Dinh dưỡng - Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
Phân trang 4/8 Trang đầu Trang trước [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
Theo nhiều nghiên cứu, giới chuyên môn phát hiện thấy cung cấp đủ vitamin, dưỡng chất tổng hợp không chỉ làm tăng sức khỏe chung mà còn làm tăng sức khỏe tình dục, giúp máu lưu thông tốt, dẻo dai và tăng thêm sự khoái cảm.

1. Làm tăng sức khỏe cho hệ thống mạch máu

Sức khỏe của hệ thống mạch máu đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động tình dục, trong đó vitamin E được coi là chủ đạo. Nó làm cho nguồn máu dẫn đến các bộ phận trong cơ thể tốt hơn, nhất là đến các bộ phận sinh dục. Hàng ngày nên dùng vitamin tổng hợp, trong đó có hàm lượng thích hợp vitamin E. Sức khỏe mạch máu tốt không chỉ tăng cường khoái cảm mà còn giảm các nguy cơ mắc bệnh tim mạch, nhất là ở đàn ông.

2. Tăng cường năng lượng

Vitamin tổng hợp có tác dụng cung cấp đủ dưỡng chất trong đó có vitamin B, đây là hợp chất rất quan trọng giúp cơ thể chuyển hóa thực phẩm khi ăn vào từ carbohydrate thành năng lượng cần cho các hoạt động tình dục. Một khi cơ thể thiếu hụt nguồn vitamin B thì sức khỏe không đảm bảo, làm việc kém hiệu quả và giảm năng suất.

3. Bổ sung các chất chống ôxi hóa

Các chất chống ôxi hóa (antioxidant) có tác dụng tạo ra cơ chế chống lại quá trình ôxi hóa diễn ra trong cơ thể nhằm tấn công lại các gốc tự do gây bệnh. Đây chính là thủ phạm làm tăng bệnh bất lực ở đàn ông và cả ở phụ nữ. Nguồn dưỡng chất này rất đa dạng, gồm vitamin A, vitamin C và vitamin E. Đây là nguồn chống ôxi hóa rất tiềm ẩn, có tác dụng tích cực cho cuộc sống của con người.

4. Yohinbe

Yohinbe là thuật ngữ chuyên môn nói về một chất phụ gia tự nhiên của các loại vitamin tổng hợp và có tác dụng rất tích cực cho các hoạt động tình dục. Hợp chất được chiết xuất từ dược thảo này có tác dụng kích thích quá trình lưu thông máu, đưa máu đến các cơ quan sinh dục được nhanh hơn, giúp dẻo dai và hưng phấn.

5. Niacin

Niacin là hợp chất không thể thiếu trong nguồn vitamin tổng hợp cần cung cấp mỗi ngày cho cơ thể, đây là dưỡng chất rất cần cho sức khỏe tình dục hay còn gọi là thuốc dưỡng dục, làm cho dòng máu trong cơ thể tăng nhanh, nhất là lưu thông đến bộ phận sinh dục cơ thể. Tuy nhiên không nên sử dụng quá nhiều hợp chất này, bởi quá liều sẽ gây hại cho cơ thể.

6. Sắt

Trong nguồn vitamin tổng hợp có chứa sắt và nhu cầu sắt hàng ngày của cơ thể cần được cung cấp đầy đủ. Lý do sắt có nhiệm vụ giúp vận chuyển ôxy thông qua nguồn máu đến các bộ phận được dễ dàng. Nếu nguồn máu ôxi tăng sẽ giúp cho sức khỏe sung mãn và làm cho các hoạt động tình dục được thuận lợi, hạn chế những căn bệnh cục bộ xảy ra tại các bộ phận sinh dục, hoặc chấn thương gây đau rát, khó chịu.

7. Kẽm

Thực đơn nếu thiếu kẽm sẽ gây ra rất nhiều bất lợi cho cơ thể và gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống tình dục. Ngoài ra nếu thiếu kẽm còn gây chứng bệnh về thần kinh và thiếu tập trung. Nên cung cấp đủ lượng kẽm mà có thể cần mỗi ngày thông qua ăn uống và sử dụng thuốc bổ dưới dạng vitamin tổng hợp.

Theo báo Nông Nghiệp
Bột sắn dây từ lâu được nhiều người biết tới như một thực phẩm giải nhiệt rất tốt. Thế nhưng ít ai biết toàn bộ cây sắn dây, từ dây leo tới hoa, củ đều có thể dùng làm thuốc. Chúng tôi giới thiệu những bài thuốc trị bệnh từ loại cây này.

1. Dây sắn dây:

Dùng dây sắn đốt chưa cháy hoàn toàn rồi đem tán bột, uống với nước. Tác dụng: trị viêm họng, viêm thanh quản cấp tính.

2. Hoa sắn dây:

Dùng 20-40 gr hoa sắn dây (loại khô) đem nấu nước uống. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, nhất là giải rượu.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

3. Củ sắn dây:

Theo Đông y, củ sắn dây có vị ngọt, mát, tính bình, đi vào kinh tỳ, vị, phế, bàng quang, có tác dụng thanh nhiệt.

Củ sắn dây cạo sạch vỏ ngoài, thái mỏng theo chiều dọc, phơi khô dùng làm thuốc trị cảm nắng, khô cổ khát nước, ban sởi không mọc được. Mỗi lần nấu từ 8-30 gr, có thể nướng vàng (hay sao vàng) rồi nấu nước uống.

Củ sắn dây nướng vàng, rồi sắc hoặc tán bột dùng có tác dụng trị tiêu chảy khó tiêu.

Ngoài ra, củ sắn dây tươi đem rửa sạch, luộc mềm, ăn sẽ tốt cho tỳ vị và mát cơ thể.

4. Bột sắn dây:

Bột củ sắn dây đem pha với nước lọc, đường, chanh trị chứng cảm nắng đau đầu, khô mũi, tiểu vàng. Bột sắn dây còn trị được kiết lỵ do ăn nhiều thức ăn cay, nóng - bằng cách hòa bột với nước cho tan đều, thêm vào một ít đường, rồi bắc lên bếp, khuấy đều tay đến khi dung dịch này đặc lại là dùng được.

5  Một số ứng dụng cụ thể khác

- Chảy máu mũi suốt ngày không ngừng, tâm thần phiền muộn: Củ sắn dây tươi giã nát, vắt lấy nước cốt, uống mỗi lần một chén con.

- Rắn cắn: Giã lá sắn dây tươi vắt lấy nước uống, bã đắp lên nơi rắn cắn.

- Vết thương chảy nhiều máu: Dùng lá sắn dây tươi giã nát, đắp vào vết thương.

- Viêm ruột, đau bụng đi ngoài giống kiết lỵ, cồn cào, buồn bực, nôn ọe do uống nhầm các thứ thuốc quá nóng: Dùng bột sắn dây quấy đường uống; hoặc dùng lá sắn dây 30 g, rau má 20 g giã nát, chế thêm nước, vắt lấy nước cốt uống trong ngày.

- Trẻ sơ sinh miệng mím chặt, sùi bọt mép, không bú được: Lấy một đoạn dây sắn dây đốt thành than, nghiền mịn, dùng khoảng 3-5 g bột hòa với sữa mẹ, nhỏ vào miệng trẻ. Làm như vậy vài lần trẻ sẽ mở miệng và bú được.

- Ngực nóng, thổ huyết không ngừng: Củ sắn dây tươi giã nát, vắt lấy 500 ml uống.

                                                                           Theo Phụ Nữ
Ngoài dùng làm thức ăn nhiều dinh dưỡng, củ cải trắng còn là vị thuốc chữa các bệnh thông thường. Theo y dược học hiện đại, cứ 100g củ cải trắng có 93,5g nước, protein 0,06g, chất béo 0,1g, đường tổng số 5,3g chủ yếu là các loại đường dễ hấp thụ (glucose, fructose); những chất khoáng cần cho cơ thể như canxi, photpho, sắt...;các vitamin nhóm B và nhiều loại axit amin. Theo Y học cổ truyền, củ cải trắng tươi sống có vị cay, tính mát có tác dụng lợi tiểu, long đờm, tiêu viêm, chữa khản tiếng. Củ cải nấu chín vị ngọt, tính bình, quy kinh phế và vị.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Đơn thuốc có sử dụng củ cải trắng:

Chữa ho nhiều đờm: Củ cải trắng 1kg, lê 1kg, gừng tươi 250g, sữa, mật ong mỗi vị 250g. Lê gọt vỏ bỏ hạt, củ cải, gừng tươi rửa sạch thái nhỏ. Cho từng thứ vào vải xô vắt nước để riêng. Đổ nước củ cải, lê đun to lửa cho sôi, bớt lửa cho đến khi đặc dính thì cho nước gừng, sữa, mật ong vào quấy đều đun sôi lại. Khi nguội cho vào lọ đậy kín dùng dần, mỗi lần một thìa canh pha vào nước nóng để uống. Uống ngày hai lần.

Chữa lở loét trong miệng: Lấy 3-5 củ cải trắng, giã lấy nước để ngậm. Mỗi lần ngậm 5-10 phút, ngậm 5-7 lần trong ngày, làm trong 2-3 ngày.

Trị khản tiếng: Lấy 3 củ cải trắng và 1 nhánh gừng tươi, rửa sạch, giã nhỏ gạn lấy nước để uống, uống trong 2 ngày.      

Theo suckhoedoisong
Ngoài dùng làm thức ăn nhiều dinh dưỡng, củ cải trắng còn là vị thuốc chữa các bệnh thông thường. Theo y dược học hiện đại, cứ 100g củ cải trắng có 93,5g nước, protein 0,06g, chất béo 0,1g, đường tổng số 5,3g chủ yếu là các loại đường dễ hấp thụ (glucose, fructose); những chất khoáng cần cho cơ thể như canxi, photpho, sắt...;các vitamin nhóm B và nhiều loại axit amin. Theo Y học cổ truyền, củ cải trắng tươi sống có vị cay, tính mát có tác dụng lợi tiểu, long đờm, tiêu viêm, chữa khản tiếng. Củ cải nấu chín vị ngọt, tính bình, quy kinh phế và vị.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Đơn thuốc có sử dụng củ cải trắng:

Chữa ho nhiều đờm: Củ cải trắng 1kg, lê 1kg, gừng tươi 250g, sữa, mật ong mỗi vị 250g. Lê gọt vỏ bỏ hạt, củ cải, gừng tươi rửa sạch thái nhỏ. Cho từng thứ vào vải xô vắt nước để riêng. Đổ nước củ cải, lê đun to lửa cho sôi, bớt lửa cho đến khi đặc dính thì cho nước gừng, sữa, mật ong vào quấy đều đun sôi lại. Khi nguội cho vào lọ đậy kín dùng dần, mỗi lần một thìa canh pha vào nước nóng để uống. Uống ngày hai lần.

Chữa lở loét trong miệng: Lấy 3-5 củ cải trắng, giã lấy nước để ngậm. Mỗi lần ngậm 5-10 phút, ngậm 5-7 lần trong ngày, làm trong 2-3 ngày.

Trị khản tiếng: Lấy 3 củ cải trắng và 1 nhánh gừng tươi, rửa sạch, giã nhỏ gạn lấy nước để uống, uống trong 2 ngày.      

Theo suckhoedoisong
Với những giá trị khác nhau về dinh dưỡng, 6 loại nước dưới đây sẽ giúp bạn bổ sung các dưỡng chất cần thiết và tăng cường sức khỏe nếu sử dụng đều đặn và hợp lý hàng ngày.

Rượu vang đỏ

Trên vỏ quả nho đỏ có một chất gọi là "nghịch chuyển thuần". Chất này có tác dụng chống lão hóa, người hay uống rượu vang đỏ thì ít mắc bệnh tim mạch.

Trường hợp không uống được rượu vang đỏ thì có thể ăn nho đỏ cả vỏ (khi đã rửa sạch) cũng có tác dụng như uống rượu vang đỏ.

Nước trà xanh

Trong nước trà xanh có 3 chất có thể phòng chống được ung thư. Nếu mỗi người uống 4 chén trà xanh mỗi ngày thì không chỉ giảm sự phân chia của tế bào ung thư mà dù có phân chia thì cũng muộn lại 9 năm trở lên.

Thứ hai là chất fluor có trong trà chẳng những làm bền vững mà còn chữa được sâu răng, diệt được vi khuẩn. Thứ ba là chất "trà cam ninh" có khả năng nâng cao độ bền huyết quản, khiến huyết quản khó vỡ, có thể dự phòng được xuất huyết trong tai biến mạch máu não.

Sữa đậu nành

Trong đậu nành có ít nhất 5 loại chất chống ung thư, đặc biệt là chất "di hoàng đồng", chất này có thể phòng và chữa ung thư tuyến vú, ung thư trực tràng, kết tràng. Sữa đậu nành giàu chất dinh dưỡng có lợi cho sức khoẻ.

Canh xương

Trong canh xương có một chất "uyển giao - một chất keo". Chất này có tác dụng tăng cường sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ.

Canh nấm

Có tác dụng nâng cao chức năng của hệ miễn dịch. Qua thực nghiệm những người uống canh nấm thường xuyên ít bị cảm hơn những người không uống.

Sữa chua

Ngoài chất dinh dưỡng, sữa chua còn có tác dụng duy trì sự cân bằng vi khuẩn có nghĩa là vi khuẩn có lợi thì được duy trì và phát triển, vi khuẩn có hại thì bị tiêu diệt, cho nên uống sữa chua có thể ít mắc bệnh.

Theo Bee (tienphong online)
Hiện nay có hai cách chữa bệnh bằng đông y và tây y. Tây y thì chiết suất từ vật chất vô cơ hoặc hữu cơ để có những loại thuốc trị liệu.

Với đông y cũng dùng vật chất vô cơ và hữu cơ để trị liệu, nhưng cách làm lại không như tây y. Phương pháp chữa trị hiện nay được người bệnh cũng như người khỏe mạnh thích áp dụng nhất là phương pháp chữa trị thông qua ăn uống. Nhiều bác sĩ tây y thấy được cái lợi của phương pháp chữa trị đông y đã không ngừng nghiên cứu nắm bắt, vận dụng cách chữa trị bệnh không dùng kháng sinh, sức khỏe người bệnh tuy chậm bình phục nhưng an toàn, không gây phản ứng phụ, và sau khi chữa trị xong thì khoẻ mạnh, sắc mặt da dẻ hồng hào.

Với tư duy trên, tôi xin giới thiệu để các cụ cao tuổi biết thêm về một thứ nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh rẻ tiền mà hiệu quả: con chạch đồng.

Con chạch đồng, trong đông y coi là động vật mang tính ôn. Thường thì bà con chúng ta chỉ đem bán chợ làm món ăn bổ dưỡng chứ không mấy ai biết dùng nó làm vị thuốc chữa được nhiều bệnh.

http://www.nguoicaotuoi.org.vn/Uploaded/baonguoicaotuoi/Nam%202009/Suc%20Khoe/sk78.jpg

Cơ thể con người ta, quan trọng nhất là thận, thận được đông y gọi là gốc của cuộc sống con người. Thận tốt thì tì vị tốt, gan lách mật tốt, tim phổi tốt và não tốt... Bệnh thận thường có hai triệu chứng bệnh mà đông y gọi là “thận hư” và “thận hỏa”, hư và hỏa đều không có lợi gì cho sức khỏe. Hai trạng thái trái ngược đó, con chạch đồng giúp cho các cụ chữa trị bệnh tật.

Triệu chứng thận hư, bởi “thận ít được bồi bổ sức khỏe”, dinh dưỡng trong máu không cung ấp đầy đủ cho các bộ phận của thân có sức làm việc. Triệu chứng thận hỏa là vì “thận được cho ăn quá lắm” nhưng lại làm việc quá nhiều. Hai trường hợp này đều có hại.

Bởi thận hư nên không đủ sức khỏe hoạt động. Mọi người, nhất là người cao tuổi, thận hư dẫn đến nhiều triệu chứng ốm yếu, như da dẻ xanh xao, người gầy ốm, mặt hốc hác, bàn tay lạnh, tái nhợt, hơi thở yếu, hay choáng váng đầu vì não thiếu máu tim bơm lên cấp. Thận hư thì dạ dày và ruột hoạt động kém. Từ thận hư mà dẫn đến vô vàn bệnh tật, đặc biệt là người già.

Muốn làm cho thận không hư, các cụ hãy làm theo cách sau:

Mua ba bốn con chạch đồng bán ở chợ, nên mua loại màu vàng lươn. Mua về, chặt bỏ đầu, moi sạch bụng, rửa thật kĩ rồi cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn, mỗi ngày một con (không có máy xay thì dùng dao băm. Không dùng thớt cũ bẩn). Băm xong ăn sống luôn. Nếu ngại thì cuộn cho vào bánh cuốn mà ăn. Con chạch đồng không tanh, thịt nó thơm ngọt nên ai cũng có thể ăn sống được.

Sau khi ăn chạch, các cụ ăn cơm bình thường, nhưng nhớ không ăn thực phẩm mang tính hàn chế biến thành món ăn. Ví dụ như dưa hấu, chuối tiêu, mướp đắng, tôm sông, cua bể, ốc hến, sò trùng trục... Chỉ nên ăn thịt lợn, bò, dê, gà, trứng gà vịt cút, táo, hành tây, tỏi, rau muống, rau cải bắp, khoai tây... những thực phẩm mang tính ôn, bình.

Ngoài ra, vào buổi tối mỗi ngày, các cụ dùng nước nóng ngâm chân. Nước đun sôi, cho lá ngải cứu vào chậu rồi đổ nước sôi vào ngâm, thời gian 20-30 phút. Nước ngâm nguội thì bổ sung thêm cho nóng. Nước ngâm nên để quá mắt cá chân. Ngâm chân để làm cho ấm thận, máu tuần hoàn tốt, đặc biệt người thiếu máu thì làm cho máu ấm nóng lên, nhiệt năng nhiều, người khoan khoái. Ngâm đến thấy mồ hôi ra thì dừng. Làm đều trong thời gian dài vài ba tuần

Theo Bác sĩ Xuân Lệ
(Biên dịch từ tài liệu nước ngoài) (báo nguoicaotuoi)
Sẽ không công bằng nếu chỉ nói đến những lợi ích của cà phê...

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

1. Tăng huyết áp

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Ý, hoạt chất cafein có trong cà phê không chỉ có tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, mà còn kích thích nhịp đập của tim, làm tăng huyết áp. Vì thế, không nên uống cà phê thường xuyên, nhất là những người có tiền sử bệnh cao huyết áp.

2. Mất ngủ

Khi uống cà phê vào buổi tối, hoạt chất cafein sẽ tác động vào hệ thần kinh trung ương, gây hưng phấn - nguyên nhân chính dẫn đến chứng khó ngủ, mất ngủ. Ngoài ra, cafein còn có tác dụng lợi tiểu, vì vậy, cần tránh uống cà phê vào ban đêm để không bị mất ngủ

3. Làm răng ố vàng

Nếu để ý sẽ thấy, những người hay uống cà phê thường có hàm răng kém trắng. Nguyên nhân là do các chất dầu cacao, hidrat cacbon có trong cà phê tạo ra các mảng bám khiến răng bị vàng.

4. Tăng cholesterol

Chất cafestol có trong cà phê khiến lượng cholesterol trong máu tăng lên. Cafestol có nhiều nhất trong các loại cà phê dạng "french press" (cà phê kiểu Pháp). Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Hà Lan, nếu uống 5 tách cà phê Pháp mỗi ngày thì sau 4 tuần lượng cholesterol trong máu sẽ tăng từ 6-8%.

5. Tăng sự phụ thuộc

Thường xuyên uống cà phê sẽ khiến cơ thể hình thành thói quen khó bỏ. Cafein trong cà phê không gây nghiện trầm trọng, nhưng chữa nghiện cà phê cũng sẽ phải trải qua giai đoạn khó chịu với những lo âu, trầm cảm, tệ hơn có thể gây nhức đầu, mất ngủ, nôn mửa, run chân tay...

6. Gây hại cho dạ dày và ảnh hưởng đến thai nhi

Cafein có tác dụng kích thích tiết acid dịch vị, vì vậy, nếu uống cà phê lúc đói sẽ có hại cho niêm mạc dạ dày. Một số người chỉ uống cà phê vào buổi sáng mà không dùng điểm tâm, rất có hại cho sức khỏe. Dùng lâu dài, cafein còn gây táo bón và phụ nữ có thai có thể sinh con nhẹ cân, thậm chí sảy thai.


Cao Hà

Theo smi.marketgid
Thông thường “chiến binh” sẽ xuất quân sau khi ông chủ đã vào cuộc được 10 - 15 phút. Thế nhưng tùy thuộc vào tinh thần, trạng thái, sức khỏe của ông chủ nên có “chiến binh” thì xuất quân quá nhanh, có “chiến binh” lại mãi mới rút quân đi được. Việc xuất tinh nhanh quá hay chậm quá trong thời gian dài đều khiến các ông chủ rơi vào trạng thái chán nản. Chậm xuất tinh có thể do nguyên nhân sinh lý hay do bệnh lý. Xin giới những món ăn bài thuốc giúp bạn khắc phục hiện tượng “chiến binh” lề mề xuất quân (chậm xuất tinh)

Kê nhục tam tơ: Giá đậu xanh, phật thủ 50g, thịt gà nạc 100g, gia vị, hành đủ dùng. Giá đậu rửa sạch, phật thủ rửa sạch, thái miếng mỏng. Thịt gà rửa sạch thái mỏng. Cho chảo lên bếp, đổ dầu, phi thơm hành, cho thịt gà vào xào chín tới, rồi đổ giá và phật thủ vào xào trong 5 phút, nêm gia vị vào là dùng được. Cách ngày ăn một lần, ăn trong vòng 30 ngày. Món ăn có tác dụng giải độc, lợi tiểu, bổ khí huyết, có chứa các vitamin, protid... thích hợp với những người dương vật cứng, xuất tinh chậm, hay bị hồi hộp, bồn chồn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Trứng chim bồ câu nấu với ngọc trúc, mộc nhĩ trắng: Mộc nhĩ trắng khô 15g, ngọc trúc 10g, trứng chim bồ câu 10 quả, dầu ăn, rượu, nước luộc gà, gừng, gia vị đủ dùng. Mộc nhĩ rửa sạch, thái nhỏ đun với nước luộc gà tới khi chín mềm thì vớt ra bát. Trứng chim bồ câu đập vào bát đem hấp chín. Ngọc trúc rửa sạch đun với nước luộc gà tới chín. Cho tất cả vào nước luộc gà, đun sôi, nêm gia vị là dùng được. Ăn cách nhật, liệu trình 30 ngày. Món ăn có tác dụng tư âm giáng hỏa, bổ thận tráng dương, ích khí hòa huyết, có chứa nhiều protid, các vitamin và nguyên tố vi lượng, có khả năng nâng cao chức năng miễn dịch và chuyển hóa năng lượng cơ thể. Những người có tình dục mạnh mẽ nhưng bị xuất tinh rối loạn, dễ cáu gắt, hay bị chóng mặt, ù tai, miệng khô dùng rất thích hợp.

Theo BS. Nguyễn Nghiêm Huệ (suckhoedoisong)
Người cao tuổi là đối tượng cần được chăm sóc đặc biệt về dinh dưỡng vì cơ thể người cao tuổi thường đã bị lão hóa. Chức năng của các cơ quan, bộ phận đều bị suy giảm và thường hay mắc các bệnh mạn tính. Vì vậy, chế độ ăn và cách ăn uống sao cho phù hợp với người cao tuổi là hết sức quan trọng.

Xây dựng thực đơn trong bữa ăn cho hợp lý

Bữa ăn của người cao tuổi cũng như bữa ăn gia đình, nên có đầy đủ các món như sau:

Món ăn cung cấp năng lượng: Chủ yếu là chất bột, món chính là cơm. Cơm trắng hoặc cơm trộn ngô, trộn đậu xanh, đậu đen, trộn khoai có vùng còn trộn cám. Cơm cám rất bổ, rất ngon và rất béo. Ngoài cơm, có thể ăn bánh mì  (ở thành phố), ăn ngô, mèn mén ở các vùng đồng bào thiểu số chuyên trồng ngô hoặc ăn khoai, đặc biệt là khoai sọ chấm muối vừng, rất phù hợp với người nhiều tuổi.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Món ăn chủ lực hỗn hợp giàu đạm béo chủ yếu cung cấp chất đạm và chất béo: Bao gồm thịt các loại, cá và thủy sản, đậu phụ và đậu các loại. Các món ăn này có thể làm riêng từng loại như thịt kho, thịt gà luộc, cá rán, trứng tráng, đậu phụ kho, rán, đậu phụ nhồi thịt, trứng đúc thịt hoặc chế biến sẵn ăn dần như tương, muối vừng, lạc.

Các loại rau củ quả:  Cung cấp vitamin, chất khoáng, chất xơ cho cơ thể.

Món canh: Cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung cho cơ thể, bao gồm nước rau, canh suông, canh rau muống tương gừng đến canh cá, canh giò, canh thịt.

Đồ uống: Nhớ là ăn cần đi đôi với uống. Đối với người cao tuổi, hạn chế dùng rượu. Chỉ cần nước trắng, nước chè và có món canh trong bữa ăn.

Tóm lại, trong bữa ăn, ngoài cơm ra, cần chú ý món chủ lực giàu đạm béo, món rau, món canh và nước uống. Nếu có điều kiện, thêm món quả chín tráng miệng. Chú ý đảm bảo vệ sinh trong quá trình nấu nướng.

Những điều cần chú ý khi ăn

Tránh ăn quá no, đặc biệt khi có bệnh ở hệ tim mạch, không ăn quá mức bình thường, và vui quá chén.

Làm thức ăn mềm: Cần quan tâm đến tình hình răng miệng và sức nhai, nuốt của người cao tuổi khi chế biến thức ăn vì tuyến nước bọt và hàm răng của người cao tuổi hoạt động kém, vấn đề nuốt thức ăn có khó khăn.

Ngoài ra, người trong gia đình phải quan tâm và thường xuyên kiểm tra việc ăn uống của người cao tuổi. Nhiều người già trí nhớ suy giảm ăn rồi lại quên, nói là chưa ăn. Một số người ăn nhưng không thấy cảm giác no, nên ăn quá mức, ăn thừa. Một số người lại không thấy cảm giác khát, nên cơ thể bị thiếu nước. Nên vận động người cao tuổi rèn luyện thể lực đều đặn. Hình thức tập luyện tốt nhất là đi bộ.

(Theo tài liệu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia)
Giấm không chỉ là phụ liệu đắc dụng trong quy trình chế biến thức ăn mà còn có tác dụng trong việc hỗ trợ phục hồi sức khoẻ nếu được sử dụng hợp lý.

Theo Đông y, giấm có tính ấm, vị đắng chua. Đi vào kinh can, vị, có công hiệu tán ứ, tiêu thũng, giải độc sát trùng...

Theo y học hiện đại, thành phần chính của giấm là axít acétic, có tác dụng ức chế, diệt khuẩn, làm các vi khuẩn như Streptococcus, Diplococcus pneumoniae, Staphylococcus... không thể tồn tại và gây hại. Giấm kết hợp với trứng và các vị thuốc khác có thể tạo ra thức uống hoặc những bài thuốc có lợi cho sức khỏe.

Làm thức uống

Giấm gạo 180ml, trứng gà tươi 1 quả. Ngâm trứng (nguyên vỏ đã rửa sạch) trong giấm 2 ngày đêm, sau khi vỏ trứng hòa tan hoàn toàn, dùng đũa đâm thủng màng trứng còn lại và gắp ra, khuấy thật đều lòng trắng và lòng đỏ trứng sẽ được dung dịch trứng giấm nguyên chất, bảo quản trong tủ lạnh để dùng dần. Khi dùng, múc 2 muỗng trứng giấm, thêm 1 muỗng mật ong, dùng lượng nước đun sôi để nguội gấp 7- 8 lần pha loãng rồi uống, ngày 1 – 2 lần, sau bữa ăn 20 – 30 phút. Thức uống này giúp bồi bổ thể trạng, trợ giúp tiêu hoá, cải thiện chứng loãng xương và thiếu canxi.

Món ăm bài thuốc

Trị bệnh tiểu đường: Trứng gà 1 quả, giấm 150ml. Trộn đều, ngâm ủ trong 36 giờ. Sau đó thêm 250ml giấm trộn đều lại, dùng dần, mỗi ngày uống 15ml.

Ho lâu kéo dài: Giấm 60ml, trứng gà 1 quả, chế biến thành dung dịch trứng giấm dùng trong vòng 1 tháng.

Tiêu chảy: Trứng gà 2 quả, giấm 100ml. Dùng nồi bằng sành, sứ hay thủy tinh, hoà tan trứng và giấm, nấu lửa liu riu rồi uống.

Cao huyết áp: Giấm 60ml, trứng gà 1 quả trộn đều hoà tan. Nấu lửa liu riu để nguội, uống liền 1 tuần vào lúc sáng sớm khi đói.

Sốt rét: Trứng gà 3 quả, giấm 100ml. Khuấy đều rồi cho vào nồi đất nấu sôi, uống ấm. Lưu ý: Sau khi dùng sẽ rét trước nóng sau, vã mồ hôi và sau khi hết sốt sẽ có hiện tượng đau đầu, nôn..., đó là biểu hiện cơ thể đang giải độc.

Đau thắt ngực thể khí trệ huyết ứ: Trứng gà 1 quả, giấm 60ml, đường đen vừa đủ. Trộn đều hỗn hợp, dùng mỗi ngày 1 – 2 lần trong khoảng 3 – 7 ngày.

Kiết lỵ dạng nước: Trứng gà 3 quả, bột mì 150g, giấm 30ml. Đập trứng gà vào bột mì nhào thành khối, cắt lát nhỏ, dùng giấm rang chín. Uống ngày 2 lần cho đến khi lành bệnh.

Viêm gan, vàng da: Trứng gà cả vỏ sau khi đốt thành than tán nhuyễn, hoà với giấm, dùng 1 muỗng canh/ngày.

Vai lưng mỏi đau: Chuối 1 quả, cà rốt 150g, táo tây 200g, trứng gà 1 quả, sữa bò 100ml, giấm 100ml, mật ong vừa đủ. Chuối lột vỏ cắt làm đôi, cà rốt và táo tây thái hạt lựu rồi cho vào máy xay, thêm lòng đỏ trứng, sữa bò, giấm, mật ong... chế biến thành sinh tố, uống.

Viêm phế quản mạn tính: Dầu mè 30ml, giấm vừa đủ, trứng gà 2 quả. Đập trứng vào dầu mè đang nóng, thêm giấm, nấu chín rồi ăn nóng, kiêng rượu bia, thuốc lá.

Theo Phương Đình Nguyễn (kinhtenongthon)
Từ lâu đời, trứng vịt lộn (TVL) đã được coi là món ngon, thuốc bổ quý. Để tạo nên công dụng này phải có gia vị là rau răm và gừng tươi thái chỉ ăn với trứng vịt lộn nóng.  

Giá trị dinh dưỡng của TVL

Ở nước ta có nhiều loại vịt nhưng hai loại vịt thường nuôi để lấy trứng là: vịt cỏ và vịt chạy Ấn Độ. Trứng vịt cỏ nhỏ, mỗi quả khoảng 60-65g. Vịt chạy Ấn Độ trứng lớn hơn, mỗi quả khoảng 70-80g. Trong quá trình phát triển từ trứng vịt thành trứng vịt lộn (bào thai vịt), một số chất bị tiêu hao biến đổi thành nhiều chất cần thiết cho sự tăng trưởng của bào thai vịt tạo nên giá trị bổ dưỡng của TVL.

Rau răm

Theo Đông y: rau răm còn có tên là thủy liễu, lão liễu. Rau răm mùi thơm, tính ấm, có tác dụng tán hàn, tiêu thực, sáng mắt, sát trùng. Ăn vừa phải rau răm sống thì ấm bụng, mạnh chân, gối, sáng mắt. Ăn nhiều sinh nóng rét, giảm tính khí, giảm tình dục. Phụ nữ hành kinh ăn nhiều rau răm sống dễ sinh rong huyết. Dùng ngoài rau răm có tác dụng chữa hắc lào (giã đắp hoặc ngâm rượu đặc để bôi). Chữa rắn cắn: thêm với 1 số vị thuốc khác cùng với rau răm tươi, giã nát lấy nước uống, còn bã đắp vào chỗ bị cắn.

Món ăn ngon - bài thuốc bổ

Tên món ăn - bài thuốc thường gọi đơn giản là “trứng vịt lộn”, bao gồm TVL 1-2 quả mới luộc còn nóng và gia vị: 5g gừng tươi thái chỉ, 5g rau răm tươi cắt nhỏ và chút muối rang tán nhỏ, thường ăn vào bữa điểm tâm buổi sáng.

Công năng, tĩnh vị bài thuốc “trứng vịt lộn”: TVL là chư vị, có tác dụng: tu âm, dưỡng huyết, ích trí, sáng mắt, giúp cơ thể mau tăng trưởng. Rau răm là hỗ trợ có tác dụng sáng mắt, mạnh chân gối, ấm bụng. Gừng tươi là bổ sung, có tác dụng kích thích tiêu hóa, mạnh tim, giải độc thức ăn, chống suy giảm tình dục (cả nam và nữ).

Món ăn bổ sung: TVL có lượng sinh tố A (retinol) và tiền sinh tố A (beta caroten) khá cao - các chất này phải có đủ lượng dầu cần thiết để hòa tan, cơ thể mới hấp thu được trọn vẹn. Dầu thực vật có tác dụng tốt với cơ thể người là các loại dầu vừng, lạc, đậu nành (chứa nhiều acid béo không no và omega-3). Do vậy, món ăn bổ sung kèm với TVL tốt nhất là 1 đĩa lạc luộc (hoặc lạc rang) hoặc đơn giản hơn là uống 1 thìa canh dầu đậu nành (hoặc dầu lạc, dầu vừng, dầu oliu).


Liều lượng: trẻ em 5-12 tuổi dùng 1 quả TVL/ngày.

Trẻ em trên 12 tuổi - người lớn dùng 1-2 quả TVL/ngày.

Nên ăn vào buổi sáng sớm có kèm món ăn bổ sung.


Liệu trình: tối thiểu 15 ngày - đối với trẻ còi cọc, ăn thường xuyên mỗi ngày 1 lần cho đến 16 tuổi (90% số trẻ bồi dưỡng bằng TVL nhiều ngày, có cải thiện chiều cao và thể lực hơn hẳn dùng thuốc bổ khác). Người lớn ốm yếu nên dùng khoảng 60-90 ngày. Trong thời gian bồi dưỡng bằng TVL, cần kết hợp ăn uống đủ chất (nhất là rau, quả tươi sạch) làm việc, học tập đều có tiến bộ. Bỏ hẳn thuốc lá, thuốc lào, hạn chế bia rượu. Thường xuyên tập luyện thể dục vừa sức.


Thận trọng: trong thời gian bồi dưỡng bằng TVL cần hạn chế ăn các loại gan (gà, vịt, lợn, bò...) hoặc uống thuốc có sinh tố A hàm lượng trên 1.000UI – Vì trong 100g trứng vịt lộn đã có 3.914UI sinh tố A, chưa kể tiền sinh tố A.


Theo Sức khỏe & Đời sống
Bà con mình truyền miệng “ăn gạo lứt chữa được nhiều bệnh, trong đó có cả ung thư, bệnh khớp và gần như bá bệnh”. Thực hư thế nào và có nên ăn gạo lứt để phòng và chữa bệnh?

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

So với gạo chà trắng, gạo lứt cung cấp chất xơ gấp 3,5 lần trong khi mối liên quan giữa việc ăn ít chất xơ với ung thư đại tràng đã được các nhà khoa học ở Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ khẳng định.

Những khám phá mới về gạo lứt

Đừng coi gạo lứt là “tiên dược”, hãy coi nó như một trong những biện pháp hỗ trợ mà thôi

Gạo lứt chứa vitamin nhóm B quan trọng trong chuyển hóa vật chất. Cụ thể nó chứa vitamin B6, B1, B2, B3 và chứa cả axit folic. Trong cám gạo có một loại dầu thường gọi là dầu cám gạo. Dầu cám chứa tocotrienol fator (TRF) có tác dụng trừ khử những yếu tố gây huyết khối trong lòng mạch (chống đột quỵ, nhồi máu cơ tim).

Bác sĩ Asaf Qureshi thuộc Viện Wisconsin, Hoa Kỳ đã báo cáo: khi thử nghiệm TRF trên những người có cholesterol máu cao thì cholesterol giảm 12-16%. Trong chất dầu cám còn chứa vitamin E được xác nhận là có khả năng chống lão hóa tế bào nhờ tác dụng “bẫy” gốc tự do của nó. Ngoài ra dầu cám còn chứa selen vừa chống lão hóa vừa chống lại sự hủy hoại, biến dị tế bào nên có khả năng chống ung thư. Glutathion trong cám có tác dụng chống bụi phóng xạ.

Khi ăn gạo lứt, phức hợp carbohydrate sẽ tiêu hóa và biến thành đường chậm nên không làm tăng đường huyết đột ngột sau bữa ăn như gạo chà sạch cám. Vì thế người bị tiểu đường nên ăn gạo lứt. Trong gạo lứt còn có những chất khoáng như canxi, manhê, mangan, kẽm, kali, natri cùng những acid amin cần thiết như axit pantotenic giúp tăng cường hoạt động của các tế bào thần kinh...

Theo GS Hiroshi Kayahara (ĐH Shinshu, Nagano, Nhật), khi ngâm gạo lứt trong nước sạch 22 giờ thì các chất bổ dưỡng sẽ tăng lên rõ rệt, lúc này gạo lứt ở trạng thái nảy mầm (trong khi gạo đã chà vỏ cám không có) và mầm gạo lứt chứa nhiều chất xơ, vitamin và chất khoáng hơn gạo lứt chưa ngâm nước. Gạo lứt nảy mầm có lượng lysine (chất giúp tăng trưởng chiều cao) gấp ba lần và chứa gama-aminobutyric (chất chống độc cho thận) gấp 10 lần. Từ năm 2000 trở lại đây khoa y học cổ truyền của Nhật và khoa y học phương Đông của Mỹ đều khuyến khích bệnh nhân ăn gạo lứt nảy mầm.

Tại sao lại ăn cơm gạo lứt muối mè?

Bởi phần lớn người bệnh mãn tính hay bệnh hiểm nghèo cơ thể đều ở trạng thái quá âm nên phải ăn thực phẩm dương. Gạo lứt tính bình, mè đen tính bình, rang lên sẽ thuộc dương, muối cũng thuộc dương, chỉ nên trộn vào mè với tỉ lệ vừa phải. Hai món này ăn chung sẽ cải thiện tình trạng âm của cơ thể.

Trong hạt mè đen có 40-55% dầu, 5-6% nước, 20-22% protein, 5% kali, 1,7mg đồng, 1% canxi oxalat, pentozan, lecithin, phytin và cholin. Lecithin của mè có tác dụng nhũ hóa cholesterol nên làm giảm cholesterol máu. Dầu mè chứa nhiều axit béo chưa no có lợi cho tim mạch. Mè còn chứa selen, vitamin E, axit folic và vitamin nhóm B. Mangan trong mè ngoài việc tham gia quá trình tái tạo sụn còn “có chân” trong cấu trúc của super oxyd dimustase (SOD) - một enzyme quan trọng trong quá trình oxy hóa... Tuy nhiên những người bị loét dạ dày, tá tràng không nên ăn vì chất xơ trong gạo lứt nhiều, nếu không nhai kỹ sẽ làm tăng nhu động ruột khiến bạn rơi vào cảnh “đi nhanh về chậm” thì lại phản tác dụng.

Nếu chỉ ăn gạo lứt muối mè có ổn?

Bạn vẫn phải đa dạng hóa thực phẩm, nên ăn các loại rau củ để tăng cường vitamin. Quan niệm xưa là ăn uống phải đủ ngũ chất: tinh bột, đạm, béo, chất khoáng, nước; ăn đủ ngũ vị: chua, cay, mặn, ngọt, đắng; ăn đủ ngũ sắc: trắng, xanh, vàng, đỏ, đen. Vì thế dù ăn gạo lứt muối mè bạn vẫn nên ăn thêm rau các loại, uống nước trái cây, ăn đậu hũ, uống sữa đậu nành hay sữa chua mới đảm bảo quân bình âm dương giúp cơ thể khỏe mạnh. Với những người có bệnh, nếu định chuyển sang ăn gạo lứt muối mè nên hỏi ý kiến bác sĩ điều trị cụ thể.

Uống trà gạo lứt, tốt “bộ đồ lòng”

Các nhà khoa học Nhật Bản còn khuyến cáo nên uống trà gạo lứt. Gạo lứt sạch mua về, không vo mà bỏ vào chảo rang nhỏ lửa cho đến khi vàng sậm. Bạn lấy một muỗng canh nấu với 1 lít nước, đun sôi để lửa riu riu trong chừng năm phút là có món trà thơm ngon. Những người bị bệnh mãn tính, đặc biệt là bộ đồ lòng hay bị bác Tào Tháo viếng thăm, phụ nữ mãn kinh bị lạnh chân, khó ngủ đều có thể dùng loại nước uống này. Tuy nhiên những người bị nóng, nổi mụn thì không nên dùng.

THeo TS.BS LÊ THÚY TƯƠI (tuoitreonline)
Cây sầu riêng có tên khoa học là Duro Zibethinus Murr còn được mệnh danh là hoàng hậu của loài quả, quả nhiệt tình. Đó là đặc sản của vùng Đông Nam Á.

Cây sầu riêng có nhiều hấp dẫn ngoài mùi vị đặc trưng, còn do quả có nhiều gai nhọn nhưng rất may lại chỉ rụng về đêm vắng người qua lại. Đã có những người thức suốt đêm để nghe tiếng sầu riêng rời cành và thưởng thức hương thơm tỏa ra không trung ngào ngạt. Ở Thái Lan có những vườn sầu riêng dành cho khách đến thưởng thức mùi sầu riêng chín cho khoan khoái. Mùi của sầu riêng có ý kiến giải thích vì sầu riêng thường mọc trên vùng đất có nhiều lưu huỳnh (S). Đó cũng là một lý do để hấp dẫn các nhà khoa học nghiên cứu sâu các sản phẩm của cây sầu riêng mang theo nguyên tố S như thế nào? Ở Việt Nam, cố dược sĩ Trần Lâm Huyến là người rất quan tâm đến những sản vật thiên nhiên có chứa lưu huỳnh.

Hiện nay các bộ phận cây sầu riêng được dùng làm thức ăn và thuốc chữa bệnh.

Trái sầu riêng là một loại quả nhiều dinh dưỡng được dùng làm nước giải khát, mứt kẹo, bánh, nấu chè, xôi, thơm ngon, mát bổ.

Hạt sầu riêng được dùng như hạt mít, hạt điều. Ăn có tác dụng bổ tỳ, bổ thận.

Một số món ăn bài thuốc từ cây sầu riêng:

Bổ thận tráng dương: Bầu dục lợn 1 bộ, sầu riêng (sắp chín) 200g, gia vị vừa đủ. Bầu dục thái nhỏ ướp gia vị. Sầu riêng chọn quả sắp chín để thái miếng nhỏ xào với bầu dục. Ăn nóng. Ngày 1 lần. Cần ăn 5 lần, chữa người bị chứng lãnh cảm, suy yếu tình dục.

Chữa di tinh, liệt dương: Sầu riêng 50g, đường 20g (hoặc mật ong lượng thích hợp) đánh nhừ như kem - thêm khoảng 100ml nước sôi để nguội hòa đều để uống. Ngày 2 lần trong 10 ngày.

Thay hoàng kỳ: Lương y ở Tịnh độ cư sĩ thành phố Cần Thơ có khu dùng vỏ quả sầu riêng thay tác dụng của hoàng kỳ trong các bài thuốc nam trợ dương.

Thuốc bổ thận cứng gân cốt, kích thích tiêu hóa: Vỏ quả sầu riêng 15g, đậu đen sao 10g, tang ký sinh 12g, hà thủ ô chế 15g, đỗ trọng 15g, cốt toái bổ 15g, vỏ quýt 8g. Sắc uống.

Trị tiêu chảy: Vỏ quả sầu riêng 20g, vỏ quả măng cụt 20g. Sắc với 3 bát nước lấy 1 bát chia 2 lần uống. Bệnh nhẹ chỉ dùng 1 trong 2 vị.

Sốt rét, đau gan vàng da: Rễ, lá cây sầu riêng 12g, cam thảo dây 12g, chi tử (quả dành dành) 12g sắc với 3 bát nước lấy 1 bát. Uống làm 2 lần. Dùng 5 ngày.

Cảm sốt, viêm gan vàng da: Lá và rễ cây sầu riêng 30-40g, lá và rễ cây đa 20-30g sắc uống. Có thể chỉ dùng lá rễ sầu riêng sắc uống trong ngày. Lá dùng nấu nước cho bệnh nhân viêm gan vàng da, tắm rửa.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Các bệnh về gan: Rễ lá sầu riêng 10-16g sắc với 600ml nước còn 200ml chia 2 lần uống trong ngày.

Kinh nguyệt kéo dài: Vỏ sầu riêng sao 12g, rau má 12g, cỏ mực tươi 12g, ngải cứu 8g, trắc bá diệp sao 8g, cam thảo nướng 4g, củ sả 4g, hoa sen 3 cái. Sắc 3 lấy 1 rồi hòa với 4g lọ chảo gang để uống (Ly Việt Cúc).

Bổ thận tráng dương: Hạt quả sầu riêng ninh hầm với các bộ phận của dê như thịt, bầu dục, bộ phận sinh dục...

Để có sầu riêng mang tính bổ dưỡng và chữa bệnh cần chọn những quả như sau: vỏ hơi nâu vàng là quả chín cây. Quả tròn đều, cuống tươi nhỏ, lõi giữa vàng là múi trong ruột sẽ vàng ánh. Các gai phải nhọn, nở hết, bóp nhẹ 2 gai giáp nhau là quả không sượng. Trái nào phía dưới có những múi hơi nút là chín đều ăn ngon và ngọt. Để bảo đảm hơn nữa khi mua đề nghị người bán dùng dao tách múi cho xem múi phải vàng hoặc hơi ửng vàng đều cùng một màu đục, tránh chỗ đục, chỗ trong.

Theo BS. Phó Thuần Hương (suckhoedoisong)
Ăn chay có giúp điều trị bệnh đái tháo đường được không? Đây là thắc mắc của rất nhiều người. Dưới đây, ta thử phân tích về mặt khoa học.

Trước hết cần lưu ý ăn chay khác hẳn với ăn kiêng: ăn chay là ăn các thực phẩm gốc thực vật, còn ăn kiêng (fasting) là giảm ăn uống dưới mức nhu cầu, thậm chí nhịn ăn. Thức ăn chay hiện nay cũng linh hoạt, tạm chia làm bốn nhóm: chay tuyệt đối, hoàn toàn dùng thức ăn thực vật; chay có sữa; chay có sữa, trứng và chay linh hoạt hay chay tương đối, thỉnh thoảng có ăn thêm thịt, cá...

Theo nguyên lý dinh dưỡng học, bất kỳ khẩu phần ăn nào nếu đầy đủ cả bốn thành phần đạm, bột đường, béo và khoáng vitamin đều là một khẩu phần hợp lý. Do đó việc chuyển đổi từ một chế độ ăn bình thường sang chế độ ăn chay nói chung không gây xáo trộn nhiều. Hơn nữa thức ăn chay có một số ưu điểm hơn thức ăn động vật: ít chất béo có hại, nhiều axít béo có lợi, nhiều vitamin E, C, A... giúp cơ thể chống oxy hóa.

Đái tháo đường là căn bệnh rối loạn chuyển hóa chất bột đường với hậu quả là đường glucose trong máu tăng cao, đái tháo đường lại liên quan mật thiết đến bệnh thừa cân, béo phì và tăng huyết áp. Do đó có thể nói rằng ăn chay là chế độ ăn rất hợp lý, tuyệt vời cho người bệnh đái tháo đường, vì vừa dinh dưỡng vừa hỗ trợ điều trị như dạng thực phẩm chức năng.

Một công trình khoa học lớn, nghiêm túc năm 2006 ở Hoa Kỳ cho thấy đến 43% bệnh nhân đái tháo đường type 2 khi chuyển sang chế độ ăn chay tuyệt đối đều giảm lượng thuốc men điều trị và giảm cân. Nhiều bằng chứng khoa học cho thấy chế độ ăn chay thực vật nhờ có nhiều chất xơ, chất sợi cellulose, nhiều khoáng và vitamin... nên cũng có khả năng giảm các biến chứng của đái tháo đường, đặc biệt là các biến chứng tim mạch và thận.

Hai điều cần lưu ý khi ăn chay: một là thức ăn chay không phải là thuốc nên chắc chắn không thể dùng ăn chay để thay thuốc chữa bệnh. Hai là khi ăn chay, cơ thể có nguy cơ thiếu một số chất vi lượng cần thiết như vitamin B12 (có nguồn từ động vật), vitamin D và canxi (rất cần cho trẻ em đang lớn và người già, loãng xương), chất sắt và kẽm (các axit phytic, oxalic, tannic... trong thực vật sẽ cản hấp thu sắt).

Những nhược điểm này có thể khắc phục bằng cách dùng nhóm thực phẩm chay có trứng sữa, chay linh hoạt, chay bán phần hoặc bổ sung các vitamin và khoáng chất này.

TS.BS TRẦN BÁ THOẠI (Bệnh viện Đà Nẵng) - Tuoitre online
Cây hẹ có tên gọi là cửu thái, khởi dương thảo... Hẹ là loại rau không chỉ được dùng nhiều trong các món ăn mà còn là cây thuốc chữa bệnh. Bộ phận dùng và chế biến làm thuốc cả cây.

Theo nghiên cứu hiện đại, trong 1kg hẹ có 5-10g đạm, 5-30g đường, 2g vitamin A, 89g vitamin C, 2,6g canxi, 2,2g phốt pho. Đặc biệt, trong lá hẹ có rất nhiều chất xơ, có tác dụng giảm đường huyết, giảm mỡ máu, ngừa xơ mỡ động mạch, bảo vệ tuyến tụy. Còn theo Đông y, lá hẹ để tươi có tính nhiệt, nhưng khi nấu chín ăn lại có tính ôn (ấm), vị cay, đi vào các kinh can, tỳ và vị; tác dụng ôn trung, hành khí, tán độc, chữa ho cho trẻ, tiêu hóa kém, trĩ sưng đau, ra mồ hôi trộm, đi tiểu nhiều lần... Còn hạt và rễ hẹ cũng có tính ấm, vị cay ngọt, đi vào kinh can, thận, chữa đái dầm, táo bón, trị giun kim... Củ hẹ tác dụng ôn trung, kiện vị, hành khí...

Đơn thuốc có sử dụng cây hẹ

Chữa ho trẻ em: Lấy lá hẹ tươi đem cắt nhỏ, cho đường phèn vào cùng một bát, sau cho vào nồi cơm hấp chín. Cho trẻ uống dần trong ngày 2 - 3 lần.

Chữa hen suyễn (khó thở): Lá hẹ một nắm giã nát, lấy nước uống hay sắc lên để uống.

Chữa chứng táo bón: Hạt hẹ rang vàng, giã nhỏ. Mỗi lần uống 5g. Hòa nước sôi uống ngày 3 lần.

Cảm mạo, ho do lạnh: Lá hẹ 250g, gừng tươi 25g, cho thêm ít đường hấp chín, ăn cái, uống nước.

Trị chứng đái dầm ở trẻ em: Nấu cháo rễ hẹ. Rễ hẹ tươi 25g, gạo 50g, rễ hẹ vắt lấy nước cho vào cháo đang sôi, thêm ít đường, ăn nóng, dùng liên tục trong 10 ngày.

Chữa đau răng: Lấy một nắm hẹ (cả rễ) giã nhuyễn, đặt vào chỗ đau, đặt liên tục cho đến khi khỏi.

Trị giun kim: Rễ hẹ một nắm giã lấy nước cho uống.

Trĩ sưng đau: Một nắm to lá hẹ cho vào nồi đất cùng với nước, dùng lá chuối bịt kín nồi, đun đến khi sôi thì nhấc xuống, chọc một lỗ thủng trên lá chuối cho hơi bay lên để xông trĩ. Khi thấy hết hơi bay lên thì đổ hẹ ra chậu ngâm rửa hậu môn.    

Chữa ra mồ hôi trộm: Lá hẹ tươi 200g, thịt rắn 100g. Hai thứ đem cùng hấp chín, nêm gia vị vừa đủ để ăn. Cần dùng hàng ngày.

Đi tiểu nhiều lần: Lá hẹ, cây tơ hồng xanh, ngũ vị tử, phúc bồn tử, câu kỷ tử, nữ trinh tử. Mỗi vị 40g, đem phơi khô tán bột, mỗi lần uống 6g. Ngày uống 2 lần với nước ấm.

Chữa phụ nữ âm đạo tiết ra chất dịch: 100g củ hẹ giã nát, vắt lấy nước cốt, trộn đều với 1 quả trứng gà, cho chút đường vào và để bát vào nồi cơm hấp chín. Ngày ăn 1 lần, cần ăn liên tục trong 5 ngày.

Bị chín mé càng cua (nhiễm trùng sưng tấy đầu móng tay): Hẹ dùng cả củ và rễ, giã nát, xào rượu chườm, bó, băng lại chỗ bị lên càng cua. Ngày thay băng 3 - 4 lần.

Theo 24H.COM.VN (SK&ĐS)
Theo thời gian, chế độ dinh dưỡng cần phù hợp với các giai đoạn phát triển của cuộc đời con người. Để nữ giới có thể sống khỏe và tràn đầy sinh lực, hãy tìm hiểu chế độ dinh dưỡng cùng cách bổ sung các dưỡng chất theo từng độ tuổi.

Thời con gái: Canxi và sắt

Dinh dưỡng trong thời kỳ thiếu nữ có tác động quan trọng đến sức khỏe tương lai như phòng ngừa các bệnh về tim mạch, ung thư hay loãng xương. Các thiếu nữ cần khoảng 1.300 mg canxi mỗi ngày nhưng 80% số em gái hiện nay không đáp ứng đủ nhu cầu đó. Nhiều em sợ uống sữa do lo ngại tăng cân, vì thế giải pháp thay thế là khuyến khích uống sữa không béo, sữa đậu nành hay sữa chua có bổ sung canxi.

Em gái ở độ tuổi thiếu niên cũng cần ít nhất 15 mg sắt mỗi ngày, thiếu sắt có thể dẫn đến thiếu máu, gây ra tình trạng mệt mỏi, yếu ớt hay dễ nhầm lẫn. Gợi ý là sử dụng ngũ cốc, các sản phẩm từ đậu nành hay bơ lạc giúp bổ sung tốt sắt.

Độ tuổi sinh đẻ: Sắt và Folic acid

Nếu luôn cảm thấy mệt mỏi, có thể bạn không đủ chất sắt trong chế độ ăn uống. Ở độ tuổi sinh đẻ, phụ nữ cần lượng sắt nhiều hơn bởi họ mất máu cho mỗi kỳ kinh và cần cho thời kỳ mang thai. Theo thống kê, phụ nữ ở độ tuổi 19-50 cần 18 mg sắt mỗi ngày, khi mang thai thì nhu cầu tăng lên đến 27 mg/ngày. Lượng sắt này có thể bổ sung từ thịt, hải sản, các loại hạt, đậu lima, rau cải xanh, ngũ cốc…

Bên cạnh đó, Folic acid - một dạng biến đổi tự nhiên của vitamin B (hay gọi là folate) - không thể thiếu trong thời kỳ này. Phụ nữ mang thai có mức độ Folic acid thấp sẽ tăng nguy cơ khiếm khuyết ống thần kinh cho thai nhi, vì thế những ai chuẩn bị làm mẹ cần bổ sung sớm Folic acid. Thực phẩm giàu folate có các loại đậu, đậu Hà Lan, rau, hoa quả, bánh mì, ngũ cốc…

Một lưu ý đối với phụ nữ mang thai, đó là quan niệm “ăn cho cả hai” không hẳn đã đúng. Chỉ nên tăng lượng calo mỗi ngày khi bắt đầu sang tháng thứ 4, và nói chung bà mẹ nào cũng có bản năng tự đáp ứng nhu cầu năng lượng mỗi ngày bằng cách “lắng nghe” cơn đói. Và không chỉ là lượng calo, những gì người mẹ ăn lúc mang thai có thể liên quan đến sở thích ăn uống của con trong tương lai.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Thời kỳ mãn kinh: Canxi và vitamin D

Khi đến tuổi mãn kinh, chế độ ăn uống của phụ nữ cũng cần thay đổi. Nhu cầu canxi quay trở lại như thời thiếu nữ: 1.000 - 1.200 mg mỗi ngày. Nếu không cung cấp đủ lượng canxi, cơ thể sẽ huy động canxi từ xương để duy trì các hoạt động của dây thần kinh, cơ và tim. Hormone sinh trưởng nữ estrogen lúc này thiếu hụt, không còn tạo điều kiện tích tụ canxi ở xương. Bên cạnh đó, vitamin D rất quan trọng trong việc hấp thu canxi, giúp tái tạo xương, nếu không đủ rất dễ dẫn đến loãng xương.

Ngoài ra, một vấn đề sức khỏe phổ biến ở phụ nữ trên 50 tuổi là huyết áp cao và cholesterol trong máu cao. Vì thế, một chế độ dinh dưỡng hợp lý là tập trung vào rau, quả, sữa có hàm lượng chất béo thấp, kiểm soát cân nặng. Để bổ sung canxi hay vitamin D cần tăng cường sữa, sữa chua, cá, ngũ cốc, nước hoa quả…

Dinh dưỡng cho người già

Thực tế thì người già có nhu cầu dinh dưỡng như người trưởng thành nhưng họ gặp khó khăn về răng lợi cùng các điều kiện sức khỏe nên ăn uống không được ngon miệng. Lời khuyên của các chuyên gia là các cụ già nên ăn thành nhiều bữa nhỏ, thức ăn ở dạng dễ nuốt nhưng nên có đầy đủ các nhóm thực phẩm trong các món yêu thích.  Lưu ý, vitamin D là loại vitamin bắt buộc phải có ở người trên 70 tuổi và nên bổ sung B12 ngay từ độ tuổi trên 50 vì những người già có xu hướng không thể hấp thu B12 qua đường ăn uống tự nhiên.

24H.COM.VN (Theo ANTĐ)
CMD - Thuốc quí bổ dưỡng 72 vitamin và nguyên tố vi lượng

CMD là gì ?
Hàng nghìn năm trước ,người da đỏ sống ở vùng hồ nước mặn thuộc đại lục bắc mỹ đã phát hiện ra rằng :mọi thổ dân sống quanh vùng hồ rất khoẻ mạnh cường tráng .Khi bị  
bệnh hoặc bị thương họ thường lấy nước hồ để trị bệnh chữa vết thương .Kết quả bệnh tật bị đẩy lùi và vết thương phục hồi rất nhanh . Điều bí ẩn này đã đươc nhã bác học Andeson nghiên cứu suốt 20 năm . Đến năm 1986 mọi bí mật của phương thuốc bí truyền đã được khám phá .Công ty MRI ở tiểu bang UTAN mỹ đã dùng nguồn nước từ hồ này triết xuất ra sản phẩm CMD –dung dịch bổ xung khoáng chất cô đặc
-CMD là loại dung dịch giàu năng lượng ,giàu koáng chất và nguyên tố vi lượng .Bổ xung thành phần thiết yếu giúp cân bằng khoáng chất và năng lượng cho cơ thể
-CMD chứa 72 khoáng chất và nguyên tố vi lượng mà cơ thể cần . Đây là sản phẩm đầy đủ dưỡng chất nhất hiên nay
-Sản phẩm rất cô đăc và hoàn toàn tự nhiên
-Khi cơ thể thiếu khoán chất -hồng huyết cầu sẽ kết dính vào nhau thành dạng chuỗi
Gây ảnh hưởn đến sự vận chuyển các chất dnh dưỡng và làm suy yếu chức năng miễn dịch cuă cơ thể sinh ra rất nhiều chứng bệnh .Dùng CMD cơ thể được cân bbằng trở lại
Tăng khả năng trao đỏi chất và khả năng miễn dịch của cơ thể

Công dụng:
•  Thúc đẩy quá trình trao đổi chất cho cơ thể, tăng cường chức năng cho gan và thận, giúp đào thải độc tố trong gan, vô hoạt các gốc tự do, giúp giảm hấp thụ chất béo như dầu mỡ, giúp bắp thịt săn chắc, giữ cho thân hình cân đối và thon thả.
•  Tăng độ đàn hồi cho da, giúp cải thiện nếp nhăn, giúp có làn da mịn màng hơn.
•  Giảm nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp, xơvữa động mạch, đào thải chất vôi trong thận, tránh sỏi thận.
•  Giàu Vitamin khoáng chất, axid amin, cung cấp dinh dưỡng cân bằng cho cơ thể hằng ngày, giúp trẻ phát triển não bộ và người lớn tuổi tăng trí nhớ.
•  Điều hòa tiêu hóa, tăng nhu động ruột, tăng khả năng hấp thụ, đào thải các chất gây có nguy cơ gấy ung thư ở kết tràng,giảm nguy cơ đau và loét dạ dày, cải thiện tiêu hóa, táo bón, trĩ, giảm nguy cơ loãng xương, bực bội và triệu chứng tiền mãn kinh.
•  Bồi bổ cơ thể, giúp tăng cường sức khỏe, sức đề kháng của cơ thể và hỗ trợ chống táo bón.
•  Tăng cường khả năng miễn dịch, phòng ngừa các bệnh do Virus và vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể, viêm mũi, viêm xoang, ho, cảm cúm, da lở loét, nấm da.
•  Giúp giảm lão hóa, chống ôxi hóa, giảm thoái hóa khớp, viêm khớp, gãy xương, giúp liên kết khớp, xương, tái sinh các tế bào, tăng cường sinh lực, điều hòa chức năng sinh lý.
•  Giúp tăng cường sức khỏe,  tăng sức đề kháng cho cơ thể; hỗ trợ tiêu hóa.
•  Tăng cường hệ miễn dịch và ngăn chặn sự phát triển mầm tế bào ung thư
•  Cách sử dụng : Ngày uống 02 lần vào sáng ,và tối mỗi lần pha 01 giọt MCD vào cốc nước 250 ml  
Thích hợp cho những người:
Người mắc bệnh về khớp
Người mới ốm dậy cần phục hồi sức khoẻ nhanh
•Người hay bị đau nhức mỏi và sưng chân
•Người hay bị đau đầu, mất ngủ, chóng mặt
•Người có vấn đề về huyết áp
•Người đau dây thần kinh
•Người mắc bệnh thận, đau lưng
•Người mắc bệnh Gout
Sản xuất bởi: The Origin Foods Sdn. Bhd, Malaysia
TCCS: TC 04/2009/AION
CNTC: 841/2009/YT-CNTC
                                                         Tư vân và phân phôi san phâm
                             Bệnh viên đa khoa Sông Thương -  Cửa hàng dược
                                       Thac sy Thienquang:  ĐT :0972690610 - 01692316511                                    
                              Công ty phú hải phân phối DT :02403856218  -  Fax :02403856218
                                          http://quangcaosanpham.com/shop/thuocqui
                                                      Web: http://thuocchuabenh.net

Phụ nữ khi đang trong "giấc nồng" mơ thấy quan hệ tình dục với nam giới, y học cổ truyền gọi là mộng giao hay bạch dâm. Khi đó từ trong âm đạo chảy ra một chất dịch màu trắng hoặc vàng, hiện tượng này ứng với chứng "mộng tinh" ở nam giới... Mộng giao là một bệnh lý thường gặp ở phụ nữ. Bệnh này cần phải chữa trị để khỏi ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần nhất là đối với phụ nữ có thai, chứng mộng giao dễ dẫn đến đẻ non.

Chứng mộng giao do nhiều nguyên nhân gây ra với các thể bệnh và biểu hiện khác nhau, với mỗi thể bệnh, y học cổ truyền có bài thuốc và cách ăn uống để điều trị cụ thể.

Thể thận âm hư nội nhiệt: Mộng giao, khi tỉnh lại mỏi lưng hoặc ngũ tâm nóng bứt rứt, miệng khô, tai ù, ngủ ít, sắc lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng, mạch nhỏ.

Bài thuốc: Tri mẫu 10g, hoàng bá 10g, sinh địa 15g, trạch tả 15g, phục thần 10g, cam thảo 8g. Đổ 750ml nước sắc còn 200ml, ngày chia uống 3 lần, uống nóng. Uống 7 ngày liền.

Thể tâm can hỏa vượng: Sau khi ngủ mơ giao hợp từ âm đạo tiết ra chất đặc dính màu vàng nhạt. Người nóng sốt ruột, tính nóng dễ cáu, miệng khát họng khô, lưng đau nhừ, đại tiện phần lớn bị táo bón, tiểu tiện vàng đỏ. Sắc lưỡi đỏ, nhọn có gai hồng, rêu lưỡi mỏng vàng hoặc vàng nhầy, mạch nhỏ hoặc huyền.

Dùng bài thuốc Thanh tâm liên tử gia giảm: liên nhục 12g, mạch đông (mạch môn đông) 10g, địa cốt bì 10g, hoàng tinh 8g, đương quy 8g, xa tiền tử 10g, hoàng liên 6g, sinh địa 12g, táo nhân 15g, nữ trinh tử 12g, kim anh tử 18g, cam thảo 8g, trạch tả 12g. Đổ 750ml nước sắc còn 200ml ngày chia làm 3 lần. Uống 7 ngày liền.

Thể can đởm ẩn nóng: Thỉnh thoảng mộng giao, tỉnh lại sườn phải ngâm ngẩm đau, miệng đắng, uể oải mệt mỏi, sắc lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch hơi huyền.

Bài thuốc: Long đởm tả gia giảm: long đởm thảo 3g, chỉ xác 8g, sài hồ 10g, trạch tả 12g, xa tiền tử 10g, hoắc hương 12g, bội lan 8g, nhân trần 15g, ý dĩ 18g, cam thảo 8g. Đổ 750ml nước sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày. Uống 7 ngày liền.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Liệu pháp ẩm thực:

- Ý dĩ nhân 15g, khiếm thực 30g, hạt sen 20g, gạo tẻ 60g, hầm cháo, ngày chia lần 2, ăn nóng.

- Nữ trinh tử 15g, phục linh 30g, đại táo 6 quả, gạo tẻ 60g, hầm cháo, ngày chia 2 lần, ăn nóng.

- Khổ sâm 40g, trứng gà 2 quả, đường đỏ 60g. Sắc đặc khổ sâm lấy nước cốt, bỏ bã, cho trứng gà (bỏ vỏ đánh tan) và đường đỏ vào nấu chín. Ăn trứng uống nước mỗi ngày 1 lần, ăn liền trong 7 ngày.

- Tri mẫu 40g, hoàng bá 15g, trứng gà 2 quả, đường trắng 60g. Sắc đặc tri mẫu, hoàng bá lấy nước cốt bỏ bã, cho trứng gà (bỏ vỏ đánh tan) và đường trắng vào nấu chín. Ăn trứng uống nước, mỗi ngày 1 lần, dùng liên tục trong 7 ngày.

- Liên nhục 40g, nữ trinh tử 20g, trứng gà 2 quả, đường trắng 60g. Sắc đặc nữ trinh tử lấy nước cốt, bỏ bã, cho trứng (bỏ vỏ đánh tan) và đường trắng vào. Ăn trứng uống nước mỗi ngày một lần, dùng liên tục trong 7 ngày.

Theo Lương y Vũ Quốc Trung (Suckhoedoisong)
Lớp vỏ củ cải trắng chứa hàm lượng can xi cao hơn ruột nên nó có tác dụng chống còi xương cho trẻ em và giảm loãng xương ở người già. Lớp vỏ này còn chứa nhiều loại vitamin, khoáng chất như muối khoáng, sắt, phốt pho...

Không chỉ củ cải, rất nhiều loại củ, quả chứa trong lớp vỏ của nó một lượng vitamin đáng kể, thậm chí hàm lượng dinh dưỡng còn vượt xa lớp thịt bên trong.

Tuy nhiên, với tình trạng vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay, việc ăn cả lớp vỏ của một số loại hoa quả như táo, lê, cam, quýt hay dưa chuột chưa chắc đã có lợi, thậm chí còn gây hại vì có thể chúng chứa các chất bảo vệ thực vật, chất bảo quản... Nhưng, nếu bạn thực sự biết rõ các loại thực phẩm sử dùng là an toàn thì ngại gì không bổ sung thêm dưỡng chất từ cho mình.

Nho

Vỏ quả nho chứa nhiều chất kháng khuẩn. Những chất này không bị phá huỷ bởi dịch tiêu hoá nên có thể "chạy" khắp cơ thể và cho tác dụng tuần hoàn rất tốt. Vỏ quả nho chứa nhiều resveratrol, chất chống oxy hoá mạnh gấp 7 lần vitamin E, hơn thịt quả nho.

Táo tây

Thành phần các chất hoá học có trong vỏ táo, đặc biệt là nhóm chất phytochemical (phenolic) được chứng minh là có khả năng chống lại ít nhất ba loại tế bào ung thư ở người là ung thư vú, ung thư ruột kết và ung thư gan. Gần một phần tư lượng phenolic mà người Mỹ hấp thụ là từ táo không gọt vỏ. Ngoài ra, vỏ táo cũng là nơi tập trung nhiều hợp chất xêtôn có tác dụng giảm tới 50% nguy cơ bệnh tim mạch và có hàm lượng vitamin B, C khá cao.

Các quả họ cam quýt

Tinh dầu trên vỏ các loại quả này là thành phần đặc biệt giúp trí não hoạt động tốt, tăng cường khả năng tập trung, giảm mệt mỏi và làm đẹp. Rất nhiều phương thuốc lấy nguyên liệu từ vỏ cam quýt và chanh.

Ví dụ, để có một giấc ngủ ngon, bạn có thể dùng nước hãm từ vỏ cam quýt tươi nấu sôi trong một giờ sau đó pha vào bồn tắm để ngâm mình thư giãn. Còn nếu muốn trị chứng hạ đường huyết, nên nấu sôi hỗn hợp vỏ bưởi tươi cắt nhỏ và nước để hãm trong nửa giờ. Sau đó uống 2 - 3 lần/ngày, mỗi lần 2 chén con, 15 phút trước bữa ăn.



Một quả lê trung bình có thể cung cấp 100 calo với nguồn vitamin C dồi dào. Tác dụng giảm cân và chữa táo bón của quả lê nằm ở lượng chất xơ của nó. Một quả lê trung bình có 5g chất xơ, bằng 1/4 lượng chất xơ cơ thể cần một ngày theo tiêu chuẩn dinh dưỡng. Lượng chất xơ này có khá nhiều ở vỏ. Do đó, nếu không ngại cứng, đừng bỏ vỏ lê.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Cà rốt

Cà rốt giàu đường và các loại vitamin cũng như năng lượng. Các dạng đường thường tập trung ở lớp vỏ và thịt nạc của củ, phần lõi rất ít. Vì vậy, tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cà rốt chín là ở lớp vỏ dày của nó. Trong 100g ăn được, cà rốt có 88,5% nước, 1,5% protid, 8,8% glucid, 1,2% cellulose, 0,8% chất tro. Nhiều loại muối khoáng có trong cà rốt như kali, calci, sắt, phosphor, đồng, bor, brom, mangan, magnesium, molipden.

Trong vỏ cà rốt có nhiều vitamin C, D, E và các vitamin nhóm B. Ngoài ra, vỏ loại củ này còn chứa nhiều carotene hơn cả cà chua. Sau khi vào cơ thể, chất này sẽ chuyển hoá dần thành vitamin A.

Khoai tây

Lớp vỏ mỏng manh của khoai tây chứa rất nhiều chất xơ và các chất dinh dưỡng khác. Chính vì vậy, nếu muốn tận dụng tốt giá trị dinh dưỡng của khoai tây, tăng khả năng hỗ trợ đường ruột của chất xơ, đừng gọt bỏ lớp vỏ mỏng đó. Dịch chiết từ vỏ khoai tây có tác dụng như một loại kháng sinh giúp ngăn ngừa vi khuẩn bám vào tế bào, bước đầu tiên của quá trình nhiễm trùng.

Khoai lang

Cũng giống như khoai tây, lớp vỏ mỏng manh của khoai lang có chứa nhiều chất xơ, vitamin và khoáng chất, đồng thời có tác dụng bảo vệ các chất bên trong lớp thịt. Người Nhật cho rằng ăn khoai lang cả vỏ sẽ ngăn ngừa được ung thư đại tràng. Chỉ cần rửa thật sạch đất cát và tạp chất, đem chế biến là khoai lang đã trở thành một món ăn ngon và bổ dưỡng.

Cà chua

Sắc tố lycopen trong vỏ cà chua được biết đến như một chất màu cứng đầu khó phai. Thế nhưng, lycopen lại rất có lợi cho cơ thể, đặc biệt là hệ tim mạch. Người ta có thể tìm thấy lycopen trong nhiều loại trái cây và rau củ có màu cam hay đỏ như dưa hấu, đu đủ, gấc nhưng nhiều nhất vẫn là trong lớp vỏ của cà chua.

Đặc biệt, lycopen không bị mất đi trong quá trình chế biến bằng nhiệt. Lycopen có hiệu quả trong điều trị loãng xương, ung thư tiền liệt tuyến, đái tháo đường, tim mạch và đặc biệt là vô sinh nam.

Dưa hấu

Lớp vỏ trắng của dưa hấu thường được người Trung Quốc chế biến thành món ăn, vị thuốc. Vỏ dưa hấu xào rất tốt cho những người bị nóng trong, phát nhiệt. Còn nếu cắt nhỏ dùng trong món nộm có thể kích thích tiêu hoá và có lợi cho dạ dày. Trong Đông y, lấy vỏ dưa hấu phơi khô sắc nước uống có tác dụng trị chứng cao huyết áp, phù thũng, viêm thận cấp, viêm thận mãn tính, đái tháo đường, nước tiểu đục...

Xoài

Vỏ xoài chín cũng như quả xoài có tác dụng cầm máu tử cung, khai huyết, chảy máu ruột. Bào chế xoài thành dạng cao lỏng với liều 10g cho vào 120ml nước rồi cứ cách một hay hai giờ cho uống một thìa cà phê, các chứng bệnh trên sẽ đỡ. Vỏ xoài phơi khô còn có tác dụng chữa đau răng, viêm lợi.

Gừng

Theo Đông y, dược tính của gừng tập trung chủ yếu ở lớp vỏ quý giá. Vỏ gừng đắng, lạnh, không độc, giúp tăng khí, chữa bệnh. Việc gọt vỏ gừng không những đã triệt tiêu dược tính của gừng mà còn làm biến đổi cả mùi vị của nó, làm cho gừng từ tính lạnh biến thành tính nóng.

(Theo Tiêu Dùng)
Bệnh tay chân miệng do siêu vi trùng đường ruột thuộc nhóm Coxasackieviruses và Enterovirus 71 gây ra. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, gặp nhiều nhất là ở trẻ dưới 3 tuổi.

Bệnh xảy ra quanh năm, tăng cao từ tháng 2 - 4 và từ tháng 9 - 12 trong năm. Bệnh lây nhanh từ trẻ này sang trẻ khác từ các chất tiết mũi, miệng, phân, nước bọt lúc trẻ bệnh ho, hắt hơi.

Biểu hiện của bệnh

Thời gian ủ bệnh: từ 3 - 6 ngày.

Sốt: có thể sốt nhẹ thoáng qua, cũng có thể sốt cao 39 - 40 độ C.

Đau họng, chảy nước bọt liên tục.

Biếng ăn hoặc bỏ ăn.

Khó ngủ, quấy khóc, run chi, giật mình nhiều một cách bất thường.

Sang thương da, niêm chủ yếu nằm ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông.

Sang thương ở miệng đa số là những vết loét đỏ (do các bóng nước vỡ ra), đường kính 2-3mm ở vòm họng, niêm mạc má, nướu răng, lưỡi.

Sang thương ở da: thường là bóng nước, có đường kính 2 - 10mm, hình bầu dục, hoặc hơi tròn, nổi cộm hay ẩn dưới da trên nền hồng ban, không đau, khi bóng nước khô để lại vết thâm da.

Chú ý: có một số trường hợp không điển hình chỉ có loét miệng, sang thương da rất ít, hoặc không rõ ràng dạng bóng nước, mà chỉ là dạng chấm hoặc hồng ban.

Các triệu chứng khi có biến chứng

Triệu chứng thần kinh: rung giật cơ, bứt rứt, lừ đừ, chới với, yếu chi, co giật, hôn mê.

Triệu chứng của đường hô hấp và tim mạch: thường xuất hiện khi bệnh trở nặng: mạch nhanh, da nổi bông, tay chân lạnh, thở nhanh hơn bình thường, sùi bọt hồng ở miệng.

Các xét nghiệm cần làm: chỉ làm các xét nghiệm theo chỉ định của BS: công thức máu, đường máu, khí máu,

X-quang phổi...

Phân độ nặng của bệnh:

Độ 1: Chỉ có loét miệng và hoặc sang thương ở da.

Độ 2: Rung giật cơ, bức rức, chới với.

Độ 3: Yếu liệt chi, liệt các dây thần kinh sọ, co giật, hôn mê.

Độ 4: Suy hô hấp, phù phổi, tăng huyết áp, trụy mạch

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Phân biệt với các bệnh khác

Dị ứng da: sang thương hồng ban đa dạng nhiều hơn bóng nước.

Viêm da mủ: sang thương đau, đỏ, có mủ, không có sang thương trong niêm mạc miệng.

Thủy đậu: sang thương có nhiều lứa tuổi và rải rác toàn thân, không tập trung đặc biệt ở một vùng nào.

Biện pháp điều trị

Nguyên tắc:

Điều trị triệu chứng: Theo dõi sát, phát hiện sớm các triệu chứng của biến chứng để cho trẻ nhập viện.

Điều trị tại nhà: chỉ điều trị tại nhà những trẻ bị bệnh tay chân miệng độ I.

Hạ sốt, giảm đau: dùng paracetamol 10 -15mg/kg cân nặng/ mỗi 4 - 6 giờ, chỉ sử dụng khi trẻ sốt từ 38 độ C trở lên.

Vệ sinh răng miệng bằng cách cho trẻ súc miệng với nước muối pha loãng.

Nghỉ ngơi.

Sử dụng thêm các vitamin C, vitamin PP, vitamin A và kẽm theo toa bác sĩ để hỗ trợ cho da, niêm mạc mau lành.

Dùng kháng sinh theo toa bác sĩ khi có bội nhiễm.

Tái khám mỗi 1-2 ngày trong 7 ngày đầu của bệnh.

Theo dõi các dấu hiệu nặng: khi có một trong các triệu chứng sau: sốt cao trên 39 độ C, giật mình liên tục, run chi, chới với, quấy khóc, bứt rứt, co giật thì người nhà cần đưa bé vào bệnh viện ngay.

Dinh dưỡng trong bệnh tay chân miệng

Trẻ bị bệnh tay chân miệng thường rất biếng ăn, thậm chí có thể bỏ ăn do các vết loét trong niêm mạc miệng gây đau. Vì vậy, thức ăn cho trẻ cần chọn lựa sao cho mềm, mịn, mát lạnh nhằm tạo cảm giác dễ chịu khi thức ăn, thức uống đi ngang qua vết loét. Như vậy, những thực phẩm có thể dùng cho trẻ là: bột dinh dưỡng, sữa, sữa chua, phô mai, bánh Flan, tàu hủ đường...

Nếu trẻ ăn kém, nên cho trẻ ăn nhiều lần hơn lúc bình thường để tránh tình trạng hạ đường huyết có thể xảy ra. Cần chú ý muỗng (thìa) dùng để đút cho trẻ nên tránh những loại có cạnh sắc bén, để không đụng vào các vết loét ở đầu lưỡi và môi làm bé đau dẫn đến sợ hãi, không ăn.

Khi trẻ giảm bệnh (thường là sau 4 - 5 ngày) nên cho bé ăn trở lại bình thường, không kiêng khem.

Biện pháp phòng ngừa

Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi tiêu, sau khi mặc, thay tả, hoặc sau khi tiếp xúc với những vết loét, phân, nước tiểu, nước bọt của trẻ bệnh.

Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà bằng dung dịch sát khuẩn.

Cách ly trẻ bệnh để tránh tình trạng bệnh lây lan nhanh trong cộng đồng.

Theo 24H.COM.VN (SK&ĐS)
Trong y học cổ truyền, gạo nếp thường được dùng để chữa suy nhược cơ thể, tiêu chảy, viêm loét dạ dày, tá tràng...

Gạo nếp là loại thực phẩm quá quen thuộc với mọi người. Vào dịp lễ tết không nhà nào không dùng gạo nếp: bánh chưng, bánh tét, nấu xôi, nấu chè, làm các loại bánh. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết gạo nếp còn có tác dụng chữa bệnh.

Dân gian hay dùng cơm nếp nóng để chườm chữa tắc tia sữa cho sản phụ. Lấy cơm nếp nguội giã nhuyễn, trộn với bột thuốc để bó gãy xương và bong gân. Gạo nếp còn được dùng để chữa rối loạn bài tiết mồ hôi, tiểu đường, rối loạn tiền đình, thiểu năng tuần hoàn não, chứng buồn nôn ở phụ nữ có thai...

Xin giới thiệu một số bài thuốc đã được ghi nhận công dụng trong điều trị bệnh để bạn đọc tuỳ điều kiện của mình mà chọn lựa thực hành:

Gạo nếp hấp rượu vang: gạo nếp 250g, rượu vang 500ml, trứng gà hai quả. Tất cả cho vào bát to, đem hấp cách thuỷ cho chín, chia ăn vài lần. Dùng để bồi bổ cho người suy nhược cơ thể sau khi bị bệnh nặng.

Gạo nếp mật ong: gạo nếp 30g tán ra bột mịn, nấu thành dạng hồ loãng, chế thêm 30g mật ong, chia ăn vài lần trong ngày để dùng cho người miệng khát muốn uống nhiều nước, ăn kém, hay nôn và buồn nôn. Phương thuốc này còn có tác dụng lợi mật, giảm đau, dùng cho các trường hợp có cơn đau quặn gan do giun chui lên đường mật.

Bao tử heo nhồi gạo nếp: cho gạo nếp lượng vừa đủ vào bao tử heo, nướng khô, giã ra làm viên hoàn để ăn hàng ngày. Cách khác, cho thêm vào gia vị các loại, buộc kín miệng, đem hấp cách thuỷ cho thật chín rồi chia ăn vài lần.

Cháo gạo nếp hạt sen: người bệnh mới khỏi, cơ thể suy nhược, lấy gạo nếp, hạt sen lượng vừa đủ, đem nấu thành cháo. Mỗi ngày ăn sáng và tối.

Gạo nếp tán hoài sơn: gạo nếp 500g ngâm nước một đêm, để ráo rồi sao thơm. Hoài sơn 50g, sao vàng. Hai thứ tán thành bột mịn, mỗi sáng dùng 20 – 30g, khuấy đều với nước sôi, thêm chút đường đỏ và hạt tiêu để làm món điểm tâm. Dùng cho những người bị bệnh đường ruột, đại tiện lỏng nát kéo dài, chán ăn, mệt mỏi.

Cháo gạo nếp táo tàu: gạo nếp lượng vừa đủ, cho thêm táo tàu đun thành cháo loãng mà ăn. Ngày ăn từ 1 – 2 lần, giúp trị viêm dạ dày mãn tính và loét dạ dày.

Gạo nếp sắc với gừng: gạo nếp 20g, sao vàng; gừng tươi ba lát giã nhỏ. Đem hai thứ sắc với 200ml nước còn 50ml, uống trong ngày để chữa nôn mửa không dứt. Cách khác, gạo nếp, mạch môn, đẳng sâm mỗi thứ 12g, bán hạ 6g, cam thảo 4g, nấu nước uống.

Cháo gạo nếp đậu đen: gạo nếp 100g, đậu đen 30g, hồng táo 30g, đun thành cháo. Mỗi ngày ăn từ 1 – 2 lần, trị thiếu máu do thiếu sắt.

Gạo nếp trộn hoàng liên, dầu vừng: gạo nếp 100g, nấu thành cơm nếp rồi đốt thành than. Sau đó trộn đều với bột hoàng liên (30g) và dầu vừng, bôi chữa chứng chốc đầu ở trẻ em.

Cháo gạo nếp đậu xanh: gạo nếp 100g, đậu xanh 50g, nấu cháo ăn để hỗ trợ điều trị chứng tiêu khát của bệnh đái tháo đường. Cách khác, hoa gạo nếp (lúa nếp rang cho nổ trắng ra, bỏ vỏ), vỏ lụa cây dâu (vỏ trắng) mỗi thứ 100g, sắc uống.

Cháo gạo nếp nấu suông: còn gọi là cháo hoa (lấy gạo nếp, cho thêm nước vào nấu chín) có tác dụng làm mát ruột cho những trường hợp nặng bụng. Nếu nấu nhừ với chân giò hoặc móng giò heo, lõi thông thảo, đu đủ non và lá sung sẽ giúp làm tăng tiết sữa.

Theo ThS.BS Hoàng Khánh Toàn

SGTT

(Dantri)
Đông y xếp đái tháo đường vào chứng tiêu khát, là bệnh do ngũ tạng tổn thương, nguyên nhân có thể do: tiên thiên bất túc, ẩm thực bất tiết, tích nhiệt thương tân: ăn uống nhiều đồ cay, rượu, các thức ăn kích thích, ăn quá nhiều đồ ngọt, béo làm tổn thương tỳ vị; tình chí thất điều, uất hỏa thương tân; phòng lao quá độ dẫn đến thận tinh hư tổn; hư hỏa nội sinh, âm hư hỏa vượng dẫn đến phế táo vị nhiệt thận hư mà thành tiêu khát.

Vị trí bị bệnh chủ yếu liên quan đến tạng: phế, tỳ, vị, can, thận, trong đó thận là trung tâm. Tính chất của bệnh: bản hư tiêu thực, hư thực thác tạp. Bản hư chủ yếu là ba tạng âm hư đó là phế, tỳ, thận, trong đó thận âm hư là chính. Tiêu thực chủ yếu là táo nhiệt dương cang, thường kèm theo huyết ứ đàm trọc. Xu thế bệnh tiêu khát từ thượng tiêu xuống trung tiêu và cuối cùng là hạ tiêu (thượng tiêu thuộc tâm phế, trung tiêu thuộc tỳ vị, hạ tiêu thuộc thận). Cơ chế cơ bản của bệnh tiêu khát là âm hư táo nhiệt khí âm lưỡng hư, nên phép cơ bản là thanh nhiệt sinh tân, ích khí dưỡng âm... Chúng tôi xin giới thiệu một số món ăn - vị thuốc đơn giản dễ kiếm để bạn đọc tham khảo và áp dụng.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bài 1: Mướp đắng tươi 100g hoặc bột khô 20g. Đun lấy nước uống.

Bài 2: Ngọc trúc 10g, tim lợn 100g, gừng tươi 3 lát, gia vị vừa đủ. Ngọc trúc ninh lấy nước, cho tim lợn và gừng vào hầm nhừ. Ăn ngày 1 lần.

Bài 3: Đậu tương 100g, giấm 100ml. Đậu tương rửa sạch sấy khô rồi đem ngâm với giấm trong 8 ngày là có thể dùng được. Mỗi ngày uống 3- 6 lần, mỗi lần 30 hạt đậu.

Công dụng: Kiện tỳ, ích vị, bổ khí dưỡng huyết, làm giảm đường máu.

Bài 4: Đậu phụ 100g, mướp đắng 150g, dầu lạc và gia vị vừa đủ. Mướp đắng rửa sạch, bỏ ruột và hạt, thái miếng; cho dầu lạc vào chảo đun nóng già rồi bỏ mướp đắng vào xào cho đến khi gần chín thì cho tiếp đậu phụ vào đun to lửa một lát là được, chế đủ gia vị, ăn nóng, mỗi ngày một lần.

Công dụng: Thanh nhiệt chỉ khát, làm hạ đường huyết, dùng cho những người bệnh đái tháo đường thuộc thể táo nhiệt.

Bài 5:  Bí đỏ 450g, đậu xanh 200g. Bí đỏ rửa sạch gọt vỏ, bỏ ruột và hạt, thái miếng; đậu xanh đãi sạch rồi cho vào nồi hầm với bí đỏ cho thật nhừ, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

Công dụng: Bổ trung ích khí, thanh nhiệt và làm hết khát, dùng rất tốt cho người bị bệnh đái tháo đường.

Bài 6: Mộc nhĩ đen 60g, bạch biển đậu 60g. Hai thứ sấy khô, tán thành bột mịn, đựng trong lọ kín dùng dần.

Cách dùng: Uống mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần 9g.

Công dụng: Kiện tỳ dưỡng huyết, dùng thích hợp cho những người bị đái tháo đường.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bài 7: Canh lươn ăn 3- 4 tuần, đường huyết và đường niệu giảm: lươn 200g, bắc sa sâm 10g, bách hợp 10g, gừng, gia vị vừa đủ. Làm sạch lươn, bỏ ruột, bỏ xương, cắt nhỏ cho gừng vào đun sôi rồi cho sa sâm, bách hợp vào, đun nhỏ lửa trong 30 phút. Hoặc lươn sốt cà chua ăn hằng ngày.

Dùng độc vị:

- Nhộng tằm 20 con, rửa sạch xào bằng dầu thực vật ăn hàng ngày.

- Ô mai 15g hãm với nước sôi uống thay trà.

- Đậu đỏ để cả vỏ, sấy khô mỗi ngày dùng 50g nấu nước uống.

- Nấm mỡ lượng vừa đủ nấu canh hoặc xào với dầu thực vật ăn hàng ngày.

- Cát căn (củ sắn dây) nấu nước uống hàng ngày hoặc luộc củ ăn.

-  Hoài sơn (củ mài) ăn hàng ngày.

- Bí đao tươi 100g rửa sạch ép lấy nước uống hàng ngày.

- Cà rốt tươi lượng vừa đủ rửa sạch ép lấy nước uống hàng ngày.

- Bí đỏ 250g nấu canh ăn hàng ngày.

- Mướp đắng sắc nước uống hàng ngày hoặc phơi khô tán bột mỗi ngày ăn 15- 20g.

- Vừng đen 100g sắc uống hàng ngày.

Theo BSCKII. Trần Lập Công (suckhoedoisong.vn)
Sau ngày khai giảng, các bậc phụ huynh thường quan tâm đến chế độ ăn uống để con cái phát triển thông minh và khỏe mạnh. Nhiều gia đình có quan niệm “nhồi” cho con ăn mới cung cấp đủ dinh dưỡng nhưng không phải. Điều quan trọng là phải biết cân bằng dưỡng chất và có những nguyên tắc riêng dành cho người lớn để hướng trẻ tới một chế độ ăn uống lành mạnh.

5 nhóm dinh dưỡng cần thiết

Nguồn dinh dưỡng tốt có thể giúp trẻ chống lại bệnh tật, phát triển khỏe mạnh. Kết hợp đa dạng các loại thực phẩm với các thành phần dinh dưỡng chính dưới đây sẽ tạo cho trẻ thói quen ăn uống lành mạnh.

Calcium: Đây là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo giúp xương và răng chắc khỏe, nhất là trong thời kỳ cơ thể đang hình thành xương. Nguồn cung cấp Calcium tốt nhất là sữa bò, ngoài ra có sữa chua, bơ, một số thức uống có bổ sung Calcium.

Chất xơ: Mọi người, bao gồm trẻ em đều cần đến rất nhiều chất xơ mỗi ngày. Chất xơ tìm thấy trong ngũ cốc, trong các loại quả đậu; riêng với các loại rau quả, cha mẹ nên cắt gọt bằng tay sẽ tốt hơn là xay sinh tố hay ép quả.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Protein: Mọi tế bào trong cơ thể đều sinh ra từ protein nên đây là nguồn dưỡng chất thiết yếu cho sự tăng trưởng và phát triển. Protein có nhiều trong các sản phẩm gia súc như thịt, sữa, trứng, hải sản (đặc biệt là cá hồi nhiều omega 3), đồng thời có trong đậu, hạt, quả, rau, ngũ cốc…

Nhóm thực phẩm chống ôxy hóa: Chất chống ôxy hóa giúp bảo vệ cơ thể khỏi những tác nhân có thể tổn hại đến tế bào. Hãy bổ sung thành phần này trong các bữa ăn có khoai tây, cà rốt, trứng cá, các loại cam quýt…

Sắt: Chế độ ăn uống cho trẻ em thường thiếu sắt, một loại khoáng chất cần thiết giúp vận chuyển ôxy trong máu và tiếp năng lượng cho trẻ. Lưu ý, thực phẩm giàu chất sắt là thịt nạc, trứng, cá, rau có màu xanh đậm, quả đậu, quả khô.

Giáo dục ăn uống

Một xu hướng đang lan rộng ở nhiều nước trên thế giới là ngày càng có nhiều trẻ em béo phì hơn. Cho trẻ ăn không có nghĩa là “nhồi nhét” cho đủ khẩu phần, quan trọng là hướng dẫn, giáo dục học sinh cách lựa chọn đồ ăn có lợi cho sức khỏe.

Một cuộc khảo sát mới đây về bữa ăn trưa của học sinh Mỹ cho thấy: Trong khi nhiều tổ chức, trường học giáo dục các em phải ăn uống khoa học thì hầu hết khẩu phần ăn trưa của những học sinh được cha mẹ chuẩn bị từ trước lại chứa nhiều chất béo. Nguyên nhân của sự khác biệt này chính là cha mẹ không làm gương cho con. Nếu phụ huynh uống soda để ăn kiêng trong khi yêu cầu con phải uống đầy cốc sữa thì coi như phản tác dụng.

Các chuyên gia dinh dưỡng của Mỹ khuyên rằng, ngoài vai trò gương mẫu, các bậc phụ huynh nên tôn trọng sở thích trong ăn uống của con trẻ, phân tích về mức độ dinh dưỡng, lưu tâm đến thành phần calo đồng thời chế độ ấy phải nằm trong vòng kiểm soát của người lớn. Quá trình chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ độ tuổi đến trường này không đơn giản, tuy vậy nhiều phụ huynh thường hỏi con về thực đơn ăn trưa ở trường để biết con mình thích gì hoặc qua đó trao đổi lại với nhà trường là điều rất tốt.

Theo anninhthudo
Việc ăn thường xuyên món ăn đơn giản từ trứng gà, mật ong và nghệ giúp bạn cải thiện các bệnh thiếu máu, suy nhược thần kinh, viêm đại tràng mạn, đau dạ dày...

Theo Đông y, trứng gà bổ khí huyết, an thai, trị ho hen, kiết lỵ. Mật ong bổ tỳ vị, trừ ho, giải độc, sát khuẩn, giảm đau, nhuận tràng, chữa suy nhược thần kinh. Nghệ thông kinh, hành khí, chữa phụ nữ kinh bế đau bụng, đau dạ dày… Việc kết hợp chúng sẽ cho một bài thuốc hay chữa được nhiều chứng bệnh như:

- Thiếu máu, đau tức ngực, sắc khí xanh vàng.

- Viêm phế quản mạn tính, ho kéo dài, viêm họng hạt, ho lao, hen suyễn, phổi có nước, cảm lạnh.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

- Suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, đau đầu, mất ngủ.

- Viêm đại trạng mạn tính, đau dạ dày, đau gan, kém ăn, sụt cân, trĩ.

- Bệnh gút, viêm đa khớp, đau vai, cổ, gáy, tay chân lạnh, yếu sinh lý.

- Kinh nguyệt không đều, rong kinh, ra khí hư nhiều, sa tử cung.

Cách chế biến: Trứng gà mới đẻ một quả, bỏ lòng trắng. Mật ong vừa đủ hai thìa cà phê. Nghệ vàng một củ bằng ngón chân cái. Rửa sạch nghệ, cạo vỏ, giã nhuyễn, lọc lấy nước rồi cho lòng đỏ trứng gà và hai thìa mật ong đem chưng cách thủy. Nên ăn vào buổi tối, ngày ăn một lần.

Nữ ăn liền 9 ngày, nam ăn liền 7 ngày. Nếu chưa đỡ bệnh thì nghỉ 7 ngày sau ăn tiếp. Nếu vẫn chưa khỏi bệnh thì nghỉ một tháng, sau đó lại ăn tiếp như ban đầu, cứ kiên trì sẽ mang lại hiệu quả rất tốt.

Theo BS. Nguyễn Thị Nhân (baodatviet.vn)
Lươn còn gọi là cá lươn, hoàng thiện, tên khoa học là Monopterus albus Zuiew, họ Lươn (Symbranchidae hoặc Flutidae). Lươn là loài cá xương, thân hình ống, dài 30 - 40cm, không có vảy. Đầu tròn to, mõm ngắn, miệng và mắt nhỏ, không có vây ngực và vây bụng, đuôi dẹt bên, da dày và trơn bóng, màu vàng nhạt hoặc nâu sẫm.

Lươn có nhiều ở vùng đồng bằng và miền núi nước ta, sống chui rúc trong bùn ở ao hồ, ruộng nước mương máng. Thức ăn của chúng là giun, ốc, cua, tôm tép, cá con, ấu trùng... Mùa bắt lươn vào tháng 3 - 4 và tháng 10 - 11. Toàn thân con lươn được dùng trong y học cổ truyền với tên thuốc là hoàng thiện, thiện ngư. Trong lươn chứa nhiều protid, lipid, Ca, P, Mg, Fe, vitamin B1, B2, B6, PP và D.

Lươn là một trong "bốn món tươi ngon dưới sông" (tứ đại hà tiên), là "sâm động vật dưới nước". Lươn tính ôn, vị ngọt, có công hiệu bổ khí dưỡng huyết, làm mạnh gân cốt; thích hợp với các chứng lao lực, ho hen, tiêu khát, kiết lỵ, phong thấp đau nhức, gân cốt rã rời, thận hư đau lưng, liệt thần kinh mặt. Y học hiện đại chứng minh rằng lươn vàng còn có thể trị được bệnh tiểu đường và tăng cường trí nhớ, là thức ăn bồi bổ rất tốt cho người có lượng đường trong máu cao và người lao động trí óc. Đầu lươn tính ôn bổ não.

Từ lươn người ta có thể chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn như miến lươn, súp lươn, lươn nướng... Lươn nấu với cá, rau rút và một số rau gia vị thành món lẩu canh chua, là món ăn - vị thuốc bổ rất phổ biến, ngoài ra còn có tác dụng thanh nhiệt, nhuận tràng, an thần, mạnh gân xương. Thịt lươn ngon và bổ, còn là vị thuốc tốt với người thể trạng nhiệt, người thiếu máu, gầy còm mệt mỏi; trẻ em gầy yếu, xanh xao, bụng ỏng đít beo, phụ nữ sau sinh cơ thể hư nhược, khí huyết không điều hòa. Thịt lươn nấu với ngó sen ăn chữa rong kinh, băng huyết; cuốn lá lốt nướng ăn chữa tê thấp; hầm với rau dừa nước là thuốc bổ máu. Xương lươn đem phơi hoặc sấy khô giòn, rây bột mịn, uống với nước ấm chữa đau lưng.

Sau đây là một số món ăn - bài thuốc làm từ lươn:

Chữa mồ hôi tay chân ra nhiều: Lươn 1 con làm sạch, luộc qua, gỡ lấy thịt; ý dĩ nhân 20g để sống, phơi khô hoặc sao vàng, giã nhỏ thành bột; gạo nếp 30g vo kỹ, để ráo nước, giã thành bột. Trộn chung 3 thứ, thêm ít muối, cho nước vừa đủ nấu thành cháo ăn khi còn nóng.

Chữa trẻ em suy dinh dưỡng (bụng ỏng, đít beo, phân sống, gầy còm, biếng ăn):

- Thịt lươn 300g; đương quy, đẳng sâm, gừng tươi mỗi thứ 15g; hành tây 25g, muối ăn vừa đủ. Lươn rửa sạch, thái sợi, đương quy và đẳng sâm cho vào túi vải, bỏ vào nồi cùng thịt lươn, đổ nước nấu trong 1 giờ, vớt bỏ túi thuốc, gia hành, gừng, muối, nấu thêm 1 giờ nữa là được. Ăn thịt lươn và nước.

- Lươn 1 con to, kê nội kim 6g, hành, gừng, nước tương, muối, rượu vang, bột ngọt vừa đủ. Lươn làm thịt, bỏ nội tạng rửa sạch, cắt đoạn dài 6cm; kê nội kim rửa sạch, bỏ vào bát sứ cùng thịt lươn thêm hành, gừng, rượu, muối, nước tương dùng lửa lớn chưng chín, rắc bột ngọt vào trộn đều là được.

Người già khí huyết hư nhược, gân cốt rã rời, mỏi mệt vô lực, bồi bổ cho sản phụ sau sinh:

- Lươn 1 con to, đẳng sâm 25g, đương quy 15g, gân bò 30g. Lươn bỏ ruột rửa sạch, chặt thành khúc, lấy một cái nồi đất sạch cho lươn, đẳng sâm, đương quy, gân bò vào, thêm lượng nước thích hợp đun lên, khi chín thì bỏ ra ăn.

- Lươn to vài con, mổ bụng bỏ ruột, rút chỉ máu dọc sống lưng, dùng muối làm sạch ướp nước tương, gừng, xì dầu, ít rượu trắng. Chờ cơm sắp cạn trải đều lươn trên mặt cơm, hấp cho chín. Ăn nóng.

- Thịt lươn (15g) thái nhỏ, nấu với nước gừng (10 - 20ml) và ít gạo thành cơm. Ăn trong ngày.

Chữa bạch đới - khí hư: Lươn 1 con to, lấy phần giữa (khoảng 30cm) đốt ra tro; hồ tiêu 15 hạt tán nhỏ, trộn với rượu, uống (Nam dược thần hiệu).

Chữa phụ nữ viêm vú căng tức đau nhức: Da lươn đốt tồn tính, tán bột uống với rượu. Phụ nữ có thai và cho con bú không nên dùng.

Chữa liệt mặt, méo mồm: Tiết lươn (1 phần), nhựa cây duối hoặc bột hạt thầu dầu tía (2 phần). Đánh cho nhuyễn, phết lên giấy, dán vào má (bị bên này thì dán bên kia và ngược lại).

Chữa kiết lỵ: Đầu lươn rang khô, tán thành bột, trộn với ít đường đỏ, rồi hòa rượu uống.

Chữa viêm gan mạn tính: Lươn vàng (2 - 3 con) làm thịt, bỏ ruột; tầm gửi cây dâu (60g); rễ lau (30g); nước vừa đủ. Tất cả đem nấu chín, ăn cả cái và nước.

Chữa thần kinh suy nhược: Thịt lươn 250g thái nhỏ, hấp cách thủy với hoài sơn, bách hợp mỗi thứ 30g và nước vừa đủ. Ăn trong ngày, dùng nhiều ngày.

Canh lươn dùng cho người đái tháo đường: Lươn 200g, bắc sa sâm 10g, bách hợp 10g, gừng, gia vị vừa đủ. Lươn làm sạch, bỏ ruột, bỏ xương, cắt đoạn nhỏ, cho gừng sống vào đun sôi rồi cho sa sâm, bách hợp vào, đun nhỏ lửa trong nửa giờ. Ăn trong bữa cơm.  Bài thuốc này có tác dụng nhuận phế, thanh nhiệt, dưỡng âm, thích hợp với bệnh nhân tiểu đường. Hoặc lươn sốt cà chua ăn hằng ngày cũng rất tốt.

- Đầu lươn còn nấu om với thịt ba chỉ, chân gà, cánh vịt, nấm hương, tỏi, gừng, thích hợp với người già khí huyết hư, lú lẫn.

BS. Nguyễn Văn Trường (Sức khoẻ và đời sống)
Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây nên tàn nhang thường do tình chí bất toại, can khí uất kết, thận khí bất sung hoặc xung nhâm thất điều gây nên.

Những người dễ mắc

Tàn nhang là bệnh da liễu ở vùng mặt, hay gặp ở phụ nữ thời kỳ mang thai hoặc tiền mãn kinh và nam giới giai đoạn trung lão niên. Ngoài ra, bệnh còn gặp ở những người bị bệnh gan mật và một số bệnh mạn tính khác. Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây nên tàn nhang thường do tình chí bất toại, can khí uất kết, thận khí bất sung hoặc xung nhâm thất điều gây nên. Còn theo Tây y, có thể hiểu đó là do những rối loạn về nội tiết và các yếu tố gây căng thẳng thần kinh tạo nên.

Trị liệu

Phương pháp trị liệu bằng ăn uống của Đông y cho rằng, những người bị tàn nhang cần trọng dụng những thực phẩm có công dụng thanh nhiệt lợi thấp và kiêng kỵ những đồ ăn thức uống có tính cay nóng dễ gây táo nhiệt. Dưới đây là một số món ăn - bài thuốc (dược thiện) có công dụng phòng chống tàn nhang như:

* Bài 1: Đan bì 10g, chi tử 10g, gạo tẻ 30g. Cách chế biến: đan bì và chi tử rửa sạch, sắc kỹ lấy nước bỏ bã rồi cho gạo vào nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, dùng liên tục trong 10 ngày cho một liệu trình. Công dụng: sơ can thanh nhiệt, hoạt huyết lợi thấp, làm cho vết tàn nhang tiêu thoái hoặc nhạt đi.

* Bài 2: Bạch linh 15g, hoài sơn 15g, đậu xanh 20g, gạo tẻ 60g. Cách chế biến: bạch linh và hoài sơn sấy khô, tán thành bột mịn; đậu xanh và gạo tẻ đem ninh thành cháo rồi cho bột bạch linh và hoài sơn vào, đun sôi một lát là được, chế thêm một chút đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: sơ can thanh nhiệt, dưỡng tâm an thần, thường dùng cho những người bị tàn nhang do suy nhược thần kinh, ăn kém, mất ngủ thường xuyên.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

* Bài 3: Sinh địa 15g, huyền sâm 10g, chi tử 10g, liên nhục 30g. Cách chế biến: sinh địa và huyền sâm rửa sạch sắc kỹ, lấy nước bỏ bã rồi cho chi tử và liên nhục vào ninh nhừ, chế thêm một chút đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: tư âm thanh nhiệt, ích can bổ thận, thường dùng cho những người bị tàn nhang thuộc thể âm hư biểu hiện bằng các chứng trạng như người gầy, hay hoa mắt chóng mặt, miệng khô họng khát, có cảm giác bốc hỏa hoặc sốt nóng về chiều...

* Bài 4: Dưa chuột tươi 100g, hoài sơn tươi (củ mài) 100g. Cách chế biến: dưa chuột rửa sạch gọt vỏ, bỏ ruột thái miếng; hoài sơn rửa sạch gọt vỏ, thái miếng. Cho hai thứ vào nồi hầm nhừ, thêm một chút đường, dùng làm điểm tâm hằng ngày. Công dụng: thanh nhiệt dưỡng âm, kiện tỳ bổ thận, trừ ban.

* Bài 5:  Đậu đen 60g, ích mẫu thảo 30g. Cách chế biến: hai thứ cho vào nồi, đổ 3 chén nước, sắc còn 1 chén, bỏ bã, thêm một chút đường đỏ và 1 - 2 thìa rượu gạo, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: dưỡng âm, hoạt huyết, bổ huyết, điều kinh, trừ ban.

Cần chú ý ăn nhiều hoa quả tươi như lê tươi, táo, quýt, nho, cam, chuối chín, và các loại rau xanh. Kiêng ăn các thức ăn có tính kích thích như hành tỏi, gừng, quế, hồi, hạt tiêu, ớt, và các thức ăn chiên xào, quay nướng như gà quay, vịt quay, thịt hun khói, thịt nướng... Đặc biệt cần kiêng rượu và thuốc lá.

Theo Hoàng Khánh Toàn (Thanhnien online)
Viêm họng, viêm amiđan, viêm phế quản, viêm phổi là những bệnh lý của đường hô hấp thường gặp ở bé dưới 5 tuổi. Biết cách chăm sóc và theo dõi khi bé bệnh sẽ giúp cha mẹ tự tin hơn và che chở được nhiều hơn cho thiên thần nhỏ bé của mình.

Bệnh viêm đường hô hấp

Là bệnh do vi trùng hoặc siêu vi trùng gây ra. Biểu hiện của bệnh thường là sốt, sổ mũi, ho, nhợn ói, ói, đau họng, khó thở… Bệnh nhi có thể chỉ có 1 trong các triệu chứng trên, hoặc có cùng một lúc nhiều triệu chứng. Nếu bệnh do siêu vi gây ra thì chỉ điều trị triệu chứng, trong vòng 3 - 5 ngày bệnh sẽ tự khỏi. Khi tác nhân gây bệnh là vi trùng, bác sĩ sẽ chỉ định kháng sinh để điều trị cho bé, lúc này thời gian sử dụng kháng sinh có thể từ 5 - 14 ngày, tùy theo tình trạng bệnh, việc này cần được tuân thủ để tránh tình trạng lờn thuốc nhanh chóng và bệnh tái phát lại ngay.

Chăm sóc bé bị viêm đường hô hấp tại nhà

Bé sốt: thuốc hạ sốt trên thị trường rất đa dạng, nhưng nhìn chung dược chất chính đều là paracetamol, chỉ nên sử dụng khi bé sốt từ 38oC trở lên, nếu sốt dưới nhiệt độ này chỉ cần cho bé mặc quần áo thoáng và uống nhiều nước, liều dùng của paracetamol từ 10 - 15mg/1kg cân nặng của bé (ví dụ: bé nặng 10kg có thể uống 1 lần từ 100 - 150mg paracetamol khi bị sốt). Nếu dùng thuốc hạ sốt rồi mà bé vẫn sốt cao, nên cho bé tắm nước ấm (làm ướt cả đầu) để hạ nhiệt nhanh, tránh tình trạng co giật do sốt cao.

Bé sổ mũi: nên lau mũi cho bé bằng khăn mềm, khô (tốt nhất là dùng khăn giấy mềm), vì như vậy bé sẽ mau hết sổ mũi, lại không bị đau mũi, đỏ mũi do lau mũi quá nhiều. Giữ ấm cơ thể cũng là một cách giúp bé mau hết sổ mũi, tuy nhiên vì là mùa hè, thời tiết nóng bức, nên không cần phải cho bé mặc quần áo quá dày, sẽ gây cảm giác khó chịu, chỉ cần tránh cho bé nằm ngay luồng quạt máy, luồng gió máy lạnh đang phà ra. Nhiệt độ phòng có thể chấp nhận được là trên hoặc bằng 25oC.

Bé nghẹt mũi: sử dụng dung dịch nước muối sinh lý (NaCl 0,9%) nhỏ mũi để làm loãng mũi cho bé, sau đó hút sạch và ngoáy khô mũi bằng tăm bông khô, sạch.

Bé ho: ho trong viêm đường hô hấp có thể do tình trạng tăng tiết đàm nhớt, tăng xuất tiết, hoặc do co thắt các cơ đường hô hấp. Vì vậy, tùy theo cơ chế gây ho mà bác sĩ quyết định sử dụng thuốc giảm ho loại nào cho bé. Tuy nhiên, dù ho do bất kỳ cơ chế nào thì việc uống nhiều nước và vỗ lưng thường xuyên cho bé cũng là quan trọng, điều này giúp loãng đàm, long đàm, giảm ho cho bé.

Bé ói: ói có thể do đặc đàm, cũng có thể do bệnh trở nặng. Vì vậy, nếu đang điều trị bệnh mà thấy bé ói nhiều, nên cho bé tái khám để xem là do đàm quá đặc gây ói hay do bệnh đang tiến triển nặng hơn.

Bé biếng ăn: biếng ăn khi bệnh viêm đường hô hấp có thể do nhiều nguyên nhân: ở giai đoạn ủ bệnh, bé có thể đã có tình trạng mệt mỏi biếng ăn. Khi bị bệnh, biếng ăn xảy ra do bé bị đau họng, nghẹt mũi, do sử dụng kháng sinh dài ngày làm rối loạn hệ khuẩn ruột.

Các nguyên tắc về chăm sóc dinh dưỡng

Chuẩn bị cho bé ăn

Làm sạch mũi bằng cách hút sạch mũi cho bé, sau đó ngoáy khô mũi bằng tăm bông, động tác này giúp mũi thông thoáng, khi ăn bé sẽ ít bị ói.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Chuẩn bị thức ăn cho bé: trong lúc bệnh, đa số bé sẽ có cảm giác biếng ăn và khó tiêu hóa hơn so với lúc bình thường, vì vậy, thức ăn cho bé phải được nấu mềm hơn và lỏng hơn một ít so với ngày thường, nhưng vẫn phải bảo đảm đủ 4 nhóm thực phẩm (bột, béo, đạm, rau).

Chuẩn bị khăn khô mềm để lau cho bé trong khi ăn, không dùng khăn ướt, vì hăn ướt khi chạm vào đầu mũi nhiều lần sẽ gây lạnh và kích thích chảy mũi liên tục.

Thực phẩm cần ăn kiêng: các món ăn, thức uống lạnh; những thực phẩm khi ăn vào bé bị nổi mề đay (bé dị ứng với thực phẩm này).

Cho bé ăn

Cho bé ăn thức ăn ấm tốt hơn thức ăn lạnh (ăn lạnh có thể sẽ làm tình trạng viêm họng tiến triển nhiều hơn).

Nếu bé biếng ăn, nên cho bé ăn lượng thức ăn ít hơn ngày thường, như vậy để bé không bị đói và không bị sụt cân thì phải cho bé ăn thường xuyên hơn (số bữa nhiều hơn) và tận dụng những món bé thích để giúp bé ăn được nhiều.

Trong lúc bệnh, bé rất dễ bị nhợn ói và có cảm giác ăn không ngon, vì vậy, cần đút cho bé chậm hơn so với lúc bình thường. Khi bé không chịu ăn nữa thì ngưng và bổ sung ngay sau bữa ăn những món ăn mà bé thích (sữa chua, các loại bánh, phô mai…).

Bé ói: đây là nỗi lo của các bậc cha mẹ khi trẻ bệnh. Nếu bé chỉ ói 1 - 2 lần mỗi ngày và vẫn vui vẻ, chơi tốt, thì chỉ cần cho bé ăn hoặc uống lại sữa ngay sau khi ói để bé không bị đói và sụt cân.

Khi bé có những triệu chứng sau là lúc bé phải đến khám tại bệnh viện: thở nhanh, sốt cao liên tục từ 3 - 5 ngày, ói nhiều làm bé không thể ăn hoặc uống được gì, có thể bác sĩ sẽ cho bé nhập viện.

Phòng ngừa bệnh viêm đường hô hấp

Bao gồm: tránh không để bé bị nhiễm lạnh, tránh cho bé tiếp xúc với người bệnh. Những thành viên trong gia đình thường xuyên tiếp xúc với bé nếu có bệnh phải được điều trị ngay. Hạn chế đưa bé đến nơi đông người trong mùa dịch, hạn chế cho bé đến các nơi nhiều bụi (khi ra đường nên cho bé mang khăn che mặt hoặc khẩu trang), hạn chế cho bé uống thức uống quá lạnh, khuyến khích bé uống nhiều nước, chăm sóc dinh dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng cho bé.

Theo BS. NGUYỄN VĂN TÚ (suckhoedoisong.vn)
Một đứa trẻ bình thường sau 6 tháng cân nặng sẽ tăng lên gấp đôi, sau 12 tháng cân nặng tăng lên gấp ba so với khi mới ra đời, nên nhu cầu dinh dưỡng lớn. Bởi vậy trong những năm đầu đời, đặc biệt giai đoạn 2 tuổi, việc chăm sóc dinh dưỡng hợp lý có vai trò rất quan trọng để tạo nên nền tảng tốt cho các giai đoạn phát triển sau này ở trẻ.

Một số vấn đề dinh dưỡng

Nhiệt lượng: một trẻ bú mẹ, nếu bú no thì nhiệt lượng sẽ thỏa mãn vì trong sữa mẹ có đủ các chất sinh nhiệt ở tỷ lệ cân đối cần thiết. Cho trẻ ăn nước đường, nước cháo trẻ cũng có cảm giác no, ngừng khóc nhưng nhiệt lượng không bảo đảm, lâu ngày sẽ thiếu nhiệt lượng. Do vậy cần phải chú ý đậm độ của thức ăn nghĩa là nhiệt lượng do một đơn vị thể tích hoặc khối lượng thức ăn cung cấp. Thức ăn bổ sung cần có đậm độ nhiệt thích hợp vào khoảng 1,5-2Kcal/g. Nếu không đạt được thì phải cho ăn với lượng nhỏ nhiều lần hơn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Protid: đậm độ protid nghĩa là tỷ lệ % nhiệt lượng do protid cung cấp trong chế độ ăn nên đạt từ 10-14%. Protid cần bảo đảm chất lượng có đủ các chất acid amin cần thiết. Bột ngũ cốc bổ sung thêm bột đậu hoặc bột thịt, cá sẽ cung cấp đủ các acid amin đặc biệt là lysin.

Lipid: trong sữa mẹ 50% nhiệt lượng do chất béo cung cấp. Chế độ ăn bổ sung hoặc thức ăn thay thế sữa mẹ ở nước ta thường có đậm độ nhiệt thấp là do nghèo chất béo, do vậy đưa chất béo dưới dạng các loại dầu mỡ vào chế độ ăn của trẻ em là phương hướng hiện nay cần quan tâm.

Các vitamin: hàm lượng các vitamin cần thiết trong sữa mẹ thay đổi tùy theo chế độ ăn của người mẹ, do đó chế độ ăn của người mẹ khi có thai và cho con bú cần được bảo đảm.

Bệnh thiếu vitamin B1 - beriberi - ở trẻ nhỏ rất nguy hiểm có thể gây chết đột ngột (thể tim). Các loại bột gạo xay xát trắng thường mất hết loại vitamin này trong khi bột đậu như bột đậu xanh, thịt lợn nạc lại có nhiều, cần bổ sung.

Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A là một bệnh thiếu dinh dưỡng nguy hiểm, rất hay gặp ở trẻ em suy dinh dưỡng và có thể gây mù lòa suốt đời. Lòng đỏ trứng, rau xanh và các loại củ, quả có màu là nguồn vitamin A và caroten quan trọng. Nhiều nơi đề ra khẩu hiệu “tô màu cho bữa ăn của các cháu” chính là để phòng bệnh này. Rau xanh và các loại củ quả còn cung  cấp cho cơ thể trẻ vitamin C.

Phòng bệnh còi xương do thiếu vitamin D phải kết hợp giữa chế độ ăn và tắm nắng hợp lý. Dưới tác dụng của tia tử ngoại chất dehydrocholesterol ở dưới da sẽ chuyển thành vitamin D.

Các chất khoáng: trong sữa mẹ các chất khoáng quan trọng đối với trẻ như calci và sắt có hàm lượng thích hợp và dễ hấp thu. Các loại sữa bột đều có nhiều calci.

Chất sắt trong thức ăn được hấp thu nhiều hay ít tùy loại thức ăn. Chất sắt trong thức ăn động vật được hấp thu nhiều tiếp theo là đậu đỗ, sắt trong ngũ cốc được hấp thu ít hơn. Vitamin C có nhiều trong rau quả làm tăng khả năng hấp thu sắt.

Theo Quỳnh Phương (Suckhoedoisong.vn)
Đó là lời khuyên của các chuyên gia dinh dưỡng thuộc Trung tâm y tế Southwestern - Đại học Texas (Mỹ), theo hãng tin ANI.

Các chuyên gia cho biết những người bị huyết áp cao nên ăn nhiều rau củ và trái cây giàu kali như dưa hấu, cam. "1/4 quả dưa hấu có thể chứa tới 800-900 mg kali, đáp ứng được 20% lượng kali cần thiết mỗi ngày", Lona Sandon, một chuyên gia về dinh dưỡng tại trung tâm trên, khẳng định. Kali còn có nhiều trong quả mơ khô, trái bơ, nho, quả chà là, quả kiwi, khoai tây, đậu, cà chua…

Theo H.Y (Thanhnien online)
Thực phẩm xung quanh ta có rất nhiều điều đặc biệt, sứa là một ví dụ điển hình. Sứa không chỉ là loại hải sản có giá trị dinh dưỡng cao mà còn có tác dụng chữa nhiều loại bệnh.

1.Giá trị dinh dưỡng từ sứa

Sứa là đặc sản biển, phần thịt tương đối dày. Thịt sứa thơm ngon và có hàm lượng chất dinh dưỡng phong phú. Trong sứa không chỉ chứ nhiều Protein, đường, mà còn chứa các nguyên tố vi lượng như Phosphorus, Mg, ..

Từ sứa có thể chế biến được rất nhiều món ăn thú vị nhưng phổ biến nhất vẫn là món sữa trộn.  Khi mua sứa về bạn phải rửa sạch lại bằng nước ấm sau đó trộn với gia vị. Tùy khẩu vị có thể trộn sứa với các loại rau thơm hoặc trộn sứa với chuối xanh, dái mít để sứa bớt tanh. Sau đó, hãy trộn đều rau, sứa với ớt, tỏi, nước mắm để tầm 5 phút. Cuối cùng hãy rắc đậu phung rang và bóp bánh tráng nướng vào và thưởng thức.

Đối với người có thể trạng yếu, hãy dùng đầu sứa nấu canh với xương lợn để bồi bổ.

Đối với phụ nữ sau khi sinh thiếu sữa cho con bú, hãy dùng sứa tươi rửa sạch bằng muối, sau đó thái nhỏ nấu canh ăn hàng ngày sẽ giúp tăng lượng sữa hiệu quả.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

2.Vị thuốc chữa bệnh từ sứa

Theo Đông y, sứa có vị mặn, tính bình, nhuận gan, phổi, hóa đờm, chống ho, thanh nhiệt, … vì vậy, khi kết hợp sứa với một số vị thuốc khác của đông y có tác dụng chữa được rất nhiều loại bệnh.

Chữa cao huyết áp: Dùng 100g mỗi loại sứa và mã đề. Sau đó, cho sứa và mã đề vào nồi sắc từ 3 – 4 giờ. Dùng nước sắc được uống ngày hai lần đều đặn.

Chữa ho, viêm khí quản: Dùng sứa  thêm vị xuyên bối, sa sâm, hạnh nhân, bách bộ, mỗi vị 50g, sắc uống hàng ngày, bệnh sẽ thuyên giảm nhanh chóng.

Chữa bướu cổ (sưng tuyến giáp): Dùng sứa, rong biển, côn bố, triết bối, mỗi vị từ 30-50g sắc uống đều đặn.

Chữa chứng chóng mặt, hạ huyết áp: Dùng sứa kết hợp với vị thiên ma, bạch thược, câu đằng, ninh nừ uống giúp điều hòa khí huyết.

Viêm phổi có mủ: Nấu sứa với cà rốt, ninh trong nồi đất thành canh để ăn.

Trị rôm sẩy, lở ngứa ở trẻ nhỏ: Dùng sứa biển rửa sạch với muối, sau đó đun thành nước dùng để tắm cho trẻ.

Rối loạn kinh ở phụ nữ: Dùng sứa vài lạng, rửa sạch bằng muối, sau đó đun lấy nước uống.

Chữa lở loét da: Dùng sứa đắp ngoài lớp da bị lở loét. Đồng thời, hầm sứa với đại táo, đường đỏ để ăn.

3. Lưu ý

Sứa vừa là món ăn ngon, vừa có thể dùng để chữa bệnh. Tuy nhiên, khi sử dụng cần chú ý đề phòng trúng độc thức ăn do trực khuẩn hemophilus và vibrio gây nên. Do đó, khi mua sứa phải hết sức chú ý chọn sứa có bề ngoài màu phớt hồng hơi trắng, có phấn như muối, không dính bết. Khi sờ vào thịt sứa phải rắn chắc, lấy ngón tay ấn thử vào mình sứa không có nước chảy ra. Trong quá trình chế biến, xào nấu nên cho thêm một lượng dấm ăn vừa phải.

Theo aFamily
Lưu truyền về chim bìm bịp

Trong dân gian, lưu truyền câu chuyện về một cây thuốc, có tên là cây bìm bịp. Sở dĩ có cái tên giống với cái tên của một loài chim quý, có ở nước ta, nhiều nhất là ở miền đông Nam Bộ, là vì từ cây thuốc này, theo như lời chuyện kể, con  chim bìm bịp đã tự lấy lá của cây thuốc đó để đắp vào chỗ  xương bị gẫy, do  trúng tên. Lại một câu chuyện khác của miền đông Nam Bộ, cho rằng, chim bìm bịp con,  bị bẻ gẫy chân, bìm bịp mẹ đã lấy lá cây  thuốc này, đắp vào chỗ xương gẫy của con. Do đó cây thuốc đã mang tên bìm bịp. Và sau này, con người đã bắt chước chim bìm bịp, lấy chính cây thuốc  này làm thuốc chữa đau xương, gẫy xương. Câu chuyện kể về chim lấy cây làm thuốc thực hư như thế nào, không rõ, song trên thực tế, chim bìm bịp là có thật. Ở nước ta, chim bìm bịp, có hai loài, loài lớn Centropus sinensis intermedius  Hume và loài bìm bịp nhỏ Centropus  bengalensis  Gmelin. Chúng đều là những loài chim định cư, thân dài, mỏ to, nhọn, đôi mắt nhỏ, màu đỏ, có đuôi dài hơn cánh. Khi còn nhỏ, thân có lông màu nâu, chấm đen, khi trưởng thành, đầu, mỏ, cổ ngực, đuôi có màu xám đen, song  ngực và hai cánh, lại có lông màu đỏ. Cả hai loài, đều ưa sống ở ven sông suối, nơi có nhiều bụi cây rậm rạp. Loài bìm bịp lớn sống chủ yếu ở vùng đồng bằng, trung du, sườn núi, thường ở vùng có độ cao 600m trở xuống; còn loài nhỏ sống chủ yếu ở vùng có độ cao không quá 800m. Thức ăn của bìm bịp đa phần là động vật (ếch, cóc, nhái...), côn trùng như cào cào, mối, chuồn chuồn, và các loài thực vật, cánh hoa và cỏ dại; đặc biệt là rắn, loại thức ăn khoái khẩu của  bìm bịp.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Điều chế rượu bìm bịp

Trước hết, đem bìm bịp vặt bỏ lông, mổ bỏ tạng phủ, không nên  dùng nước để rửa mà lấy rượu gừng (30g gừng tươi, rửa sạch, giã nát, ngâm trong 100ml rượu 35- 40 độ) để lau sạch máu và các vết bẩn.

Để khô, rồi tiến hành ngâm rượu. Thường ngâm 2 con một bình, nếu số lượng ít. Với số lượng lớn hơn, nên làm thành nhiều đôi. Dùng rượu ngâm 3 lần. Lần đầu, dùng rượu có nồng độ 60 độ, đổ ngập,  ngâm trong 3 tháng, lần 2-3, dùng rượu 35- 40 độ, ngâm trong 2 tháng, 1 tháng, gộp dịch chiết rượu của 3 lần lại. Cũng cần biết thêm rằng, do quan niệm bìm bịp ăn rắn, và có lẽ do món ăn độc đáo này mà bìm bịp có các tác dụng chữa bệnh quý như vậy, do đó nhiều khi người ta còn cho bìm bịp  ăn rắn, sau 3 ngày mới giết chúng, hy vọng sẽ tăng thêm tác dụng điều trị của bìm bịp.

Bìm bịp - vị thuốc bổ thận tráng dương?

YHCT cho rằng, thịt bìm bịp có vị ngọt, mặn. Tính ấm, không độc, có tác dụng bổ huyết, bổ thận dương,  tiêu ứ huyết, giảm đau, tiếp cốt. Dùng trong các trường hợp thận dương suy yếu gây chứng liệt dương, di tinh, tiết tinh sớm, còn dùng khi bị gẫy xương, giúp cho xương chóng liền,  hoặc chữa đau lưng, đau nhức xương khớp, đau gối,  đau dây thần kinh, các chứng hư lao, suy nhược cơ thể, da dẻ xanh xao do thiếu máu, nhất là phụ nữ sau khi sinh, suy yếu của người già.
Mặt khác để tăng thêm tác dụng bổ nội tiết, bổ sinh dục, người ta còn ngâm bìm bịp với cá ngựa, hoặc bìm bịp với cá ngựa và tắc kè, hoặc bìm bịp với rắn (1 con hổ mang, 1 con  cạp nong, 1 con cạp nia,  1 con  rắn ráo, 1 con hổ trâu hoặc 1 con dọc dưa). Khi ngâm rượu bìm bịp với cá ngựa và tắc kè, mỗi loại cũng dùng một đôi, một con đực, một con cái. Nếu ngâm bìm bịp với rắn, cần tính trọng lượng của các đôi bìm bịp, sao cho cân bằng với trọng lượng của cả bộ ngũ xà nói trên. Có thể cùng ngâm các loại nguyên liệu nói trên vào một bình.

Song song với việc ngâm bìm bịp, có thể tiến hành ngâm một bình rượu thuốc, gồm các vị thuốc, như hà thủ ô đỏ, ba kích, nhục thung dung, mỗi vị 200g, sâm cau, 100g, huyết giác 20g, đại hồi, hoặc tiểu hồi, trần bì, mỗi vị  10g. (Nếu ngâm với rắn thì bỏ tiểu hồi, và thay bằng 50g thiên niên kiện). Dùng rượu trắng 35-40 độ, với tỷ lệ, một phần thuốc, 5 - 8 phần rượu. Số ngày ngâm, có thể ít hơn ngâm bìm bịp. Lần 1, ngâm 1 tháng, lần 2-3, ngâm  2 - 3 tuần lễ. Gộp dịch thuốc của các lần ngâm lại. Sau đó, có thể tiến hành pha chế theo tỷ lệ 1 : 1 (một phần rượu  bìm bịp, hoặc bìm bịp - tắc kè, cá ngựa, hoặc bìm bịp - rắn), một phần rượu thuốc), hoặc 1 : 2. Đem rượu  bìm bịp , rót từ từ vào rượu thuốc, vừa rót vừa dùng đũa thủy tinh quấy đều, để tránh rượu bị tủa. Có thể pha thêm ít đường trắng cho dễ uống. Tùy theo khối lượng của từng loại nguyên liệu động vật, đem ngâm rượu, song lượng rượu thành phẩm  có được  gấp khoảng 8-10 lần về trọng lượng của nguyên liệu động vật đem ngâm. Nên dựa theo tiêu chí này để phối hợp với rượu thuốc cho phù hợp.

Rượu bìm bịp, có màu nâu thẫm,  mùi thơm, vị đậm, hơi ngọt. Ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần 30-50ml, uống trước bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ. Không dùng rượu bìm bịp cho phụ nữ có thai. Rượu bìm bịp có nhiều công dụng tốt, đặc biệt để bổ thận dương. Tuy nhiên, để có nguyên liệu sử dụng một cách bền vững, ngay từ lúc này cũng nên có kế hoạch nuôi dưỡng  bìm bịp, giống như đã thuần hóa các  loại động vật khác như gà rừng, lợn rừng, nhím, rắn...            

GS.TS.  Phạm Xuân Sinh (Suckhoe&Doisong)
Theo thời gian, chế độ dinh dưỡng cần phù hợp với các giai đoạn phát triển của cuộc đời con người. Để nữ giới có thể sống khỏe và tràn đầy sinh lực, hãy tìm hiểu chế độ dinh dưỡng cùng cách bổ sung các dưỡng chất theo từng độ tuổi.

Thời con gái: Canxi và sắt

Dinh dưỡng trong thời kỳ thiếu nữ có tác động quan trọng đến sức khỏe tương lai như phòng ngừa các bệnh về tim mạch, ung thư hay loãng xương. Các thiếu nữ cần khoảng 1.300 mg canxi mỗi ngày nhưng 80% số em gái hiện nay không đáp ứng đủ nhu cầu đó. Nhiều em sợ uống sữa do lo ngại tăng cân, vì thế giải pháp thay thế là khuyến khích uống sữa không béo, sữa đậu nành hay sữa chua có bổ sung canxi.

Em gái ở độ tuổi thiếu niên cũng cần ít nhất 15 mg sắt mỗi ngày, thiếu sắt có thể dẫn đến thiếu máu, gây ra tình trạng mệt mỏi, yếu ớt hay dễ nhầm lẫn. Gợi ý là sử dụng ngũ cốc, các sản phẩm từ đậu nành hay bơ lạc giúp bổ sung tốt sắt.

Độ tuổi sinh đẻ: Sắt và Folic acid

Nếu luôn cảm thấy mệt mỏi, có thể bạn không đủ chất sắt trong chế độ ăn uống. ở độ tuổi sinh đẻ, phụ nữ cần lượng sắt nhiều hơn bởi họ mất máu cho mỗi kỳ kinh và cần cho thời kỳ mang thai. Theo thống kê, phụ nữ ở độ tuổi 19-50 cần 18 mg sắt mỗi ngày, khi mang thai thì nhu cầu tăng lên đến 27 mg/ngày. Lượng sắt này có thể bổ sung từ thịt, hải sản, các loại hạt, đậu lima, rau cải xanh, ngũ cốc…

Bên cạnh đó, Folic acid - một dạng biến đổi tự nhiên của vitamin B (hay gọi là folate) - không thể thiếu trong thời kỳ này. Phụ nữ mang thai có mức độ Folic acid thấp sẽ tăng nguy cơ khiếm khuyết ống thần kinh cho thai nhi, vì thế những ai chuẩn bị làm mẹ cần bổ sung sớm Folic acid. Thực phẩm giàu folate có các loại đậu, đậu Hà Lan, rau, hoa quả, bánh mì, ngũ cốc…

Một lưu ý đối với phụ nữ mang thai, đó là quan niệm “ăn cho cả hai” không hẳn đã đúng. Chỉ nên tăng lượng calo mỗi ngày khi bắt đầu sang tháng thứ 4, và nói chung bà mẹ nào cũng có bản năng tự đáp ứng nhu cầu năng lượng mỗi ngày bằng cách “lắng nghe” cơn đói. Và không chỉ là lượng calo, những gì người mẹ ăn lúc mang thai có thể liên quan đến sở thích ăn uống của con trong tương lai.

Thời kỳ mãn kinh: Canxi và vitamin D

Khi đến tuổi mãn kinh, chế độ ăn uống của phụ nữ cũng cần thay đổi. Nhu cầu canxi quay trở lại như thời thiếu nữ: 1.000 - 1.200 mg mỗi ngày. Nếu không cung cấp đủ lượng canxi, cơ thể sẽ huy động canxi từ xương để duy trì các hoạt động của dây thần kinh, cơ và tim. Hormone sinh trưởng nữ estrogen lúc này thiếu hụt, không còn tạo điều kiện tích tụ canxi ở xương. Bên cạnh đó, vitamin D rất quan trọng trong việc hấp thu canxi, giúp tái tạo xương, nếu không đủ rất dễ dẫn đến loãng xương.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Ngoài ra, một vấn đề sức khỏe phổ biến ở phụ nữ trên 50 tuổi là huyết áp cao và cholesterol trong máu cao. Vì thế, một chế độ dinh dưỡng hợp lý là tập trung vào rau, quả, sữa có hàm lượng chất béo thấp, kiểm soát cân nặng. Để bổ sung canxi hay vitamin D cần tăng cường sữa, sữa chua, cá, ngũ cốc, nước hoa quả…

Dinh dưỡng cho người già

Thực tế thì người già có nhu cầu dinh dưỡng như người trưởng thành nhưng họ gặp khó khăn về răng lợi cùng các điều kiện sức khỏe nên ăn uống không được ngon miệng. Lời khuyên của các chuyên gia là các cụ già nên ăn thành nhiều bữa nhỏ, thức ăn ở dạng dễ nuốt nhưng nên có đầy đủ các nhóm thực phẩm trong các món yêu thích.  Lưu ý, vitamin D là loại vitamin bắt buộc phải có ở người trên 70 tuổi và nên bổ sung B12 ngay từ độ tuổi trên 50 vì những người già có xu hướng không thể hấp thu B12 qua đường ăn uống tự nhiên.

THeo anninhthudo
Một nghiên cứu cho rằng sau đường thì những thức ăn cacbonhydrate như khoai tây là một trong những thứ đầu tiên bạn phải để mắt tới nếu muốn trọng lượng của bạn giảm xuống. Nhưng trái ngược với điều này, một củ khoai tây đã được nấu chín chỉ chứa 26 calo và chứa rất nhiều chất dinh dưỡng. Bạn sẽ phải ngạc nhiên vì những lợi ích sức khỏe vô cùng tuyệt vời của khoai tây.

Thực đơn giảm cân

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Jacquie Lavin, bác sĩ tư vấn giảm cân của Trung tâm Slimming World nói rằng, chìa khóa cho sự giảm cân bền vững là bạn phải ăn những thức ăn giúp bạn cảm thấy no lâu.

“Bạn nên ăn những thức ăn có chứa cacbonhydrate phức tạp như khoai tây, sẽ tốt hơn cacbonhydrate đơn giản trong đường hay bánh quy. Đường, bánh quy chỉ mang lại cho bạn thứ năng lượng nhanh và khiến bạn cảm thấy mau đói. Bằng cách ăn khoai tây bạn có thể giảm dần thói quen ăn vô độ”.

Theo một nghiên cứu tại Tạp chí Dinh dưỡng Anh (Bristish Journal of Nutriton), khoai tây đã được phân loại sai khi xếp nó vào những loại thực phẩm có chỉ số Glycemic (chỉ số GI) cao. Bảng xếp hạng này xếp loại thực phẩm từ 1 đến 100 dựa trên tốc độ chuyển hóa cacbonhydrate của thực phẩm thành glucozo cơ bản. Glucozo nguyên chất sẽ ở thang đo tối đa là 100. GI càng thấp thì thực phẩm đó càng được ưa chuộng và khiến cảm giác no của bạn càng được duy trì lâu hơn sau khi ăn.

Đây là lý do tại sao một chế độ ăn kiêng thường chứa những loại thức ăn có GI thấp. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tiết lộ rằng, GI của khoai tây có thể thay đổi, tùy thuộc vào giống khoai, điều kiện thổ nhưỡng nơi trồng trọt và cuối cùng là phương pháp chế biến.
Ví dụ: Chỉ số GI sẽ từ trung bình đến thấp khi khoai tây được ăn lạnh thay vì ăn nóng, luộc và để nguyên củ thay vì nghiền ra.

Khoai tây sẽ cung cấp cho cơ thể chúng ta nguồn nhiên liệu và năng lượng thiết yếu ngay cả khi chúng ta đang ăn kiêng. Với một lượng cacbonhydrate giàu có, chúng sẽ giúp cung cấp nhiên liệu cho mọi hoạt động của cơ thể: di chuyển, suy nghĩ, tiêu hóa, tái tạo tế bào. Và trên hết, chúng giúp ta no lâu.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Tăng cường vitamin

Khoai tây được các thủy thủ Anh và Tây Ban Nha thế kỷ XIX ăn để chống bệnh Xco-buýt (bệnh về máu do thiếu vitamin C). Khoai tây rất giàu vitamin C, loại vitamin giúp tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Trung bình 150g khoai tây nguyên vỏ cung cấp 27mg vitamin C, đáp ứng gần một nửa nhu cầu vitamin C hằng ngày của cơ thể.

Khoai tây cũng rất giàu lượng vitamin B, a-xít pho-lic và các chất khoáng như kali, ma-giê và sắt. Khoai tây thuộc loại rễ củ, có nghĩa là chúng chứa tất cả những loại vitamin và khoáng chất cần cho sự phát triển của những cây khoai tây non.

Như vậy, khoai tây thực sự chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng chứ không đơn thuần chỉ là một loại thức ăn nhạt nhẽo và nhiều tinh bột.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Khoai tây tốt cho huyết áp

Y học cổ truyền Trung Hoa sử dụng một loài cây gọi là Lycium chinense, có chứa kukoamines để chế biến thành trà làm giảm huyết áp.

Các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Thực phẩm tại Norwich cũng tìm thấy những phân tử kukoamines, làm giảm huyết áp trong khoai tây. Vì vậy, bạn hãy ăn khoai tây mỗi ngày, sẽ rất tốt cho huyết áp của bạn đặc biệt nếu bạn là người mắc chứng huyết áp cao.

Khoai tây và bệnh tim mạch

Viện Nghiên cứu Nông nghiệp tại Navarre, Mỹ đã nhận diện 60 loại phytochemical và vitamain chứa trong vỏ khoai tây.

Nhiều loại trong số chúng là flavonoit, giúp bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tim mạch thông qua tác dụng làm giảm LDL (các cholesteron xấu) và giữ cho không có mỡ trong động mạch.

Vitamin B trong khoai tây cũng giúp bảo vệ động mạch. Vitamin B6 tìm thấy trong khoai tây thì có tác dụng làm giảm nồng độ phân tử homxystein (axia amin lấy từ protein trong thức ăn, hấp thụ vào máu và làm tăng nguy cơ bệnh tim và đột quỵ)

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Sự khỏe mạnh của hệ tiêu hóa

Một củ khoai tây nướng sẽ cung cấp gần 12% nhu cầu chất xơ mỗi ngày, tương đương với lượng chất xơ do bánh mì lúa mạch, mì sợi và ngũ cốc cung cấp.

Một chế độ ăn giàu chất xơ sẽ giúp hệ tiêu hóa khỏe mạnh và giúp ruột hoạt động đều đặn. Đồng thời còn có tác dụng bảo vệ hệ tiêu hóa khỏi ung thư ruột kết.

Trong khi phần lớn chất xơ trong khoai tây được tìm thấy ở vỏ thì một vài loại tinh bột trong khoai tây lại khó tiêu hóa. Nếu ruột của bạn hoạt động không tốt hãy ăn khoai tây đã nấu lên và làm lạnh. Quá trình làm lạnh sẽ làm giảm tổng lượng tinh bột khó tiêu hóa từ 7% tới 13%.

Khoai tây làm giảm Stress

Khoai tây rất giàu lượng vitamin B6, một chất cần thiết cho tái tạo tế bào, hệ thần kinh và sự cân bằng trạng thái tâm lý. Chỉ 100g khoai tây nướng sẽ đáp ứng đủ nhu cầu vitamin hằng ngày của cơ thể.

Vitamin B6 dùng để tạo ra chất dẫn truyền thần kinh, một chất giúp chuyển đi những thông điệp từ tế bào này tới tế bào khác. Những chất dẫn truyền thần kinh như serotin, dopamin thì rất cần cho việc điều chỉnh tâm trạng.

Vitamin B6 cũng được dùng để tạo ra adrenaline, một loại hóc môn giúp chúng ta đối phó với stress, và GABA, một chất liên quan tới sự thư giãn và cảm giác dễ chịu.

Lựa chọn khoai tây khôn ngoan

Đầu năm nay, một giống khoai tây mới là Vivaldi đã được trồng tại Lincolnshire, Mỹ. Khoai tây này được trộn chung với salat dầu giấm sẽ giảm ít nhất 26% lượng cácbonhydrat và giảm 33% lượng calo so với những loại khoai tây khác được chế biến theo những phương pháp như chiên, xào.

Khoai tây Vivaldi mang lại nhiều lợi ích sức khỏe và hương vị thơm ngon của nó cũng không thua kém các loại khoai tây khác. Vivaldi được phong cho cái tên là “bánh mì không bơ” bởi thịt của nó rất mịn và thơm ngon, giúp bạn hạn chế lượng bơ ăn kèm khi ăn loại khoai tây này.

Khoai tây có chỉ số GI cao, bởi vậy ảnh hưởng rất lớn đến nồng độ glucozo trong máu. Chúng ta có thể giảm GI của khoai tây xuống mức trung bình bằng cách nướng và dùng dầu oliu hoặc sữa không kem khi chế biến.

Hãy hạn chế việc dùng những chất béo như bơ, kem chua và pho mát nấu chảy khi chế biến khoai tây và hạn chế việc chiên kỹ. Khoai tây nướng sẽ là một món ăn giàu chất xơ và tốt nhất cho sức khỏe của bạn.

Khoai tây chứa nhiều vitamin, vỏ khoai tây chứa chất xơ, flavonoit và nhiều chất dinh dưỡng khác. Hãy giữ nguyên vỏ khi bạn luộc hoặc nghiền để giữ lại chất dinh dưỡng trong vỏ.

Amanda Jennings của Bristol’s Vitality khuyên các bà nội trợ rằng nên ăn khoai tây với xà lách trộn, cá ngừ hay hummus (món khai vị làm từ gà, đậu, vừng, chanh, tỏi) hoặc dùng dầu oliu khi chế biến sẽ hạn chế được chất béo bão hòa. Đồng thời sẽ giúp cho lượng cacbonhydrate trong khoai tây chuyển hóa chậm hơn, giúp bạn no lâu hơn và có đủ năng lượng để hoạt động trong một thời gian dài.

Vì vitamin A tan trong nước nên bạn hãy nướng khoai tây nếu bạn muốn giữ lại phần lớn lượng vitamin A trong khoai tây.

Khoai tây thái lát mỏng chiên kỹ trong dầu sẽ ngấm vào mỡ gây cản trở động mạch và tích tụ calo không tốt cho sức khỏe. Thay vì thế hãy ăn những lát khoai tây nướng sơ thì chất béo vào cơ thể sẽ là gốc chất béo tự do, tốt hơn cho động mạch của bạn.

   Theo Vũ Thủy (dailymail.co.uk)
Không chỉ giúp làn da bạn luôn tươi trẻ, loại quả này còn góp phần làm sáng mắt, chống suy nhược thần kinh, thậm chí giảm béo.

Ruột và hạt bí đỏ chứa nhiều vitamin E, một chất chống ôxy hóa tự nhiên giúp củng cố hệ miễn dịch, ngăn ngừa sự xuất hiện những nếp nhăn sớm, bảo vệ da khỏi lão hoá và cải thiện chức năng hệ tim mạch.
Trong bí đỏ còn có mannitol, chất nhuận tràng, chống táo bón. Bí đỏ khi còn non giúp nhuận tràng mạnh hơn bí chín. Đọt bí đỏ cũng có tác dụng này do chứa nhiều chất xơ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bí đỏ chứa nhiều acid amin và các khoáng chất như cobalt, sắt, kẽm, canxi, phospho, kali, vitamin A, B, C, E, acid folic, pectin. Vitamin A trong bí đỏ giúp thị giác ở trẻ em phát triển, chống các bệnh quáng gà, khô mắt.

Đặc biệt, trong bí đỏ có acid glutamic, một chất quan trọng bồi dưỡng thần kinh, tăng phản ứng chuyển hoá giữa các tế bào thần kinh và não, do đó hạn chế tình trạng chậm phát triển về trí óc ở trẻ em và suy nhược thần kinh ở người lớn.

Theo nghiên cứu mới của Nhật Bản và Trung Quốc, bí đỏ giúp phòng chữa các bệnh của thời đại công nghiệp như căng thẳng thần kinh, đau đầu, phòng bệnh tim mạch, giảm béo.

Hạt bí đỏ chứa nhiều carofenoid, một chất giúp phòng ngừa đục thuỷ tinh thể, bệnh tim mạch. Ngoài ra, hạt bí đỏ còn chứa một hoạt chất giúp phòng ngừa và điều trị rối loạn lipid máu, làm chậm tiến triển bệnh xơ vữa động mạch.


Theo Đất Việt
Cách đây vài năm một tổ chức tim mạch của Anh đã khuyến cáo không nên ăn quá 3 quả trứng mỗi tuần.

http://210.86.231.15/portal/images/Share/170809hang4.jpg

Các nhà khoa học vừa phát hiện ra chất đạm của các sản phẩm từ trứng có tác dụng giống một số thuốc hạ huyết áp. Và món trứng rán đặc biệt có lợi cho sức khỏe.

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Alberta ở Canada đã chứng minh được khi trứng kết hợp với các enzym trong dạ dày sẽ sản sinh ra một loại đạm có tác dụng giống hệt một số loại thuốc ức chế hoạt động của enzym chuyển hóa Angiotensin, một loại chất có khả năng làm hẹp mạch máu.

Kết quả nghiên cứu này được đưa ra chỉ vài ngày sau khi các nhà dinh dưỡng học kết luận chất đạm của trứng có vai trò không đáng kể trong việc làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Cách đây vài năm một tổ chức tim mạch của Anh đã khuyến cáo không nên ăn quá 3 quả trứng mỗi tuần. Nhưng mới đây một tổ chức dinh dưỡng cũng của Anh lại công bố kết luận cho rằng chất đạm tìm thấy trong trứng là chất béo đã được bão hòa chứ không phải cholesterol, thủ phạm chính của các loại bệnh liên quan đến tim mạch.

Giáo sư Bruce Griffin thuộc đại học Surrey cho biết: “Quan niệm sai lầm cho rằng trứng làm tăng cholesterol trong máu cũng như làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch cần phải được cải chính. Chúng ta không cần phải hạn chế khẩu phần trứng mỗi tuần nữa. Trứng là một món ăn có lợi cho sức khỏe vì nó là một trong những món ăn tự nhiên dinh dưỡng nhất”.

Theo TTVH/Giadinh.net


Cây lạc là cây ra hoa trên mặt đất nhưng lại đâm tia xuống đất để hình thành quả (mà ta thường gọi là củ lạc) nên cây cần có đất tơi, xốp, thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt để việc đâm tia được thuận lợi, và thu hoạch được dễ dàng.

Cây lạc rất mẫn cảm với đất mặn nhưng lại chịu được một giới hạn rộng của độ pH đất. Tuy nhiên giới hạn thích hợp nhất của độ pH cho cây lạc là đất trung tính hoặc chua nhẹ. Trong trường hợp pH đất < 5 hoặc nghèo canxi cây dễ bị ngộ độc mangan và nhôm.

Ở nước ta cây lạc được trồng chủ yếu ở những chân đất xám bạc mầu trên phù sa cổ, đất phù sa có thành phần cơ giới nhẹ, số ít được trồng trên đất đỏ bazan... Loại đất này rất thích hợp về mặt lý tính cho cây lạc, nhưng lại nghèo dinh dưỡng. Chính vì vậy trong nghề đã được truyền bá câu phương ngôn: “Không lân, không vôi, thì thôi trồng lạc”.

Ở mỗi vùng, địa phương đều đã có quy trình sản xuất lạc, trong đó đã nói đến việc bón bao nhiêu phân chuồng, bao nhiêu vôi, bao nhiêu phân NPK, và bón vào lúc nào. Chúng tôi chỉ muốn phân tích thêm một số yếu tố dinh dưỡng mà nếu không quan tâm đúng mức sẽ gây ra những khác biệt, hoặc không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của cây lạc.

Nguyên liệu cung cấp canxi cho cây lạc và nâng cao pH đất chủ yếu được nhắc đến là vôi. Nhưng nếu sử dụng vôi không đúng cách sẽ có một số khiếm khuyết sau:

Nếu bón quá nhiều vôi sẽ gây hiện tượng thiếu sắt (Fe) và Bo (B) cho cây lạc, và đây cũng là vấn đề thường gặp phải trong sản xuất.

Bón vôi và phân NPK nếu không quan tâm đến lưu huỳnh (S) trong thành phần phân bón khiến cây lạc giảm năng suất và chất lượng hạt.

Cây lạc là cây trồng cần rất nhiều đạm để hình thành thân lá và sản phẩm quả, hạt. Người ta thấy rằng 1kg đạm (N) chỉ hình thành được 36kg thân, lá, củ lạc (biomass), trong khi cũng 1kg N lại có thể hình thành được tới 120kg thân lá cây cao lương. Chính vì vậy các bộ phận thân, lá, củ của cây lạc có giá trị dinh dưỡng rất cao so với các cây hòa thảo khác. Tuy vậy, nhờ khả năng cố định đạm của nốt sần rễ cây nên phần lớn nhu cầu N của cây (khoảng 80%) đã được cây tự đáp ứng nếu việc hình thành nốt sần xảy ra bình thường. Trong nhiều trường hợp nốt sần rất khó hình thành, như trồng lạc trên đất mới, trên đất sau khi trồng lúa nước v.v. Trong trường hợp như vậy ta phải có giải pháp xử lý hạt bằng các chế phẩm vi sinh rhizobium và mycorrhizae, hoặc phải tăng lượng cung cấp phân đạm trực tiếp cho lạc nếu không có điều kiện xử lý.

Một vấn đề khác, đặc tính cây lạc là hấp thu canxi chủ yếu bằng củ khi củ đang lớn, nên việc bón vôi cho cây phải bón vào vùng quanh gốc cây (vùng tia lạc đâm xuống) thì cây mới hấp thu dễ dàng, vì canxi trong đất rất khó di chuyển. Thiếu canxi củ lạc sẽ bị ốp (tức củ rỗng) và mất năng suất.

Lưu huỳnh (S) giúp cây chống lại các bệnh nấm và tăng hàm lượng protein trong hạt. Trong thành phần phân bón phải tính đủ lượng S cho cây. Có thể dùng các loại phân có chứa S như super lân, phân đạm SA hay dùng canxi dưới dạng thạch cao để bón. Lượng lưu huỳnh phải đạt khoảng 30-50kg S/ha.

Một số trường hợp cây lạc có thể bị thiếu sắt gây bệnh bạc lá, nhưng ít gặp ở nước ta, nếu ta không bón quá nhiều vôi. Nếu gặp trường hợp này có thể khắc phục bằng cách phun sắt sulfat (FeSO4.7H2O) cho cây với nồng độ khoảng 0,2%, hoặc dùng loại chế phẩm phân bón lá giầu sắt để phun. Trong trường hợp thiếu sắt kiểu này có thể kèm theo việc thiếu Bo (B), nên phun kèm với Bo để khắc phục sự cố này. Dùng borax pha khoảng 10g/bình 10 lít để phun.

Theo nongnghiep.vn
Y học cổ truyền đã nghiên cứu đưa ra kết luận có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh thận hư, liệt dương… là do chế độ ăn uống, làm việc, sắc dục quá độ khiến thận tinh hư kiệt làm khí suy, sinh ra liệt, hoặc mất khả năng tự chủ, tinh tiết sớm…

http://www.tienphong.vn/tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=218058

Dưới đây là một số bài thuốc chữa trị những chứng bệnh yếu sinh lý do các lương y cung cấp.

Bác sỹ Bùi Thế Khoa - Trưởng phòng chẩn trị Đông y (cơ sở tại Hà Nội) của Tập đoàn Y dược Bảo Long:

“Trước hết, nếu phân chia theo lứa tuổi, thì từ 18 đến 35 tuổi thường hay gặp chứng xuất tinh sớm, di mộng tinh.

Qua thực tế thăm khám, chúng tôi gặp một số trường hợp chất lượng “tinh binh” yếu, nghĩa là số lượng “tinh binh” trong một mililít tinh dịch giảm, về chất lượng thì chất lượng “tinh binh” không được khoẻ.

Lứa tuổi này hay gặp các chứng trên, là do thận âm không vững. Vì thận âm là thận gốc, nên sinh hoạt nó nhanh “xuất binh”, có khi nằm ngủ thì di tinh, “tinh binh” tự chảy ra, khiến người rất mệt mỏi.

Người ở lứa tuổi trung niên thường hay gặp nhu cầu sinh lý giảm, có khi một tuần có người chẳng có nhu cầu gì về sinh lý. Trường hợp này là cả thận âm và thận dương đều suy giảm, nên phương pháp điều trị là bổ thận âm lẫn bổ thận dương.

Với những người cao tuổi, thường rơi vào trạng thái mất ngủ, nhiều người hay mệt mỏi, sinh ra hay cáu gắt. Sinh hoạt vợ chồng phần lớn là giảm, không có nhu cầu sinh lý nhiều.

Một số trường hợp bị “liệt” hẳn, không cương cứng được. Nếu có quan hệ vợ chồng thì thời gian sinh hoạt rất ngắn. Những trường hợp này là rơi vào lý do, do cả thận âm và thận dương đều suy giảm. Mặt khác, do rơi vào chứng tâm thận bất giao.

Theo quy luật ngũ hành, khi thận thủy suy giảm không chế ngự được tâm hỏa, thì tâm hỏa (tâm dương) nó bốc lên, thì mới gây cho người ta đau đầu, mất ngủ, ù tai.

Đông y phải giải quyết bổ thận thuỷ, tả (hạ) tâm hỏa xuống, lập lại cái thế thăng bằng, tâm thận giao thông với nhau, lúc đó mới giải quyết bổ thận âm, rồi bổ thận dương để chữa chứng “bất lực”, hay chữa chứng “xuất binh” sớm, chữa thời gian sinh hoạt ngắn…

Theo tôi, một người có thận tốt, khỏe mới sản sinh ra được nhiều tinh dịch, nhiều tinh trùng, chất lượng “tinh binh” khỏe…

“Bất lực” là do thận suy giảm. Muốn chữa trị, thì phải tìm ra nguyên nhân. Nguyên nhân nào thì theo đó mà chữa trị cho bệnh nhân đó. Nếu do thận suy, có bài thuốc thang, đó là Lục vị (bổ thận âm), Bát vị (bổ thận dương) và gia giảm.

Bài thuốc thang uống kết hợp với thuốc bổ thận hoàn (của Bảo Long) thì rất tốt. Thông thường thời gian điều trị trung bình từ 20 đến 30 ngày.

Những người thuộc nhóm tuổi trẻ, nếu yếu sinh lý thì uống sáu thang thuốc đầu trong vòng một tuần sẽ cải thiện, sau đó uống tiếp. Với người mắc chứng “bất lực” không thể uống 15, 20 thang, mà khoảng 30 thang. Có những trường hợp phải trên 30 thang, do “liệt” lâu rồi.

Bệnh nhân phải kiên trì, phải có lòng tin ở thầy thuốc, điều trị mới có kết quả. Tôi cũng khuyên các bạn nên sống vui vẻ, không bi quan nhiều về chứng bệnh mình mắc phải.

Với những người có sức khỏe tình dục khỏe mạnh hãy nên sống lành mạnh, biết giữ gìn. Không nên lãng phí, “vung vãi của cải”, sinh hoạt bừa bãi quá. “Nó” cũng như một cái máy, nếu bắt tải nhiều quá “nó” sẽ suy giảm”.    

Bác sỹ Lê Đình Yên - Phó chủ nhiệm Khoa Dưỡng sinh khí công - xoa bóp - bấm huyệt, kiêm Phó khoa Vật lý trị liệu - Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam:

“Đông y cho rằng, “giống nào nòi đó”, thận tốt là trí tuệ tốt. Và thận chủ về sinh dục, tiết dục. Thận khỏe mạnh bình thường là sinh lý bình thường, sinh con đẻ cái tốt. Khi thận có bệnh là sinh lý không bình thường, có thể yếu sinh lý, và dẫn đến thiểu năng sinh dục.

Muốn giữ gìn sinh lý tốt, người đàn ông không được sinh hoạt bừa bãi, uống rượu như uống nước lã, say rượu cũng nhập phòng, nhập phòng vô điều độ, làm mất tinh khí.

Không biết giữ cho tinh khí đầy đủ, làm mệt tinh thần bất cứ lúc nào để thỏa mãn dục vọng; sinh hoạt, nghỉ ngơi không có giờ giấc, trái với phép dưỡng sinh, nên mới tuổi 30, 40 đã suy yếu sinh lý.

“Nam tích tinh như tích ngọc/ Nữ tích khí như tích tặc”. Cho nên, người đàn ông muốn khỏe về sinh lý, phải: “Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần/ Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”.

Để chữa chứng yếu sinh lý, có hai phương pháp có thể áp dụng, đó là tác động vào cột sống và dùng bài thuốc nam của cố Lương y Nguyễn Kiều - người sáng lập ra trường Y học dân tộc Tuệ Tĩnh, nay là Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam.

Tác động cột sống, day vào đốt sống thắt lưng (L2) và đốt thắt lưng cùng (S1, S2, S3, S4). Day hàng ngày từ 10 đến 15 phút, mỗi ngày một lần.

Bài thuốc của cố Lương y Nguyễn Kiều, gồm: Hạt tơ hồng xanh (Thỏ ty tử) 12g; Xích bạch đồng 20g; Hà thủ ô đỏ 12g; Kê huyết đằng 12g; Ba kích 6g; Cốt toái bổ 20g. Sắc uống ngày hai lần, uống 10 thang đầu, nếu còn thấy “yếu” thì uống tiếp 10 thang nữa”.          

Theo Hồng Phú (Tienphong online)
Khoai tây là một trong những loại thực phẩm rất phổ biến và được sử dụng thường xuyên trong các bữa ăn gia đình. Khoai tây có thể giúp bạn chống lại nhiều bệnh tật, đặc biệt là những bệnh về tim mạch.

Giúp giảm huyết áp

Khoai tây mới luộc cung cấp một lượng kali, đặc biệt là chất khoáng, giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa huyết áp. Bên cạnh đó khoai tây còn tốt cho tế bào, dây thần kinh của cơ thể con người.

http://www.phunuonline.com.vn/amthuc/2009/Picture/Hung/CN30/khoaitay1.jpg

Giảm Cholesterol

Mọi người thường nghĩ cam có chứa một hàm lượng vitamin C nhiều, nhưng ít người biết rằng khoai tây cũng chứa rất nhiều vitamin, khoai tây có thể giúp điều hòa được cholesterol. Nó cũng có thể giúp cơ thề bạn chống lại bệnh dị ứng và một số bệnh khác. Khoai tây giúp xương và răng bạn chắc hơn, đồng thời giúp giảm stress và một số bệnh nhiễm trùng.

Tốt cho những người bị bệnh suyễn, đái đường

Với một hàm lượng vitamin B6 cao có trong khoai tây, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng loại thực phẩm này rất có lợi cho những người bị bệnh suyễn, đái đường và hội chứng thời kỳ tiền mãn kinh.

Ngăn ngừa chứng táo bón và bệnh trĩ

Khoai tây chứa rất nhiều chất xơ, chất này có thể giúp ngăn ngừa cũng như điều trị các bệnh táo bón, bệnh trị

Ngoài ra khoai tây có hàm lượng magiê cao, có vitamin B2, folate, chất sắt và chỉ có 132 calorie.

Theo Tuệ Quân (Theo Healthmad)
THÔNG TIN CHI TIẾT VỀ SẢN PHẨM
K-Liquid Organic Spirulina là đồ uống bổ dưỡng cung cấp năng lượng, tăng cường tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người.
Sản phẩm Spirulina có chứa đến 11 khoáng chất, 4 sắc tố quan trọng, 8 loại axit béo cơ bản và rất nhiều vitamin tự nhiên khác. Đây là một sản phẩm có hàm lượng protein rất cao, giàu năng lượng, chiếm tới 70% lượng dinh dưỡng so với trứng (12%), đậu (35%), thịt bò (17%), sữa (35%), đậu phụ (25%) và ngũ cốc (8 -14%).
Spirulina là một hỗn hợp các chất trong tự nhiên như Diệp lục, Carotine, Phycoyanin và Superoxide Dismutage, trong đó thành phần chính gồm có Cancium, Magie, Sắt, Ph, Natri, Kẽm, Đồng, Crom và các khoáng chất khác. Ngoài ra, trong Spirulina có hàm lượng Beta Carotine cao gấp 10 lần Carôt. Carotine có khả năng chống oxy hoá và đóng vai trò ngăn ngừa các bệnh ung thư cũng như các bệnh liên quan đến tim mạch.
K-Liquid Organic Spirulina là thực phẩm chức năng lý tưởng cho con người ở mọi lứa tuổi và mọi đẳng cấp. Nó rửa sạch mọi tế bào bên trong cơ thể thúc đẩy hệ thống miễn dịch.

Spirulinalà thực phẩm giàu beta-carotene (protein-vitamin A), hơn 10 lần so với càrốt.
Cơ thể người có thể chuyển beta-carotene thành Vitamin A khi cần thiết.
Vitamin A quan trọng trong việc chăm sóc màng mắt và sắc tố mắt.
Beta-carotene làm giảm lượng cholesterol và ngăn ngừa ung thư.
Spirulina là nguồn bổ sung Vitamin B12, B12 quan trọng trong việc sản xuất tế bào hồng cầu, tuỷ sống và phát triển hệ thần kinh.
Nguồn thức ăn từ hệ thực vật nói chung đều không chứa vitamin B12. Những người ăn chay nên sử dụng Spirulina để bổ sung lượng vitamin cần thiết
Hướng dẫn sử dụng:

Mỗi lần uống, pha lẫn 1 gói (15ml) dung dịch vào 250ml nước hoặc các đồ uống khác.
Giấy chứng nhận:
•  K-Liquid Organic Spirulina được Sở Thương mại Hà Nội cấp giấy Đăng ký bán hàng đa cấp số: 01 - 03 - 000006, ngày 14/07/2006.
•  Sản phẩm được Cục An toàn Vệ sinh Thực phẩm cấp giấy Chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm số: 2051/2006/YT-CNTC, ngày 13/06/2006.
Đơn giá: 340.000 VNĐ / 1 sản phẩm
Công dụng :
-Bồi bổ sức khoẻ ,tăng lưc ,cung câp vitamin ,khoáng chất thiêt yếu cho cơ thể
=Dùng cho bệnh nhân có thể trạng yếu và rất yếu cần phục hồi nhanh
-Dùng cho bệnh nhân đang cần chế độ ăn kiêng đăc biệt.
                                Nha phan phoi :Cong ty Phu Hai BG
                               -DT 02403856218 –Fax 02403856218
         -WEB :   http://www.quangcaosanpham.com/shop/thuocqui
          Emall : thacsythienquang@yahoo.com.vn
Chi tiêt thêm ve san pham
Đây là một loại vi sinh vật có hình xoắn sống trong nước mà người ta quen gọi là Tảo xoắn với tên khoa học là Spirulina platensis. Thực ra đây không phải là một sinh vật thuộc Tảo (Algae) vì Tảo thuộc nhóm Sinh vật có nhân thật (Eukaryotes). Spirulina thuộc Vi khuẩn lam (Cyanobacteria), chúng thuộc nhóm Sinh vật có nhân sơ hay nhân nguyên thủy (Prokaryotes). Những nghiên cứu mới nhất lại cho biết chúng cũng không phải thuộc chi Spirulina mà lại là thuộc chi Arthrospira. Tên khoa học hiện nay của loài này là Arthrospira platensis, thuộc bộ Oscilatoriales, họ Cyanobacteria (http://www. cyanotech.com/ spirulina/ spirulina_specs.html)
 Phân tích các viên nén Spirulina thường được sản xuất tại Hawaii người ta nhận thấy hàm lượng protein > 52%; beta-carotene> 1600mg/kg; tổng số carotenoids> 3500mg/kg; phycocyanin (thô)> 10% (www.cyanotech.com) . Tỷ lệ từng acid amin trong sinh khối Spirolina được Chen Tiannfeng (Jinan Univ.) xác định như sau (mg/g):Asp-54,12; Glu-81,43; Ser-23,71; Arg-28,17; Thr-32,88; Gly-23,63; Ala-30,49; Pro-17,12; Val-20,81, Met-9,56; SeMet- 0,26; Ile-20,50; Leu-32,70; Phe- 18,87; Cys+CysH- 11,26; Lys-19,82; His- 5,90; Tyr-13,21.
        Nhiều nghiên cứu cho biết sinh khối Spirulina có thành phần calcium spirulan, là chất có tác dụng ức chế sự phát triển nhiều loại virus , kể cả HIV . Sinh khối này còn làm hạ lượng chứa cholesterol trong máu. Thành phần phycocyanin có tác dụng oxy hóa nên làm ức chế độc tố gan hepatotoxin. Spirulina có tác dụng nâng cao tính miễn dịch, nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Nghiên cứu của R. Kozlenko và cộng sự (www.spirulina.com/SPLNews96.html)  đã chứng minh Spirulina có tác dụng ngăn cản sự xâm nhập của virus qua màng tế bào. Các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã chứng minh khả năng ức chế ung thư của sinh khối hay dịch chiết của Spirulina (M.Babu et al., 1995; L.Lisheng et al. 1991; Pang Qishenet al., 1998). Spirulina có tác dụng kích thích sự tăng nhanh các tế bào hồng cầu  bạch cầu và nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể (M.A.Qureshi et al./1995, 1996). Tác dụng phổ biến của việc sử dụng thường xuyên các viên nén Spirulina là giảm khả năng ung thư, nâng cao tính miễn dịch, ức chế virus, chống lão hóa và làm giảm nếp nhăn, làm giảm cholesterrol máu, hạn chế các tai biến về tim mạch...




Dinh dưỡng tốt khi mang thai giữ một vai trò quan trọng giúp bảo đảm sức khỏe cho bà mẹ khi mang thai, khi sinh, và nuôi trẻ sau sinh. Đối với thai, việc mẹ được cung cấp đầy đủ các dưỡng chất sẽ bảo đảm cho thai nhi phát triển tốt và phòng tránh được một số khuyết tật.

Những thay đổi ở phụ nữ mang thai có liên quan đến dinh dưỡng

Khi mang thai, cơ thể người phụ nữ có sự thay đổi trên hầu hết các cơ quan: nhu cầu về năng lượng và các dưỡng chất đều gia tăng, hấp thu ở ruột tăng, thay đổi về chuyển hóa cơ bản, và có một số biểu hiện do sự thay đổi của nội tiết tố trong cơ thể như: chán ăn một hoặc nhiều món ăn, buồn nôn, nôn, ợ nóng, bón. Những thay đổi này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự tăng cân của thai phụ.

http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2009/08/14/a64dinh-duong-khi-mang-thai.jpg

Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của thai phụ

Đánh giá sự tăng cân

Mức tăng cân đủ trong suốt thai kỳ được khuyến nghị tại Việt Nam là từ 10-12kg, trong đó:

- 3 tháng đầu: không tăng cân hoặc tăng ít (1kg).

- 3 tháng giữa: 4-5kg.

- 3 tháng cuối: 5-6kg.

Trong 6 tháng cuối, mỗi tháng tăng ít hơn hoặc bằng 1kg là tăng cân ít.

Tăng cân đủ là một yếu tố giúp xác định thai kỳ khỏe mạnh. Tăng cân ít thường gặp ở các thai kỳ bệnh lý hoặc dinh dưỡng kém.

Thai kỳ tăng cân ít: tăng cân ít trong lúc mang thai thường đi kèm với thai chậm tăng trưởng trong tử cung và tỷ lệ tử vong chu sinh cao.

Thai kỳ tăng cân nhiều: tăng cân quá nhiều khi mang thai sẽ dẫn đến tình trạng béo phì sau khi sinh của mẹ và cân nặng của trẻ sơ sinh cao (>4.000g), từ đó đưa đến những khó khăn khi sinh con như: chuyển dạ kéo dài, khó sinh do vai, sinh mổ, chấn thương khi sinh, ngạt, khi mẹ tăng cân quá nhiều đi kèm với cân nặng của trẻ sơ sinh quá lớn thì cũng cần tầm soát đái tháo đường thai kỳ.

Đánh giá khẩu phần ăn: thai phụ trước tiên phải thực hiện theo “10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý” của Viện Dinh dưỡng Quốc gia (2006 – 2010). Đồng thời xem khẩu phần ăn có tăng so với lúc chưa mang thai hay không? Có uống bổ sung sắt và acid folic đúng thời điểm không?

Nhu cầu dinh dưỡng của thai phụ:

Năng lượng: tổng năng lượng bổ sung cho toàn thai kỳ là 55.000 Kcal, nhằm phục vụ cho việc hình thành một trẻ sơ sinh có cân nặng từ 3-3,4kg, tích tụ 0,9kg protien, 3,8kg mỡ và phục vụ cho các chuyển hóa trong cơ thể thai phụ, cụ thể là mỗi ngày thai phụ cần được cung cấp thêm 350Kcal so với lúc không mang thai.

Chất đạm: các acid amin thiết yếu (histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine) phải được cung cấp đủ trong khẩu phần, vì chúng không thể tổng hợp được trong cơ thể. Thai nhi cần số lượng lớn chất đạm để tăng trưởng và tích tụ protein mới. Lượng đạm tăng thêm được khuyến nghị bởi Viện Dinh dưỡng Quốc gia là 15g mỗi ngày. Nguồn đạm tốt cho thai phụ có trong hầu hết là các thực phẩm dùng hàng ngày: thịt, cá, trứng, sữa, pho-mát, ngũ cốc, các loại đậu…

Tăng lượng đạm là cần thiết để duy trì một thai kỳ thành công.

Chất sắt: thiếu máu do thiếu chất sắt là tình trạng thường gặp ở phụ nữ mang thai (30-50%). Hậu quả của thiếu máu thiếu sắt khi có thai là: kết quả thai kỳ kém (không đạt được mẹ tròn con vuông), trẻ sinh ra nhẹ cân, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng cao ở mẹ lẫn con. Biểu hiện của thiếu máu bao gồm: da xanh, niêm mạc nhợt, cơ nhão, làm việc mau mệt và ưa buồn ngủ.

Sắt là vi chất duy nhất được Tổ chức Y tế Thế giới khuyên nên bổ sung cho phụ nữ mang thai. Liều lượng bổ sung mỗi ngày từ 30-60mg, thời gian bổ sung kéo dài từ khi biết có thai cho đến sau khi sinh 1 tháng. Nên uống viên sắt giữa các bữa ăn với các thức uống không phải là sữa, trà, cà phê.

Thực phẩm giàu sắt bao gồm: các loại thịt, huyết, trứng, gan, tim, các loại rau lá có màu xanh đậm. Sắt có trong thức ăn động vật dễ hấp thu hơn sắt có trong thức ăn thực vật.

Acid folic (vitamin B9): có vai trò quan trọng trong việc phân chia các tế bào, vì vậy ngoài việc tham gia trong quá trình tạo ra tế bào hồng cầu, acid folic còn giữ vai trò quyết định trong việc hoàn thiện ống thần kinh của thai nhi. Hậu quả của thiếu acid folic là khiếm khuyết ống thần kinh gây ra thai vô sọ, thoát vị não - màng não, hở đốt sống, gai đôi cột sống.Vì ống thần kinh của thai nhi được hình thành trong 4 tuần đầu của thai kỳ, nên việc bổ sung acid folic phải được thực hiện ngay từ khi có ý định mang thai cho đến hết 3 tháng đầu của thai kỳ. Liều bổ sung được khuyến nghị là 0,4 0,8mg/ngày. Thực phẩm có nhiều acid folic: thịt bò, gan, giá sống, rau xanh, củ cải, bông cải, đậu nành… Nhưng cần lưu ý là acid folic rất dễ bị hủy bởi nhiệt độ và ánh sáng mặt trời.

Giải quyết những rắc rối thường gặp trong thai kỳ

Buồn nôn, nôn: ăn nhiều bữa nhỏ, không ăn quá no, tránh mùi và các loại thức ăn kích thích nôn ói, giữ tinh thần thoải mái.

Ợ nóng (nóng sau xương ức): ăn nhiều bữa nhỏ, tránh động tác cong người, không nằm ngang, đầu thấp.

Táo bón: duy trì thói quen đi tiêu đúng giờ, ăn nhiều rau, trái cây, uống nhiều nước (trên 2 lít mỗi ngày).

Biếng ăn: ăn nhiều bữa, tạo điều kiện để thai phụ được ăn những món mà họ ưa thích.

Phù: hạn chế đứng nhiều, ngồi nhiều, giảm ăn mặn, nằm, đặc biệt là nằm nghiêng giúp giảm phù.

Trĩ: tránh táo bón, tránh đứng nhiều, nên nằm nghiêng, kê chân cao khi nằm.

Thai kỳ có yếu tố nguy cơ

Những thai kỳ có yếu tố nguy cơ dễ có diễn tiến bất lợi cho mẹ và con, vì vậy cần có sự hướng dẫn, chăm sóc trực tiếp từ bác sĩ. Những yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi dưới 18, chiều cao dưới 145cm, đã sinh trên hoặc bằng 4 lần; những thai kỳ trước có diễn biến bất thường như: băng huyết, sản giật, sinh khó, sinh mổ, con chết tuần đầu sau sinh…; đang có bệnh (tim, phổi, thận), thai kỳ hiện tại có những biểu hiện “bất thường” về tuổi thai, cân nặng mẹ, chiều cao tử cung, ngôi thai, xuất huyết âm đạo….

BS. NGUYỄN VĂN TÚ

Xử trí tăng cân ít khi mang thai:

Tăng năng lượng ăn vào bằng cách: ăn nhiều bữa, ăn các thực phẩm có đậm độ năng lượng cao như: dầu, mỡ, các thức ăn chiên, xào, thức ăn ngọt. Chủ động tránh những thức ăn có mùi khó chịu gây kích thích nôn ói, chuẩn bị sẵn những thức ăn ưa thích, dễ ăn.

Sử dụng các thực phẩm bổ sung: sữa dành cho các bà mẹ mang thai.

Thuốc bổ sung các dưỡng chất: các thuốc được sản xuất bổ sung cho thai phụ thường có thành phần dưỡng chất đạt dưới hoặc bằng 100% nhu cầu khuyến nghị hàng ngày cho phụ nữ mang thai, việc bổ sung mỗi ngày 1 viên không gây ngộ độc.

Theo suckhoe&doisong
Theo y học cổ truyền, rau muống có vị ngọt, tính hơi lạnh (nấu chín thì giảm lạnh). Công dụng thanh nhiệt, thông đại tiểu tiện, giải tất cả các chất độc xâm nhập vào cơ thể. Rau muống có nhiều tính năng và tác dụng trong phòng và chữa bệnh. Xin giới thiệu một số công dụng dễ thực hành:

Rắn cắn, ong chích: lấy rau muống tía bảy ngọn giã nhuyễn, vắt nước uống, bã đắp vào vết cắn.

Rôm sẩy, mẩn ngứa ở trẻ em: dùng nước nấu rau muống xoa, rửa, tắm.

http://www.sgtt.com.vn/HTMG/2009/0811/55411/01.jpg

Đau dạ dày, ợ chua, miệng khô đắng: rau muống 20g, rau má 20g, rau sam 16g, cỏ mực 20g, vỏ quýt khô 12g. Tất cả sao qua, cho vào ấm, đổ 500ml nước, sắc còn 250ml, chia hai lần uống lúc đói.

Ngộ độc thức ăn: giã rau muống tươi lấy nước cốt uống ngay. Đây là kinh nghiệm dân gian đã được ghi lại trong nhiều sách thuốc. Ngày nay, chỉ nên dùng phương pháp này để sơ cứu tức thời nhằm hạn chế độc tính, sau đó phải đưa bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu gấp.

Chảy máu cam, ho nôn ra máu, tiêu tiểu ra máu: giã rau muống, uống nước cốt hoặc thêm đường hay mật ong.

Lương y Minh Chánh (hội Y học cổ truyền dân tộc) - sgtt.com
Theo y học cổ truyền, lươn được coi là một vị thuốc tốt dùng chữa bệnh và bồi bổ cơ thể. Theo Đông y, lươn vị ngọt, tính ôn, có tác dụng bổ khí dưỡng huyết, ôn dương, ích tỳ, bồi bổ can thận, làm mạnh gân cốt, khử phong thấp, thông kinh mạch được dùng chữa các chứng lao lực, ho hen, tiêu khát, gân xương đau nhức, đau lưng, cơ thể suy nhược.

Sau đây là bài thuốc sử dụng

- Súp lươn sâm quy: Bài thuốc này có tác dụng bổ khí huyết, chữa suy nhược, thiếu máu, xanh xao mệt mỏi. Lươn 500g, đảng sâm 15g, đương quy 15g, rượu, hành, gừng, mì chính, muối, dầu mỡ vừa đủ.

Cách chế biến: Mổ lươn phía lưng, lọc bỏ xương, ruột; chặt bỏ đầu đuôi thái sợi dài. Sâm, quy bọc trong túi vải, buộc chặt, cho vào nồi; cho thịt lươn, rượu, gừng, nước vừa đủ. Đun sôi, hớt bỏ váng rồi để lửa nhỏ đun khoảng một giờ nữa, vớt bỏ túi thuốc, thêm mì chính, gia vị theo ý thích. Ăn xúp với cơm.

- Canh lươn đậu đen, hà thủ ô: Bài thuốc này có tác dụng ích can thận, chống lão suy, tóc bạc, đau lưng, làm sáng mắt: Lươn 90g, đậu đen 90g, hà thủ ô chế 9g, gừng tươi 2 lát, táo đỏ vài quả.

Lươn có thành phần dinh dưỡng rất cao. Trong 100g thịt lươn chứa 12,7g chất đạm, 25,6g chất béo tổng cộng (trong đó có 0,05g cholesterol) và 285 calo. Ngoài ra, thịt lươn còn chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất như vitamin A, B1, B6 hay chứa chất sắt, natri, kali, canxi...

Cách chế biến: Làm lươn sạch, bỏ ruột, để nguyên con. Đậu đen ngâm nước cho nở, rửa sạch. Hà thủ ô, gừng tươi, táo đỏ đều rửa sạch. Cho tất cả vào nồi, đổ nước vừa đủ, nấu to lửa cho sôi sau đó ninh lửa nhỏ khoảng 3 giờ, cho gia vị vừa đủ. Ăn nóng.

http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2009/08/13/063luon-vi-thuoc-bo.JPG

- Canh lươn: (dùng cho bệnh nhân đái tháo đường) Bài thuốc này có tác dụng nhuận phế, thanh nhiệt, dưỡng âm thích hợp với người bệnh đái tháo đường: Lươn 200g, bắc sa sâm 10g, bách hợp 10g, gừng, gia vị vừa đủ.

Cách chế biến: Làm lươn sạch, bỏ ruột, bỏ xương, cắt đoạn nhỏ, cho gừng sống vào, đun sôi rồi cho sa sâm, bách hợp vào, giảm nhỏ lửa đun độ nửa giờ nữa là được. Dùng canh này ăn trong bữa cơm.

- Chữa trẻ em bị cam tích: Lấy 50g thịt lươn vàng xắt thành khúc, cho thêm hương nhu với một lượng vừa phải, hầm rồi dùng. Hoặc lấy 1 con lươn vàng mổ bỏ nội tạng, xắt thành khúc cho vào trong một cái bát cho thêm 10g mề gà (kê nội kim) với một lượng nước vừa phải nấu chín, cho thêm gia vị ăn 1-2 lần trong ngày, ăn liên tục 5-7 ngày.        

Bác sĩ  Trần Thị Hải (Suckhoe&dôisong)
Là một loại thực phẩm quý giá, có nguồn gốc từ châu Âu, măng tây chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Hiện măng tây đã được trồng tại Việt Nam và đang dần trở thành loại thực phẩm phổ biến.

Măng tây – món ăn quý tộc

Măng tây là một bộ trong lớp thực vật một lá mầm, có tên khoa học là Asparagus. Loại cây này được du nhập vào Việt Nam cách đây hơn 50 năm và hiện đang được trồng rộng rãi tại một số tỉnh phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng) và khu vực Đông Nam Bộ ( TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng …).

http://www.phunuonline.com.vn/amthuc/2009/Picture/Hung/CN30/mangtay.jpg

Măng tây được chia thành 2 loại:

- Măng tây xanh: dễ trồng, dễ thu hoạch, song giá trị thương phẩm không cao.

- Măng tây trắng: có chất lượng cao nên được người tiêu dùng ưa chuộng.  Ngoài ra, măng tây trắng cũng cho năng suất thu hoạch cao hơn so với măng tây xanh nên được các nhà sản xuất ưu ái đầu tư.

Về dinh dưỡng, măng tây có hàm lượng dinh dưỡng cao. Ngoài chất xơ, đạm, glucid, các vitammin K, C, A, pyridoxine (B6), riboflavin (B2), thiamin (B1), acid folid, gần ¼ khối lượng trong 100g măng tây là các chất khoáng cần thiết cho cơ thể con người như: kali, magnê, canxi, sắt, kẽm...

Măng tây đa lợi ích

Phụ nữ đang thời kỳ mang thai nên dùng măng tây thường xuyên vì chất acid folic trong măng tây rất tốt cho sự phát triển của bé. Khi bé đã chào đời, măng tây cũng giúp các bà mẹ có nguồn sữa dồi dào.

Ở phụ nữ đang trong độ tuổi trưởng thành, măng tây giúp kinh nguyệt điều hòa, khí huyết lưu thông.

Với lượng khoáng chất: kali, canxi, magne …dồi dào, măng tây là liều thuốc giải độc tốt cho cơ thể, đồng thời giúp ngăn ngừa những bệnh liên quan đến tiêu hóa như: đau dạ dày, sỏi thận, ung thư bàng quang, đau ruột kết.

Bên cạnh đó, có một dược tính của món ăn này đã được người cổ đại phát hiện và khám phá: măng tây được coi là liều thuốc thiên nhiên rất hữu hiệu cho đời sống tình dục. Theo nghiên cứu của những nhà khoa học Nhật Bản, đọt măng tây sẽ khiến "bản lĩnh của cánh mày râu" được cải thiện đáng kể. Ngoài ra, rễ măng tây đun sôi cùng sữa sẽ chữa bệnh loãng tinh trùng ở nam giới, giúp tăng khả năng thụ thai cho các cặp vợ chồng.

Chọn lựa và chế biến

Các bà nội trợ lưu ý, để món ăn được ngon, nên chọn mua măng tây tươi. Măng tây cần chọn cọng nhỏ, ngắn, mập mạp. Khi mua về, rửa măng tây sạch, để ráo nước, bào vỏ, bỏ bớt phần cứng của cuống măng, cắt làm đôi hoặc chẻ mỏng. Nếu dùng măng đóng hộp cũng nên cắt đôi để khi chế biến, gia vị sẽ thấm đều vào măng, tạo độ đậm đà cho món ăn.

Măng tây có vị ngọt, ngon, khi được chế biến có mùi thơm, rất mềm. Có thể chế biến măng thành nhiều món ăn, tùy theo khẩu vị và sở thích của mỗi người như: măng tây trộn salad, măng tây xào giòn, măng tây xào thịt bò sốt mù tạt, lườn gà cuộn măng tây, gỏi măng tây, mực trộn măng tây …

Tại TP Hồ Chí Minh, măng tây đã được bán rộng rãi trong các siêu thị và các chợ lớn. Tuy giá cả cao hơn những thực phẩm thông thường, nhưng với lợi ích của nó, măng tây đang dần trở thành món ăn ưa thích của nhiều gia đình.

Theo Thụy Lâm (Phunu)

Cà tím tốt cho tim

2009/08/12    12:36    {entryviewsnum}    Dinh dưỡng Ko chỉ định
Cà tím (tên bình dân là cà dái dê) thuộc họ cà, được dùng như một loại thực phẩm. Tuy nhiên, loại trái này còn có một lợi ích lớn mà có thể bạn chưa biết: là liều thuốc hữu hiệu để trị những bệnh tim mạch và bệnh về đường tiêu hóa.


Công dụng của cà tím

Cà tím là “mỏ” kali dồi dào – một nguyên tố giúp ích cho quá trình bình ổn nhịp đập của tim, giảm huyết áp cao, giúp loại trừ các độc tố và cholesterol thừa trong cơ thể. Chính vì đặc điểm này mà cà tím là món ăn cần thiết trong thực đơn ăn uống nếu cơ thể bạn có những vấn đề về tim mạch.

Đây cũng là một loại thực phẩm có ích cho máu vì có chứa đồng, sắt, những chất giúp bạn có làn da hồng hào, khỏe mạnh.

Cà tím chứa nhiều chất xơ, các vitamin B1, B6 nên cũng là liều thuốc hữu hiệu để chữa những bệnh liên quan đến tiêu hóa.

Dưới đây là một số công dụng khác của cà tím:

- Ngăn ngừa ung thư: Nước ép cà tím có khả năng ngăn ngừa ung thư. Vì thế, nên dùng nước ép cà tím khi xạ trị và sau phẫu thuật ung thư.

http://tintuconline.vietnamnet.vn/Library/images/13/2009/08/ngay11/catim.jpg

- Chữa phong thấp

- Chữa đau bụng

- Chữa viêm gan vàng da

- Chữa các bệnh về răng, lợi

Các món ăn từ cà tím

Các bà nội trợ rất ưa chuộng cà tím, vì nó có thể chế biến thành nhiều món ăn. Phổ biến và đơn giản nhất là món cà tím bung:

- Nguyên liệu gồm thịt heo, đậu phụ, cà chua, mẻ, nghệ và những gia vị khác.

- Cách làm: Rán sơ cà tím, để riêng. Chiên thịt, nêm gia vị, nước mắm. Sau đó, cho cà chua vào thịt, thêm nghệ, mẻ, nước rồi om cho thịt mềm. Tiếp đó, đổ cà tím và đậu phụ chín vào đun sôi rồi thêm các loại rau trước khi bắc xuống.

Ngoài ra, bạn có thể chế biến cà tím cùng thịt bằm, bọc pho mát, xào với thịt bò hoặc rau cần, rau húng… để thực đơn của gia đình bạn phong phú hơn.

Theo Phụ Nữ (báo Tuyenquang)
Những thực phẩm đơn giản hàng ngày có thể ngăn ngừa, chữa trị rất nhiều bệnh tật, kể cả bệnh nan y.

http://www.xaluan.com/images/news/Image/2009/08/11/1250038147.img.jpg

* Ăn tươi hàng ngày giúp ngăn ngừa tóc bạc sớm.

* Lá cây rau mùi vắt nước, trộn với nước nóng và uống trước khi đi ngủ có thể chữa khỏi bệnh khó ngủ

* Uống nước chanh trộn với nước gừng sẽ giảm dư axit trong dạ dày hay khó tiêu. Cây bạc hà cũng là vị thuốc giúp tiêu hóa rất tốt.

* Ăn tỏi sống khi đói sẽ làm giảm huyết áp và cholesterol một cách đáng kể.

* Vài lá cỏ cari vào thức ăn hàng ngày sẽ rất tốt cho bệnh thiếu máu.

* Tỏi luộc với sữa tươi uống hàng đêm sẽ giảm triệu chứng hen suyễn.

* Nước gừng trộn với mật ong và nước chanh sẽ giảm bớt cảm lạnh.

* Cà chua đã nấu chín cung cấp một nguồn lycopene dồi dào để giảm cả nguy cơ ung thư tuyến tụy và ung thư ruột.

* Tỏi đóng vai trò làm tác nhân kháng nấm, kháng virus, kháng khuẩn,chống oxy hóa.  

* Thức uống có tiềm năng nhất trong việc chống oxy hóa là nước xoài, nước lựu, nước bưởi, việt quất, mận, mâm xôi, chocolate, trà trắng, trà xanh, trà đỏ.

* Trà trắng và trà xanh có khả năng chống oxy hóa cao hơn 200 lần vitamin E và gấp 50 lần vitamin C. Trà trắng và trà xanh có thể giảm đường trong máu, huyết áp và cải thiện hệ miễn dịch, làm chậm tiến trình ung thư da.

* Các lọai rau hiệu nghiệm nhất cho bệnh ung thư vú là bông cải xanh, hoa lơ, mù tạc, củ cải, giá đỗ và cải bắp.

Theo Xaluan.com

Rong biển là thức ăn giàu chất dinh dưỡng. Hàm lượng vitamin A trong rong biển cao gấp 2-3 lần so với carrot, hàm lượng canxi cao gấp 3 lần so với sữa bò và lượng vitamin B2 cao gấp 4 lần so với trứng…

Chất béo trong rong biển có tác dụng điều hòa lượng cholesterol trong máu, ngăn chặn bệnh cao huyết áp và tim mạch. Ngoài ra, trong rong biển còn chứa nhiều Iot, vitamin B2, DHA, và một số dưỡng chất khác cần thiết cho sức khỏe thai phụ.

Một số lợi ích của rong biển với thai phụ là:

1. Ngăn ngừa chứng táo bón

Chất cellulose trong rong biển kích thích sự co bóp của ruột, đẩy nhanh quá trình bài tiết, giúp đi tiêu đều đặn. Đồng thời, cellulose còn giảm thiểu những chất gây ung thư đường ruột, phòng ngừa ung thư kết tràng và ung thư trực tràng.

2. Phòng chống dị tật thai

Một số nghiên cứu chứng minh, các chất dinh dưỡng có trong rong biển có tác dụng giúp ngăn ngừa khuyết tật bào thai. Axit align và alignic được tìm thấy trong nhiều loại rong biển, có chức năng ngăn chặn độc tố từ máu mẹ được vận chuyển vào bào thai.

Lợi ích của rong biển với thai phụ, Y tế - thiết bị,

Ăn rong biển không chỉ giảm nguy cơ bị ung thư và còn tránh được những khiếm khuyết về gene. Các nhà khoa học Nhật Bản coi rong biển như vị thuốc chống phóng xạ và độc tố cho cơ thể.

3. Đẹp da, đẹp tóc

Chất dinh dưỡng có trong rong biển có tác dụng giúp da khỏe, đẹp và tăng đàn hồi. Nhiều người mẹ chia sẻ, khi ăn rong biển, tình trạng mụn trứng cá và rạn da khi mang thai được giảm thiểu rõ rệt.

Ăn rong biển cũng giúp cho móng và tóc được khỏe đẹp. Lý do vui là khi ấy, bạn không còn phải lo lắng chuyện dưỡng tóc trong thai kỳ hoặc nguy cơ ảnh hưởng từ thuốc dưỡng tóc đến bé.

4. Ngăn ngừa chảy máu chân răng

Vitamin C có trong rong biển là chất cần thiết cho sự trao đổi chất của tế bào, thúc đẩy sự hình thành collagen trong cơ thể, giúp ngăn chặn tình trạng chảy máu chân răng - dấu hiệu dễ gặp khi mang bầu.

Theo 24H.COM.VN (Me&be)
Thực hiện các chế độ ăn uống hợp lý trước, trong và sau các trận đấu sẽ giúp các VĐV quần vợt đạt được hiệu quả cao trong thi đấu. Sau đây là một số lời khuyên từ các chuyên gia dinh dưỡng ở Mỹ.

Ngày trước trận đấu

Cần tăng cường lượng glycogen dự trữ trong cơ thể bởi nó sẽ giúp bạn giữ được năng lượng trong nhiều giờ. Mỳ kem gà, đậu sốt, bò hầm rau và cơm là những món ăn lý tưởng nhất. Đừng ăn bất kỳ loại thực phẩm lạ nào cả bởi vì rất có thể bạn không tránh khỏi những lo lắng trước mỗi cuộc so tài, và như vậy sẽ ảnh hưởng tới hệ tiêu hoá, khiến bạn bị đau bụng.

Ngày diễn ra trận đấu

Ăn hai hoặc ba giờ trước mỗi trận đấu, chủ yếu là các thức ăn có nhiều carbonhydrat kèm protein. Đây là một dạng dự trữ năng lượng cho cơ thể, nhằm tăng khả năng di chuyển. Một bữa ăn với 400 g calorie là lý tưởng, nếu bạn có khả năng tiêu hoá hết. Trong số này phải có những thực phẩm chứa nhiều carbonhydrat như cháo yến mạch hoặc sữa. Khi thi đấu, thức uống duy nhất mà bạn cần là nước. Với những bữa ăn nhẹ, hãy chọn chuối hoặc vải. Ngoài ra, cũng còn có một số thực phẩm khác có thể nhanh chóng giúp bạn lấy lại năng lượng mà không ảnh hưởng tới khả năng tiêu hoá phù hợp từng địa phương.

Ngày sau trận đấu

Trong vài tiếng đồng hồ đầu tiên sau một trận đấu căng thẳng, điều quan trọng nhất là hãy bổ sung protein. Cố gắng ăn một miếng bánh sandwich, gà hoặc cá. Những thực phẩm như bắp cải, xúp lơ xanh hay đậu... đều lý tưởng và phù hợp với sự lựa chọn của bạn. Và nên nhớ, ăn càng sớm, càng tốt.

Giữa những trận đấu trong một giải

Nếu bạn phải chơi hai trận đấu liên tục trong một ngày, cố gắng ăn một vài lát bánh mỳ có kẹp một chút bơ lạc và mứt hoa quả. Protein trong bơ lạc không chỉ giúp bạn lấy lại năng lượng nhanh chóng mà còn có thể duy trì trong một thời gian dài. Chuối cũng là một sự lựa chọn tốt bởi đây là một loại hoa quả rất có ích cho hệ tiêu hoá. Cam, quýt hay táo có thể khiến bạn bị đau bụng, nhưng chuối thì không.

Khi bạn không hài lòng với năng lượng mà cơ thể đang có?

Cà phê là sự lựa chọn tốt nhất. Đây là loại nước uống kích thích hợp pháp được sử dụng rất thông dụng trên thế giới, lại có thể sử dụng nhanh chóng và dễ dàng, đem lại cho bạn cảm giác thoải mái. Nếu thích, bạn cũng có thể thử những sản phẩm nước uống tăng lực có chứa caffein như Red Bull hoặc Amp. Các công thức caffein trong những sản phẩm này sẽ có hiệu lực trong 15 phút sau đó và còn kéo dài vài giờ sau. Nhưng có một điều bạn cần phải nhớ, quá nhiều caffeine sẽ khiến cơ thể bạn mất nước nhanh chóng và đau bụng.

Tăng cường protein sau trận đấu

Sau một buổi tập nặng hay một trận đấu căng thẳng, cơ bắp của bạn cần phải bổ sung protein để phục hồi. Dưới đây là một công thức được Hiệp hội Dinh dưỡng Mỹ đưa ra. Hãy cho tất cả những thành phần dưới đây vào một bát to và trộn đều. Bạn cũng có thể sử dụng máy đánh trứng. Hãy cất trong tủ lạnh nếu bạn muốn sử dụng trong vài ngày sau:

- 1/2 cốc bơ lạc

- 1/2 cốc sữa chua không chất béo

- 2 tép tỏi băm nhỏ

- 2 thìa cà phê đường

- 2 thìa sốt đậu lành không bột ngọt

- 1/2 thìa cà phê dầu vừng

- 1/4 thìa cà phê gừng đã cán nhỏ

- 1/4 thìa cà phê bột tiêu đỏ

- 2 thìa cà phê nước nóng

Dinh dưỡng cho người chơi tennis, Thể thao,

Chuối là thực phẩm dinh dưỡng phù hợp cho các VĐV

Đối với các VĐV nói chung và người chơi quần vợt nói riêng, một chế độ dinh dưỡng phù hợp và đầy đủ sẽ có tác dụng rất tốt. Ngoài ra, bạn cũng cần phải biết những thời điểm thích hợp nhất để cung cấp các thức ăn này cho cơ thể.

Đối với bất kỳ một VĐV quần vợt nào, quá trình thi đấu cũng được chia làm ba giai đoạn: trước, trong và sau trận đấu. Nhu cầu dinh dưỡng, vì thế, cũng khác nhau để họ có thể đạt được một phong độ cao nhất. Nhưng một điều quan trọng khác là bạn cũng cần đa dạng hoá thói quen ăn uống hằng ngày của mình. Với một chế độ dinh dưỡng hợp lý, bạn chắc chắn sẽ thi đấu tốt hơn, có thể tận dụng mọi lợi thế trong các trận đấu.

Theo lời khuyên của một số chuyên gia dinh dưỡng ở Mỹ, một VĐV quần vợt nên áp dụng chế độ ăn uống hằng ngày theo các nguyên tắc dưới đây. Ngoài ra, trong những ngày có giải đấu, bạn cần phải chú ý nhiều hơn nữa.

1. Ăn nhiều hoa quả và rau: Hằng ngày, các VĐV quần vợt nên cung cấp năng lượng cho cơ thể bằng 5 bữa ăn khác nhau, thậm chí nhiều hơn. Trong những bữa ăn này, rau quả là một thực phẩm quan trọng bậc nhất. Chúng cung cấp các chất chống oxy hoá, giúp tăng cường chức năng cho hệ miễn dịch, qua đó giúp cả tinh thần và cơ bắp hoạt động tốt hơn.

2. Ăn nhiều đậu: Đậu cũng là một thực phẩm tốt. Tất cả các loại đậu như đậu đen, đậu xanh, đậu ngự... luôn là sự chọn tốt cho bạn. Chúng đều rất giàu protein để bạn có thể duy trì sức khoẻ trong một thời gian dài.

3. Cần có cả carbohydrate và protein trong bữa ăn sáng: Quá nhiều người chỉ nạp cho cơ thể một ít carbodydrate trong bữa sáng. Chỉ một ít những thực phẩm chế biến từ ngũ cốc không thể nào giúp bạn no nê trong một thời gian dài. Cháo yến mạch tất nhiên sẽ cung cấp cho bạn chất xơ (chúng ta cần ít nhất 5 gram chất xơ cho mỗi bữa ăn), nhưng thêm vào đó, bạn cần bổ sung một số thức ăn có nhiều protein như trứng, sữa tươi hay sữa chua.

4. Ăn protein có hàm lượng cao: Các VĐV cần protein để phát triển cơ bắp. Sự lựa chọn tốt nhất cho bạn là các loại cá, chẳng hạn như cá hồi và cá ngừ. Hai loại này có chứa Omega 3 và acid béo chống viêm nhiễm hữu hiệu, giúp tăng cường khả năng miễn dịch. Những loại thịt có màu đỏ sậm như thịt bò cũng rất tốt bởi các vận động viên cần chất sắt và kẽm để chống lại những căng thẳng thần kinh trong quá trình luyện tập và thi đấu. Tuy nhiên, cần hạn chế hoặc tránh xa humburgers. Loại bánh này rất khó tiêu và tất nhiên, không tốt cho bạn.

5. Uống nhiều nước: Chuyên gia dinh dưỡng khuyên các VĐV nên uống càng nhiều nước càng tốt. Bạn phải uống ít nhất 8 cốc nước mỗi ngày. Thậm chí lượng nước còn nhiều hơn nếu bạn là những VĐV cần cường độ vận động mạnh. Nhưng có một số người cho rằng điều đó có thể khiến bạn no nước. Trên thực tế, một nửa lượng nước cho cơ thể được cung cấp thông qua nhiều loại thực phẩm khác nhau.

Theo 24h.com.vn
Me rừng còn gọi là Chùm ruột núi, tên khoa học Phyllanthus emblica L, thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae. Là loại cây mọc hoang thấy có nhiều tại các vùng rừng núi Việt Bắc và Tây Bắc nước ta.

Cây thường mọc ở chỗ sáng, có chiều cao thông thường từ 5 – 7m, có khi hơn. Lá nhỏ xếp sít nhau thành hai dãy, trông như lá kép lông chim. Ra hoa vào tháng 4 – 5 hằng năm; hoa nhỏ màu vàng mọc thành tán ở nách. Quả thịt, hình cầu to bằng quả táo ta và có khía rất mờ.

http://nongnghiep.vn/Upload/Image/2009/8/10/10082009162219.jpg

Bộ phận dùng làm thuốc là quả, lá, vỏ cây và rễ. Quả thu hái vào mùa đông, dùng tươi hay phơi khô để dành sử dụng dần. Lá thu hái vào mùa hè thu; vỏ và rễ thu hoạch quanh năm, cũng sử dụng tươi hay sấy khô dùng dần.

Đông y cho rằng quả me rừng có vị chua ngọt, hơi chát, tính mát có công năng sinh tân, chỉ khát, lợi tiểu, hạ nhiệt, tiêu viêm, nhuận phế hóa đờm… Ở Ấn Độ cũng sử dụng nó làm thuốc mát, lợi tiểu, nhuận tràng. Còn lá me rừng có vị cay, tính bình, tác dụng lợi tiểu. Rễ cây có vị đắng chát, tính bình với tác dụng thu liễm, hạ huyết áp. Vỏ cây cũng có tác dụng thu liễm. Hoa công dụng làm mát, hạ nhiệt, nhuận tràng.

Ngoài ra ở Ấn Độ còn thấy người ta sử dụng quả me rừng khô để trị xuất huyết, ỉa chảy và lỵ hoặc phối hợp với sắt để trị thiếu máu, vàng da và chứng khó tiêu. Nước lên men của quả me rừng cũng dùng làm thuốc trị vàng da, khó tiêu hay trị ho. Dùng bột nước quả me rừng với dịch chanh trị được lỵ trực khuẩn cấp tính. Khi chích vào quả me rừng, lấy dịch ứa ra của quả đắp ngoài trị viêm mắt. Hạt được sử dụng để trị hen hay viêm khí quản và chứng thiểu năng mật. Thái Lan quả cũng được chế thành thuốc long đờm, hạ nhiệt, lợi niệu, trị tiêu chảy, chống bệnh thiếu vitamine C (scorbut).

Trong đông y cũng được sử dụng đơn độc hay phối hợp như lấy quả me rừng dùng trong trị cảm mạo phát sốt, đau họng, đau răng, miệng khô phiền khát, tiểu đường, thiếu vitamine C. Dùng rễ cây me rừng làm thuốc trị huyết áp cao, đau thượng vị, viêm ruột, lao hạch và cả bệnh bạch huyết. Còn lá me rừng dùng làm thuốc trị phù thũng, viêm da mẩn ngứa, eczema hay dùng ngoài lấy lá nấu nước tắm rửa phòng trị bệnh ngoài da.

Để tham khảo và áp dụng, sau đây xin nêu vài phương thuốc chữa trị các bệnh chứng tiêu biểu.

* Chữa cảm mạo phát sốt: Quả me rừng 10 – 30g, sắc lấy nước uống, chia làm nhiều lần.

* Chữa trị huyết áp cao: Rễ cây me rừng 15 – 30g, sắc lấy nước uống trong ngày.

* Làm lợi tiểu: Lấy 10 – 20g vỏ thân cây me rừng sắc lấy nước uống nhiều lần trong ngày. Hoặc lấy 10 – 20g lá me rừng sắc lấy nước uống. Cũng có thể cho râu ngô, má đề sắc cùng lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

* Trị tiểu đường: Quả me rừng 15 – 20g, ướp với muối ăn và uống hằng ngày.

* Trị nước ăn chân: Lấy quả me rừng giã lấy nước bôi vào chỗ chân bị nước ăn.

* Chữa rắn cắn (chỉ sử dụng khi điều kiện không có y tế hoặc hỗ trợ khi đã được y tế cấp cứu): Lấy vỏ cây me rừng giã pha chút nước ép lấy nước cốt uống còn bã đắp nơi rắn cắn, lấy dây hoặc băng dính băng giữ cho khỏi bị rơi.
Từ lâu, vỏ, rễ, thân, trái, hột, tai hoa hồng (thị đế) đều được chế biến thành vị thuốc độc đáo. Trái hồng chín có tỉ lệ đường cao khoảng 20-25% và các muối khoáng, sắt, canxi, vitamin A, B, C… Thân cây hồng chứa vitamin K cầm máu nhanh. Trái hồng (xanh) chứa chất shibuol là hỗn hợp các chất acid gallic, phloroglaciol. Khi tăng huyết áp đột ngột, chỉ cần nhai nuốt 5gr là huyết áp sớm ổn định. Sau đây là một số đơn thuốc:

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pictures/T5a35745985.jpg

• Thuốc bổ chống suy nhược: Quả hồng khô (10 trái), có thể sử dụng dạng mứt, cho vào 250ml mật ong, 250ml váng sữa bò tươi, đun sôi 10 phút, sau đó để lửa riu riu thêm 15 phút cho vừa quánh đặc. Để nguội, ăn ngày 2 quả (sáng, chiều), liên tục 2 tuần. Ăn lúc đói dễ có kết quả, lên cân cho người gầy, sau mổ.

• Chữa suy nhược sức khỏe, viêm phổi, ho có đàm: 15 trái hồng chín (vừa hái), cắt bỏ tai (5-6 trái), gọt bỏ vỏ, phơi hai nắng, sấy khô trên than hồng. Để nguội, ép dẹp, ngâm vào 2.000ml rượu trắng. Sau 7 ngày uống (trước bữa ăn), mỗi lần 25ml.

• Chữa viêm niệu ở người lớn, trẻ đái dầm: Dùng 4 trái hồng (chín hườm), lấy 20-24 tai (thị đế), sắc nhuyễn, phơi ba nắng (không sao khử thổ), thịt trái hồng ngâm rượu hoặc mật ong uống bồi dưỡng, tai hồng khô sắc trong 200ml nước còn 50ml. Uống 1 lần trước lúc ngủ nửa giờ. Liên tục 3-5 ngày sẽ khỏi.

• Chữa huyết áp cao: 15 trái hồng vừa chín (3 ngày), ép lấy nước cốt, phơi 5 nắng hoặc chưng cách thủy đặc (Đông y gọi là thị tất), vừa làm thuốc chữa cao huyết áp (mỗi khi huyết tăng, ăn 1 muỗng canh 7-10gr), nếu bị xung huyết ở hậu môn (chưa lòi dom) dùng 1 muỗng cà phê (3 lần/ngày), trong 3 ngày .

• Trị tiêu chảy: 3 trái hồng xanh lục, giã nhuyễn, cho vào 15ml nước sôi khuấy đều, để nguội, vắt lấy nước cốt, uống 2 lần/ngày, 2 ngày sẽ dứt (dành cho người từ 50 tuổi trở lên).

• Uống rượu nhiều, gan bị viêm, đường ruột rối loạn, hậu môn lòi dom, xung huyết (đã qua trị liệu lâu ngày không dứt): Lấy 3 quả hồng khô (mứt hồng) đốt cháy thành than, tán nhỏ, uống với nước gạo lứt rang (100gr gạo lứt sao khử thổ vàng nấu với 3 chén nước còn 1 chén). Mỗi ngày 3 lần (25ml), liên tục 15 ngày sẽ có kết quả.

• Trị nấc cụt: Trẻ dưới 10 tuổi thường bị nấc cụt, lấy 5 tai hồng sao vừa cháy, tán bột, uống với nước trà đặc (30ml), 5 lần/ngày. Người lớn từ 20 tuổi trở lên bị nấc kinh niên, lấy 100gr tai hồng (khoảng 15 trái), 8gr đinh hương, 10gr gừng tươi già xắt lát mỏng, sắc trong 1 lít nước, chia làm 4 lần uống  trong ngày (xác thuốc nấu lần thứ 2, uống 2 lần/ngày). Uống liền 3 ngày.

• Trị ho, khó thở: Tai hồng 20 cái, tiêu sọ trắng 9 hạt (nữ), 7 hạt (nam), 4gr hoắc hương, 4gr sa nhân, gừng tươi già 7 hoặc 9 lát, hành tím nhỏ 2 củ, 3 củ tỏi lớn. Tất cả băm nhỏ, sắc trong 3 chén nước còn 8 phân. Uống 3 lần/ngày.

Đông y sĩ Kiều Bá Long
Y học cổ truyền cho rằng, hạt bí ngô có nhiều công dụng, trong đó có công hiệu sát khuẩn, trị sán, lãi đũa. Đặc biệt, bí ngô có thể làm tăng sữa cho sản phụ sau sinh.


Liều hạt bí ngô sử dụng thông thường từ 60 - 120g/ngày, để cả vỏ hoặc bỏ vỏ giã nát, hòa với nước sôi để nguội uống. Lưu ý không luộc chín hạt bí vì như vậy sẽ không còn tác dụng.

http://tintuconline.vietnamnet.vn/Library/images/20/2009/08/ngay09/hatbi.jpg

Phân tích thành phần chứa trong hạt bí ngô thấy chủ yếu là chất cucurbitine, caroten, vitamine A, B1, B2, C, dầu béo, protit... Đặc biệt, trong hạt bí ngô có chứa chất delta 7-phytosterol mà ở các loại dầu thực vật như đậu nành, dầu hướng dương, dầu ô liu không có.

Đây là chất có công hiệu ngừa chứng xơ vữa động mạch vành rất tốt. Ngoài ra còn làm thuốc tăng sữa cho phụ nữ sau sinh. Dưới đây là những phương thuốc trị liệu có hiệu quả từ hạt bí ngô để tham khảo.

Giúp tăng sữa cho sản phụ sau sinh: Mỗi lần uống 15 - 20g hạt bí ngô, ngày uống 2 lần vào buổi sáng và tối. Cách làm: bỏ vỏ hạt lấy nhân giã nát hòa với nước uống khi đói bụng. Cần uống liền 3 - 5 ngày sẽ hiệu quả. Lưu ý cần uống hạt sống mới hiệu nghiệm.

- Trị sán bò, sán lợn (sán dây taenia saginata): Bí ngô hạt sống bóc bỏ vỏ tán bột, người lớn 60 - 80g, trẻ em dưới 15 tuổi 30 - 50g/lần/ngày; Uống vào lúc đói buổi sáng sớm, sau 2 giờ uống tiếp nước sắc hạt cau (người lớn 60 - 80g, trẻ em dưới 15 tuổi 30 - 60g), tiếp theo sau 30 phút lại uống thuốc tẩy Sulfat Mangesi (người lớn 60ml, trẻ em 20 - 40ml).

- Trị nhức đầu: Dùng thịt quả bí ngô từ 100 - 200g nấu canh ăn thường xuyên.

- Trị nôn, giải độc thịt, cá, trị đờm: Lấy cuống quả bí ngô tán nhỏ, mỗi lần uống 1 - 2g bột sẽ hiệu nghiệm.

Theo Bee.net.vn
Viêm loét dạ dày - tá tràng có liên quan mật thiết với ăn uống. Dưới đây là một số món chè và cháo cho người mắc bệnh này:

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pictures/T11a79637153.jpg

1. Cháo hạt sen: Hạt sen 30g, gạo 50g, nấu cháo. Ngày 2 lần, dùng liền 1 tháng.

2. Chè củ mài – đậu ván: Củ mài 30g, cạo rửa sạch thái lát nhỏ, cùng với gạo vo sạch 100g, đậu ván 20g, hai thứ cùng cho vào nồi, thêm nước nấu chè, nêm đường phèn.

3. Chè bách hợp – hạt sen: Nếp 100g, bách hợp 40g, hạt sen 25g, đường đen vừa đủ, nấu chè.

4. Chè gừng táo mạch nha: Táo đỏ 5 quả, gừng tươi 3 lát, hai thứ cho vào nồi đất nhỏ, thêm nước nấu sôi, thêm 2 muỗng đường mạch nha, tiếp tục nấu đến đường tan. Uống nước ăn táo, dùng liền 3 ngày.

5. Chè khoai tây: Khoai tây 200g, gọt vỏ rửa sạch thái sợi, cho vào nồi thêm nước nấu chín. Người dạ dày nóng thì thêm ít đường trắng; người dạ dày lạnh chuyển dùng đường đen, uống nước ăn khoai.

6. Nước đường cải trắng: Cải trắng (cả cây) rửa sạch thái nhỏ, giã nhuyễn vắt lấy nước, mỗi lần dùng 20 - 30 ml, thêm ít đường trắng, dùng cho người viêm loét dạ dày - tá tràng có xuất huyết.

7. Nước rễ cỏ tranh: Rễ cỏ tranh (bạch mao căn) 30g, mấu sen 5 cái, hai thứ cho vào nồi đất thêm nước để nấu. Cho vào một ít nước cốt hẹ, pha với nước đun sôi để nguội.

8. Nước gừng hẹ - sữa bò: Hẹ 250g, gừng tươi 25g, hai thứ riêng biệt rửa sạch, thái nhỏ giã nhuyễn, bọc trong vải sạch vắt lấy nước, đổ vào nồi thêm sữa bò nấu sôi. Hằng ngày sáng và chiều uống ngay lúc còn nóng

9. Nước khoai tây - cà chua: Khoai tây, cà chua một lượng vừa đủ, hai thứ để riêng, rửa sạch thái nhỏ, giã nhuyễn vắt nước cốt, mỗi thứ nửa ly. Mỗi sáng và chiều dùng 1 lần, dùng liền 10 lần, viêm loét dạ dày - tá tràng mức độ nhẹ chữa lành.

10. Nước cải nồi: Cải nồi tươi, rửa sạch thái nhỏ, giã lấy nước cốt 1 ly, hâm hơi ấm, uống trước bữa ăn. Ngày 2 lần, dùng liền 10 ngày là 1 liệu trình. Cũng có thể dùng cải nồi hay cải bẹ xanh rửa sạch bằng nước đun để nguội, giã nhuyễn vắt lấy nước, mỗi lần dùng nửa chén, ngày 1-2 lần.

Theo B.Cẩm (Thanhnien online)
Giai đoạn từ 14 - 18 tuổi là thời kỳ đỉnh cao của sự trưởng thành cơ thể. Cấu tạo và chức năng sinh lý các bộ phận trong cơ thể đều thay đổi rõ rệt. Ăn uống ở giai đoạn này rất quan trọng.

Tất cả các bộ phận cùng phát triển, lớn lên và hoàn thiện dần. Hoạt động trí não, thể lực tăng lên và phức tạp hơn nhiều. Sự tiêu hao năng lượng cao đòi hỏi cơ thể phải được cung cấp nhiều chất dinh dưỡng để bù đắp. Nhu cầu nhiệt lượng tăng từ 25% - 50%. Vì vậy, ở giai đoạn này cần phải ăn uống thật tốt để đảm bảo nhu cầu sinh hoạt, học tập...

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pictures/Tieukhuong/0708200911a.jpg

Xét về dinh dưỡng, protein là tối quan trọng đối với thanh niên. Khả năng đề kháng bệnh tật và hoạt động thần kinh cao cấp... tất cả đều liên quan đến protein. Vì vậy, chế độ ăn uống phải giàu trứng, thịt, cá và các loại đậu. Đường là nguồn nhiệt lượng chính, có nhiều trong ngũ cốc như gạo, bột mì, ngô, khoai, sắn. Trong giai đoạn dậy thì, nhu cầu vitamin của cơ thể cũng rất cao, đặc biệt các loại vitamin A, D có vai trò quan trọng trong sự phát triển của bộ xương; vitamin B, C có công dụng thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển. Nhu cầu về chất khoáng như: lượng can-xi và photpho là nguyên liệu tạo xương; sắt là nguyên liệu chủ yếu của tế bào máu. Sự phát triển cơ bắp, tăng lưu lượng máu đều cần đến thức ăn chứa nhiều can-xi. Nữ thanh niên mỗi tháng sẽ mất từ 15 – 30g sắt vì kinh nguyệt.

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pictures200901/Tieukhuong/2009/08/07/0708200911b.jpg

Để đảm bảo cơ thể hấp thu được các chất trên, phải chú ý đến chất lượng và chủng loại bữa ăn; chú ý đến vệ sinh dinh dưỡng; cần xây dựng thói quen ăn uống, không để xảy ra tình trạng bỏ bữa thường xuyên, dễ làm cơ thể thiếu chất. Rau quả là loại thức ăn giàu vitamin và chất khoáng, vì vậy cần tạo thói quen thích ăn các loại rau quả. Nếu chỉ ăn bơ, sữa, thịt, mỡ... thì cơ thể cũng không thể hấp thu được hết mà còn dễ bị béo phì. Nước uống cũng rất quan trọng giúp cơ thể chuyển hóa các chất dinh dưỡng, bài tiết chất thải, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển, trưởng thành của thanh thiếu niên. Cần uống từ 1,5 lít nước mỗi ngày.

Nếu ăn uống tốt, đầy đủ, khoa học thì không phải uống thêm vitamin và thuốc bổ.

Theo Hoài Vũ (Thanhnien online)
Khi bị tổn thương, bạn phải xử lý vết thương càng sớm bao nhiêu thì càng hạn chế được sẹo bấy nhiều. Không nên ăn rau muống, rau rút... vì dễ để lại sẹo bất thường.

http://210.86.231.15/portal/images/Share/60809hang06.jpg

Có một bí quyết cho phái đẹp: Nếu biết sử dụng một số loại thực phẩm để ăn uống chị em có thể phòng tránh được sẹo xấu.

Theo bác sĩ đông y Trần Văn Thuấn (Bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội), các tổn thương ít nhiều đều để lại sẹo lớn hay nhỏ, có khi là những sẹo bất thường sẹo lồi, lõm, sẹo quá phát, sẹo trắng, sẹo thâm... Y học cũng cho biết, sẹo lồi thường do cơ địa hoặc do ảnh hưởng di truyền, sau khi phẫu thuật, tỉ lệ tái phát cao. Một số trường hợp tuy không thuộc tạng sẹo lồi nhưng do không được mổ tốt hoặc bị sang chấn, nhiễm trùng cũng bị sẹo lồi. Sẹo trắng làm mô da bị mất màu. Sẹo thâm là do phản ứng của tế bào sắc tố dưới ánh sáng mặt trời.

Khi bị tổn thương, bạn phải xử lý vết thương càng sớm bao nhiêu thì càng hạn chế được sẹo bấy nhiều. Không nên ăn rau muống, rau rút... vì dễ để lại sẹo bất thường. Trong phẫu thuật thẩm mỹ, các bác sĩ cũng khuyên nên kiêng các loại rau này, cũng không nên dùng rượu, bia. Nên ăn các loạu rau có tính chất mát như rau ngót, các loại rau họ cải, diếp cá... để giúp vết thương chóng liền miệng. Khi da thịt đã tổn thương, cần tránh những món ăn như cơm nếp, thịt gà, đồ cay nóng...

Trong dân gian lưu truyền một số món ăn cần kiêng trong quá trình hình thành sẹo như: Món trứng có thể làm vết thương loang lổ như lang ben. Thịt bò dễ gây co kéo da. Hải sản, da gà hay gây ngứa... Nhưng theo các bác sĩ Đông y: Đó chỉ là dân gian lưu truyền, chưa có cơ sở khoa học để khẳng định điều đó. Tốt nhất, khi da thịt bị tổn thương cần luôn giữ vết thương thông thoáng, khô ráo để chóng liền miệng.

Thịt lợn là món ăn lành nhất. Có thể chế biến thịt lợn thành những món ăn khác nhau cho đỡ ngấy và cung cấp kịp thời dinh dưỡng, giúp cơ thể tự lấy lại sự cân bằng. Các loại rau củ đều có công dụng tốt với các vết thương đang lên da non. Nghệ là món ăn được khuyến khích cho người đang cần tái tạo các tế bào, diếp cá cung cấp kháng sinh tự nhiên chống viêm và kháng khuẩn rất tốt...

Với những tổn thương nhẹ như mụn trứng cá, các vết đứt tay... miệng vết thương lành nhanh, phần da phải tái tạo không nhiều, chỉ cần vệ sinh tại chỗ sạch sẽ bằng nước muối Natri Clorid là được. Sau khi vết thương khô, có thể dùng nghệ tươi bôi trực tiếp lên để thúc đẩy ngay quá trình tái tạo da.

Những vết thương hở, mất da cần giữ cho thông thoáng và vệ sinh ngay từ khi bị thương. Khi vết thương bắt đầu se mặt, có thể ép nước cốt nghệ tươi bôi trực tiếp lên khắp bề mặt vết thương. Khi vết thương đóng vảy, đặc biệt là lúc lên da non gây ngứa, không nên bóc vảy vết thương vì có thể gây nhiễm trùng và khiến sẹo lớn, lâu lành hơn.

Loại sẹo bỏng là khủng khiếp nhất cho da, cơ bị co kéo làm biến dạng các tổ chức lân cận. Sau phẫu thuật, khi vết thương khô miệng hoặc cắt chỉ phải nghĩ tới việc hỗ trợ giảm sẹo bằng cách ăn nghệ và bôi trực tiếp lên vết thương. Bài thuốc nước cốt nghệ tươi bôi lên vết thương có thể làm ngay từ những ngày đầu tiên sẽ kích thích quá trình tái tạo da nhanh chóng.


Theo Giadinh.net
Theo Đông y, đậu xanh có vị ngọt, tính mát, không độc. Vì vậy, ngoài tác dụng làm thực phẩm, đậu xanh còn được dùng để làm đẹp và trị bệnh rất hiệu quả.

1. Tác dụng làm đẹp da

- Chống lão hóa da: Dùng 100gr đậu xanh, 100gr gạo tẻ cho vào 1lit nước. Đun hỗn hợp cho đến khi sôi thì vặn nhỏ lửa ninh nhừ thành cháo. Sau đó, cho 100gr gan lợn đã thái lát vào, nấu cho đến khi gan chín. Một ngày ăn thành 3 lần. Sử dụng thường xuyên món ăn này sẽ có tác dụng chống lão hóa da.

- Dưỡng da:  Tán mịn 50g bột đậu xanh, 50g bột thanh đại và 5g băng phiến. Sau đó, cho hỗn hợp vào nước trộn thành hồ. Hàng ngày trước khi đi ngủ hãy đắp dung dịch này đều lên mặt sẽ có tác dụng dưỡng da, giúp da sáng mịn.

- Trị mụn: Dùng 100g đậu xanh say hoặc tán thành bột mịn. Sau đó, hòa với nước ấm thành dạng hồ, để nguội và xoa đều lên mặt. Thực hiện liên tục trong nhiều ngày sẽ có tác dụng thanh nhiệt, mát máu giúp trị mụn trứng cá hiệu quả.

http://images.timnhanh.com/tintuc/20090806/Image/1633478223_752thumb2.jpg

2. Tác dụng chữa bệnh

-  Bệnh quai bị: Dùng 60g đậu xanh cho vào nồi nấu với nước đến khi đỗ chín, cho thêm 2-3 nõn rau cải trắng vào đun tiếp khoảng 15-20 phút rồi chắt lấy nước uống.

- Chữa say nắng: Đậu xanh 100g , vo sạch, cho vào nồi, đổ ngập nước đun sôi qua, chắt lấy nước, để nguội rồi uống. Lưu ý: không nấu quá kỹ sẽ làm mất tác dụng.

- Chữa lên sởi: 15g vỏ đậu xanh, sắc với nước chia ra uống thay nước hàng ngày. Để dễ uống  có thể bỏ thêm một chút đường. Uống đều đặn cho đến khi bệnh khỏi. Hoặc  lấy 15 g bột đậu xanh, 30 g bột hoạt thạch nghiền vụn, trộn đều để xoa lên những chỗ bị rôm sảy.

- Chữa đái tháo đường: Đậu xanh 200g, lê 2 quả, củ cải 250g, nấu thành món ăn hàng ngày.

- Chữa ho, khản cổ: Giá đỗ xanh từ 300-500g, rửa sạch, giã nát, đổ thêm chút nước đun sôi để nguội vào, chắt lấy nước uống.

-  Viêm niệu đạo: Giá đậu xanh 500g, ép lấy nước, bỏ thêm đường vào uống, sẽ có tác dụng ngay.

- Buồn nôn: Dùng 16g đậu xanh, đường phèn 16g, sắc nước uống. Hoặc dùng 100 hạt đậu xanh, hồ tiêu 10 hạt, trộn đều rồi nghiền mịn, pha vào nước sôi để uống.

- Phụ nữ ra huyết trắng quá nhiều: Đậu xanh 500g, mộc nhĩ đen 100g, trộn lẫn sau đó nghiền thành bột mịn pha nước uống ngày hai lần.
- Chữa dị ứng sơn: Lấy 100 g đậu xanh, 50 g hạt bo bo, táo tàu 7 quả. Tất cả rửa sạch, cho thêm chút nước vào ninh nhừ, cho 50 g đường trắng. Uống liên tục trong 4-5 ngày mỗi ngày uống 1 lần.

- Trúng độc thực phẩm: Dùng từ 30-120g đậu xanh ngâm trong nước cho đến khi đậu nở, , sau đó nghiền mịn, gạn lấy nước uống.

- Trúng độc hơi than: Trúng độc hơi than có thể gây ra hiện tượng nôn mửa. Để khắc phục hiện tượng này hãy uống bột đậu xanh (khoảng 30g) pha với nước sôi. Hoặc nấu đậu xanh thành canh lên ăn.

- Trúng độc chì: Dùng 120g đậu xanh, 15g cam thảo, sắc với nước, ngày uống hai lần, cần uống liên tục trong 15 ngày. Trong quá trình điều trị, nên uống bổ sung vitaminC.

Theo aFamily
Các nhà nghiên cứu cho hay, bằng chế độ ăn kiêng có thể giúp chúng ta giảm nguy cơ phát triển bệnh ung thư tới 45%.

http://www.xaluan.com/images/news/Image/2009/08/06/1249543202.img.jpg

Một nghiên cứu khảo sát với hơn 61.000 người ở độ tuổi khoảng từ 20 đến 89 đã tiết lộ, chế độ ăn kiêng không có thịt có thể giảm bệnh tật tới 12%, và riêng với bệnh ung thư, chế độ ăn này có khả năng giảm 45%.

Giáo sư Tim Key, nhà nghiên cứu bệnh ung thư của Anh đang làm việc tại ĐH Oxford nhận định “Trong cuộc sống, cứ 3 người thì có 1 người được chẩn đoán bị ung thư. Vậy nếu dùng chế độ ăn kiêng thì tỷ lệ người mắc bệnh ung thư cũng giảm đi và những người đang mắc bệnh ung thư cũng hạn chế nguy cơ phát triển bệnh”.

Tuy nhiên, ông Key nói nghiên cứu này vẫn chưa đủ mạnh để có thể khuyên mọi người đảo ngược cuộc sống, nghĩa là chỉ ăn chay không có thịt vì như vậy cũng sẽ làm mất cân bằng chế độ ăn.

Nhưng dù sao nếu chúng ta tăng cường ăn hoa quả tươi vào chế độ thực phẩm hàng ngày thì chắc chắn nguy cơ mắc bệnh ung thư và các bệnh khác sẽ giảm đi, đây là một điều mà các nhà nghiên cứu khẳng định.

http://www.xaluan.com/images/news/Image/2009/08/06/images60298_3_12_.jpg

Ông Key nói “Nghiên cứu của chúng tôi về nguy cơ ung thư ở những người ăn kiêng đã tiết lộ rằng số người mắc bệnh ung thư trong những người ăn kiêng thấp hơn trong số những người ăn thịt. Đặc biệt, với người bị ung thư dạ dày thì ăn nhiều thịt càng làm tăng sự phát triển của bệnh ung thư.

Song điều này không có nghĩa người ăn kiêng, không ăn thịt là hoàn toàn không bị ung thư. Nguy cơ bị ung thư vẫn có thể xảy ra do nhiều yếu tố khác tác động”.

Ông Su Taylor, người của Hiệp hội những người ăn kiêng phát biểu “Dù sao nghiên cứu cũng đã là bằng chứng chứng minh người ăn kiêng ít bị ung thư hơn. Chính vì vậy, để hạn chế bệnh tật, không còn cách nào khác là giảm lượng thịt và tăng lượng rau củ quả vào chế độ ăn hàng ngày”.

Theo Xaluan.com
Sữa chua là thức uống bổ dưỡng và tốt cho sức khỏe với rất nhiều lợi ích như: giảm béo, bổ sung canxi, điều tiết dạ dày, đường ruột. Nhưng có phải cứ “cho vào bụng” là xong?

http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2009/08/06/18csua-chua-6809.jpg

1. Sữa chua và sữa chua uống là một?



Không đúng. Sữa chua và sữa chua uống không giống nhau: sữa chua là do sữa bò nguyên chất trải qua quá trình lên men tạo thành, trên bản chất là thuộc phạm trù của sữa bò. Còn sữa chua uống chỉ là một loại thức uống, không phải là sữa bò.



Hàm lượng dinh dưỡng của hai loại này cũng khác biệt rất lớn: dinh dưỡng của nước uống sữa chua chỉ bằng khoảng 1/3 của sữa chua. Theo tiêu chuẩn quy định của ngành sữa, hàm lượng protein yêu cầu trong 100g sữa chua là ≥2,9g, nhưng hàm lượng protein của nước uống sữa chua chỉ khoảng 1g.



Chú ý: Nước uống sữa chua là sản phẩm có thể tiêu nóng, giải khát, đồng thời còn có một giá trị dinh dưỡng nhất định, nhưng không nên dùng nó thay thế sữa chua và sữa bò.



2. Ăn càng nhiều sữa chua càng có lợi?



Có phải sữa chua muốn ăn bao nhiêu cũng được? Đương nhiên là không phải.



Nếu ăn thoải mái, vô tư thì rất dễ gây ra quá nhiều axit dạ dày, ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày và bài tiết chất xúc tác tiêu hoá, làm mất đi cảm giác thèm ăn, phá vỡ độ cân bằng chất điện giải trong cơ thể, đặc biệt là những người hay thường ngày hay chướng bụng, có lượng axit dạ dày quá nhiều, thường xuyên cảm thấy lạnh bụng thì lại càng không nên ăn.



Chú ý: Đối với những người mạnh khoẻ mỗi ngày nên ăn từ 1-2 cốc sữa chua là thích hợp nhất.



3. Sữa chua dinh dưỡng hơn sữa bò?



Rất nhiều người cho rằng sữa bò sau khi lên men trở thành sữa chua thì càng giàu dinh dưỡng hơn. Trên thực tế, giá trị dinh dưỡng giữa sữa chua và sữa bò khác nhau không lớn. Nhưng so sánh với sữa bò thì sữa chua dễ tiêu hoá và hấp thụ hơn - đó chính là điều làm cho tỉ lệ hấp thụ dinh dưỡng của sữa chua càng cao hơn.



Ngoài ra, thành phần đường hàm chứa trong sữa bò đại đa phần là đường sữa, một số người trong dịch tiêu hoá của họ thiếu chất xúc tác đường sữa, điều này ảnh hưởng đến sự hấp thụ, tiêu hoá và lợi dụng của đường sữa, gọi là “dị ứng sữa bò”, lúc này có thể dùng sữa chua để thay thế.



4. Sữa chua có thể phối hợp với các thực phẩm khác?



Sữa chua và rất nhiều thực phẩm khác phối hợp để ăn cùng là rất tốt, đặc biệt là bữa sáng kết hợp cùng với bánh mỳ, bánh quy, có khô có nước, ngon miệng và dinh dưỡng phong phú.



Nhưng tuyệt đối không nên ăn cùng với thực phẩm gia công có dầu mỡ cao như lạp xường, xúc xíc... Bởi vì trong thực phẩm thịt chế biến sẵn có thêm vào chất quặng ni-to-rat kali, chất này sẽ kết hợp với một chất ở trong sữa chua gây ra ung thư.



Sữa chua cũng không nên kết hợp ăn cùng với thuốc uống ví dụ như thuốc kháng sinh, bởi vì như thế có thể giết chết hoặc phá vỡ vi khuẩn có lợi trong sữa chua.



Chú ý: Chúng ra nên nhớ, sữa rất thích hợp kết hợp với thực phẩm tinh bột, ví dụ như cơm, mỳ, bánh bao, bánh mỳ vân vân.



4. Ăn nhiều sữa chua có thể giảm béo?



Sữa chua đích thực có tác dụng giảm béo nhất định, chủ yếu là vì sữa chua hàm chứa đại lượng khuẩn acid sữa, có thể giúp ích điều tiết sự cân bằng nhóm vi khuẩn trong cơ thể, đẩy mạnh dạ dày đường ruột nhu động, từ đó dần dần giải toả chứng táo bón. Ngoài ra sữa chua còn đem lại cho chúng ta cảm giác no nhất định, khi hơi đói ăn một cốc sữa chua có thể giảm nhẹ được cảm giác đói bụng lúc đó, từ đó giảm bớt lượng thức ăn của bữa chính. Nhưng chúng ta nên nhớ,bản thân sữa chua cũng chứa nhiệt lượng nhất định, nhiệt lượng này còn cao hơn cả sữa bò, nếu ngoài bữa ăn chính, chúng ta ăn quá nhiều sữa chua thì cũng có thể làm tăng thể trọng.



6.Lấy sữa chua chống đói



Khi bụng của bạn kêu réo đói cồn cào thì tốt nhất bạn đừng nên lấy sữa chua chống đói, bởi vì khi bụng trống rỗng, độ axit trong dạ dày lớn. Những vi khuẩn có lợi trong sữa chua rất dễ bị axit dạ dày giết chết, và tác dụng bảo vệ sức khoẻ của sữa chua sẽ giảm đi rất nhiều. Sữa chua ăn tốt nhất vào lúc sau bữa cơm từ 1-2 tiếng, bởi vì lúc này dịch dạ dày đã bị loãng, độ kiềm axit trong dạ dày rất thích hợp cho vi khuẩn có lợi phát triển. Ngoài ra, buổi tối ăn sữa chua thì sẽ có nhiều lợi ích hơn.



Chú ý: Sau khi ăn sữa chua đặc biệt là vào buổi tối cần lập tức đánh răng, bởi vì một số vi khuẩn nào đó trong sữa chua và chất axit đều gây hại nhất định cho răng.



7. Sữa chua thích hợp cho mọi đối tượng?



Trên thực tế, mặc dù sữa chua rất tốt nhưng không phải tất cả mọi đối tượng đều thích hợp để ăn. Những người đau bụng đi ngoài hoặc có bệnh về đường ruột sau khi đường ruột bị tổn thương thì cần thận trọng khi ăn sữa chua.



Ngoài ra, người bị bệnh tiểu đường, xơ cứng động mạch, viêm túi mật và viêm tuyến tuỵ tốt nhất không nên ăn sữa chua toàn chất béo hàm chứa đường, nếu không sẽ làm bệnh tình nặng thêm.


Chú ý: Những người nên ăn nhiều sữa chua là người thường xuyên uống rượu, thường xuyên hút thuốc, thường xuyên làm việc với máy tính, thường xuyên bị táo bón, người bệnh phải uống thuốc kháng sinh, xương cốt lỏng lẻo, mắc bệnh tim mạch….

8. Sữa chua tuyệt đối không được hâm nóng

Rất nhiều tư liệu đều nói sữa chua không được làm nóng lên để ăn, bởi vì sau khi làm nóng, vi khuẩn có lợi nhất trong sữa chua bị giết chết. Hơn nữa khẩu vị và cảm giác đều thay đổi, giá trị dinh dưỡng và chức năng bảo vệ sức khoẻ cũng sẽ giảm thấp.

Nhưng nếu chỉ làm ấm sữa chua thì vi khuẩn có lợi trong sữa chua sẽ không bị giết chết mà ngược lại còn tăng thêm sự “hoạt bát” của chúng và tác dụng bảo vệ sức khoẻ sẽ càng lớn.

Chú ý: Bạn có thể để túi hoặc cốc sữa chua vào trong cốc nước khoảng 45℃ để dần dần làm ấm sữa. Cách này áp dụng vào mùa đông vì mùa đông lạnh lẽo ăn một cốc sữa chua ấm tốt hơn nhiều so với sữa chua lạnh.


Theo dantri.com
Kết quả nghiên cứu của Đại học Bristol (Anh) cho biết ăn hải sản có thể giúp phụ nữ đang mang thai có được tâm trạng vui vẻ hơn.

http://210.86.231.15/portal/images/Share/haisan-03.jpg

Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về tâm trạng và số lượng hải sản mà gần 10.000 phụ nữ đang mang thai đã ăn mỗi tuần trong hai năm 1991 và 1992. Họ đã phát hiện ra sự liên quan giữa việc ăn hải sản (có lượng axit béo omega-3 thấp) với nguy cơ cao bị trầm cảm ở những phụ nữ mang thai.

Kết quả nghiên cứu cho thấy những phụ nữ đang mang thai không ăn hải sản có các triệu chứng trầm cảm cao hơn 50% so với những bà bầu ăn 3 bữa ăn hải sản mỗi tuần (tương đương 1,5 gam axit béo omega).

Các nhà khoa học cho biết bị trầm cảm trong quá trình mang thai có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cả mẹ lẫn thai nhi.

Theo họ, cần phải có các cuộc nghiên cứu kỹ hơn nữa về mối liên hệ giữa việc ăn hải sản và bệnh trầm cảm ở phụ nữ mang thai, nhất là giữa lúc có những nghiên cứu khoa học khuyến cáo những đối tượng này nên hạn chế ăn hải sản và cá để tránh mức độ thủy ngân cao.

Trước đây, các nhà khoa học Đại học Bristol cũng đã chứng minh những bà mẹ ăn nhiều hải sản khi mang thai sẽ sinh ra những đứa trẻ thông minh hơn.

Theo nghiên cứu, những phụ nữ ăn hơn 340g hải sản hay cá mỗi tuần (tương đương với 2-3 lần/tuần) đều có những đứa con thông minh hơn với các kỹ năng phát triển tốt hơn./.

Theo thoibaoviet.com
Với quan niệm ăn chay tốt cho sức khỏe, có thể chữa được một số bệnh, ngày càng nhiều người chuyển từ ăn mặn sang ăn chay. Nhưng theo các chuyên gia dinh dưỡng, không phải ai cũng có thể ăn chay được. Và ăn chay cũng cần phải đúng cách.

http://210.86.231.15/portal/images/Share/anchay-30.jpg

Các nghiên cứu về dinh dưỡng đã cho biết rằng, một thực đơn chay giàu dinh dưỡng bao gồm: trái cây, rau, đậu các loại sẽ giúp giảm béo, giảm nguy cơ bệnh tim, nguy cơ áp suất máu cao, chống lại sự gia tăng của bệnh tiểu đường và phần nào giảm nguy cơ ung thư.

Nhưng ăn chay chỉ tốt trong những trường hợp cần ăn kiêng thực sự bằng chế độ ăn chay.

Tác dụng của ăn chay trong một số trường hợp

Giảm cân: Theo bác sĩ Neal Barnard và cộng sự thuộc Ủy ban bác sĩ về Trách nhiệm Y khoa, những người ăn chay trường thường có quá trình đốt cháy calorie gia tăng sau mỗi bữa ăn so với những người ăn mặn.

Điều này có nghĩa là thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật có tác dụng như nguồn cung cấp nguyên liệu cho cơ thể, trái ngược hoàn toàn với việc được tích trữ của chất béo.

Theo nghiên cứu này, những người ăn chay trường có dáng người gọn hơn những người ăn thịt, và họ được xếp vào nhóm những người ít nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp cao và những bệnh do tăng trọng và béo phì.

Giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư: Theo thống kê của các nhà dịch tễ học, 35% trường hợp mắc ung thư là liên quan đến ăn uống. Người ăn chay ít mắc bệnh và tử vong vì ung thư miệng họng, tiền liệt tuyến, nhất là đại tràng hơn người ăn mặn.

Lý do là thức ăn chay chứa nhiều chất xơ, ít chất béo. Thức ăn chay còn chứa nhiều chất có tiềm năng ngừa ung thư như: các chất chống oxy hóa và một số hóa chất thực vật.

Giảm huyết áp: Ăn chay giúp làm hạ huyết áp và giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch. Chế độ ăn chay chứa nhiều kali, phức hợp carbohydrates, chất béo không no, chất xơ, calcium, magnesium, vitamin C and vitamin A, tất cả có ảnh hưởng tốt đến huyết áp.

Huyết áp của người ăn chay trường thường có khuynh hướng thấp hơn người ăn mặn và ít tăng theo tuổi tác hơn. Các nghiên cứu cho thấy: càng ăn nhiều thức ăn từ động vật, huyết áp càng có khuynh hướng tăng cao.

Giảm bệnh động mạch vành tim: Do thức ăn chay chứa nhiều xơ, ít béo, ít cholesterol, tỷ lệ giữa chất béo không no và chất béo no cao, trong khi bệnh động mạch vành tim gắn liền với lượng cholesterol máu, nên người ăn chay có lượng cholesterol trong máu, nhất là loại LDL, thấp hơn hẳn so với người ăn chay có dùng sữa và người ăn thịt.

Trên thực tế, lượng mỡ trong máu tùy thuộc nhiều vào số lượng và loại chất béo mà người ăn chay ăn vào.

Giảm nguy cơ bị sỏi thận: Người ăn chay thải canxi, oxalat, axít uric ra nước tiểu ít hơn người không ăn chay do đó ít bị sỏi thận hơn.

Ăn chay cũng có thể mang bệnh

Bên cạnh mặt tích cực, các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, ăn chay cũng có hạn chế vì nó có thể mang lại một số bệnh:

- Vô sinh: Nhiều nghiên cứu cho thấy ăn nhiều đậu tương (món ăn chính của người ăn kiêng bởi vì nó cung cấp protein) có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ.

Các nhà nghiên cứu ở trường ĐH King London cho biết hợp chất genistein trong đỗ tương sẽ ngăn cản không cho tinh trùng bơi đến trứng, do đó phụ nữ nên hạn chế ăn đỗ tương khoảng 1 tháng trong giai đoạn muốn thụ thai.

- Trầm cảm: Một trong những loại vitamin mà người ăn chay thường thiếu nhất là vitamin B12 – vốn chỉ tìm thấy trong thịt và các sản phẩm từ sữa hoặc các loại ngũ cốc chưa qua chế biến. Vitamin B12 được biết đến là một chất thiết yếu cho sự phát triển của các tế bào và sự vận hành của hệ thần kinh.

Thiếu vitamin B12 có thể gây ra các rối loạn thần kinh, bao gồm sự thất thường của cảm xúc và trầm cảm.

- Teo cơ: Theo Louise Sutton (chuyên gia dinh dưỡng của ĐH Leeds): Bất kỳ ai chuyển từ chế độ ăn thịt sang ăn chay đều có nguy cơ bị teo cơ”, một trong những tác dụng phụ thường gặp ở chế độ ăn giảm protein.

Những người không nên ăn chay

Theo BS Phan Bích Nga, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, những trường hợp sau đây không nên ăn chay: Độ tuổi tăng trưởng (dưới 18 tuổi): Trẻ em và tuổi thiếu niên nếu ăn chay có thể nguy hiểm cho sự tăng trưởng.

Phụ nữ có thai ăn chay thường nhẹ cân, ít tăng cân và có nguy cơ sinh con thiếu cân, do đó càng không nên ăn chay. Bà mẹ cho con bú, người gầy yếu, suy dinh dưỡng, thiếu máu cũng là những đối tượng không nên ăn chay.

Nam giới tuổi dưới 50 - 60: Trong chế độ ăn chay, chất đạm chủ yếu là từ đậu tương, mà trong đậu tương hàm lượng oestrogen (nội tiết tố chủ yếu của nữ giới) thực vật cao, do đó sẽ phần nào ảnh hưởng đến nam tính.

Nam giới không nên ăn quá nhiều đậu phụ hoặc các sản phẩm chế biến từ đậu tương như người ăn chay tuyệt đối.

Những người nên ăn chay

Cùng theo BS Phan Bích Nga, những người do công việc phải tiếp khách với các buổi tiệc tùng liên miên, bữa ăn quá nhiều chất đạm chất béo thì nên xen kẽ ăn chay theo đơn vị tuần, hoặc tháng sẽ giảm sự tích trữ chất béo cho cơ thể.

Người thừa cân - béo phì, hoặc có nguy cơ bị thừa cân - béo phì Người bị bệnh tim mạch: Tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa mỡ máu.

Người bị loãng xương hoặc có nguy cơ bị loãng xương nhất là phụ nữ tuổi từ 40 trở lên, nhưng vẫn phải bổ sung một số thực phẩm từ động vật như thịt bò, đồ hải sản để cung cấp nguồn canxi.

Người bị suy thận, sỏi thận. Người già từ 60 tuổi trở lên đối với nam, 45 tuổi đối với nữ, nên ăn chay theo đơn vị tuần, hoặc tháng.

Ăn chay đúng cách

BS Phan Bích Nga khuyến cáo, ăn chay trường sẽ không đảm bảo được sức khỏe, không đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể, cơ thể sẽ bị thiếu axit amin thiết yếu chỉ lấy được từ đạm động vật.

Trừ những trường hợp cần ăn kiêng bằng chế độ ăn chay, để giảm bệnh tật thì cách tốt nhất là nên ăn nhiều thức ăn từ thực vật, bên cạnh đó vẫn cần ăn thêm thực phẩm từ động vật để cơ thể được cung cấp đủ chất.

Trong thực đơn của ba nhóm người (người Okinawa ở Nhật Bản, người Sardinia ở Ý và các tín đồ Loma Linda ở California (Mỹ) được xếp vào hàng trường thọ trên thế giới là ăn nhiều rau, trái cây, ngũ cốc, các loại hạt đậu.

Trứng, bơ, sữa chỉ sử dụng ở mức độ ít đến vừa phải. Họ ăn cá chứa nhiều omega-3. Chỉ ăn no 80% chứ không nên ăn quá no nê. Tập luyện hằng ngày và dùng nhiều thời gian hít thở không khí trong lành.

Không hút thuốc lá, không rượu bia, ngủ đủ, đúng thời gian qui định. Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa tinh thần bổ ích, lập gia đình và đảm bảo cuộc sống hòa thuận.

Không một món ăn nào cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết, để đảm bảo sức khỏe, bạn cần thay đổi thực phẩm thường xuyên bằng cách dựa vào tỷ lệ dinh dưỡng khi chọn mua thực phẩm.

Bên cạnh đó, hãy kết hợp với việc tập Yoga, thiền, tránh khói thuốc lá, rượu là những yếu tố tích cực đối với sức khỏe phòng ngừa bệnh tật./. (Doanh nhân/Vietnam+)

Theo thoibaoviet.com
Máy tính đem lại rất nhiều ích lợi nhưng cũng là tác nhân ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và sắc đẹp của bạn, trong đó có đôi mắt. Dinh dưỡng hợp lý là một cách hạn chế những tác hại này của máy tính khá hiệu quả.

http://www.tienphong.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=215375

Vitamin A: Là loại vitamin có liên quan trực tiếp đến thị lực và võng mạc.

Hàng ngày bạn phải tiếp xúc với máy tính trong thời gian dài, màn hình lại chỉ cách bạn có 30-50cm nên làm tiêu hao lượng vitamin A lớn, khiến cho mắt mệt mỏi, dễ khô mắt.

Hãy bổ sung các thực phẩm giàu vitamin A như gan, cá, cà rốt, khoai lang, mãng cầu, trứng… Trong trường hợp cấp bách thì dầu gan cá là một gợi ý tốt.

Nhóm vitamin B: Đặc biệt là vitamin B1, B2, B12 có tác dụng bảo vệ giác mạc và làm khỏe thần kinh thị giác.

Những người thường xuyên làm việc với máy tính thường có áp lực công việc lớn, tăng cường nhóm vitamin B trong thức ăn cũng giúp cơ thể chống lại mệt mỏi.

Những thực phẩm giàu vitamin nhóm B là gạo lức, mạch nha, các loại ngũ cốc chế biến thô, gan, các loại đậu, sữa bò, thịt nạc, các loại rau có màu xanh đậm.

Khoáng chất: Rất có lợi cho thị lực đặc biệt là can xi, kẽm tăng cường tính đàn hồi của nhãn cầu, phòng bệnh cận thị. Sữa và các chế phẩm từ sữa, hải sản, gan, lòng trắng trứng… là nguồn dinh dưỡng giàu can xi, kẽm.

Thức ăn có hại: Có một số loại thực phẩm như nước có ga, rượu, đồ ăn vặt, các loại thực phẩm gia công quá tinh, đồ ăn nhanh… rất được ưa dùng khi dùng máy tính nhưng đây chính là các loại thức ăn làm tiêu hao dưỡng chất của cơ thể khiến cho người ì trệ, mệt mỏi.

Chất kháng gốc tự do: Chất có gốc tự do sẽ tạo ra những tổn thương đối với nhãn cầu và võng mạc mắt, sóng điện từ của máy tính cũng khiến cơ thể sản sinh nhiều gốc tự do nên rất có hại cho mắt bạn.

Vậy thì cần phải tiêu trừ gốc tự do bằng các loại thực phẩm giàu vitamin C, E, B2 như rau xanh đậm, quýt, mãng cầu, dưa chuột, dầu thực vật, đậu, …

Theo T.H (Tienphong)
Mùa hè có nhiều loại rau khác nhau, nhưng rau muống vẫn là loại rau dân dã, dễ chế biến lại dễ ăn và có thể thu hái quanh năm nhưng vào dịp hè là thuận lợi hơn cả. Ngoài tên gọi là rau muống còn nhiều tên gọi khác như vô tâm thái hay ung thái hoặc uông thái, thông thái, không tâm thái...

http://www32.24h.com.vn/upload/news/2009-07-27/1248701309_raumuong200.jpg

Rau muống có tên khoa học là Ipomoea aquatica Forsk, thuộc họ khoai lang, có tài liệu gọi là họ bìm bìm (Convolvulaceae).

Người ta đã phân tích thành phần dinh dưỡng có trong 100g rau muống thấy nước chiếm 78,2g, protein 2,7g, canxi 85mg, phospho 31,5mg, sắt 1,2mg, vitamin C 20g, vitamin B2, caroten, acid nicotic, nicotic, đặc biệt trong giống rau muống đỏ chứa một chất giống như insulin nên đối với người mắc bệnh đái tháo đường ăn thường xuyên rau muống đỏ là rất tốt, có thể cải thiện bệnh chứng...

Để tham khảo, đồng thời có thể chọn lựa áp dụng sao cho thích hợp, an toàn, hiệu quả, dưới đây xin giới thiệu những phương thuốc tiêu biểu từ rau muống.

- Trị trẻ nóng nhiệt ra mồ hôi mùa hè: Lấy rau muống 100g, mã thầy 500g, sắc lấy nước cho trẻ uống thay nước trong ngày.

- Thanh nhiệt lương huyết, cầm máu, chữa tâm phiền, chảy máu mũi, lưỡi đỏ rêu vàng, khát nước mát, ù tai chóng mặt: Rau muống 150g, cúc hoa 12g, đun sôi 20 phút lọc lấy nước (có thể cho chút đường hòa vào cùng uống trong ngày).

- Chữa kiết lỵ mùa hè: Lấy 400g cọng rau muống tươi, vỏ quýt khô lâu năm một ít, nấu nhỏ lửa trong nhiều giờ, lấy nước uống trong ngày.

- Ngộ độc thức ăn: Lấy rau muống một nắm giã vắt lấy nước cốt uống, nếu nặng mất nước, nhiễm độc phải đi viện cấp cứu ngay.

- Trị đau dạ dày, nóng ruột, ợ chua, miệng khô đắng: Rau muống 20g, rau má 20g, rau sam 16g, cỏ mực 20g, vỏ quýt 12g, tất cả sao qua cho vào ấm đổ 500ml nước, sắc nhỏ lửa còn 250ml, chia 2 lần uống lúc đói.

- Trị tiểu đường: Rau muống đỏ 60g, râu ngô 30g, sắc lấy nước uống trong ngày, cần uống một thời gian dài.

- Chữa đẹn trong miệng hoặc lở loét miệng trẻ em: Rau muống tươi 100g, củ hành lá tươi 50g, nấu canh lấy nước cho trẻ uống.

- Lở ngứa ngoài da, zona: Lấy ngọn rau muống, lá vòi voi mỗi thứ một nắm giã nhuyễn với ít muối đắp lên vết thương.

http://www32.24h.com.vn/upload/news/2009-07-27/1248701591-raumuong2.jpg

- Rôm sảy, mẩn ngứa, thủy đậu: Rau muống tươi một nắm to, rửa sạch nấu lấy nước xoa, rửa, tắm.

- Trị quai bị: Lấy rau muống 200-400g, luộc ăn cả cái lẫn nước, có thể pha chút đường vào nước mà uống.

- Đau đầu, chảy mủ tai: Rau muống 100g, thịt chó 100g, cho cả vào hầm đến khi thấy thịt chó nhừ là được. Ăn thịt chó, rau muống, uống nước rau. Cần ăn liền vài ngày.

- Trị bốc hỏa đau răng: Rễ rau muống 100g, giấm, nước mỗi thứ một nửa, sắc lấy nước ngậm ngày vài lần.

- Đại, tiểu tiện ra máu: Lấy rau muống lượng vừa đủ, rửa sạch, vò nát vắt lấy nước cốt cho mật ong vào uống. Ngày 1-2 lần.

- Trị đi ngoài ra máu, đái ra máu, nước tiểu đục: Rau muống tươi giã nát vắt lấy nước cốt cho mật ong vào uống, mỗi lần 30-50ml.

- Trị chứng chảy máu mũi: Rau muống tươi 100g, đường đỏ vừa đủ, sau nghiền nát cho nước sôi vào mà uống.

- Dạ dày, ruột thấp nhiệt (đi ngoài phân cứng rắn): Hằng ngày lấy rau muống xào hay nấu canh ăn.

- Trị chứng lòi dom, trĩ: Lấy 100g rau muống nấu nhừ gạn lấy nước, cho 120g đường trắng, nấu lên thấy sánh như kẹo mạch nha lấy uống, ngày 2 lần, mỗi lần 100g.

- Trị mụn nhọt mưng mủ: Lấy rau muống tươi rửa sạch, lượng vừa đủ, giã nhuyễn, trộn với mật ong vừa phải, rồi đắp vào mụn nhọt.

- Trị say sắn: Lấy một nắm rau muống giã nát vắt lấy nước cốt cho uống một bát chừng 100-150ml nếu nặng phải đi viện cấp cứu.

Y học hiện đại đã chứng minh rằng rau muống cung cấp nhiều chất xơ, vitamin C, vitamin A..., những người cao tuổi ăn rau ngày 2 bữa có não trẻ hơn 5 năm và ít bị suy giảm tinh thần hơn 40% so với những người ăn ít rau mỗi ngày hoặc không ăn rau.

Đông y cho rằng rau muống có vị ngọt, tính hơi lạnh (khi nấu chín thì lạnh giảm) đi vào các kinh tâm, can, tiểu trường, đại trường. Có công năng thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, thông đại tiểu tiện, lợi thủy, giải độc khi cơ thể bị xâm nhập các chất độc của nấm độc, cá, thịt độc, lá ngón, khuẩn độc, hoặc độc chất do côn trùng, rắn, rết cắn... Rau muống có nhiều tính năng và tác dụng trong việc phòng, chữa nhiều chứng bệnh mà tiêu biểu là thanh nhiệt, giải độc trong mùa hè, thanh nhiệt, lương huyết, cầm máu, chữa tâm phiền, chảy máu mũi, lưỡi đỏ rêu vàng, khát nước, ù tai, chóng mặt, đau đầu do tăng huyết áp, đau dạ dày, nóng ruột, ợ chua, miệng khô đắng, say hay ngộ độc sắn, giải độc do ngộ độc thức ăn, các chứng chảy máu (chảy máu cam, ho nôn ra máu, tiểu tiện đục hay ra máu, trĩ, lỵ...), sản phụ khó sinh, khí hư, bạch đới, phù thũng toàn thân do thận, bí đái, tiểu đường, quai bị, chứng đẹn trong miệng ở trẻ, lở ngứa, loét da, zona (giời leo), rôm sảy, sởi, thủy đậu ở trẻ em, ong đốt, rắn giun cắn...


Theo 24H.COM.VN (SK&ĐS)
Có rất nhiều trẻ nhỏ ở Mỹ thường xuyên được cha mẹ cho uống vitamin, khoáng chất mà người ta quen gọi là thuốc bổ, nhưng đây lại là việc làm thiếu khoa học bởi lẽ có rất nhiều trường hợp không cần thiết.

http://www.tienphong.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=218259

Các chuyên gia ở Tạp chí Phụ nữ (SK) của Mỹ vừa cập nhật một số thông tin về cách sử dụng thuốc bổ đối với nhóm trẻ nhỏ.

Thiếu hụt Vitamin D

Trong khi có rất nhiều trẻ sống ở các nước giàu có thừa dưỡng chất, thì  một lượng lớn trẻ ở các nước nghèo lại bị suy dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu vitamin D và sắt.  

Theo số liệu của Trung tâm nhi khoa (ACE) của Mỹ thì có tới 24% trẻ lớn tuổi thiếu hụt vitamin D, đây chính là nguyên nhân làm gia tăng bệnh về xương lúc cuối đời.

Chính vì tầm quan trọng như vậy mà hiện nay tại Mỹ người ta đã tăng liều dùng vitamin D từ 200 IU(đơn vị quốc tế)  lên 400 IU. Việc tắm nắng cũng là phương pháp tốt giúp cơ thể hấp thụ và sử dụng tốt nguồn dưỡng chất nói trên.

Thiếu hụt sắt

Cũng theo nghiên cứu của UC thì có tới 10-30% trẻ lớn tuổi ở Mỹ thiếu hụt sắt nghiêm trọng còn theo điều tra của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) thì chỉ có 60% trẻ dưới 5 tuổi, 28% bé gái từ 12-19 tuổi được cung cấp đầy đủ nhu cầu về sắt cho cơ thể.

Sắt là khoáng chất vô cùng quan trọng, có  trong máu giúp máu vận chuyển ôxy có hiệu quả tới cơ và mô. Thiếu hụt sắt dẫn đến thiếu máu, gây mệt mỏi kinh niên.

Riêng ở trẻ nếu thiếu máu sẽ dẫn đến các rủi ro gây ảnh hưởng đến nhận thức, học hành suy giảm, dễ mắc chứng bệnh về thần kinh. Và cũng phải nói thêm rằng nếu có quá nhiều sắt cũng không tốt, vì vậy khi cho trẻ uống viên sắt cần tư vấn kỹ bác sĩ.

Mối bất lợi của việc tiêu thụ vitamin, khoáng chất không hợp cách

Thiếu hụt dưỡng chất mạn tính rất nguy hiểm đối với sức khỏe trẻ nhỏ. Ví dụ, thiếu sắt gây thiếu máu ảnh hưởng đến nhận thức, trí thông minh, thiếu hụt kẽm làm tăng bệnh viêm nhiễm và làm suy yếu hệ miễn dịch thiếu hụt vitamin D gây béo phì, yếu xương và giảm chức năng hệ thống miễn dịch.

Những đứa trẻ ăn uống kém thường bị suy dinh dưỡng, đặc biệt, nếu tiêu thụ hàm lượng calo không thích hợp có thể gây béo phì.

Bằng chứng, có trường hợp trẻ rất bụ bẫm mà lại suy dinh dưỡng. Rất có thể trong khẩu phần ăn của những đứa trẻ này có hàm lượng calo cao, thức ăn khoái khẩu, ít chú ý đến rau xanh hoa quả, sữa có hàm lượng mỡ thấp, thực phẩm nguyên chất..., tóm lại là không tiêu thụ đủ hàm lượng vitamin và khoáng chất theo nhu cầu cần thiết của cơ thể.

Làm gì để trẻ không bị suy dinh dưỡng ?

Ăn uống cân bằng khoa học đối với các thành viên trong gia đình là tiêu chí vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo dưỡng chất ở mức cao nhất, riêng đối với trẻ nhỏ lại càng quan trọng hơn. Muốn trẻ không bị suy dinh dưỡng cần chú ý một số tiêu chí sau:

Có kế hoạch cụ thể: Lên kế hoạch cụ thể từ khâu đi chợ, mua sắm, chuẩn bị thức ăn đến khi cho trẻ ăn. Nếu không có kế hoạch sẽ sắp quá nhiều hoặc quá ít, tốn tiền lại không đảm bảo đủ dưỡng chất.

Trọng tâm đến protein: Protein nghèo được xem là thực phẩm làm no cơ thể rất hữu ích mà lại giảm được chi phí.

Ví dụ, thay vì mua một chiếc đùi gà sẽ đắt tiền hơn mua cả con gà. Có thể dùng cho cả gia đình ăn lại nấu được nhiều món, hoặc thay vì rán nướng người ta có thể chế biến thành nhiều món, bổ xung thêm rau xanh, gia vị, đỗ, lạc tạo ra những món ăn ngon, giàu chất xơ có lợi cho cơ thể, không chỉ phù hợp cho trẻ mà còn cả cho các thành viên khác trong gia đình.

Mùa nào thức nấy: Các loại rau xanh, hoa quả thực phẩm nếu ăn theo mùa vừa lợi về mặt dưỡng chất lại giảm được chi phí.

Ví dụ, đối với rau xanh nên đảm bảo tiêu chí 3c: Bắp cải (cabbage), cà rốt (carrots) và rau xanh dạng lá thẫm (colland greens). Đây là nhóm thực phẩm giàu chất chống ôxi hóa, sẵn, dễ kiếm và rẻ tiền.

Khi nào thì nên cho trẻ dùng thuốc bổ ?

Trường hợp ăn uống không đủ chất có thể bổ xung thuốc bổ. Để làm được điều này cần đưa trẻ đi khám và tư vấn bác sĩ. Và cũng phải nhớ thêm rằng dù uống thuốc bổ thì việc cho trẻ ăn uống khoa học, cân bằng và đủ chất, tăng cường luyện tập vẫn là những tiêu chí quan trọng hàng đầu.

Đơn giản, những viên thuốc bổ không thể thay thế được protein, carbohydrate, chất béo hoặc chất xơ giúp cơ thể sản xuất năng lượng, Ngoài ra,  thuốc bổ cũng không thể thay thế các hoạt động thể chất để duy trì trọng lượng cơ thể thích hợp và ngăn ngừa những căn bệnh nan y, nhất là bệnh tim mạch.

Theo Tienphong
Một số loại rau quả có vị đắng dưới đây có tác dụng giảm béo hiệu quả, thanh nhiệt, giải độc...

http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2009/08/02/e0emuop-dang-2809.jpg

1. Rau cần tây - Giảm béo hiệu quả

Theo nghiên cứu gần đây nhất của trung tâm nghiên cứu bệnh tiểu đường và bệnh béo phì của các nhà khoa học Newyork, rau cần tây có vị đắng nhẹ, không quá nồng, chứa đến 95% hàm lượng nước. Một cây cần tây chứa khoảng từ 4-5 calo. Tuy nhiên, khi ăn, chúng ta phải mất từ 4-5 calo để nhai nhừ cần tây, cộng thêm khoảng 5 calo để thực hiện quá trình tiêu hóa cần tây. Do đó, nhiệt lượng để tiêu hóa cần tây còn vượt quá lượng calo mà cây cần tây có thể cung cấp cho cơ thể. Chính vì lý do này, cần tây có vai trò tích cực trong quá trình giảm béo.

Lưu ý: Phương pháp chế biến cần tây để đạt hiệu quả giảm béo nhất đó là: cho cần tây tươi đã được rửa sạch vào nước đã đun sôi khoảng 2 phút rồi cho ra ngoài. Thái nhỏ cần tây, cho thêm một chút táo xanh để làm món salat vừa thơm ngon, vừa bổ dưỡng, lại có tác dụng giảm béo hữu hiệu.

2. Măng tây - Lợi khí, lợi tiểu

Hàm lượng dinh dưỡng trong măng tây vô cùng phong phú, có vị mát, đắng dịu giúp kích thích sự thèm ăn, là trợ thủ đắc lực của hệ tiêu hóa.

Ngoài ra, thành phần kali dồi dào trong măng tây giúp lợi tiểu, làm giả áp lực cho hệ tim mạch, vô cùng có lợi cho những người mắc chứng huyết áp cao hay lượng cholesterol trong máu vượt chuẩn.

Theo sách Đông y, măng tây có tác dụng thanh nhiệt tiêu đờm, hạ hỏa giải độc, có tác dụng lợi khí, tạo cảm giác thoải mái cho cơ thể.

Lưu ý: Hòa thành hỗn hợp bao gồm nước cốt chanh, mật ong, nước lọc( sạch), muối tinh theo lượng thích hợp vừa khẩu vị của mỗi người. Sau đó cho thêm một vài miếng măng tây, mấy lát cà chua rồi để vào tủ lạnh bảo quản. Như vậy, mùa hè nắng nóng này bạn đã có thứ thực phẩm hấp dẫn, vừa giải khát vừa tốt cho sức khỏe.

3. Quả hạnh nhân - Thanh nhiệt, giải độc

Hạnh nhân được biết đến như một trong các vị thuốc đông y giúp thanh nhiệt, tiêu độc. Bởi hạnh nhân rất dễ tiêu hóa, giúp lợi tiểu, lại có hàm lượng xenlulozơ phong phú có lợi cho phổi và có khả năng thanh nhiệt, giải độc cao. Do đó cũng góp phần” đào thải” các chất cặn bã ra ngoài cơ thể, giúp giảm béo hiệu quả.

Lưu ý: Trước khi sử dụng loại quả hạnh nhân có vị đắng làm vị thuốc giảm cân, cần phải trần qua nước sôi để bớt đắng cũng như một số độc tố có hại trong hạnh nhân.

4. Qủa sơn trà (sơn tra, táo mèo) - Giàu hàm lượng chất xơ

Sơn trà có tính dịu mát, vị chua ngọt pha chút vị đắng nhẹ, giàu hàm lượng chất xơ và các thành phần khoáng chất.

Cứ 100 gam sơn trà thì lại có 0,4 gam protein, 6,6 gam cacbonhydrat, đồng thời còn chứa vitamin B và C. Do đó, đây là loại quả có tác dụng giảm béo rất tốt.

Ngoài ra, sơn trà còn chứa nhiều axit hữu cơ, kích thích tiêu hóa, có tác dụng tích cực trong quá trình tiêu hóa và hấp thụ thực phẩm cũng như giải khát hiệu quả.

5. Mướp đắng - “Sát thủ của chất béo”

Nghiên cứu cho thấy, mướp đắng là” sát thủ của chất béo” giúp giảm béo hiệu quả. Chất giúp tiêu mỡ đặc biệt trong mướp đắng có tác dụng giảm tới 40-60% lượng đường trong cơ thể. Do đó, mướp đắng là một trong những loại quả được dùng trong Đông y khá phổ biến, vừa có tác dụng chữa bệnh đau đầu, vừa giúp giảm cân hiệu quả.

Lưu ý: Không nên xao mướp đắng ở nhiệt độ quá cao, bởi nhiệt độ cao sẽ làm hàm lượng chất có tác dụng giảm béo bị phân hủy. Do đó, tốt nhất nên thái nhỏ mướp đắng để làm các món nộm, salat. Như vậy sẽ đảm bảo hiệu quả giảm béo, giúp bạn sở hữu một thân hình thon gọn, khỏe mạnh.

Phạm Hằng

Theo Xinhuanet
Cá và các sản phẩm từ cá có giá trị dinh dưỡng cao, đặc biệt đó là nguồn cung cấp vitamine quan trọng. Mỡ cá, nhất là mỡ gan, có nhiều vitamine A, D và các vitamine nhóm B. So với thịt, cá có nguồn chất khoáng quý hơn. Tỷ số canxi/photpho ở cá cân đối hơn thịt.

Các yếu tố vi lượng như đồng, kẽm, iốt cũng là nguồn dinh dưỡng đáng chú ý, đặc biệt, iốt ở một số loại cá biển rất cao. Cá biển còn có chứa nhiều Clo và Fluo, có tác dụng tốt đối với xương và răng. Ngoài ra, trong cá còn có DHA, đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của tế bào não và hệ thần kinh.

Giảm nguy cơ bệnh tim mạch ở người bị tiểu đường. Bệnh nhân bị tiểu đường, nếu ăn cá ít nhất năm lần/tuần, thì nguy cơ mắc bệnh tim trong vòng 16 năm sẽ thấp hơn 64% so với người hiếm khi ăn cá. Những người trưởng thành, nên ăn cá ít nhất hai lần/tuần. Tốt nhất là chọn những loài cá có mỡ, vì chúng chứa acid béo Omega-3, có tác dụng bảo vệ tim mạch.

Hạ mỡ máu: Nghiên cứu trên người đã chứng minh, DHA và EPA trong cá làm giảm đáng kể hàm lượng trigtycerid trong máu, nhờ đó làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Chống huyết khối: Là nhờ các acid béo Omega-3 trong cá đẩy mạnh việc sản xuất chất chống kết tụ tiểu cầu, làm giảm sự tổng hợp chất thúc đẩy kết dính tiểu cầu.

Giảm và đảo ngược quá trình tạo xơ vữa: Các Omega-3 có tác dụng ức chế tăng sinh tế bào cơ trơn, nhờ đó làm giảm phát triển xơ vữa động mạch.

Làm giảm nguy cơ bệnh Alzheimer (suy giảm trí nhớ): Ăn cá thường xuyên sẽ giúp giảm đáng kể khả năng mắc bệnh rối loạn thần kinh, đặc biệt là căn bệnh Alzheimer ở người có tuổi.



                                                                               Theo Phụ Nữ
Cận thị có thể cải thiện được nhờ ăn uống. Dưới đây là những món ăn người cận thị nên dùng.

Thức ăn chứa nhiều vitamin A. Thiếu vitamin A sẽ sinh ra chứng quáng gà, đến mức không nhìn rõ được thứ gì dưới ánh đèn yếu. Ngoài ra còn sẽ làm cho tế bào biểu mô tuyến lệ bị tổn hại, dẫn đến bệnh khô mắt. Thức ăn chứa nhiều vitamin A có các loại gan động vật, sữa bò, sữa cừu, lòng đỏ trứng gà, dầu gan cá, v.v...

* Thức ăn chứa nhiều caroten. Sau khi được cơ thể hấp thu, nó sẽ chuyển hoá thành vitamin A. Những thức ăn này chủ yếu có rau xanh, cải trắng, rau cải xanh,  rau  chân vịt, cài dầu, đậu xanh, bí đỏ, cà chua, cà rốt, táo, khoai lang, bí, gấc.

* Thức ăn có chứa nhiều vitamin B1  và niacine. Thiếu vitamin B1 sẽ gây viêm dây thần kinh thị giác, sung huyết nhú dây thần kinh thị, xuất huyết thị võng mạc, giảm thị lực nhanh. Thiếu niacine sẽ gây ra  rung giật nhãn cầu, thị giác yếu. Thức ăn chứa hai loại chất này tương đối nhiều, có đậu các loại, thịt nạc, lạc, gạo lứt, rau lá xanh, đậu xanh, táo, ngô.

* Thức ăn có nhiều vitamin B2, nhằm đảm bảo cho thị võng mạc và giác mạc chuyển hoá được bình thường. Thiếu vitamin B2 sẽ xuất hiện các triệu chứng chảy nước mắt, mắt đỏ, ngứa, viêm viền mi, viêm giác mạc, đục thuỷ tinh thể. Những thức ăn chứa vitamin B2 tương đối nhiều có nội tạng động vật, sữa bò, cừu, thịt nạc, trứng các loại, đậu các loại, rau lá xanh.

* Thức ăn có chứa nhiều crom, nguyên tố liên quan chặt chẽ với việc gây cận thị. Thiếu crom sẽ kích thích thuỷ tinh thể mắt lồi ra, gây tăng độ cận thị. Nguồn thức ăn chủ yếu có chứa crom là men bia rượu, gan động vật, thịt bò, bột mì thô, gạo lứt, đường đỏ, nước nho, nấm các loại.

* Thức ăn chứa nhiều kẽm. Võng mạc mắt chứa nhiều kẽm cao nhất, trong mi mắt hàm lượng cũng tương đối nhiều. Thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng tới thị lực. Thức ăn chứa nhiều kẽm có sò biển, cá trích, gan, trứng.

http://www.tienphong.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=217933

* Thức ăn chứa nhiều calcium (canxi), liên quan tới nhãn cầu. Thiếu calcium, sự đàn hồi của củng mạc nhãn cầu sẽ bị giảm, nhãn cầu giãn, phát triển thành cận thị. Thức ăn chứa nhiều calcium có tôm moi, rau câu, tương vừng, đậu tương, bơ, lòng đỏ trứng.

* Thức ăn chứa selen, liên quan  tới độ nhanh nhạy của thị lực. Nếu mỗi ngày không  đưa vào một lượng selen nhất định, sẽ phát sinh cận thị và các bệnh về mắt khác. Thức ăn chứa nhiều selen có cá tôm, các loại sò, hến và các món ăn bằng bột mì, gạo lứt, đậu tương, vừng, ớt, tỏi, hành tây, nấm, rau mã thầy, cà rốt.

* Thức ăn chứa nhiều phosphor, chất quan trọng để duy trì độ dẻo dai của củng mạc. Thức ăn chứa nhiều phosphor có cá, tôm, sò biển, sứa, tảo đỏ, rau câu

* Thức ăn kiềm tính. Nếu đưa vào quá nhiều các thức ăn acide (axit)  tính, dễ gây ra cận thị. Thức ăn kiềm tính chủ yếu là rau xanh, trái cây, đậu các loại. Cá thịt, trứng, đường, gạo mì, v.v…, thuộc loại thức ăn axit tính.

Theo Kiên Tâm
Với quan niệm ăn chay tốt cho sức khỏe, có thể chữa được một số bệnh, ngày càng nhiều người chuyển từ ăn mặn sang ăn chay. Nhưng theo các chuyên gia dinh dưỡng, không phải ai cũng có thể ăn chay được. Và ăn chay cũng cần phải đúng cách.

http://210.86.231.15/portal/images/Share/anchay-30.jpg

Các nghiên cứu về dinh dưỡng đã cho biết rằng, một thực đơn chay giàu dinh dưỡng bao gồm: trái cây, rau, đậu các loại sẽ giúp giảm béo, giảm nguy cơ bệnh tim, nguy cơ áp suất máu cao, chống lại sự gia tăng của bệnh tiểu đường và phần nào giảm nguy cơ ung thư.

Nhưng ăn chay chỉ tốt trong những trường hợp cần ăn kiêng thực sự bằng chế độ ăn chay.

Tác dụng của ăn chay trong một số trường hợp

Giảm cân: Theo bác sĩ Neal Barnard và cộng sự thuộc Ủy ban bác sĩ về Trách nhiệm Y khoa, những người ăn chay trường thường có quá trình đốt cháy calorie gia tăng sau mỗi bữa ăn so với những người ăn mặn.

Điều này có nghĩa là thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật có tác dụng như nguồn cung cấp nguyên liệu cho cơ thể, trái ngược hoàn toàn với việc được tích trữ của chất béo.

Theo nghiên cứu này, những người ăn chay trường có dáng người gọn hơn những người ăn thịt, và họ được xếp vào nhóm những người ít nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, huyết áp cao và những bệnh do tăng trọng và béo phì.

Giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư: Theo thống kê của các nhà dịch tễ học, 35% trường hợp mắc ung thư là liên quan đến ăn uống. Người ăn chay ít mắc bệnh và tử vong vì ung thư miệng họng, tiền liệt tuyến, nhất là đại tràng hơn người ăn mặn.

Lý do là thức ăn chay chứa nhiều chất xơ, ít chất béo. Thức ăn chay còn chứa nhiều chất có tiềm năng ngừa ung thư như: các chất chống oxy hóa và một số hóa chất thực vật.

Giảm huyết áp: Ăn chay giúp làm hạ huyết áp và giảm nguy cơ bị bệnh tim mạch. Chế độ ăn chay chứa nhiều kali, phức hợp carbohydrates, chất béo không no, chất xơ, calcium, magnesium, vitamin C and vitamin A, tất cả có ảnh hưởng tốt đến huyết áp.

Huyết áp của người ăn chay trường thường có khuynh hướng thấp hơn người ăn mặn và ít tăng theo tuổi tác hơn. Các nghiên cứu cho thấy: càng ăn nhiều thức ăn từ động vật, huyết áp càng có khuynh hướng tăng cao.

Giảm bệnh động mạch vành tim: Do thức ăn chay chứa nhiều xơ, ít béo, ít cholesterol, tỷ lệ giữa chất béo không no và chất béo no cao, trong khi bệnh động mạch vành tim gắn liền với lượng cholesterol máu, nên người ăn chay có lượng cholesterol trong máu, nhất là loại LDL, thấp hơn hẳn so với người ăn chay có dùng sữa và người ăn thịt.

Trên thực tế, lượng mỡ trong máu tùy thuộc nhiều vào số lượng và loại chất béo mà người ăn chay ăn vào.

Giảm nguy cơ bị sỏi thận: Người ăn chay thải canxi, oxalat, axít uric ra nước tiểu ít hơn người không ăn chay do đó ít bị sỏi thận hơn.

Ăn chay cũng có thể mang bệnh

Bên cạnh mặt tích cực, các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, ăn chay cũng có hạn chế vì nó có thể mang lại một số bệnh:

- Vô sinh: Nhiều nghiên cứu cho thấy ăn nhiều đậu tương (món ăn chính của người ăn kiêng bởi vì nó cung cấp protein) có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ.

Các nhà nghiên cứu ở trường ĐH King London cho biết hợp chất genistein trong đỗ tương sẽ ngăn cản không cho tinh trùng bơi đến trứng, do đó phụ nữ nên hạn chế ăn đỗ tương khoảng 1 tháng trong giai đoạn muốn thụ thai.

- Trầm cảm: Một trong những loại vitamin mà người ăn chay thường thiếu nhất là vitamin B12 – vốn chỉ tìm thấy trong thịt và các sản phẩm từ sữa hoặc các loại ngũ cốc chưa qua chế biến. Vitamin B12 được biết đến là một chất thiết yếu cho sự phát triển của các tế bào và sự vận hành của hệ thần kinh.

Thiếu vitamin B12 có thể gây ra các rối loạn thần kinh, bao gồm sự thất thường của cảm xúc và trầm cảm.

- Teo cơ: Theo Louise Sutton (chuyên gia dinh dưỡng của ĐH Leeds): Bất kỳ ai chuyển từ chế độ ăn thịt sang ăn chay đều có nguy cơ bị teo cơ”, một trong những tác dụng phụ thường gặp ở chế độ ăn giảm protein.

Những người không nên ăn chay

Theo BS Phan Bích Nga, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, những trường hợp sau đây không nên ăn chay: Độ tuổi tăng trưởng (dưới 18 tuổi): Trẻ em và tuổi thiếu niên nếu ăn chay có thể nguy hiểm cho sự tăng trưởng.

Phụ nữ có thai ăn chay thường nhẹ cân, ít tăng cân và có nguy cơ sinh con thiếu cân, do đó càng không nên ăn chay. Bà mẹ cho con bú, người gầy yếu, suy dinh dưỡng, thiếu máu cũng là những đối tượng không nên ăn chay.

Nam giới tuổi dưới 50 - 60: Trong chế độ ăn chay, chất đạm chủ yếu là từ đậu tương, mà trong đậu tương hàm lượng oestrogen (nội tiết tố chủ yếu của nữ giới) thực vật cao, do đó sẽ phần nào ảnh hưởng đến nam tính.

Nam giới không nên ăn quá nhiều đậu phụ hoặc các sản phẩm chế biến từ đậu tương như người ăn chay tuyệt đối.

Những người nên ăn chay

Cùng theo BS Phan Bích Nga, những người do công việc phải tiếp khách với các buổi tiệc tùng liên miên, bữa ăn quá nhiều chất đạm chất béo thì nên xen kẽ ăn chay theo đơn vị tuần, hoặc tháng sẽ giảm sự tích trữ chất béo cho cơ thể.

Người thừa cân - béo phì, hoặc có nguy cơ bị thừa cân - béo phì Người bị bệnh tim mạch: Tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, rối loạn chuyển hóa mỡ máu.

Người bị loãng xương hoặc có nguy cơ bị loãng xương nhất là phụ nữ tuổi từ 40 trở lên, nhưng vẫn phải bổ sung một số thực phẩm từ động vật như thịt bò, đồ hải sản để cung cấp nguồn canxi.

Người bị suy thận, sỏi thận. Người già từ 60 tuổi trở lên đối với nam, 45 tuổi đối với nữ, nên ăn chay theo đơn vị tuần, hoặc tháng.

Ăn chay đúng cách

BS Phan Bích Nga khuyến cáo, ăn chay trường sẽ không đảm bảo được sức khỏe, không đảm bảo cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể, cơ thể sẽ bị thiếu axit amin thiết yếu chỉ lấy được từ đạm động vật.

Trừ những trường hợp cần ăn kiêng bằng chế độ ăn chay, để giảm bệnh tật thì cách tốt nhất là nên ăn nhiều thức ăn từ thực vật, bên cạnh đó vẫn cần ăn thêm thực phẩm từ động vật để cơ thể được cung cấp đủ chất.

Trong thực đơn của ba nhóm người (người Okinawa ở Nhật Bản, người Sardinia ở Ý và các tín đồ Loma Linda ở California (Mỹ) được xếp vào hàng trường thọ trên thế giới là ăn nhiều rau, trái cây, ngũ cốc, các loại hạt đậu.

Trứng, bơ, sữa chỉ sử dụng ở mức độ ít đến vừa phải. Họ ăn cá chứa nhiều omega-3. Chỉ ăn no 80% chứ không nên ăn quá no nê. Tập luyện hằng ngày và dùng nhiều thời gian hít thở không khí trong lành.

Không hút thuốc lá, không rượu bia, ngủ đủ, đúng thời gian qui định. Thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa tinh thần bổ ích, lập gia đình và đảm bảo cuộc sống hòa thuận.

Không một món ăn nào cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết, để đảm bảo sức khỏe, bạn cần thay đổi thực phẩm thường xuyên bằng cách dựa vào tỷ lệ dinh dưỡng khi chọn mua thực phẩm.

Bên cạnh đó, hãy kết hợp với việc tập Yoga, thiền, tránh khói thuốc lá, rượu là những yếu tố tích cực đối với sức khỏe phòng ngừa bệnh tật./. (Doanh nhân/Vietnam+)

Theo thoibaoViet.com
Trái cây cung cấp những thức uống giàu vitamin, có giá trị dinh dưỡng cao và đầy đủ các khoáng chất. Nhưng nếu lạm dụng, nó cũng có tác hại đối với sức khỏe con người.

Trên thực tế, hơn 70% người lớn không đáp ứng đủ về hàm lượng dưỡng chất cần có từ rau quả. Đó là lý do vì sao mọi người cần bổ sung vitamin và dưỡng chất từ rau quả qua các loại nước ép. Nhưng các nhà khoa học Mỹ thuộc trường Đại học California đưa ra nhận định, nếu uống quá nhiều đường trái cây mỗi ngày sẽ nguy hiểm hơn là uống nhiều đường gluco và có thể gây ra một số bệnh về tim và tiểu đường. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ở những người thường xuyên lạm dụng đường trái cây đã có sự thay đổi ngoài ý muốn các chức năng của gan và tích tụ mỡ nhiều hơn. Nên tránh uống các loại nước quả đóng chai hay nước quả cô đặc vì nó có chứa rất nhiều nhiều đường. Thêm vào đó, những loại nước này hầu hết đã bị thất thoát hàm lượng lớn vitamin vốn có và không có chứa chất xơ.

Tham gia vào chương trình thí nghiệm có 32 người đang trong tình trạng béo phì. Các nhà nghiên cứu đề nghị những người tình nguyện tham gia nghiên cứu chỉ uống nước đường gluco hoặc đường trái cây liên tục với số lượng lớn trong khoảng thời gian 12 tuần. Điều này đã chỉ ra rằng, không phải tất cả các chất béo đều giống nhau và cũng không phải tất cả cacbonhydrate trong khẩu phần ăn hàng ngày của chúng ta đều giống nhau.

Các nhà khoa học cũng khuyến cáo khi lựa chọn nước trái cây, nên chọn nước cà chua, đây là loại nước trái cây cực kỳ bổ dưỡng, được xem như một loại "thần dược" đối với sức khỏe. Trước hết loại nước trái cây này rất thích hợp với người ăn kiêng hay đang áp dụng liệu pháp giảm cân vì nó chỉ có chứa 53 gam calo, rất ít so với hàm lượng calo của các loại trái cây khác. Hơn thế nữa, đây còn là loại nước trái cây có chứa lượng lớn kali, lycopene, vitamin C, và beta-carotene, cho nên có tác dụng giúp sáng mắt và giúp quý ông phòng ngừa chứng ung thư tuyến tiền liệt - một chứng bệnh thường gặp hàng đầu với các đấng mày râu.

Theo Nongnghiep
Nhìn bề ngoài trái bơ không có vẻ gì bắt mắt nhưng lại chứa "đầy ắp" những lợi ích về sức khỏe vì nó có đến hơn 25 loại vitamin và khoáng chất cần thiết. Dưới đây là 10 lý do tại sao bạn không nên bỏ qua loại trái cây bổ dưỡng này.


1. Các nghiên cứu cho thấy oleic acid là một loại chất béo đơn, không bão hòa được tìm thấy trong trái bơ (hay còn gọi là acid Omega-9), có tác dụng giảm cholesterol và giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, tiểu đường.

2. Lượng kali trong trái bơ còn dồi dào hơn cả chuối (chiếm khoảng 60%). Kali giúp chống lại các bệnh về tuần hoàn máu bao gồm: tăng huyết áp, bệnh tim, đột quỵ.

http://tintuconline.vietnamnet.vn/Library/images/13/2009/07/ngay27/quabo.jpg

3. Loại trái cây này còn chứa lượng lớn vitamin E, một chất chống ôxy hóa được biết đến như một “liều thuốc” có thể làm trẻ hóa tuổi tác, ngoài ra nó còn giúp bảo vệ cơ thể, chống lại các bệnh về tim mạch, ung thư.

4. Đặc biệt trong bơ cũng rất giàu acid folic, nguồn dinh dưỡng quan trọng cho một trái tim khỏe mạnh. Acid folic là một khoáng chất vô cùng cần thiết, nhất là đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai, có vai trò thúc đẩy các tế bào và mô phát triển khỏe mạnh, ngăn ngừa những khuyết tật cho thai nhi như tật nứt cột sống, khuyết ống thần kinh…

5. Bơ còn chứa nguồn lutein cao, có tác dụng bảo vệ đôi mắt, ngăn ngừa các bệnh về mắt như: đục thủy tinh thể, thoái hóa điểm vàng.

6. Nghiên cứu gần đây cũng cho thấy khi dùng thêm bơ trong chế biến các món nước sốt, hay trộn salad sẽ giúp cơ thể thúc đẩy quá trình hấp thụ các chất dinh dưỡng khác như alpha-carotene, beta-carotene, carotenoids.

7. Trong loại quả “màu mỡ” này còn chứa nhiều vitamin K, một loại vitamin đóng vai trò rất quan trọng vào quá trình làm đông máu cũng như giúp hoạt hóa một số protein trong xương để xương có thể phát triển khỏe mạnh.

8. Trái bơ giàu chất xơ nên nó cũng mang lại lợi ích tốt trong việc điều trị và ngăn ngừa chứng táo bón, bệnh trĩ.

9. Một lý do khác không thể bỏ qua loại trái cây vùng nhiệt đới này chính là vitamin B6 chứa trong bơ, đây là loại vitamin rất cần thiết, tham gia vào việc thực hiện các phản ứng hóa học diễn ra trong cơ thể, bên cạnh đó còn tăng cường hệ miễn dịch và sức đề kháng.

10. Do có nhiều lợi ích về dinh dưỡng bao gồm cả vitamin C, kẽm, đồng… trái bơ được Hiệp hội Bệnh Tiểu đường tại Mỹ liệt kê vào danh sách như những “siêu sao” đứng đầu về dinh dưỡng.



Theo Phụ Nữ
Do trong cua biển có nhiều natri và purin nên những người bị cao huyết áp và mắc bệnh gout không nên dùng.

Trong 100g thịt cua biển tươi có 72,2g nước, 17,5g protid, 0,6g lipid, 7g glucid, 141mg canxi, 191mg photpho, 3,8mg sắt, nhiều natri, magiee, axit béo omega 3 và các vitaminA,B1, B2, PP, C… Chú ý phải ăn cua biển còn sống, khỏe mạnh. Cua biển mua về phải chế biến ngay lúc còn tươi, nếu để cua chết, chất đạm trong cua bị thối hỏng, sinh ra những chất độc, ăn không những mất hết hương vị mà còn có thể bị ngộ độc nguy hiểm.

Ngoài ra có một số người cứ ăn cua biển là bị dị ứng, nổi mày đay từng vùng hoặc khắp người, rất ngứa, người nôn nao khó chịu. Đây là những người có thể tạng đặc biệt không hợp với cua biển, tốt nhất là tránh dùng cua biển và tất cả những món ăn có loại hải sản này.

Theo Đông y, thịt cua biển có vị ngọt, mặn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, sinh huyết, tán ứ, giảm đau, bổ xương tủy nên rất tốt cho cơ thể đang phát triển của trẻ em và lứa tuổi vị thành niên, cũng như tình trạng cơ thể suy yếu của người cao tuổi. Dưới đây là một số món ăn đồng thời là bài thuốc dùng cua biển chữa bệnh:

- Thịt cua biển nấu với Hoài Sơn, ý dĩ, sâm bố chính, hạt sen là món ăn-bài thuốc rất thích hợp với những người nóng trong, kém ăn, đái rắt.

- Cua biển làm sạch, ngâm với rượu 5-10 phút, vớt ra, luộc ăn hàng ngày là bài thuốc tăng cường khí huyết, sinh lực, chữa chứng liệt dương, suy yếu của nam giới.

- Mang cua biển (lớp xốp hình vảy dài, phủ lên mình cua, nằm dưới mai) được dùng làm thuốc chữa trẻ em đái dầm. Cách làm đơn giản như sau:

Gỡ mang cua biển ra, rửa sạch, lấy 20-30g luộc chín cho trẻ em ăn đều đặn hàng ngày (từ 15-30g) một thời gian sẽ hết đái dầm.

THeo 24H.COM.VN
THÔNG TIN CHI TIẾT VỀ SẢN PHẨM
K-Liquid Organic Spirulina là đồ uống bổ dưỡng cung cấp năng lượng, tăng cường tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người.
Sản phẩm Spirulina có chứa đến 11 khoáng chất, 4 sắc tố quan trọng, 8 loại axit béo cơ bản và rất nhiều vitamin tự nhiên khác. Đây là một sản phẩm có hàm lượng protein rất cao, giàu năng lượng, chiếm tới 70% lượng dinh dưỡng so với trứng (12%), đậu (35%), thịt bò (17%), sữa (35%), đậu phụ (25%) và ngũ cốc (8 -14%).
Spirulina là một hỗn hợp các chất trong tự nhiên như Diệp lục, Carotine, Phycoyanin và Superoxide Dismutage, trong đó thành phần chính gồm có Cancium, Magie, Sắt, Ph, Natri, Kẽm, Đồng, Crom và các khoáng chất khác. Ngoài ra, trong Spirulina có hàm lượng Beta Carotine cao gấp 10 lần Carôt. Carotine có khả năng chống oxy hoá và đóng vai trò ngăn ngừa các bệnh ung thư cũng như các bệnh liên quan đến tim mạch.
K-Liquid Organic Spirulina là thực phẩm chức năng lý tưởng cho con người ở mọi lứa tuổi và mọi đẳng cấp. Nó rửa sạch mọi tế bào bên trong cơ thể thúc đẩy hệ thống miễn dịch.

Spirulinalà thực phẩm giàu beta-carotene (protein-vitamin A), hơn 10 lần so với càrốt.
Cơ thể người có thể chuyển beta-carotene thành Vitamin A khi cần thiết.
Vitamin A quan trọng trong việc chăm sóc màng mắt và sắc tố mắt.
Beta-carotene làm giảm lượng cholesterol và ngăn ngừa ung thư.
Spirulina là nguồn bổ sung Vitamin B12, B12 quan trọng trong việc sản xuất tế bào hồng cầu, tuỷ sống và phát triển hệ thần kinh.
Nguồn thức ăn từ hệ thực vật nói chung đều không chứa vitamin B12. Những người ăn chay nên sử dụng Spirulina để bổ sung lượng vitamin cần thiết

Công dụng :
-Bồi bổ sức khoẻ ,tăng lưc ,cung câp vitamin ,khoáng chất thiêt yếu cho cơ thể
=Dùng cho bệnh nhân có thể trạng yếu và rất yếu cần phục hồi nhanh
-Dùng cho bệnh nhân đang cần chế độ ăn kiêng đăc biệt.
                                Nha phan phoi :Cong ty Phu Hai BG
                               -DT 02403856218 –Fax 02403856218
         -WEB :   http://www.quangcaosanpham.com/shop/thuocqui
          Emall : thacsythienquang@yahoo.com.vn
Chi tiêt thêm ve san pham
Đây là một loại vi sinh vật có hình xoắn sống trong nước mà người ta quen gọi là Tảo xoắn với tên khoa học là Spirulina platensis. Thực ra đây không phải là một sinh vật thuộc Tảo (Algae) vì Tảo thuộc nhóm Sinh vật có nhân thật (Eukaryotes). Spirulina thuộc Vi khuẩn lam (Cyanobacteria), chúng thuộc nhóm Sinh vật có nhân sơ hay nhân nguyên thủy (Prokaryotes). Những nghiên cứu mới nhất lại cho biết chúng cũng không phải thuộc chi Spirulina mà lại là thuộc chi Arthrospira. Tên khoa học hiện nay của loài này là Arthrospira platensis, thuộc bộ Oscilatoriales, họ Cyanobacteria (http://www. cyanotech.com/ spirulina/ spirulina_specs.html)
 Phân tích các viên nén Spirulina thường được sản xuất tại Hawaii người ta nhận thấy hàm lượng protein > 52%; beta-carotene> 1600mg/kg; tổng số carotenoids> 3500mg/kg; phycocyanin (thô)> 10% (www.cyanotech.com) . Tỷ lệ từng acid amin trong sinh khối Spirolina được Chen Tiannfeng (Jinan Univ.) xác định như sau (mg/g):Asp-54,12; Glu-81,43; Ser-23,71; Arg-28,17; Thr-32,88; Gly-23,63; Ala-30,49; Pro-17,12; Val-20,81, Met-9,56; SeMet- 0,26; Ile-20,50; Leu-32,70; Phe- 18,87; Cys+CysH- 11,26; Lys-19,82; His- 5,90; Tyr-13,21.
        Nhiều nghiên cứu cho biết sinh khối Spirulina có thành phần calcium spirulan, là chất có tác dụng ức chế sự phát triển nhiều loại virus , kể cả HIV . Sinh khối này còn làm hạ lượng chứa cholesterol trong máu. Thành phần phycocyanin có tác dụng oxy hóa nên làm ức chế độc tố gan hepatotoxin. Spirulina có tác dụng nâng cao tính miễn dịch, nâng cao sức đề kháng của cơ thể. Nghiên cứu của R. Kozlenko và cộng sự (www.spirulina.com/SPLNews96.html)  đã chứng minh Spirulina có tác dụng ngăn cản sự xâm nhập của virus qua màng tế bào. Các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đã chứng minh khả năng ức chế ung thư của sinh khối hay dịch chiết của Spirulina (M.Babu et al., 1995; L.Lisheng et al. 1991; Pang Qishenet al., 1998). Spirulina có tác dụng kích thích sự tăng nhanh các tế bào hồng cầu  bạch cầu và nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể (M.A.Qureshi et al./1995, 1996). Tác dụng phổ biến của việc sử dụng thường xuyên các viên nén Spirulina là giảm khả năng ung thư, nâng cao tính miễn dịch, ức chế virus, chống lão hóa và làm giảm nếp nhăn, làm giảm cholesterrol máu, hạn chế các tai biến về tim mạch...




Các nhà nghiên cứu Nhật Bản vừa đưa ra kết luận từ đề tài mới nhất của họ về tác dụng mới của cây bông cải xanh (súp lơ xanh). Theo đó, loại rau này có khả năng chống lại các vi khuẩn xâm nhập gây ung thư dạ dày.

Trước đó, các nhà khoa học đến từ trường Y Johns Hopkins, Baltimore, Mỹ đã khẳng định tác dụng này của cây bông cải xanh trên cơ thể động vật.

Nghiên cứu lần này của nhóm chuyên gia thuộc ĐH Khoa học công nghệ Tokyo đã chứng minh thành công tác dụng chống ung thư dạ dày đối với con người.

Trong bông cải xanh có chứa hàm lượng glucoraphanin (sulforaphane chống oxy hóa) đáng kể. Các chuyên gia đã khẳng định đây là một loại dưỡng chất giúp tăng cường sức đề kháng, chống sưng viêm và nhiễm khuẩn cho cơ thể.

Nhờ đó, chất này có thể phát huy tác dụng với những nhân tố mang mầm mống ung thư muốn xâm nhập vào cơ thể. Tuy tác dụng này không đủ mạnh nên phòng ngừa không triệt để, nhưng thói quen ăn bông cải xanh sẽ bảo vệ rất hiệu quả cho cơ thể khỏi nguy cơ ung thư.

Bệnh ung thư dạ dày thường gặp là do vi trùng xoắn (Helicobacter pylori) từ môi trường xâm nhập vào cơ thể (chủ yếu là khi ăn uống). Các nhà nghiên cứu đã cho những bệnh nhân bị nhiễm độc trung xoắn ăn 70gr bông cải xanh mỗi ngày, trong vòng 8 tuần.

Sau thí nghiệm, tình trạng nhiễm trùng xoắn có dấu hiệu giảm. Nhưng khi ngừng hẳn chu kỳ có bông cải xanh trong thực đơn, hiện tượng nhiễm trùng xoắn lại trở lại như ban đầu.

http://www.tienphong.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=216484

Điều này chứng tỏ cơ thể đòi hỏi phải cung cấp sulforaphane chống oxy hóa thường xuyên thì chất này mới phát huy đc tác dụng chống ung thư dạ dày.

Trong khi áp dụng chế độ ăn bông cải xanh hàng ngày cho nhóm bệnh nhân bị nhiễm trùng xoắn, một nhóm khác có thực đơn là một loại cải khác không chứa sulforaphane chống oxy hóa.

Cũng sau khoảng thời gian 8 tuần, không hề thấy dấu hiệu giảm nhiễm trùng xoắn ở những người này, thậm chí tình trạng nhiễm khuẩn còn tăng theo tiến trình phát triển bệnh.

Thí nghiệm đã cho thấy tác dụng của sulforaphane chống oxy hóa đối với việc phòng chống ung thư dạ dày. Trong tương lai, các nhà khoa học sẽ tiếp tục tìm hiểu rõ về tác dụng của dưỡng chất này lên các khuẩn mang mầm bệnh và lên tế bào ung thư, để có kết luận toàn diện hơn về lợi ích chống ung thư của bông cải xanh.

Phan Hoa
Theo Reuters Health
www.evashop.vn

Tienphongonline
Táo bón là một triệu chứng có thể xảy ra ở bất cứ độ tuổi nào nhưng thường gặp nhất là ở trẻ em.

Có nhiều nguyên nhân gây ra táo bón: nguyên nhân bệnh lý như có khối u trong ruột hay bên ngoài đường ruột làm ngăn cản đường tiêu hoá, viêm dạ dày - ruột, rách hậu môn, do chế độ ăn uống như ăn ít, ăn không đủ chất xơ để tạo đủ lượng phân kích thích gây co bóp đường ruột.

http://www32.24h.com.vn/upload/news/2009-07-15/1247620098_dinh-duong-tao-bon.jpg

Táo bón không do bệnh lý thì áp dụng một số phương pháp sau: ăn đầy đủ lượng thức ăn đáp ứng nhu cầu hàng ngày, ăn nhiều chất xơ (rau, đậu, củ quả), uống nhiều nước; tập thói quen đi tiêu mỗi ngày; tăng cường vận động thể lực như thể dục, thể thao, đánh cầu, đi bộ…, vận động thân thể giúp cho nhu động ruột hoạt động tốt, tiêu hoá thức ăn dễ, ruột thông thương từ đó hết táo bón.

http://www32.24h.com.vn/upload/news/2009-07-15/1247620215-dinh-duong-tao-bon-1.jpg

Người lớn khi bị stress, căng thẳng cũng bị táo bón. Do thần kinh bị căng thẳng, làm giảm nhu động ruột không kích thích hoạt động của hệ tiêu hoá, giảm phản xạ tống phân ra ngoài. Táo bón có thể xảy ra ở người già là do hệ thống tiêu hoá bị suy yếu. Táo bón do chế độ ăn uống hay gặp ở trẻ thiếu ăn (do biếng ăn), ăn ít hoa quả, uống ít nước nhất là trong những ngày nóng nực.

Ngoài ra, ít vận động cơ thể cũng là một nguy cơ gây táo bón. Nếu táo bón do bệnh lý, trước tiên nên chữa nguyên nhân gây ra táo bón. Tránh lo nghĩ, có thể giảm căng thẳng, giảm stress bằng cách thư giãn như nghe nhạc, vui chơi giải trí.

Các thức ăn trị táo bón: rau câu, cam, quýt, bưởi, nước táo, rau xanh, mồng tơi, bồ ngót, rau đay, đọt rau lang, rau muống… Ngoài ra, kết hợp xoa bóp vùng bụng và hít thở bằng bụng cũng là phương pháp trị táo bón hiệu quả.

24H.COM.VN (Theo Tintuconline)
Cà rốt giàu vitamin A, giúp sáng mắt, có lợi nhiều cho sức khỏe. Tuy nhiên, ăn như thế nào để hấp thụ được nguồn vitamin A tốt nhất từ cà rốt thì chắc hẳn nhiều người vẫn chưa biết.

http://www.xaluan.com/images/news/Image/2009/07/20/1248078265.img.jpg

Nên nấu chín hoặc xay ép

Cà rốt chứa nhiều carotene (tiền vitamin A). Lượng carotene hấp thụ vào sẽ được cơ thể chuyển hóa dễ dàng thành vitamin A ở ruột và gan. Ngoài ra, cà rốt cũng là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và có nhiều chất bổ khác như vitamin A, B, C, D, E, acid folic, kali và sợi pectin (giúp hạ cholesterol máu).

Những nguyên tố như canxi, đồng, sắt, magiê, măng-gan, phốt pho, lưu huỳnh có trong cà rốt cũng ở dạng dễ hấp thu vào cơ thể hơn bất kỳ dạng thuốc bổ nào. Trong cà rốt còn chứa nhiều chất chống oxy hóa quan trọng như: beta carotene, alpha carotene, phenolic acid, glutathione... đã được chứng minh có khả năng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ung thư...

Không giống hầu hết các loại rau quả khác, cà rốt đã nấu chín hay xay ép thành nước đem lại nhiều chất dinh dưỡng hơn so với ăn sống.

Cà rốt sống có vách tế bào cứng, làm cơ thể chỉ chuyển hóa được dưới 25% lượng beta carotene thành vitamin A. Tuy nhiên, khi cà rốt đã được nấu chín hay xay ép thì các vách tế bào cellulose dày cứng sẽ bị phá vỡ và phóng thích chất dinh dưỡng, giúp cơ thể hấp thu hơn 50% carotene. Nhưng nếu nấu quá lâu thì cũng làm giảm thành phần dinh dưỡng và mùi vị của cà rốt.

Theo kết quả nghiên cứu của Ðại học Arkansas (Mỹ) đăng trên Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm (8/2000), cà rốt nấu chín (với một ít dầu mỡ) hay xay ép sẽ làm tăng nồng độ các chất chống oxy hóa (beta carotene, phenolic acid), giúp cơ thể dễ hấp thu hơn 34,3% so với ăn cà rốt sống.

Cà rốt nên dùng loại tươi nhất, đã qua đun nấu (tốt nhất là luộc sơ qua). Ngoài ra cần phải nhai nhuyễn cà rốt khi ăn. Để việc hấp thu vitamin A từ thực phẩm được tốt hơn thì nên chế biến cùng một ít dầu, mỡ.

Ăn nhiều vàng da
Thành phần dinh dưỡng

Trong 230g nước ép cà rốt chứa: 70,8 calories; 0,1g chất béo toàn phần; 0g chất béo bão hòa; 0mg cholesterol; 213,3mg natri; 0,6g chất xơ; 1,3g protein; tối thiểu 27.000IU vitamin A; 20,550IU beta carotene; 6.388 IU alpha carotene; 32,2mg canxi; 0,6mg sắt.



Nếu ăn hay uống cà rốt quá nhiều hoặc quá lâu có thể gây vàng da ở lòng bàn tay hay bàn chân. Nguyên nhân do tích tụ carotene từ cà rốt vào máu quá nhiều và làm thấm ra ngoài da.

Tình trạng này không gây nguy hiểm gì và dễ kiểm soát (khác với ngộ độc vitamin A gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, ói, lồi mắt, khô tróc da...). Chỉ cần ngưng hay giảm ăn cà rốt một thời gian sẽ hết vàng da.

Mỗi ngày ăn một củ cà rốt nhỏ bằng nắm tay em bé là đủ nhu cầu vitamin A từ beta carotene.

Ðể tránh ngộ độc phốt pho từ thuốc diệt côn trùng còn sót lại trên cà rốt, trước khi ăn nên rửa sạch, gọt vỏ và cắt bỏ hai đầu.

Loại cà rốt hoang dại Queen Annes Lace có thể gây độc khi ăn. Lá của nó chứa Furocoumarins có thể gây viêm da khi tiếp xúc, đặc biệt khi ướt. Hạt có thể gây sẩy thai.

Cà rốt đã qua đun nấu có chỉ số đường máu (Glycaemic index) là 49, nghĩa là sau khi ăn sẽ làm nồng độ đường trong máu không tăng quá cao (dưới 50 là tốt). Lý do đường trong cà rốt có cấu tạo phức tạp nên được tiêu hóa chậm hơn, bảo đảm cảm giác no kéo dài. Tuy nhiên, bệnh nhân tiểu đường không nên ăn hay chỉ dùng ít nước ép cà rốt.

Theo xaluan.com
THÔNG TIN CHI TIẾT VỀ SẢN PHẨM
K-Liquid Organic Spirulina là đồ uống bổ dưỡng cung cấp năng lượng, tăng cường tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người.
Sản phẩm Spirulina có chứa đến 11 khoáng chất, 4 sắc tố quan trọng, 8 loại axit béo cơ bản và rất nhiều vitamin tự nhiên khác. Đây là một sản phẩm có hàm lượng protein rất cao, giàu năng lượng, chiếm tới 70% lượng dinh dưỡng so với trứng (12%), đậu (35%), thịt bò (17%), sữa (35%), đậu phụ (25%) và ngũ cốc (8 -14%).
Spirulina là một hỗn hợp các chất trong tự nhiên như Diệp lục, Carotine, Phycoyanin và Superoxide Dismutage, trong đó thành phần chính gồm có Cancium, Magie, Sắt, Ph, Natri, Kẽm, Đồng, Crom và các khoáng chất khác. Ngoài ra, trong Spirulina có hàm lượng Beta Carotine cao gấp 10 lần Carôt. Carotine có khả năng chống oxy hoá và đóng vai trò ngăn ngừa các bệnh ung thư cũng như các bệnh liên quan đến tim mạch.
K-Liquid Organic Spirulina là thực phẩm chức năng lý tưởng cho con người ở mọi lứa tuổi và mọi đẳng cấp. Nó rửa sạch mọi tế bào bên trong cơ thể thúc đẩy hệ thống miễn dịch.

Spirulinalà thực phẩm giàu beta-carotene (protein-vitamin A), hơn 10 lần so với càrốt.
Cơ thể người có thể chuyển beta-carotene thành Vitamin A khi cần thiết.
Vitamin A quan trọng trong việc chăm sóc màng mắt và sắc tố mắt.
Beta-carotene làm giảm lượng cholesterol và ngăn ngừa ung thư.
Spirulina là nguồn bổ sung Vitamin B12, B12 quan trọng trong việc sản xuất tế bào hồng cầu, tuỷ sống và phát triển hệ thần kinh.
Nguồn thức ăn từ hệ thực vật nói chung đều không chứa vitamin B12. Những người ăn chay nên sử dụng Spirulina để bổ sung lượng vitamin cần thiết
Công dụng :
-Bồi bổ sức khoẻ ,tăng lưc ,cung câp vitamin ,khoáng chất thiêt yếu cho cơ thể
=Dùng cho bệnh nhân có thể trạng yếu và rất yếu cần phục hồi nhanh
-Dùng cho bệnh nhân đang cần chế độ ăn kiêng đăc biệt.
                                Nha phan phoi :Cong ty Phu Hai BG
                               -DT 02403856218 –Fax 02403856218
         -WEB :   http://www.quangcaosanpham.com/shop/thuocqui
          Emall : thacsythienquang@yahoo.com.vn


Chế độ ăn uống và rèn luyện thể chất là hai yếu tố quan trọng trong mỗi giai đoạn của cuộc sống nhưng chúng càng quan trọng hơn đối với phụ nữ bước qua tuổi 40. Và sau đây là những lời khuyên của các bác sĩ để giúp bạn có được sức khoẻ tối ưu.

1. Điều chỉnh chế độ ăn duy trì trọng lượng có lợi cho sức khỏe

Sau 40 tuổi, phụ nữ nên cân đối lại lượng calorie hấp thụ và có sự điều chỉnh khẩu phần ăn dựa trên mức độ hoạt động của mình.

2. Bổ sung thêm calcium

Phụ nữ trên 40 tuổi cần chú ý hơn tới lượng calci hấp thu. Không có sự cố gắng thiết thực, đa số phụ nữ đều bị thiếu hụt lượng calci được khuyến cáo nên dùng hàng ngày và sẽ tốt hơn nhiều khi được bổ sung hợp lý. Nguồn cung cấp có ích nhất nhất chính là sữa.

http://www32.24h.com.vn/upload/news/2009-07-07/1246928237-che-do-dinh-duong-1.jpg

3. Thực hiện các hoạt động liên quan tới trọng lượng

Tập thể dục có thể kìm hãm các yếu tố ảnh hưởng của bệnh tim và giữ cho xương, cơ chắc khoẻ - điều cực kỳ quan trọng đối với phụ nữ giai đoạn tiền mãn kinh. Các bài tập liên quan tới việc mang vật nặng như cử tạ, tạ tay giúp tăng cường sức bền của xương.

4. Hoạt động thể chất cùng bạn bè và gia đình

Phụ nữ ngoài 40 nên bắt đầu một chương trình tập luyện với một nhóm bạn hay người thân để có động lực và niềm vui thích.

5. Đừng coi nhẹ nhu cầu của bản thân

Phụ nữ có xu hướng đặt những nhu cầu của gia đình lên trên nhu cầu bản thân nhưng khi nhu cầu đó thuộc về sức khoẻ thì phái yếu cần ưu tiên cho nó.

6. Không hút thuốc

Hút thuốc là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong tại Mỹ và 1/5 ca tử vong có liên quan tới thói quen khó từ bỏ này. Hút thuốc ảnh hưởng tới phụ nữ cả bên trong và bên ngoài. Nó liên quan tới quá trình lão hoá, tăng nguy cơ mắc bệnh tim và nhiều dạng ung thư khác.

7. Không nên ngại đi khám bệnh

Theo các bác sĩ, phụ nữ ngoài 40 nên coi khám sức khoẻ là việc cần làm định kỳ. Tuỳ theo nhóm tuổi, các bác sĩ sẽ khuyên chị em nên kiểm tra những gì. Trước khi đến khám bệnh, bạn nên chuẩn bị trước một số câu hỏi cho tất cả những vấn đề sức khoẻ mà bạn đang lo lắng.

8. Theo dõi mọi người khác

Một cuốn sổ theo dõi sức khoẻ gia đình là một cách tốt cho các chị em và gia đình luôn nắm chắc tình hình thể trạng của mình. Đồng thời, bạn nên kèm theo cuốn sổ đó là danh sách liên hệ của các bác sĩ, lịch khám bệnh, các loại thực phẩm dị ứng, thuốc chữa bệnh và danh sách những thuốc đã từng dùng.

Đừng bận tâm tới tuổi tác, chị em ngoài 40 nên thực hiện từng bước để giữ gìn và tăng cường sức khoẻ sẽ giúp bạn khoẻ mạnh và rạng rỡ hơn.

Theo 24h.com.vn
Máy tính đem lại rất nhiều ích lợi nhưng cũng là tác nhân ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và sắc đẹp của bạn, trong đó có đôi mắt. Dinh dưỡng hợp lý là một cách hạn chế những tác hại này của máy tính khá hiệu quả.

Vitamin A: Là loại vitamin có liên quan trực tiếp đến thị lực và võng mạc.

Hàng ngày bạn phải tiếp xúc với máy tính trong thời gian dài, màn hình lại chỉ cách bạn có 30-50cm nên làm tiêu hao lượng vitamin A lớn, khiến cho mắt mệt mỏi, dễ khô mắt.

http://www.tienphong.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=215375

Hãy bổ sung các thực phẩm giàu vitamin A như gan, cá, cà rốt, khoai lang, mãng cầu, trứng… Trong trường hợp cấp bách thì dầu gan cá là một gợi ý tốt.

Nhóm vitamin B: Đặc biệt là vitamin B1, B2, B12 có tác dụng bảo vệ giác mạc và làm khỏe thần kinh thị giác.

Những người thường xuyên làm việc với máy tính thường có áp lực công việc lớn, tăng cường nhóm vitamin B trong thức ăn cũng giúp cơ thể chống lại mệt mỏi.

Những thực phẩm giàu vitamin nhóm B là gạo lức, mạch nha, các loại ngũ cốc chế biến thô, gan, các loại đậu, sữa bò, thịt nạc, các loại rau có màu xanh đậm.

Khoáng chất: Rất có lợi cho thị lực đặc biệt là can xi, kẽm tăng cường tính đàn hồi của nhãn cầu, phòng bệnh cận thị. Sữa và các chế phẩm từ sữa, hải sản, gan, lòng trắng trứng… là nguồn dinh dưỡng giàu can xi, kẽm.

Thức ăn có hại: Có một số loại thực phẩm như nước có ga, rượu, đồ ăn vặt, các loại thực phẩm gia công quá tinh, đồ ăn nhanh… rất được ưa dùng khi dùng máy tính nhưng đây chính là các loại thức ăn làm tiêu hao dưỡng chất của cơ thể khiến cho người ì trệ, mệt mỏi.

Chất kháng gốc tự do: Chất có gốc tự do sẽ tạo ra những tổn thương đối với nhãn cầu và võng mạc mắt, sóng điện từ của máy tính cũng khiến cơ thể sản sinh nhiều gốc tự do nên rất có hại cho mắt bạn.

Vậy thì cần phải tiêu trừ gốc tự do bằng các loại thực phẩm giàu vitamin C, E, B2 như rau xanh đậm, quýt, mãng cầu, dưa chuột, dầu thực vật, đậu, …

T.H (Tienphong)
Theo Đông y, dưa chuột tính lạnh, vị ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, dùng chữa các chứng bệnh do nhiệt như kiết lỵ, phù thũng do thấp nhiệt có kết quả tốt.

Trong 100g dưa chuột có 95g nước, 0,8g protit, 3g glucit, 0,7g xenlulo, tương đương với nhiều loại rau tươi khác như cải sen, cải cúc, cải xoong, cải thìa... Ngoài ra trong dưa chuột còn có nhiều loại vitamin và muối khoáng cần thiết cho cơ thể như caroten 0,3 mg trong 100g, vitamin B1 0,03 mg, vitamin B2 0,04mg, vitamin PP 0,1 mg, vitamin C 5 mg, can xi 23 mg, photpho 27 mg, sắt 1 mg...

Mùa hè, lao động ngoài nắng nóng, mồ hôi ra nhiều, khát nước chỉ cần ăn mấy quả dưa chuột tươi sẽ thấy đỡ khát, đỡ mệt nhiều, vì cơ thể được cung cấp một lượng nước ngon ngọt mát, có nhiều vitamin C và muối khoáng. Ngoài ra bà con ta còn dùng dưa chuột xào, nấu canh, nấu súp, thái nhỏ ăn sống như rau tươi, hoặc muối chua ăn như măng, dưa hành... Gần đây chúng ta phát triển loại dưa chuột bao tử, chế biến cẩn thận và đóng trong các lọ thủy tinh hoặc hộp, ăn ngon, giòn, nhiều vitamin C.

http://www17.24h.com.vn/upload/news/2009-06-14/1244949807-DUA-CHUOT-1.jpg

Theo những nghiên cứu gần đây, nước ép dưa chuột có thể hoà tan axit uric và muối urat nên có tác dụng lợi tiểu, bài sỏi, phòng chống bệnh thấp khớp, thống phong, đồng thời còn là một vị thuốc an thần, giảm sốt, chữa một số bệnh ngoài da như nứt nẻ da, tàn nhang, nếp nhăn... nên có giá trị như một loại mỹ phẩm.

Dưa chuột nghiền lấy nước hoặc thái thành lát mỏng thoa lên mặt, lên tay, chân, có tác dụng làm da nhẵn, mịn màng, tẩy tàn nhang và xoá nhẹ những nếp nhăn, được người dân Nhật Bản và một số nước dùng rất phổ biến.

Ngoài những cách dùng đơn giản, ở nhiều nước người ta còn chế ra các loại nước hỗn hợp gồm dưa chuột phối hợp với một số rau quả khác như táo, chanh, cà rốt... ép lấy nước, hoặc làm thuốc mỡ dưỡng da dưa chuột để bôi và đắp tươi lên da giữ làn da đẹp, mịn màng. Ngoài ra nó còn có tác dụng chống rộp da, bong da vì ánh nắng gay gắt mùa hè.

Theo 24h.com.vn
heo một nghiên cứu do các nhà khoa học tại Tập đoàn Quốc tế về môi trường, ĐH Vermont và Ủy ban Quốc gia về sữa tiến hành năm ngoái, những trẻ uống sữa sẽ có được nguồn dinh dưỡng tốt nhất so với trẻ không uống sữa.

Dưới đây là những điều bạn nên biết về sức khỏe con bạn và sữa:

1. Trẻ cần uống nhiều sữa

Sữa chứa 9 vi chất và vitamin thiết yếu như protein, vitamin A, D, B12, canxi, Kali, phốt pho, vitamin B2, niaxin, kẽm và magiê.

Theo một nghiên cứu do các nhà khoa học tại Tập đoàn Quốc tế về môi trường, ĐH Vermont và Ủy ban Quốc gia về sữa tiến hành năm ngoái, những trẻ uống sữa sẽ có được nguồn dinh dưỡng tốt nhất so với trẻ không uống sữa.

Trẻ vị thành niên nên uống 3 cốc sữa không béo (sữa gầy) hoặc các sản phẩm tương tự như sữa chua mỗi ngày (200ml/ cốc).

2. Uống sữa nguyên kem hay ít béo

Nhiều bậc cha mẹ không biết cho con uống sữa nguyên chất (không lọc béo), sữa 2%, 1% béo hay không béo? Viện hàn lâm Nhi của Mỹ từ lâu đã khuyến cáo nên cho trẻ dưới 2 tuổi uống sữa nguyên chất, thường chứa từ 3,5 - 4% chất béo vì chất béo bão hòa trong sữa rất cần thiết cho sự phát triển trí não của bé.

“80% quá trình phát triển của não bộ diễn ra trong 2 năm đầu đời của trẻ, vì vậy chúng rất cần chất béo vào giai đoạn này”, GS Frank R. Greer, Khoa Nhi ĐH Y và sức khỏe cộng đồng kiêm Chủ tịch Ủy ban dinh dưỡng AAP cho biết.

Đối với trẻ trên 2 tuổi, tốt nhất là cho bé uống sữa ít béo (chỉ từ 1 - 2% chất béo trong sữa). “Đó là điều tối thiểu bạn nên làm vì lúc này trẻ đã “nạp” rất nhiều chất béo có trong thực đơn. Và tuy rằng sữa có nhiều chất dinh dưỡng tốt nhưng bạn cũng đừng coi đó là nguồn cung cấp chất béo cho trẻ”, GS Greer nói.

3. Không phải tất cả trẻ ở độ tuổi tập đi đều nên uống sữa nguyên kem

Vì béo phì là nguy cơ gây ra bệnh tim và thường kéo theo các vấn đề về cholesterol. Viện hàn lâm Nhi khoa khuyến cáo sữa ít béo (dưới 2%) tốt đối với trẻ 1 tuổi có thân hình mũm mĩm - giáo sư cho biết, nhất là những trẻ 1 tuổi đang bị thừa cân, có cha mẹ béo phì hoặc gia đình có người bị bệnh tim. Trẻ thường ăn nhiều chất béo từ các nguồn thực phẩm khác hơn là từ sữa.

5 điều cần biết về sữa đối với trẻ em, Y tế - thiết bị, Trẻ uống sữa, dinh dưỡng, sữa nguyên kem, chất béo, cholesterol, thừa cân, bệnh tim

4. Uống sữa có thêm phụ gia hương vị không phải lúc nào cũng gây hại

Việc hạn chế cho trẻ em và thiếu niên uống sữa có phụ gia hương vị có thể dẫn đến những tác dụng không mong muốn như bị giảm nguồn dinh dưỡng “nạp” vào.

Sữa có hương vị, thậm chí những loại chứa nhiều đường và nhiều calo hơn thì vẫn tốt hơn những loại không có hương vị. Loại sữa được tạo hương vị giàu dinh dưỡng với 9 dinh dưỡng thiết yếu như những loại sữa khác.

Mỗi cốc sữa 200ml cung cấp 300 mg can xi - dinh dưỡng quan trọng thứ tư đối với trẻ trong thực đơn. Sữa tạo hương vị nhưng có màu trắng chứa 2 loại đường tự nhiên và nhân tạo (gần ½ lượng đường trong sữa có hương vị là đường tự nhiên); sữa này chứa ít đường hơn các loại đồ uống khác dành cho trẻ em như nước ngọt.

Trung bình 1 cốc sữa tạo hương vị 200ml ít béo cung cấp 158 calo trong khi sữa thường ít béo chỉ có 105 calo. 1 ly nước trái cây 350ml chứa 192 calo và 1 ly nước soda chanh dung lượng tương tự chứa 148 calo nhưng không có dinh dưỡng như sữa.

5. Trẻ không thích đường sữa cũng có thể dùng sữa và các sản phẩm từ sữa

Ủy ban dinh dưỡng AAP khuyên các bậc cha mẹ không nên bỏ các sản phẩm từ sữa ra khỏi thực đơn của những trẻ và thiếu niên không thích đường sữa. Lý do là vì canxi trong những thực phẩm này rất quan trọng đối với hệ xương và các sản phẩm chế biến từ sữa cũng chứa những dưỡng chất quan trọng cho sự phát triển của trẻ.

Theo Dantri
Nếu tóc rụng đến mức trông thấy, cùng với đó là tình trạng khô, xơ xác thì cần lập tức xem lại chế độ dinh dưỡng. Giải đáp của các chuyên gia dinh dưỡng sẽ giúp bạn khôi phục lại mái tóc ngày nào.

1. Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng tới chất lượng tóc như thế nào?

Tóc chính là hình ảnh chân thực nhất của lối sống của mỗi người.  Khi chúng ta bị stress, mệt mỏi, ốm đau... tóc sẽ bị ảnh hưởng nặng nề với các biểu hiện nhờn, dễ gẫy...

Và thực phẩm luôn là một yếu tố quan trọng, giúp phục hồi và nuôi dưỡng tóc. Thực hiện một chế độ ăn cân bằng hàng ngày sẽ cung cấp cho chân tóc tất cả những dưỡng chất cần thiết, giúp tái tạo, bảo vệ độ đàn hồi và chắc khỏe của tóc.

Những thực phẩm tốt cho tóc là những thực phẩm chứa protein axit amin (thịt, cá...) và các loại vitamin như B và PP...

2. Vai trò của thực phẩm trong việc điều trị hiện tượng rụng tóc?

Một chế độ ăn uống cân bằng, đa dạng giúp mang lại cho tóc những dưỡng chất cần thiết. Chế độ dinh dưỡng quá nghèo nàn hay quá dư thừa đều ảnh hưởng xấu chất lượng tóc của bạn. Chính vì vậy những người thường ăn quá nhiều chất béo hay những người có lượng cholesterol trong máu cao đều có nguy cơ rụng tóc cao hơn những người có chế độ ăn uống cân bằng.

Ngoài ra một số loại thuốc chữa bệnh (thuốc điều trị lượng cholesterol trong máu,...) có thể gây ra những tác dụng phụ như rụng tóc...

Tuy nhiên cũng cần phải biết rằng rụng tóc cũng là một bệnh di truyền. Trong trường hợp này, chế độ dinh dưỡng không thể cải thiện được tình hình.

3. Như vậy, chế độ dinh dưỡng không thể phòng ngừa hiện tưởng rụng tóc?

Một lối sống lành mạnh và một chế độ dinh dưỡng cân bằng cho phép hạn chế hiện tượng rụng tóc nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn hiện tượng này.

Trên thực tế hiện tượng rụng tóc liên quan trực tiếp tới sự sản xuất hormone nam (do gen quy định) và khi đó, thực phẩm không có vai trò gì trong việc hạn chế hiện tượng rụng tóc.

4. Hiện nay trên thị trường có những loại thực phẩm bổ sung hay thuốc điều trị rụng tóc?

Trước tiên cần phải hiểu rụng tóc không phải là một loại bệnh, do đó không có một phương pháp điều trị riêng nào cả.

Tuy nhiên, hiện có một số loại thuốc có thể giúp phòng hiện tượng rụng tóc, thực chất là chỉ giúp làm chậm lại quá trình rụng tóc. Và cho tới nay chỉ có duy nhất một phương pháp giúp loại bỏ hoàn toàn hiện tượng rụng tóc đó là phẫu thuật.

Dung Nhi

Theo Doctissimo

Theo Dantri
Những nghiên cứu gần đây về hai loại đồ uống này đã tìm ra rất nhiều công dụng mới của chúng. Theo các chuyên gia của Viện Ung thư Roswell, New York, phụ nữ giữ thói quen uống trà và cà phê sẽ giảm thiểu được nguy cơ ung thư tử cung.
Ung thư tử cung phát triển ở phần bên ngoài của tử cung. Những nhân tố gây bệnh có thể do tuổi tác, bệnh béo phì, hoặc các nguyên nhân khiến lượng hooc môn estrogen tăng cao, như mãn kinh muộn, hoặc sử sử dụng hooc môn thay thế sau thời kì mãn kinh. Ngoài ra, chế độ ăn uống cũng có thể tác động tới vấn đề này.

Trong nghiên cứu mới lần này, các chuyên gia tiến hành theo dõi với gần 1.100 phụ nữ. Kết quả cho thấy, những người có thói quen uống trà và cà phê mỗi ngày có nguy cơ ung thư tử cung thấp hơn những người không thường xuyên hoặc hoàn toàn không thích những đồ uống này.

http://www.tienphong.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=214802
Những phụ nữ uống hơn 4 cốc trà hoặc cà phê mỗi ngày hầu như không có nguy cơ mắc ung thư tử cung. Tương tự, những người chỉ uống trà, hơn 2 cốc mỗi ngày giảm được 44% nguy cơ mắc bệnh.

Những người chỉ uống cà phê cũng giảm được nguy cơ ung thư. Tuy nhiên mức độ giảm không nhiều. Với hơn 2 cốc cà phê mỗi ngày, bạn sẽ giảm được 29% nguy cơ. Con số này là khá thấp nếu so sánh với việc uống kết hợp trà với cà phê hoặc chỉ uống trà.

Về bản chất, các nhà khoa học chỉ ra rằng, chính thành phần caffein trong trà và cà phê đã kích thích các enzyme, làm vô hiệu hóa các tác nhân gây ung thư trong cơ thể. Bên cạnh đó, các hóa chất chống oxy hóa khác chứa trong 2 loại đồ uống này cũng có chức năng tương tự. Đó là lý do vì sao trà và cà phê có tác dụng chống ung thư tử cung.

Hiện các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm hiểu tác dụng chống các loại ung thư khác của hai loại đồ uống này.

Phan Hoa
Theo Reuters Health
Theo Tienphongonline
Bí đao còn có tên bí xanh (vỏ màu xanh có hoặc không có phấn), chữa được rất nhiều bệnh từ đơn giản đến phức tạp, đặc biệt  vào mùa hè.

Phòng chữa bệnh mùa hè bằng bí đao (BĐ):

Canh bí đao mùa hè chống nóng nực, háo khát phòng cảm cúm dịch (viêm não, sốt xuất huyết…) Bí Đao chỉ cạo sơ qua vỏ, thái miếng 500g, nấm rơm tươi 50g, đậu xanh, thịt lợn nạc, gia vị. Nếu cần tác dụng mạnh hơn cho thêm ý dĩ, bạch biển đậu, lá sen thái chỉ…
Ở Trung Quốc, nhiều nơi có tập quán vào những ngày hè oi bức mọi người đều uống nước nấu bí đao.

Đông qua thủy (nước Bí Đao) chữa sốt cao. Dùng khạp to, bí đao cắt thành miếng nhỏ cho đầy khạp, không cho nước hoặc rất ít. Đậy kín rồi trát xi-măng cho kín, hạ thổ  tốt hơn. Sau một thời gian khoảng 1-20 năm Bí Đao biến thành nước. Khi dùng không cần đun nấu lại. Để càng lâu càng tốt.

Những bài thuốc chữa các bệnh từ Bí đao:

Đối với bệnh tiết liệu sinh dục:

Tiểu không thông, tiểu đục do thấp nhiệt bàng quang: nấu bí cả vỏ xanh. Uống nước ăn cái.

Phù toàn thân: Bí Đao, hành củ nấu với cá chép.

Phù khi có thai: Bí Đao và đậu đỏ lượng bằng nhau (khoảng 40g) nấu canh ăn (không cho muối).

Bạch đới: hạt Bí Đao lâu năm rang nghiền bột uống 15g mỗi lần, vào lúc đói.

Đối với bệnh đái tháo đường: Bí Đao 2.500g cắt đầu làm nắp cho vào trong 30g bột hoàng liên. Đậy nắp găm chặt bằng tăm. Nấu chín nhừ, để nguội, ép lấy nước uống ngày 3 lần hoặc Bí Đao 30g, vỏ Bí Đao 30g, Hoàng Liên 9g sắc lấy nước uống.

Ho gà, viêm phế quản cấp và mãn: Hạt Bí Đao 15g trộn với đường phèn giã mịn nhào với mật ong uống với nước đun sôi để nguội. Ngày 2-3 lần.

Hen suyễn: quả Bí Đao còn cuống, bổ ra cho đường phèn hấp chín. Ăn hết khoảng 4 quả mới thấy rõ hiệu quả. Có thể thêm gừng.

Mũi chảy nước hôi (viêm mũi): Bí Đao, ý dĩ mỗi thứ 40g, nấu nước uống hàng ngày.

Ngộ độc thức ăn (tôm, cá, cá nóc…): Bí Đao tươi, giã nát, vắt lấy nước thật nhiều để uống.

Giữ da mặt đẹp: quả Bí Đao, rượu 1.500g, nước 100g, mật ong 500g.

Dùng dao tre nứa gọt vỏ bí. Cắt thành miếng nhỏ, nước, rượu cho vào nồi hầm nát nhuyễn, lọc lấy nước cô thành cao rồi cho mật vào đun lại. Để nguội cho vào lọ nút kín dùng dần vào buổi tối xoa mặt.

Tàn nhang: hạt Bí Đao 350g, hạt sen 30g, Bạch chỉ 15g. Tất cả nghiền mịn. Hàng ngày uống sau bữa cơm. Chiêu bằng nước đun sôi để nguội.

Sụn lưng do lao động: vỏ Bí Đao đốt thành than tán bột uống với rượu. Mỗi lần 6g.

Phạm phòng (Phòng sự quá độ gây ốm yếu mệt mỏi, suy nhược): vỏ Bí Đao sao vàng 12g, sắc uống. Ngày 3 lần.

Phối hợp trong ung thư gan có báng: Bí Đao 300g, canh sườn lợn 1000ml. Dầu ăn 60g, muối ăn 3g, rượu gạo 9g. Bí Đao bỏ vỏ, ruột, cắt miếng vuông xào, rồi cho canh sườn lợn nấu sôi nhỏ lửa 15’, thêm gia vị rượu nấu 3’. Ăn tất cả ngày 1 lần, liền một tuần.

Ung thư gan trong thời gian xạ trị và sau phẫu thuật: thịt chân giò 100g, măng vụ đông 100g. Nấm hương vụ đông 20g. Giăm bông 30g. Đậu xanh 10-20 hạt. Muối < 4g, dầu vừng 50g. Rượu vang 5g. Các thứ tẩm gia vị cho chín rồi tưới dầu lên.

http://rs.thethaovietnam.com.vn:8001/news/thuynt/2009/07/4a4d8faaaec90_450.jpg
Ung thư họng: Bí Đao tươi 300g, hạt Ý Dĩ 50g, dầu ăn, gia vị. Nấu Ý Dĩ trước cho bung ra mới cho Bí Đao vào nấu chín, gia vị. Ăn cái uống nước. Chia 2 lần ăn hết trong ngày.

Ung thư trực tràng, kết tràng: đông qua nhân (hạt Bí Đao) 15g, Đại Hoàng 10g, Đan Bì 16g, Đào Nhân 10g, phác tiêu 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ung thư phổi:  Đông qua nhân 15g, Sa Sâm 15g, Sơn Dược 20g, Cáp Phấn 15g, Ý Dĩ 20g, Phục Linh 20g, Tử Sâm 20g, Bạch Cấp 16g, Bối Mẫu 10g, Đông Trùng hạ thảo 5g, chính Cam Thảo 6g, Tam Thất 4g, Bạch Anh 30g, đông qua nhân 20g, lô căn tươi 20g, Ý Dĩ 30g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ung thư tế bào nhung lông thượng bì, chửa trứng:  Đông qua nhân 30g, xích Tiểu đậu 30g, ngư Tinh thảo 30g, bại Tương thảo 15g, a giao 15g, tử thảo 10g, Đương quy 20g, Cam thảo 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

PT (ST) (Theo thethao Vietnam)