răng không bị ố vàng.

8. Chọn lựa loại bàn chải có lớp lông đánh răng mềm. Nên đánh răng với nước ấm.

9. Hạn chế ăn bánh kẹo, đồ ngọt và thức ăn chứa nhiều tinh bột vì chúng chính là “thủ phạm” chính nuôi dưỡng vi khuẩn gây sâu răng.

10. Sử dụng chỉ nha khoa để lấy đi thức ăn còn mắc lại ở các kẽ răng. Hình thành thói quen tốt này cho bản thân sau mỗi lần dùng bữa.

Theo F.A/Dân Trí
Răng miệng là một phần rất quan trọng quyết định đến sự hoàn hảo của nhan sắc.

Một hàm răng trắng, nướu khỏe không chỉ giúp bạn luôn tự tin với nụ cười xinh tươi mà còn giúp bạn loại trừ được nguy cơ mắc phải các chứng bệnh liên quan tới răng miệng.Vậy để làm được điều đó có quá khó? Câu trả lời là không hề khó chút nào, chỉ cần bạn tuân thủ theo những lưu ý dưới đây là bạn sẽ có được “nụ cười” như ý ngay thôi.

Lựa chọn bàn chải đánh răng thích hợp
Khi chọn bàn chải đánh răng, bạn nên chọn loại có lông bàn chải mềm, đầu bàn chải được thiết kế nhỏ gọn sao cho có thể dễ dàng tiếp cận với những răng hàm trong cùng của nướu.

Thêm vào đó, các chuyên gia nha khoa khuyên bạn nên thay bàn chải sau mỗi 3 tháng một lần, để việc chải răng thực sự đem lại hiệu quả.

Sau khi chải răng xong bạn cũng nên cất bàn chải ở những nơi khô ráo, hợp vệ sinh và nhớ là đừng bao giờ dùng chung bàn chải với ai cả, bởi như vậy bạn sẽ rất dễ bị lây nhiễm các bệnh về răng miệng.

Chọn đúng kem đánh răng

Kem đánh răng là chất bổ sung giúp đánh răng sạch hơn và làm sáng bóng bề mặt răng. Thành phần chính của kem đánh răng là chất làm trầy nhẹ, xà phòng, chất làm sạch, chất tạo màu và hương liệu. Bên cạnh đó, kem đánh răng còn có các loại muối amoni, chất diệp lục, flour và đinh hương được sử dụng với các lượng khác nhau. Gia trị của kem đánh răng chứa flour là ngăn cản bệnh mục xương mà hiện nay đã được xác đinh rõ ràng. Nếu trên thị trường không còn các loại kem đánh răng nữa thì muối và sodium bicarbonat của nước soda là rất rẻ và có thể thay thế kem đánh răng một cách hiệu quả. Tuy nhiên, việc lấy nước cốt chanh cọ xát lên răng là rất tệ bởi nó có thể làm hỏng răng.

Dùng chỉ tơ nha khoa
Đánh răng thông thường không thể giúp bạn loại bỏ những mảnh vụn thức ăn mắc vào những kẽ răng, và sử dụng tăm tre để lấy chúng thì càng không nên. Bởi tăm tre sẽ rất dễ làm cho lợi ( nướu) bị tổn thương và gây rỗng chân răng.

Tuy nhiên, nếu không lấy được những mảnh vụn thức ăn mắc vào giữa các kẽ răng thì bạn sẽ phải chịu đựng cảm giác rất khó chịu và đây cũng chính là “thủ phạm” gây sâu răng.

Vậy cách duy nhất bạn có thể dùng để lấy ra các mảng bám, mảnh vụn thức ăn mắc trong răng mà không gây nên bất cứ tổn thương nào là hãy dùng tới chỉ tơ nha khoa.

Cách dùng chỉ tơ nha khoa rất đơn giản, bạn hãy lấy ra một đoạn chỉ cuộn vào hai đầu ngón tay ở 2 tay, sau đó tự ý đi dây chỉ vào các kẽ răng và lấy ra các mảng bám.

Bạn có thể mua chỉ tơ nha khoa tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe răng miệng hay tại các cửa hàng dược phẩm.

Dùng bàn chải điện
Mặc dù việc sử dụng bàn chải cắm điện so với bàn chải thông thường thì giá thành của nó đắt hơn rất nhiều. Tuy nhiên, việc chải răng của bạn cũng sẽ hiệu quả hơn rất nhiều lần.

Những người sử dụng bàn chải điện nên thay đầu bản chải từ 3 – 6 tháng mỗi lần để việc chải răng phát huy được tác dụng vốn có.

Thăm khám nha khoa thường xuyên
Đây là một thói quen rất tốt bạn nên duy trì, nên thăm khám răng miệng định kỳ tại các phòng khám nha khoa để có thể kịp thời phát hiện và xử lý những rắc rối trên răng.

Các chuyên gia khuyên bạn nên thăm khám từ 2 – 3 lần mỗi năm.

Nên tránh các loại thực phẩm gây hại
Các bác sĩ nha khoa cũng khuyên bạn nên hạn chế và tránh ăn những loại thực phẩm có hàm lượng đường lớn như bánh, kẹo, caramen.. vì chúng chính là tác nhân phá hỏng men răng, và “thủ phạm” gây sâu răng.

Ngoài ra bạn cũng không nên thường xuyên ăn vặt và ăn đồ ăn trước khi đi ngủ.

Bổ sung các loại thực phẩm có lợi

Trong chế độ ăn uống thường ngày bạn nên cung cấp đủ hàm lượng  Canxi, Photpho, Flour và các Vitamin A,C và D. Rất may mắn là hầu hết chúng có trong một chế độ ăn cân bằng thông thường.

Ngoài ra, bạn cũng nên nhớ hãy tăngg cường thêm các loại thực phẩm  có xơ như cà rốt, mía  và các loại salad để cọ xát nhẹ trên răng và đánh bật các mảng bám.


Theo aFamily
Mùa đông giá rét, sức đề kháng của con người sẽ yếu đi tạo điều kiện cho các loại bệnh phát triển. Nhưng rất ít người chú ý rằng hàm răng cũng cần được bảo vệ kỹ càng vào mùa đông.
Chúng ta không nên coi nhẹ các bệnh liên quan đến răng. Bạn cảm thấy đau răng, lợi bị viêm, buốt răng,.. tất cả những hiện tượng trên không những làm cho bạn ăn không ngon ngủ không yên mà nó còn dẫn đến các loại bệnh như viêm phổi, các bệnh liên quan tới tim, huyết quản, đường tiêu hóa. Nếu bạn muốn trải qua một mùa đông một cách khoẻ mạnh hãy nên tham khảo phương pháp bảo vệ răng vào mùa đông của các chuyên gia.

Thận tốt là nguồn gốc của hàm răng khoẻ mạnh: Theo các chuyên gia nha khoa cho biết, nguồn gốc của các loại bệnh về răng là ở thận. Lý thuyết đông y cho rằng, trong ngũ tạng thận điều tiết khung xương của con người, mà răng là phần cuối cùng của khung xương. Nếu thận khí không đủ sẽ ảnh hưởng tới lõi răng, răng lung lay, co lợi. Vì thế muốn bảo vệ răng mọi người phải chú ý giữ gìn khí thận.

Các chuyên gia khuyên rằng, mùa đông chính là lúc chúng ta càng phải giữ gìn sự khoẻ mạnh của thận, nên ăn hạch đào không những có thể giúp răng chắc khoẻ mà còn có hiệu quả rõ rệt trong phòng chống các bệnh dị ứng liên quan đến răng. Ngoài ra các bạn có thể ăn mật ong bởi chúng tốt cho tiêu hoá và phòng các bệnh về răng miệng.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Trà giúp chúng ta có hàm răng chắc khỏe và hơi thở thơm tho


Luôn giữ cho khoang miệng sạch sẽ hàng ngày: Khí hậu mùa đông khô hanh, rất nhiều mầm bệnh bay trong không khí, nếu con người hít phải những nguồn không khí này sẽ rất dễ mắc các bệnh về miệng. Đồng thời, mùa đông mọi người thường ăn rất nhiều những loại thức ăn bổ xung dinh dưỡng cho cơ thể như thịt, sinh tố hoa quả,…nếu không chú ý giữ sạch khoang miệng sẽ ẩn chứa rất nhiều loại bệnh về răng miệng.

Các chuyên gia khuyến cáo, thường xuyên làm sạch khoang miệng để giữ vệ sinh răng miệng. Đồng thời uống trà sẽ giúp làm sạch các thức ăn thừa sót lại trong miệng, thường xuyên uống trà rất có hiệu quả trong phòng trừ các bệnh về răng miệng, giúp răng thêm chắc khoẻ. Ngoài ra, hạn chế ăn các loại thực phẩm ngọt hoặc chứa đường, sau khi ăn nhớ làm sạch miệng, mỗi sáng và tối nhớ chải răng, kiểm tra răng miệng định kỳ.
Chú ý sự thay đổi thời tiết tránh thay đổi nhiệt độ đột ngột: Không khí mùa đông rất lạnh, khi hít thở răng sẽ tiếp xúc với luồng khí nên dễ mắc các triệu chứng như viêm lợi, chảy máu chân răng. Nếu thay đổi nhiệt độ nóng lạnh đột ngột thường xuyên, tần xuất những cơn đau răng của bạn sẽ rất cao. Các chuyên gia khuyến cáo, khi nhiệt độ xuống thấp, gió lớn, chúng ta nên mang khẩu trang khi ra ngoài để tránh cho răng bị lạnh. Khi vừa đi ngoài trời lạnh về chúng ta không nên ngay lập tức uống nước nóng hoặc ăn đồ ăn nóng, nên nghỉ ngơi một chút rồi mới ăn uống. Khi chải răng nên dùng nước ấm để tránh nước lạnh tác động xấu đối với răng.

Lẩu là món ăn yêu thích vào mùa đông của rất nhiều người. Nhưng bản thân lẩu có nhiệt độ rất cao dễ làm tổn thương khoang miệng. Hơn nữa lẩu lại thường cay khiến người dùng cảm thấy nóng, gây đau sưng phần lợi, chảy máu chân răng. Các chuyên gia khuyên rằng, ăn lẩu cũng không nên quá nóng, tần xuất cũng nên phù hợp, không nên quá nhiều. Sau khi ăn nhớ bổ xung nước, ăn thêm các loại hoa quả như lê, táo, chuối…để hạ nhiệt.



Theo xinhuanet
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiChúng ta biết rằng các loại thực phẩm, nước uống kể cả bia rượu, khói thuốc (thuốc lá, thuốc lào, thuốc phiện) đều qua đường miệng để vào cơ thể.
Các loại thực phẩm khi bị ôi thiu, nhiễm khuẩn sẽ gây ra rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy cấp... Ăn các loại thịt tái (bò, lợn, trâu), tiết canh (các loại) có thể bị nhiễm các loại sán (sán xơ mít, sán bò, sán lợn, sán chó, sán lá gan, sán lá phổi...), ăn sò huyết sống có thể bị thương hàn... Ăn các loại rau sống được chăm sóc bằng phân tươi, bằng các loại hóa chất... có thể bị nhiễm giun (giun đũa, giun sán) hay thậm chí còn có thể bị nhiễm độc hóa chất. Ngay cả khi thực phẩm an toàn (không nhiễm khuẩn, không có hóa chất độc hại) nếu ăn quá nhiều cũng sẽ bị bội thực; ăn uống không điều độ (bạ lúc nào cũng ăn), ăn quá nhiều các loại chất giàu dinh dưỡng cũng có thể sinh ra bệnh béo phì, huyết áp cao, bệnh thống phong (gút); uống rượu đến mức nghiện sẽ bị xơ gan...

Ăn xong đi nằm ngay (nhất là vào buổi tối) sẽ gây ra bệnh béo phệ. Ăn vặt, nhất là ăn nhiều bánh kẹo, ăn nhanh có thể gây béo phì và tiểu đường, viêm loét đường tiêu hóa...

Có thể kể ra hàng trăm thứ bệnh mà do ăn uống không điều độ hoặc thức ăn, đồ uống bị ô nhiễm gây nên. Vì vậy, nếu dùng nguồn thực phẩm sạch, an toàn và ăn uống có điều độ thì chúng ta có thể tránh được hàng trăm thứ bệnh. Nếu chúng ta thống nhất được quan niệm là: ăn để sống (tức là ăn để đảm bảo cho cơ thể có thể sống khỏe mạnh), chứ không phải “sống để mà ăn” (tức là ăn cho đã, thích gì thì ăn nấy cho thỏa thích) tức là ta đã tự tiết chế được chế độ ăn uống. Đây là một phương châm phòng bệnh tích cực.

Theo Thanh Niên
Con trai tôi năm nay 4 tuổi, bị sưng lợi ở chân răng và có mủ, uống thuốc nhưng không hết. Tôi đã lấy kim châm vào chỗ sưng và nặn hết mủ ra nhưng từ đó trở đi chỗ lợi đó luôn có mủ. Xin hỏi bác sĩ có cách nào chữa lành cho cháu?

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bác sĩ khám răng cho bé ở Trường mầm non Phước Bình, Q.9, TP.HCM - Ảnh: T.Đạm


Cháu bé 4 tuổi thường đã có đầy đủ 20 răng sữa, và sâu răng có thể xảy ra ngay sau khi răng mọc khỏi nướu; do đó chị cần chăm sóc răng miệng cho cháu và hướng dẫn cháu cách giữ gìn vệ sinh răng miệng một cách cẩn thận. Trường hợp của con chị nhiều khả năng răng sữa này đã bị sâu, chết tủy và gây biến chứng viêm xương.

Động tác chích rạch của chị giúp dẫn lưu mủ từ khối ápxe nhanh hơn và cháu có thể giảm đau ngay; tuy nhiên điều này không giúp loại bỏ nguyên nhân vi khuẩn từ vùng tủy răng đã chết. Thuốc kháng sinh, kháng viêm và giảm đau có thể được dùng để làm giảm các triệu chứng cấp tính. Các răng sâu này phải được điều trị tủy kỹ lưỡng để loại bỏ nguyên nhân gây ra tình trạng sưng đau này. Chị không nên tự ý chích rạch khối sưng mủ vì nhiều nguy cơ không thể kiểm soát, đặc biệt là nguy cơ nhiễm trùng máu…

Răng nên được điều trị và duy trì đến đúng thời điểm thay răng, để đảm bảo các răng mọc ngay ngắn và đúng vị trí. Chị hãy đưa con đến các bệnh viện răng hàm mặt ở TP.HCM để khám và điều trị.

Theo Tuổ Trẻ

Những thực phẩm mà bạn hấp thụ vào cơ thể cũng có thể gây ảnh hưởng đến nụ cười của bạn như việc chải răng vậy. Thế nên, một trong những phương cách thông minh nhất để giữ cho răng của bạn trắng khỏe là chọn lựa loại thực phẩm nào có khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho răng và lợi.  

Táo

Các quả táo có thể là “người bảo vệ” hữu ích cho răng và lợi. Táo giúp ngăn ngừa răng không bị sâu do chứa nhiều vitamin C và khoáng tố boron. Ngoài hai yếu tố này, các quả táo cũng là nguồn chất xơ rất lớn, rất tốt trong việc làm cho răng và lợi sạch.



Các loại chất đạm là những thành phần quan trọng đối với độ chắc khỏe của răng và lợi. Và cá là một trong những loại thực phẩm rất giàu đạm.

Nước

Nước có công dụng giúp vận chuyển những dưỡng chất chủ yếu như canxi và các chất khác đến với các màng tế bào, các màng này có nhiệm vụ tăng cường sự khỏe mạnh cho răng và lợi. Nếu bạn không có điều kiện chải răng sau khi ăn, hãy nhớ uống nước để giữ cho răng miệng sạch.

Wasabi

Loại gia vị này không chỉ là gia vị, nó còn giúp bảo vệ răng. Một nghiên cứu năm 2000 cho thấy trong wasabi có chứa một chất làm loại gia vị này có vị nóng, có tên isothiocyanate, chất này có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn gây sâu răng.

Sữa và các thực phẩm từ sữa

Sữa là nguồn canxi lớn và cực kì tốt cho răng và lợi.

Đậu

Các loại đậu rất giàu canxi và các khoáng chất thiết yếu khác, các dưỡng chất này rất quan trọng đối với răng và lợi.

Cherry, blueberry và quả nho đen

Cherry và berry là các loại quả chứa bioflavonoid giúp bảo vệ lợi không bị hư hại.

Các loại hạt

Các loại hạt như hạt bí ngô, hạt vừng, hạt hướng dương…đều rất giàu canxi, vitamin và khoáng chất, là các loại dưỡng chất tốt cho sức khỏe của răng và lợi.

Trà

Trà tốt cho răng và lợi vì chứa chất flavonoid chống sâu răng và ngăn ngừa các mảng bựa răng bám vào răng gây sâu.


(theo Đàn Ông)
Lợi có nhiệm vụ bảo vệ, che chở và giữ cho chân răng được chắc chắn. Nguyên nhân gây viêm lợi là do vi khuẩn ở trong mảng bám hoặc cao răng tồn tại lâu trong miệng. Vi khuẩn mảng bám tồn tại càng lâu thì mức độ nghiêm trọng mà chúng có thể gây ra càng lớn. Lợi của người bệnh bị sưng đỏ, dễ chảy máu, đặc biệt là khi chải răng, tổ chức chân răng lỏng, dễ chảy máu, kèm hôi miệng, người bệnh có cảm giác đau hoặc ngứa căng lợi răng.

Bệnh viêm lợi được chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu, lợi có thể bị đỏ, sưng phồng lên và rất dễ chảy máu nhất là khi đánh răng. Trong gia đoạn này, lợi có thể bị sưng tấy nhưng răng vẫn bám chắc trong lỗ chân răng. Không có các tổn thương về xương hoặc mô nào khác. Bệnh viêm lợi giai đoạn đầu có thể chữa được nếu người mắc bệnh có các biện pháp khắc phục đúng cách, trong đó bao gồm việc đánh răng và xỉa răng hàng ngày bằng chỉ nha khoa.

Giai đoạn hai: Nếu lợi đã bị viêm mà không chữa trị và chăm sóc răng miệng đúng cách, lớp lợi bên trong và xương hàm bị đẩy lùi ra phía sau, tạo thành những lỗ hổng quanh răng. Những khoảng trống nhỏ giữa răng và lợi là nơi tích tụ các mảnh vụn thức ăn bị giắt vào và có thể gây nhiễm trùng. Khi bựa răng tích tụ ngày càng nhiều dưới vòm lợi, hệ thống miễn dịch của cơ thể lại càng phải gắng sức chiến đấu chống lại vi khuẩn. Và như thế các độc tố kháng vi khuẩn và các chất enzyme trong cơ thể được sản sinh ra sẽ dần phá hủy hàm và các mô liên kết (những mô này có tác dụng định vị, giữa cho răng chắc). Lợi bị viêm sưng đỏ, chảy máu gây đau nhức, sưng má, răng miệng có mùi hôi khó chịu. Nếu viêm lâu ngày, lợp sẽ bị tụt xuống làm cho chân răng lộ ra ngoài trông rất xấu. Bệnh càng trầm trọng, những lỗ hổng này càng sâu, lợi và xương hàm bị phá hủy cành nặng, răng không còn chỗ bám nữa, sẽ trở nên lỏng lẻo và cuối cùng rụng ra.

Điều trị: Cần phải loại bỏ nguyên nhân là mảng bám răng và cao răng, người bệnh phải đến phòng khám để bác sĩ lấy sạch cao răng. Sau khi đã hết cao răng, bác sĩ sẽ hướng dẫn cách chải răng và sử dụng chỉ nha khoa để làm sạch mảng bám răng. Nếu bệnh nhân bị nặng, chảy máu lợi nhiều thì bác sĩ sẽ cho sử dụng thuốc kháng sinh.

Để phòng bệnh viêm lợi bạn nên chú ý mấy việc sau:

- Chăm sóc răng miệng tại nhà bằng cách ăn uống đủ chất và đánh răng buổi tối trước khi đi ngủ và buổi sáng khi thức dậy. Ngoài ra bạn cũng nên xỉa răng vì đánh răng chỉ chải sạch các bựa răng bám trên bề mặt những chiếc răng mà bàn chải với tới được, còn xỉa răng có thể lấy đi những bựa và cao răng nằm ở khe giữa các răng và sâu dưới lợi. Cả hai biện pháp này là cách tự bảo vệ răng tại nhà tốt nhất. Nên đánh răng xoay tròn ở các mặt phía ngoài của răng để tránh làm tổn thương lợi.

- Súc miệng và uống nước sau khi ăn, nhất là sau khi ăn đồ ngọt.

- Không dùng vật nhọn cứng chọc vào răng, gây ra khe hở chân răng, thức ăn thường hay giắt vào nơi đó gây viêm nhiễm.

- Hạn chế ăn uống nhiều chất cay nóng như bia rượu, ớt, gừng...

(Sức khoẻ và Đời sống)
Viêm lợi mãn tính sẽ dẫn đến rụng răng. Có rất nhiều nguyên nhân gây nên căn bệnh này nhưng chủ yếu vẫn là vệ sinh răng lợi kém. Để có nụ cười rạng rỡ, bạn hãy lắng nghe lời khuyên của các nha khoa dưới đây.

1. Các dạng viêm lợi thường gặp

Viêm lợi có 2 dạng chủ yếu:

- Viêm lợi cục bộ. Chứng viêm này không gây quá đau đớn cho người bệnh nhưng rất dễ tái phát.

- Viêm cận răng: ảnh hưởng tới tất cả cấu trúc bảo vệ răng. Loại viêm này lan rộng và ăn sâu vào trong lợi khiến người bệnh đau đớn. Tuy nhiên một khi bệnh được chữa khỏi, khả năng tái phát là rất ít.

2. Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân chủ yếu gây nên 2 loại viêm lợi trên chính là các mảng bám trên răng. Còn nguyên nhân gây nên vi khuẩn chính là:

- Không quan tâm tới vệ sinh răng miệng: Khi các mảng bám không được thường xuyên làm sạch, vi khuẩn sẽ tấn công đến tận chân răng và sản sinh tại đó các enzym có khả năng phá huỷ sự liên kết của các biểu mô (nối lợi và răng) và gây ra viêm lợi.

- Thuốc lá, rượu và chế độ dinh dưỡng mất cân bằng: thuốc lá, rượu, đồ ăn ngọt, đồ ăn quá nóng hoặc quá lạnh… sẽ gây nên những mảng bám trên răng, từ đó tạo thuận lợi cho bệnh viêm lợi tiến triển.

- Thường xuyên ăn thức ăn quá mềm: bạn làm cho hàm răng của mình lười hoạt động và làm cho cấu trúc bảo vệ răng yếu đi.

- Thay đổi hooc mon khi mang bầu: Có rất nhiều sự thay đổi hooc mon ở chị em trong giai đoạn bầu bí và theo cơ chế tự nhiên, sẽ làm giảm sức đề kháng của lợi đối với các vi khuẩn bám trên răng.

- Tụt lợi: khi lợi và răng không khít, các thức ăn và các mảng bám của răng sẽ nằm lại ở đây.

- Giảm tiết nước bọt: nguyên nhân là do tuổi tác, dùng các loại thuốc (chống trầm cảm, lợi niệu, histamin…) hoặc các bệnh làm giảm việc tăng tiết nước bọt, gây khô miệng, dẫn đến không loại bỏ được các mảng bám trên răng.

3. Phòng bệnh viêm lợi hiệu quả

Để phòng các bệnh về răng lợi, chúng ta nên thực hiện các lời khuyên sau của bác sỹ nha khoa:

- Đánh răng ngay sau khi ăn, hoặc ít nhất 2 lần/ngày vào buổi sáng khi ngủ dậy và tối trước khi đi ngủ.

- Dùng chỉ tơ nha khoa để lấy thức ăn thừa từ các kẽ răng.

- Lựa chọn kem đánh răng có chứa flo và các chất tốt cho răng, lợi

- Lựa chọn bàn chải đánh răng mềm, có thể đánh sạch cả những kẽ răng, những răng trong cùng mà không tổn thương đến lợi.

- Lấy cao răng định kỳ hàng năm

- Không hút thuốc lá và uống rượu

- Không ăn nhiều đồ ăn ngọt, nước giải khát có đường đặc biệt trước khi đi ngủ.

- Sử dụng thường xuyên các thực phẩm tốt cho răng

- Đi khám định kỳ răng lợi 6 tháng/lần

- Đối với trẻ nhỏ, các bà mẹ nên lau lợi cho con bằng nước muối sinh lý từ khi chưa có răng.

- Không ăn những thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh, để tránh làm tổn thương men răng và lợi…
Ngay khi bạn thấy những dấu hiệu bất thường trên răng và lợi, hãy lập tức đến khám nha sỹ. Sâu răng và viêm lợi càng được điều trị sớm, khả năng khỏi hoàn toàn càng cao.

Theo DT/ Doctissimo

Cháu bị viêm lợi đã mấy năm nay, có uống thuốc vitamin C, PP nhưng không đỡ được là bao, răng rất hay bị chảy máu và buốt. Thời gian gần đây, lợi của cháu bị tụt rất nhiều, trông rất xấu. Cháu xin hỏi bác sĩ bệnh của cháu phải điều trị như thế nào?

Trả lời:

Viêm lợi, viêm quanh răng là nguyên nhân thường gặp của tụt lợi.

Hậu quả của tụt lợi là làm mất men răng và cement chân răng, lộ ngà, ê buốt răng, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến viêm tủy răng. Mặt khác, tụt lợi ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ.

Để khắc phục tình trạng bệnh của mình, cháu nên chọn loại bàn chải có đầu lông tròn, mềm, khi đánh răng cố gắng đừng tác động đến lợi, nên dùng nước ấm để chải răng.

Nên dùng nước súc miệng chứa chlorhexidin, sodium fluorid, potassium nitrat có tác dụng giảm ê buốt và mòn chân răng.

Tùy theo mức độ tụt lợi mà các bác sĩ có chỉ định biện pháp điều trị khác nhau, có thể là ngậm máng plastic có bôi gel fluorid khi ngủ hoặc hằng ngày, dùng laser kết hợp với fluorid, phủ mặt răng bằng vật liệu composit, phẫu thuật...

Cháu nên đi khám để có được biện pháp điều trị phù hợp. Cũng lưu ý là không ăn các đồ ăn, uống chua, có gas, lạnh, nóng quá mức tránh ê buốt răng nặng hơn.

Theo BS. Nguyễn Trọng Lân

Sức khỏe & Đời sống
Dùng nước súc miệng trong thành phần có chứa chất hoá học như cetylprudinium clorua hay chlorhexidine gây ngả màu răng.

Một hàm răng trắng sáng và khoẻ là mong muốn của rất nhiều người. Tuy nhiên có rất nhiều nguyên nhân gây ngả màu răng. Những nguyên nhân chính sau sẽ giúp bạn hiểu thêm để bảo vệ độ sáng, trắng của "một góc con người".

1. Dùng thuốc

Dùng nước súc miệng trong thành phần có chứa chất hoá học như cetylprudinium clorua hay chlorhexidine gây ngả màu răng.

Các loại thuốc có chứa tetracycline và doxycycline, thuốc chống tănghuyết áp cũng có thể là nguyên nhân ảnh hưởng đến độ trắng đẹp của răng

2. Thực phẩm và đồ uống

Là một trong những nguyên nhân chính gây ngả màu răng, các sản phẩm như đồ uống có chứa carbonate, cà phê, trà, rượu và một số loại rau, trái cây như táo cũng gây ngả màu tự nhiên của chất khoáng trong răng.

3. Bệnh và điều trị bệnh

Phụ nữ đang mang bầu điều trị bệnh truyền nhiễm làm ảnh hưởng đến lớp men răng của trẻ sinh ra sau này.

Trị bệnh bằng phương pháp hoá học trị liệu, như dùng tia phóng xạ có thể gây ngả màu răng rất nhanh.

4. Thuốc lá

Hút thuốc lá thường xuyên rất có hại cho sức khoẻ đồng thời gây đổi màu răng, răng vàng và mồm có mùi hôi khó chịu. Việc đánh chải răng thường xuyên cũng không thể hết được tác hại của thuốc lá với răng, hơi thở và sức khỏe.

Theo DT
Thực phẩm các loại khi kẹt lại trong răng đều là “món ăn” ưa thích của vi khuẩn. Thời gian thực phẩm tồn tại ở trong răng miệng càng lâu, càng gây hại nhiều.

Cẩn thận với chất đường và ăn vặt

Carbohydrat dễ lên men như các loại đường sucrose, fructose, maltose, lactose; mật ong, đường vàng, mật mía; trái cây tươi, khô hoặc đóng hộp; nước ngọt... đều là những món ăn ưa thích của vi khuẩn. Người hay dùng chất ngọt bị hỏng răng nhiều gấp 12 lần người ít dùng. Ăn uống vặt nhiều lần trong ngày cũng làm thay đổi độ axit/kiềm của nước bọt và ảnh hưởng tới sự sâu răng.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Ăn nhiều đồ ngọt có nguy cơ làm răng bị sâu



Ví dụ ăn năm cái kẹo một lúc rồi súc miệng sẽ ít có hại hơn là lai rai số kẹo đó trong ngày. Ăn quà vặt cũng là một nguy cơ sâu răng vì độ axit trong miệng lên cao nhiều lần trong ngày. Cần nhớ là mỗi lần một lượng nhỏ carbohydrat dễ lên men được đưa vào miệng là độ axit trong nước bọt tăng lên cao và ăn mòn men răng.

Chất nào bảo vệ răng?

Đường hóa học saccharin, aspartame, cyclamate không làm hư răng; đường xylitol, sorbitol trong rượu không lên men lại được coi như chất bảo vệ răng. Chất đạm trong thịt, trứng, cá; chất béo, vài loại pho mát có tác dụng bảo vệ răng khỏi sâu. Chất béo tạo ra một lớp dầu mỏng che răng nên có tác dụng làm giảm tác dụng của đường, làm giảm độ dính của thực phẩm vào răng miệng.

Thực phẩm có nhiều xơ như dưa gang, rau diếp...giúp làm sạch răng và loại bỏ mảng bựa vôi. Thực phẩm vô hại cho răng là loại khi ăn không làm tăng nồng độ axit của nước bọt.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Pho mát có tác dụng bảo vệ răng khỏi sâu


Vai trò của nước bọt

Nước bọt có vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hóa cũng như bảo vệ răng. Có ba tuyến nước bọt là tuyến mang tai, tuyến dưới lưỡi và tuyến dưới hàm. Nước bọt có tính kiềm mà nhiệm vụ chính là giữ độ ẩm cho miệng, giúp tiêu hóa thực phẩm, giảm thay đổi axit trong miệng và tiêu hóa tinh bột. Nước bọt có nhiều canxi và phốt pho nên trung hòa axit do vi khuẩn tạo ra. Sự nhai, ngửi hoặc nhìn thấy món ăn ngon thơm đều khiến ta chảy nước bọt.

Sự tiết nước bọt giảm khi ngủ nên miệng thường khô. Nước bọt cũng giảm trong một vài chứng bệnh hoặc do tác dụng của vài loại dược phẩm như thuốc trị kinh phong, trầm cảm, dị ứng, cao huyết áp, thuốc có chất á phiện, các tia phóng xạ trị liệu.

Biết ăn phối hợp

Thực phẩm ăn xen kẽ cũng có ảnh hưởng tới khả năng gây sâu răng. Thực phẩm gây sâu răng mà ăn xen kẽ với thực phẩm không gây sâu răng sẽ tốt hơn. Chuối thường hay dính răng, dễ dẫn đến sâu răng, nhưng khi ăn kèm theo uống sữa thì tác dụng xấu giảm đi. Tráng miệng với miếng bánh ga-tô dính răng, sau đó lại nhai miếng pho mát Thụy Sĩ, miệng sẽ sạch mau hơn. Sữa có nhiều canxi, phốt pho nên có tác dụng trung hòa với thực phẩm dễ gây sâu răng, như đường. Dạng lỏng hay đặc của thực phẩm cũng là một yếu tố quan trọng.

Thực phẩm lỏng rời miệng mau hơn món ăn đặc nên độ axit cũng thấp hơn. Một viên kẹo cứng ngậm trong miệng cho tan dần tạo ra môi trường thuận lợi cho vi sinh vật nhưng kẹo cao su không đường nhai lâu làm tăng nước miếng và rửa sạch răng.
Ngô rang có nhiều chất xơ, ít carbohydrat lên men cho nên tốt cho răng.

Chỉ một chút đường trong bánh kẹo cũng đủ làm cho các món này dính lâu trong miệng, tạo điều kiện thuận lợi cho tác dụng của vi khuẩn.

Theo Lan Khanh
Thế giới tiêu dùng
Theo số liệu công bố trong một tài liệu chuyên khoa năm 2003, 90% dân số Việt Nam có vấn đề về răng miệng. Trong đó, bệnh sâu răng và bệnh quanh răng là hai bệnh phổ biến nhất.

Được xếp vào chứng bệnh của thời đại và văn minh, bệnh sâu răng cùng với bệnh vùng quanh răng là những bệnh phổ biến nhất của ngành Nha khoa (so với các bệnh khác như bệnh tủy răng, bệnh của răng khôn).

Bệnh về răng đang có chiều hướng tăng cao ở nước ta do những thay đổi trong lối sống, thói quen sinh hoạt, chế độ ăn uống và tuổi thọ trung bình.

Sâu răng là gì?

Bệnh sâu răng thực chất là sự tiêu hủy cấu trúc vôi hóa vô cơ (tinh thể canxi) của men răng và ngà răng, tạo nên lỗ hổng trên bề mặt răng, do vi khuẩn gây ra.

Nguyên nhân gây bệnh sâu răng: 3 yếu tố quan trọng gây bệnh sâu răng là vi khuẩn, đường (trong thức ăn) và thời gian.

- Vi khuẩn gây bệnh sâu răng tồn tại và bám trên bề mặt răng nhờ lớp mảng bám răng (dân gian gọi là bựa răng).

- Đường trong thức ăn và đồ uống: Vi khuẩn sử dụng đường để tạo và phát triển các mảng bám răng. Đồng thời chúng tiêu hóa đường để tạo axit, ăn mòn dần các chất vô cơ ở men răng và ngà răng, làm thành lỗ sâu.

- Thời gian vi khuẩn và đường tồn tại trong miệng. Nói chung vi khuẩn luôn tồn tại trong miệng. Còn đường thường tồn tại từ 20 phút đến khoảng 1 giờ trong miệng sau khi ăn, tùy thuộc vào hình thức chế biến trong thức ăn (đặc quánh hay lỏng, loãng).

Sâu răng xuất hiện khi nào?

Bệnh sâu răng chỉ diễn ra khi cả 3 yếu tố trên cùng tồn tại. Vì thế cơ sở của việc phòng chống bệnh sâu răng là ngăn chặn 1 hoặc cả 3 yếu tố xuất hiện cùng lúc.

Còn một yếu tố thứ tư không kém phần quan trọng là bản thân người bệnh. Các yếu tố chủ quan như tuổi tác, bất thường của tuyến nước bọt, bất thường bẩm sinh của răng có thể khiến cho khả năng mắc bệnh sâu răng tăng cao và tốc độ bệnh tiến triển nhanh.

Dấu hiệu của bệnh

Một dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là xuất hiện lỗ hổng trên bề mặt răng. Bệnh nhân nào cũng có thể tự phát hiện ra dấu hiệu này. Nhưng rất tiếc là khi các lỗ hổng này xuất hiện ra thì bệnh đã tiến triển được một thời gian dài, đang bước sang giai đoạn trầm trọng.

Do đó lỗ sâu răng không phải là dấu hiệu giúp chúng ta phát hiện bệnh kịp thời. Bình thường bệnh sâu răng có tốc độ phát triển tương đối chậm, mất khoảng từ 2 đến 4 năm để ăn sâu từ bề mặt lớp men răng đến lớp ngà răng. Khoảng từ 6 tháng cho đến 1 năm (hoặc có khi 2 năm) đầu thì bệnh thường tiến triển mà không tạo lỗ trên bề mặt răng. Do đó người bình thường không nhận ra mình bị bệnh.

Khi lỗ sâu còn nông thì không đau. Chỉ đến khi lỗ sâu lớn, ăn vào lớp ngà răng thì mới thấy đau với mức độ nhẹ, đặc biệt là khi ăn thức ăn nóng, lạnh hoặc chua, ngọt. Nhưng ngừng ăn thì cơn đau cũng ngừng.

Nếu để bệnh tiếp tục tiến triển thì sâu răng sẽ ăn vào tận buồng tủy răng, gây ra bệnh viêm tủy, đến lúc này thì rất đau, cơn đau kéo dài và người bệnh thường không xác định chính xác được là răng nào đau (thường chỉ xác định được một khu vực đau chung chung).

Nếu vẫn tiếp tục để bệnh phát triển mà không điều trị thì tủy răng sẽ chết và từ bệnh sâu răng và viêm tủy răng sẽ phát sinh ra các biến chứng như viêm quanh cuống răng, rụng răng, viêm xương, viêm hạch... nhiều trường hợp gây ra tử vong. Vì vậy, không nên coi thường bệnh sâu răng.

Điều trị bệnh sâu răng

Nếu được phát hiện sớm khi lỗ sâu răng chưa xuất hiện hoặc khi sâu răng chưa ăn sâu vào lớp ngà răng thì phần lớn bệnh sâu răng có thể được ngăn chặn bởi chính người bệnh mà không cần phải điều trị phức tạp, tốn kém.

Có 3 cách chủ yếu để chữa bệnh sâu răng ở giai đoạn sớm, đó là:

- Vệ sinh răng miệng thường xuyên và đúng cách.

- Hạn chế tối đa các thức ăn, đồ uống có phụ gia là đường.

- Sử dụng dung dịch keo Fluor ở chỗ răng sâu. Phương pháp này có tác dụng rất nhanh và hiệu quả trong việc ngăn chặn sâu răng và phục hồi cấu trúc răng trở lại bình thường. Bởi vì Fluor ở dung dịch này có nồng độ cao hơn nhiều so với ở trong kem đánh răng. Nhưng tuyệt đối cách này chỉ được thực hiện bởi nha sĩ để tránh ngộ độc Fluor, nhất là ở trẻ em.

Ở giai đoạn muộn của bệnh sâu răng thì cách điều trị phổ biến nhất là hàn răng. Trong một số trường hợp hy hữu khi răng sâu nặng, không thể hàn được thì phải nhổ.

Vậy làm sao để phát hiện ra bệnh sâu răng sớm?

Chỉ có một cách duy nhất là đi khám nha khoa theo định kỳ 6 tháng 1 lần, bởi vì chỉ có nha sĩ với những phương pháp kiểm tra lâm sàng và X-quang mới có thể phát hiện ra sâu răng ở giai đoạn sớm.

Theo Đẹp
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiVì răng của chúng ra bị mòn? Đau cơ hàm khi ngủ dậy? Đó là do tật nghiến răng gây ra. Hãy cùng các chuyên gia tìm hiểu căn bệnh này và cách phòng bệnh.


Ai hay nghiến răng?



Nghiến răng thường gặp ở cả trẻ em và người lớn. Có người thường nghiến răng ban ngày, có người lại nghiến răng ban đêm, có người cả ngày lẫn đêm.



Có thể tự phát hiện ra bệnh nghiến răng?



Phần lớn những người nghiến răng thường nghiến răng trong khi ngủ. Nếu những người nghiến răng ban ngày có thể biết được hành vi của mình thì những người có tật nghiến răng ban đêm chỉ biết nhờ những người nằm cạnh.



Trong trường hợp nghiến răng không phát ra tiếng - điều này khá nguy hiểm - thì tự bản thân có thể phát hiện qua biểu hiện đau cơ hàm và đau nửa đầu.



Nghiến răng có phải là bệnh?



Nghiến răng không phải là bệnh, do đó có những người nghiến răng rất nhiều trong thời điểm này nhưng lại hoàn toàn không nghiến răng vào những thời điểm khác.



Những yếu tố nào gây nên bệnh nghiến răng?



Các chuyên gia cho biết có 2 nguyên nhân chính gây nên bệnh nghiến răng:



- Răng không khít khi khép 2 hàm răng: Khi răng không thẳng hàng hoặc hổng một hay nhiều răng sẽ dẫn đến chỗ tiếp xúc giữa 2 hàm răng không vững. Theo phản xạ, hai hàm răng sẽ có xu hướng cọ xát vào nhau và nghiến chặt.



- Stress : Yếu tố tâm lý này cũng gây nên hiện tượng nghiến răng. Ban đêm, khi ngủ, stress có thể gây nên một áp lực đối với răng. Do đó, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau.



Mỗi lần nghiến răng là bao lâu?



GS. Franxois Unger (Pháp) cho biết một người bị nghiến răng có thể nghiến liên tục từ 6 - 8 phút vào ban đêm.



Nghiến răng có để lại hậu quả?



Có. Nếu bị nghiến răng mãn tính sẽ rất có hại cho răng, việc mọc răng (ở trẻ nhỏ) và cơ hàm. Răng sẽ bị mòn và có thể dẫn đến gẫy răng. Hiện tượng này làm cho những thức ăn có axit và đường bám vào răng nhiều hơn và đương nhiên sâu răng sẽ phát triển.



Nghiến răng nhiều có thể làm lợi và hàm răng thay đổi, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến biến đổi hình dạng khuôn mặt.



Có thể chữa được nghiến răng?




Hiện nay vẫn chưa có biện pháp hay loại thuốc nào chữa được hiện tượng nghiến răng. Đối với những người có hàm răng không đều các bác sỹ nha khoa khuyên nên khám răng và chỉnh sửa lại hàm và như vậy hiện tượng nghiến răng có thể giảm bớt.



Đối với những người bị nghiến răng do stress, cách chữa nghiến răng chỉ có thể là tìm ra nguyên nhân gây nên buồn phiền, stress.  Cân bằng trạng thái tâm lý, tình cảm… là một yếu tố quan trọng giúp chúng ta có một sức khoẻ tốt và có thể giảm bớt nghiến răng.


Với những người nghiến răng ban ngày, chỉ cần thả lỏng cơ hàm và thở đều. Nghiến răng sẽ hết trong vài giây.


Theo Doctissimo
Đánh răng là công việc hằng ngày của tất cả mọi người. Tuy nhiên, bạn đã đánh răng 3-4 lượt nhưng sâu răng, viêm lợi vẫn luôn là bạn đồng hành. Đó là vì bạn chưa biết... đánh răng.

1. Loại bàn chải đánh răng

Nên chọn bàn chải có đầu ngắn, thấp với lông bàn chải mềm.

Hầu hết các phần mảng bám và ngà răng còn đọng lại ở răng là do bề mặt lưỡi áp vào phần trong răng gây nên.Vì thế bàn chải có đầu ngắn và thấp sẽ vào sâu bên trong những vùng này để chải sạch chúng.

Lông bàn chải mềm sẽ loại bỏ những mảng bám còn lại ở răng sau khi ăn mà không làm tổn thương đến răng và lợi.

2. Số lần đánh răng

1 ngày nên đánh răng tối thiểu 2 lần trước khi đi ngủ và trước khi ăn sáng vì đây là thời gian chính diễn ra các hoạt động của vi khuẩn làm ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng.

Đánh răng trước khi đi ngủ giúp răng sạch sẽ,vi khuẩn sẽ ít có cơ hội hoạt động hơn, tất cả các mảng bám ở răng tạo nên qua đêm sẽ được đánh sạch.

Đánh răng buổi sáng sẽ giúp loại bỏ những thức ăn còn bám ở răng để giảm thiểu hoạt động của vi khuẩn gây hại cho răng.

3. Kỹ thuật đánh răng đúng

Các nha sĩ khuyên bạn rằng đánh răng đúng cách góp phần rất lớn và sức khỏe và vẻ đẹp răng miệng.

Bàn chải đánh răng sẽ chải sạch răng hiệu quả khi được đánh với một lực đủ để chải sạch những vết bẩn mà không gây tổn thương cho răng, lợi.

- Trước tiên nên đánh ở mặt ngoài răng từ sâu phía răng hàm ra ngoài răng cửa.

- Sau đó tiếp tục đánh  phía bên trong của hàm dưới.

- Tiếp đến đánh kỹ phần bên trong của hàm trên.

- Đánh đến bề mặt răng nơi dùng để nhai thức ăn.

- Nhẹ nhàng đưa bàn chải đánh răng lên bề mặt lưỡi để loại bỏ những phần mảng bám còn sót lại giúp lưỡi sạch và thơm tho.

- Đánh đi đánh lại răng tối thiểu 2 phút.

- Kết thúc công đoạn đánh răng bằng việc súc miệng bằng nước súc miệng giúp loại bỏ triệt để vi khuẩn và mùi hôi cho răng miệng.

Theo BSGĐ
Răng ngả màu có thể do thói quen ăn uống, do sử dụng kháng sinh, thiếu dinh dưỡng, bị nhiễm fluor hoặc có bệnh lý ở răng. Có nhiều cách để cho phần "góc con người" này được sáng hơn.

Những yếu tố khiến răng ngả màu

Thói quen ăn uống: Những người thường xuyên ăn trầu, uống nước chè đặc, ăn chocolate nhiều dễ làm cho răng trở nên sậm màu. Đặc biệt, đối với những người nghiện thuốc lá hay thuốc lào, khói thuốc và nhựa nicotin hằng ngày ám vào răng tạo thành một màu vàng xỉn hay thâm đen.

Trám kim loại trên răng: Một số người có sở thích trám lên răng những kim loại đắt tiền. Lâu ngày, sự ôxy hóa kim loại có thể làm cho răng bị ố vàng. Chỗ trám là nơi các loại vi khuẩn, gợn thức ăn bám vào làm đổi màu răng, gia tăng nguy cơ sâu răng.

Sử dụng quá nhiều tetracyclin: Trong quá trình mang thai, nếu người mẹ sử dụng nhiều kháng sinh này thì sẽ ảnh hưởng đến độ trắng sáng ở hàm răng trẻ.

Các bệnh lý ở răng: Sâu răng, viêm lợi, viêm chân răng, chết tủy, là những yếu tố tác động làm ngả màu răng. Sự hoạt động của các vi khuẩn gây bệnh cộng với chất cặn bã của thức ăn được lên men trong nước bọt sẽ làm cho men răng bị ảnh hưởng.

Thiếu dinh dưỡng: Trong thời kỳ thai nghén, nếu người mẹ thiếu chất dinh dưỡng, nhất là không được bổ sung đầy đủ canxi và khoáng chất thì có thể trẻ sẽ bị thiểu sản men (răng bị lỗ chỗ, có những đốm nâu trên bề mặt), thiểu sản ngà (răng trắng đục hoặc xanh tái, hoặc phần trên xám đen, phần dưới vàng nhợt nhạt). Trong thời kỳ trẻ mọc răng sữa hay thay răng vĩnh viễn, nếu trẻ bị suy dinh dưỡng, còi cọc thì cũng dễ có hàm răng không trắng.

Sống trong vùng có nguồn nước bị nhiễm flour: Một số địa phương có hàm lượng flour trong nước sinh hoạt cao, làm cho bề mặt răng có những đốm nâu vàng.

Xử lý răng bị ngả màu

Tùy theo mức độ ngả màu của răng, tình trạng mất men, vàng sậm hay nâu vàng và tùy theo nguyên nhân mà nha sĩ chọn biện pháp xử lý phù hợp.

Tẩy trắng răng: Trước khi tẩy trắng, nha sĩ phải khám kỹ răng cho bệnh nhân, các răng sâu phải được chữa trị khỏi trước. Hiện nay thuốc được sử dụng để tẩy răng thường là axit photphoric 35% (H3PO4) hay một loại thuốc có chất carbamid perpxid. Răng sẽ trắng lại nhiều hay ít tùy theo mức độ đen trước đó. Thời gian tẩy lại là 3-5 năm tùy vào mức độ giữ gìn.

Lấy cao và đánh bóng răng: Đối với những người răng đen, vàng do khói thuốc hoặc dùng nước chè đặc lâu ngày, cách làm cho răng trắng trở lại thường là đi lấy cao răng, cạo sạch những vùng răng bị ám đen.

Trám răng bằng composite: Đây là cách thường được áp dụng cho những trường hợp răng mất men nhiều, đen sậm màu, không có khả năng hồi phục độ sáng trắng bằng các phương pháp khác. Các bệnh viện răng hàm mặt, các khoa răng hàm mặt ở thành phố, tỉnh đều có thể thực hiện tốt kỹ thuật này.

Theo Sức khoẻ&Đời sống
Bên cạnh chải răng đúng cách và làm sạch răng bằng chỉ nha khoa, dinh dưỡng cũng góp phần bảo vệ răng và giữ cho lợi khoẻ.

Đường - Không phải thủ phạm duy nhất

Đường mía, thường được chúng ta biết đến dưới dạng đường hạt, là nguyên nhân số một gây sâu răng nhưng không phải là thủ phạm duy nhất mà các thực phẩm chứa nhiều tinh bột như bánh mỳ và ngũ cốc cũng gây ra sâu răng.

Khi tinh bột được hòa trộn với amylaza – men phân giải tinh bột – một loại enzim có trong nước bọt sẽ tạo ra một loại axit có khả năng bào mòn men răng, khiến răng dễ bị sâu hơn. Nếu những thực phẩm này còn sót lại trong miệng thì axit sẽ có thêm thời gian để tấn công và làm hỏng men răng.

Hãy cẩn trọng khi ăn trái cây sấy khô bởi vì chúng có hàm lượng đường cao. Thậm chí cả nước trái cây không đường cũng có thể gây sâu răng do có tính axit và chứa một lượng lớn hợp chất nhóm đường.

Lượng nước bọt giảm dần trong khi chúng ta ngủ khiến miệng bị khô trong thời gian dài cũng gây sâu răng. Quên chải răng trước khi đi ngủ đặc biệt nguy hại cho răng. Một số loại thuốc nhất định như thuốc điều trị huyết áp cao cũng làm giảm lượng nước bọt.

Nhai kẹo cao su không đường kích thích tuyến nước bọt, giúp giảm axit trong miệng và đánh bật mảng bám trên răng. Súc miệng và chải răng sau khi ăn là hai biện pháp hiệu quả để phòng ngừa bệnh sâu răng.

Ngoài ra, tráng miệng bằng phô mai giúp ngăn ngừa bệnh sâu răng.

Trái cây tươi, đặc biệt là táo, mặc dù vừa ngọt lại vừa có tính axit nhưng lại có ít khả năng gây sâu răng nhất bởi vì hoạt động nhai kích thích tuyến nước bọt sản xuất nhiều hơn giúp giảm độ axit trong miệng và rửa trôi các mảng bám trên răng. Chính vì thế, táo được mệnh danh là bàn chải răng tự nhiên.

Thiếu hụt dinh dưỡng dẫn tới các bệnh về lợi

Răng thường bị rụng do các bệnh về lợi nhiều hơn là do sâu răng. Bệnh viêm lợi dễ dàng tấn công những người phớt lờ vệ sinh răng miệng hoặc ăn uống thiếu chất. Đặc biệt là những người sử dụng đồ uống có cồn, suy dinh dưỡng, hoặc có HIV; những người đang được điều trị bằng thuốc có chứa steroid hoặc hóa liệu pháp làm chậm quá trình liền xương gẫy ở bệnh nhân ung thư.

Viêm lợi, một bệnh phổ biến với biểu hiện lợi sưng, đỏ và chảy máu. Nguyên nhân chủ yếu là do sự hình thành của các mảng bám trên răng. Điều trị bệnh viêm lợi đòi hỏi một chế độ vệ sinh răng miệng tốt và thường xuyên đi lấy cao răng. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh viêm lợi có thể phát triển thành bệnh viêm quanh răng - một dạng nhiễm trùng lợi nghiêm trọng khiến răng lung lay và rụng.

Thậm chí bệnh viêm lợi còn để lại những hậu quả tồi tệ hơn. Các cuộc nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa sức khỏe răng miệng kém với bệnh tim. Lợi chảy máu mở đường cho các loại vi khuẩn hoặc virus gây ra các vấn đề về tim mạch. Phụ nữ mắc các bệnh về răng lợi còn có nguy cơ đẻ non.

Lợi chảy máu là dấu hiệu thiếu vitamin C. Hãy ăn nhiều hoa quả tươi và rau xanh mỗi ngày. Những thực phẩm chứa nhiều chất xơ như cần tây hoặc cà rốt giúp lợi khỏe.

Theo DT
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiStress là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng nghiến răng. Ngoài ra, bệnh cũng có thể có các nguyên nhân khác như: các cản trở vướng cộm ở khớp cắn, rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương, suy dinh dưỡng, rượu và thuốc lá, yếu tố di truyền.
Khoảng 5- 20% dân số có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh nghiến răng, nhưng chỉ 5-10% nhận biết được điều này.

Bác sĩ Nguyễn Thị Kim Anh, Đại học Y Dược TP HCM, cho biết, nghiến răng là sự nghiến hoặc siết chặt các răng một cách quá mức, thường diễn ra khi ngủ (không có ý thức). Do lực sử dụng trong động tác này lớn gấp nhiều lần lực phát sinh khi nhai nên tật nghiến răng không chỉ tạo ra âm thanh khó chịu cho người xung quanh mà còn gây mòn răng. Răng sẽ bị mất hết lớp men, lộ ra lớp ngà vàng hơn, bị ê buốt, nứt gãy các múi răng, lung lay hoặc rụng. Tình trạng này nếu kéo dài có thể làm hư hỏng các phục hồi nha khoa như làm gãy, sứt miếng hàn, gãy các hàm giả tháo lắp hoặc cố định. Việc răng bị mòn sẽ làm giảm kích thước tầng dưới mặt, làm bệnh nhân trông già hơn.

Do các cơ hàm bị co thắt trong suốt thời gian nghiến, người bệnh có thể bị mỏi, đau các cơ, đau đầu, cổ. Các cơ hoạt động quá mức có thể bị phì đại, làm cho khuôn mặt bị mất cân xứng hoặc có dạng vuông (do phì đại cơ cắn ở cả hai bên), rối loạn khớp thái dương-hàm. Các dấu hiệu đầu tiên thường thấy là khó chịu hoặc đau ở khớp, há miệng khó, có tiếng kêu lụp cụp khi há miệng hoặc khi đang nhai. Tuy nhiên, ảnh hưởng của bệnh nghiến răng trên cơ và khớp thái dương- hàm thường không được bệnh nhân phát hiện một cách dễ dàng.

Một trong những phương pháp đối phó với bệnh nghiến răng là mang máng nhai. Dụng cụ này có tác dụng ngăn chặn sự phá hại răng, làm giảm tình trạng đau cơ và khớp thái dương - hàm. Cũng có thể áp dụng kỹ thuật mài để điều chỉnh, loại bỏ các vướng cộm khớp cắn. Ngoài ra, bệnh nhân cần thay đổi cách sống, tập yoga... để làm giảm stress, đồng thời loại bỏ thói quen hút thuốc, uống rượu.

Theo YK
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiĂn thường xuyên một lượng sữa chua nhất định sẽ giúp bạn tránh các bệnh về răng miệng như: hôi miệng, sụt lợi, rụng răng, các bác sĩ Nhật Bản công bố phát hiện mới.

Bác sĩ Yoshihiro Shimazaki và các đồng nghiệp của ông tại trường đại học Kyushu (Fukuoka, Nhật bản) đã xác định được acid lactic - có rất nhiều trong sữa chua, chính là chất có tác dụng diệt vi khuẩn gây hôi miệng, mảng bám và sâu răng.

Nghiên cứu trên 942 người tuổi từ 40 -79 (độ tuổi xuất hiện nhiều bệnh về răng miệng) cho thấy, với những người ăn sữa chua đều đặn mỗi ngày nguy cơ mắc các bệnh về răng miệng giảm 50% so với những người không ăn sữa chua.

“Trung bình mỗi ngày một người nên sử dụng ít nhất 55gram sữa chua (1/2 hũ thông thường)” – bác sĩ Shimazaki cho biết.

Như vậy, bên cạnh việc đánh răng và súc miệng đều đặn, ăn sữa chua cũng là phương pháp hiệu quả để giúp bạn bảo vệ răng miệng. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyên bạn nên sử dụng sản phẩm sữa chua không đường.

Acid lactic cũng tồn tại trong dưa muối và một số sản phẩm từ sữa khác, tuy nhiên sữa chua có hàm lượng acid lactic cao, không những có ích cho răng miệng mà còn hạn chế bệnh viêm loét dạ dày, đường ruột, tốt cho cơ và giúp giảm cân.

Theo Reuters Health
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiBạn muốn có bộ răng chắc khỏe ư? Hãy thường xuyên uống sữa. Đó là lời khuyên của các nhà khoa học thuộc Đại học Kyushu (Nhật Bản). Kết quả khảo sát trên 942 người từ 40-79 tuổi cho thấy những ai tiêu thụ trên 55g a-xít lactic - có trong các chế phẩm từ sữa - đã giảm đáng kể nguy cơ bị bệnh về răng lợi như sưng chân răng, rụng răng... Nghiên cứu cho thấy bệnh về răng lợi có thể ảnh hưởng đến sức khỏe.

Đây là nguyên nhân chính gây rụng răng ở người trưởng thành và có liên quan đến bệnh tim, đột quỵ, các biến chứng từ bệnh tiểu đường, bệnh về đường hô hấp hoặc chứng loãng xương.

Theo TTO
Các nhà khoa học Brazil vừa phát hiện trong xơ dừa có một số thành phần làm giảm đau và chống ôxy hóa, những tính chất có tác dụng chống vi khuẩn, virus và điều trị u bướu; và xơ dừa có thể được sử dụng để sản xuất các loại nước súc miệng chống vi khuẩn gây ra các bệnh về răng miệng

Nhà vi sinh học Celuta Sales Alviano cho biết ý tưởng thực hiện công trình nghiên cứu trên là nhằm tìm hiểu nguyên nhân tại sao những người thổ dân ở vùng Đông Bắc Brazil lại dùng xơ dừa pha chè uống để chữa các bệnh tiêu chảy và thấp khớp như một bài thuốc dân gian.

Bà Alviano cho rằng mặc dù vẫn cần phải tiếp tục các bước thử nghiệm công dụng của xơ dừa nhưng những kết quả ban đầu mang lại hy vọng có thể sử dụng xơ dừa như một nguyên liệu để sản xuất các loại thuốc giá rẻ trong tương lai.

Theo Laodong
Mới đây, một nhóm chuyên gia của Đại học tự trị quốc gia Mexico (UNAM) đã phát hiện một số hợp chất thuộc nhóm Triterpenoide trong quả mận có khả năng khống chế sự phát triển của vi khuẩn gây ra các bệnh về răng miệng

Theo TTXVN, Dược sĩ Jose Fausto Rivero, Trưởng Ban Chỉ đạo dự án "Cây thuốc và cây ăn quả của Mexico là nguồn cung cấp tiềm năng các hợp chất chống vi khuẩn gây sâu răng và viêm lợi", cho biết các nhà khoa học Mexico đã tìm thấy một số hợp chất trong quả mận có khả năng ngăn ngừa vi khuẩn Porphyromonas gingivalis gây viêm lợi và Streptococus mutans gây sâu răng. DS Rivero còn cho biết, trong 350 loại vi khuẩn ở khoang miệng của người, có nhiều loại là những mầm bệnh gây viêm lợi và sâu răng. Các hợp chất tìm được có thể ngăn cản một số vi khuẩn như Streptococus mutans, Lactobacillus acidophillus phát triển và bám dính vào bề mặt răng.

Theo Laodong
Dân gian thường dùng từ "méo mặt" để chỉ chứng bệnh này. Liệt nửa mặt thường gặp ở mọi giới và ở nhiều lứa tuổi, với nhiều biểu hiện khác nhau, nguyên nhân có thể là do u não và các sang chấn về thần kinh.
Người bệnh có thể tự phát hiện triệu chứng liệt nửa mặt qua hoạt động vệ sinh buổi sáng (khó chải răng, khó súc miệng), qua việc khó ăn sáng và soi gương thấy mất cân xứng nửa mặt (nhân trung lệch về một bên, môi miệng xếch về một bên). Bệnh nhân không nhắm kín được mắt ở bên liệt, không huýt sáo, thổi hay chúm môi được. Có thể có rối loạn vị giác (cảm giác nếm) ở hai phần ba trước của lưỡi và rối loạn thính giác (nghe kém). Những biểu hiện này thường do tổn thương nứt xương đá gặp sau sang chấn sọ (ngã đập đầu xuống đất gây rạn nứt xương đá) gây nên.

Người liệt nửa mặt có thể bị ù tai, nghe kém, tê nửa mặt và mỏi chân tay bên đối diện (đối diện với nửa mặt bị liệt).

Nguyên nhân gây liệt nửa mặt có thể do u não (u ở cầu não, góc cầu tiểu não, nền sọ) hoặc biến chứng thần kinh của u vòm họng. Sang chấn cũng gây liệt nửa mặt, điển hình là đụng dập gây rạn nứt xương đá. Một nguyên nhân thường gặp khác là viêm nhiễm: viêm màng não (nhất là do lao), viêm rễ dây thần kinh, biến chứng của viêm tai, viêm tuyến mang tai, viêm xương đá.

Liệt mặt cũng có thể do liệt dây 7 ngoại biên "do lạnh", thường gặp với bệnh cảnh đột ngột: sau khi tiếp xúc với trời lạnh, bệnh nhân ngáp và bị liệt. Đây cũng có thể do nhiễm khuẩn tiềm tàng, biểu hiện ra khi lạnh.

Người bệnh cần được bác sĩ chuyên khoa thần kinh khám và điều trị theo nguyên nhân. Đối với liệt nửa mặt chưa rõ nguyên nhân hoặc "do lạnh", cần giữ mặt cho ấm (quấn khăn len nếu trời lạnh), dùng vitamin B1 liều cao dài ngày, thuốc kháng sinh, kháng viêm; nếu nặng thì thường xuyên nhỏ mắt bằng dung dịch chloramphenicol. Nên kết hợp với vật lý trị liệu, châm cứu và thường xuyên tập các động tác ở mặt, trán, môi miệng. Những trường hợp nhanh chóng chuyển sang liệt co cứng nửa mặt cần được phẫu thuật.

TS Nguyễn Chương, Sức Khỏe & Đời Sống
Có người nói rằng: lừa đảo, động đất và khi khám răng; ba "tai nạn" đó đều dễ sợ ngang nhau. Kể ra thì cũng có lý. Nhưng nếu cố tránh cái sợ thứ ba, bạn có thể gặp nhiều điều rắc rối lắm: đau, nhức răng, viêm lợi, răng lung lay, rụng răng và còn bao chuyện kèm theo nữa. Chúng ta có thể tránh tất cả các tai hoạ về răng nếu biết cách giữ gìn thường xuyên hàm răng của mình.

Giữ cho răng lợi được tốt, đỡ phải chi tiêu tốn kém, khỏi bị đau nhức khó chịu mà chỉ cần phải thực hiện những việc làm đơn giản: xỉa răng và chải răng. Một vài thứ thuốc súc miệng cũng bảo vệ được răng lợi khỏi bị viêm. Những thức ăn như pho mát, bơ làm từ lạc lại có tác dụng giúp răng kéo dài tuổi thọ, và chống đỡ được một số vi khuẩn.

Chương sách này sẽ nêu ra một số biện pháp đơn giản, dễ thực hiện để giúp các bạn giữ hàm răng của mình được lâu bền và giúp bạn khỏi phải nhồi lên chiếc ghế của ông bác sĩ nha khoa!

Chọn kem đánh răng

Hàm răng trắng, hơi thở lành mạnh, không bị đau răng. Có loại kem đánh răng nào đáp ứng được sự mong muốn của chúng ta như thế hay không. Sau đây là một số điều bạn cần biết để lựa chọn kem đánh răng cho mình.

- FLUORIDE -Hiệp hội ngành răng của Mỹ thường khuyên cả người lớn lẫn trẻ em nên dùng kem đánh răng Colgate và kem đánh răng Mc leans vì trong thành phần có chất fluoride.

ở những nơi nước máy có ít chất fluorìde, các bác sĩ nha khoa thường cho bệnh nhân uống thêm các loại thuốc có fluoride để chống bệnh sâu răng.

- Một số thuốc đặc biệt - Trong trường hợp ăn bị ghê răng, hoặc cảm thấy răng buốt khi uống nước lạnh, nước nóng thì nên dùng các loại kem đánh răng có công thức pha chế đặc biệt như Sensodyne, Protect, Denquel và Promise.

- KEO RĂNG - Qua việc ăn, uống, thở có những chất bám vào răng của chúng ta, tạo thành nơi phát triển những vi khuẩn có hại. Nếu trong vòng 24 - 36 giờ, các chất đó không được đánh sạch khỏi răng, chúng sẽ kết cứng lại như một lớp xi măng mỏng được gọi là keo răng. Keo răng chọc xuống lợi gây viêm lợi và thu hút các vi khuẩn làm sâu răng.

Việc chải răng sạch bằng thuốc đánh răng, súc miệng, xỉa răng, đi khám răng để bác sĩ cạy hết lớp keo răng đều là những biện pháp để giữ răng được bền lâu.

- Mài Răng - Những người hút thuốc bị khói bám vào răng thường dùng kem đánh răng có chất làm mòn hoặc nhờ bác sĩ nha khoa dùng máy mải cho trắng răng đều không tốt vì làm mòn men răng.

xỉa RăNG - Xỉa răng có tác dụng cạy bỏ được keo răng và những chất bẩn bám vào kẽ răng hoặc ở dưới đường lợi chân răng. Nên xỉa răng và đánh răng hàng ngày. Nội dung việc xỉa răng là dùng tăm lùa vào các kẽ răng để cạy hay đẩy các các mẩu thức ăn vướng mắc bên trong ra hoặc dung tăm cọ vào răng theo mọi chiều như động tác chải răng vậy.

Xỉa răng ở chân răng nên nhẹ nhàng. Nhưng nếu có gây ra chảy máu cũng là việc bình thường. Sau khi xỉa răng nên súc miệng để nhổ những chất bẩn ra.

Thuốc súc miệng

Người dân Mỹ tiêu mỗi năm hàng triệu đô la về khoản thuốc súc miệng. Thuốc súc miệng gây cho bạn cảm giác miệng sạch thơm và thấy lưỡi, lợi cay cay tê tê trong ít phút. Nếu bạn muốn chống keo răng, nên dùng loại thuốc có cetylpridinium chloride hoặc domiphen bromide. Những chất này hoà tan các chất tạo ra keo. Các vi khuẩn cũng bị trôi đi. Nếu bạn muốn chống sâu răng, nhất là bị sâu ở các kẽ răng, nơi mà bàn chải đánh răng không chạm tới được thì nên dùng loại thuốc có fluoride.

Ðể thuốc súc miệng có tác dụng tốt, nên dùng như sau:

- Ðánh răng trước, súc miệng sau.

- Súc miệng bằng thuốc súc miệng chừng 1 phút rồi nhổ ra (không được nuốt thuốc súc miệng).

- Có thể chải răng bằng thuốc súc miệng trước khi đi ngủ.

- Không ăn, uống trong vòng 30 phút sau khi súc miệng.

Thức ăn làm hại răng

Những thức ăn sánh, dính như kẹo mạch, kẹo cứng thường dính lâu vào răng, dễ phối hợp với các vi khuẩn biến thành chất a xít làm hỏng men răng. Các loại bánh, trái cây để khô, xi rô, bánh kẹo làm từ ngũ cốc, khoai, tác dụng với nước bọt biến thành chất đường, nếu dính lâu ở răng cũng có hại cho răng như vậy. Ðể bảo vệ răng, nên nhớ:

- Nếu chúng ta ăn bánh hoặc trái cây giàu chất đường, nên ăn kèm với chất bột hoặc uống nước để làm loãng các chất còn bám vào răng.

- Không ăn trái cây, bánh kẹo, chất ngọt trước khi đi ngủ. Trong lúc chúng ta ngủ, nước bọt có thời gian biến các chất dính ở răng thành các chất có hại cho răng.

- Tránh ăn nhiều các loại kẹo mềm, dính.

- Nhai cà rốt là một cách làm sạch bề mặt của răng buổi sáng.

Thức ăn chống sâu răng

Có thức ăn làm hại răng, lại có thức ăn bảo vệ răng, đó là loại thức ăn như pho-mát, bơ làm từ lạc (đậu phộng) làm mất tác dụng của các xít có hại cho men răng trong miệng. Ngoài ra, còn có các loại thức ăn khác như:

- Quá hạch và các loại hạt

- Thịt, cá, thịt gia cầm, trứng.

- Dầu ô liu, lá thìa là trộn giấm.

- Sữa, pho mát, yaourt.

Keo bảo vệ răng

Dù bạn có đánh răng, xỉa răng, súc miệng với fluoride, không ăn kẹo, bạn vẫn có thể bị sâu răng vì răng có những chỗ lồi lõm tạo thành những hốc nhỏ ở những điểm mà bàn chải đánh răng hoặc tăm không đụng tới được. Ðó cũng là những nơi thích hợp cho các thức ăn tụ lại làm mồi cho các vi khuẩn phát triển. Gần đây, các bác sĩ nha khoa đã tìm được một loại chất dùng để dính vào răng như một lớp bọc ngoài bảo vệ cho răng khỏi bị các vi khuẩn tẩn công.

90% trẻ em thường bị sâu ở phần sau răng. Ðược dính chất keo bảo vệ răng, tỷ lệ sâu răng ở trẻ em đã giảm rõ rệt. Tuy vậy, lớp keo bảo vệ răng không có tác dụng đối với chiếc răng nào đã bị sâu.

Khi đi khám răng, bạn có thể hỏi bác sĩ để dính lớp keo bảo vệ răng cho mình. Việc làm này đơn giản, không gây đau, và khì cần phải chữa răng, không gây vướng víu gì.

Muốn lớp keo được bền, mỗi lần đi khám răng, nên yêu cầu bác sĩ coi lại và săn sóc nó một chút.

Săn sóc lợi

Răng eắm vào lợi, nên lợi có chắc thì răng mới bền. Thức ăn bị giắt vào chân răng, vật cứng, răng mọc bất thường (lẫy, khểnh...) răng sâu, hàm răng giả không khít với lợi, một số dược phẩm v.v... đều có tác dụng không tốt đối với lợi. Giữ vệ sinh răng lợi đều đều hàng ngày là biện pháp tốt nhất để bảo vệ lợi. Sớm phát hiện lợi bị đau để chữa trị là điều rất cần thiết vì nếu lợi bị đau lâu, các tế bào mô lợi bị huỷ hoại sẽ đưa đến kết quả rụng răng.

Bởi vậy, chúng ta phải luôn chú ý tới lợi, mỗi khi:

- Thấy lợi đỏ, bị đau và chảy máu.

- Thấy răng bị lệch ra khỏi hàng.

- Răng lung lay.

- Hơi thở có mùi hôi và ăn thấy nhạt miệng.

- Quanh chân răng có mủ.

Ðể chữa trị, cần có sự chỉ dẫn của bác sĩ.

Bảo vệ răng như thế nào?

Răng của chúng ta có thể gặp những chuyện không may như: bị biến màu (trắng thành đen, xám hay vàng...) có khía, cong hoặc sứt mẻ. Ðể tránh những hiện tượng trên, chúng ta phải giữ răng cấn thận:

- Không được nhai nước đá, cắn đầu bút viết.

- Không dùng răng thay kìm để nhổ đinh, dù chỉ là chiếc kim nhỏ cắm trong tập giấy.

- Khi hút tẩu, không cắn vào cán tẩu.

- Nếu bạn có tật nghiến răng khi ngủ, hãy nói với bác sĩ răng làm một tấm nhựa mỏng để ngậm khi ngủ.

- Nếu bạn chơi các môn thể thao như đá bóng, hockey, quyền anh, cần phải ngậm tấm nhựa bảo vệ răng.

- Khi lái xe, nhớ buộc dây an toàn vào người.

- Không được mút, nhai trực tiếp chanh, thuốc aspirin và Vitamin C. Những chất axít trong trái cây chua và các thứ thuốc đó có khả năng ăn mòn men răng.

Làm gì khi đau răng

Ðau nhức, chảy máu ở miệng hoặc hàm dưới là những hiện tượng hệ trọng, cần tới bác sĩ nha khoa ngay, vì đó là những trường hợp đau răng, vỡ hàm, gãy hoặc nứt răng.

Trong khi chưa có bác sĩ, bạn có thể tự săn sóc hoặc giúp đỡ người bệnh:

1. TRUỜNG HỢP BỊ ÐAU RĂNG

- Ðể giảm đau có thể uống aspirin hoặc thuốc giảm đau khác.

- Không bao giờ nhét aspirin vào chỗ đau vì aspirin sẽ làm loét lợi và mòn men răng.

- Nên tới gặp bác sĩ để khám, dù cơn đau đã qua.

- Nếu có chỗ lợi sưng (áp xe) vì viêm, uống aspirin hay acetaminophen và tới bác sĩ đề nghị uống thêm thuốc kháng sinh.

2. Bị Vỡ, RụNG, GãY RĂNG

- Ðắp một miếng gạc lạnh vào chỗ bị sưng.

- Thu nhặt mảnh răng vỡ, gãy để đưa tới bác sĩ.

3. RĂNG RụNG

- Nhặt răng và đánh sạch trong nước lã.

- Gói kỹ răng trong túi hoặc để răng dưới lưỡi, ngậm miệng lại rồi đì tới bác sĩ. Cố gặp bác sĩ trong vòng 30 phút sau tai nạn.

4. Vỡ HàM

Ðể cố định hàm, nên ngậm miệng lại rồi dùng nẹp và khăn buộc quanh cổ và đầu.

- Ðể giảm đau và đỡ sưng, áp một cục nước đá vào chỗ đau.

- Ði tới bác sĩ hoặc phòng cấp cứu ngay.

Ðể đỡ sợ khi tới bác sĩ chữa răng

Nếu bạn phải tới bác sĩ chữa răng, hãy hỏi bác sĩ về các biện pháp để bạn đỡ sợ hãi trong khi được chữa trị như:

- Hỏi bác sĩ về cảm giác mình sẽ thấy khi chữa trị. Nhiều bác sĩ có những biện pháp làm giảm sự lo sợ của bệnh nhân.

- Hỏi bác sĩ xem mình có thể nghe nhạc hoặc chuyện vui kể qua băng catsét không, vì cũng có bác sĩ dùng biện pháp này để làm giảm đau cho bệnh nhân.

- Nếu bác sĩ có thuật thôi miên, đề nghị thôi miên mình.

- Nếu thấy mình sợ hãi quá, đề nghị cho gặp bác sĩ chuyên về khoa tâm lý thần kinh, trước khi chữa trị.

Hãy đi khám răng đều, sáu tháng một lần. Sự săn sóc răng có thể làm giảm bớt số lần đau răng và chữa trị.

Chứng sái quai hàm

Khi những bắp thịt, đường gân của xương quai hàm không ở đúng vị trí của mình, bạn sẽ thấy bị đau tai, đau đầu, hàm, mặt, cổ, vai. Tai thì ù lên và mở miệng cũng thấy đau. Ðó là chứng sái quai hàm, bởi nhiều nguyên nhân:

- Nghiến răng khi ngủ.

- Nằm ngủ ở tư thế không bình thường, khiến xương hàm bị chệch và các gân cổ bị căng lâu.

- Các cơ bắp ở cổ và vai bị căng thẳng lâu.

- Nhai hoặc cắn không đúng vị trí.

Nếu bạn bị sái quai hàm, cần tới bác sĩ nha khoa. Ðể chữa trị chứng sái quai hàm bạn cần uống thuốc giảm đau, đeo một dụng cụ vào hàm để đưa xương hàm vào đúng vị trí và đôi khi cần cả phẫu thuật.

Nếu bạn đã từng bị sái quai hàm, nên tránh:

- Không nên nhai răng không (khi không có gì trong miệng).

- Tránh không nên mở to miệng quá khì ấn hoặc ngáp.

- Xoa bóp vùng quanh hàm nhiều lần mỗi ngày, khi mở miệng và khi ngậm miệng.

- Ðể các cơ bắp ở hàm không bị chứng co rút, nên chườm vùng hàm bằng khăn tẩm nước ấm.

- Nếu nguyên nhân vì stress, nên áp dụng các phương pháp giảm stress ở chương 6.

Ðừng vội nhổ răng

Trước kia, cứ bị đau răng mà đi gặp bác sĩ thì chín mươi chín phần trăm là nhổ. Nhổ một cái răng giải quyết được khỏi đau tức thời, nhưng sẽ đưa tới việc phải tiếp tục nhổ các răng bên cạnh. Ðồng thời cũng tạo ra các hiện tượng: thay đổi nét mặt vì móm, khó nhai, cắn khi ăn, và cả hàm răng sẽ bị yếu, nhất là những răng 2 bên cái răng bị nhổ vì không có điểm tựa. Hiện nay, việc nhổ răng không còn cần thiết nữa. Nếu răng đau, người ta có thể chữa trị bằng cánh rút hết tuỷ, dây thần kinh, mạch máu v.v...trong răng mà vẫn để răng đính vào hàm.

Nếu bạn gặp trường hợp phải chữa trị như trên, hãy cho bác sĩ biết, bạn có liên quan gì tới bệnh tim mạch hay không và nếu cần, uống trước một số thuốc kháng sinh.

Giữ nụ cười tươi bằng phương pháp bọc răng

Ðể báo vệ và làm đẹp hàm răng, ngày nay các bác sĩ nha khoa có thể áp dụng phương pháp bọc răng bạn bằng một lớp men sứ nhân tạo hoặc một lớp nhựa plastic, lớp bọc răng có tác dụng:

- Che chỗ răng bị biến màu

- Lấp những lỗ hổng ở răng va các kẽ răng.

- Bọc kín các chỗ răng bị hàn vì sứt hoặc vỡ

- Che kín chỗ răng sâu.

- Bảo vệ răng khỏi bị các vi khuẩn bám vào, gây sâu răng

Nếu bạn đã đi bọc răng:

- Không nên nhai nước đá và cắn kẹo cứng.

- Tránh hút thuốc lá, uống cà phê và trà. Vì những thức đó làm phần bọc răng chóng đổi mầu.

- Nên đi khám lại răng đã bọc 3 - 5 năm, một lần. Phần bọc nhiều khi cần phải sứa lại, hoặc thay mới.

Làm khung cho răng

Những chiếc răng bị sứt mẻ, bị vỡ, thiếu hoặc có chỗ bị sâu, nhiều khi cần phải có một bộ khung bao bọc chung quanh, vừa để bảo vệ răng, vừa làm cho răng có vẻ đẹp và bền hơn. Khung bọc răng có thể bằng men sứ silicát hoặc kim loại. Khi nào bạn cần làm khung bọc:

- Khi răng bị sâu và mất nhột phần.

- Răng bị mẻ, sứt, nứt, vỡ.

- Có khoảng hở lớn giữa hai răng:

- Răng lung lay.

- Răng yếu vì đã rút tuỷ.

Ðeo khuôn cho răng và hàm răng

Không phải người Mỹ nào sinh ra cũng có sẵn hàm răng đẹp. Mỗi năm có tới 4 triệu người, phần đông là người lớn phải dùng phương pháp đeo khuôn để chỉnh lại vị trí của

một số răng hay cả hàm răng. Phương pháp đeo khuôn có ích cho những trường hợp sau:

- Răng vẩu hoặc răng sô.

- Hàng răng không đều.

- Hai hàm không khớp nhau nên nhai và cắn khó.

- Kẽ răng rộng quá.

Thường phải đeo khuôn trong 2 năm mới chỉnh được hàng răng. Trong khi đeo khuôn, để tránh hại cho răng:

- Không nên nhai khi miệng không có thức ăn.

- Không được cắn các thức ăn cứng như bánh cứng, kẹo cứng, nước đá cục.

- Không cắn cả quả các loại trái cây như lê, táo và các trái có vỏ cứng khác. Phải gọt vỏ và bổ ra thành miếng.

- Sau khi ăn, phải phải răng băng thuốc đánh răng có fluoride.

- Ðánh răng và súc miệng mỗi ngày.

- Khi răng miệng, lợi, bị đau hoặc dễ chảy máu, cần đi khám bác sĩ.

- Nếu khuôn răng có chỗ hỏng hoặc không khớp với hàm, cần tới bác sĩ làm lại. Không nên tự sửa lấy.

Theo YK
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiNếu trong thời gian mọc răng sữa, bé sốt tới 38,5 độ C trở lên, bạn có thể dùng Paracetamol để hạ sốt, liều lượng 10-15 mg cho một kg cân nặng, cứ 4 giờ cho uống một lần. Nếu bé sốt nhẹ hơn thì không cần uống thuốc.
Vào khoảng 6-8 tháng tuổi, trẻ bắt đầu mọc răng sữa. Bé có thể bị sốt nhẹ, chảy nước bọt nhiều, thường đưa tay vào miệng cắn hoặc dùng lưỡi liếm phần lợi phía trước. Bé cũng có thể đi cầu phân nhão, sệt 3-4 lần/ngày, quấy khóc, biếng ăn. Các dấu hiệu này thường xuất hiện rồi tự hết trong vòng 3-7 ngày (cũng có những bé không xuất hiện dấu hiệu gì). Khi bé có các triệu chứng trên, cha mẹ cần lưu ý:

- Nếu bé đi cầu phân sệt nhiều lần trong ngày nhưng lượng phân và lượng nước ra ít thì không cần cho uống bù nước, hãy cứ cho ăn uống bình thường. Nếu phân nhiều nước hoặc bé đi quá nhiều lần thì nên đưa đến bác sĩ.

- Hãy mang bé đến bác sĩ nếu tình trạng quấy khóc, không chịu ăn kéo dài trong một tuần lễ, có nguy cơ gây chậm tăng cân, sụt cân. Nếu bé chỉ ăn ít trong vài ngày thì có thể không cần đi khám.

Giúp bé có một bộ răng đẹp

Để răng bé khỏe đẹp, không bị sâu và có các dị tật, cha mẹ cần:

- Giữ vệ sinh răng miệng tốt cho bé: Sau khi ăn, nên cho bé uống một ít nước lọc để súc miệng, sau đó lau răng bằng khăn mềm; hoặc đánh răng cho bé. Nên làm thường xuyên nhiều lần trong ngày.

- Hạn chế các thói quen xấu của bé như ăn bánh kẹo thường xuyên, không đánh răng trước khi ngủ, ngậm vú giả, mút ngón tay. Những thói quen này có thể gây di lệch hàm răng, dẫn đến móm hoặc vẩu.

- Dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý, đặc biệt là đảm bảo chất canxi ngay từ giai đoạn mang thai.

- Không tự ý mua kháng sinh cho con uống để phòng ngừa tình trạng vàng răng vĩnh viễn do thuốc.

- Đưa con đi khám răng định kỳ 6 tháng một lần để kịp thời phát hiện và xử lý các bất thường.

BS Đào Thị Yến Thủy, Thanh Niên
Nếu không được điều trị, bệnh có thể gây các biến chứng như viêm tủy răng, viêm quanh cuống răng với các cơn đau dữ dội. Sâu răng còn có thể gây viêm hạch, viêm tủy xương, thậm chí gây nhiễm trùng huyết.
Sâu răng là một bệnh mạn tính phổ biến. Tuy y học đã phát triển nhiều, vệ sinh răng miệng đã được thực hiện rộng rãi nhưng tỷ lệ bệnh sâu răng vẫn ngày càng tăng ở các nước phát triển (90%, thậm chí 100% dân số).

Chẩn đoán sâu răng thường dựa vào các triệu chứng:

- Nhìn thấy lỗ sâu: Thường là thương tổn men và ngà răng. Nếu dùng que nạo ngà, lấy hết vụn bẩn thức ăn trong lỗ sâu, sẽ thấy đáy lỗ sâu rộng hơn miệng lỗ.

- Đau buốt khi kích thích: Khi thức ăn lọt vào lỗ sâu, khi ăn nóng, lạnh, ngọt..., bệnh nhân sẽ đau buốt; hết tác nhân kích thích sẽ hết đau.

- Nếu thấy răng có lỗ sâu mà đau thành cơn kéo dài khoảng 10 phút rồi dịu dần thì đó là dấu hiệu nhiễm trùng tủy răng. Lúc này, sự can thiệp của thầy thuốc là rất cần thiết.

Để điều trị sâu răng, cần nạo sạch ngà vụn, sát khuẩn lỗ sâu và hàn kín. Tùy theo vị trí của lỗ sâu, mức độ sâu và điều kiện kinh tế của từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ chọn chất hàn phù hợp.

Để phòng sâu răng, không nên ăn vặt, nhất là thức ăn có đường; tăng cường thức ăn có nhiều chất xơ như rau, táo, cam... Cần tăng cường chất lượng tổ chức cứng của răng bằng cách: người mẹ mang thai ăn uống tốt, nhất là cung cấp đủ canxi và vitamin; trẻ em cần chống còi xương, suy dinh dưỡng vì điều này ảnh hưởng tới sự phát triển của răng. Vitamin D, fluor là chất vi lượng rất quan trọng để nâng cao chất lượng tổ chức cứng của răng.

Về vệ sinh răng miệng, cần chải răng đúng cách với kem chứa fluor, tốt nhất là sau bữa ăn. Nếu chải 1 lần/ngày thì nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ. Lấy cao răng định kỳ 6 tháng/lần.

BS Trịnh Thu Hà, Sức Khỏe & Đời Sống

Đây là một tổn thương mạch máu của da mặt, có thể gây tổn thương mắt. Biểu hiện điển hình của bệnh là những cơn kịch phát đỏ bừng mặt mũi và một trạng thái giãn mạch lăn tăn ở mặt. Trên mặt xuất hiện các tổn thương viêm, phân bố chủ yếu ở mũi, hai má, giữa trán và vùng cằm.
Tổn thương bao gồm sẩn viêm và mụn mủ, không có ở chân lông, đôi khi là những u hạt nhỏ, trông giống lupus lao. Bệnh thường bắt đầu ở lứa tuổi 30-50. Ở tuổi thanh niên, nam bị nhiều hơn nữ, còn ở tuổi trung niên thì nữ nhiều hơn nam.

Căn nguyên gây bệnh đỏ mặt chưa được xác định rõ. Bệnh có liên quan với thể địa da dầu, rối loạn nội tiết, rối loạn miễn dịch, rối loạn vận mạch ở mặt, rối loạn tiêu hóa và hấp thu. Yếu tố tâm lý đóng vai trò làm bệnh nặng lên. Về triệu chứng, bệnh tiến triển qua 4 giai đoạn:

- Giai đoạn các cơn đỏ bừng mặt: Cơn xuất hiện chủ yếu sau bữa ăn, nhưng cũng có khi sau một stress, sau khi ăn thức ăn cay nóng, uống rượu, thay đổi thời tiết. Vùng đỏ nhất là giữa mặt, có thể kèm theo đỏ màng tiếp hợp và chảy nước mắt, có thể đỏ cả da đầu và hai tai.

- Giai đoạn đỏ da, giãn mao mạch lăn tăn: Bệnh nhân đỏ mặt thường xuyên, kèm theo giãn mao mạch lăn tăn ở má, mũi; đôi khi có phù nề lan tỏa vùng mũi, gò má.

- Giai đoạn đỏ mặt, sẩn mụn mủ: Trên nền da đỏ, mao mạch giãn lăn tăn, xuất hiện các sẩn viêm, đôi khi có mụn mủ vô khuẩn.

- Giai đoạn phù voi ở mặt, thường chỉ gặp ở nam giới: Trên mặt xuất hiện các mụn to, đỏ và sần sùi, đôi khi phát triển ra cả cằm, mi mắt, thậm chí cả tai.

Bệnh tiến triển thành từng đợt nặng dần theo sự biến đổi của thời tiết và mùa, theo chế độ ăn uống hoặc đột biến nội tiết, tâm lý. Bệnh có thể thoái lui sau một đợt tiến triển. Bệnh có thể gây biến chứng ở mặt như viêm mi mắt, viêm màng tiếp hợp, loét giác mạc.

Về chẩn đoán: cần phân biệt bệnh đỏ mặt với:

- Trứng cá thường (tổn thương là nhân trứng cá, sẩn viêm, thể địa da sần đỏ...)

- Lupus đỏ: Ban đỏ ở mặt có hình cánh bướm, đối xứng qua sống mũi, có đỏ da, dày sừng và teo da...

- Hội chứng Haber: Hội chứng này mang tính chất di truyền, tổn thương giống đỏ mặt, xuất hiện sớm ở tuổi trẻ. Mặt đỏ, phù, sau đó có giãn mạch.

Việc điều trị bệnh đỏ mặt tương đối phức tạp. Bác sĩ sẽ tùy theo từng giai đoạn của bệnh và đáp ứng của từng bệnh nhân để lựa chọn thuốc và biện pháp phù hợp. Có thể kết hợp cả nội khoa và ngoại khoa. Bệnh phải chữa kiên trì vài tháng đến hàng năm.

BS Trần Đăng Quyết, Sức Khoẻ & Đời Sống
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiLiếm mu bàn tay, để khô và ngửi, bạn sẽ biết đích xác mùi trong miệng mình.

Đây là một trong những cách đơn giản để biết hơi thở của bạn có thanh khiết không. Ngoài ra, các dấu hiệu sau cho thấy mùi trong miệng bạn chẳng dễ chịu chút nào:

- Thường xuyên có vị chua trong miệng
- Lưỡi đóng bợn và có màu hơi vàng
- Bạn thường thở bằng đường miệng và cảm thấy khô miệng do thiếu nước miếng.

Những loại thực phẩm giúp hơi thở thơm tho:

Bạn không cần phải dùng đến những loại nước súc miệng đắt tiền, chỉ cần ăn uống lành mạnh cũng có thể làm giảm lượng vi khuẩn và mảng bám gây nên hơi thở hôi.

- Dứa (thơm): Có chứa bromelin, một loại enzyme tiêu hóa cũng có tác dụng làm sạch đường miệng tự nhiên.

- Sữa chua: Làm giảm mảng bám và bệnh viêm lợi cũng như khí H2S làm cho hơi thở có mùi hôi. Bạn nên chọn những loại sữa chua không đường.

- Dâu tây tươi: Ăn dâu tây tươi giúp tăng sự sản xuất nước miếng, khiến các axit và các mảng bám thức ăn bị tống đi và không dính vào răng.

Tuy nhiên, cách tốt nhất để giữ gìn vệ sinh răng miệng vẫn là thường xuyên đánh răng, nạo sạch lưỡi, ăn ít thịt và hạn chế bia rượu.

Mới đây, các nhà khoa học Mỹ đã chỉ ra rằng, chỉ cần một lượng nhỏ vỏ cây mộc lan có thể giúp khắc phục mùi hôi không mong muốn từ miệng.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Trên thực tế nguyên nhân gây hôi miệng là do các thực phẩm có chứa các vi khuẩn đặc biệt hoạt động.

Phần lớn những chất chống mùi hôi ở miệng hiện nay đều có tác dụng phụ, ví dụ như “nhuộm màu” cho răng. Còn khi dùng một lượng nhỏ vỏ cây mộc lan thì hoàn toàn không có tác dụng phụ. Vỏ cây mộc lan còn được y học cổ truyền Trung Quốc sử dụng như một loại thuốc tránh sốt, đau đầu và căng thẳng.

Sau khi tiến hành thí nghiệm với vỏ cây mộc lan, giáo sư Minmin Tan cùng với các đồng nghiệp kết luận: chất từ vỏ cây mộc lan có thể chống loại 3 loại vi khuẩn trong cơ thể. Chỉ sau 5 phút, mộc lan có thể tiêu diệt hết 99,9% vi khuẩn gây hôi miệng.

Trong khi đó bạc hà chỉ tiêu diệt được 61% vi khuẩn sau 30 phút, còn kẹo cao su là 43% vi khuẩn sau 40 phút.

Ngoài ra, tờ Daily Mail còn cho biết, vỏ cây mộc lan còn tiêu diệt các vi khuẩn gây hại cho men răng.


Hường Anh

Theo Passion/Dân trí
Đau răng tuy không nguy hiểm, những rõ ràng khi phải chịu đựng cảm giác đau răng thì không dễ chịu chút nào. Bài thuốc đơn giản và hiệu nghiệm sau đây sẽ giúp bạn nhanh chóng loại bỏ cảm giác đau răng.[/b]

Không tự nhiên mà đau
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Đau răng thường là do các dây thần kinh ở chân răng bị sưng tấy hay nhiễm trùng.

Mỗi chiếc răng đều có phần lợi (nướu)  bao xung quanh, vì một lý do nào đó vùng lợi này sưng tấy hoặc viêm nhiễm cũng khiến bạn phải chịu đựng cảm giác đau đớn.

Nhưng phổ biến nhất đau răng chủ yếu do sâu răng gây nên. Sâu răng có thể xảy ra với bất cứ ai, với bất cứ đối tượng nào nếu không tuân thủ nghiêm ngặt các cách vệ sinh răng miệng hay chế độ ăn uống không khoa học.

Nguyên nhân phổ biến dẫn đến đau răng:

- Sâu răng

- Sưng phồng hay viêm nhiễm nướu (lợi)

- Do việc uống quá nhiều các loại nước giải khát có đường

- Do sự phá hủy của cacbonhydrat và đường

- Ăn uống không khoa học

- Do viêm nhiễm răng

- Do sự nứt hay vỡ răng

Cách điều trị đơn giản

- Ngâm một nhánh tỏi trong một chén nước muối, sau đó dùng bông gòn thấm vào chỗ răng đau.

- Lấy một nhánh hành sống, giã nhuyễn đặt vào trong miệng chỗ bị đau.

- Lấy lá cam, sao khô tán nhuyễn rịt vào vùng răng bị đau.

- Dùng lá của cây lúa mì ép lấy nước và súc miệng.

- Nhai vỏ của cây đinh hương và rịt vào chỗ răng đau, thậm chí bạn có thể dùng dầu của cây đinh hương cũng có thể cải thiện tình hình.

KHỔNG THU HÀ (Theo Toothache.htm)/Tuổi trẻ
Biểu hiện của bệnh này là sự xuất hiện các chấm trắng nhỏ ở lợi, gây đau, xót nhất là khi ăn mặn và chua; về đêm thường làm sưng môi, cằm. Áp-tơ vùng miệng tuy nhẹ nhưng gây khó chịu. Cứ 5 người thì một người mắc bệnh này.

Nguyên nhân gây áp-tơ vùng miệng đến nay vẫn chưa xác định được rõ ràng vì có nhiều yếu tố liên quan đến phát sinh bệnh:

- Nhiễm khuẩn: Do mất cân bằng sinh học của tạp khuẩn trong miệng bao gồm: các vi khuẩn ái khí, kỵ khí và nấm cộng sinh.

- Nội tiết: Thể hiện khá rõ ở phụ nữ (dễ bị áp-tơ trong thời kỳ sau đẻ, thời kỳ mãn kinh hoặc trong khi mang thai).

- Tâm lý và xúc cảm: Stress được xem như một yếu tố thuận lợi.

- Các thực phẩm hư gia vị (tiêu, ớt), trái cây chua (giấm, chanh) làm tăng độ pH nước bọt, ltạo điều kiện cho sự tăng sinh của các vi sinh vật ưa axit trong miệng.

- Vitamin: Người ta thấy những người bị áp-tơ miệng luôn luôn bị thiếu sắt và thiếu sinh tố B12.

Về biểu hiện lâm sàng, áp-tơ vùng miệng có hai loại chính:

Áp-tơ đơn độc: Là thể bệnh hay gặp nhất (80%). Tổn thương là một vết loét có đường kính 3-10 mm thường là hình tròn, gây đau nhức tại chỗ, cảm giác bị bỏng, căng và nặng thêm khi cọ xát, tiếp xúc với thức ăn, gây trở ngại khi nhai, nói. Mỗi đợt áp-tơ đều tiến triển qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn báo bệnh: 24 giờ trước, bệnh nhân có cảm giác nóng rát ở vùng niêm mạc sẽ bị loét.

Giai đoạn trước loét: Từ 18 giờ đến 3 ngày xuất hiện một vết ban nhỏ có màu đỏ hoặc xuất hiện một nốt sần ở giữa màu vàng, có quầng đỏ bao quanh. Tổn thương này có thể tự khỏi sau 2-3 ngày.

Giai đoạn loét: Từ ngày thứ 4 đến ngày thứ 6. Tổn thương lúc này rộng ra, màng hoại tử tróc ra để lại một vết loét hình tròn có đường kính 2-10mm đáy trũng, bờ rõ rệt, có viền đỏ bao quanh và tiết dịch nhày ở giữa.

Giai đoạn lành bệnh: Đau giảm dần sau 5-7 ngày. Viêm và quầng đỏ biến dần. Đáy vết loét trở lại màu hồng, biểu mô mọc trở lại, vết loét lành không để lại sẹo.

Áp-tơ trầm trọng: Khoảng 10% người bệnh ở dạng này những vết loét tái phát xa hoặc rất gần nhau làm đau dữ dội, tăng tiết nước bọt, khó nuốt, miệng hôi, bệnh nhân khó ăn, khó ngủ và lo lắng... Đôi khi có bội nhiễm gây sốt, nổi hạch, thiếu máu nhẹ và giảm bạch cầu. Bệnh kéo dài khoảng 10-30 ngày và khi lành sẽ để lại sẹo.

Do chưa biết rõ cơ chế gây bệnh nên việc điều trị chủ yếu là chữa triệu chứng, làm giảm độ tái phát của bệnh. Bệnh nhân cần được bác sĩ chuyên khoa khám và theo dõi.

BS Mạc Cẩm Thúy, Sức Khỏe & Đời Sống
Cơn đau răng dữ dội bỗng nhiên xuất hiện và hành hạ bạn. Đau thường giật theo nhịp mạch đập, có thể lan lên thái dương hay lên đầu và biến mất đột ngột sau 15-30 phút. Đó là các dấu hiệu chứng tỏ bạn bị viêm tủy răng cấp.

Nguyên nhân gây viêm tủy răng cấp là vi khuẩn xâm nhập vào buồng tủy kín qua lỗ sâu, lỗ cuống chân răng (viêm tủy ngược dòng) hoặc qua kẽ nứt ở ngà răng và men răng.

Trong trường hợp này, bạn cần đến nha sĩ ngay để được xử trí cấp cứu. Thông thường, bác sĩ sẽ chữa tủy răng. Các răng khôn bị sâu vỡ nhiều hoặc mọc lệch, các răng bị vỡ dọc sẽ được nhổ. Khi chưa kịp tới phòng khám, có thể sử dụng thuốc giảm đau tạm thời (nhưng cần có sự tư vấn của bác sĩ đa khoa về loại thuốc và cách sử dụng).

Viêm quanh cuống răng cấp và bán cấp

Các triệu chứng điển hình của chứng bệnh này là đau liên tục, khi tăng khi giảm (tùy theo kích thích cơ học vào răng), khi cắn răng lại thì đau tăng lên, đau có thể lan lên thái dương và đỉnh đầu. Ngoài ra, bạn cũng có cảm giác răng lung lay.

Viêm quanh cuống răng cấp và bán cấp là biến chứng tiếp theo của viêm tủy răng và tủy hoại tử. Vi khuẩn xâm nhập xuống vùng chóp chân răng và khớp răng (giữa chân răng và xương ổ răng).

Bạn cần đến bác sĩ nha khoa để khám, đánh giá mức độ tổn thương của răng. Bác sĩ sẽ quyết định nên chữa tủy răng hay nhổ răng. Trong lúc chưa kịp đến phòng khám, có thể dùng tạm thuốc giảm đau nhưng cần có hướng dẫn của bác sĩ.

Sang chấn răng và xương ổ răng

Do tai nạn trong giao thông hoặc trong sinh hoạt, bạn có thể bị sứt gãy một phần thân răng (đường gãy ngang hoặc chéo), gãy cả một phần chân răng (chân răng có thể bị bật ra khỏi huyệt ổ răng), thậm chí gãy vỡ xương ổ răng (là phần xương bọc quanh chân răng).

Trong những tình huống này, hãy đến nha sĩ càng sớm càng tốt. Nếu răng bật ra khỏi ổ thì nên giữ cho răng ẩm bằng cách ngâm trong nước muối nhạt hoặc ngậm dưới lưỡi. Tùy theo tình trạng sang chấn, bác sĩ sẽ cắm lại răng đã bật ra khỏi ổ, làm nẹp liên kết răng, chữa tủy răng hay nhổ bỏ răng vỡ, làm răng giả...

BS Lê Long Nghĩa, Sức Khỏe & Đời Sống
Sau một thời gian chăm chỉ dùng nước súc miệng, anh Lâm phát hiện hơi thở của mình có mùi khó chịu hơn trước. Đi khám, các bác sĩ khẳng định loại dung dịch trên chính là thủ phạm.

30 tuổi mới có bạn gái nên anh Lâm (Long Biên, Hà Nội) để ý nhiều đến vẻ ngoài của mình, nhất là chuyện mùi hơi thở. Xem quảng cáo thấy nước súc miệng có thể làm sạch răng ở những vùng bàn chải không đến được, lại thấy nhiều người khen, anh quyết định mua về dùng. Ở nhà và ở cơ quan anh đều có vài chai.

Không chỉ súc miệng sáng và tối sau khi đánh răng, anh Lâm còn làm động tác này sau mỗi lần ăn uống, tổng cộng ngày đến 5-6 lần. Nhằm làm sạch triệt để, anh ngậm khá lâu. Trong khi đó, hướng dẫn ghi trên chai là dùng ngày vài ba lần, mỗi lần 20-30 giây.

Một thời gian sau, Lâm thấy miệng mình rất khô và qua phản ứng của người khác, anh biết hơi thở mình không được dễ chịu. Đi khám răng miệng, bác sĩ cho biết đó là hậu quả của tình trạng lạm dụng nước súc miệng. Không chỉ Lâm mà nhiều người khác cũng có cách vệ sinh răng miệng sai lầm này.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thắng, Trưởng khoa Nha chu, Viện Răng hàm mặt Hà Nội, cho biết trong nước súc miệng thường có cồn, nhiều sản phẩm có hàm lượng khá cao. Nếu dùng quá nhiều, cồn sẽ làm giảm tiết nước bọt, gây khô miệng.

Trong nước bọt có các men ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh răng miệng. Vì vậy nước bọt ít đi đồng nghĩa với việc giảm đội quân bảo vệ này. Các vi khuẩn bám trên răng sẽ được dịp hoành hành và khiến hơi thở có mùi hôi.

Vì vậy, tiến sĩ Thắng khuyên chỉ nên dùng nước súc miệng với mức độ vừa phải, theo đúng hướng dẫn về số lần và thời gian dùng.

Nước súc miệng không làm trắng hay chữa sâu răng

Nhiều người nghĩ rằng nước súc miệng có khả năng chống sâu răng, làm trắng răng. Tuy nhiên, theo tiến sĩ Thắng, dung dịch này chỉ có tác dụng kìm khuẩn nhẹ, nghĩa là ức chế sự phát triển của chúng. Nó là biện pháp hỗ trợ cho chải răng, bởi bàn chải không làm sạch được tất cả các khe kẽ. Nếu sử dụng đúng cách, nước súc miệng làm giảm nguy cơ sâu răng (là tình trạng men răng bị hủy do axit mà vi khuẩn trong mảng bám tiết ra, làm thành các lỗ thủng).

Tuy nhiên, một khi răng đã bị sâu thì nước súc miệng không có khả năng điều trị bệnh. Lúc đó, bệnh nhân phải đến nha sĩ để hàn răng.

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thắng cũng khẳng định, nước súc miệng không có tác dụng làm trắng răng. Để làm trắng răng, bệnh nhân phải đến nha sĩ để dùng thuốc tẩy trắng trong một thời gian nhất định. Nhà sản xuất không thể cho các chất tẩy này vào nước súc miệng bởi chúng sẽ gây hại cho lợi.

Ông Thắng cũng khuyến cáo, nước súc miệng chỉ là biện pháp vệ sinh răng miệng hỗ trợ chứ không thay thế được việc đánh răng. Nếu những vụn thức ăn và mảng bám vẫn tồn tại thì vi khuẩn vẫn có chỗ để sinh sôi, và nước súc miệng sẽ không loại trừ chúng được. Vì vậy, dù dùng dung dịch này hay không, bạn vẫn phải đánh răng đầy đủ.

Hải Hà/VnExpress
Sâu răng, nhiễm trùng hoặc chấn thương răng rất dễ dẫn đến u răng. Bệnh gây rụng răng hàng loạt kể cả khi chạm nhẹ, nếu nặng có thể làm biến dạng hàm, mặt, cản trở các chức năng nhai, nuốt, nói...

U nang răng có hai loại:

- U nang chân răng: do răng bị nhiễm trùng, sâu hoặc chấn thương gây nên. Người bệnh không hề có triệu chứng đau nhức hay khó chịu, dấu hiệu duy nhất để phát hiện sớm bệnh là răng đổi mầu. Chỉ khi bệnh nặng mới xuất hiện các triệu chứng như chảy mủ, đau ở vùng có u, lung lay răng, sưng mặt ở xương hàm...

- U nang thân răng bắt nguồn từ một chiếc răng ngầm, sau đó phát triển thành nang, nên bệnh lúc đầu khó phát hiện. Chỉ đi khám định kỳ mới phát hiện được.

Ngoài ra còn có u men dạng nang - hiện tượng những mầm men ngà còn tồn tại từ lúc sinh tạo thành u. Đặc điểm của loại u này là rất dễ tái phát. Khi phát triển, nó sẽ lan vào các tổ chức xung quanh như phần mềm, xương hàm, khớp thái dương hàm, sàn sọ, khiến gương mặt bệnh nhân bị biến dạng hoàn toàn, khó khăn khi nhai, nuốt, nói, thở... Trong trường hợp này, bác sĩ buộc phải cắt xương hàm, tháo khớp.

Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là khám răng định kỳ, 6 tháng hoặc 1 năm/lần nhằm phát hiện bệnh sớm và có hướng điều trị, tránh biến chứng xảy ra.

Phương pháp điều trị duy nhất hiện nay là phẫu thuật lấy u. Nếu bệnh nhân phát hiện bệnh sớm thì phẫu thuật đơn giản, tiên lượng tốt. Nếu bệnh đã nặng thì điều trị khó, thậm chí còn để lại nhiều di chứng như lép mặt, răng rụng hàng loạt...

(Theo Người Lao Động)
Khi bị rộp miệng, bạn hãy cắt vài lát gừng, cho vào miệng nhai nhỏ, vết rộp sẽ nhanh hết. Việc nhai sống lá hoặc củ tỏi cũng đem lại tác dụng này.

Sau đây là một số cách chữa bệnh răng miệng dễ thực hiện khác:

1. Chống sâu răng

- Súc miệng bằng nước chè: Trong lá chè có chất làm chắc răng. Nước chè có chất kiềm, có thể trung hòa axit, chống sâu răng và một số loại vi khuẩn gây bệnh.

- Súc miệng bằng nước muối: Mỗi ngày dùng nước muối nhạt súc miệng 2-3 lần, có thể phòng chống bệnh chảy máu lợi.

- Ăn táo tây thường xuyên: Trong táo có chất cellulose (một loại hyđrat cácbon gồm các đơn vị đường glucose kết hợp), giúp làm sạch cầu răng lợi, phòng chống các bệnh về răng miệng. Tuy nhiên, khi ăn xong nên súc miệng vì trong táo có nhiều đường lên men, dễ làm hỏng răng.

2. Khử mùi hôi trong miệng

Sau khi ăn tối (nhất là dùng thức ăn có tỏi), miệng thường rất hôi. Để khử hết mùi, có thể dùng các cách sau:

- Nhai một ít lá chè tươi hoặc uống một cốc chè đặc, mùi hôi sẽ mất ngay.

- Uống một cốc sữa bò.

- Súc miệng nước muối để diệt các loại vi khuẩn làm hôi miệng.

3. Chữa sưng và đau họng

- Dùng giấm và nước lượng bằng nhau để súc miệng.

- Lấy muối rang khô, chín già, giã nhỏ, thổi vào trong họng rồi nhổ nước bọt ra.

- Ăn lê thường xuyên.

- Giằm nát quả mướp non, lấy nước súc miệng thường xuyên.

- Lấy xì dầu (1 thìa canh) súc miệng, khoảng 1 phút thì nhổ ra, làm liên tục 2-3 lần sẽ thấy tác dụng. Khi súc miệng, cố gắng ngửa đầu ra sau để xì dầu tiếp xúc với họng.

4. Tiêu đờm, chữa ho

- Vỏ cây dâu 10 g, cam thảo 5 g, lá tre 5 g. Tất cả rửa sạch, sắc lên để uống. Bài thuốc này giúp tiêu đờm vào buổi sáng sớm.

- Vỏ bí đao phơi sương, cho đường vào nấu thành canh để uống, có tác dụng chữa ho.

- Gừng một miếng thái nhỏ, trứng gà 1 quả. Cho gừng vào đánh với trứng, rán lên ăn nóng, ngày 2 lần. Thuốc có tác dụng chữa ho rất tốt.

5. Chữa khản giọng

- Nếu bị khản giọng do cảm hoặc viêm họng mạn tính, có thể dùng 100 g giấm ăn để luộc một quả trứng gà (trong khoảng 15 phút), sau đó ăn trứng, uống giấm, chỉ 1-2 lần là khỏi.

- Trước khi đọc diễn văn, có thể uống nước muối nhạt để tránh bị khản giọng.

Nông Nghiệp Việt Nam
Với nhiều người, răng vĩnh viễn (nhất là răng cửa) bị rụng ra khỏi ổ xương thực sự là một thảm họa. Nhưng nếu biết tuân theo một số quy tắc đơn giản, bạn có thể "cứu" được chiếc răng này. Sau đây là những đề xuất của Đại học Michigan (Mỹ).

1. Rửa chiếc răng rụng bằng nước sạch.

2. Đặt nó trở lại vào ổ xương hay giữ dưới lưỡi. Cũng có thể cho chiếc răngrụng vào một cốc sữa hoặc bọc trong miếng vải ẩm.

3. Dùng gạc hoặc một miếng khăn, vải sạch nhét vào ổ xương nếu bị chảy máu.

4. Trong vòng 30 phút sau khi bị rụng răng, phải đi gặp bác sĩ nha khoa.

Thu Thủy (theo HealthScout)/VnExpress
Hòa 1 một thìa nước cốt chanh tươi cùng 1 thìa muối nhỏ, nhúng bàn chải vào hỗn hợp này và cọ lên răng; những mảng ố sẽ nhanh chóng biến mất.

Sau đây là một số biện pháp đơn giản mà hiệu quả khác:

Thường xuyên ăn táo, cần tây, cà rốt, rau cải, rau diếp... Lượng axit tự nhiên trong các loại thực vật này và chất xơ của táo giúp loại đi mảng bám và làm răng bạn trắng hơn.

Nếu bạn chăm chỉ ăn mía, hàm răng sẽ trắng và sạch sẽ bởi khi nhai, xơ mía chà đi chà lại trên răng.

Dùng miếng cau bổ tư chà kỹ những vết ố trên răng, hàm răng bạn sẽ mau chóng trở lại bóng sạch.

Dùng giấm táo chải răng. Cách này không chỉ làm trắng mà còn làm sạch răng.

Cắn ngập quả dâu tây và để nguyên trong vòng 5 phút. Chất tẩy nhẹ trong dâu tây sẽ xóa sạch những vết ố trên răng. Hoặc bạn cũng có thể nghiền dâu tây và hòa chung với kem đánh răng để chải hàm răng ố vàng của mình.

Nướng một mẩu bánh mì cho tới khi vỏ bánh cháy đen. Cạo lớp cháy này và hòa lẫn với kem đánh răng, chà mạnh răng bằng hỗn hợp này trước khi đi ngủ.

Dùng hỗn hợp natri cacbonat và nước để loại bỏ vết ố vàng trên răng.

Lấy nửa thìa baking soda hòa cùng một chút nước. Dùng hỗn hợp này chải đi chải lại qua răng. Nếu áp dụng cách này thường xuyên, răng bạn sẽ đạt độ trắng như mong muốn.

(Theo Gia Đình Xã Hội)
Ăn 2 quả bưởi mỗi ngày trong vòng nửa tháng có thể làm giảm chứng chảy máu lợi.

Nguyên nhân có thể do sự gia tăng lượng vitamin C trong máu - vi chất giúp mau lành tổn thương do các phân tử gốc tự do gây nên - nhóm nghiên cứu Đại học Đại học Friedrich Schiller (Đức) cho biết trên tạp chí Dental của Anh.

Trong nghiên cứu, 58 bệnh nhân nướu lợi mạn tính có lượng vitamin C trong huyết thanh thấp khi bắt đầu thử nghiệm. Trong đó, lượng trung bình ở nhóm hút thuốc lá thấp hơn 29% so với nhóm không hút. Sau khi ăn bưởi liên tiếp trong 2 tuần, tất cả đều có lượng vitamin C gia tăng. Nhóm hút thuốc tăng gần gấp đôi, song do mức khởi điểm thấp nên kết quả bổ sung vẫn thấp hơn so với người thường.

Trung bình một quả bưởi chứa gần 92,5 mg vitamin C. Theo giới chuyên môn, một chế độ dinh dưỡng cân bằng và lành mạnh cũng cung cấp đủ lượng cần thiết. Tuy nhiên, do cơ thể không có khả năng giữ vitamin C thừa nên cần bổ sung đều đều.

Hút thuốc lá được xem là yếu tố hàng đầu gây bệnh nướu lợi. Nguyên nhân có thể do thuốc lá làm thay đổi cách cơ thể chuyển hóa vitamin C hoặc người hút thường có chế độ dinh dưỡng kém lành mạnh.

Một lưu ý là không đánh răng ngay sau khi ăn bưởi, vì các loại quả chua chứa nhiều axit nên dễ làm yếu men răng và gây xói mòn.

Theo Vnexpress/BBC
Trong danh sách những điều gây phản cảm trong xã hội, miệng hôi được xếp ngang hàng với cơ thể nặng mùi và hành vi trung tiện.

Mặc dù các quầy hàng đã chất đầy những phương thuốc chữa chạy bao gồm kẹo cao su, nước xúc miệng tới cái cạo lưỡi, thì các nhà nghiên cứu vẫn chưa hiểu hết được cơ chế của hơi thở thối.

Gần 200 nhà khoa học đang tụ họp tại Chicago, Mỹ, tuần này để tham dự Hội thảo quốc tế về nghiên cứu mùi hơi thở. Họ đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu từ việc tìm hiểu hương vị tự nhiên khử mùi hiệu quả nhất - chính là quế - tới việc tạo ra chiếc mũi giả để tìm ra mùi miệng hôi và mối liên quan giữa hơi thở thối và bệnh tật.

"Trong nghiên cứu nha khoa, miệng hôi bị bỏ qua bởi nó không phải là căn bệnh giết người", Christine Wu, nhà nghiên cứu tại Đại học Illinois, Mỹ, nhận định. "Nhưng nó lại là một vấn đề rất lớn. Mọi người đều từng bị hôi miệng vào một lúc nào đó trong đời".

Với hầu hết mọi người, hơi thở có mùi là do vi khuẩn trong miệng phân hủy các protein và tạo ra những hợp chất sulfur dễ bay hơi, khiến cho miệng có mùi.

Miệng khô, sâu răng, một số loại thuốc, xoang, và một số bệnh như tiểu đường cũng làm cho hơi thở bốc mùi.

Hầu hết làn hơi thối phát ra từ miệng, và khoảng 90% là đến từ lưỡi. "Nó ấm. Nó ẩm. Và nó như một chiếc lò lớn chứa vi khuẩn", Patricia Lenton, tại Đại học Minnesota, Mỹ, nói.

Theo bà, việc chăm sóc răng miệng thường xuyên là vũ khí tốt nhất để chống lại miệng hôi. Thường xuyên đánh răng, dùng chỉ nha khoa và cạo lưỡi để loại bỏ vi khuẩn ra khỏi miệng, và cuối cùng là rửa sạch bằng nước súc miệng.

M.T. (theo Reuters)/VnExpress
Hỏi:

Tôi thường xuyên bị loét miệng (lở trong miệng), ăn uống không được, rất đau đớn. Tôi có dùng thuốc nhưng không thấy đỡ. Tôi phải làm như thế nào? (Gam - Công ty Pou Yuen VN)

Đáp:

Viêm loét vùng niêm mạc miệng là một bệnh lý thuộc về răng miệng, rất hay gặp. Bệnh tưởng chừng như nhẹ và vô hại song nhiều khi kéo dài, hay tái phát và điều trị cũng đôi lúc gặp nhiều khó khăn. Do đó việc thăm khám kỹ để xác định vị trí, số lượng, độ lớn, mật độ màu sắc, đặc điểm bề mặt và bờ của thương tổn viêm loét, mối liên quan của chúng với tổ chức xung quanh, tính chất xuất tiết của tổn thương để tìm ra nguyên nhân gây bệnh là điều rất quan trọng, qua đó mới có thể điều trị đặc hiệu dứt điểm bệnh được, nhất là trong những trường hợp viêm loét miệng dai dẳng kéo dài.

Nguyên nhân của bệnh có rất nhiều chứ không đơn giản như chúng ta tưởng, một số nguyên nhân thường gặp là:

- Viêm loét niêm mạc miệng thông thường do nhiễm khuẩn.

- Viêm loét do nhiệt, do uống nhiều bia, rượu, cà phê và hút thuốc lá. Ngoài ra, chế độ ăn uống thiếu sinh tố, nhất là sinh tố nhóm B, PP, Vitamin C… gây tình trạng táo bón và sức đề kháng của niêm mạc miệng giảm, rất dễ bị tổn thương.

- Viêm loét niêm mạc miệng do nấm, hay gặp do nhiễm Candida…

- Đôi khi lở loét ở miệng do một nguyên nhân bệnh lý toàn thân khác như tiểu đường, xơ gan…

Việc điều trị tốt nhất vẫn là chữa theo nguyên nhân, song nhiều khi tìm được nguyên nhân cũng rất khó một phần do chủ quan người bệnh ít để ý tới tình trạng bệnh lý này, coi thường bệnh nhẹ, nên thường phải thăm khám kỹ, làm xét nghiệm tổng quát. Do vậy, bạn cần thiết phải được khám về chuyên khoa răng miệng, trước mắt bạn cần lưu ý một số điểm để giảm bớt nguy cơ tái phát dai dẳng là:

+ Chú ý vệ sinh răng miệng sạch sẽ, súc miệng bằng nước muối sinh lí hằng ngày (4-6 lần/ngày). Khi đánh răng cần tránh làm tổn thương niêm mạc miệng do chà sát quá mạnh đồng thời điều trị triệt để các bệnh lý về răng như viêm nướu, viêm cuống nha chu, vệ sinh răng giả sạch sẽ, nếu có.

+ Cần tránh các thức ăn gây kích thích như tiêu, ớt…; không nên uống bia, rượu, cà phê, hút thuốc lá; trong chế độ ăn tăng cường các chất rau xanh, trái cây; tránh để táo bón; có thể bổ sung thêm các loại vitamin nhóm B, PP và vitamin C hằng ngày. Nếu có điều kiện có thể uống mỗi ngày một vài ly bột sắn pha với chanh tươi.

+ Trong trường hợp viêm cấp do nhiễm khuẩn, gây đau đớn, ảnh hưởng đến ăn uống cần uống kháng sinh giảm đau, chấm tại chỗ bằng Kamistad-gen có tác dụng giảm đau, chống viêm tại chỗ các chứng sưng, viêm, đau niêm mạc miệng.


(Theo Thanh Niên)
Tuy tỉ lệ người cao tuổi ở Việt nam chưa cao như ở các nước phát triển, nhưng dân số trên 65 tuổi hiện nay đã vượt quá 5% tổng dân số và sẽ còn tăng hơn nữa với sự tăng tuổi thọ trung bình (hiện nay là 66 tuổi  cho nam và 68 tuổi cho nữ, là tuổi tương đối cao so với các nước đang phát triển ).

Tích tuổi và các bệnh toàn thân xuất hiện với tuổi già cùng với việc điều trị các bệnh này chắc chắn ảnh hưởng đến chức năng vùng miệng và điều trị răng miệng và ngược lại những biến đổi suy thoái ở vùng miệng và các chức năng miệng cũng sẽ tác động không ít trên sức khỏe toàn thân và chất lượng cuộc sống ở người cao tuổi.Ở các nước trên thế giới, chuyên ngành Lão nha là một chuyên ngành Răng Hàm Mặt (RHM) ngày càng được quan tâm nhiều hơn.

Sức khỏe răng miệng ở người cao tuổi

Sức khỏe răng miệng đặc biệt quan trọng đối với người cao tuổi vì họ thường dễ mắc các bệnh hệ thống có ảnh hưởng đến vùng miệng và lúc đó thì những tổn thương vùng miệng lại tác động ngược lại một cách trực tiếp hay gián tiếp trên tình trạng dinh dưỡng giao tiếp, khả năng đề kháng và chất lượng cuộc sống nói chung.

Tuổi không phải là yếu tố ảnh hưởng chính trên sức khỏe răng miệng. Các bệnh răng miệng (sâu răng, bệnh nha chu, bệnh niêm mạc miệng, rối loạn tiết nước bọt, tiêu xương ổ), các bệnh toàn thân (tiểu đường, tai biến mạch máu não, Alzheimer), những thuốc uống thường xuyên, xạ trị vùng đầu cổ do ung thư, mới chính là những yếu tố làm cho những người cao tuổi dễ bị những xáo trộn vùng miệng và hầu. Ngược lại hậu quả của các bệnh răng miệng không chỉ giới hạn ở vùng miệng mà có thể đưa các mầm vào dòng máu hay vào hệ hô hấp có thề gây hậu quả nghiêm trọng đến tíng mạng. Các bệnh ngoài da gây bóng nước trong miệng có thể làm cho bệnh nhân dễ mắc những bệnh ở vùng miệng hầu.

Ngày nay do người cao tuổi còn giữ được răng thật lâu hơn ngày xưa nên dễ bị những bệnh toàn thân  do nhiễm trùng răng hơn. Ngoài ra do họ chú ý nhiều hơn đến sức khỏe răng miệng nên nhu cầu răng miệng cũng cao hơn.

Biến đổi ở răng

Những biến đổi ở răng bao gồm: mòn mặt nhai, tuỷ bị xơ teo, giảm mật độ tế bào, tạo ngà thứ cấp, ngà ngạnh hóa dần bị mất nước, răng dòn dễ mẻ dễ bị gãy. Có sự tăng tạo xê măng ở chân . Người cao tuổi vẫn bị sâu mới và tái phát ở thân răng nhưng dễ bị sâu hơn ở chân răng. Tụt nướu, giảm tiết nước bọt, biện pháp vệ sinh bớt hiệu quả, chức năng nhai giảm sút, đó là những lý do làm cho dễ bị sâu chân răng. Do còn nhiều răng mang miếng trám lớn nên cũng dễ bị sâu tái phát.

Để chữa răng cho người cao tuổi nên sử dụng vật liệu phóng thích Fluor(F) như xi măng galss ionomer. Nên có chế độ theo dõi tình trạng răng miệng thường kỳ, can thiệp phòng bệnh bằng F tại chổ khi thấy có nguy cơ sâu răng tăng do giảm tiết nước bọt . Những người bị hạn chế về tri thức hay vận động trầm trọng cần sự hỗ trợ để thực hiện vệ sinh răng miệng hằng ngày.

Bệnh nha chu

Tụt nướu , mất bám dính và tiêu xương gần như khó tránh khỏi người cao tuổi. Tuy nhiên quá trình tích tuổi không phải là nguyên nhân duy nhất đưa đến tình trạng mất răng. Nhiều yếu tố vùng miệng và bệnh toàn thân cũng như những loại thuốc thường được ghi toa cho người cao tuổi có thể ảnh hưởng xấu đến mô nha chu, chẳng hạn như bệnh tiểu đường, các thuốc chống cao huyết áp loại ức chế kênh Ca, thuốc chống co giật, cyelosporin…

Ngược lại bệnh nha chu cũng ảnh hưởng trên sức khỏe răng miệng và sức khỏe toàn thân của người cao tuổi. Bệnh nha chu là nguyên nhân gây hôi miệng, làm răng lung lay, mất răng và do đó ảnh hưởng đến chức năng nhai, nuốt, nếm và dinh dưỡng. Bệnh nha chu có thể ảnh hưởng đến bệnh tim mạch, nội tiết, hô hấp và bệnh nhiễm khuẩn. Bệnh nha chu ở người cao tuổi có thể điều trị và có khả năng lành bệnh, tuy có hơi chậm hơn ở người trẻ, nếu điều trị thích hợp và có biện pháp giữ gìn vệ sinh răng miệng tốt. Ở bệnh nhân cao tuổi nên dùng biện pháp điều trị nha chu bảo tồn và thuốc kháng sinh.

Niêm mạc miệng

Niêm mạc miệng có những biến đổi do tích tuổi và do những bệnh miệng. Biểu mô niêm mạc miệng, là biểu mô lát tầng, teo mỏng dần với tuổi, mất tính đàn hồi, đồng thời do đáp ứng miễn dịch giảm nên dễ bị chấn thương và dễ nhiễm trùng...

Ở người cao tuổi, những biến đổi tại chổ, do bệnh toàn thân và thuồc làm cho niêm mạc miệng dễ bị một số thương dạng bóng nước, loét, liken, nhiễm khuẩn và ung thư 90% ung thư miệng xảy ra ở người trên 50 tuổi, do đó cần khám định kỳ để phát hiện và điều trị sớmung thư miệng.

Tuyến nước bọt

Nhũng nghiên cứu gần đây cho thấy là ở người cao tuổi khỏe mạnh, tổng lưu lượng nước bọt không giảm. Tuy nhiên rất nhiều người cao tuổi than phiền về khô miệng.Các bệnh toàn thân, thuốc và xạ trị là nguyên nhân chính gây khô miệng. Hơn 400 thứ thuốc có tác dụng phụ làm giảm tiết nước bọt (chống trầm cảm ,an thần, chống Parkinson ). Một số bệnh như bệnh Sjogren, bệnh tự miễn, Alzheimer có thể gây khô miệng. Khô miệng gây nhiều vấn đề ở miệng và hầu ở người cao tuổi :niêm mạc khô và dễ trầy sướt, giảm khả năng chống nhiễm khuẩn, giảm sự bôi trơn, tăng nguy cơ viêm nướu, nhiễm nấm, đau, khó ăn, khó nuốt, nếm, khó lưu hàm giả tháo lắp. Do đó cần chẩn đoán và hạn chế hậu quả của khô miệng. Để làm giảm khô miệng, cần thay thế thuốc có tác dụng phụ gây khô miệng, dùng nước bọt nhân tạo. Thực hiện các biện phápvệ sinh răng miệng tốt, kích thích tuyến nước bọt bằng vị giác, nhờ nhai và dùng thuốc, thực hiện chế độ ăn và uống phù hợp là những biện pháp lâu dài để chống khô miệng ở người cao tuổi.

Chức năng vận động và cảm giác vùng miệng

Xáo trộn chức năng, nuốt và tư thế cơ miệng thường xảy ra với tuổi . Nhai và nuốt ở người cao tuổi, ngay cả ở những người  còn đủ răng, kém hiệu quả hơn ở người trẻ. Tuy nhiên điều này sẽ không gây khó khăn trừ khi có thêm những bệnh toàn thân (tai biến mạch máu não, Parkinson) hay có dùng thuốc (loạn vận động do phenothiazine) làm cho dễ bị sặc hay hít vào đường thở. Bệnh thoái hoá khớp (osteo-arthritis) có thể ảnh hưởng trên khớp TDH nhưng nói chung người cao tuổi ít than phiền về loạn năng bộ máy nhai hơn người trẻ.

Nhiều người cao tuổi than là ăn không biết ngon, khó cảm nhận được mùi và vị. Những nghiên cứu gần đây cho thấy nếu mùi ít bị ảnh hưởng do tuổi thì vị giác lại giảm dần theo sự tích tuổi. Không cảm nhận được mùi vị, giảm sút về vận động, giảm tiết nước bọt dễ làm cho người cao tuổi chán ăn, bị suy dinh dưỡng, mất nước và bị giảm chất lượng cuộc sống.

Những biến đổi suy thoái ở vùng miệng không phải chỉ do quá trình tích tuổi mà phản ảnh những tình trạng bệnh tại chỗ đã có từ trước, đang có và tình trạng toàn thân cũng như các phương thức điều trị . Do đó chăm sóc răng miệng lúc trẻ là đảm bảo tốt nhất để có sức khỏe răng miệng tốt lúc cao tuổi “Ngày mai bắt đầu từ hôm nay’’. (Lavker, 1997 )

BS. Huỳnh Anh Lan
Khoa Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y Dược TP. HCM

Theo MediNet
Trên quầy hàng của các siêu thị hiện nay, rất nhiều loại nước súc miệng khác nhau như Listerin, Oral B, Mybacin... được bày bán. Vậy loại nào là thực sự tốt và nên dùng chúng ra sao?

Nguyên nhân hôi miệng

Hôi miệng thực chất chỉ là triệu chứng của các bệnh hoặc tình trạng của miệng cũng như các cơ quan khác trong cơ thể đã gây ra nó như:

- Bệnh viêm lợi và bệnh viêm quanh răng: là một trong những nguyên nhân rõ ràng và thường gặp nhất, ngoài việc gây hôi miệng còn ảnh hưởng đến vị giác, gây ăn uống không ngon miệng.

- Răng lợi không được vệ sinh tốt khiến thức ăn và vi khuẩn tích tụ trong miệng, trong kẽ răng, trên bề mặt lưỡi và trong các mảng bám; khi phân hủy sẽ gây mùi khó chịu.

- Thuốc lá gây ảnh hưởng xấu lên miệng và cơ thể nói chung.

- Khô miệng do giảm lượng nước bọt sinh ra trong miệng để rửa sạch thức ăn thừa và vi khuẩn khỏi khoang miệng; có thể gây ra bởi các bệnh tuyến nước bọt, do dùng thuốc điều trị (thuốc an thần, thuốc hạ huyết áp...), hoặc thói quen thở bằng miệng.

- Nhịn ăn khiến lượng nước bọt trong miệng giảm, lượng acid thừa trong dạ dày làm cho hơi thở có vị chua.

- Nước súc miệng dùng quá thường xuyên về lâu dài gây hôi miệng. Do vậy chỉ nên dùng nước súc miệng 1-2 lần trong ngày sau khi đã đánh răng.

- Ngoài ra, hôi miệng còn do viêm đường hô hấp (xoang, mũi, phổi), bệnh gan, thận...  

Lưu ý khi sử dụng nước súc miệng

- Chỉ để súc miệng, không được nuốt, để xa tầm tay trẻ em.
- Trước khi dùng cần kiểm tra chai thuốc có vẩn đục không.
- Chú ý hạn dùng in trên chai thuốc.
- Không để gần các chai nước khoáng vì dễ bị lẫn và uống nhầm.
- Tuyệt đối không dùng nước súc miệng của người lớn cho bé mà không pha loãng.
- Có thể dùng nước muối nhạt thay thế, tránh dùng nước muối quá mặn có thể gây viêm loét lợi và lưỡi.

Nguyên tắc chung khi dùng nước súc miệng

- Không pha loãng nếu không có hướng dẫn.  
- Không ngậm quá nhanh hoặc quá lâu, cần giữ nước trong miệng 20-30 giây để các hoạt chất phát huy tác dụng.
- Không dùng quá 3 lần/ngày, sẽ gây khô miệng, lâu ngày dẫn đến hôi miệng.
- Không thể thay thế kem đánh răng.

Cách chọn nước súc miệng

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại nước súc miệng nhưng không phải loại nào cũng đem lại hiệu quả cao. Khi mua, bạn nên xem kỹ thành phần nước súc miệng. Các hoạt chất tốt như Thymol, Methol, Eucalyptol, Methy salisylate, Xilitol có tác dụng sát khuẩn, sát khuẩn đường hô hấp trên, chống viêm.

Ngoài ra, nên chọn thuốc súc miệng là một dạng chất lỏng dùng để chữa các bệnh ở vùng miệng và họng. Người dùng chỉ ngậm thuốc trong ít phút rồi nhổ đi.

Nước súc miệng vì có tác dụng sát khuẩn nhẹ nên chỉ ngừa sâu răng chứ không chữa được sâu răng. Sau khi đã chải với kem đánh răng, rửa kỹ bằng nước sạch, miệng vẫn có thể chứa nhiều loại vi khuẩn, bạn nên đánh răng ngay sau mỗi bữa ăn khoảng 3 phút và dùng nước súc miệng bổ sung.

Loại có thêm các hoạt chất đặc trị bổ sung cho tái tạo men răng và ngừa sâu răng như Sodium Flouride, làm tan mảng bám chống cao răng như Zinc Lactate...

Khi dùng, nên chọn độ cay phù hợp. Nước súc miệng quá cay có nghĩa là nồng độ cồn quá cao, dùng thường xuyên sẽ bị khô miệng.  

Theo TS BÙI MẠNH HÀ - Thanh niên
Hàm răng trắng bóng góp phần quan trọng để tạo nên một nụ cười đẹp. Bạn có muốn nhanh chóng tẩy ố những mảng bám trên răng chỉ bằng những cách làm thật đơn giản?

Mời bạn tham khảo 10 cách làm thật đơn giản và hiệu quả sau:

Cách 1: Dùng 1 một thìa nước cốt chanh tươi hòa cùng 1 thìa muối nhỏ. Dùng bàn chải đánh răng nhúng hỗn hợp này cọ lên răng, những mảng ố sẽ nhanh chóng biến mất.

Cách 2: Thường xuyên ăn những loại rau quả như: táo, cần tây, cà rốt, rau cải, rau diếp... Lượng axit tự nhiên trong những loại thực vật cùng với sự giàu chất xơ của táo giúp loại đi những mảng bám và làm răng bạn trắng hơn.

Cách 3: Dùng giấm táo chải răng - cách này không chỉ làm trắng mà còn làm sạch răng.

Cách 4: Dùng hỗn hợp natri cacbonat và nước để loại bỏ vết ố vàng trên răng.

Cách 5: Lấy nửa thìa baking soda hòa cùng một chút nước. Dùng hỗn hợp này chải đi chải lại qua răng, nếu áp dụng cách này thường xuyên,  răng bạn sẽ đạt độ trắng như mong muốn.

Cách 6: Cắn ngập quả dâu tây và để nguyên trong vòng 5 phút. Chất tẩy nhẹ trong dâu tây sẽ xóa sạch những vết ố trên răng. Hoặc bạn cũng có thể nghiền dâu tây và hòa chung với kem đánh răng để chải hàm răng ố vàng của bạn.


Cách 7: Nướng một mẩu bánh mì cho tới khi vỏ bánh cháy đen. Cạo lớp cháy này và hòa lẫn với kem đánh răng, chà mạnh răng bằng hỗn hợp này trước khi đi ngủ.

Cách 8: Nếu bạn chăm chỉ ăn mía, ngoài tác dụng bổ dưỡng, mía còn giúp hàm răng trắng và sạch sẽ bởi khi nhai, xơ mía (bã mía) chà đi chà lại trên răng, giúp răng trắng sạch.

Cách 9: Dùng miếng cau bổ tư chà kĩ những vết ố trên răng, hàm răng bạn sẽ mau chóng trở lại bóng sạch.


Cách 10: Dùng bột lá khô của cây nguyệt quế cùng với vỏ chanh khô chà xát lên răng, men răng của bạn sẽ chắc khoẻ và sáng hơn trước.

Chúc bạn thành công!


Theo 24H
Để trị viêm lợi, chân răng sưng phù, lấy vừng đen 90 g, rang hơi vàng, nghiền bột; bột mì 250 g, sao vàng, hòa với bột vừng. Mỗi ngày hai lần, mỗi lần một thìa canh, hãm nước sôi thành dạng hồ, dùng ăn.

Viêm lợi răng

Viêm lợi là một chứng bệnh viêm phát sinh ở tổ chức lợi chân răng. Biểu hiện lâm sàng là lợi răng sưng đỏ, mép lợi tròn tù, tổ chức chân răng lỏng, dễ chảy máu, kèm hôi miệng, người bệnh có cảm giác đau hoặc ngứa căng lợi răng. Chứng viêm lâu dài có thể khiến cho lợi răng phì đại, tăng sinh gọi là viêm lợi dạng phì đại. Các kích thích cục bộ như cao răng, ban khuẩn, ban sắc tố có liên quan tới phát sinh viêm lợi răng. Đông y cho rằng bệnh này do dạ dày, lá lách tích nhiệt hoặc thận âm không đầy đủ dẫn tới.

Nguyên tắc ăn uống: Với người bệnh dạ dày hỏa thực nhiệt dẫn tới viêm lợi răng, nên chú ý ăn uống thanh đạm, cần ăn nhiều rau xanh, nhiều chất xơ cho nhuận tràng. Với người bị viêm lợi răng do thận âm không đầy đủ, nên bổ sung thức ăn bồi bổ thận âm như các loại tôm cá tươi và hoa quả tươi. Không nên hút thuốc lá và uống rượu.

- Trám 250 g, xào tái ăn, dùng chữa viêm lợi răng kèm theo hôi miệng.

- Cải trắng 250 g, rửa sạch thái vụn, xào ăn hằng ngày. Dùng chữa viêm lợi răng kèm theo đi ngoài không thông.

- Rau cần 250 g, làm nhân, bọc sủi cảo, dùng ăn. Chữa viêm lợi răng kèm tăng huyết áp.

- Trứng cá mực 60 g, luộc chín, thêm gia vị xì dầu, dầu vừng trộn ăn. Dùng chữa chân răng sưng trướng, răng lung lay.

- Hành củ 10 đoạn, ép nước, nhỏ vào 10 ml rượu trắng, dùng rượu hành này chấm vào lợi răng, chữa viêm lợi răng chảy máu.

- Vỏ mía rửa sạch 30 g, đốt tồn tính, nghiền thành bột, thêm dầu vừng hòa trộn, lấy một chút đắp vào lợi răng, chữa viêm lợi chảy máu.

- Ngó sen tươi 30 g, sắc nước uống, mỗi ngày một thang, dùng chữa viêm lợi răng chảy máu.

- Nấm tươi 250 g, rửa sạch thái lát, xào dầu lạc, thêm 250 g đậu phụ trắng non, chút hành hoa và gia vị dùng ăn. Chữa viêm lợi răng, ăn kém.

Viêm quanh răng

Là một loại bệnh dạng tiến triển phát sinh ở tổ chức ôm đỡ răng. Biểu hiện là lợi răng sưng đỏ, hình thành túi xung quanh răng, xương máng răng co ngót, răng lung lay. Người bệnh tự cảm thấy không có sức nhai, hôi miệng. Xung quanh răng đau ê ẩm, có thể sốt, sưng hạch lympho, lợi răng tràn mủ, chảy máu. Bệnh này thường có các nhân tố kích thích cục bộ như cao răng, ban khuẩn, răng cắn tổn thương, cơ thể phục hồi kém hoặc có liên quan tới các bệnh toàn thân như bệnh nội tiết, bệnh máu, di truyền, dinh dưỡng. Đông y cho rằng bệnh này là do dạ dày hỏa đốt mạnh hoặc thận khí hư tổn dẫn tới.

Nguyên tắc ăn uống: Người bệnh bị viêm quanh răng do dạ dày hỏa đốt mạnh, nên giữ cho thông phủ khí, do vậy nên ăn nhiều chất xơ như măng, rau xanh, đồng thời nên ăn ít thịt. Trường hợp viêm quanh răng do thận khí hư, nên ăn các thức ăn làm mạnh thận khí như các loại cá, trai, vừng, hồ đào. Người bệnh bị viêm quanh răng do không có lực nhai cắn, răng lung lay, ảnh hưởng đến nhai, do vậy không nên ăn các thức ăn cứng như các loại quả có hạt vỏ cứng.

- Hạt kê 100 g, rửa sạch, lửa nhỏ nấu cháo. Thêm một quả trứng gà. Mỗi ngày ăn một bát con. Dùng chữa viêm quanh răng kèm cơ thể hư yếu, váng đầu, nhai cắn không có lực.

- Bánh yến mạch 100 g, lửa nhỏ nấu cháo, thêm 4 quả trứng chim cút, mỗi ngày ăn hai bát con. Dùng chữa lợi răng sưng đỏ, kém ăn, đi ngoài không thông.

- Cá trắm một khúc 250 g, rán dầu, thêm nước và 15 g mộc nhĩ đen nấu canh, ăn cá uống canh. Chữa viêm quanh răng, kèm tiểu trong nhiều, ù tai váng đầu.

- Bí xanh 90 g cả vỏ và ruột, cho vào nồi nấu canh, bỏ bã, thêm muối hoặc đường uống. Dùng chữa viêm quanh răng, kèm yết hầu sưng đỏ đau có ho.

- Lá trúc non tươi 20 g, thêm 5 lá bạc hà, hãm nước sôi, uống nguội, ngậm súc miệng. Chữa viêm quanh răng có kèm tràn mủ hôi miệng.

- Dưa chuột 2 quả, bỏ vỏ, ruột, thêm 15 g thịt nạc băm, xào ăn, chữa viêm quanh răng có lợi răng sưng đau.

- Đậu xanh 30 g, nấu canh, sau khi chín thêm bạc hà 3g, mỗi ngày ăn hai bát con canh đậu xanh bạc hà, chữa viêm quanh răng có tràn mủ quanh răng.

- Chim câu một con, giết vặt lông, bỏ nội tạng, thêm 9 g tục đoạn, nấu canh ăn. Chữa viêm quanh răng kèm đau lưng.

Người bệnh viêm quanh răng do thận hư yếu mà dẫn tới răng lung lay, khi ăn uống bồi bổ nên chú ý ăn vừa mức, không nên phàm ăn tục uống, đề phòng thương tổn lách, dạ dày mà sinh nóng trong. Đồng thời nên coi trọng xử lý cục bộ bao gồm làm sạch lợi, trừ cao răng, ban khuẩn, tiêu trừ túi quanh răng, người bệnh nên kết hợp làm việc, nghỉ ngơi và vệ sinh khoang miệng bằng cách đánh răng sau khi ăn và buổi sáng ngủ dậy.

BS Thạch Quy, Sức Khỏe & Đời Sống
Hỏi:

Tôi thường xuyên bị viêm lợi và vì thế thi thoảng miệng bị hôi. Xin bác sỹ cho biết cách phòng bệnh này.

Trả lời:

Lợi có nhiệm vụ bảo vệ, che chở và giữ cho chân răng được chắc chắn. Lợi bị nhiễm khuẩn do không đánh răng. Dùng tăm xỉa răng chọc vào lợi dễ làm lợi bị xước,  gây viêm lợi và mưng mủ.

Dùng bàn chải đánh răng quá cứng không phù hợp với lứa tuổi, cũng dễ làm cho lợi bị xước, gây nên viêm và lợi mưng mủ.

Lợi bị viêm sưng đỏ, chảy máu gây đau nhức, sưng má. Khi răng, lợi bị viêm làm cho răng, miệng có mùi hôi khó chịu. Tuy nhiên, mùi hôi ở lợi còn do nhiều nguyên nhân khác. Nếu viêm lâu ngày, lợi sẽ bị tụt xuống (tụt lợi) làm cho chân răng lộ ra ngoài trông rất xấu.

Để phòng bệnh viêm lợi, bạn nên chú ý mấy việc sau:

- Giữ vệ sinh răng, miệng hàng ngày bằng cách đánh răng buổi tối trước khi đi ngủ và buổi sáng sau khi thức dậy.

- Phải súc miệng và uống nước sau khi ăn, nhất là sau khi ăn đồ ngọt.

- Không dùng vật nhọn cứng chọc vào răng, gây ra khe hở chân răng, thức ăn thường hay dắt vào nơi đó gây viêm nhiễm.

- Khi lợi bị viêm phải chữa ngay, tránh bị tụt lợi.

BS Hoài Hương

Theo Tiền phong
Lựa chọn đồ ăn hàng ngày đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe răng miệng. Những lời khuyên về ăn uống sau sẽ giúp bạn giữ gìn ”một góc con người” bền lâu với thời gian.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
1. Uống trà

Trong trà xanh và trà đen có chứa chất polyphenols là hợp chất có tác dụng chống ôxy hóa giúp ngừa các mảng bám trên bề mặt răng và giảm các bệnh về nướu răng, khoang răng.

TS Christine D. Wu tiến hành nghiên cứu tại Trường Cao Đẳng Nha Khoa Chicago đã phát hiện ra rằng trà xanh giúp giảm bệnh hôi miệng do tác dụng ngăn chặn sự phát triển của các vi khuẩn gây mùi hôi, nhiều loại trà còn chứa fluoride giúp bảo vệ lớp men răng và giảm sâu răng hữu hiệu.

2. Uống nước bằng ống hút

Hầu hết các loại đồ uống như soda, các loại nước hoa quả đều chứa axit như axit citric và axit phosphoric gây mòn men răng .Theo công bố từ các nghiên cứu trên Tạp chí Nha Khoa Anh Quốc “Uống các đồ uống nhiều axit bằng ống mút sẽ giới hạn sự tiếp xúc các acid với răng vì thế giúp bảo vệ men răng”.

3. Vitamin C

Vitamin C rất cần thiết cho sức khỏe, da, nướu răng và lợi.

Nghiên cứu trên 12.000 thanh niên Mỹ được tiến hành tại Đại học New York ở Buffalo đã chỉ ra rằng những người dùng ít hơn 60mg vitamin C mỗi ngày thì nguy cơ mắc các bệnh răng miệng cao hơn 25% những người dùng 180mg hay nhiều hơn vitamin C.

4. Canxi

Các nhà nghiên cứu tại Buffalo - Mỹ thấy rằng những người dùng 800mg canxi mỗi ngày sẽ ít có nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến răng miệng hơn vì 99% lượng canxi trong cơ thể có trong xương và răng.

Những thực phẩm hàng ngày chứa nhiều canxi như bơ, sữa và sữa chua giúp các xương ổ răng chắc khỏe. Lượng canxi khuyên dùng là 1000 mg mỗi ngày với những phụ nữ trẻ và 1200mg khi họ lớn tuổi.


Quỳnh Liên

Theo prevention/Dantri
Miệng khô là nguyên nhân khiến thức ăn và vi khuẩn bám lại trong miệng lâu hơn, có thể dẫn tới tạo thành các mảng bám trên răng, sâu răng. Có thể hạn chế chứng bệnh này bằng các bước đơn giản.

Khô miệng (ít nước bọt) từng được coi là dấu hiệu thông thường của tuổi già. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học thuộc Viện Y tế tại bang Maryland (Mỹ), khô miệng thường là do tác dụng phụ của một số loại thuốc như kháng histamine - thuốc chống dị ứng, thuốc trị bệnh tim hoặc thuốc giảm đau. Sự sụt giảm hormone ở phụ nữ sau mãn kinh cũng dẫn đến tình trạng khô miệng.

Miệng thiếu nước bọt là nguyên nhân khiến thức ăn và vi khuẩn bám lại trong miệng lâu hơn, có thể dẫn tới tạo thành các mảng bám trên răng, sâu răng nhiều hơn.

Hiện chưa có cách chữa trị miệng khô, nhưng có thể hạn chế tình trạng này bằng cách uống nhiều nước, sử dụng chất thay thế nước bọt, dùng dụng cụ làm ẩm miệng hoặc bình xịt mũi, và nên tránh caffeine, thuốc lá, rượu.  

Theo T.Vy
Tuổi Trẻ/Healthday
Bạn nên đợi 30 phút sau khi dùng nước súc miệng hãy ăn hay uống, nếu không, các hoạt chất trong đó sẽ mất tác dụng vì bị cuốn theo tuyến nước bọt.

Một vài nguyên tắc khác sau đây cũng giúp bạn sử dụng nước súc miệng hiệu quả nhất:

- Không ngậm quá nhanh hoặc quá lâu: Thông thường, bạn nên giữ nước trong miệng khoảng 20-30 giây để các hoạt chất phát huy tác dụng. Nếu nhổ ra quá nhanh, chất kháng khuẩn chưa kịp “ra tay”, còn nếu để lâu thì nước súc miệng sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho niêm mạc miệng vốn mỏng manh.

- Không pha loãng nếu không có hướng dẫn: Phần lớn các loại nước súc miệng hiện nay được chế để dùng ngay. Nếu trên nhãn hoặc hướng dẫn không nói gì về việc pha loãng thì bạn chỉ việc cho vào miệng. Nếu tự ý pha thêm nước sẽ khiến nồng độ hoạt chất bị loãng, không đủ sức diệt khuẩn.

- Không dùng quá nhiều lần trong ngày: Nước súc miệng đem lại cảm giác thoải mái nên một số người có xu hướng lạm dụng. Việc dùng quá nhiều lần trong ngày sẽ gây khô miệng do nồng độ cồn trong loại chế phẩm này khá cao, lâu ngày có thể dẫn đến hôi miệng. Không nên dùng quá 3 lần/ngày.

- Không thể dùng thay kem đánh răng: Do cách sử dụng đơn giản và thuận tiện nên có người dùng nước súc miệng thay cho việc đánh răng. Đây là một sai lầm, vì sản phẩm này chỉ chứa các hoạt chất sát khuẩn nhẹ, có thể bổ sung chứ không thay thế kem đánh răng được. Để đạt hiệu quả, nhất thiết phải đánh răng trước khi sử dụng nước súc miệng.

(Theo Thanh Niên)
Hỏi

Con gái tôi 18 tuổi vừa mọc răng khôn. Nhưng có người nói đó là răng “mọc dại” chứ không khôn vì nó mọc lệch và hay gây tai biến. Vậy có cách nào đề phòng và giải quyết không?

(Trần Mai Hạnh, Bố Trạch, Quảng Bình)

Trả lời

Bộ răng vĩnh viễn của người lớn có 32 răng. Có bốn răng khôn vì tới tuổi trưởng thành (khôn lớn), chúng mới mọc. Răng khôn mọc lệch là do:

- Trong bào thai, ba mầm răng hàm cùng có một cuống. Mầm răng khôn nằm thấp hơn mầm răng thứ nhì. Cho nên khi mọc lên, răng khôn mọc nghiêng từ sau ra trước và hay chạm vào thân răng và cổ răng hàm thứ nhì (răng số 7).

- Răng khôn mọc cuối cùng, thường bị thiếu chỗ, nên phải mọc lệch.

- Răng khôn nằm gần góc hàm (tai biến hay gặp nhất là răng khôn hàm dưới) là vùng phát triển của xương hàm dưới. Vì thế khi mọc thường nằm ngang vì bị kéo ra sau.

Tai biến mọc răng khôn hay gặp nhất ở lứa tuổi con gái của bạn và có thể kéo dài đến tận 30 tuổi. Răng khôn hàm dưới (răng số 8) mọc lệch về phía trước có thể lệch ra má hoặc vào phía lưỡi, lệch ra xa, chìm sâu trong xương hàm. Nhưng hay gặp nhất là chèn vào răng số 7 (nên có người gọi là “răng khôn mọc dại”) gây ra các tai biến khôn lường.

Trường hợp tương đối nhẹ là vùng răng khôn mọc lệch đau âm ỉ vài ngày lại hết. Nơi  răng khôn chèn vào răng số 7 gây sâu răng, kẽ răng viêm lâu ngày gây tiêu xương. Răng số 7 cuối cùng cũng bị viêm tủy, viêm quanh cuống và lung lay, phải nhổ bỏ làm giảm sút sức nhai.

Trường hợp nặng có thể gặp những biến chứng sau:

- Răng khôn không mọc lên được, lợi trùm lên răng, thức ăn và vi khuẩn giắt vào túi lợi gây viêm mủ. Nếu viêm lan rộng có thể bị sưng to một bên mặt, không há được miệng, không ăn uống được, chỗ sưng căng đỏ ở góc hàm. Để giải quyết những trường hợp này phải trích mủ, tiêm kháng sinh, lấy bỏ răng khôn.

- Nếu không được điều trị kịp thời, có thể bị viêm lan vào xương hàm gây ra cốt tủy viêm, lâu ngày làm xương bị chết. Lúc này tuy một bên mặt không sưng to như trước nhưng có lỗ rò, chảy mủ ở góc hàm rất hôi thối. Muốn điều trị khỏi, thầy thuốc phải tiến hành mổ bỏ xương chết, nhổ răng khôn, cắt bỏ đường rò.

“Răng khôn mọc dại” có thể gây ra nhiều biến chứng, có khi tai biến rất nặng. Do vậy những người ở lứa tuổi 18 – 30, thậm chí 40 – 45 tuổi, khi mọc răng khôn không nên coi thường mà nên đi khám ở chuyên khoa răng – hàm – mặt.

BS Hoài Hương/ Theo Tiền Phong
Hôi miệng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như viêm nhiễm ở khoang miệng, răng, lợi, đường hô hấp trên, do hở tâm vị của dạ dày của dạ dày hoặc mảng bám thức ăn trên răng bị vi khuẩn làm thối rữa sinh ra mùi hôi...

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Để giúp khử mùi hôi răng miệng, xin giới thiệu một vài phương cách chữa trị đơn giản, rẻ tiền từ những vị thuốc Nam dễ kiếm.

Hương nhu

Hương nhu là tên chữ Hán (còn có tên là rau é, thạch giải, cẩn nhu, thanh hương chủng, mật phong thảo). Có hai loại là hương nhu tía và hương nhu trắng.

Theo Đông y, hương nhu vị cay, hơi ấm, mùi thơm, không độc; Chữa trị được nhiều bệnh, có tác dụng hạ khí, trừ phiền nhiệt, giải cảm nắng.

Bài thuốc

Lấy 10g hương nhu sắc với 200ml nước. Dùng nước sắc ngậm và súc miệng thường xuyên, không nuốt, nhổ ra ngoài.

Húng chanh

Húng chanh còn gọi là rau tần, tần dày lá, rau thơm, rau thơm lông, tên chữ Hán là Tần thái, Dương tử tô v.v...

Đông y cho rằng, húng chanh vị chua the, mùi thơm hăng, tính ấm, đi vào phế, giúp giải cảm, phong tà...; Chữa được nhiều bệnh về đường hô hấp.

Bài thuốc

Dùng một nắm húng chanh khô, sắc lấy nước đặc để súc miệng và ngậm. Ngậm thường xuyên nhiều lần trong ngày, chỉ sau vài ngày có thể thấy hiệu nghiệm, hết hôi miệng.

Lá ngò gai

Rau ngò gai còn gọi là mùi tàu, mùi tây, rau ngò tàu..., tên chữ Hán là Dã nguyên tuy...

Theo y học cổ truyền, ngò gai vị the, tính ấm, có mùi thơm hắc, công dụng trục hàn tà, khử thấp nhiệt, mạnh tỳ vị, thanh uế, giải khí trướng, kích thích tiêu hóa v.v...

Bài thuốc

Lấy một nắm ngò gai sắc lấy nước đặc, thêm vào vài hạt muối làm nước súc miệng, khò họng nhiều lần trong ngày, sau khoảng 5-6 ngày là có công hiệu.

Phương thuốc "Trầm hương đánh răng tán"

Đây là phương thuốc dùng bột hỗn hợp của một số vị thuốc đánh răng hàng ngày để khử trừ mùi hôi miệng, làm chắc răng, cung cấp dinh dưỡng cho râu tóc.

Dược liệu

Trầm hương, bạch đàn, vỏ thạch lựu (quả lựu) chua, vỏ kha tử, thanh diêm, thanh đại, mỗi vị đều 9g; Đương quy, xuyên khổ luyện, tế tân, hương phụ tử mỗi vị 18g; Mẫu đinh hương 6g, tro hà diệp 3g, nam nhũ hương 3g, long não và xạ hương mỗi vị 2g.

Cách bào chế

Các vị thanh diêm, thanh đại, nam nhũ hương, long não nghiền nhỏ. Còn vị xuyên khổ luyện thái thành 4 miếng, sấy khô. Tế tân bỏ đọt. Tất cả các vị trên nghiền nhỏ, trộn đều thành bột hỗn hợp cất vào lọ dùng dần.

Cách dùng

Dùng thuốc bột này đánh răng vào buổi sáng và tối trước khi đi ngủ. Sau đó dùng nước ấm súc miệng. Mỗi lần đánh răng chỉ cần dùng 2g bột.

Công dụng của từng vị

Phương thuốc này bao gồm các vị thuốc thơm, có tác dụng làm chắc răng.

Các vị trầm hương, bạch đàn hương, hương phụ tử, mẫu đinh hương, nhũ hương, long não, xạ hương đều là loại dược liệu tân hương mà Trung y cho rằng, các dược liệu có vị cay đều có tác dụng phát tán, hành khí, hành huyết nên giúp thúc đẩy sự vận hành của máu, làm lượng máu đến nuôi dưỡng răng lợi được nhiều hơn.

Còn vị đương quy có tác dụng giảm đau, dưỡng huyết, chữa được cả chứng chảy máu cam.

Các vị xuyên khổ luyện, vỏ thạch lựu đều có tính sát khuẩn, nhưng vỏ thạch lựu cùng kha tử đều có vị chua nên cầm được máu.

Vị hà diệp làm tan máu ứ, tiêu thũng, ung sưng, chữa được nôn ói ra máu, chảy máu cam.

Hà diệp đốt thành tro làm tăng tác dụng cầm máu nhờ đặc điểm thu liễm. Tế tân có tác dụng khu phong, tán hàn, giảm đau.

Thanh diêm giúp răng chắc và chữa được nhiều bệnh về răng miệng. Thanh đại có tác dụng thanh nhiệt, giảm sưng.

Như vậy, tổng thể của toàn phương thuốc này là thanh nhiệt giảm sưng, cầm máu, khu phong, tán hàn, giảm đau, dưỡng huyết, hoạt huyết, làm thơm miệng, khử mùi hôi, tư nhuận râu tóc...

Hy vọng các bài thuốc Nam đơn giản trên sẽ giúp điều trị một cách hiệu quả căn bệnh này.

Theo Sức khỏe và Đời sống
Mang răng giả không phải là an toàn như nhiều người vẫn tưởng vì sau một thời gian, nó có thể là tác nhân gây ra u, bướu. Mỗi tháng, Bệnh viện Răng Hàm Mặt TP HCM tiếp nhận 20 ca bệnh này. Nếu không phát hiện kịp, u có thể dẫn đến ung thư.

Ngày 13/11, chị Hằng (41 tuổi, Tân Bình, TP HCM) đến Bệnh viện Răng Hàm Mặt TP HCM với một khối u to trước miệng. Khối u này mọc ngay dưới chân 2 chiếc răng cửa giả mà chị mang suốt 14 năm nay. Cách đây 3 tháng, chị thấy trước miệng hơi “cộm cộm”, dù không đau đớn nhưng cảm giác lạ ngày một rõ ràng.

Nghĩ là do sưng chân răng, chị Hằng tự mua thuốc uống, nhưng không hết. Lúc đến nha sĩ khám, răng giả được tháo ra, chị mới biết mình mang một khối u quá lớn nằm ngay trước miệng. Tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt, chị được chẩn đoán là có u phì đại do nhiễm trùng răng giả.

Cùng ngày, Bệnh viện Răng Hàm Mặt tiếp nhận một ca u phì đại do sâu răng. Bác sĩ Hứa Thị Xuân Hòa, Phó giám đốc bệnh viện, cho biết cơ sở này gặp rất nhiều trường hợp có khối u như vậy. Ước tính mỗi tháng, khoa Phẫu thuật miệng điều trị cho khoảng 20 bệnh nhân có u phì đại. Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này như nhiễm trùng răng giả, sâu răng, chấn thương khớp cắn (răng lệch, dị dạng)...

Theo bác sĩ Trần Xuân Thắng, khoa Phẫu thuật miệng, những người làm răng giả đều có nguy cơ bị u nướu phì đại. Nguyên nhân là sau một thời gian dài hoạt động, răng giả bị lỏng lẻo, không còn bám chặt với xương hàm. Do đó, trong khi ăn hoặc nhai, răng làm chấn thương các vùng mô mềm như nướu, niêm mạc môi, má... tạo điều kiện cho khối u phát triển. Do vậy, đối với những người đeo răng giả, nếu có dấu hiệu đau, sưng hoặc loét, cần đến bác sĩ để được khám và có hướng xử lý kịp thời.

Thai phụ cũng dễ bị u nướu

Theo bác sĩ Xuân Hòa, trong thời gian mang thai, người phụ nữ rất dễ mắc các bệnh về răng miệng, trong đó đặc biệt phải kể đến khối u phì đại. Mới đầu, u chỉ bằng hạt đậu xanh, đỏ mọng như quả cà chua, sau đó lớn dần. Thai phụ dễ mắc bệnh răng miệng vì phải tập trung cung cấp dưỡng chất cho thai nhi, dễ dẫn tới sự thiếu hụt một số chất như can xi, vitamin C...

Một số khối u có kích thước nhỏ sẽ tự khỏi sau khi thai phụ sinh em bé trong điều kiện được vệ sinh răng miệng tốt; những trường hợp còn lại đều phải điều trị. Khác với bệnh nhân bình thường, phụ nữ mang thai luôn được các bác sĩ cân nhắc kỹ trước khi quyết định điều trị các bệnh răng miệng. Với bệnh nhân mang thai 4-5 tháng thì dễ can thiệp. Nếu mang thai từ 7 tháng trở lên, tùy tình trạng bệnh lý, các bác sĩ nha khoa sẽ phối hợp với bác sĩ sản khoa để quyết định xem có điều trị ngay hay không.

Nhưng cho dù điều trị ngay hay sau khi sinh, sự xuất hiện của những khối u cũng gây nhiều phiền toái cho thai phụ như đau đớn, khó ăn uống, sụt cân, đồng thời ảnh hưởng sự phát triển của thai nhi. Để tránh tình trạng này, bác sĩ Xuân Hòa khuyên phụ nữ trước khi quyết định mang thai cần đi kiểm tra răng miệng, nếu có bệnh phải điều trị trước.

Bác sĩ Xuân Hòa nhấn mạnh, bệnh nhân có những khối u phì đại nếu được phát hiện từ sớm còn dễ dàng cắt bỏ, điều trị. Ngược lại, nếu để cho u nướu phát triển to, tái phát nhiều lần thì sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như chảy máu ồ ạt tự phát, chuyển thành khối u ác tính. Đặc biệt ở người già, những khối u này còn là yếu tố thuận lợi cho sự xuất hiện bệnh ung thư.

(Theo Người Lao Động)


Việc chải răng đúng phương pháp và đều đặn hằng ngày chỉ có thể làm sạch được hơn 70% chất bẩn. Để "thanh toán" chỗ còn lại, bạn cần sử dụng chỉ tơ nha khoa, một sản phẩm thay thế tăm xỉa răng vốn rất có hại.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Mảng bám vi khuẩn sẽ hình thành trên bề mặt của răng sau khi ăn. Nếu chải răng và dùng chỉ tơ nha khoa không đúng phương pháp thì mảng bám này sẽ hình thành nên vôi răng (hay đá răng) trong vòng 24 đến 36 giờ. Vì vậy, bạn nên dùng chỉ tơ nha khoa mỗi ngày để lấy mảng bám ra khỏi bề mặt răng trước khi chúng có cơ hội hình thành vôi răng. Việc sử dụng sản phẩm này chưa phải là thói quen của người Việt Nam. Tuy nhiên, bạn nên bắt đầu dùng thử chúng và từ bỏ thói quen tai hại xỉa răng bằng tăm.

Cần tập cho trẻ em có thói quen dùng chỉ tơ nha khoa càng sớm càng tốt. Tuy nhiên ở lứa tuổi 5-6, trẻ không tự dùng chỉ để làm sạch răng được; cha mẹ nên làm thay cho trẻ. Mặc dù răng trẻ còn nhỏ và kẽ răng rộng, có thể không dùng chỉ; song các răng cối sữa thường khít nên việc dùng chỉ tơ nha khoa làm sạch thức ăn vùng này và ở mặt xa răng cối trong cùng là rất cần thiết.

Chỉ tơ nha khoa thường có hai dạng chính: Dạng cuộn chỉ và dạng đoạn chỉ ngắn gắn trên một khung nhỏ. Chỉ tơ có thể có sáp hoặc không, đường kính lớn hay nhỏ tùy theo nhu cầu sử dụng của người dùng. Ngoài ra, nhà sản xuất có thể thêm vào chỉ một hoặc nhiều chất như sodium fluoride, stannous fluoride, chất kháng sinh, kháng amip, chất ức chế sự lên men, chất chống ung thư, chlorexidine, triclosan, hương liệu...

Chỉ tơ nha khoa thích hợp và tốt phải là loại chỉ dễ sử dụng, không gây chấn thương lên nướu răng.

Cách dùng chỉ tơ

Lấy một đoạn chỉ dài khoảng 30-45 cm. Cuộn hai đầu chỉ vào hai ngón giữa, căng đoạn chỉ này bằng hai ngón cái và ngón trỏ. Ở giữa sẽ còn một đoạn khoảng 3-5 cm.

Kéo nhẹ nhàng để sợi chỉ chui lọt vào kẽ răng, sau đó uốn sợi chỉ ôm quanh răng. Kéo chỉ lên xuống để làm sạch răng. Nên đưa sợi chỉ nhẹ nhàng dưới nướu một chút. Với mỗi kẽ răng, cần thực hiện động tác giống nhau ít nhất hai lần, một cho phía bên phải, một cho phía bên trái.

Trong khi dùng chỉ nha khoa, đừng lo lắng nếu có chảy một ít máu ở vùng nướu. Đây là hiện tượng bình thường, nhất là trong trường hợp không sử dụng chỉ nha khoa thường xuyên. Nếu dùng mỗi ngày, hiện tượng chảy máu sẽ ngày càng ít đi và biến mất sau một thời gian.

Việc chải răng và dùng chỉ tơ nha khoa phải được thực hiện trên cả nướu và từng răng một cho cả hàm trên lẫn hàm dưới. Đặc biệt là ở các mặt xa răng cối trong cùng, vì nơi này thường bị bỏ sót khi chải răng.

Bạn nên để sẵn chỉ tơ nha khoa trong túi xách, trong ngăn tủ văn phòng để có thể sử dụng khi cần. Đương nhiên là không nên dùng ở nơi công cộng.

Lưỡi cũng là nơi đọng thức ăn, tạo hơi thở hôi. Vì vậy, nên nạo lưỡi ngày hai lần bằng cây nạo lưỡi.  

Đừng quên đi khám nha sĩ mỗi sáu tháng để có thể phát hiện và điều trị sớm những bệnh lý về răng miệng.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)

Nhiều báo cáo cho biết trái cây có thể gây ra sâu và mục răng. Nguyên do là những thực phẩm này có nhiều axit làm phá huỷ men răng sau đó vi sinh vật dễ dàng thẩm thấu sâu hơn vào mô răng.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bạn đừng vội hoang mang đấy nhé bởi không phải rau trái nào cũng vậy đâu.

Xét theo tác dụng của nó với răng miệng, các nhà nghiên cứu chia rau quả thành 2 nhóm:

- Nhóm có hại: chuối, chà là, dứa, nho, cà chua, đậu hà lan, quả vả, sung, táo ngọt, quả lựu, cam quýt, nam việt quất, rau diếp, mùi tây, cần tây, me chua thuộc nhóm có hại cho răng do chứa nhiều carbohydrate.

- Nhóm không gây hại: dưa chuột, bắp cải và súp lơ, bí xanh, bí đỏ, cà tím, củ cải và cà rốt …không làm hại men răng.

Tuy nhiên, sẽ hoàn toàn sai lầm nếu “đoạn tuyệt” với nhóm thực phẩm đầu tiên vì chúng cũng có nhiều yếu tố có lợi cho răng miệng như làm sạch và có chứa florua.

Do đó, cách tốt nhất để bảo vệ răng là vệ sinh răng miệng sau khi ăn, đánh răng, súc miệng bằng nước đun sôi để nguội, nước súc miệng diệt khuẩn.

Ăn kết hợp cả 2 nhóm trái cây và ăn trong bữa chính, không ăn vặt. Nước trái cây nên uống bằng ống hút để tránh tiếp xúc với răng.

Không đánh răng ngay sau khi ăn và uống nước trái cây. Lúc này, lớp men răng sẽ mềm hơn dưới tác dụng của axit hữu cơ trong rau và trái cây, bàn chải sẽ làm mài mòn men răng. Các nha sĩ khuyên sau khi ăn trái cây nên đợi khoảng 30 phút, nước bọt sẽ phục hồi và cân bằng chất khoáng của răng, rồi hãy làm sạch chúng bằng bàn chải.

Phương Hoa - Theo Pravda/Dantri
Rượu vang giúp giữ sạch răng miệng và chống viêm họng, bên cạnh những tác dụng đã biết lâu nay là tốt cho tim, ngăn ngừa ung thư, chữa tiêu chảy.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Theo một nghiên cứu mới tại Mỹ, một loạt hợp chất trong rượu đỏ và rượu trắng tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh về răng miệng cũng như viêm họng. Rượu đỏ có hiệu quả chống vi khuẩn tốt hơn rượu trắng. Điều ngạc nhiên là không phải axit hay chất cồn mang lại đặc tính chống vi khuẩn của rượu mà là sự tổng hợp của các hợp chất hữu cơ trong món đồ uống.

Sau khi phân tách các hợp chất đó từ rượu, bao gồm lactic, malic, succinic và axit tartaric, các nhà nghiên cứu trung hoà tính axit. Họ nhận thấy những hợp chất được phân tách này hiệu quả hơn rượu trong việc tiêu diệt 99,9% các vi khuẩn răng miệng và viêm họng, kể cả khi được dùng với mật độ thấp hơn khi ở trong rượu.

Do hợp chất này hoạt động tốt hơn khi được tách riêng khỏi rượu, tương đương các loại nước súc miệng, các nhà nghiên cứu cho rằng một thứ gì đó trong rượu đã làm giảm hiệu quả chống vi khuẩn của nó.

Tuy nhiên, bạn cũng đừng vội lao đi xúc miệng bằng rượu bởi vì axit trong rượu có thể làm hỏng lớp men răng bảo vệ.

"Ngậm đồ uống có axit trong miệng trước khi nuốt làm tăng nguy cơ hỏng men răng", tiến sĩ David Bartlett tại Viện nha khoa nói. Để giảm nguy cơ, Barlett khuyên rằng nên chờ ít nhất 20 phút rồi mới chải răng sau khi ăn các món có nhiều axit.

M.T. (theo Livescience)/VnExpress
Tỉ lệ sâu răng ở Việt Nam đang ở mức báo động. Những bệnh nhân đi chữa một lúc 5-6 cái răng sâu không còn là chuyện hiếm... Một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là do chúng ta thiếu hụt kiến thức về chăm sóc răng miệng.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
1. Răng sữa không cần phải chăm sóc vì sẽ có răng vĩnh viễn thay thế

Sai. Mầm răng sữa chính là hướng cho răng vĩnh viễn mọc lên. Do vậy, nếu không chăm sóc răng sữa sẽ gây nhiễm trùng, ảnh hưởng đến răng vĩnh viễn.

2. Lấy vôi răng thường xuyên sẽ làm chân răng bị lỏng

Sai. Ngược lại, lấy cao răng sẽ giúp răng chắc khỏe bởi những mảng bám trên răng có nhiều vi trùng. Nếu để lâu ngày sẽ làm răng tụt nướu, nướu sưng tấy đỏ, lung lay răng và rụng răng.

3. Không nên ngậm nước muối sau khi đánh răng vì nó làm giảm tiết nước bọt

Sai. Nước muối được pha với nồng độ nhạt sẽ có tác dụng sát trùng nhẹ trong miệng.

4. Nhai kẹo cao su nhiều sẽ làm chắc răng

Sai. Nhai kẹo cao su có tác dụng tránh hôi miệng tạm thời, tạo cảm giác thở dễ chịu, chứ không thể làm chắc răng.

5. Thai phụ sau khi sinh con chỉ nên ngậm nước muối chứ không nên đánh răng ngay vì sẽ làm cho răng yếu

Sai. Ngậm nước muối chỉ có tác dụng sát trùng nhẹ chứ không giải quyết triệt để các mảng bám răng và đồ ăn còn sót lại trong răng. Vì vậy, để bảo vệ hàm răng tốt, cần phải đánh răng ngay trong ngày đầu sinh con.

Theo Người lao động
Độ flour trong nước quá thấp, đội ngũ bác sĩ nha khoa ở tuyến huyện, tỉnh hầu như “trắng” cộng thêm ý thức giữ gìn vệ sinh răng miệng chưa cao đã dẫn đến tình trạng số người mắc bệnh về răng miệng ở nước ta thuộc loại cao nhất trên thế giới - TS Trịnh Đình Hải Phó Viện trưởng Viện Răng Hàm Mặt cho biết.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
95% người dân mắc bệnh răng miệng

Kết quả điều tra của Viện Răng Hàm Mặt cho thấy, nếu ở độ tuổi từ 6-8 tuổi tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là  25%  thì đến lứa tuổi 15- 17, con số này đã ở mức 65% và đến lứa tuổi trên 45, số người bị sâu răng “đạt” 90%.

Các bệnh liên quan đến răng miệng còn đáng báo động hơn: Tỷ lệ mắc các bệnh về viêm lợi, viêm quanh răng ở  trẻ em là 47,2% thì đến lứa tuổi 15-17 tỷ lệ này  lên đến 85,5% và ở lứa tuổi trên 45 số người có bệnh quanh răng là 96,7%, (trong đó có 31,8% người có túi lợi nông, sâu).

Vì sao chúng ta lại có tỷ lệ người mắc bệnh về răng miệng cao đến như vậy? Theo TS Hải, ngoài những yếu tố khách quan như: độ flour trong nước quá thấp (0,4ppm- chỉ bằng một nửa tiêu chuẩn quốc tế), thiếu bác sĩ nha khoa, thì yếu tố quan trọng nhất là ý thức giữ vệ sinh răng miệng rất kém của người dân, đặc biệt là ở các vùng ngoại ô.

Có trên 50% người dân chưa bao giờ đi khám răng, miệng. Rất ít người (kể cả người dân sống  tại các thành phố lớn) đi khám theo định kỳ 2lần/ năm.

Trong khi đó, khoang miệng chính là cửa ngõ để đưa các vi khuẩn vào xâm nhập cơ thể. Ngoài ra, các bệnh về răng miệng còn làm ảnh hưởng đến nhiều chức năng của cơ thể như gan, thận, thần kinh, nhiễm trùng máu...

Những bệnh thường gặp

Sâu răng:

Gặp ở cả người lớn và trẻ em. Bệnh có tốc độ phát triển tương đối chậm, mất khoảng từ 2 đến 4 năm để ăn sâu từ bề mặt lớp men răng đến lớp ngà răng. Khoảng từ 6 tháng cho đến 1 năm (hoặc có khi 2 năm) đầu bệnh thường tiến triển mà không tạo lỗ trên bề mặt răng. (Ở giai đoạn này chỉ có bác sĩ mới biết răng bạn có bị sâu hay không).

Chỉ đến khi lỗ sâu lớn, ăn vào lớp ngà răng mới thấy đau với cường độ nhẹ, đặc biệt là khi ăn thức ăn nóng hoặc lạnh. Nếu vẫn tiếp tục để bệnh phát triển mà không điều trị, tuỷ răng sẽ chết và từ bệnh sâu răng và viêm tuỷ răng sẽ phát sinh ra các biến chứng như viêm quanh cuống răng, rụng răng, viêm xương, viêm hạch...

Nhiễm trùng:

Khi bị sâu răng hoặc răng khôn – (răng số 8) mọc lệch, kẹt, lại thêm vệ sinh răng miệng không kỹ, vi khuẩn yếm khí staphylococci sẽ gây viêm mủ, sưng chân răng, huỷ hoại. Tai biến nặng nhất là nhiễm trùng huyết, có thể dẫn đến tử vong.

Viêm nha chu:

Những mảng bám quanh cổ răng chứa hỗn hợp thức ăn, muối khoáng và vi khuẩn, lâu ngày cứng lại thành vôi. Vôi răng sẽ kích thích nướu gây sưng đỏ, chảy máu, có mủ, phá hủy xương quanh răng và mô nang đỡ răng, làm răng lung lay, có khi rụng cả hàm. Đặc biệt, bệnh này gây đau nhức khi nướu có mủ.

Nước súc miệng không phải là tất cả

Cũng theo TS Hải, hiện nay trên thị trường có quá nhiều thông tin quảng cáo đã khuếch đại lên giá trị thực sự của nước súc miệng, nó khiến nhiều người lầm tưởng rằng chỉ cần đánh răng qua loa rồi sau đó dùng nước súc miệng là được. Sự thật không đúng như thế, nước súc miệng chỉ có tính chất sát khuẩn chứ không thể loại bỏ các mảng bám răng, nguyên nhân chính gây ra sâu răng và viêm lợi.

Khi súc miệng nước muối, chỉ nên dùng loại muối tinh khiết và pha nhạt (nước muối mặn sẽ gây viêm loét các vết thương ở khoang miệng). Việc chải răng ngay sau đi ăn và chải đúng cách là hai yếu tố rất quan trọng giúp ngăn ngừa các bệnh về răng miệng.

Dưới đây là lời khuyên của các nha sĩ nhằm giúp bạn bảo vệ răng miệng

- Giữ vệ sinh răng miệng, chải răng sau mỗi bữa ăn và tối trước khi đi ngủ.

-  Chải răng theo đúng phương pháp: Chải đúng góc độ. Mặt ngoài. Mặt nhai. Mặt trong.

- Ăn uống các chất cần thiết để bồi bổ răng: trái cây, các sản phẩm từ sữa...

-  Khám răng định kỳ, 6 tháng một lần để phát hiện và điều trị sớm bệnh sâu răng.

Phạm Thanh  (Theo Dantri)

Những loại thức ăn, đồ uống có vị chua như cam quýt có thể gây tổn hại vĩnh viễn cho răng của bạn. Hãng tin UPI dẫn lời các nhà khoa học Mỹ cho biết, dùng nhiều nước hoa quả, dưa chua, sữa chua, nho khô... sẽ phá hủy lớp men răng. Ngậm trong miệng quá lâu các loại nước uống có vị chua cũng làm tăng nguy cơ bào mòn men răng.

Những ai dùng đồ ăn hoặc thức uống có vị chua cần chờ ít nhất 20 phút rồi mới đánh răng nhằm tránh làm hỏng men răng. Chỉ nên dùng thức ăn có vị chua trong 5 phút thay vì cả ngày và ăn chúng trong các bữa ăn chính để hạn chế chất a-xít tiếp xúc lâu với răng.

Theo Thanhnien
Chỉ với những loại rau dễ kiếm như: rau mùi tàu, lá hương nhu, lá rau tần khô... sắc lấy nước súc miệng, sẽ giảm được chứng hôi miệng hằng ngày.

Lá rau tần khô

Rau tần vị chua the, mùi thơm hăng, tính ấm đi vào phế, tác dụng giải cảm, khu phong tà, trục hàn, sát khuẩn, tiêu đàm, giải độc nên dùng chữa chứng hôi miệng, cảm cúm, ho suyễn, viêm họng...

Cách dùng:

Rau tần khô 1 nắm, sắc đặc, cất trong tủ lạnh nếu có, hằng ngày dùng nước này để ngậm và súc miệng từ 1-2 lần. Chỉ cần vài ngày làm như vậy, miệng sẽ hết hôi. Lưu ý sau mỗi lần súc miệng nhổ ra đừng nuốt.

Hương nhu

Hương nhu có vị cay, tính hơi ấm không độc, chữa được hôi miệng và nhiều bệnh.

Cách dùng:

Lấy 10g hương nhu, sắc với 200ml nước, đùng ngậm và súc miệng nhiều lần trong ngày. Cần súc miệng nhiều ngày sẽ hiệu nghiệm.

Rau mùi tàu

Mùi tàu có vị the, tính ấm, mùi thơm hắc, giỏi trục hàn tà, mạnh tỳ vị, khử thanh uế... nên chữa trị được chứng hôi miệng, hơi thở nặng mùi.

Cách dùng:

Lấy 1 nắm rau mùi tàu, rửa sạch, sắc đặc, lấy nước này ngậm và khò họng, súc miệng nhiều lần trong ngày, chỉ dùng trong 5-6 ngày là kiến hiệu.

Hồi hương

Cứ mỗi ngày lấy vài cánh hoa hồi nhai và nuốt liên tục mấy ngày sẽ khỏi hôi miệng.

Nụ đinh hương

Chữa mùi hôi do viêm xoang, lấy 1 nụ đinh hương bọc bông, thỉnh thoảng lại nút vào mũi, chừng 5 ngày sẽ hết mùi hôi.

Theo BS. Hoàng Xuân Đại

Nông thôn ngày nay
Chứng tiết nước dãi nhiều về đêm là triệu chứng thường gặp ở cả trẻ em và người lớn. Đây là bệnh nội khoa, thường do rối loạn ở các tuyến nước bọt và có liên quan đến yếu tố thần kinh.

Sự kích thích làm hưng phấn các tuyến nước bọt do nhiều nguyên nhân, như: ăn nhiều đồ gia vị quá cay và nóng, ăn bữa ăn tối quá no; trạng thái căng thẳng thần kinh trong lúc ngủ có kèm theo tật nghiến răng; đường tiêu hóa không tốt, viêm hoặc loét dạ dày; giấc ngủ không bình thường, có trạng thái lo âu...

Khi tình trạng chảy nước miếng khi ngủ kéo dài, bạn nên đi khám bác sĩ chuyên về nội tiết, tiêu hóa để được chẩn đoán và điều trị chính xác hơn. Thuốc làm giảm tiết nước bọt có chất atropin có thể làm ngưng tiết nước bọt tạm thời, nhưng thuốc chỉ dùng trong trường hợp đặc biệt để phẫu thuật vùng răng miệng và chỉ tác dụng trong thời gian ngắn.

Tạm thời để giảm bớt tình trạng tiết nước bọt, bạn có thể giảm ăn thức ăn gia vị cay nóng; không nhai kẹo cao su để tránh nước bọt tiết nhiều quá; buổi tối không ăn nhiều trước giờ đi ngủ.

Theo BS Nguyễn Chí Cường
Người Lao Động
Khi các tổ chức quanh răng bị viêm, bị phá hủy, răng sẽ bị lung lay hàng loạt, vị trí của các răng sẽ bị thay đổi. Người bệnh có cảm giác rất khó chịu vì miệng hôi, đau đớn. Bệnh ở giai đoạn cuối sẽ ảnh hưởng đến chức năng ăn, thẩm mỹ và phát âm.

Bệnh quanh răng có nhiều loại, trong đó phổ biến là:

Viêm lợi

Đây là loại nhẹ nhất với biểu hiện là tổ chức lợi xung quanh răng bị viêm đỏ, sưng và dễ chảy máu. Giai đoạn này thường ít gây khó chịu cho bệnh nhân nên dễ bị bỏ qua. Nếu được thăm khám sớm thì việc điều trị sẽ rất dễ dàng và có hiệu quả.

Viêm quanh răng

Viêm lợi nếu không được điều trị thì có thể chuyển thành viêm quanh răng. Ở giai đoạn nhẹ, viêm quanh răng bắt đầu chớm phá tủy xương ổ răng và các tổ chức nâng đỡ khác. Thể nặng sẽ khiến răng bị lung lay.

Khi thấy những biểu hiện như chảy máu khi đánh răng, lợi bị viêm đỏ, sưng, mềm, tụt lợi, hơi thở hôi kéo dài, có mủ chảy ra từ kẽ răng và lợi, răng thưa hoặc lung lay... thì hãy đến ngay nha sĩ để được khám và điều trị sớm nhằm phòng ngừa những biến chứng của bệnh.

Cách phòng chữa tốt nhất là súc miệng và chải sạch răng sau khi ăn để tránh sự tích tụ của mảng bám răng và mảnh vụn thức ăn, phòng ngừa sự hình thành cao răng. Nên làm sạch các kẽ răng bằng chỉ tơ nha khoa hoặc tăm tre (nhỏ và trơn láng để tránh làm xước lợi gây nhiễm trùng).

Đánh chải răng phải đúng phương pháp. Nên đi khám răng định kỳ 6 tháng một lần để sớm phát hiện và điều trị bệnh.


Theo 24h
Trong cuộc đời có lẽ ai trong chúng ta cũng có vài lần từng bị đau nhức răng. Đau nhức răng do rất nhiều nguyên nhân, tùy nguyên nhân mà cách chữa trị cũng khác nhau. Để giải quyết ngay việc đau nhức răng, bạn có thể dùng một số loại cây lá sau làm vị.

Trong trường hợp đau nhức âm ỉ, không dữ dội do viêm xung quanh răng, có thể dùng một miếng vỏ quả kha tử, khoảng 3mm x 3mm đặt vào cạnh chỗ chân răng đau. Ngậm như vậy sẽ hết đau nhức.

Kha tử là quả của cây chiêu liêu, còn gọi là xàng tiếu, tên khoa học là Terminalia chebula. Retz, là loại cây lớn, mọc hoang, cao khoảng 20m, lá rộng 7x20cm, mặt dưới lá có lông mịn. Quả dài 3-4cm, có 5 rãnh, nhân cứng, trong có hạt ăn được. Quả già phơi khô, không cần chế biến, dùng chữa đau nhức răng. Quả chứa 40% tanin nên có thể bảo quản được lâu để dùng dần hoặc mang đi xa.

Ngoài tanin, kha tử còn có acid luteoic, chebulinic, chebulic, chebulin, terchebin... có tính chất kháng viêm, kháng sinh, kháng nấm và virut. Thường dùng để trị đau nhức răng, cảm cúm, viêm họng, ho... bằng cách ngậm, nuốt dần nước tiết ra.

Nếu răng bị sâu hà, đã được hàn kín trước đây, nay bỗng đau nhức dữ dội, khác với trường hợp viêm quanh răng nói trên, ngậm kha tử không khỏi, không đỡ thì phải đến bác sĩ nha khoa để lấy hết chất hàn răng sâu ra và uống thuốc theo chỉ dẫn.

Tuy vậy, khi chưa đến bác sĩ được có thể dùng một số biện pháp đơn giản sau để giảm đau nhức.

Lấy một cái hoa cúc áo bóp nát, đặt vào chỗ đau, sẽ giảm hẳn đau nhức.

Cây cúc áo thuộc loài cỏ nhỏ, thường được trồng làm cảnh. Cao 40-70cm. Lá hình trứng thon dài, mép có răng cưa, dài 3-7cm, rộng 1-3cm. Hoa màu vàng, đế quả màu nâu; toàn thân có vị cay tê đặc biệt, nhất là hoa cay tê, nóng mạnh, làm chảy nước dãi rất nhiều, có tác dụng sát khuẩn. Thành phần chủ yếu là tinh dầu cay, hăng, trong có chất spilantein và spilantola có tính sát khuẩn gây tê. Theo kinh nghiệm dân gian, lấy hoa, lá giã nhỏ đắp hoặc ngâm rượu, pha loãng, ngậm khi nhức răng.

Ngắt một cành của cành giao (còn gọi là cây xương khô), để nhựa tiết ra, dùng bông tẩm nhựa này đặt vào hố răng đau.

Cây cành giao thuộc loại cây nhỏ, cao 4-7m, có nhiều cành, màu xanh, rất ít lá, thoạt trông như cây không có lá. Lá nhỏ hình mác, rất chóng rụng. Hoa tập trung ở những chỗ phân nhánh. Quả nang có lông, có 3 mảnh vỏ. Nhựa cây có tính sát khuẩn, giảm đau, trong dân gian thường dùng để chữa đau răng, sâu răng.

Ngắt lá cây hen (còn gọi là cây bồng bồng, cây bàng biển), lấy nhựa tiết ra đặt vào hố răng cũng giảm được đau nhức.

Cây hen hay cây bồng bồng là loại cây nhỏ, cao 5-7m. Cành có lông trắng. Lá mọc đối dài 15-20cm, rộng 5-10cm. Hoa mọc thành xim, có nhiều tán, màu trắng xám hoặc đốm hồng. Quả gồm 2 đại, nhiều hạt trong lá có hoạt chất calotropin. Dân gian thường dùng hạt để chữa đau răng và chữa hen nên còn gọi cây lá hen.

Lấy hạt na, đập hạt lấy nhân, nghiền nhỏ đặt vào hố răng, sẽ hết đau ngay.

Cây na còn gọi là cây mãng cầu ta, là loại cây cao 2-6m, thân tròn, vỏ nháp. Lá mọc so le, hình bầu dục. Hoa đơn độc, quả kép gồm nhiều múi, bên trong có hạt màu đen. Trong hạt có một alcaloid; 39-42% dầu, trong đó có các acid béo myristic, panmitic, olein stearic. Hạt na có tính chất sát khuẩn.

Tuy nhiên, cần lưu ý việc sử dụng các phương thuốc trên chỉ mang tính tạm thời, sau đó phải đến bác sĩ nha khoa để được thăm khám và điều trị một cách bài bản.  

Theo SK&DS
Dù Tẩy trắng răng đang là xu hướng làm đẹp mới nhưng trước khi thực hiện dịch vụ này, bạn cần tìm hiểu kỹ đôi điều về những gì mà loại hình làm đẹp có thể mang đến.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Chất tẩy trắng có làm hại răng không?


Hiện tại chưa có một nghiên cứu nào chứng tỏ rằng chất hydrogen hay carbomide peroxide trong thuốc tẩy trắng có thể gây ra những hư hại lâu dài vì chúng duy trì lớp tráng men.

Tuy nhiên, bạn nên nói "không" với một sản phẩm có chứa axit trong thành phần. Mặc dù phần lớn những sản phẩm có thương hiệu không có chất này, nhưng bạn cũng nên cẩn thận kiểm tra lại tên thành phần nguyên liệu ghi trên nhãn mác.

Tại sao răng trở nên nhạy cảm hơn sau khi tẩy trắng?

Tình trạng nhạy cảm này là do việc lạm dụng các sản phẩm tẩy trắng tại nhà có chứa axit khiến lớp men bị tổn thương. Bạn có thể cảm thấy hơi buốt hay đau, nhất là khi ăn hay uống đồ nóng hay lạnh. Điều này hoàn toàn bình thường và sẽ giảm bớt sau 24-48 tiếng sau khi tẩy trắng. Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài lâu hơn, bạn nên hỏi ý kiến nha sĩ.

Răng như thế nào là quá trắng?

Trên bảng màu mà các nha sĩ hay dùng, B1 được coi là màu trắng nhất. Tuy nhiên, khi tẩy trắng quá nhiều, các sắc độ mới sẽ là sáng hơn tự nhiên. Để đạt được độ siêu trắng, bạn cần tẩy trắng nhiều lần một cách chuyên nghiệp dưới sự thực hiện của nha sĩ.

Có thể thay đổi màu của những răng đã bọc hay không?

Không. Chỉ những răng nguyên bản mới có thể làm trắng được nhờ chất tẩy trắng. Bởi lẽ, những vỏ bọc răng và lớp men tráng tráng thêm bên ngoài là nhân tạo nên peroxide không thể làm thay đổi màu sắc của chúng được. Vì vậy, các nha sĩ sẽ cho bạn những lời khuyên thuộc lĩnh vực chuyên môn. Họ có thể thường xuyên làm sạch và đánh bóng lớp tráng men hay vỏ bọc giả ấy để giúp hàm răng của bạn luôn giữ được độ sáng đồng đều.

Theo NLD
Bạn đang mang thai, bạn cần phải đặc biệt chú ý đến việc vệ sinh răng miệng hơn trong giai đoạn này- giai đoạn có sự thay đổi lớn về hóc môn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Dưới đây là một số lời khuyên giúp bạn hiểu biết và phòng tránh những bệnh về răng miệng hay gặp phải ở phụ nữ khi mang thai.

Giai đoạn cần chú ý bảo vệ răng, lợi

Trong thời kỳ mang thai, bạn thường gặp phải những vấn đề về răng miệng gây ra chủ yếu bởi hai nguyên nhân sau.

Trước tiên, răng và lợi của bạn có nguy cơ bị suy yếu đi, do cơ thể có những thay đổi về hoóc môn.

Viêm lợi là bệnh thường gặp với những triệu chứng như: đau nhức, chảy máu, và đôi khi trong một số trường hợp là hở chân răng.

Nguyên nhân thứ hai là những thay đổi trong chế độ dinh dưỡng. Phụ nữ mang thai thường có cảm giác buồn nôn, thậm chí hay bị nôn mửa,  họ có xu hướng thay đổi thói quen ăn uống của mình. Thêm đó, họ có nhu cầu ăn nhiều thức ăn chứa chất glucô hơn bình thường. Chính những điều này đã khiến cho khả năng bị sâu răng tăng cao.

Biện pháp phòng tránh

Phòng ngừa chính là biện pháp đầu tiên bạn nên áp dụng. Nếu bạn sinh hoạt điều độ, những vấn đề về răng lợi sẽ được kiểm soát từ trước khi mang thai. Lấy cao răng đều đặn sẽ tránh cho bạn những bệnh về lợi và nhớ nên đến phòng nha sĩ để khám răng thường xuyên và phát hiện các vấn đề liên quan đến răng miệng một cách sớm nhất.

Khi mang thai, bạn có thể sẽ gặp nhiều vấn đề về sức khỏe, tâm lý, cũng như răng miệng… nhưng cũng đừng quá lo lắng! Những biện pháp khám, chữa răng đơn giản ( dùng thuốc tê cục bộ, chụp X-quang) không phải là điều chống chỉ định trong giai đoạn này.

Tuy nhiên, thông thường, nếu bạn gặp những rắc rối lớn liên quan đến răng miệng, các nha sĩ chỉ có thể thực hiện những xử lý tạm thời như hàn răng, chống  nhiễm trùng … còn mọi việc chữa trị đều phải hoãn đến sau thời kì ở cữ. Như vậy, bà mẹ và thai nhi sẽ tránh được những rủi ro do việc chữa trị gây ra.

Cuối cùng, bạn nên nhớ: Không được dùng thuốc giảm đau bừa bãi khi bị đau răng. Có rất nhiều loại thuốc được khuyên là không nên dùng trong khi mang thai, như những loại thuốc chống viêm:  Ibuprofène, Aspirine hay Piroxicam. Bên cạnh đó, Doliprane theo kiểm định là loại thuốc không gây nguy hiểm cùng với Amoxiciline là loại thuốc thường được lựa chọn sử dụng.

Tuy nhiên, khi bị viêm nhiễm hay gặp các vấn đề liên quan đến răng miệng, tốt nhất bạn nên đến xin lời khuyên của nha sĩ.

Tiến Dũng
(Theo Doctissimo)
Hiện trên thị trường có bán kem đánh răng và thuốc đánh răng, nhiều người không biết nên dùng loại nào.

Theo hướng dẫn của các bác sĩ nha khoa, kem đánh răng là sản phẩm vệ sinh răng miệng hàng ngày có nồng độ fluo dưới 1.500ppm, không chứa thuốc đặc trị, có thể mua ở khắp nơi.

Thuốc đánh răng là loại kem đặc biệt, có nồng độ fluo cao hơn 1.500ppm, có thể điều trị hoặc tham gia điều trị một số bệnh răng miệng như viêm nha chu, bệnh hôi miệng. Trong thuốc đánh răng còn có  thêm chất triclosan để tăng tác dụng diệt khuẩn, chất lục diệp tố  để tăng khả năng chống viêm, chất boroglyxerin để điều trị nấm, vitamin B3 để phục hồi nhanh các vết thương trong miệng. Thuốc này bán theo đơn bác sĩ, những người không mắc các bệnh về răng miệng không nên dùng.

Kem đánh răng hàng ngày hiện trên thị trường có một số mặt hàng mới như kem muối, kem sữa, kem trà xanh... tất cả các loại kem này đều có hiệu quả như nhau, chỉ khác nhau về kỹ thuật trong quá trình đa dạng hoá sản phẩm, tạo sự mới lạ, hương vị dễ chịu để thu hút khách hàng của nhà sản xuất.

P.N (Theo LaoDong)
Hôi miệng là một chứng bệnh mặc dù không nguy hiểm nhưng làm cho người bị mắc rất khó chịu. Nhìn từ góc độ Đông y thì đa số các trường hợp hôi miệng là do thấp nhiệt. Là hiện tượng nhiệt khí uẩn tích ở giữa các mô lồng ngực và từ trong miệng xung phát ra. Người trường vị thấp nhiệt, những thức ăn mà họ ăn vào hay bị ứ trệ lại trong dạ dày, tiêu hóa kém, đồng thời dẫn tới hiện tượng chán ăn, nấc cụt, buồn nôn, táo bón, chướng bụng, đau bụng. Ngoài ra bệnh viêm lợi, sưng mưng mủ cũng dẫn tới hôi miệng.

Nói chung bất luận nguyên nhân nào gây ra hôi miệng đều nên sớm chữa trị, nhằm tránh ảnh hưởng đến việc giao tiếp với người khác. Có thể dùng một số bài thuốc sau:

Bài 1: Trúc diệp 9g, thạch cao 30g, bán hạ chế 4g, mạch môn đông 18g, nhân sâm 5g, cam thảo 3g, gạo 8g.

Dùng nước sạch sắc tất cả các vị thuốc trên, uống nước thuốc mỗi ngày 3 lần. Bài thuốc này dùng cho những người khí âm lưỡng hư kèm vị nhiệt, thường xuyên cảm thấy có một luồng hơi nóng chạy lên trên dọc theo lồng ngực, trong lòng phiền muộn, miệng khô lưỡi ráo, tim hồi hộp, ra mồ hôi lạnh, mất ngủ mệt mỏi, da dẻ sần sùi mà miệng hôi nhiều.

Bài 2: Trầm hương, bạch đàn, vỏ thạch lựu (trái lựu chua), vỏ kha tử, thanh đại, mỗi thứ 9g, đương quy, xuyên khổ luyện, tế tân, hương phụ mỗi thứ 18g; mẫu đinh hương 6g; tro hà diệp 3g; nam nhũ hương 3g; long não, xạ hương mỗi thứ 2g.

Đem long não, thanh đại, nam nhũ hương nghiền nhỏ riêng biệt. Xuyên khổ luyện sắt thành 4 miếng nhỏ sấy khô, tế tân bỏ đọt, sau đó đem tất cả nghiền nhỏ thành bột mịn, trộn đều thành một hỗn hợp. Mỗi lần dùng khoảng 2g bột thuốc, dùng thuốc đánh răng vào buổi sáng và tối, sau đó dùng nước ấm súc miệng. Bài thuốc này có tác dụng thanh nhiệt, giảm sưng cầm máu, khu phong tán hàn, giảm đau, dưỡng huyết, hoạt huyết, làm thơm miệng khử hôi, chắc răng.

Bài 3: Đương quy thân 6g, hoàng liên 5g, sinh địa 12g, đơn bì 6g, thăng ma 6g. Dùng nước sắc tất cả các vị thuốc trên, uống mỗi ngày 1 thang. Dùng cho những người bị hôi miệng có kèm khát nước, thích uống lạnh, môi đỏ, lở loét miệng lưỡi, lợi sưng đau, chảy máu chân răng, khô miệng ráo lưỡi, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch sác hữu lực. Vì bài thuốc này có tác dụng thanh tuyên vị hỏa, lương huyết dưỡng âm nên có thể chữa vị nhiệt xông bốc lên mà gây ra hôi miệng.

Bài 4: Thạch cao 24g, xích thược 6g, bạc hà 3g, nguyên minh phấn 3g, bạch chỉ 3g. Sắc lấy nước bỏ bã. Dùng nước thuốc súc miệng thường xuyên. Bài thuốc có tác dụng thanh nhiệt giảm sưng, hoạt huyết giảm đau, lương huyết cầm máu, khu phong trừ hôi miệng.

Thanh Quy (Suc khoe & doi song)