Các bệnh về mắt - Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
Các bệnh về mắt, optical, laser, lasic
Phân trang 1/2 Trang đầu [1] [2] Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
(HNM) - Từ tháng 5-2010 đến nay, được sự giúp đỡ của tổ chức Life Gap, khoa Mắt - BV Bạch Mai đã triển khai kỹ thuật tiêm Ganciclovir nội nhãn điều trị viêm võng mạc do Cytomegalovirus (CMV) thành công cho 40 bệnh nhân.

Kết quả cho thấy tất cả mắt được điều trị theo phương pháp trên đều đáp ứng tốt và không có biến chứng đáng kể. Nhiều bệnh nhân đã hồi phục thị lực, có được cuộc sống bình thường và hòa nhập tốt với cộng đồng, giảm gánh nặng cho gia đình, xã hội. Ưu thế của kỹ thuật này là giá thành giảm còn 1/10 (3 triệu đồng/bệnh nhân/1 đợt điều trị) so với phương pháp điều trị trước đây, hiệu quả điều trị cao, rất ít tác dụng phụ, bệnh nhân không phải nằm viện… Ngoài BV Bạch Mai, hiện ở Việt Nam đã có BV Mắt TP Hồ Chí Minh triển khai kỹ thuật này.
CMV là một bệnh lý tổn thương võng mạc, thường gặp trên bệnh nhân HIV/AIDS. Bệnh có thể dẫn đến mù lòa nếu không được điều trị tích cực. Gần đây, một số cơ sở nhãn khoa đã điều trị tiêm Ganciclovir đường tĩnh mạch cho những bệnh nhân nhiễm CMV võng mạc nhưng kết quả chưa cao, giá thành điều trị lớn (gần 40 triệu đồng/bệnh nhân/1 đợt điều trị).

Tùng Linh
Đau mắt đỏ (viêm kết mạc) là bệnh thường gặp quanh năm. Nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn, virut, nấm...


Đặc biệt, đau mắt do nấm nếu điều trị không đúng có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như loét giác mạc, thủng giác mạc… dẫn tới mù lòa. Sau đây là bài viết của BS Hoàng Sinh về bệnh nấm mắt và cách điều trị.


Nấm Aspergillus gây nấm mắt

Các loại nấm gây bệnh ở mắt
Có trên 50 loài nấm mốc trong môi trường quanh ta. Tùy địa phương, tùy nhiệt độ, độ ẩm, môi trường, trình độ vệ sinh mà số mắt lành mang nấm chiếm từ 3-28%.
Hàng rào biểu mô giác mạc kín, tốt, sạch là tấm chắn tốt nhất ngăn chặn không cho nấm xâm nhập mắt. Châu Âu không dùng từ nấm mắt (oculomycoses) mà họ dùng từ nấm giác mạc (kératomycoses). Bởi vì họ thấy phải qua tổn thương giác mạc nấm mới vào sâu được màng bồ đào và nội nhãn để gây bệnh nấm nặng cho con mắt. Nước ta á nhiệt đới, nóng, ẩm, nghề chính là nông nghiệp nên tỉ lệ bệnh nấm mắt cao.
Nguồn nhiễm nấm chủ yếu là từ thảo mộc mà nấm sợi là chủ yếu. Nấm sợi Aspergillus gặp nhiều hơn nấm sợi Fusarium. Nhưng nếu bị nấm sợi Fusarium thì tổn thương sẽ nặng hơn là với nấm Aspergillus. Nhiễm nấm men tại mắt ít gặp hơn là nấm sợi.
Tổn thương mắt do nấm men thường trên cơ địa mắt đã có các tổn thương trước đó (viêm giác mạc biểu mô dài ngày, chứng khô mắt, Herpes mắt, đeo kính tiếp xúc nhiều sau ghép giác mạc, người tra rỏ mắt bằng cortisol hoặc dùng cortisol đường toàn thân). Khi vào mắt, các loại nấm sợi và nấm men đều phát sinh các độc tố hoạt hóa các men phân hủy protein làm hủy hoại các màng mắt.

Dấu hiệu nhận biết khi nấm mắt

Ngoài cảm giác kệnh, nhói, chói mắt (của loét giác mạc nói chung), bệnh nhân còn cảm giác đau đớn thường xuyên rất khó chịu.

Khám mắt thấy tổn thương là các ổ loét bờ lên, đáy loét có các đám xuất tiết trắng vàng. Nếu có mủ tiền phòng thì là mủ quánh đặc, không có ngấn nằm ngang mà bám leo sau nội mô giác mạc. Nói chung, triệu chứng không điển hình lắm.


Đau mắt đỏ điều trị không đúng dẫn đến loét giác mạc
Chẩn đoán xác định:
Lấy bệnh phẩm qua nước mắt thì ít hiệu quả. Phải nạo giác mạc tổn thương để lấy bệnh phẩm, có khi phải nạo mấy lần. Ngoài soi trực tiếp còn phải nuôi cấy nấm trên thạch sabouraud. Có khi phải nuôi cấy chuyển tiếp nhiều lần.
Những chú ý trong điều trị nấm mắt:
- Thuốc nấm da không được đưa vào mắt (do không phù hợp về pH, độ thẩm thấu muối và độ kích ứng đối với mắt).

- Chủ yếu là điều trị tại chỗ, có khi mỗi giờ phải rỏ mắt 1 lần, trong nhiều ngày, nhiều tuần.

- Có 4 loại thuốc chính đang được dùng điều trị nấm mắt:

+ Nhóm polyester (amphotéricin B, natamycin).

+ Nhóm zimydazon (5 fluoro tiroxin).

+ Nhóm sulfamid trộn bạc (cụ thể là sulfadiazin trộn bạc, vừa diệt nấm, vừa diệt khuẩn).

+ Natamycin 5% là loại thuốc rỏ nước, rất tốt với nấm sợi Aspergillus.

Nếu khó xác định loại nấm thì cứ dùng amphotéricin B, dùng thêm fluconason cho đường toàn thân. Nên làm kháng nấm đồ, xem loại nấm gây bệnh mắt đó đặc hiệu với thuốc gì nhất để điều trị cho hiệu quả. Nhiều khi phải nạo biểu mô giác mạc để thuốc ngấm được nhanh và nhiễm vào các lớp tổn thương sâu.
Đề phòng nấm mắt: Tác nhân chính là nấm mốc từ thảo mộc nên khi lao động có tiếp xúc với cây cỏ cần phải tránh để chúng va quệt, rơi bắn vào mắt.
Khi đang làm việc có va chạm với chúng thì phải rửa tay bằng xà phòng sạch, rồi rửa mặt, giặt thật sạch khăn bằng xà phòng ngay sau khi rửa. Đừng để khăn rửa mặt mọc nấm mốc. Năng giặt khăn bằng xà phòng và năng phơi khăn ra chỗ nắng; Tránh phơi khăn mặt và quần áo trên dây mây, sào tre nứa, dễ tiếp xúc với nấm mốc.
Không được tùy tiện dùng cortisol khi đau mắt vì sẽ giải phóng bào tử nấm, làm bệnh nấm mắt nặng thêm; Bị đau mắt sau khi bị va quệt với cỏ cây (dù là tươi hay khô, mục) đều phải cảnh giác với nhiễm nấm mắt, đi khám sớm để được điều trị sớm.

Theo BS Hoàng Sinh - Sức khỏe & Đời sống
Con trai tôi bị đau mắt kéo dài, vừa rồi đi khám mới biết bị viêm mủ nội nhãn. Xin hỏi, bệnh có nguy hiểm không và điều trị như thế nào?

Trần Thanh Bình(Hải Dương)

Viêm mủ nội nhãn là thuật ngữ chỉ tình trạng viêm dẫn đến phá hủy các thành phần ở trong mắt (tổ chức nội nhãn) như võng mạc, dịch kính, hắc mạc... do các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, nấm, virut, ký sinh trùng... Bệnh thường gặp ở lứa tuổi trẻ trong độ tuổi lao động, nam gặp nhiều hơn nữ, có thể mắc bệnh cả hai mắt.

Biểu hiện của viêm mủ nội nhãn có thể là đau nhức mắt, thường đau tăng lên khi vận động nhãn cầu, giảm thị lực, chảy nước mắt, đau đầu, đỏ mắt, sợ ánh sáng. Nếu viêm mủ nội nhãn do vi khuẩn thường biểu hiện rầm rộ của một tình trạng viêm cấp tính. Bệnh nhân nhìn mờ nhiều, có thể chỉ còn nhận thức ánh sáng hoặc không; kèm theo là dấu hiệu chói mắt, cộm mắt, trẻ nhỏ thường lấy tay che mắt hoặc quay mặt vào chỗ tối. Trường hợp viêm mủ nội nhãn do vi khuẩn có độc lực cao hoặc bệnh nhân đến muộn, bệnh có xu hướng trở thành viêm toàn bộ nhãn cầu (viêm toàn nhãn) - tức là viêm cả tổ chức quanh mắt. Các triệu chứng của viêm mủ nội nhãn do nấm tiến triển thầm lặng hơn so với các triệu chứng của bệnh do vi khuẩn.

Viêm mủ nội nhãn là bệnh tối nguy hiểm trong nhãn khoa, vì vậy, việc điều trị cần được tiến hành ngay khi bệnh nhân nhập viện. Qua nhiều thập kỷ nghiên cứu về viêm mủ nội nhãn, các tác giả đã đưa ra phác đồ điều trị: tiến hành lấy bệnh phẩm là dịch ở trong mắt làm xét nghiệm xác định tác nhân gây bệnh, sau đó tiêm kháng sinh vào trong mắt ngay mà không chờ kết quả xét nghiệm. Kháng sinh được lựa chọn là vancomycin phối hợp với fortum. Tiêm mũi thứ hai được đặt ra khi bệnh đáp ứng không tốt với điều trị, hai mũi tiêm cách nhau ít nhất 72 giờ. Mũi tiêm thứ hai thường kết hợp với dexamethasone sau khi kết quả loại trừ viêm mủ nội nhãn do nấm. Nếu do nấm, kháng sinh sử dụng tiêm nội nhãn là amphotericine B. Cắt bỏ khối mủ ở trong mắt (cắt dịch kính) được đặt ra khi điều trị nội khoa đáp ứng kém. Ngoài ra, sử dụng kháng sinh phổ rộng, kháng viêm theo đường toàn thân và tra tại mắt kết hợp với thuốc giãn đồng tử.
Viêm mủ nội nhãn đang là một thách thức trong chẩn đoán và điều trị đối với các nhà nhãn khoa. Việc chẩn đoán sớm và điều trị tích cực đưa đến cơ hội tốt nhất để bảo tồn thị lực cho bệnh nhân. Vì vậy, bệnh nhân cần được đưa đến cơ sở điều trị nhãn khoa ngay khi có các dấu hiệu của bệnh.    

ThS. Thu Hiền
(suckhoe-doisong)
  
  
Thứ ba, 24/5/2011, 10:35  
  
  
  
  
SỐ CHỦ NHẬTSỐ CUỐI TUẦNSỐ CUỐI THÁNGCHUYÊN ĐỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN NÚIY TẾ THÔN BẢN
  
  
    
Trang chủThời sựBạn đọcSức khỏe người cao tuổiSức khỏe trẻ emThuốc và sức khỏeChữa bệnh bằng YHCTGiáo dục giới tínhY học thường thứcThông tin y dượcCác bệnh chuyên khoa Mắt Cơ - xương - khớp Tai - mũi - họng Răng - hàm - mặt Sản phụ khoa Nội tiết Các bệnh ngoài da Nam học Tim mạchVăn hoáThể thaoLàm đẹpQuốc tếTư vấn sức khỏeSự hy sinh thầm lặng
    
Tổng biên tập
Thầy thuốc ưu tú
BS.Trần Sĩ Tuấn
Đường dây nóng 24/24h
0906277704
Nhận các thông tin phản ánh
bức xúc về KT-XH
Thứ sáu, 6/5/2011, 9:15 (GMT+7)

Lồi mắt do bệnh Basedow

Basedow là một bệnh lý của tuyến giáp. Bệnh xuất hiện do tuyến giáp sản xuất quá nhiều hoóc môn. Hàm lượng hoóc môn giáp cao trong máu gây ra những tổn hại về mô và chuyển hoá. Bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, song phần lớn là ở độ tuổi lao động, nữ giới hay mắc hơn nam giới. Trong bệnh Basedow, ngoài triệu chứng điển hình như bướu cổ, rối loạn tim mạch thì lồi mắt cũng là một trong những dấu hiệu hay gặp của bệnh. Nguy hiểm hơn chứng lồi mắt này nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời dễ viêm loét gây nhiễm trùng mắt, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa.
Khám bướu cổ cho bệnh nhân tại Bệnh viện Nội tiết TW. Ảnh: Khánh Linh

Nguyên nhân gây lồi mắt

Nguyên nhân cơ bản do thâm nhiễm tế bào Lympho đi kèm với sự phù nề của các mô và ở hốc mắt và sau nhãn cầu gây ra. Những thành phần này đẩy nhãn cầu ra phía trước làm cho mắt bị lồi. Khi mắt bị lồi cơ mi trên của mắt co lại, nhìn thấy cả vùng củng mạc trắng ở phía trên. Đi kèm với chứng lồi mắt, bệnh nhân thường cảm thấy chói mắt, chảy nước mắt, cảm giác như có bụi bay vào mắt hoặc rất nóng rát. Bên mắt lồi thường long lanh hơn bình thường, ít chớp mắt, người bệnh thường không nhắm kín mắt khi ngủ. Khi bị lồi quá mức, mắt sẽ không nhắm kín, mi hở nên giác mạc dễ viêm loét và tổn thương. Nếu không điều trị sớm sẽ dẫn đến nhiễm trùng mắt. Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị khô và loét giác mạc là nguyên nhân gây mù lòa vĩnh viễn. Độ lồi mắt nhiều hay ít không liên quan tới bướu cổ của bệnh nhân là to hay nhỏ. Mắt có thể lồi rất nhiều trên những bệnh nhân có bướu cổ nhỏ và ngược lại có thể lồi rất ít trên những bệnh nhân bướu cổ to. Lồi mắt thường xảy ra ở cả hai mắt, đôi khi rõ rệt ở một bên hơn là bên kia. Cũng có những bệnh nhân chỉ bị lồi một bên mắt nhưng rất hiếm gặp.
Trường hợp lồi mắt do bệnh Basedow. Ảnh: KH

Khi nào cần điều trị chứng lồi mắt do Basedow?

Nếu ở mức độ nhẹ như chưa có các triệu chứng cộm, chói mắt… bệnh nhân chưa cần điều trị. Khi bệnh nhân luôn có cảm giác chói mắt, chảy nước mắt, nóng rát hoặc như có bụi bay vào…bệnh nhân cần được điều trị. Việc điều trị sớm rất hiệu quả, nhiều bệnh nhân sẽ hết chứng lồi mắt. Tùy mức độ lồi mắt các bác sĩ có phác đồ điều trị thích hợp dùng thuốc, xạ trị hay phẫu thuật.

Việc điều trị chứng lồi mắt do bệnh Basedow phải tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ nhãn khoa và theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị. Người bệnh không tự ý nhỏ thuốc mắt hay thẩm mỹ viện ở những cơ sở y tế  không có uy tín. Quan trọng hơn, trong quá trình điều trị người bệnh tuyệt đối không được hút thuốc lá - đây là yếu tố làm bệnh nặng hơn. Khi có những dấu hiệu của lồi mắt do bệnh Basedow như: chói mắt, chảy nước mắt, nóng rát... cần đến ngay cơ sở  y tế có chuyên khoa mắt để khám và điều trị kịp thời.

Bác sĩ Huy Thái
(suckhoe-doisong)
Đây là một phương pháp tuyệt vời cho rất nhiều người nhưng không phải cho tất cả, đặc biệt là người dưới 18 tuổi.
Báo GĐ&XH thời gian qua nhận được nhiều câu hỏi của độc giả về vấn đề phẫu thuật mắt bằng phương pháp sử dụng tia laser để tạo hình lại giác mạc (lasik) cho trẻ bị cận thị.

BS Nguyễn Thành Thái đang khám cho bệnh nhân cận thị.
(ảnh chụp sáng 14/4/2010 tại Bệnh viện Mắt Sài Gòn).

Phải có độ khúc xạ ổn định

Theo BS Nguyễn Thành Thái, Giám đốc BV Mắt Sài Gòn - Hà Nội, chữa cận thị phương pháp lasik là sử dụng tia laser để tạo hình lại giác mạc nhằm điều trị tật khúc xạ, giúp người bệnh nhìn rõ mà không phải đeo kính. Đây là phương pháp phẫu thuật hiện đại, đang được sử dụng nhiều tại các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Pháp.

Phương pháp này là có thể  điều trị được cho cả bệnh cận thị, loạn thị, viễn thị. Những người trên 40 tuổi thường bị lão thị cũng có thể sử dụng phương pháp này.

Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân cần được nhắm mắt nghỉ ngơi trong vòng vài giờ đầu mà không cần phải kiêng khem trong vấn đề ăn uống. Đeo kính bảo vệ mắt 24/24, kể cả khi ngủ trong vòng 3 ngày đầu. Bệnh nhân chỉ cần tuân thủ các khâu vệ sinh theo hướng dẫn của bác sĩ như rửa sạch tay trước khi nhỏ thuốc, nhỏ thuốc theo đơn của bác sĩ...

Vài tuần đầu sau phẫu thuật cần hết sức tránh để nước bẩn, bụi, khói bay vào mắt. Cho mắt làm quen dần với tivi, máy tính ngay trong những ngày đầu sau mổ, song hạn chế xem ti vi và máy tính trong vòng 1 đến 2 tuần đầu. Tuy đang mùa lễ hội và sắp tới là mùa nghỉ mát, nhưng nếu xác định phẫu thuật lasik thì bệnh nhân không được đi bơi trong tháng đầu tiên.

Tuy nhiên, cũng theo BS Nguyễn Thành Thái, chỉ nên phẫu thuật khi bệnh nhân trên 18 tuổi và phải có độ khúc xạ ổn định. Ngoài những yêu cầu trên, để phẫu thuật đem lại hiệu quả thì chỉ nên phẫu thuật khi cận dưới 10 độ, loạn dưới 5 độ và không có các bệnh cấp hoặc mạn tính tại mắt như: Viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào, glôcôm, giác mạc hình nón... và không có bệnh lý toàn thân ảnh hưởng đến phẫu thuật.

Những người có đồng tử quá rộng cũng không nên chữa cận thị bằng lasik vì tia laser sử dụng trong kỹ thuật này không được thiết kế cho những đồng tử rộng. Nếu cố phẫu thuật sẽ hay bị rắc rối như nhìn thấy quầng sáng sau khi mổ, đặc biệt là ở những nơi thiếu ánh sáng hoặc về đêm.

Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú không nên sử dụng phương pháp này. Trong trường hợp bệnh nhân chỉ cận nhẹ 1-2 độ, không bị lệ thuộc kính thì không cần phải mổ.

13 triệu/1 ca phẫu thuật

Chữa tật khúc xạ mắt có ưu điểm là độ an toàn cao, chính xác, không làm bệnh nhân bị đau hay chảy máu, cũng không phải uống thuốc kháng sinh hay gây tê. Thời gian phẫu thuật rất ngắn, chỉ từ 5-10 phút. Chi phí cho một ca phẫu thuật là 13 triệu đồng (chưa bao gồm tiền thuốc -  khoảng 300.000 đồng).

Những bệnh nhân ở gần, khi vào viện sẽ được kiểm tra đo các thông số kỹ thuật của mắt và hẹn mổ (thường sớm nhất là vào ngày hôm sau). Sau hậu phẫu là có thể ra viện về nhà. Còn những bệnh nhân ở xa về, các bác sĩ thường sắp xếp để phẫu thuật trong ngày nhằm giảm chi phí và thời gian.

Hiện nay, phương pháp phẫu thuật lasik ngày càng trở nên phổ biến. Ở Mỹ có đến 90% trường hợp bị tật khúc xạ được phẫu thuật bằng phương pháp này. Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm là không thể điều trị cho những trường hợp bị cận thị, loạn thị quá cao, hoặc bệnh nhân bị nhiều bệnh lý phối hợp.

- Điều trị cận thị bằng lasik tỷ lệ thành công cao, được chỉ định mổ rộng rãi, nhưng nhất thiết phải được điều trị tại các cơ sở chuyên khoa, dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ, chứ không theo mách bảo của người khác.

- Khi mắc các bệnh về mắt, mọi người (nhất là trẻ em) cần tới khám ở bác sĩ chuyên môn sâu về nhãn khoa. Vì mắt trẻ có độ điều tiết rất lớn, nhiều khi máy đo tự động cho chẩn đoán cận thị, nhưng thực ra mắt chỉ mệt do điều tiết nhiều, lúc ổn định nếu đo sẽ có kết quả khác.

Hà Dương

(giadinh.net)
Mỗi ngày uống một ly sữa sẽ giúp giảm nguy cơ bị mất thị lực sau này, đây là kết quả nghiên cứu của Đại học Buffalo ở New York (Mỹ) do tiến sĩ Amy Millen dẫn đầu.

Theo các nhà nghiên cứu, việc duy trì lượng vitamin D đầy đủ trong cơ thể còn giúp làm giảm các nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng do tuổi tác (AMD) ở phụ nữ. Chi tiết về cuộc nghiên cứu đã được đăng trên tạp chí y khoa Archives of Ophthalmology.

AMD là nguyên nhân chủ yếu gây mất thị lực và mù ở người Mỹ từ 65 tuổi trở lên. Đây là bệnh do thoái hóa điểm vàng – một phần trong võng mạc giữ vai trò trong việc có một tầm nhìn trung tâm chính xác, rất quan trọng đối với các hoạt động như đọc sách hay lái xe - dẫn đến việc mất thị lực trung tâm. Ước tính có khoảng 1,75 triệu người Mỹ đang bị AMD và sẽ có khoảng 3 triệu người nữa mắc phải chứng bệnh này vào năm 2020.

Millen và những đồng nghiệp của bà đã tiến hành xem xét dữ liệu từ CAREDS (caroternoids trong nghiên cứu bệnh về mắt liên quan đến tuổi tác – một phần của chương trình nghiên cứu về khả năng quan sát ban đầu của tạp chí Sức khỏe phụ nữ. Trong đó, họ đã đo lượng vitamin D ở cơ thể của những phụ nữ tham gia nghiên cứu). Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích dữ liệu của 1.313 phụ nữ độ tuổi từ 50 đến 79.

Kết quả cho thấy, trong số những phụ nữ này, việc hấp thụ vitamin D từ thực phẩm và các loại bổ sung kết hợp làm giảm 59% nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng. Trong khi đó, có 241 phụ nữ đang ở giai đoạn đầu của AMD và 26 ở giai đoạn nặng hơn.

Điểm đáng lưu ý là những kết quả của nghiên cứu đã tiết lộ rằng, nhóm người này không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời – một yếu tố giúp giảm nguy cơ bị AMD, nhưng có bổ sung nguồn thực phẩm chứa nhiều vitamin D như sữa, cá, dầu cá omega 3, ngũ cốc bổ sung, bơ thực vật, và các sản phẩm sữa khác. Ngoài ra, nhóm tác giả phát hiện nhóm người này tiêu thụ đến 720 IU (đơn vị đo quốc tế) vitamin D mỗi ngày (cao hơn so với khuyến cáo của Viện Y khoa Mỹ - 600 IU Vitamin D/ngày).

Cuối cùng, nhóm nghiên cứu còn khẳng định, sẽ nghiên cứu sâu hơn những ảnh hưởng của yếu tố gen và cách sống lên kết quả vừa được tìm thấy. Nó sẽ giúp kiểm chứng mối liên hệ  giữa vitamin D, gen và lối sống về nguy cơ bị thoái hóa điểm vàng - cũng như hiểu rõ hơn về những tương tác giữa chúng.

Ny Anh (Theo healthnews.com)

(PNO)
Một số cơ sở y khoa đang tiếp thị ồn ào dịch vụ điều trị tật khúc xạ bằng phẫu thuật lasik, với những khuyến mãi giảm giá hấp dẫn cùng lời giới thiệu có thể gây ngộ nhận đây là kỹ thuật trị dứt các bệnh về mắt.

Trong khi đó, đã từng xảy ra trường hợp bệnh nhân bị mù cả hai mắt sau mổ lasik, có người đau nhức đến mức phải đến bệnh viện xin múc bỏ mắt.

Trong mười năm trở lại đây, số người bị các tật khúc xạ năm sau luôn tăng so với năm trước. Điều này một phần do tồn đọng bệnh nhân năm cũ và do tình trạng tiếp xúc thường xuyên, tập trung quá nhiều vào máy tính với khoảng cách từ mắt đến máy tính không hợp lý. Theo khảo sát của khoa khúc xạ, bệnh viện Mắt TP.HCM, bệnh nhân đến khám là nữ giới chiếm đa số.

Cần hiểu đúng hiệu quả của lasik

Các tật khúc xạ như cận, loạn, viễn… ảnh hưởng không ít đến đời sống và thẩm mỹ của chúng ta. Cách đây hơn mười năm, đã có những người suốt đời đành làm bạn với cặp kính nặng cả mười diop (độ). Những kỹ thuật phẫu thuật cận thị bằng laser trước đây, như PRK, cũng gây không ít khó chịu, đau nhức. Bây giờ thì mọi chuyện đã khác, nếu bị tật khúc xạ, người ta có thể yêu cầu được thực hiện phẫu thuật lasik để khỏi lệ thuộc vào cặp kính đáng ghét.

Kỹ thuật lasik (Excimer laser in situ Keratomileusis) có mặt tại Việt Nam từ đầu năm 2000. Kỹ thuật này có thể không mới với người dân thành thị nhưng với bệnh nhân vùng nông thôn thì lasik hiện vẫn là cái tên khá lạ. Do thiếu thông tin, nhiều người cứ đinh ninh lasik có thể điều trị được tất cả các bệnh của mắt như võng mạc, đục thuỷ tinh thể... Thực chất, lasik là phương pháp điều trị các tật khúc xạ bằng tia laser như cận, viễn, loạn. Hiện phương pháp này còn thêm khả năng điều trị chứng lão thị ở mắt, trị sẹo mỏng giác mạc… Có thể nói lasik là một cuộc cách mạng trong phẫu thuật khúc xạ vì tính chính xác và hồi phục nhanh. Bên cạnh đó, phương pháp này không gây đau cho bệnh nhân cả trong và sau khi phẫu thuật. Bệnh nhân sau điều trị sẽ có sức nhìn tốt hơn.

Không phải ai cũng có thể mổ lasik

Bệnh nhân có được phẫu thuật lasik hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: phải là người từ mười tám tuổi trở lên, có giác mạc dày tối thiểu trên 480 mcm và dày đủ tương ứng với độ khúc xạ cần laser. Chỉ bệnh nhân có độ tật khúc xạ từ 12 diop trở xuống mới được phẫu thuật lasik. Nếu diop vượt ngưỡng này, bệnh nhân sẽ được đặt kính tiền phòng (hay phaco) và kính hậu phòng. Với những trường hợp có giác mạc quá mỏng, bác sĩ sẽ điều trị bằng phẫu thuật laser bề mặt, thay vì dùng lasik. Phụ nữ đang mang thai hoặc đang trong quá trình cho con bú không được thực hiện phẫu thuật lasik.

Về mặt lý thuyết, lasik có thể thực hiện cho người có độ cận từ 0,25 diop. Tuy nhiên, những bệnh nhân có độ cận quá nhẹ, nhu cầu công việc hay đời sống không bắt buộc có thị lực tối đa, không cần mang kính thì nên cân nhắc có thực hiện lasik không, ngoại trừ các trường hợp do ngành nghề đòi hỏi. Bởi biến chứng trong ngành y là vô hạn, bệnh nhân có thể gặp phải các biến chứng sau phẫu thuật lasik như khuyết, rách vạt giác mạc... Bệnh nhân cũng không thể đòi hỏi một kết quả tuyệt đối chính xác, với những người có tật khúc xạ nặng, khả năng bệnh có thể tái lại. Nếu mức độ thoái triển trên 0,75 diop, giác mạc còn lại đủ dày sẽ được xem xét để chiếu laser bổ sung.

Phẫu thuật để tháo bỏ hẳn cặp kính dày cộp là nhu cầu chính đáng, đặc biệt với chị em phụ nữ. Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp cận, loạn, viễn nào cũng có thể được điều trị bằng lasik. Vì vậy, chớ vội vàng quyết định mổ lasik khi mà bản thân chưa lường đoán hết những lợi, hại.

TS.BS Trần Hải Yến

Để hạn chế biến chứng do mổ lasik

Trước phẫu thuật: ngưng đeo kính tiếp xúc mềm trong một tuần và kính tiếp xúc cứng trong ba tuần. Hai mắt phải chắc chắn khoẻ mạnh, không mắc các bệnh cấp tính như viêm kết mạc – giác mạc, loét giác mạc và các bệnh lý khác. Lông mày, mi mắt rửa sạch bằng dầu gội đầu trẻ em hoà với nước ấm vào thời điểm ba ngày trước phẫu thuật.

Trong ngày phẫu thuật: bệnh nhân không dùng mỹ phẩm, các chất dễ bay hơi như dầu gió, nước hoa. Không mặc những loại quần áo có nhiều sợi bông vải.

Sau phẫu thuật: mắt sẽ có cảm giác mờ sương, cộm xốn, chảy nước mắt. Tình trạng này sẽ hết sau một ngày. Tuy nhiên, nếu mắt mờ đột ngột kèm đau buốt, chảy nước mắt kéo dài trên sáu giờ, cần đến bác sĩ khám gấp. Mang kính bảo vệ suốt một tuần sau mổ và tuyệt đối không dụi mắt, nheo mạnh, không để nước bắn vào mắt. Không dùng mỹ phẩm quanh vùng mắt trong vòng một tháng sau mổ. Không đi bơi, tắm biển và chơi những môn thể thao đối kháng như võ, đấm bốc trong ba tháng sau mổ.
Đau mắt đỏ (viêm kết mạc cấp) là bệnh dễ lây lan trong cộng đồng, phát triển thành dịch phổ biến trong mùa hè và mùa mưa. Thế nhưng năm nay ngay từ giữa mùa xuân bệnh đã xuất hiện. Nguyên nhân do thời tiết thay đổi rõ rệt, virut gây bệnh phát triển mạnh khiến bệnh gia tăng sớm hơn.

Cách nhận biết ?

Khoảng 3-5 ngày trước khi đau mắt, bạn có thể có sốt nhẹ, gai rét, đau họng, hạch trước tai hoặc hạch cằm nổi to. Thường mắt sẽ chuyển từ trắng sang đỏ rất nhanh trong vòng 24 giờ. Ra nhiều rỉ, đặc biệt về sáng khiến mi bị dính chặt, rất khó mở mắt. Cảm giác như có cát, sạn ở trong mắt. Nhiều bệnh nhân đến viện vì tưởng có bụi hay cát bay vào mắt. Rỉ ra nhiều khiến bệnh nhân phải lau chùi thường xuyên. Mắt thứ hai cũng viêm sau mắt thứ nhất khoảng 5 ngày. Một chu trình bệnh gồm các giai đoạn: khởi phát, toàn phát, lui bệnh trung bình là 10-15 ngày nếu không bị bội nhiễm. Sau khi hết bệnh, mắt sẽ trở về bình thường.
Cấu tạo mắt.

Những thuốc nên dùng?

Rửa mắt là rất quan trọng. Nhưng không được rửa bằng nước lã hay nước muối tự pha vì sẽ gây thêm tổn thương hoặc nhiễm khuẩn cho mắt.

Nên rửa mắt bằng nước muối  sinh lý 0,9% dạng nhỏ mắt nhiều lần trong ngày. Rửa mắt làm trôi đi mầm bệnh, đẩy rỉ ra ngoài, làm ẩm và an dịu cho bề mặt nhãn cầu. Có thể rửa mắt mỗi khi thấy kèm nhèm hoặc trung bình 10 lần/ngày.

Nước mắt nhân tạo, chất làm ẩm hay bôi trơn nhãn cầu có độ nhớt thấp cũng có thể dùng cho đau mắt đỏ với tác dụng như trên và đem lại cảm giác dễ chịu cho mắt. Cũng cần nói thêm là nước muối hay nước mắt nhân tạo không làm kết thúc nhanh diễn tiến của bệnh.

Đối với kháng sinh, thông thường người dân sẽ thích dùng kháng sinh mạnh, có người còn tiêm kháng sinh vài ngày. Một số người thì tự mua kháng sinh đắt tiền để tra mắt. Thực ra, kháng sinh không giết được virut gây bệnh, có chăng là diệt các vi khuẩn bội nhiễm luôn có mặt kèm với virut khi chúng hoành hành ở kết mạc. Thái độ đúng đắn trong việc sử dụng kháng sinh trong đau mắt dịch là: dùng một kháng sinh tra mắt phổ rộng là đủ. Thuốc nội hay ngoại tùy thuộc vào kinh tế của bệnh nhân.

Người ta ít dùng thuốc mỡ trong giai đoạn cấp, do sẽ làm tăng cảm giác khó chịu khi đang ở giai đoạn viêm. Các thuốc được quảng cáo là để chữa đỏ mắt phần lớn sẽ không có tác dụng chữa đau mắt dịch, đặc biệt là những thuốc có chất co mạch có thể làm viêm nặng lên hoặc gây xuất huyết  kết mạc.

Các sản phẩm có cortizol, nên thận trọng!

Có quá nhiều sản phẩm không cần kê đơn mà bạn vẫn mua được ở hiệu thuốc một cách dễ dàng như: nemydexa, clodexa, cloxit H... Người bán hàng có thể mời chào bạn, khi đọc chỉ định cũng thấy rất có lý thế nhưng dùng nó lại không đơn giản. Kinh điển các sản phẩm loại này có thể dùng để cắt ngắn đi chu trình bệnh ở giai đoạn gần lui bệnh hoặc giai đoạn có biến chứng. Bạn đừng nên tự mua thuốc và tra mắt bởi chỉ có bác sĩ nhãn khoa mới biết được bạn có đúng bị đau mắt dịch không? Đang ở giai đoạn nào của bệnh, có nguy cơ biến chứng hay đang bị biến chứng gì?

Ngoài ra, có thể dùng các sản phẩm có kết hợp kháng sinh mạnh và một chống viêm dòng cortizol  như tobradex, decordex, vigadexa… nhưng bác sĩ phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mới cho dùng các thuốc này.

Nguy cơ khi sử dụng thuốc không đúng
Nhỏ nước muối Natri clorid 0,9% thường xuyên để rửa sạch mắt hàng ngày

Những người nôn nóng, sốt ruột thường muốn khỏi bệnh nhanh. Họ tự mua thuốc về tra, tự xông lá, làm theo lời mách bảo. Vì vậy, có nhiều trường hợp đã bị bỏng mắt do xông lá hay tinh dầu. Nhỏ cortizol tùy tiện gây loét giác mạc do Herpes hay nấm, năm nào cũng làm hàng chục, hàng trăm người mù lòa. Chỉ sau nhỏ 2 lọ clodexa cũng làm bạn phát sinh bệnh glôcôm, có thể gây mù lòa, điều trị rất phức tạp và tốn kém.

Vì vậy, quan điểm dùng thuốc nói chung hay các thuốc có cortizol nói riêng là phải rất thận trọng. Khi dùng phải có ý kiến của bác sĩ. Dừng thuốc khi đã đạt mục đích điều trị. Khi dừng thuốc cần giảm liều dần dần, có theo dõi và khám lại theo hẹn.

Phòng ngừa thế nào?

Rất nhiều người không đau mắt trong khi những người khác lại bị. Bởi họ có tố chất tốt, cách ly tốt và vệ sinh tốt. Rửa mắt bằng nước muối 0,9%, không tiếp xúc với bệnh nhân đau mắt đỏ, không đến chỗ đông người hay bệnh viện vào mùa dịch, rửa tay nhiều lần trong ngày bằng xà phòng tiệt trùng... có thể giúp bạn phòng đau mắt đỏ.          

 BS. Hoàng Cương (Bệnh viện Mắt TW)
(suckhoe-doisong)
Sau hai thập kỷ nghiên cứu, chiếc mắt giả đầu tiên đã được Liên minh châu Âu đồng ý cho phép thử nghiệm trên con người. Đây là một công cụ giúp những người bị mù do các bệnh suy thoái thị giác có thể nhìn được trở lại.

Thiết bị được đưa ra có tên là Argus II, một sản phẩm của công ty Second Sight. Được trang bị một camera gắn trên một cặp kính, thiết bị này có thể tiếp nhận và giữ tín hiệu hình ảnh tới một vi chíp được cấy vào võng mạc. Vi chíp này sẽ có nhiệm vụ kích thích các tế bào thị giác còn sót lại hoạt động và chúng ta có thể nhìn thấy. Thông tin cho biết, hiện nay Argus II đã được thử nghiệm trên 30 người và đang cho những hiệu ứng tốt đẹp.

Giám đốc điều hành, ông Robert Greenberg của công ty Second Sight vô cùng phấn khích: “Nó đánh dấu một sự khởi đầu tiên phong cho một kỷ nguyên khôi phục khả năng nhìn ở một mức đáng kinh ngạc”.  Tuy nhiên, giá của thiết bị này được đề nghị là 115.000 USD.
Thu Hiền
(Theo Tạp chí USC)

suckhoe-doisong
Nhiều bậc cha mẹ vì nghĩ rằng mắt lác chỉ là vấn đề xấu - đẹp nên khi mắt con bị lác lại không đi khám và điều trị sớm. Khi trẻ lớn lên, bắt đầu quan tâm đến hình thức mới tới gặp bác sĩ thì thị lực đã giảm nghiêm trọng. Theo các bác sĩ, lác mắt không chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ mà nếu không điều trị sớm, mắt lác sẽ yếu dần và dẫn đến nhược thị.

Dấu hiệu của nhiều bệnh nguy hiểm

Bé H. (5 tuổi) ở Thanh Hóa bắt đầu có biểu hiện lác từ khi gần 3 tuổi. Tuy nhiên, gia đình cho rằng triệu chứng không gây hại gì đến sức khoẻ và khả năng nhìn, chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên định để cháu lớn lên mới điều trị. Gần đây, thấy con có dấu hiệu nhìn kém, bố mẹ H. mới đưa cháu đi khám. Bác sĩ chẩn đoán H. mắc chứng đục thuỷ tinh thể bẩm sinh giai đoạn nặng và lác mắt chính là một hệ quả của bệnh này.

Cha mẹ không nên chủ quan khi thấy con bị lác mắt vì đó có thể là biểu hiện của một số bệnh lý nguy hiểm, mà đục thuỷ tinh thể bẩm sinh là một ví dụ. Bệnh này cần được chữa sớm bởi nếu để lâu, tế bào thị giác của trẻ sẽ thoái hoá và rất khó phục hồi.

Ngoài lác, đục thủy tinh thể bẩm sinh còn có một số biểu hiện dễ thấy là lỗ con ngươi của trẻ có màu trắng phấn, thường bị cả hai bên. Mắt có những cử động bất thường như rung lắc. Trẻ nhìn kém, hay dụi mắt, nheo mắt khi nhìn.
Khám mắt cho trẻ tại Bệnh viện mắt TP. HCM.

Bệnh lý khối u võng mạc (thường là ung thư) cũng có thể gây lác. Bệnh chủ yếu gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Nếu phát hiện muộn, trẻ sẽ phải múc bỏ mắt để bảo toàn tính mạng.

Lác do khối u thường có dấu hiệu đi kèm là ánh đồng tử bệnh nhân có thay đổi. Khi trẻ ở trong bóng tối, ánh mắt có màu xanh lơ hoặc trắng xám. Mắt bên tổn thương trông rất dại, vô hồn. Nếu để muộn, mắt có thể đỏ, lồi, gây đau nhức và buồn nôn.

Ngoài ra, các bệnh như viêm màng bồ đào, tổn thương ở não bộ... cũng có thể gây lác. Do đó, khi có biểu hiện này, trẻ cần được đưa đi khám ngay.

Cần được điều trị sớm

Các tật khúc xạ như viễn thị, loạn thị hoặc viễn - loạn thị phối hợp cũng gây lác mắt ở trẻ em, nhất là khi khúc xạ hai mắt lệch nhau. Trường hợp này thường gây lác vào trong. Nếu trẻ bị cận thị số cao nhưng không đều hai bên thì mắt nặng hơn thường bị lác ra ngoài.

Các bác sĩ khuyến cáo, ngay cả với các trường hợp kể trên, lác mắt cũng không phải chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Nếu không điều trị, mắt lác sẽ yếu dần và dẫn đến nhược thị.

Do đó, chứng lác cần được điều trị càng sớm càng tốt, và phải chữa dứt điểm trước tuổi đi học. Sẽ là quá muộn khi bệnh nhân đã 5-7 tuổi bởi lúc này não bộ và thị giác đã phát triển hoàn hảo, việc điều trị thường không mang lại hiệu quả cao.

Bác sĩ  Quốc Minh
suckhoe-doisong
Tùy tiện nhỏ mắt bằng corticoid (nhóm thuốc kháng viêm, chống dị ứng), nhiều người bị bệnh glôcôm.

TS Đào Lâm Hường, trưởng khoa glôcôm Bệnh viện Mắt T.Ư, cho hay trong số bệnh nhân bị glôcôm góc mở, số người từng nhỏ (tra) mắt bằng corticoid (nhóm thuốc kháng viêm, chống dị ứng) kéo dài lên đến 31,7-33,1%, trong đó người ở độ tuổi lao động (25-59 tuổi) chiếm trên 60%. Đây là kết quả đáng báo động do tùy tiện dùng thuốc nhỏ mắt có corticoid.
Dễ bị mù

Nam bệnh nhân tên Q., 51 tuổi, ở Hà Nội, đến Bệnh viện Mắt T.Ư khám cách đây hai tuần, sau khi có kết quả tổn thương 90 -95% đáy mắt, nguy cơ mù lòa rất cao. Ông Q. nói không có biểu hiện đau hay khó chịu ở mắt nên không đi khám và bệnh chỉ được phát hiện khi tình cờ đến thời điểm phải thay kính lão và bệnh nhân đi khám thường kỳ. “Tôi chỉ gặp vài dấu hiệu như có tia đỏ ở mắt, nhưng lại nghĩ do uống rượu, không nghĩ bị glôcôm”- ông Q. cho hay.

Thuốc nhỏ mắt có corticoid khi được dùng theo
toa bác sĩ.

Theo bác sĩ (BS) Hường, bệnh nhân bị ngứa ở mắt rất hay tự mua corticoid nhỏ mắt do thuốc làm các biểu hiện ngứa, cộm, đỏ hết nhanh, tạo cảm giác dễ chịu, trong khi tùy tiện nhỏ mắt bằng corticoid dễ dẫn đến glôcôm mà không biết.

BS Hường khuyến cáo người dân chỉ sử dụng corticoid khi có chỉ định của BS, không tự mua tự nhỏ. Trường hợp bệnh nhân phải sử dụng corticoid toàn thân thì BS điều trị cũng cần biết một phản ứng phụ của thuốc là có thể dẫn đến bệnh glôcôm để khuyên bệnh nhân đi khám mắt kịp thời.

Từ tháng 3-2009, khi bắt đầu có những chương trình truyền thông cho bệnh nhân glôcôm, số lượng người bệnh có biểu hiện glôcôm đến khám tăng rất nhanh, trong đó có nhiều người trẻ. Điều đáng lưu ý là bệnh glôcôm góc mở hay gặp ở người trẻ tuổi. Do biểu hiện bệnh không rõ, người bệnh thấy mắt nhìn mờ thì nghĩ do mệt mỏi, công việc căng thẳng dẫn đến phát hiện bệnh muộn, nguy cơ ảnh hưởng đến thị lực, thậm chí mù rất cao. Không như nhiều loại bệnh ở mắt sau điều trị có thể phục hồi thị lực, bệnh nhân glôcôm chỉ có thể điều trị để giữ thị lực, mắt không thể phục hồi như ban đầu.


Glôcôm, dân gian hay gọi là bệnh thiên đầu thống hay cườm nước, là bệnh của dây thần kinh thị giác do áp lực trong mắt tăng cao, nếu không phát hiện và chữa trị sớm có thể gây mù. Tại VN, đây là nguyên nhân gây mù đứng hàng thứ 2. Điều tra năm 2007 tại 16 tỉnh thành có 25.000 người mù do glôcôm.
Không chỉ bệnh nhân thiếu kiến thức về bệnh, BS Hường cho hay cán bộ y tế ở các địa phương cũng chưa có nhiều thông tin về bệnh glôcôm, từ đó dẫn đến tình trạng bệnh nhân chưa cần phẫu thuật lại chỉ định phẫu thuật hoặc đáng phẫu thuật lại chỉ cho dùng thuốc.

“Tôi có một bệnh nhân đang là sinh viên năm 2. Cách đây hai năm em mắc bệnh glôcôm nhưng bệnh viện địa phương hoàn toàn không phát hiện. Em đến bệnh viện khi đã ở giai đoạn cực nặng, không đếm được hai ngón tay cách mắt 1m, không nhìn được bảng và hoàn toàn nhờ bạn chép bài hộ, rất may là mắt cũng như các phần cơ thể khác luôn cố gắng tự cứu và em đã được điều trị giữ được thị lực”- BS Hường cho hay.

Phát hiện bệnh thế nào?

Theo BS Hường, triệu chứng điển hình của bệnh glôcôm là tăng nhãn áp như: đau nhức mắt, đỏ mắt, nhìn tán sắc, buồn nôn..., thị trường (vùng mắt có thể nhìn thấy) bị thu hẹp, đau bụng, mắt nhìn mờ hoặc cảm giác như nhìn qua màn sương, sờ vào nhãn cầu thấy cứng như hòn bi... Có thể phát hiện các dấu hiệu bệnh thông qua khám và soi đáy mắt, nhất là những người bệnh đã có những biểu hiện rõ ràng như kể trên. Đối với những bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng, bệnh thường phát hiện muộn hơn.
Nhóm có nguy cơ mắc bệnh glôcôm cao nhất là bệnh nhân 35 tuổi trở lên, là người ruột thịt với bệnh nhân glôcôm, có tiền sử sử dụng corticoid toàn thân hoặc nhỏ mắt kéo dài, có bệnh mãn tính như đái tháo đường, cao huyết áp. Những bệnh nhân này cần thường xuyên khám mắt định kỳ để được phát hiện bệnh sớm. Trường hợp đã được xác định mắc glôcôm và đã được điều trị cũng cần khám định kỳ, vì đây là loại bệnh không khỏi hẳn phải đề phòng suốt đời.

Theo Lan Anh
Tuổi trẻ
Chỉ vì ham mua các loại kính rẻ, không rõ nguồn gốc trên thị trường, nên rất nhiều người bị nhiễm các bệnh về mắt. Nếu nhẹ thì mắt thường có cảm giác lóa, mỏi, còn nếu bị nặng thì thị lực bị giảm và gây rối loạn mắt.


[b]"Ma trận" kính rởm, kính nhái[/b]

Trên nhiều đường phố ở Hà Nội, người đi đường rất dễ bắt gặp các “đại lý” kính vỉa hè bày bán vô vàn các kiểu kính với nhiều kiểu dáng, màu sắc. Tại một điểm bán kính trên vỉa hè đường Láng, chúng tôi hỏi mua một chiếc kính râm hiệu Rayban mà người bán quảng cáo là “xịn nhất cửa hàng em” với giá chỉ 120.000đ/chiếc. Khi đeo thử kính, cảm giác đầu tiên là khoảng cách, không gian không thật, mọi thứ đều có cảm giác bị võng ra. Theo người bán hàng, các mặt hàng ở đây chủ yếu bán cho học sinh – sinh viên, những người có thu nhập thấp với giá từ 15.000đ cho đến hơn 100.000đ một chiếc. Thậm chí, tại đây còn có dịch vụ đo mắt cận bằng phương pháp thủ công, rất thiếu khoa học. Người mua chỉ cần nhìn vào tấm bảng thị lực và người bán cứ thế áng chừng khoảng cách để suy ra độ cận của khách hàng.

Qua tìm hiểu, các loại kính bày bán ở vỉa hè đều có nguồn gốc chủ yếu của Trung Quốc với giá nhập từ 5.000 – 50.000đ/chiếc và những sản phẩm này đều gắn mác những sản phẩm nổi tiếng như Rayban, Police, Armani, Versace... Ngay cả mua kính trong các cửa hiệu sang trọng, người mua nếu không có những hiểu biết nhất định, thì rất dễ mua phải kính nhái với giá tiền kính hàng xịn. Với những sản phẩm nhái cao cấp này, từ những chi tiết nhỏ nhất cho tới phụ kiện đi kèm như khăn lau, hộp đựng cho tới sách hướng dẫn, sổ chứng nhận đều được làm nhái một cách tinh vi, rất khó nhận biết.

Chúng tôi có gặp chị Nguyễn Phương Anh (phố Hồng Mai, quận Hai Bà Trưng) đang khám mắt tại Viện Mắt Trung ương. Theo chị Phương Anh, chỉ vì ham rẻ mà chị có mua một chiếc kính trắng không độ tại một cửa hàng bán kính trên vỉa hè đường Hoàng Hoa Thám. Sau một thời gian đeo kính, thấy mắt có dấu hiệu mỏi, mệt, hay chảy nước mắt, nên chị đã đến khám tại Viện Mắt. Tại đây, chị mới ngớ người khi mắt mình từ không độ thành cận gần 2 điốp với nguyên nhân được bác sĩ cho biết là đeo mắt kính chất lượng kém, làm giảm thị lực mắt.

[b]Nên khám mắt trước khi mua kính[/b]

Theo các bác sĩ chuyên khoa mắt, việc cần làm đầu tiên khi thấy thị lực giảm là phải đến các chuyên khoa, bệnh viện mắt để khám, chứ không nên mua và đeo kính một cách tùy tiện. Việc đo kính cũng cần phải tuân thủ nghiêm những quy trình như kính phải đúng chất lượng theo yêu cầu như độ cận, viễn và loạn thị, đảm bảo sự trong suốt, không có những gợn sóng bề mặt và có nguồn gốc rõ ràng..., tuyệt đối không được đo mắt bằng phương pháp thủ công, hay tại các cơ sở có trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, bởi kết quả đo thường không chính xác, dẫn tới những tác hại lâu dài về sau.

Theo khuyến cáo của bác sĩ chuyên khoa mắt, nếu người dùng mua kính vỉa hè với chất lượng kém sẽ có nguy cơ gây ra những biến chứng của mắt rất phức tạp, gây nên những tác động xấu cho mắt. Nếu nhẹ thì giảm thị lực, rối loạn thị giác còn nặng thì có thể dẫn đến mù lòa do thủy tinh thể bị đục. Đặc biệt, đối với kính râm, khi sử dụng sẽ làm giảm cường độ ánh sáng đi vào mắt, lúc này đồng tử mắt sẽ dãn hơn so với bình thường làm đôi mắt trở nên yếu đi rõ rệt.

Theo Viện Đo lường VN, 90% sản phẩm mắt kính thuốc được lấy mẫu trên thị trường chuyển về để kiểm tra đều không đạt chuẩn với các lỗi vi phạm như: Không ghi nhà sản xuất; không có tem của nhà nhập khẩu hay phân phối; phần lớn mắt kính thuốc có nguồn gốc từ Trung Quốc... Về chất lượng các máy đo kính thuốc, khoảng 95% số máy đo khúc xạ, máy đo kính mắt có sai số vượt quá tiêu chuẩn, thậm chí có những máy đo sai số gấp 3 lần quy định, trong khi theo quy định của các tổ chức đo lường thì máy đo kính mắt được khuyến cáo cần đưa vào danh mục bắt buộc phải kiểm định, đo lường thường xuyên.

Bạn đọc có bức xúc về chất lượng, giá cả hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ, hay có thông tin về quyền lợi NTD bị xâm phạm, xin liên hệ với chuyên mục Bảo vệ người tiêu dùng (trang Hà Nội - Báo Lao Động). ĐT: 3.5330305 (máy lẻ 125, 126). Hotline: 090.414.6678. Email: bvntd.laodong@gmail.com.

Phi Long
(laodong)
Đông y gọi đau mắt đỏ là "Xích nhãn" hay "Hoả nhãn". Khi mắc phải, người bệnh thường có triệu chứng: mắt đỏ, xung huyết, chảy nước mắt, nhiều dử, mắt cộm, khó mở, sợ ánh sáng, có thể bị một mắt rồi lây sang mắt thứ hai hoặc đồng thời cả hai mắt đều bị, một số trường hợp thị lực suy giảm làm mắt mờ, khả năng nhìn kém.

Nguyên nhân sinh bệnh chủ yếu do kinh can phong nhiệt gây nên, bệnh mang tính truyền nhiễm, lây lan thành dịch rất nhanh trong gia đình và cả cộng đồng, làm ảnh hưởng tới sinh hoạt, học tập và công tác.  Để ngăn chặn bệnh lây nhiễm, trước hết cần chú ý vệ sinh cá nhân sạch sẽ, hạn chế sự tiếp xúc với người bệnh. Về chữa trị, xin giới thiệu một số bài thuốc chữa đau mắt đỏ đơn giản thường dùng.

Thuốc dùng uống với tác động toàn thân làm thanh can sáng mắt, chữa chứng mắt đỏ, sưng đau, viêm kết mạc, chảy nhiều nước mắt. Tùy theo mức độ nhiễm bệnh mà chọn dùng.

Bài 1: Chi tử 10g, cúc hoa 10g, cam thảo 4g.

Bài 2: Tang diệp 12g, cúc hoa 12g, thảo quyết minh 10g,  sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Hạ khô thảo 12g, thảo quyết minh 10g, bồ công anh 12g.

Bài 4: Linh dương giác 2g, cúc hoa 12g, mạn kinh tử 12g.

Bài 5: Cúc hoa 9g, lá dâu 6g, câu đằng 6g, liên kiều 9g, cát cánh 6g, cam thảo 3g, sa tiền thảo 9g.

Bài 6: Thảo quyết minh 16g, cúc hoa 12g, hoàng liên 8g, hạ khô thảo 16g, hoặc nga bất thực thảo (cỏ cóc mẩn) 15g.

Bài 7: Bạch cúc hoa 6g, bạch tật lê 4g, khương hoạt 4 g, mộc tặc 6g, thuyền thoái 4g, nghiền thành bột, uống với nước chè sau bữa ăn hoặc đem sắc uống.

Các bài thuốc trên sắc uống ngày 1 thang.

Bài 8: Sa tiền tử 18g, bạch tật lê, hoàng cầm, thảo quyết minh, long đởm thảo, cúc hoa mỗi thứ 18g. Tán thành bột, uống mỗi lần 9g, ngày 3 lần với nước cháo.

Bài 9. Thục địa 32g, sơn thù 16g, hoài sơn 16g, trạch tả 12g, mẫu đơn bì 12g, bạch phục linh 12g, cúc hoa 12g, câu kỳ tử 12g (Kỷ cúc địa hoàng thang).

Bài 10: Thạch quyết minh 12g, tang diệp 16g, câu kỳ tử 12g, sắc uống hoặc dùng thạch quyết minh 24g nấu với gan dê hoặc gan lợn chia 2 lần ăn trong ngày.

Bài 11: Thanh tương tử (hạt cây mào gà trắng) 5g, quyết minh tử 10g, hoàng liên 2g, tần giao 2g, tiền hồ 3g, đại hoàng 3g, thăng ma 3g, hoàng cầm 2g, chi tử nhân 5g, trần bì 3g, chỉ xác 3g, địa cốt bì 3g, huyền sâm 4g, xích thược 5g, linh dương giác 0,5g, sa tiền tử 5g, cúc hoa 8g, cam thảo 5g,  tán thành bột,  mỗi lần uống 8 - 10g,  ngày 3 lần,  sau bữa  ăn.

Bài 12: Chữa đau mắt đỏ phù nề, mờ mắt: Thảo quyết minh, cam cúc hoa, sơn chi tử, cốc tinh thảo, mạn kinh tử, mỗi thứ 10g, xuyên khung, thuyền thoái, phòng phong, khương hoạt, cam thảo, hoàng cầm, mộc tặc, kinh giới, bạch tật lê, mật hồng hoa mỗi thứ 5g. Tán thành bột uống 3 - 6g/lần, ngày 2 - 3 lần.

Bài 13: Chữa nhức đầu, mắt đỏ, sưng đau: Thảo quyết minh 10g, mộc tặc 4g, thược dược 4g, hoàng cầm 4g, khương hoạt 4g, cam thảo, mạn kinh tử, xuyên khung, mỗi thứ 4 g, thạch quyết minh 10g, cúc hoa 8g, tán thành bột, uống mỗi lần 5g, ngày 2 - 3 lần.

Ngoài ra có thể kết hợp thuốc dùng tại chỗ:

Bài 1: Dùng tang diệp (lá dâu bánh tẻ), cúc hoa, lá tre, bạc hà mỗi thứ 1 nắm, nấu nước xông, ngày 2 lần. Hoặc lá dâu đem giã nhỏ, vắt lấy nước cốt tẩm vào miếng gạc sạch, đắp lên mắt ngày 2 - 3 lần sẽ làm tan xung huyết.

Bài 2: Lá diếp cá tươi (ngư tinh thảo) vừa uống trong vừa giã nhuyễn đắp ngoài, ngày dùng 50 - 100g, chia vài lần.

Bài 3. Dùng chi tử diệp (lá dành dành) giã nát vắt lấy nước cốt, tẩm vào gạc sạch, đắp lên mắt, ngày 2 - 3 lần.

Bài 4: Hòe giáp (quả hòe), bạc hà mỗi thứ 5g, sắc kỹ, xông, sau đó uống, ngày 3 lần, sau bữa ăn, liên tục 2 - 3 ngày. Kết hợp dùng lá thơm tử tô, kinh giới, bạc hà, lá chanh thái nhỏ, chà nát, bọc vào gạc sạch, đắp lên mắt.

DSCKI. Phạm Hinh
(suckhoe&doisong)
Những tưởng chỉ có trẻ em thiếu dinh dưỡng, người cao tuổi bị khô mắt, bây giờ thấy công chức, lứa tuổi học đường cũng kêu mỏi mắt, khô mắt. Tại sao vậy? và có những biện pháp nào để chống lại bệnh lý thời hiện đại này.

[b]Bệnh lý thời hiện đại

Bệnh lý văn phòng[/b]

Bởi các văn phòng thời nay đều gắn máy lạnh. Trong máy lạnh có bộ phận hút ẩm biến nó thành nước thải ra ngoài. Vì thế bầu không khí trong phòng lạnh rất khô. Bạn sẽ thấy từ lúc đi làm, da bạn khô, không mượt mà như trước. Mắt cũng chịu chung số phận, môi trường khô, nước mắt bốc hơi nhanh hơn. Bạn ngồi trước màn hình máy vi tính, mắt như dán chặt vào, ít chớp mắt. Trung bình bạn chớp mắt 14 lần/phút nhưng khi bạn chăm chú thì bạn chỉ chớp mắt chừng 6 lần. Chừng 2 giờ đồng hồ, bạn thấy hình như mắt mình hơi cứng, hơi mỏi, hơi cộm. Đó là khô mắt.

[img]http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2010/09/20/7bfkho-mat-benh-hien-dai.jpg[/img]

[b]Khô mắt vì game[/b]

Những tưởng mắt trẻ em đang thời phát triển thì vô hại. Tuy nhiên, với trẻ chơi game từ 2 giờ trở lên một ngày thì không chỉ thị lực giảm mà khô mắt cũng xuất hiện. Đối với những trẻ nghiện game thì trí tuệ sa sút, thậm chí có thể bỏ học vì game. Lúc này buộc phải cai nghiện để cứu không chỉ đôi mắt mà cả bộ não đang hình thành nhân cách của trẻ.
[b]
Khô mắt vì xem ti-vi[/b]

Đương nhiên là hại, đặc biệt với trẻ nhỏ. Theo tổ chức Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP), trẻ trên hai tuổi không nên xem tivi quá 1 - 2 giờ mỗi ngày. Trẻ dưới 2 tuổi không nên xem tivi. Ở ta các bậc cha mẹ coi việc xem ti vi như phần thưởng đối với trẻ và thích thú khoe với bạn bè nếu bé cầm điều khiển chuyển kênh được. Có trẻ ngạc nhiên thấy tiếng nói phát ra, con người chuyển động bèn ngồi sát vào màn hình cũng không bị cấm cản. Mắt phải điều tiết, màn hình nóng cũng gây hại, tật khúc xạ và khô mắt là điều dễ thấy.

Phương tiện hiện đại giúp cuộc sống của chúng ta phong phú hơn nhưng bao giờ cũng có mặt trái của nó. Vì thế, để bảo vệ sức khỏe toàn thân và “cửa sổ tâm hồn”, chúng ta cần có hiểu biết và rất không nên lạm dụng chúng.

Tẩm bổ cho… mắt

Ăn uống đúng giúp chúng ta khỏe mạnh và mắt cũng được nuôi dưỡng tốt. Quan trọng là bạn chọn lựa đúng để vừa chống lão hóa giúp trẻ lâu vừa làm cho mắt bạn lúc nào cũng “long lanh như những giọt sương”. Đó là nghệ thuật đi chợ thời nay.

Thực phẩm chống khô mắt

Theo y học hiện đại, những thực phẩm “bổ ngang bổ dọc” cho mắt là: thực phẩm chứa vitamin A, -carotene giúp sự nhìn. Thực phẩm chống lão hóa toàn thân, đồng thời ngăn cản hạn chế sự “lên lão” của mắt là: vitamin A, C, E, selen và lutein. Những chất này có trong cá, trứng, thịt, rau, trái cây… nếu chúng ta biết cân đối bữa ăn mỗi ngày.

Vậy các bà nội trợ tìm “thuốc bổ mắt” ở đâu?

Vitamin A: có trong gan gà, vịt, heo, cá, trứng gà, trứng vịt lộn, cá chép, sữa…

Các loại chứa -carotene: các loại trái và củ có màu vàng hay đỏ: gấc, cà rốt, đu đủ, bí đỏ, cà chua... Nó còn có trong rau có màu xanh đậm như: rau bồ ngót, dền, bông cải xanh, cải bẹ xanh, mồng tơi, rau muống.

Vitamin C: có trong cam, chanh, quýt, bưởi, dâu tây, ổi, nho, thơm, mãng cầu xiêm, măng cụt. Nó còn có trong rau như: mồng tơi, cải bẹ trắng, ớt, hành, cà chua.

Vitamin E: gồm các loại dầu đậu nành, hướng dương, mè, đậu phộng, mầm các loại đậu (giá đậu xanh). Nó có trong các loại hạt, măng tây, sữa, gan động vật và đặc biệt là mỡ cá.

Thực phẩm giầu lutein: gồm bắp (ngô), cải bó xôi, cải xoăn, trứng các loại.

Thực phẩm giàu selen: gồm các hải sản như: cá, tôm, cua, nghêu, sò, ốc, hến. Nó cũng có một ít trong trứng, dầu hướng dương, dầu mè.

Mắt cần được ngủ đủ

Bạn ngủ đủ 7 - 8 giờ một ngày chính là cách giúp mắt hồi phục sau một ngày học tập và làm việc. Khi thức khuya mắt sẽ trũng sâu, khi bạn mất ngủ kéo dài mắt sẽ để lại dấu ấn là quầng thâm ở mi dưới. Khi bạn khỏe mạnh, ngủ đủ giấc, cặp mắt sẽ linh hoạt, có thần hơn. Những bạn chơi game hay làm việc trên máy vi tính nhiều giờ liên tục chính là đang “tra tấn” cặp mắt của bạn.

[b]Ánh sáng và mắt[/b]

Khi bạn xem tivi không nên tắt điện, bởi bóng tối của căn phòng và ánh sáng của màn hình sẽ gây mỏi mắt. Tốt nhất là có một bóng đèn gần ti vi để nhìn hình rõ hơn và mắt không phải điều tiết.

Khi bạn đọc sách nên dùng loại đèn có chao, chiếu sáng trực tiếp vào trang sách. Nhiều bạn thích nằm giường đọc sách cũng nên có đèn đầu giường, như vậy bạn sẽ không bị mỏi mắt.

Bạn là người làm việc với máy vi tính thường xuyên nên có một bóng đèn chiếu toàn bộ căn phòng, một bóng đèn chiếu thẳng xuống bàn phím.

Ra đường nên có kính bảo vệ mắt tránh bụi bặm và ánh nắng chói chang chiếu vào mắt.

TS.BS. LÊ THÚY TƯƠI
(suckhoe&doisong)
Đục thủy tinh thể là một trong những tai biến do thuốc gây nên.

Cơ thể chúng ta là một tổng thể hữu cơ của các mô và cơ quan có mối liên hệ ràng buộc cũng như quan hệ qua lại với nhau. Do vậy, sức khỏe thị giác cũng gây ảnh hưởng và chịu tác động từ tất cả các cơ quan khác trên cơ thể. Cũng bởi vậy mà thuốc khi can thiệp đến một tình trạng nào đó của cơ thể thường sẽ ảnh hưởng cả đến cơ quan thị giác.

Việc hình thành mối quan hệ nhân quả thuốc - tác dụng phụ trên mắt đòi hỏi phải mất nhiều thời gian và nghiên cứu công phu. Có những tác hại có thể biểu hiện cấp tính nhưng có những tác hại mang tính nguy cơ tiềm tàng. Tuy nhiên, những khuyến cáo sau đây từ các nhà nhãn khoa Mỹ thiết nghĩ là cần thiết cho các đồng nghiệp khác cũng như cho tất cả những ai dùng thuốc bừa bãi không cần đi khám, dùng thuốc theo truyền miệng hay kéo dài đơn thuốc không biết chừng mực...

Thuốc gây hại cho võng mạc

Plaquenil (hydroxchloriquine sulfate) là một thuốc thông thường dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp. Nó có thể gây tác hại không hồi phục cho võng mạc. Clonidine - thuốc hạ huyết áp cũng có ảnh hưởng tới võng mạc. Thioridazine - thuốc chống nhiễm khuẩn nhưng cũng có thể gây nên bệnh võng mạc sắc tố. Tất cả các thuốc dòng giảm đau, kháng viêm không có steroid đều có thể gây các tác dụng phụ trong đó có đục thể thủy tinh, khô mắt, xuất huyết võng mạc nếu dùng trong thời gian dài. Nhóm này bao gồm các thuốc sau đây: aspirin, ibuprofen, ketobufen, naproxen. Ngay cả acetaminophen cũng có thể gây tác hại cho võng mạc.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Đục thủy tinh thể - Một trong những tai biến do thuốc gây nên.

Các thuốc gây xuất huyết tại mắt



Tất cả các thuốc giảm đau kháng viêm không có steroid; venlafaxine (một chế phẩm chống trầm cảm); amphotericin B (thuốc kháng nấm); thuốc ức chế cholesterase, thường dùng để điều trị Alzheimer; pentoxifyline (thuốc chống huyết khối); heparin, coumadin, anisidione và các thuốc chống đông đường uống khác, đều có thể gây xuất hiện tại mắt.

Các thuốc có thể gây glocom hoặc gây tổn hại cho thị thần kinh



Thủ phạm gây nên các tác dụng phụ này là các thuốc chống viêm không steroid; venlafaxine; các dược chất có steroid: khi dùng lâu dài rất nguy hại cho mắt. Vì vậy khi được kê đơn các thuốc này bạn nên dùng thêm các chế phẩm thực phẩm bổ sung có các chất chống ôxy hóa cũng như liên lạc thường xuyên với bác sĩ để được giảm liều hay dùng các chế phẩm khác ít có hại hơn cho mắt.


Các thuốc có thể gây đục thể thủy tinh hay làm nặng thêm tình trạng đục thể thủy tinh vốn có


Đó là các thuốc làm tăng nhạy cảm ánh sáng cho mắt, chúng hấp thụ năng lượng của ánh sáng và thông qua phản ứng quang hóa nhằm thay đổi cơ chế hóa lý trong các mô. Do vậy chúng có thể gây hại cho thể thủy tinh và hoàng điểm. Ví dụ: các thuốc kháng histamin, thuốc tránh thai, thuốc an thần, nhóm sunfamid, thuốc tiểu đường týp II, thuốc chống động kinh, thuốc chống viêm không có steroid.


Các steroid, do cơ chế bắt chước một hormon trong cơ thể nên thuốc giúp ta kiểm soát quá trình viêm. Chúng được dùng phổ biến trong bệnh viêm khớp dạng thấp, bệnh Crohn, Lupus. Việc dùng lâu dài nhóm thuốc này sẽ gây đục thể thủy tinh cực sau và tăng áp lực nội nhãn. Có hơn 50% các bệnh nhân dùng prednisone với liều từ 10 - 15 mg/ngày sẽ xuất hiện đục thể thủy tinh sau 1 - 2 năm. Đục thể thủy tinh sẽ không biến mất khi chúng ta ngừng thuốc, do đó có thể phải giải quyết bằng phẫu thuật. Ít gặp hơn là tác dụng phụ gây tăng nhãn áp dẫn đến glocom. Cần lưu ý là những tác hại khi đã xảy ra là bất biến. Thêm vào đó là tác dụng phụ trên toàn thân như gây cao huyết áp và tiểu đường.


Thuốc gây viêm kết mạc dị ứng


Các thuốc kháng sinh khi được dùng đường toàn thân cũng như tại chỗ đều có thể gây dị ứng cho mắt. Ví dụ như nhóm penicillin tổng hợp (ampicilin hay amoxicillin) bị nhiều người than phiền vì gây đỏ mắt và ngứa mắt. Tetracyclin có thể làm tăng nhận cảm ánh sáng và nhìn mờ. Sulfonamid rất hay gây dị ứng, ngoài ra còn có thể gây xuất huyết tại mắt. Do vậy, khi dùng kháng sinh ta có thể dùng thêm các chế phẩm sinh học như acidophilus hay bifidus và vitamin C để phòng ngừa tác hại của kháng sinh.



Thuốc làm thay đổi độ trong suốt của giác mạc




Các thuốc chống sốt rét tổng hợp có thể gây những thay đổi trên giác mạc. Cảm giác nhìn thấy quầng sáng, chớp sáng hay quá nhạy cảm với ánh sáng có thể xuất hiện. Tuy nhiên nó không gây ra giảm thị lực. Khi dừng điều trị những khó chịu trên sẽ biến mất.


Tóm lại, khi dùng thuốc nếu thấy có những biểu hiện bất thường ở mắt bạn hãy nói ngay với dược sĩ và bác sĩ của bạn về những khó chịu trên để có hướng xử trí kịp thời.


Theo BS. Hoàng Đức Minh

(suckhoe&doisong)
Khi mô tả đôi mắt cuốn hút của giai nhân, người ta thường nói: "Long lanh như nước hồ thu". Thời nay, vì nhiều lý do, mắt của một số chị em phụ nữ không có được đặc tính long lanh và để "chữa cháy" nhiều người đã cầu viện thường xuyên đến nước mắt nhân tạo. Thói quen này liệu có làm hại mắt?

Thực ra mắt chúng ta luôn phải long lanh bởi có một lớp nước rất mỏng (phim nước mắt) bao phủ bề mặt nhãn cầu với vai trò làm sạch mắt, diệt khuẩn, bảo đảm giác mạc trong suốt, duy trì chức năng thị giác. Nếu vì lý do nào đó, tuyến nước mắt không tiết đủ nước mắt để tạo lớp phim nước mắt, ta sẽ bị chứng gọi là khô mắt hay tình trạng phim nước mắt không ổn định.

Khi khô mắt sẽ có một số triệu chứng: cảm giác khô, thậm chí rát bỏng ở mắt, xốn như bị dị vật trong mắt, ngứa mắt, sợ ánh sáng, nhìn mờ… Lưu ý có một số đối tượng có nguy cơ cao bị khô mắt là phụ nữ tiền mãn kinh, người già, người đeo kính tiếp xúc (contact lens), người đã mổ Lasik điều trị cận thị, người bị bệnh lý ở kết mạc hoặc tuyến lệ… Người làm việc văn phòng, sử dụng thường xuyên máy tính cũng dễ bị khô mắt, ngoài chứng mỏi mắt. Đặc biệt sử dụng một số thuốc cũng dẫn đến khô mắt. Thuốc được lưu ý thận trọng nhiều nhất là isotretinoin (Roaccutance, Accutance, Isotina, Acnotin…), ngoài tác dụng điều trị trứng cá nặng, isotretionin là thuốc rất độc, có thể gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi trong bụng mẹ và làm khô mắt, khô miệng…

Để điều trị khô mắt, ngoài xử lý triệt để nguyên nhân, điều quan trọng là phải dùng thuốc thay thế một phần nước mắt tự nhiên, gọi là nước mắt nhân tạo. Hiện trên thị trường có nhiều loại chế phẩm nước mắt nhân tạo và để đóng tốt vai trò của nước mắt tự nhiên, các chế phẩm này có chung một hay nhiều thành phần sau:

Chất tăng độ nhầy: thường được gọi chung là hydrogel, đây chính là thành phần chủ yếu của nước mắt nhân tạo. Bản chất của hydrogel là hợp chất cao phân tử (polymer) nên có tác dụng hút giữ nước, tạo độ nhầy, giữ nước mắt nhân tạo lưu lâu hơn trên bề mặt nhãn cầu, duy trì độ ẩm, giúp khắc phục tình trạng khô mắt.

Chất hút nước: glycerin 1%, có tác dụng giữ nước lâu trên bề mặt nhãn cầu.

Các chất khoáng: Nước mắt nhân tạo có thể chứa các chất khoáng vốn có ở nước mắt tự nhiên như kali, natri, canxi, magiê… Sự hiện diện của chất khoáng còn nhằm giúp nước mắt nhân tạo có độ đẳng trương giống như nước mắt tự nhiên, để khi nhỏ không làm xốn mắt.

Chất bảo quản: trên thị trường có loại nước mắt nhân tạo sử dụng đơn liều (tức lọ chứa lượng thuốc chỉ dùng một lần), không chứa chất bảo quản nhưng lại đắt tiền. Còn đa số là loại dùng đa liều (tức dùng nhỏ mắt nhiều lần), bắt buộc phải thêm chất bảo quản để tránh nhiễm vi sinh vật khi mở lọ thuốc và dùng kéo dài. Chính các chất bảo quản này làm cho người dùng nước mắt nhân tạo dễ bị dị ứng.

Không tự ý pha nước muối để nhỏ mắt

Một số người khi bị triệu chứng khô mắt thường dùng thuốc nhỏ mắt NaCl 0,9 % (còn gọi là dung dịch nước muối sinh lý). Trong trường hợp không có nước mắt nhân tạo vẫn có thể dùng dung dịch NaCl 0,9% để nhỏ mắt trong thời gian ngắn, sau đó vẫn nên đi khám nếu mắt không được cải thiện. Nên lưu ý phải dùng thuốc nhỏ mắt NaCl 0,9% mua ở nhà thuốc, không tự ý pha chế muối ăn với nước ở nhà để làm thuốc nhỏ mắt. Dung dịch tự pha chế như thế có thể bị nhiễm khuẩn, gây hại cho mắt. Cũng không nên pha loãng dung dịch NaCl 0,9% như một số người đã làm vì cho rằng như thế dùng lâu dài mới không việc gì, có biết đâu làm như thế có thể gây ô nhiễm và làm cho dung dịch NaCl 0,9% không còn đạt tiêu chuẩn đẳng trương nữa.

Một số người khi bị triệu chứng khô mắt thường dùng thuốc nhỏ mắt NaCl 0,9 % (còn gọi là dung dịch nước muối sinh lý). Trong trường hợp không có nước mắt nhân tạo vẫn có thể dùng dung dịch NaCl 0,9% để nhỏ mắt trong thời gian ngắn, sau đó vẫn nên đi khám nếu mắt không được cải thiện. Nên lưu ý phải dùng thuốc nhỏ mắt NaCl 0,9% mua ở nhà thuốc, không tự ý pha chế muối ăn với nước ở nhà để làm thuốc nhỏ mắt. Dung dịch tự pha chế như thế có thể bị nhiễm khuẩn, gây hại cho mắt. Cũng không nên pha loãng dung dịch NaCl 0,9% như một số người đã làm vì cho rằng như thế dùng lâu dài mới không việc gì, có biết đâu làm như thế có thể gây ô nhiễm và làm cho dung dịch NaCl 0,9% không còn đạt tiêu chuẩn đẳng trương nữa.

Sử dụng nước mắt nhân tạo chính là sử dụng thuốc nhỏ mắt. Vì vậy nên lưu ý, thuốc nhỏ mắt là dạng thuốc đặc biệt, được bào chế đạt các tiêu chuẩn đẳng trương (phải đẳng trương với nước mắt mới làm mắt cảm thấy dễ chịu), vô khuẩn (không chứa các loại vi khuẩn), trung tính (dung dịch nhỏ mắt không có tính axit hay tính kiềm gây xốn mắt). Vì vậy, chỉ nhỏ vào mắt các chế phẩm đúng là thuốc nhỏ mắt.

Có hai thái cực cần tránh, một là nếu mắt không có việc gì thì không nên dùng nước mắt nhân tạo nhỏ thường xuyên kéo dài với mục đích làm cho mắt long lanh, đẹp hơn. Bởi vì làm như thế vừa tốn tiền lãng phí, vừa có nguy cơ bị hại mắt do thuốc có vấn đề về chất lượng hoặc do thủ thuật nhỏ thuốc vào mắt không đúng. Hai là khi thật sự bị chứng khô mắt nhưng lại chữa qua loa vì cứ tưởng bị bệnh lý nhãn khoa khác như viêm kết mạc, giác mạc... Nên lưu ý, điều trị khô mắt có thể là quá trình lâu dài, khi đó nước mắt nhân tạo là thuốc hỗ trợ trong phác đồ điều trị. Đặc biệt có nhiều trường hợp người bệnh không nên chủ quan tự ý dùng thuốc mà nên sớm đến bác sĩ nhãn khoa để chẩn đoán đúng bệnh và cho hướng điều trị thích hợp.

Khi dùng nước mắt nhân tạo vẫn có thể bị tác dụng phụ như kích ứng làm ngứa mắt, nóng rát, xốn mắt, dị ứng gây đỏ mắt, xung huyết kết mạc, viêm bờ mi… Nếu nhỏ thuốc mà bị các rối loạn vừa kể phải ngưng ngay và hỏi ý kiến bác sĩ. Khi mở lọ thuốc, không để đầu lọ chạm vào bất cứ bề mặt nào, nhằm tránh nhiễm bẩn và nhớ đậy nắp lại ngay sau khi dùng. Ngừng dùng ngay nếu quan sát thấy thuốc bị đổi màu hoặc trở nên vẩn đục. Ngay sau khi mở lọ thuốc, chỉ dùng trong 15 ngày, sau 15 ngày nếu còn thừa phải bỏ đi và dùng lọ thuốc mới bởi dung dịch còn thừa có thể đã bị nhiễm khuẩn.

(sgtt)
Thuốc nâng ngực có tác dụng kích thích làm căng các ống tuyến vú, một phần gây giữ nước nên người dùng có cảm giác ngực căng to hơn và ngừng thuốc thì cảm giác này sẽ hết, đã thế, nguy cơ ung thư là rất cao – các chuyên gia cho hay về các loại thuốc nâng ngực đang có trên thị trường.

Ngực to nhưng lại đau đầu, buồn nôn


Chị Trương Hải A. (Kiến An, Hải Phòng) sau khi sinh nở, hình dáng cơ thể biến đổi nhanh chóng. Chị hài hước bảo: Vòng to thì xẹp đi, vòng nhỏ thì phình ra. Trong những mặc cảm, chị băn khoăn nhất là vòng một lép xẹp. Chồng chị thường xuyên gọi là “cái mụn”.

Để cải thiện lại nhan sắc cho chồng phải loá mắt khen, chị bắt đầu công cuộc tân trang nhan sắc.

Nghe thông tin quảng cáo đăng trên một tạp chí về công dụng của thuốc uống nở ngực, như kẻ sắp chết đuối gặp phao, chị không ngần ngại tìm đến uống viên nở ngực với mong muốn ngực to thật nhanh như lời quảng cáo.

Sau một ngày gọi điện đặt mua, hàng đã được mang tận về nhà chị. Dùng hết hai lọ thuốc dạng viên nén, chị thấy ngực phổng phao hẳn. Chị mua tiếp thuốc về dùng. Khoảng hai tháng sau, chị sở hữu một bộ ngực tròn, căng đẹp hơn cả thời con gái.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Chị A. đi khám tại bệnh viện




Chưa kịp vui mừng vì vòng một đã trẻ lại, chẳng bao lâu, chị thấy người mệt mỏi, mất ngủ, mặt béo hẳn ra nhưng chân tay vẫn không thay đổi. Sau đó là các triệu chứng đau đầu, chóng mặt dồn dập đến. Chị phải vào khoa Thần kinh của Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội khám bệnh. Các bác sĩ cho biết, các triệu chứng của chị là do tác dụng phụ của việc bổ sung hormon làm nở ngực.

Bác sĩ Văn Quang Anh, Bệnh viện K, Hà Nội cho biết, bệnh viện K thường xuyên tiếp nhận và điều trị những ca ung thư vú do sử dụng hormon thay thế. Đặc biệt, đối với những phụ nữ ở tuổi mãn kinh, lượng hormon nữ (estrogen) giảm, khi bổ sung một lượng hormone đột ngột thì tỷ lệ ung thư vú và ung thư buồng trứng, tử cung cũng rất cao.

Ngực căng to là do thuốc gây giữ nước

Theo Ths, bác sĩ Lê Viết Hải, khoa Phẫu thuật thẩm mỹ, Bệnh viện Đa khoa Trí Đức (Lê Duẩn, Hai Bà Trưng, Hà Nội), ngày nay có rất nhiều phương pháp để có một bộ ngực đẹp như: phẫu thuật nâng ngực, trị liệu bằng máy ánh sáng nâng nỡ ngực, bôi hoặc uống thuốc nâng nỡ ngực. Nhưng phương pháp dùng thuốc nở ngực được xem như con dao hai lưỡi.

Để tạo nên bộ ngực đầy bao gồm nhiều yếu tố khác nhau như tuyến vú và mô mỡ, một phần các bó cơ ngực và để phát triển được tuyến vú phụ thuộc vào sự tác động của các nội tiết tố nữ estrogen, thông qua các thụ thể tiếp nhận tại mô tuyến vú.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Ngực to bao nhiêu bệnh nhân lên bấy nhiêu





Các hormon estrogen được sản xuất ở buồng trứng, tuyến thượng thận và các mô mỡ. Sau đó, estrogen đi theo máu đến gắn vào các thụ thể estrogen ở các tế bào tại mô đích như: tuyến vú, tử cung, não, xương, gan, tim và các loại mô khác. Bình thường, dưới tác động của các etrogen nội sinh, hệ sinh dục nữ (bao gồm tử cung, vú) được phát triển.

Bác sĩ chỉ định sử dụng liệu pháp hormon trong trường hợp estrogen nội sinh không đầy đủ hoặc cần sự cân bằng nội tiết tố như dậy thì muộn, ngừa thai, kinh nguyệt không đều, trường hợp cắt bỏ hoàn toàn buồng trứng.

Việc dùng bừa bãi các loại thuốc bôi hoặc uống với quảng cáo làm nâng nở ngực rất nguy hiểm. Thực chất, các loại thuốc này đều chứa các hormon ertrogen. Khi dùng, thuốc có tác dụng kích thích làm căng các ống tuyến vú, một phần gây giữ nước nên người dùng có cảm giác ngực căng to hơn và ngừng thuốc thì cảm giác này sẽ hết.

Nếu người có sinh lý bình thường, dùng thêm estrogen là thừa, thậm chí dùng tiêm với lượng lớn khiến sự  mất cân bằng giữa estrogen với các hormon khác gây ra các biến chứng và tác dụng phụ nguy hiểm, đặc biệt là phụ nữ trẻ, như: gây rối loạn nội tiết toàn thân, rối loạn kinh nguyệt, ung thư vú, ung thư tử cung, tăng đông máu, đột quỵ, tích nước trong cơ thể…

Tường Vân

Beenet
Không nên xem thường bệnh đau mắt đỏ !
Vì nếu ko trị dứt, sẽ dẫn đến nhiều biến chứng cực kỳ tai hại.
Mình có người quen là 1 chuyên gia về sức khỏe, và đã giúp rất nhiều người khỏi bệnh đau mắt đỏ, trong số đó có cả người thân của mình, bạn nào quan tâm thì alo số này 0120.348.7979 (Ms.Vy), hoặc nick chat yahoo: hyvysp (nói là a.Phuong giới thiệu)
Số bệnh nhân bị đau mắt đỏ vào điều trị tại Bệnh viện Mắt Trung ương gia tăng nhanh chóng. Các bác sĩ cho biết, cứ vào thời điểm này hàng năm, dịch bệnh đau mắt đỏ thường xuất hiện và gia tăng khi mùa mưa bắt đầu.

Trẻ em mắc nhiều hơn người lớn

Đa số các bệnh nhân bị đau mắt đỏ vào khám thường không biết rõ nguyên nhân mắc bệnh hoặc nguồn lây bệnh cho mình, chỉ giải thích chung chung do bị bụi bay vào mắt, dụi mắt nhiều hay tự dưng thấy đau, một số bị lây do trong nhà hoặc cơ quan có người bị đau mắt trước.

Điểm khác biệt so với bệnh đau mắt đỏ các năm trước, năm nay số trẻ bị bệnh nhiều hơn đối tượng người lớn. Theo thống kê của Bệnh viện Mắt Trung ương, mỗi ngày bệnh viện khám tiếp nhận khoảng 100 ca bị đau mắt đỏ. Trẻ em bị đau mắt đỏ vào khám thường kèm theo các triệu chứng sốt, đau họng, dễ bị nhầm là viêm họng. Có thể nhận biết sớm dấu hiệu khi mắc bệnh qua các biểu hiện: sốt, đau họng, xưng hạch ở trước tai, sau từ 5 - 7 ngày một bên mắt bị đỏ, và từ 3 - 5 ngày sau đỏ sang mắt còn lại, mắt rỉ nước, bị ngàu đỏ, gây cảm giác ngứa, cộm, sợ ánh sáng, bác sĩ khám phát hiện có hột đặc trưng trong mắt...

Theo các bác sĩ cho biết: vào thời điểm này hàng năm, bệnh đau mắt đỏ thường xuất hiện nhiều và gia tăng ở Hà Nội cũng như các tỉnh lân cận. Bệnh tăng mạnh nhất khi bắt đầu mùa mưa ở miền Bắc. Trong số những ca đau mắt đỏ vào điều trị tại Bệnh viện Mắt Trung ương trong tuần qua, có ít ca nặng. Tuy nhiên, cũng có một số bệnh nhân do đến điều trị muộn, do đã sử dụng rất nhiều loại thuốc uống, thuốc nhỏ mắt trước đó nên dẫn đến biến chứng viêm giác mạc, giảm thị lực.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Khám mắt cho bệnh nhân đau mắt đỏ ở Bệnh viện mắt Trung ương. Ảnh: H.Hà

Bệnh dễ lây lan thành dịch


Đau mắt đỏ là bệnh do virut nên rất dễ lây lan qua tiếp xúc, đặc biệt tại các môi trường như gia đình, lớp học, công sở. Thời gian ủ bệnh của bệnh kéo dài từ 7-10 ngày, ngay trong thời gian này, virut đã có khả năng lây truyền bệnh, do đó rất khó để phòng tránh. Khi trong gia đình đã có người bị đau mắt đỏ thì những người còn lại rất khó đề phòng được, bởi bệnh lây qua các tia bọt bắn ra khi nói chuyện, hay người bệnh dụi mắt... cũng khiến cho người thân có nguy cơ bị lây bệnh rất cao. Đặc biệt, ngay cả khi đã khỏi, bệnh nhân vẫn có thể lây cho người khác trong vòng một tuần tiếp theo.

Ngoài ra, không khí nhiều bụi bẩn, thời tiết nắng nóng trong những ngày hè sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các vi khuẩn, virut gây viêm kết mạc. Hiện chưa có thuốc đặc trị và vaccin phòng đau mắt đỏ vì chủng kháng nguyên của loại virut gây bệnh này biến đổi liên tục.

Bệnh đau mắt đỏ không nguy hiểm nếu được phát hiện và điều trị đúng, sau một tuần bệnh sẽ khỏi. Tuy nhiên, nếu chủ quan, điều trị không đúng cách hoặc điều trị sau 7-10 ngày bệnh không khỏi rất dễ biến chứng thành viêm, loét giác mạc. Khi bị bệnh cần đến cơ sở y tế để được điều trị. Không điều trị bằng thuốc kháng sinh vì không có hiệu quả. Để phòng tránh bệnh đau mắt đỏ, phải chú ý giữ vệ sinh cá nhân, tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh. Đặc biệt không nên dùng chung khăn, chậu rửa mặt, tránh dụi mắt, luôn giữ gìn vệ sinh cá nhân và nơi sinh hoạt, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng. Nếu bị bệnh cần nghỉ 7 - 10 ngày để cách ly và điều trị dứt điểm, tránh lây sang người khác.

Thu Hương
(suckhoe&doisong)
Hội chứng “Rối loạn thị giác do sử dụng máy vi tính” (Computer Vision Syndrome – CVS) là hội chứng đang ngày càng phổ biến trong giới trẻ, nhất là các bạn học sinh, sinh viên.

Nguyễn Thị Hoa (Lâm Đồng)

Viêm cầu thận cấp có các biểu hiện phù, tăng huyết áp, đái ít hoặc vô niệu. Nếu không được điều trị đúng và kịp thời có thể dẫn đến biến chứng nặng, nguy hiểm đến tính mạng bao gồm suy tim cấp, phù não cấp, suy thận cấp (các biến chứng này chiếm khoảng 10% các trường hợp viêm thận). Trong đó suy tim cấp do viêm cầu thận cấp là biến chứng thường gặp nhất và xuất hiện rất sớm trong tuần lễ đầu của bệnh. Ngoài các biểu hiện của viêm cầu thận, bệnh nhân đột nhiên xuất hiện khó thở ngày một tăng dần, mạch nhanh, huyết áp lúc đầu tăng cả tối đa và tối thiểu nhưng nếu nặng chuyển sang phù phổi cấp thì huyết áp tăng ít, thậm chí giảm, có biểu hiện trụy mạch. Đặc biệt viêm cầu thận cấp có thể vô niệu (suy thận cấp) là biến chứng nặng, điều trị rất khó khăn, tỷ lệ tử vong cao. Còn biến chứng não thì ít gặp hơn và cũng nhẹ hơn hai biến chứng trên. Đặc biệt trường hợp viêm cầu thận cấp thể vô niệu thì quá trình theo dõi điều trị phải rất chặt chẽ. Chế độ ăn hạn chế protid và ăn nhạt tuyệt đối. Nếu có vô niệu kéo dài trên 4 ngày và tình trạng suy thận ngày càng nặng phải tiến hành lọc máu ngoài thận. Để tránh biến chứng, khi có dấu hiệu viêm cầu thận (phù, tăng huyết áp, đái ít) cần đi khám và điều trị sớm.

BS. Nguyễn Văn Thịnh
(suckhoe&doisong)
Bệnh thoái hoá điểm vàng và đục thuỷ tinh thể là những căn bệnh tương đối phức tạp và là hai nguyên nhân hàng đầu dẫn đến giảm thị lực và mù loà hiện nay.

Ngày 29/6, Bệnh viện Mắt Trung ương tổ chức Hội thảo “Cập nhật về điều trị và phòng ngừa bệnh thoái hoá điểm vàng - Đục thuỷ tinh thể”.

Hội thảo đề cập đến bệnh thoái hoá điểm vàng và đục thuỷ tinh thể là những căn bệnh tương đối phức tạp, là hai nguyên nhân hàng đầu dẫn đến giảm thị lực và mù loà hiện nay. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến căn bệnh này thường do thiếu hụt dinh dưỡng, năng lượng, do các gốc tự do, oxi hoá, tia tử ngoại, tiểu đường...

Hiện nay, đục thuỷ tinh thể vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà ở nư­ớc ta (66%), ư­ớc tính số tồn đọng ng­ười mù do đục thuỷ tinh thể tới 1,2 triệu mắt đang chờ được mổ. Đó là chưa kể số mắc mới hàng năm gây mù khoảng 150.000 ca.

Đục thuỷ tinh thể không có thuốc điều trị, phẫu thuật là phương pháp duy nhất có thể mang lại ánh sáng. Tuy nhiên, nhiều bác sỹ nhãn khoa khuyến cáo có thể có những phương pháp dự phòng hoặc làm chậm quá trình tiến triển.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

GS.TS. Đào Văn Phan, nguyên Chủ nhiệm bộ môn Dược lý (Đại học Y Hà Nội) khuyên: Nên đeo kính bảo vệ, duy trì lối sống điều độ, thể dục, không hút thuốc, dùng các loại vitamin và khoáng chất, có thể dùng thảo dược có hoạt chất flavonoid, các thuốc chống stress oxy hoá (kẽm, Zeaxanthin-Lutein, Alpha lipoic acid, quercetin), thuốc ức chế enzyme aldose...

Thoái hoá hoàng điểm (điểm vàng) ở người cao tuổi là một bệnh lý ở hoàng điểm (nơi tập trung nhiều tế bào thần kinh trên võng mạc đảm nhận tới 90% thị lực). Chưa có số liều điều tra chính thức về thoái hoá hoàng điểm tuổi già (AMD) nhưng các chuyên gia cho biết tỷ lệ bệnh này hàng năm chiếm tới 4-12% trong tổng số người mù loà.

Theo BSCKII. Bùi Minh Ngọc, Bệnh viện Mắt Trung ương: Chuẩn đoán và can thiệp điều trị sớm AMD có thể làm giảm nguy cơ mất thị lực. Bên cạnh các phương pháp điều trị bằng laser thì nên dùng các sản phẩm có chứa các chất oxi hoá, kẽm, các vitamin, lutein, zéaxathin, betacaroten, Omega-3...có thể phòng ngừa và làm chậm quá trình phát triển của AMD./.
Hòa Bình

(vovnew)
Theo thống kê của Bệnh viện Mắt Trung ương, tại Việt Nam có tới 70% số người mù là do đục tinh thể. Đáng nói là có tới 35% người mù do đục thủy tinh thể không biết bản thân bị bệnh hoặc đây là bệnh có thể chữa được.

Đục thủy tinh thể là một căn bệnh rất phổ biến, là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở Việt Nam. Điều đáng nói, đa phần người bệnh đều rất chủ quan, cho rằng thị lực giảm chỉ là dấu hiệu của tuổi già nên không đi khám bệnh, không chữa trị. Bệnh đục thủy tinh thể có khả năng chữa khỏi, nếu phát hiện sớm, việc điều trị vô cùng đơn giản bằng kỹ thuật mổ Phaco. Thị lực người bệnh được phục hồi tốt. Tuy nhiên, đa số người bệnh lại đến viện khi ở giai đoạn muộn, rất khó phục hồi thị lực. Nhất là ở những trường hợp mà các dây thần kinh thị giác (nhiệm vụ cung cấp thông tin nhìn thấy đến não) có thể đã bị phá huỷ hoàn toàn, gây mù vĩnh viễn hoặc nếu điều trị được cũng gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính do tuổi già, đái tháo đường, tăng huyết áp, cận thị, chấn thương…

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Đục thủy tinh thể là hiện tượng đục mờ thủy tinh thể. Sự đục mờ này ngăn không cho tia sáng lọt qua, kết quả là võng mạc không thu được hình ảnh và thị lực bệnh nhân suy giảm dẫn đến mù lòa. Bệnh không phải là ung thư hoặc khối u bất thường trong mắt. Bệnh này là do những thay đổi vật lý trong các thành phần của thủy tinh thể gây đục.

Các triệu chứng của bệnh:

- Mắt nhìn thấy mờ, thị lực suy giảm, khó nhìn, lóe sáng, quáng gà, ra nắng mờ hơn trong nơi râm mát.

- Sức nhìn kém trong các vùng sáng bao quanh.

- Nhìn một vật thành hai hoặc ba.

Điều trị: Phẫu thuật là phương pháp duy nhất có hiệu quả trong việc chữa đục thủy tinh thể. Tỷ lệ thành công cao với hơn 90% bệnh nhân khôi phục tốt thị lực của mình với những kỹ thuật tiên tiến hiện nay như Phaco. Sau phẫu thuật bệnh nhân phục hồi rất nhanh và có thể nhìn thấy sau một thời gian ngắn.

Phòng ngừa: Hiện vẫn chưa có cách phòng ngừa hoặc làm chậm sự tiến triển của bệnh đục thủy tinh thể. Bệnh đục thủy tinh thể là nguyên nhân phổ biến gây thị lực kém ở người cao tuổi. Chính vì vậy, nên tăng cường kiểm tra mắt định kỳ nhất là với người cao tuổi để hạn chế các biến chứng, bảo vệ chức năng thị giác và giảm thiểu tỷ lệ mù lòa.

(suckhoedoisong)
Viêm kết mạc dị ứng gây khó chịu với các biểu hiện như: nhìn mờ nhất thời, cảm giác khô rát, khó mở mắt buổi sáng, chảy nước mắt, ra gỉ nhiều, mắt bị ngứa, kích thích, cảm giác có sạn trong mắt... người bệnh thường hay có phản ứng dụi hoặc gãi... Biến chứng gây giảm thị lực chỉ do sẹo hay loét giác mạc.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Tháng 4, 5, 6 và 7 là những tháng đỉnh điểm hoành hành của căn bệnh này bởi lẽ các dị nguyên như phấn hoa, bụi cỏ, nấm mốc sẽ đạt đậm độ cao nhất trong môi trường. Bên cạnh đó là nhiệt độ và độ ẩm dao động mạnh. 80% bệnh nhân là những người trẻ, đang độ tuổi lao động.

Sử dụng thuốc trong trường hợp này sẽ giúp bạn sống thoải mái hơn với dị ứng chứ không giải quyết tận gốc vấn đề. Đa phần các bệnh nhân hài lòng với các thuốc kháng histamin và bền màng mastocyte loại nhỏ mắt như opconA, allergysal...

Cyclosporine loại nhỏ mắt tỏ ra an toàn và khá hiệu quả đã được dùng khoảng 7 năm nay, dành cho nhóm bệnh nhân khó tính hơn. Kết hợp với nước mắt nhân tạo các loại, các sản phẩm bôi trơn bề mặt nhãn cầu luôn là sự lựa chọn đúng cho căn bệnh này, vừa điều trị dị ứng, vừa chống khô mắt. Các sản phẩm có corticoid không nên dùng liên tục hay kéo dài, thêm nữa phải luôn thận trọng với các biến chứng của chúng như: glocom, đục thủy tinh thể. Rất ít bệnh nhân phải dùng thuốc đường toàn thân trừ khi bị kèm theo viêm mũi xoang hay hen suyễn.

BS. Hoàng Cương

(suckhoe&doisong)
Trà xanh giúp bảo vệ mắt khỏi bệnh tăng nhãn áp, là kết quả được các bác sĩ thuộc Bệnh viện Mắt Hồng Kông phát hiện trong một nghiên cứu mới đây.
Theo các nhà nghiên cứu, trong trà xanh chứa các hoạt chất chống oxy hóa có tên gọi là catechin giúp giảm căng thẳng cho mắt. Nhóm chống oxy hóa catechin bao gồm: vitamin C, vitamin E, lutein, zeaxanthin được biết đến là những chất mang đặc tính hiệu quả trong vấn đề phòng ngừa các bệnh về mắt.

Nghiên cứu được tiến hành trên loài chuột để thử nghiệm tác dụng của catechin. Khi các bác sĩ kiểm tra giác mạc, thủy tinh thể, võng mạc, màng cứng, màng trạch, thủy dịch và pha lê dịch, thì kết quả cho thấy những cấu trúc trên mắt của từng cá thể có sự khác nhau sau khi hấp thụ lượng catechin. Ở võng mạc mắt, sự hấp thụ lượng gallocatechin cao nhất và ở thủy dịch là epigallocatechin (gallocatechin và epigallocatechin là những thành phần hóa học chứa trong trà xanh). Họ cũng nhận ra rằng, thời gian tập trung tối đa của nhóm catechin thay đổi từ nửa tiếng đến 12 tiếng và hiệu quả mang lại của chúng là có thể giảm căng thẳng cho mắt kéo dài tới 20 tiếng đồng hồ sau khi tiêu thụ trà xanh.

TS Chi Pui Pang, Bệnh viện Mắt Hồng Kông cùng các đồng nghiệp cho biết: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra tác dụng của trà xanh có lợi cho mắt. Tuy nhiên, cần thiết phải tiến hành nhiều nghiên cứu sâu hơn để xác định những tác động tương tự có xảy ra trên người hay không”.
(Theo phunuonline)
Cườm mắt là hiện tượng thủy tinh thể hoặc phần xung quanh bộ phận này bị mờ đục gây suy giảm thị giác.

Thư viện Y học quốc gia Mỹ cho biết những triệu chứng của cườm mắt, gồm: nhìn bị mờ như có một màn sương che trước mắt, không nhìn rõ màu sắc, nhìn một thành hai, thị giác sút giảm vào ban đêm, nhìn thấy quầng sáng xung quanh bóng đèn, nhạy cảm với ánh sáng chói mắt và gặp khó khăn trong việc phân biệt những vật có hình dáng hoặc màu sắc tương tự nhau.

Theo Lê Loan (Thanhnien online)
Thời gian qua chúng ta không chỉ chống chọi với bão, lụt mà còn phải chống chọi với dịch bệnh sau bão lụt, trong đó có bệnh đau mắt đỏ.

Đau mắt đỏ (viêm kết mạc dịch hay viêm kết mạc họng hạch) là tên chung của một bệnh do Adenovirus gây nên. Bệnh thường xảy ra vào mùa hè, kết thúc vào cuối thu. Ở đồng bằng Nam bộ, bệnh hoành hành mạnh vào mùa nước nổi, vì vậy còn có tên là "đau mắt mùa nước nổi". Năm nay, dịch ở miền Nam có xu hướng tăng mạnh và kéo dài, gây lo ngại cho nhiều người. Bệnh diễn ra theo chu kỳ hàng năm và việc phòng ngừa, điều trị phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần vì thực tế vẫn có những sai lầm trong dùng thuốc và biến chứng đáng tiếc.

Phòng bệnh
Hình ảnh đau mắt đỏ.

Phòng bệnh đau mắt đỏ thực sự là vấn đề khó khăn do đường lây bệnh rất phong phú: qua tiếp xúc trực tiếp đường tay - mắt, qua hơi thở, qua nước bọt, qua sinh hoạt vợ chồng... Môi trường bệnh viện là một trong nhiều con đường lây bệnh phức tạp: bệnh nhân cầm nắm vào tay cửa, bấm thang máy, tiếp xúc với nhân viên và dụng cụ y tế để rồi lây sang những người lành khác có khi là chính nhân viên y tế. Thực tế có nhiều bệnh nhân đi khám mắt vì một bệnh khác sau đó khi về nhà lại nhiễm thêm đau mắt đỏ từ bệnh viện.

Cách phòng bệnh tốt nhất là thực hiện triệt để các biện pháp vệ sinh và cách ly với bệnh nhân cho dù bạn  vẫn có thể bị lây bệnh. Mầm bệnh có khả năng sống ở môi trường vài ngày. Người bệnh có thể  là nguồn lây tiếp tục sau khi khỏi bệnh một tuần. Vì thế để phòng bệnh tốt nhất cần:

- Rửa tay ngay sau khi tiếp xúc với người bệnh bằng xà phòng diệt khuẩn hoặc nước rửa tay y tế, rửa tay trung bình ngày khoảng 10 lần vào mùa dịch.

- Đeo găng khi phải khám và nhỏ thuốc cho bệnh nhân đau mắt đỏ.

- Súc miệng nước muối hoặc các nước súc miệng khác hàng ngày.

- Nhỏ nước muối 0,9% vào mắt hàng ngày.

Cho đến nay chúng ta vẫn chưa có loại vaccin nào để ngừa đau mắt đỏ bởi các chủng của Adeno virut khá phong phú, không xác định được kháng nguyên rõ ràng. Do vậy cũng không thể gây miễn dịch chủ động đặc hiệu với bệnh đau mắt đỏ. Người bị đau mắt đỏ rồi vẫn có thể bị tái nhiễm lần 2 chỉ sau 2 tháng, vì miễn dịch của cơ thể chúng ta chỉ được như vậy mà thôi.

Dùng thuốc gì?

Phải khẳng định ngay rằng, hiện chưa có thuốc đặc trị cho viêm kết mạc dịch. Bệnh lành tính có thể phòng ngừa được và có xu hướng tự khỏi trong 7 - 10 ngày.

- Các thuốc diệt virut: Trên lý thuyết có thuốc diệt virut. Bệnh đau mắt đỏ lại do virut gây nên, nên có thể dùng các thuốc này để điều trị (uống, tra, nhỏ mắt). Ttrên thực tế, các thuốc diệt virut lại có quá nhiều tác dụng phụ nên khi dùng cần cân nhắc giữa lợi và hại khi dùng thuốc, các nhà chuyên môn khuyên không nên dùng và chỉ được bác sĩ kê đơn trong những trường hợp rất cụ thể. Ví dụ như  khi có biến chứng...

- Kháng sinh: Chỉ nên dùng kháng sinh nhỏ mắt phổ rộng hay kháng sinh kết hợp với cortizol nhỏ mắt. Các kháng sinh mạnh không phải là cứu cánh cho bệnh này vì vậy dùng kháng sinh tiêm hay uống chỉ thêm tốn kém cho người bệnh.

- Nhỏ nước muối nhiều lần trong ngày, có thể dùng thêm các thuốc dinh dưỡng giác mạc. Không nên dùng biện pháp xông lá vào mắt...

Theo BS. Hoàng Cương (BV Mắt Trung ương)
Chỉ trong hai ngày 10 và 11-10, Bệnh viện Mắt TP.HCM đã khám cho 1.000 bệnh nhân đau mắt đỏ (còn gọi là viêm kết mạc cấp), tăng gần gấp đôi so với những ngày bình thường.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bác sĩ Diệp Hữu Thắng, trưởng khoa giác mạc Bệnh viện Mắt TP.HCM, cho biết so với những năm trước, đợt dịch đau mắt đỏ này lây lan rất nhanh. Một số người đau mắt đỏ còn bị nhiễm siêu vi toàn thân như bị sốt nhẹ, thấy mệt mỏi trong người hoặc mắt có màng giả, xuất huyết mắt.

Lây truyền qua nước mắt người bệnh

Theo bác sĩ Diệp Hữu Thắng, nguồn lây của bệnh đau mắt đỏ là do bị nhiễm nước mắt có siêu vi trùng từ người mang bệnh. Đường lây truyền bệnh này rất đa dạng như có thể lây qua những hạt tiết tố nhỏ li ti khi bệnh nhân ho hoặc nhảy mũi, qua đồ dùng cá nhân, khăn tay, điện thoại, tay nắm cửa... bị nhiễm nguồn bệnh hoặc qua nước bị nhiễm khuẩn (ví dụ nước hồ bơi).

Bệnh đau mắt đỏ có thể giới hạn ở một mắt nhưng thường xảy ra ở hai mắt. Khi mắc bệnh, người bệnh thường thấy nóng rát, đau, nặng mắt, cảm giác như có hạt cát trong mắt, đôi khi kèm theo nhìn mờ, nhìn thấy quầng màu và sợ ánh sáng, mi mắt sưng nhẹ, kết mạc mi sưng đỏ. Nếu bệnh nặng sẽ sưng nhiều, kết mạc đỏ rực, đôi khi xuất hiện hạch vùng tai và có xuất huyết dưới kết mạc.

Bác sĩ Thắng khuyên người dân không nên lo lắng quá vì chỉ có một số trường hợp bị biến chứng như viêm giác mạc, loét giác mạc (thường xảy ra do dùng thuốc không đúng cách). Đa số người bệnh vẫn có thể tự khỏi bệnh sau 12-14 ngày.

Phòng bệnh tốt nhất: rửa tay thường xuyên

Bác sĩ Thắng khẳng định  cho đến nay chưa có loại thuốc nào có thể phòng ngừa được bệnh đau mắt đỏ. Khi mắc bệnh, người bệnh nên rửa mắt với dung dịch NaCl 0,9% 3 lần/ ngày, hoặc nhỏ nước mắt nhân tạo giúp mắt dễ chịu. Dùng kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ, chườm lạnh cho mắt và không nên tự dùng thuốc có chất dexa.

Bệnh đau mắt đỏ dễ lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, nhất là những nơi tập trung đông người. Do vậy, bác sĩ Thắng khuyên người bệnh nên nghỉ bệnh (khoảng bảy ngày), tránh tập trung ở những nơi đông người để tránh lây lan bệnh sang người khác.

Cách phòng ngừa bệnh đau mắt đỏ tốt nhất là nên rửa tay thường xuyên, đặc biệt là rửa tay trước khi chạm vào vùng mặt để tránh nhiễm virus. Ngoài ra, cần giữ gìn vệ sinh cá nhân như dùng khăn, vật dụng riêng...

Theo THÙY DƯƠNG (Tuoitre)
Phong huyền xích nhãn nhân dân thường gọi là mắt toét, ứng với bệnh mắt hột biến chứng. Phong huyền xích nhãn là chứng trạng xung quanh vành bờ mi luôn luôn đỏ, nhiều gỉ, ngứa nhặm, sợ ánh sáng khiến cho bệnh nhân lúc nào cũng phải dùng khăn để chặm nước mắt. Nếu ra gió lạnh thì ngứa nhặm, đỏ, chảy nước mắt Đông y gọi là chứng Nghinh phong xích nhãn.

Nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt ở tỳ vị hiệp với phong tà xâm nhập tại chỗ như: gió lạnh, nước mưa hoặc rửa chung khăn mặt, hoặc nước rửa mặt hàng ngày không đảm bảo vệ sinh... Tất cả các nguyên nhân trên làm cho vành mí mắt sưng nhẹ, đỏ liên miên, chảy nước mắt, mắt nhiều gỉ, đau ngứa nhặm khó chịu, sợ ánh sáng làm cho 2 mắt kèm nhèm nhìn lúc sáng lúc mờ không chuẩn xác. Đông y chia 2 thể là phong huyền xích nhãn và nghinh phong xích nhãn. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số bài thuốc điều trị tùy thể bệnh để bạn đọc tham khảo.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Phong huyền xích nhãn

- Triệu chứng: Xung quanh vành bờ mi luôn luôn đỏ, nhiều dử, ngứa nhặm, sợ ánh sáng. Bệnh mới mắc trong mắt bình thường, không có màng mộng hoặc tia máu, chảy nước mắt liên tục, thị lực không giảm. Bệnh lâu ngày mắt có thể có màng mỏng hoặc dây máu do quá trình chặm dụi gây ra.

Thuốc uống: “Xuyên khung trà điều tán”: khương hoạt 4g, cam thảo 4g, tế tân 4g, xuyên khung 16g, kinh giới 16g, bạch chỉ 16g, phòng phong 16g, bạc hà 32g.

Cách dùng: Các vị trên tán nhỏ. Mỗi lần uống 15g sau khi ăn với nước chè, ngày uống 3 lần.

- Thuốc rửa mắt: “Kim tiền thang”: hoàng liên 8g, bạch mai 5 quả, tiền đồng cổ 7 đồng.

Cách dùng: Ba vị trên + 200ml rượu gạo sắc kỹ để trong. Rửa mắt hàng ngày.

- Châm cứu:

Châm tả: hợp cốc, lâm khấp, tình minh, ngoại quan, khúc trì.

Châm bổ: vị du, túc tam lý, phong long.

Nghinh phong xích nhãn

- Triệu chứng: Xung quanh vành bờ mi luôn luôn đỏ, nhiều dử, ngứa nhặm, sợ ánh sáng, khi ra gió lạnh, hoặc bị nước mưa vào mắt mà gây ra. Bệnh mới mắc trong mắt bình thường trong mắt không đỏ, không có dử.

- Thuốc uống: “Sài hồ tán”: Cam thảo 4g, cát cánh 10g, khương hoạt 10g, kinh giới 100g, sài hồ 12g, xích thược 12g, phòng phong 12g, Sinh địa hoàng 16g.

- Cách dùng: Các vị trên sao giòn tán mịn tinh. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15g.

- Thuốc rửa mắt:

Sơ phong tán: Xích thược 2g, phòng phong 2g, hoàng liên 2g, nguyên hoa tiêu 4g, quy vĩ 4g, khương hoạt 2g, ngũ bội tử 2g, kinh giới 8g.

Cách dùng: Các vị trên + 1000ml sắc lọc lấy 300ml. Rửa hàng ngày.

- Châm cứu:

Châm tả: khúc trì, hợp cốc, ngoại quan, phong trì, bách hội.

Châm bổ: tỳ du, vị du, túc tam lý, thủy phân, thái khê.

- Vệ sinh thân thể sạch sẽ, đảm bảo nguồn nước tắm rửa sạch.

- Rửa mặt bằng nước sạch.

Vị trí huyệt
- Hợp cốc: nằm giữa kẽ ngón cái và ngón trỏ phía mu bàn tay, sát xương ngón trỏ trên mu bàn tay.
- Khúc trì: Nằm tại điểm giữa đường nối cuối nếp nhăn khuỷu tay trong với chỗ gồ lên phía ngoài của xương cánh tay khi co tay thành một góc vuông.
- Ngoại quan: Nằm giữa xương cổ tay và xương trụ cẳng tay, phía trên nếp nhăn cổ tay ngoài 2 thốn.
- Bách hội: Tại điểm giữa đường nối vòng hai chóp tai.
- Thái khê: Tại điểm giữa đường nối lồi cao mắt cá trong và gân gót.
- Túc tam lý: huyệt nằm ở dưới đầu gối, cách hõm dưới ngoài xương bánh chè ba khoát ngón tay (ngang một bàn tay) và cách bờ xương ống chân một khoát ngón tay (khoảng 1,8 cm).
- Phong trì: ở chỗ lõm thẳng phía dưới trụ ụ chẩm và xương chũm.
- Phong long: dưới đầu gối 8 tấc.

Theo TTND.BS. Trần văn Bản (suckhoedoisong)

Theo thông tin từ Hội Nhãn khoa Việt Nam, trên thế giới cứ 1 phút có thêm một trẻ em bị mù, tỉ lệ mắc tật khúc xạ ở trẻ em đang tăng nhanh. Tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, tỉ lệ cận thị ở học sinh chiếm trên 20%, còn tại các vùng nông thôn chiếm khoảng 13%. Mối nguy hiểm lớn nhất đe doạ thị lực của trẻ em, đó chính là những căn bệnh cản trở sự phát triển bình thường của mắt như bệnh lác, bệnh nhược thị và rất nhiều bệnh khác.
Nếu không được chữa trị kịp thời thì đôi mắt của trẻ sẽ mang tật suốt đời. Một phương pháp điều trị mắt không can thiệp bằng các biện pháp phẫu thuật mà chỉ áp dụng những phương pháp kích thích an toàn và không gây cảm giác sợ hãi hoặc đau đớn có thể là một gợi ý cho các bậc phụ huynh để điều trị kịp thời các bệnh mắt cho con mình trước khi chúng trở nên quá nặng.

Nhw trường hợp bé Lê Hoàng Khôi, 6 tuổi, bị mắc các bệnh nhược thị, viễn thị nhẹ, cận thị, loạn thị, những tật khúc xạ khiến em gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, học tập, vui chơi. Khôi sẽ tham gia vào khoá điều trị bằng máy 1 tiếng mỗi ngày, mỗi khoá điều trị 10 ngày; 2 - 3 khoá mỗi năm. Tham gia vào khoá điều trị, Khôi được xem phim, điện não đồ vùng thị giác và phân tích kết quả. Vùng hoạt động trùng với màu xanh, tương đương với phim sẽ được chiếu trên màn hình. Vùng không hoạt động hay còn gọi là vùng bị ức chế trùng với màu đỏ, lúc đó màn hình sẽ bị tối đen. Xem phim không liền mạch buộc hệ thị giác phải hoạt động. Việc luyện tập cho mắt sẽ giúp cải thiện thị lực cho Khôi. Ngoài ra, Khôi và các bạn tham gia khoá điều trị còn phải trải qua các bài tập trên hệ thống các máy trực tiếp tác động lên mắt. Một biểu hiện của các tật khúc xạ đó là võng mạc lười hoạt động. Chiếc máy chiếu laser với mức năng lượng thấp để không làm tổn thương mắt. Việc chiếu tia này kích thích võng mạc hoạt động để võng mạc trở nên tốt hơn. Chiếc máy quang học, chiếu hình chạy từ gần đến xa, từ xa đến gần, đều có tác dụng tác động vào hệ điều tiết của mắt, giúp hệ điều tiết trở nên linh hoạt hơn. Đây có thể coi là những bài tập thể dục nhẹ nhàng cho mắt, đồng thời giúp thị lực được cải thiện nhờ võng mạc và hệ điều tiết hoạt động linh hoạt hơn. Sau mỗi khoá điều trị, thị lực có thể tăng từ 1 - 2/10, với những trường hợp nhẹ có thể khỏi luôn hoặc khôi phục được hoàn toàn thị lực.

Các bệnh thường gặp của mắt trẻ em đó là nhược thị: suy giảm chức năng thị giác, thường với nhược thị, rất khó để tìm được loại kính đeo để giúp nhìn tốt lên. Bệnh cận thị giả thì không cần đeo kính mà cần phải điều trị đúng cách. Ngoài ra, còn rất nhiều bệnh thường gặp khác như lệch góc nhìn, khi cho bé tập trung nhìn một điểm ảnh sẽ thấy mắt bé bị lác; hoặc bị bong võng mạc với những bé sơ sinh... Tất cả những tật khúc xạ này thường không cần can thiệp bằng các biện pháp phẫu thuật như mổ, vốn được hạn chế tối đa, mà quan trọng là cần điều trị bằng các bài tập để nâng cao thị lực cho mắt. Bên cạnh đó, một chế độ dinh dưỡng tốt cũng góp phần điều trị các tật khúc xạ cho các em.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Có 3 nguyên nhân gây ra các tật khúc xạ mắt, đó là yếu tố di truyền, một nguyên nhân quan trọng khác, đó là do tác động của cuộc sống, môi trường sống. Trẻ em nông thôn thường ít bị các tật khúc xạ hơn do các em có một không gian sống rộng mở, mắt thường được nhìn rộng, nhìn xa, điều tiết tốt hơn. Trong khi đó trẻ em thành phố lại thường xuyên phải nhìn gần do xem tivi, máy tính, chơi game, không gian sống chật chội... Nguyên nhân thứ 3 đó là điều trị không đúng phương pháp, đeo kính không chuẩn dẫn đến bệnh càng nặng hơn.

Tật khúc xạ mắt ở trẻ em nếu không điều trị sớm, để các em càng lớn sẽ càng khó điều trị. Vì thế, vai trò của phụ huynh trong phòng ngừa và điều trị các bệnh về mắt cho con mình là rất quan trọng. Bạn cần thường xuyên theo dõi con, không để trẻ tiếp xúc tivi, máy tính nhiều, đọc sách hoặc nhìn quá gần. Nếu trẻ xem tivi hay nheo mắt cần cho trẻ đi khám.

Trẻ em cảm nhận được thế giới và 90% các thông tin là nhờ vào đôi mắt. Vì thế, nỗi day dứt lương tâm sẽ theo suốt cuộc đời của chúng ta nếu không quan tâm đúng lúc tới đôi mắt của con em mình.
Huyền Trang (VTV)

1. Rượu cồn là kẻ thù số một của “cửa sổ tâm hồn”. Bạn đã bao giờ tự đặt câu hỏi: “Tại sao khi uống rượu, mặt đỏ, nhiệt độ cơ thể tăng, ta thấy chóng mặt, hoa mắt”?

Đơn giản là, rượu làm tăng tốc độ tuần hoàn máu, khiến cho các mao mạch giãn, gây ra những biến đổi bất thường. Lớp da quanh mắt lại rất mỏng, các mạch máu vô cùng nhỏ, yếu. Nếu uống rượu quá nhiều, các mạch máu sẽ bị giãn nứt, hình thành những đốm đen không những làm mất mỹ quan mà còn gây tổn thương cho mắt.
[img]http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/trangth1/2009/04/mat-130409.jpg[/img]
Biện pháp đối phó hiệu quả nhất là tránh xa rượu. Trong trường hợp không kiềm chế được hoặc đã “trót” uống rượu thì hãy uống thật nhiều nước để hạn chế ảnh hưởng không tốt của rượu đối với vùng da quanh mắt.

2. Thuốc lá

Nghiên cứu khoa học cho thấy, thuốc lá không chỉ gây hại cho phổi mà còn đẩy nhanh quá trình hình thành nếp nhăn vùng mắt. Dù bạn không có thói quen hút thuốc hay không biết hút thuốc cũng phải cảnh giác với khói thuốc lá, bởi người ngửi trực tiếp khói thuốc lá có nguy cơ bị tổn hại nhiều hơn người hút thuốc. Do đó, hãy giữ khoảng cách an toàn với “kẻ thù” này.

3. Thiếu nước

Thiếu nước làm mắt bạn như mất thần sắc, những nếp nhăn, vết chân chim ngày càng lộ rõ trên làn da thiếu sức sống.

Hãy bổ sung nhiều nước cho cơ thể và cả đôi mắt của bạn bằng cách ăn/uống các loại thực phẩm chứa nhiều nước và vitamin.

4. Nắng chói

Nếu đi nắng quá lâu, mắt bạn luôn trong trạng thái “nheo” để hạn chế cường độ chói sáng của ánh nắng mặt trời, từ đó hình thành nếp nhăn vùng mắt.

Hơn nữa, bức xạ tia cực tím trong ánh sáng mặt trời sẽ gây ra nếp nhăn, thậm chí gây ra các bệnh như đục thuỷ tinh thể, đau mắt, nám vùng da quanh mắt. Do đó, khi ra nắng nên đeo kính râm hoặc kính chống các tia tử ngoại, tia cực tím để bảo vệ mắt.

5. Môi trường ô nhiễm

Môi trường sống của chúng ta ngày càng ô nhiễm, kèm theo đó là những chứng bệnh mà khoa học đang phải cố gắng chống chọi. Trong đó, bệnh về mắt cũng đang vô cùng nhức nhối.

Bạn hãy tạo cho mình thói quen bảo vệ mắt khi ra ngoài nhằm tránh nhiễm bụi bẩn, nấm mốc tồn đọng trong không khí, hay sắm sửa những thiết bị làm sạch không khí nơi ở và làm việc của bạn như điều hòa, máy hút bụi v.v.

6. Mỹ phẩm quá hạn

Khi bạn mở nắp hộp mascara, bút kẻ mày, phấn bóng…vi khuẩn lập tức sẽ xâm nhập vào đó. Qua nhiều lần sử dụng, lượng vi khuẩn theo đó cũng không ngừng tăng lên. Khi trang điểm, vi khuẩn đó sẽ rơi vào mắt, làm mắt nhiễm khuẩn, ngứa ngáy, lâu dần ủ bệnh và gây bệnh nghiêm trọng.

Tốt nhất nên thay đồ trang điểm 6 tháng/lần, riêng mascara 3 tháng thay 1 lần để đảm bảo vệ sinh mắt hiệu quả.

7. Ăn kiêng sai lầm

Ăn kiêng không đúng cách cũng ảnh hưởng không tốt đến mắt. Nghiên cứu cho thấy, các loại rau củ quả giàu hàm lượng Vitamin E, Vitamin C, caroten, kẽm… có tác dụng ngăn ngừa sự hình thành nếp nhăn hay các bệnh về mắt.

Khi ăn kiêng nên kết hợp giảm lượng mỡ và tinh bột vào cơ thể, nhưng vẫn phải cung cấp đủ lượng rau củ quả cần thiết. Có như vậy mới đảm bảo sức khỏe ngay cả khi giảm cân.

8. Không ngủ đủ giấc

Công việc quá bận rộn hay vì nguyên nhân nào đó khiến bạn không được ngủ đủ giấc, mắt phải làm việc liên tục sẽ dẫn đến tình trạng mệt mỏi, thiếu sức sống. Lâu ngày có thể mắc các bệnh về mắt như đau mắt, nhức mỏi, viêm nhiễm mắt.

Hãy tận dụng mọi lúc để “ngủ bù”, giữ cho mắt luôn đủ năng lượng hoạt động, con ngươi luôn khỏe mạnh, tránh quầng thâm hay mọng mắt.


Theo Dân Trí

Nếu bạn thường xuyên cảm thấy mắt khô và cộm, bạn hãy tham khảo các bí quyết trị liệu sau đây.

1. Dùng khăn nóng đắp lên mắt trong 10 phút

Đắp khăn nóng có thể thúc đẩy tuần hoàn máu ở vùng mắt, giúp ích nhất định cho việc khôi phục tuyến tiết dầu, giúp bôi trơn và giữ lại được nước mắt.

2. Nước dưỡng mắt

Các chuyên gia cho rằng nước dưỡng mắt hiệu quả hay không là do thành phần của thuốc và số lần nhỏ thuốc.

Một số thành phần của nước dưỡng mắt vốn không thích hợp và không tốt cho đôi mắt đang mạnh khoẻ. Nếu có bệnh về mắt thì nên dùng các loại thuốc mắt đặc trị theo sự hướng dẫn của bác sỹ.

Ngoài ra, nước dưỡng mắt có thể tốt cho mắt nhưng số lần nhỏ thuốc quá nhiều cũng có thể làm tổn thương mắt.

3. Thường xuyên uống trà xanh

Trong lá các loại trà xanh, trà ô long... giàu chất carotin, chất này có thể chuyển hoá thành vitamin A trong cơ thể, vitamin A có tác dụng bảo vệ rất tốt đối với người thường xuyên phải làm việc hay tiếp xúc với máy tính, không những giúp giảm bớt sự nguy hại của tia bức xạ đối với cơ thể mà còn có thể phòng chống chứng khô mắt.

4. Ngáp, ngậm quả mơ chua

Quá trình ngáp thường khiến chảy nước mắt, giúp bôi trơn mắt nhưng không phải lúc nào muốn ngáp là có thể ngáp được.

Vậy có thể dùng cách sau thay thế: Lấy một quả mơ chua ngậm vào trong miệng để độ chua kích thích cho nước mắt chảy ra.

5. Mát xa cho mắt

Mát xa vùng quanh mắt giúp cho tuần hoàn máu ở vùng mắt được đẩy mạnh, giảm nhẹ sự mệt mỏi cho mắt.

6. Bôi kem dưỡng mắt

Không phải tất cả các loại kem dưỡng mắt đều có thể làm “trơn” mắt, một số sản phẩm trên thị trường hoặc một số thành phần đặc biệt bảo vệ mắt có thể còn gây ra kích thích cho mắt. Vì vậy, khi bôi kem dưỡng mắt bạn nên chú ý thành phần bảo vệ mắt, không nên lạm dụng.

7. Rửa mắt bằng nước ấm

Khi dùng nước ẩm rửa mắt bạn nên chú ý nguồn nước phải sạch sẽ, nếu nguồn nước không sạch sẽ thì sẽ gây ra các bệnh về mắt.

Theo Dân Trí
Bí quyết trị khô mắt
(Dân trí) - Nếu bạn thường xuyên cảm thấy mắt khô và cộm, bạn hãy tham khảo các bí quyết trị liệu sau đây.

1. Dùng khăn nóng đắp lên mắt trong 10 phút

Đắp khăn nóng có thể thúc đẩy tuần hoàn máu ở vùng mắt, giúp ích nhất định cho việc khôi phục tuyến tiết dầu, giúp bôi trơn và giữ lại được nước mắt.

2. Nước dưỡng mắt

Các chuyên gia cho rằng nước dưỡng mắt hiệu quả hay không là do thành phần của thuốc và số lần nhỏ thuốc.

Một số thành phần của nước dưỡng mắt vốn không thích hợp và không tốt cho đôi mắt đang mạnh khoẻ. Nếu có bệnh về mắt thì nên dùng các loại thuốc mắt đặc trị theo sự hướng dẫn của bác sỹ.

Ngoài ra, nước dưỡng mắt có thể tốt cho mắt nhưng số lần nhỏ thuốc quá nhiều cũng có thể làm tổn thương mắt.

3. Thường xuyên uống trà xanh
[img]http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/phuongtt1/2009/03/tra-xanh-18309.jpg[/img]
Trong lá các loại trà xanh, trà ô long... giàu chất carotin, chất này có thể chuyển hoá thành vitamin A trong cơ thể, vitamin A có tác dụng bảo vệ rất tốt đối với người thường xuyên phải làm việc hay tiếp xúc với máy tính, không những giúp giảm bớt sự nguy hại của tia bức xạ đối với cơ thể mà còn có thể phòng chống chứng khô mắt.

4. Ngáp, ngậm quả mơ chua

Quá trình ngáp thường khiến chảy nước mắt, giúp bôi trơn mắt nhưng không phải lúc nào muốn ngáp là có thể ngáp được.

Vậy có thể dùng cách sau thay thế: Lấy một quả mơ chua ngậm vào trong miệng để độ chua kích thích cho nước mắt chảy ra.

5. Mát xa cho mắt

Mát xa vùng quanh mắt giúp cho tuần hoàn máu ở vùng mắt được đẩy mạnh, giảm nhẹ sự mệt mỏi cho mắt.

6. Bôi kem dưỡng mắt

Không phải tất cả các loại kem dưỡng mắt đều có thể làm “trơn” mắt, một số sản phẩm trên thị trường hoặc một số thành phần đặc biệt bảo vệ mắt có thể còn gây ra kích thích cho mắt. Vì vậy, khi bôi kem dưỡng mắt bạn nên chú ý thành phần bảo vệ mắt, không nên lạm dụng.

7. Rửa mắt bằng nước ấm

Khi dùng nước ẩm rửa mắt bạn nên chú ý nguồn nước phải sạch sẽ, nếu nguồn nước không sạch sẽ thì sẽ gây ra các bệnh về mắt.

Theo Dân Trí
"Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay", câu tục ngữ của ông cha ta đã đủ nói lên đôi mắt quan trọng thế nào trong cuộc sống thường nhật của con người. Vậy chúng ta phải làm gì để giữ cho "cửa sổ tâm hồn" luôn trong trẻo ?  

Mới đây, khảo sát của Sở Y tế Hà Nội cũng cho thấy, trong gần 10 trường THCS thì số học sinh bị tật khúc xạ về mắt (cận, viễn, loạn thị) lên đến 73,2%, trong đó cận thị học đường là 47,5%. Ngày 24/8/2007, bệnh viện Mắt TP HCM cũng đã công bố con số khảo sát nghiên cứu các tật khúc xạ ở mắt thì có tới gần 40% học sinh, khoảng nửa triệu em phải đeo kính. Đây là những con số đáng lo ngại.

Theo các chuyên gia y tế, phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn chữa bệnh. Vì vậy, để có một chế độ dinh dưỡng tốt cho mắt, ngoài việc áp dụng chế độ ăn hoàn chỉnh, đa dạng về thực phẩm với đủ các chất tinh bột, chất đạm, chất béo, chất xơ, vitamin và vi khoáng, nên chú ý vitamin A, D, E và các loại rau quả có nhiều màu xanh, đỏ rất có lợi cho mắt.

Để có chế độ dinh dưỡng tốt cho mắt, ngoài việc áp dụng chế độ ăn hoàn chỉnh, đa dạng về thực phẩm nên chú ý vitamin A, D, E và các loại rau quả có nhiều màu xanh, đỏ rất có lợi cho mắt
Cùng với việc bổ sung thực phẩm dinh dưỡng, hiện nay trên thị trường đã có sản phẩm thực phẩm chức năng có tên gọi Canophin do Cty cổ phần Dược phẩm Hoàng Giang nghiên cứu và sản xuất rất thích hợp để cải thiện đôi mắt. Canophin được chiết xuất từ cà rốt, cúc hoa và dâm bụt giấm.

Cà rốt có chứa nhiều Beta - caroten khi vào cơ thể chuyển đổi thành vitamin A rất có lợi cho mắt. Cúc hoa có thể trị các bệnh như: đau mắt, chảy nước mắt, nhức đầu. Các Flavonoid trong dâm bụt giấm có tác dụng khử rất mạnh các gốc tự do mà chúng chính là tác nhân gây ra các bệnh về mắt, đặc biệt là bệnh thoái hóa võng mạc và bệnh đục thủy tinh thể.

Theo Phó Giáo sư - BS Trần An - Phó Giám đốc Bệnh viện Mắt TƯ, võng mạc là một tổ chức giàu oxy và đó là đích của Peroxy hóa Lipid. Sự tấn công của các gốc tự do trên những thụ thể cảm nhận ánh sáng và sự thoái hóa các đĩa võng mạc kèm theo sự tạo thành các chất oxy hóa là những nguyên nhân chính của sự thoái hóa lão, suy điểm vàng và bệnh võng mạc do đái tháo đường. Tương tự vậy, sự Peroxy hóa Lipid do các gốc tự do cũng là nguyên nhân của bệnh đục thủy tinh thể.
Với tác dụng hữu ích đó, Canophin được dùng trong các trường hợp như: nhức mắt, mỏi mắt, khô mắt khi học tập căng thẳng.... Canophin còn giúp tăng thị lực cho mắt khi thị lực giảm sút và ngăn ngừa các biểu hiện lão hóa ở mắt: đục thủy tinh thể, thoái hóa võng mạc... Muốn biết thêm thông tin, liên hệ Cty Dược Phẩm  Hoàng Giang, phòng 1104, 71 Nguyễn Chí Thanh - Hà Nội, điện thoại: 04 62752510; hoặc www.hoanggiangpharma.com.vn.
[b]
Theo DĐDN[/b]
Thiếu vitamin A và kẽm, trẻ sẽ dễ mắc cận thị nhất. Ăn quá nhiều đồ ăn ngọt cũng khiến độ đàn hồi của nhãn cầu yếu đi, làm bệnh cận thị nặng hơn.
Hệ thần kinh của trẻ chưa được phát triển một cách hoàn thiện, trong khi sự hưng phấn của chúng lại tương đối lớn, vì thế dễ dẫn đến các trạng thái mệt mỏi. Nếu ngủ không đủ giấc, các tế bào thần kinh sẽ không được nghỉ ngơi đầy đủ, lại không được bổ sung dinh dưỡng kịp thời, vì thế hệ thần kinh dễ bị rối loạn, gây ảnh hưởng đến thần kinh giao cảm của mắt, khiến chức năng điều tiết của mắt kém đi và hình thành bệnh cận thị ở trẻ.

Các chuyên gia cho biết một số loại dinh dưỡng bị thiếu cũng dẫn đến cận thị, bởi trong nhãn cầu chứa tương đối nhiều các nguyên tố như thép, crôm, canxi, kẽm.

Cơ thể bị thiếu sắt sẽ khiến mắt bị khô và không tốt cho thủy tinh thể, làm cho thủy tinh thể bị lồi lên và đi-ốp tăng. Khi cơ thể không được cung cấp đủ canxi, nhãn cầu sẽ mất dần đi độ đàn hồi bình thường, dễ bị phồng lên và gây bệnh cận thị.

Ngoài ra, cận thị và việc thiểu vitamin A, B trong cơ thể cũng có mối liên quan mật thiết. Nếu thiếu vitamin B, sự trao đổi đường trong cơ thể sẽ gặp trở ngại, nguồn năng lượng của các cơ quan thần kinh bị ảnh hưởng, trong đó có cả các dây thần kinh mắt, và gây nên cận thị.

Đồng thời thiếu vitamin A và kẽm, trẻ sẽ dễ mắc cận thị nhất. Ăn quá nhiều đồ ăn ngọt cũng khiến độ đàn hồi của nhãn cầu yếu đi, làm bệnh cận thị nặng hơn.

[b]Theo aFamily[/b]
[img align=l]http://www.thanhnien.com.vn/News/Pictures/MinhNguyet/T11c09387236.jpg[/img]Bổ sung vitamin B có thể giúp ngừa chứng thoái hóa điểm vàng, một chứng bệnh phổ biến ở phụ nữ có tuổi. Chứng thoái hóa điểm vàng là một nguyên nhân chính dẫn đến mù lòa.
Đây là kết quả cuộc nghiên cứu liên quan đến hơn 5.000 phụ nữ trên 40 tuổi của các nhà khoa học thuộc Bệnh viện Brigham và Women's tại Boston (Mỹ), theo hãng tin AP. Những tình nguyện viên uống kết hợp các viên bổ sung vitamin B như vitamin B6, B12 và a-xít folic đã giảm được hơn 30% nguy cơ mắc chứng thoái hóa điểm vàng so với nhóm dùng giả dược. Theo các chuyên gia, ngoài vitamin B, vitamin C, E và kẽm cũng có tác dụng giảm chứng bệnh trên. Những nguồn bổ sung vitamin B và a-xít folic là thịt bò, heo, thịt gia cầm, ngũ cốc, rau xanh...

Thep Thanh Niên

Nếu mắt bạn hơi khô, khi ngồi trước màn hình vi tính tốt nhất không nên dùng kính áp tròng, những người dùng kính áp tròng nên dùng loại kính có chất lượng cao.
1. Tránh nhìn tập trung quá lâu không chớp mắt, thường xuyên chớp mắt để hạn chế thời gian con ngươi mắt tiếp xúc với không khí, tránh làm khô mắt.

2. Không bật điều hoà quá lâu, tránh luồng không khí thổi trực tiếp tại chỗ ngồi, bên cạnh chỗ ngồi nên đặt một tách trà làm tăng độ ẩm xung quanh.

3. Nên ăn nhiều hoa quả, đặc biệt là các loại quả như cam quýt, nên ăn nhiều loại rau xanh, thức ăn tinh bột, cá và trứng, uống nhiều nước cũng có tác dụng hỗ trợ cho việc chống khô mắt.

4. Giữ nếp sống lành mạnh, bảo đảm giấc ngủ đầy đủ, không nên thức đêm.

5. Tránh ngồi quá lâu trước máy vi tính, giữa thời gian làm việc nên dành ít phút cho mắt được nghỉ ngơi, làm việc khoảng 1 giờ nên nghỉ ngơi 5-10 phút. Trong lúc nghỉ ngơi có thể đưa mắt nhìn ra xa hoặc làm các động tác thể dục cho mắt.

6. Giữ tư thế ngồi làm việc tốt. Giữ khoảng cách thích hợp nhất để hai mắt được nhìn thẳng và thoải mái, như vậy có thể khiến cho các cơ ở phần cổ được thoải mái và hạn chế được tối đa diện tích nhãn cầu tiếp xúc với không khí.

7. Điều chỉnh hợp lý khoảng cách với đèn. Khoảng cách thích hợp là 50-70 cm, đèn nên thấp hơn mắt 10-20 cm, kéo góc 15-20 độ. Như vậy có thể giảm mức độ mệt mỏi cho nhãn cầu.

Nếu căn bản mắt bạn hơi khô, khi ngồi trước màn hình vi tính tốt nhất không nên dùng kính áp tròng, những người dùng kính áp tròng nên dùng loại kính có chất lượng cao.

Người 40 tuổi trở lên, tốt nhất không dùng kính áp tròng, nên dùng kính có gọng, khi đánh máy nên đeo kính có độ nhẹ.

Nếu mắt bạn xuất hiện hiện tượng đỏ, tổn thương hoặc có dị vật rơi vào, thâm quầng mắt, nhìn mờ, thậm chí xuất hiện sưng mắt hoặc đau mắt, sau khi nghỉ ngơi vẫn không có biến chuyển tốt nên tới bệnh viện kiểm tra mắt.

[b]Theo aFamily[/b]
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiViệc phát hiện và điều trị sớm bệnh viêm loét giác mạc sẽ giúp giảm hoặc ngăn được di chứng và giúp cải thiện thị lực.

Nhiều người cho rằng, da, mũi mới dễ bị dị ứng, chứ mắt, do luôn có nước mắt “bảo vệ” nên khó nhiễm bệnh. Nhưng trong thực tế, mắt thuộc nhóm cơ quan có nguy cơ cao bị dị ứng do mắt thường xuyên tiếp xúc với môi trường.

Do phần bên ngoài của mắt luôn ẩm ướt, nên khả năng bám dính và kích ứng của các kích thích và dị nguyên sẽ tăng lên. Tuy rằng nhờ có nước mắt, các dị nguyên có thể nhanh chóng bị rửa trôi nhưng chỉ cần một thời gian rất ngắn, chúng cũng đã có thể gây ra các biểu hiện dị ứng tại mắt.

Người ta chia dị ứng mắt thành nhiều dạng:  

Viêm kết mạc dị ứng: các vật lạ gây ra viêm dị ứng ở kết mạc có thể thấy như bụi phấn hoa, các loại bụi, nước hoa, mỹ phẩm, thuốc bôi ngoài da, khói thuốc và cũng có thể do vi khuẩn gây nên. Viêm kết mạc gây ra tình trạng ngứa ngáy, khó chịu, đau, chảy nước, tăng tiết gỉ mắt; nặng hơn thì phù nề, co quắp mi, sợ ánh sáng. Tại mi cũng có thể có các biểu hiện viêm nhiễm.... Tuy nhiên, nó không gây tổn thương bên trong mắt.  

Viêm giác mạc: Thường do dị ứng với những yếu tố nội sinh như: viêm giác mạc kẽ do dị ứng độc tố vi khuẩn: lao, xoắn khuẩn giang mai, viêm giác mạc dạng nốt do dị ứng liên cầu, viêm giác mạc sau nhiễm virut herpes, thủy đậu, zona... Hoặc xảy ra sau một sai lầm y khoa như dùng kính sát tròng không đúng cách, tự dùng thuốc nhỏ mắt không đúng, đặc biệt dùng thuốc nhỏ mắt có chất dexa khi không có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa mắt...  

Việc phát hiện và điều trị sớm bệnh viêm loét giác mạc sẽ giúp giảm hoặc ngăn được di chứng và giúp cải thiện thị lực. Đặc biệt khi viêm loét giác mạc không nên băng kín mắt, vì khi băng kín mắt sẽ làm mắt nóng, ẩm và bẩn giúp cho vi khuẩn phát triển mạnh hơn.  

Viêm bên trong nhãn cầu: tuy khó có dị nguyên nào lọt vào được nhưng chúng ta vẫn có thể gặp các bệnh lý dị ứng. Chất nhân thể thủy tinh với bản chất là một dị nguyên nội sinh có thể gây ra những bệnh cảnh nặng nề cho mắt như: viêm màng bồ đào dị ứng chất nhân, glaucoma do thể thủy tinh.

Nguyên nhân viêm mắt  

Dị ứng phấn hoa, viêm mũi xoang dị ứng, dị ứng thức ăn, dị ứng thuốc, hen, chàm, mất cân bằng dinh dưỡng, hóa chất, dùng mỹ phẩm bừa bãi... đều có thể là nguyên nhân gây dị ứng mắt. Trong đó dị ứng mắt theo mùa là bệnh nhẹ, chỉ gây ngứa ngáy, mắt đỏ, chảy nước mắt.

Cơ nguyên dị ứng mắt là phản ứng do tế bào mast cell bị kích thích bởi immunoglobin E, khởi sự do bụi dị ứng sinh ra. Những chất trung gian từ tế bào mast cells như histamin, prostaglandin, leucotriene và kinin lần lượt kích thích giây thần kinh, làm nở mạch máu, tiết ra chất nhờn, làm mắt ngứa, cay và đỏ, sưng thành bọng nước trong mắt và ra ghèn.

Dị ứng mắt khác với các bệnh mắt khác do triệu chứng không rõ ràng. Bởi vậy, cần phân biệt dị ứng mắt với nhiều bệnh mắt khác, nhất là phân biệt thương tích vào mắt, nhiễm khuẩn mắt, dùng kính áp tròng, thuốc rửa mắt không hợp, viêm vành mắt, mắt khô, hay đường dẫn mắt bị nghẹt...  

Điều trị và phòng ngừa

Điều trị tùy thuộc bệnh dị ứng mắt nặng hay nhẹ. Nhưng cách hay nhất là phải loại trừ nhanh chóng các dị nguyên ra khỏi mắt. Bệnh nhân không nên dùng tay dụi mắt, vì sẽ kích thích tế bào mast cells làm bệnh tăng nặng thêm. Bệnh nhân có thể rửa mắt bằng nước lạnh, nước muối sinh lý, nước mắt nhân tạo (nếu dùng nước mắt nhân tạo mà còn bị đau mắt thêm, hay đỏ mắt hơn, hay bị kích thích thì nên ngưng dùng). Chườm lạnh cũng là phương pháp hữu hiệu để giảm phù mi, giảm ngứa và kích thích do làm co mạch và ổn định màng tế bào có chức năng miễn dịch.  

Khi thấy khó chịu tại mắt, nên đi khám bác sĩ chuyên khoa, không tự tiện mua thuốc nhỏ. Cần tuân thủ nghiêm ngặt thời gian dùng và liều lượng thuốc, bởi việc dùng tùy tiện hay lạm dụng các thuốc này có thể gây một số biến chứng ở mắt. Nếu không may bị dị ứng với các thuốc tra hoặc nhỏ mắt thì phải dừng thuốc lại, sau đó đem đơn và thuốc đã dùng đến cơ sở chuyên khoa mắt gần nhất để được chẩn đoán và hiệu chỉnh.  

Để phòng dị ứng, bệnh nhân phải tránh tiếp xúc với những dị nguyên, các chất kích thích có thể gây dị ứng cho mắt. Để bảo vệ mắt khi có dị vật, nên nháy mắt liên tục trong một ly nước sạch. Nếu cảm thấy vẫn còn dị vật nên đến kiểm tra ở bệnh viện chuyên khoa mắt.


Sức khỏe & Đời sống
 
Thủy tinh thể là chiếc đĩa trong suốt nằm ở phía bên trong mắt, nó tập trung các tia sáng đi vào võng mạc để tạo thành hình ảnh sắc nét rõ ràng, như thấu kính của máy ảnh tập trung hình ảnh vào phim. Thủy tinh thể có chức năng như một thấu kính hội tụ nằm sau mống mắt và tham gia vào quá trình điều tiết của mắt.
Bệnh đục thủy tinh thể là hiện tượng đục mờ thủy tinh thể. Sự đục mờ này ngăn không cho tia sáng lọt qua, kết quả là võng mạc không thu được hình ảnh và thị lực bệnh nhân suy giảm dẫn đến mù lòa.


Bệnh đục thủy tinh thể là hiện tượng đục mờ thủy tinh thể


Nguyên nhân gây bệnh đục thủy tinh thể: Nguyên nhân phổ biến nhất là do tuổi già (trên 80% người mắc bệnh đục thủy tinh thể là người có độ tuổi trên 50), và các bệnh lý như tiểu đường, tăng huyết áp, cận thị, chấn thương ở mắt, đục thủy tinh thể sau bệnh lý khác của mắt: glaucome (cườm nước), viêm màng bồ đào, tổn thương võng mạc, đục thuỷ tinh thể bẩm sinh.

Triệu chứng của bệnh:

Mắt nhìn thấy mờ, thị lực suy giảm, khó nhìn, lóe sáng, quáng gà, ra nắng mờ hơn trong nơi râm mát. Sức nhìn kém trong các vùng sáng bao quanh. Nhìn một vật thành hai hoặc ba. Thường xuyên thay đổi kính đeo mắt. Người bị đục thủy tinh thể nặng có thể thấy ánh sáng và nhận ra được các tương phản mạnh về màu sắc, nhưng không thể đọc sách báo.

Về điều trị:

Trong giai đoạn sớm, khi sự sụt giảm thị lực chưa ảnh hưởng đến công việc, cuộc sống thì người bệnh có thể đeo kính râm khi ra ngoài trời nắng, hoặc thay đổi độ kính. Nhưng các biện pháp trên chỉ là tạm thời. Khi mắt mờ nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống thì cần phải phẫu thuật thay thủy tinh thể. Phẫu thuật đục thủy tinh thể được thực hiện khi thị lực giảm, ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày.

Kỹ thuật tiến bộ nhất là phẫu thuật phaco phương pháp nhũ tương hóa thủy tinh thể bằng máy, sau đó hút ra và thay thế thủy tinh thể nhân tạo. Thị lực người bệnh phục hồi tốt trong thời gian ngắn, mắt trở nên sáng và bệnh nhân không cần đeo kính độ cao trên 10D như phương pháp mổ lấy thủy tinh thể thông thường trước đây.

Cần chú ý, đục thủy tinh thể là một căn bệnh rất phổ biến, là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa mà lại không có cách điều trị phòng ngừa hoặc làm chậm sự tiến triển của bệnh. Theo thống kê của Bệnh viện Mắt Trung ương, tại Việt Nam có tới 70% số người mù là do đục tinh thể. Đáng nói là có tới 35% người mù do đục thủy tinh thể không biết bản thân bị bệnh hoặc đây là bệnh có thể chữa được.

Đa số người bệnh lại đến bệnh viện khi ở giai đoạn muộn, rất khó phục hồi thị lực. Nhất là ở những trường hợp mà các dây thần kinh thị giác (nhiệm vụ cung cấp thông tin nhìn thấy đến não) có thể đã bị phá huỷ hoàn toàn, gây mù vĩnh viễn hoặc nếu điều trị được cũng gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, nên tăng cường kiểm tra mắt định kỳ nhất là với người cao tuổi để hạn chế các biến chứng, bảo vệ chức năng thị giác và giảm thiểu tỷ lệ mù lòa.


Theo TTO
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiThưa Bác sĩ, em bị viêm kết mạc dị ứng đã gần 3 năm, đã chữa nhiều phòng khám mắt nhưng vẫn không khỏi. Hiện tại em đang dùng thuốc Polyuphace cu 2-3 ngày em lại nhỏ 1 giọt nếu không lại ngứa và đỏ. Cho em hỏi về lâu dài như vậy co gay nguy hiem gi khong? Cam on Bac Si (Nguyen Huy Cuong)

Trả lời:

Kết mạc là một lớp màng mỏng, trong suốt bao bọc quanh nhãn cầu và được mi mắt bảo vệ. Nếu có một thứ gì đó gây ra kích thích ở lớp màng này, mắt của bạn bị đỏ & sưng lên, cũng có thể bị ngứa hay đau cộng với việc chảy nước mắt. Những triệu chứng trên gọi là viêm kết mạc mắt dị ứng (gọi tắt là viêm kết mạc).

Các vật lạ gây ra viêm dị ứng ở kết mạc có thể thấy như bụi phấn hoa, các loại bụi từ cây cúc dại, da thú vật hoặc các chất tiết như nước dãi chó mèo, ..., nước hoa, mỹ phẩm, thuốc bôi ngoài da, bụi bậm & khói thuốc. Nguyên nhân khác gây ra viêm kết mạc còn do vi khuẩn và/hoặc vi trùng.

Thường thì viêm kết mạc không gây tổn thương nghiêm trọng cho mắt. Viêm kết mạc gây ra tình trạng ngứa ngáy, khó chịu, đau, ... Tuy nhiên, nó không gây tổn thương bên trong mắt.

Một vài loại thuốc nhỏ mắt có thể trị được chứng viêm kết mạc dị ứng. Các loại thuốc này có thể làm giảm ngứa, làm sạch nhãn cần & bảo vệ không cho các triệu chứng xuất hiện trở lại. Các thành phần trong thuốc nhỏ mắt có thể bao gồm các chống dị ứng (antihistamin), các thuốc làm thông các dịch trong cơ thể, các kháng viêm không steroid hoặc các chất làm ổn định các tế bào mast. Một vài thứ có thể kết hợp của những loại trên & cần phải được BS kê toa.  

Các loại thuốc uống có thể là kháng sinh (nếu như viêm kết mạc do vi khuẩn), giảm phù nề, giảm viêm, các chất tan máu bầm, chống dị ứng & giảm đau có thể được BS sử dụng trong trường hợp này.  

Một số loại thuốc nhỏ mắt khi nhỏ lần đầu sẽ gây ra cảm giác rất đau rát ở mắt, tuy nhiên cảm giác này sẽ mất đi sau vài phút. Nên nhớ rằng tất cả các thuốc đều có thể gây tác dụng phụ, ngay cả thuốc nhỏ mắt. Do đó, trao đổi với BS nếu Bạn cảm thấy khó chịu nhiều khi sử dụng thuốc.  

Ngoài ra, chườm lạnh ở mắt hoặc nhỏ các loại nước muối sinh lý có bán rộng rãi tại các nhà thuốc cũng làm mắt dễ chịu hơn.  

Nếu bạn đang dùng kính áp tròng (contact lenses) thì sử dụng kính đeo tai trong thời gian bị viêm kết mạc. Chỉ sử dụng lại kính áp tròng khi viêm kết mạc đã được điều trị dứt điểm.  

Một thực tế đáng lo ngại hiện nay là thói quen tự dùng thuốc của người bệnh. Khi bị viêm kết mạc dị ứng, bệnh nhân tự mua các thuốc chống viêm và sử dụng kéo dài không có sự chỉ dẫn của bác sĩ, rất nguy hiểm khi trong số các thuốc chống viêm đó là các chế phẩm có Corticosteroid và người bệnh khó tránh khỏi tác dụng phụ của thuốc dẫn đến mù mắt khi còn rất trẻ.

Sau giai đoạn điều trị viêm cấp tính, người bệnh phải duy trì loại thuốc chống dị ứng. Có nhiều loại chống dị ứng trên thị trường, tuỳ từng trường hợp mà bác sĩ cho bệnh nhân dùng thuốc phù hợp. Khi bị tái phát bệnh, bệnh nhân tuyệt đối không tự ý dùng lại toa thuốc cũ.

Phòng bệnh như thế nào?

Bị dị ứng với dị nguyên nào, người bệnh cần tránh tiếp xúc với dị nguyên đó. Như nếu dị ứng với phấn hoa, bụi thì cần phải đeo kính mắt, đeo khẩu trang; không nên trồng, cắm hoa xung quanh nhà; khi dọn vệ sinh nhà cửa cần có phương tiện bảo hộ che chắn bụi….

Khi bị bụi, phấn hoa bay vào mắt phải dùng thuốc chống dị ứng nhỏ vào mắt rửa sạch các dị nguyên này. Dị ứng với lông thú vật thì không nên nuôi chó, mèo trong nhà… Người bệnh không nên dụi mắt khi ngứa và cần cần ghi nhớ phải dùng thuốc nhỏ mắt chống dị ứng mỗi ngày.

Bạn nên đi khám tại Viện mắt Trung ương để được thăm khám trực tiếp, từ đó có chẩn đoán bệnh chính xác và đơn thuốc điều trị. Bạn cần lưu ý tái khám thường xuyên theo chỉ định của bác sĩ để điều trị dứt điểm.

(Thông tin tư vấn sau đây chỉ mang tính tham khảo - không tự ý chữa bệnh theo thông tin này)  

Chúc bạn mau khỏi.


Theo VnMedia
Cách đây hai năm, mắt phải của em bị phù gai đáy mắt. Dạo gần đây hai mắt em bị lem nhem như có một vật gì cản phía trước. Nhìn gương thấy những vệt ghèn bám trên tròng mắt, và sáng nào mắt em cũng dính lại như có keo dán mà trước đây chưa từng bị. Vậy cho hỏi mắt em bị bệnh gì?

(Một bạn đọc)

- Phù gai đáy mắt là biểu hiện của bệnh lý thuộc về thần kinh của mắt, có thể do viêm nhiễm, thiếu máu hoặc thứ phát của u não. Bệnh gây giảm thị lực, có thể kèm đau mắt hoặc đau đầu tùy nguyên nhân, không làm mắt có ghèn.

Triệu chứng vệt ghèn, dính mắt buổi sáng có thể là bệnh lý ở vùng phía trước của mắt như khô mắt, viêm kết mạc (viêm lớp màng mỏng phủ trên tròng trắng), viêm bờ mi mắt mãn tính. Nguyên nhân có thể do vi trùng thường trú quanh mắt sinh độc tố do các yếu tố tác động như ô nhiễm môi trường, trang điểm, xà phòng...

Bệnh lý thường kéo dài nhiều tháng, kích thích nhẹ, làm bệnh nhân cảm giác khó chịu, mắt có ghèn nhẹ, khó mở mắt lúc ngủ dậy. Bệnh thường xảy ra ở hai mắt, bờ mi có thể phù nề nhẹ và đóng vảy, mắt dễ bị đỏ.

Điều trị bệnh là một quá trình kiên trì, kết hợp nhiều yếu tố. Bệnh nhân được dùng thuốc mỡ kháng sinh lúc ngủ 2-4 tuần, vệ sinh bờ mi hằng ngày, chườm ấm, kèm chế độ ăn giảm mỡ, đeo kính râm tránh gió bụi.

Theo Tuổi Trẻ
Trong lao động và sinh hoạt hằng ngày, không hiếm khi chúng ta lâm vào tình trạng một hoặc cả hai mắt trở nên nhức mỏi, thậm chí xuất hiện cảm giác nhìn mọi vật không rõ.

Điều này đặc biệt hay xảy ra ở những người phải sử dụng thị giác nhiều trong công việc như nhân viên máy tính, kỹ thuật viên trong các phòng thí nghiệm, công nhân đứng máy, thư ký, nhà văn... hay những người vốn dĩ có bệnh lý ở mắt như cận thị, viễn thị, loạn thị, đục thủy tinh thể.

Khi lâm vào hoàn cảnh này, bạn có thể tiến hành một thao tác trị liệu có công dụng phục hồi thị lực hết sức đơn giản của y học cổ truyền, đó là day bấm huyệt toản trúc. Huyệt nằm ở đầu của hai lông mày, do đó mà có tên là toản trúc (nhăn mày).

Muốn đạt được hiệu quả giải tỏa cơn đau nhức hoặc mỏi mắt tốt nhất cần lưu ý xác định chính xác vị trí huyệt toản trúc và day bấm đúng phương pháp. Vị trí huyệt toản trúc: ở chỗ lõm đầu trong lông mày. Thao tác cụ thể gồm các bước như sau:

- Chọn tư thế thoải mái, tốt nhất là nằm ngửa hoặc nửa nằm nửa ngồi trên ghế tựa, toàn thân thư giãn.

- Tâm trí hoàn toàn tập trung vào việc tiến hành thủ thuật, hai mắt khép hờ.

- Dùng hai ngón tay trỏ hoặc ngón tay giữa đồng thời day bấm cả hai huyệt toản trúc (ảnh) với một lực vừa phải sao cho đạt cảm giác tê tức là được trong khoảng 2 phút.

- Tiếp tục thư giãn trong vài phút rồi lại day bấm lần thứ hai với cách thức như trên.

Ngoài công dụng giải tỏa tình trạng nhức mỏi mắt cấp thời, biện pháp day bấm nói trên nếu được tiến hành kiên trì và đều đặn còn có tác dụng cải thiện thị lực và dự phòng các bệnh lý về mắt.

BS HOÀNG KHÁNH TOÀN
(BV T.Ư quân đội 108)
Những nguyên nhân
Một bạn đọc ở địa chỉ trungnguyen2@... vừa gửi e-mail đến Báo Thanh Niên để hỏi về tình trạng bệnh của anh: "Tôi bị loét giác mạc từ năm 11 tuổi, hay bị tái phát nhiều lần. Cho tôi hỏi, có cách nào chữa trị không, ở trong nước có thay giác mạc được không, chi phí có đắt không...? Mong được tư vấn sớm".

Về trường hợp trên, bác sĩ Trần Hải Yến - Trưởng khoa Khúc xạ (Bệnh viện Mắt, TP.HCM), cho biết: Viêm loét giác mạc có rất nhiều nguyên nhân như: do thiếu vitamin A (loại này thường gặp ở những trẻ nhỏ bị suy dinh dưỡng); do viêm nhiễm (bởi các vi khuẩn, vi-rút, nấm, amib...); sau chấn thương; do một số bệnh loạn dưỡng giác mạc. Loét tái phát hay xảy ra trong trường hợp nhiễm vi-rút, hoặc loạn dưỡng giác mạc. Đa số các trường hợp viêm loét giác mạc sau khi điều trị ổn đều để lại sẹo trên giác mạc. Thường sau mỗi lần viêm loét tái phát, sẹo giác mạc sẽ dày hơn và thị lực giảm nhiều hơn so với lần trước. Sẹo giác mạc khiến cho mắt rất dễ nhạy cảm với môi trường, dễ bị kích thích và viêm nhiễm. Bệnh nhân có tiền sử viêm loét giác mạc cần được khám mắt định kỳ 3 tháng, 6 tháng hoặc lâu hơn tùy theo mức độ ổn định của sẹo giác mạc.

Có thay giác mạc được?

Bác sĩ Trần Hải Yến cho biết: Thay giác mạc, hay còn được gọi là ghép giác mạc, tức là dùng giác mạc hiến tặng của người vừa chết thay vào giác mạc đã bị hỏng của bệnh nhân. Ghép giác mạc có thể được thực hiện khi tổn thương đang ở giai đoạn hoạt tính (ghép điều trị, ghép nóng) nhằm giới hạn sự lan tỏa của ổ loét về chiều sâu cũng như chiều rộng hoặc để bảo tồn, giữ mắt khi loét nặng gây nhuyễn mô đe dọa thủng nhãn cầu. Phần lớn các trường hợp ghép giác mạc được thực hiện khi sẹo đã ổn định (ghép quang học) nhằm loại bỏ vùng mô sẹo, bị đục, thay thế bằng mô lành, trong suốt để phục hồi thị lực cho bệnh nhân. Ở trong nước, phẫu thuật ghép giác mạc đã thực hiện từ nhiều năm qua tại các trung tâm nhãn khoa chuyên sâu.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của cả bác sĩ và người bệnh lâu nay đó là, nguồn giác mạc hiến tặng trong nước rất hiếm. Lâu nay, hầu hết các giác mạc có được là do các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức từ thiện của nước ngoài tặng, nhưng với số lượng rất hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu người bệnh cần ghép giác mạc. Vì vậy, bệnh nhân có chỉ định ghép giác mạc phải đăng ký và chờ đợi rất lâu mới có được giác mạc để ghép.

Bác sĩ Hải Yến cho biết thêm: "Vừa qua Bệnh viện Mắt Trung ương ở Hà Nội đã thực hiện dự án xây dựng Ngân hàng Mắt, đã có những tín hiệu vui ban đầu về việc hiến tặng mắt trong nước. Tuy nhiên, đây là một quá trình lâu dài và gian nan, cần sự chung tay của toàn xã hội để mang lại ánh sáng cho người bệnh. Riêng tại Bệnh viện Mắt (TP.HCM), phí phẫu thuật ghép giác mạc là khoảng 2 triệu đồng, chưa bao gồm tiền thuốc và chi phí liên quan đến giác mạc".

Theo Thanh Niên
Mắt và những vùng da quanh mắt là những nơi rất nhạy cảm trên khuôn mặt. Nếu không biết cách giữ gìn, những nếp nhăn xuất hiện quanh mắt sẽ làm bạn "nhanh già" và mất tự tin. 8 lưu ý dưới đây giúp bạn bảo vệ đôi mắt và vẻ đẹp của mình.

Rượu

Rượu là kẻ thù lớn và nguy hiểm nhất đối với đôi mắt của bạn. Tại sao có người sau khi uống rượu lại đỏ mặt, nhiệt độ trong cơ thể tăng lên vùn vụt? Đó là do rượu có thể đẩy nhanh tuần hoàn máu, làm cho huyết quản mao mạch giãn nở, phình to.

Rượu là nguyên nhân khiến vùng da quanh mắt bạn bị nám

Vùng da ở xung quanh mắt rất mềm, huyết quản lại rất nhỏ, nếu uống quá nhiều rượu, huyết quản mao mạch rất dễ bị đứt, vỡ và hình thành các nốt đen nhỏ lấm chấm trên da, còn gọi là vết nám. Biện pháp để đối phó với kẻ thù nguy hiểm này là “trốn” rượu càng xa càng tốt. Nếu trong trường hợp bất khả kháng không thể tránh được, nên uống nhiều nước để vô hiệu hoá những ảnh hưởng của rượu đối với da.

Thuốc lá

Thuốc lá một khi được đốt lên thì tuyệt nhiên là một địch thủ không được xem nhẹ. Những nghiên cứu khoa học gần đây càng chỉ rõ điều đó. Thuốc lá có thể sản sinh ra những nếp nhăn xung quanh mắt. Kể cả bạn không hút thuốc thì cũng không nên nới lỏng cảnh giác. Hơi và khói thuốc của người hút cũng có thể phá hoại cơ thể và dung nhan của bạn.

Bệnh khô mắt

Khô mắt có thể làm cho mắt trở nên không có thần sắc, khiến người khác luôn có cảm giác như bạn lúc nào cũng buồn rầu. Biện pháp tốt nhất để tiêu diệt kẻ thù này là không ngừng bổ sung nước cho mắt. Hầu hết các chuyên gia làm đẹp và các chuyên gia về mắt đều khuyên nên sử dụng thuốc nhỏ mắt vì nó có ích cho bạn cho dù bạn có đeo kính áp tròng hay bất cứ loại kính nào khác.

Tia nắng mặt trời

Quá nhiều tia tử ngoại chiếu vào sẽ tạo thành nếp nhăn quanh mắt, đục thuỷ tinh thể và các bệnh khác về mắt. Khi đi ra ngoài, bạn nên đeo kính râm hoặc kính chống tia tử ngoại, như thế có thể bảo vệ rất tốt cho mắt của bạn.

Không khí ô nhiễm

Bạn thường mất cảnh giác với kẻ thù này. Đến khi bạn chú ý đến nó thì nó đã làm bạn tổn hại rồi. Lúc đi ra ngoài, kể cả bạn không trang điểm, thì bạn cũng nên đánh một ít kem dưỡng da và phấn nền, như thế sẽ có tác dụng ngăn ngừa bụi bẩn, vi khuẩn.

Lúc ở trong nhà, bạn nên tạo dựng một môi trường trong lành, sạch sẽ. Dùng máy làm sạch không khí để thanh lọc hết các chất ô nhiễm như bụi bẩn, khói thuốc, mùi hôi tanh, lông động vật, vi sinh vật và các chất nhiễm bẩn khác mà bạn không thể nhìn thấy được.

Mỹ phẩm quá hạn

Khi bạn mở một hộp chải mi, bút kẻ mắt hay hộp phấn trang điểm mắt mới, vi khuẩn sẽ bắt đầu xâm nhập vào. Sau khi bạn mở ra sử dụng những đồ mỹ phẩm này, rồi đóng lại, nhiều lần như thế vi khuẩn tích tụ ngày càng nhiều, một khi nó vào mắt thì mắt bạn sẽ bị nhiễm khuẩn hoặc dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng khác. Vì vậy, khoảng 6 tháng nên thay mỹ phẩm một lần, chải mi thì 3 tháng nên thay một lần.

Ăn kiêng không đúng cách

Ăn kiêng không đúng cách cũng là một trong những kẻ thù tạo nên nguy hiểm cho đôi mắt đẹp của bạn. Theo một nghiên cứu chỉ rõ, trong các loại rau tươi và hoa quả chứa đựng nhiều chất như vitamin E, C, kẽm… có thể phòng chống các bệnh và nếp nhăn quanh mắt. Nếu bạn ăn kiêng, hạn chế ăn các chất béo và chất bột là rất đúng nhưng đồng thời phải tăng thêm lượng rau xanh và hoa quả.

Thiếu ngủ

Nếu bạn thường xuyên phải làm việc tới 2-3h đêm, sáng 7h phải vội dậy đi làm, vì thế thiếu ngủ sẽ đánh bại bạn. Muốn chiến thắng kẻ thù này, nhất định bạn cần nắm bắt từng cơ hội. Trên xe ô tô đi làm, trong lúc nghỉ trưa, lúc chờ cắt tóc… chỉ cần có chút thời gian, bạn nên nhắm mắt một lúc, như thế mới có thể giữ được đôi mắt trong sáng mạnh khoẻ, thoát khỏi nỗi muộn phiền về quầng thâm mắt và nếp nhăn.

Bạn cần lưu ý, cố gắng hết sức để tránh nạp vào người chất cafein bởi vì nó có thể làm ảnh hưởng đến quy luật nghỉ ngơi của bạn.


Theo 24H.COM.VN  
Tật nháy mắt (hay tic mắt) thường xảy ra ở cả hai bên, thoạt đầu nhẹ, sau đó khá mạnh, cơ vùng mặt cũng có thể co giật theo.

Nếu bạn thường xuyên nháy mắt một cách không chủ định, cần đến bác sĩ nhãn khoa để khám. Chứng này thường có nguyên do từ hệ thần kinh trung ương.

Tật nháy mắt (hay tic mắt) thường xảy ra ở cả hai bên, thoạt đầu nhẹ, sau đó khá mạnh, cơ vùng mặt cũng có thể co giật theo. Các cơn co kéo dài trong vài giây đến vài phút. Ngoài chuyện “khó coi” về mặt thẩm mỹ, tic mắt đôi khi làm cho người bệnh không nhìn thấy gì một cách thoáng qua. Một số bệnh nhân có quặm nhất thời do co quắp mi.

Các cơn tic mắt đầu tiên rất thầm lặng, kín đáo. Bệnh nhân chỉ hay chớp mắt hơn bình thường hoặc khó khăn để giữ mắt mở to trong một thời gian. Có thể khi bệnh nhân nói, hát, nhìn xuống hay nghỉ ngơi thì tình trạng này sẽ giảm hay biến mất; hoặc tăng lên khi gặp stress, khi chăm chú nhìn, nghe hay đi lại.

Các dạng thường gặp của tật nháy mắt:

- Nháy chủ yếu ở mắt, thường là cả hai bên.

- Các cơ vòng mi, cơ cung này và cơ trán cũng bị giật do loạn trương lực cơ vùng mặt:

- Hội chứng Meige: Co rút các cơ vòng mi, cơ nhai, nói, nuốt và các cơ vùng cổ. Bệnh thường gặp ở người trên 50 tuổi, có tính chất di truyền.

- Co rút cơ vùng mặt liên quan đến dây thần kinh số 7. Trước tiên là mi mắt, sau đó là các cơ mặt khác bị giật. Hơn một nửa bệnh nhân có tiền sử liệt dây 7.

Nguyên nhân của tic mắt rất phức tạp, nhiều khi không tìm thấy. Phổ biến nhất có căn nguyên ở thần kinh trung ương. Các bệnh loét giác mạc, viêm màng bồ đào, khô mắt, zona mắt, Parkinson... cũng có thể dẫn đến hiện tượng này.

Để điều trị, bệnh nhân được cho dùng thuốc thần kinh, nghỉ ngơi và áp dụng tâm lý liệu pháp. Một số ít trường hợp cần phẫu thuật.


Theo SK&ĐS
Phần lớn các bệnh thoái hóa hoàng điểm, đục thể thuỷ tinh, glôcôm, mù lòa... đều liên quan đến tuổi đời. Theo các nhà khoa học, có thể phòng chống hay làm chậm lại quá trình này.

Bêtacaroten

Thiếu vitamin A có thể dẫn đến mệt mỏi thị giác, nặng hơn là mất thị giác ban đêm. Thực tế là thiếu vitamin A sẽ làm mất tính trong suốt của giác mạc, gây ra những tổn hại cho các thành phần vỏ bọc nhãn cầu. Tuy vậy, nếu dùng vitamin A quá nhiều sẽ gây nguy hiểm cho mắt. Ta nên dùng các tiền chất của vitamin A như bêtacaroten, liều dùng khoảng 500mg/ngày. Các thức ăn giàu bêtacaroten là gấc, cà chua và một loại rong biển.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Cà chua là một trong những thực phẩm giàu bêtacaroten rất có lợi cho mắt


Astaxanthine

Được chiết ra từ rong biển, còn tốt hơn cả bêtacaroten bởi vì nó có khả năng xuyên qua dễ dàng hàng rào máu - não, có khả năng bảo vệ võng mạc chống lại các tác nhân oxy hóa, chống lại sự hao hụt các tế bào cảm thụ quang, có thể làm giảm nguy cơ thoái hóa hoàng điểm. Astaxanthine do bảo vệ được neuron võng mạc nên cũng sẽ bảo vệ được neuron não và tủy sống, chống lại tác hại của các gốc tự do.

Các vitamin khác

Vitamin B2: Cần thiết cho tính toàn vẹn của da, niêm mạc, mắt và chuyển hóa gluxit. Liều khuyên dùng là khoảng 50-100mg/ngày vitamin E liên tục trong 5 năm có thể làm giảm được 56% nguy cơ xuất hiện đục thuỷ tinh trong khi dùng vitamin C liều 500mg có thể giảm được 70%.

Kẽm: Cần thiết cho nhiều quá trình chuyển dạng vitamin A thành rhodopsine, can thiệp vào các quá trình chuyển hóa và có mặt trong các enzyme.

Luteine và zeaxanthine: Rau chân vịt, một số loại quả có màu vàng và màu cam là nguồn cung cấp luteine và zeaxanthine. Tuy nhiên, tính về lượng thì lại không đủ để điều trị các bệnh về mắt. Liều dùng hàng ngày của lutein và zeaxanthine 6mg sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ mắc các bệnh về mắt.

Người đang bị bệnh thì luteine sẽ làm chậm lại diễn biến của bệnh. Luteine và zeaxanthine còn có tác dụng phòng ngừa đục thể thủy tinh. Lượng luteine và zeaxan-thin giảm liên quan chặt chẽ đến việc xuất hiện thoái hóa hoàng điểm.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Các thực phẩm màu vàng giàu vitamin A như cà rốt cũng rất tốt cho sức khỏe của mắt


Phospholitip: Là thành phần cấu tạo cơ bản của màng tế bào võng mạc. Các lớp màng lipit kép này trên nguyên tắc được cơ thể tổng hợp để đảm bảo tính thấm và tự nhân lên của các tế bào. Tuy nhiên sự tổng hợp chúng lại diễn ra rất lâu và khó khăn theo phương thức không sẵn có do sự thiếu hụt một vài enzyme.

Do tình trạng này mà màng tế bào trở lên lão hóa, rắn chắc và chức năng của màng không còn được như trước nữa. Mặt khác thì không thể trông chờ vào sự thiếu hụt phospholipid bằng thức ăn. Tuy nhiên chúng ta có thể bổ sung phosphlipid bằng các sản phẩm dinh dưỡng chức năng.

DHA: Là một axít béo đa chức, không bão hòa chuỗi rất dài. Nhưng DHA lại gần như không có mặt trong thức ăn, cơ thể không thể tổng hợp bởi phải trải qua một quá trình tổng hợp phức tạp, cần có nhiều enzyme xúc tác. DHA có dồi dào trong gan các loài cá sống trong nước lạnh. Có thể tăng cường thêm DHA như là một sản phẩm dinh dưỡng bổ sung trong một số bệnh về mắt.

Taurine: Taurine có nồng độ cao nhất tại võng mạc. Từ đó người ta thấy taurine nên có mặt tại tất cả các sản phẩm bổ dưỡng dành cho mắt.

Chiết xuất của cây một dược (Myrtille): Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tác dụng chống oxy hóa của anthocyanoiside và nó đã trở thành sản phẩm dinh dưỡng chức năng được ưa dùng nhất để duy trì chức năng bình thường của hệ vi tuần hoàn tại mắt, cải thiện thị lực ban đêm, giảm mệt mỏi điều tiết. Các chiết xuất chuẩn của cây một dược có hàm lượng anthocyanoside cao nhất.

Cây húng chanh: Dẫn xuất của cây húng chanh có khả năng làm giảm tăng áp lực thái quá, nhất là áp lực trong nhãn cầu (nhãn áp). Nhiều nghiên cứu cho thấy tác dụng của chiết xuất này trong điều trị  glôcôm. Người Ấn Độ đã chứng minh điều này bằng việc dùng chiết xuất của húng chanh như một yếu tố vi lượng để hạ nhãn áp trong nhiều tháng.

Theo BS Hoàng Cương
Khoa học và Đời sống
Hai bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến suy thận và làm giảm thị lực. Tuy nhiên còn có những nguyên nhân khác gây suy thận thì thị lực vẫn có nguy cơ bị giảm. Điều nguy hiểm là đái tháo đường và tăng huyết áp không có những triệu chứng rõ rệt nên không được phát hiện sớm, không được chữa trị kịp thời, nên càng gây ra tổn thương nghiêm trọng cho thận và mắt.

Bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp đã phá hủy thận và mắt như thế nào?

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bong và rách võng mạc.

- Đái tháo đường có thể phá hủy thận, gọi là bệnh thận do đái tháo đường. Lượng đường tích tụ trong cơ thể có thể phá hủy các mạch máu, kể cả các mạch máu ở thận. Mức đường trong máu càng cao thì lượng máu chảy qua thận càng nhiều, làm các mạch máu vốn đã mảnh nay phải tăng cường hoạt động và gây tăng huyết áp. Thận bị tổn thương sẽ không có khả năng loại bỏ các chất độc hại và nước dư thừa, những chất độc hại này vẫn được giữ trong máu sẽ tích tụ ngày một nhiều làm quá trình phá hủy mạnh thêm, hậu quả là thận sẽ bị hỏng hoàn toàn. Vì suy thận ở bệnh nhân đái tháo đường xuất hiện dần dần, bệnh nhân có thể không nhận thấy các triệu chứng, chỉ đến khi thận bắt đầu suy mới nhận ra.

- Tăng huyết áp cũng có thể phá hủy thận: Xơ hóa mạch máu thận là một trong những nguyên nhân thường gặp của bệnh thận mạn tính tiến triển. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy mô đệm xơ hóa và angiotensin II đóng vai trò trung tâm trong bệnh thận. Nếu  kích hoạt hệ rennin-angiotensin-aldosteron sẽ gây nên tăng huyết áp hệ thống và tăng áp lực trong cầu thận làm ảnh hưởng huyết động tới nội mạc mạch máu và tiểu cầu thận. Angiotensin II có vai trò đa dạng và ảnh hưởng của cơ chế tác dụng ngược gây viêm và xơ hóa nhu mô thận. Trường hợp tăng huyết áp do đái tháo đường cần kiểm tra microalbumin niệu. Những bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối do tăng huyết áp thường dẫn đến phì đại thất trái và bị bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim. Thận suy lại làm tăng huyết áp. Khi huyết áp tăng cao sẽ phá hủy các mạch máu ở trong thận, thận không thể loại bỏ các chất độc hại và nước dư thừa nữa, lượng nước dư thừa lại làm cho huyết áp có thể tăng cao hơn nữa. Nếu thận sản xuất ra quá nhiều enzym, renin, huyết áp sẽ tiếp tục tăng cao. Dần dần, huyết áp cao sẽ làm cho các mạch máu trong thận trở nên nhỏ hơn và yếu đi, làm cho lượng máu cung cấp đến thận giảm và chức năng thận cũng giảm theo, hậu quả cuối cùng dẫn đến suy thận. Như vậy, đồng thời với suy thận là quá trình giảm thị lực. Mặt khác, bệnh thận cũng làm tăng huyết áp và giảm thị lực. Những bệnh về mắt phổ biến ở bệnh nhân suy thận là: bệnh về võng mạc, bệnh đục thủy tinh thể và tăng nhãn áp.

Bệnh võng mạc

Bệnh tăng huyết áp và tiểu đường làm cho những mạch máu nhỏ trong mắt bị tổn thương gây nên bệnh võng mạc. Khi nguyên nhân gây bệnh do đái tháo đường, thì gọi là bệnh võng mạc đái tháo đường. Đái tháo đường làm mức đường huyết tăng cao, mức đường huyết cao có thể phá hủy những mạch máu nhỏ trong thận và trong mắt. Tăng huyết áp làm căng quá mức thành mạch máu, dẫn đến bị đứt hoặc vỡ thành mạch. Hai bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường đều gây tổn thương võng mạc một cách âm thầm, bệnh nhân thường không cảm thấy các triệu chứng và chỉ biết khi đã bị tổn thương. Khi những mạch máu của võng mạc bị tổn thương, chúng trở nên yếu và có thể bị vỡ làm cho máu sẽ rò rỉ vào thủy tinh thể dẫn đến thủy tinh thể bị mờ đục và chặn ánh sáng nhận từ võng mạc. Tuy những mạch máu bị phá hủy sẽ được thay thế bởi các mạch máu mới, nhưng các mạch máu mới cũng lại quá yếu và có thể bị vỡ. Do càng nhiều máu rò rỉ vào thủy tinh thể, nên càng ít ánh sáng đến được võng mạc. Có  khi những tổn thương mạch máu này đã thành sẹo, các mô sẹo này có thể rơi vào tròng đen của mắt, mang theo cả võng mạc, gọi là bong võng mạc. Nếu đã bong võng mạc thì thị lực giảm rất nhiều, thậm chí có thể bị mù.  

Đục thủy tinh thể

Bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ bị đục thủy tinh thể rất cao, do mức đường huyết cao phản ứng với protein trong mắt và tạo thành một sản phẩm phụ ở trong thủy tinh thể và gây đục thủy tinh thể.

Tăng nhãn áp

Tăng huyết áp đồng thời cũng tăng nhãn áp. Khi nhãn áp tăng cao, thần kinh thị giác có thể bị phá hủy dẫn đến mất một phần hoặc hoàn toàn thị lực. Tăng nhãn áp là do  thủy dịch không thoát ra bình thường gây áp lực tác động lên mạch máu làm giảm sự cung cấp ôxy và dinh dưỡng cho thần kinh thị giác, dần dần các dây thần kinh thị giác bị phá hủy gây mất thị lực.

Cần làm gì để phòng và phát hiện bệnh sớm?

Nên khám và kiểm tra mắt định kỳ, đối với bệnh nhân đái tháo đường nên đi khám mắt 6 tháng một lần. Khám kiểm tra mức đường huyết hay huyết áp ở mức bình thường. Thực hiện đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ, uống thuốc đúng liều, tập thể dục đều đặn và ăn kiêng theo bệnh. Nếu thấy có biểu hiện bất thường như: nhìn mờ, nhìn một thành hai hay nhìn có bóng; thấy đau ở một hay cả 2 mắt, ánh sáng nhấp nháy, hoa mắt, thấy các điểm đen nên đi khám bệnh ngay để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

Theo SK&ĐS
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiKhi bị vẩn đục dịch kính, người bệnh cảm thấy như có "ruồi bay trước mắt" nhất là khi nhìn lên tờ giấy trắng hoặc tường trắng.

Dịch kính là một chất giống lòng trắng trứng gà, trong suốt, nằm trong lòng nhãn cầu phía sau thủy tinh thể và chiếm 6/10 dung tích toàn bộ nhãn cầu. Dịch kính ở phía sau dính vào xung quanh bờ của gai thị và màng ngăn trong (limitante interne) của võng mạc, ở phía trước dính chặt vào ora serrata và phần sau của thể mi.

Dịch kính có nhiệm vụ tiếp truyền các tia sáng từ ngoài vào đi tới võng mạc, tham gia dinh dưỡng cho thủy tinh thể, võng mạc và giữ cho lớp thần kinh của võng mạc dính với lớp biểu mô sắc tố.

Bệnh lý ở dịch kính

Thường thì không có tổn hại riêng biệt ở dịch kính mà là biểu hiện của các quá trình bệnh lý của các màng trong nhãn cầu (tổn hại do thoái hóa hoặc tổn hại do viêm...). Kết quả là dịch kính bị biến đổi về cấu trúc và thành phần hóa học.

Tổn hại do thoái hóa:

- Dịch kính lỏng: Dịch kính không còn là một thể keo nữa mà trở nên lỏng và thường kèm theo vẩn đục. Dịch kính mờ hơn, trong có những sợi ngắn không đều xen kẽ và di động khi vận động nhãn cầu. Tổn hại này hay gặp trong các bệnh của màng bồ đào, viêm dai dẳng và đặc biệt trong cận thị nặng.

- Thể chơi vơi: Trong trạng thái bệnh lý các bạch cầu, tế bào lympho, tế bào sắc tố... xâm nhập vào dịch kính tạo thành những "thể chơi vơi" dưới dạng bụi, sợi, màng mỏng hoặc di động cố định. Hiện tượng này hay thấy ở người già, người cận thị có tổn thương thoái hóa mạch máu, thoái hóa hắc võng mạc hoặc bị bong võng mạc.

- Nhuyễn thể lấp lánh: Là một thể thoái hóa đặc biệt của dịch kính, không gây rối loạn về thị giác thường kèm theo dịch kính lỏng. Lúc khám đồng tử giãn to, bằng ánh sáng chéo thấy phía sau dịch kính rất nhiều chấm trắng lấp lánh trong dịch kính. Soi đáy mắt thấy có những hạt tròn, to nhỏ khác nhau, màu trắng sáng óng ánh hoặc di động theo vận động nhãn cầu. Những hạt óng ánh này là những tinh thể tyrozin, cholesterin, có khi là vôi photphas, thường gặp ở người già, hoặc ở mắt đã thoái hóa vì bệnh lậu hoặc bị chấn thương cũ.

Tổn hại do viêm:

Sau các quá trình viêm có tính chất cấp ở màng bồ đào, trong dịch kính có vẩn đục thể bụi ở phần sau (thường là đặc hiệu của viêm do giang mai). Có khi dịch kính lại bị vẩn đục ở phía trước báo hiệu viêm mống mắt, thể mi nặng. Các viêm mạn tính nhất là có yếu tố nhiễm khuẩn phối hợp dịch kính có thể bị hoàn toàn thay thế bằng tổ chức liên kết, một trạng thái thành sẹo của dịch kính.

Bệnh nhiễm tinh bột:

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Hình ảnh nhìn thấy qua mắt bị vẩn đục dịch kính.

Đục dịch kính hai mắt là một biểu hiện sớm của bệnh nhiễm tinh bột gia đình hình thái di truyền trội. Nhiễm tinh bột có tổn hại dịch kính hiếm gặp trong các trường hợp không có tính gia đình. Ngoài lắng đọng dịch kính thể hiện trên lâm sàng, chất dạng tinh bột có thể lắng đọng ở mạch máu võng mạc, hắc mạc và vùng bè: Xuất huyết võng mạc, xuất tiết vết dạng bỏng và tân mạch võng mạc ngoại vi là những tổn thương đã được thông báo. Ngoài ra có thể thấy những dị thường của hốc mắt, các cơ ngoại nhãn, mi mắt và đồng tử. Những biểu hiện lâm sàng khác của bệnh này gồm bệnh đa thần kinh đầu chi trên, chi dưới và những dị thường của hệ thần kinh trung ương. Chất dạng tinh bột có thể lắng đọng ở nhiều cơ quan bao gồm tim, tuyến giáp, tụy và cơ.

Những vết đục dịch kính ngoại bào ban đầu dường như nằm sát các mạch máu, võng mạc phía sau, sau đó chúng phát triển ra phía trước. Ban đầu chúng có dạng hạt với những tua lưa thưa nhưng khi chúng to ra và nhập vào nhau, dịch kính trông như "bông thủy tinh". Do dịch kính bị hóa lỏng hoặc bong phía sau những vết đục có thể di chuyển vào trục thị giác gây ra giảm thị lực và sợ ánh sáng.

Điều trị đục dịch kính như thế nào?

Do đục dịch kính có nhiều nguyên nhân gây nên, có thể do thoái hóa, do viêm hay do nhiễm tinh bột nên bệnh phân chia thành nhiều thể khác nhau. Chính vì vậy để điều trị khỏi bệnh cần xác định đúng nguyên nhân và có phương pháp phù hợp.

Lời khuyên:

Khi bạn phát hiện thấy có "cảm giác ruồi bay", bạn nên đến cơ sở nhãn khoa gần nhất để được khám và tư vấn cụ thể, xem mình có bị vẩn đục dịch kính hay không?

Theo SK&ĐS
Hiện nay, mắt hột là một trong những bệnh gây mù lòa trên thế giới. Bệnh rất dễ phát triển, nhất là ở những nơi thiếu nước sạch, lây lan do tình hình vệ sinh phòng bệnh kém.

Bệnh mắt hột là biểu hiện của viêm kết, giác mạc mạn tính, do Clamydia trachomatis gây ra với đặc điểm là hình thành những hột, những tổn thương sẹo đặc trưng ở mắt; bệnh có thể lây lan thành dịch.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bệnh mắt hột lây lan như thế nào?

Mắt hột có ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở những nước nghèo, chậm phát triển. Tình trạng vệ sinh càng kém thì sự sinh bệnh, lây truyền càng nặng; bệnh có thể lây lan do các yếu tố sau đây: nguồn nước bị ô nhiễm; dùng nước ao hồ trong sinh hoạt như tắm rửa, ăn uống; trong gia đình hay nhóm bạn, nhà trẻ dùng chung khăn mặt, thau rửa mặt, bồn tắm...
Biểu hiện của bệnh mắt hột

Tùy theo thể bệnh nhẹ hay nặng mà có những  biểu hiện: không có triệu chứng gì; có dấu hiệu nặng nề, kéo dài dai dẳng, nhiều biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến mù lòa. Bệnh biểu hiện rất đa dạng với các triệu chứng như sau: ngứa mắt; cảm giác vướng như có hạt bụi trong mắt; đau nhẹ, cộm xốn trong mắt; xem báo, đọc sách hay sử dụng máy vi tính nhanh mỏi mắt nhất là buổi chiều. Ở thể nhẹ hay gọi là mắt hột đơn thuần,  tổn thương chỉ xuất hiện ở lớp biểu mô kết mạc. Bệnh nhân không có triệu chứng gì, hoặc chỉ ngứa mắt, xốn mắt, mỏi mắt, đôi khi hay chảy nước mắt. Nhiều khi bệnh nhân không biết, không điều trị, bệnh có thể tự khỏi do thói quen sinh hoạt giữ vệ sinh sạch và không bị tái nhiễm,  không để lại di chứng và không gây mù. Đối với thể nặng tổn thương xâm nhập xuống cả những lớp sâu bên dưới của kết mạc mắt, có thể gây các biến chứng như lông quặm, lông siêu, sẹo giác mạc, nguy hiểm nhất là dẫn đến mù lòa. Bệnh trầm trọng, nặng nề và kéo dài, không thể tự khỏi nếu không được điều trị tốt. Bệnh nhân bị mắt hột có biến chứng sẽ có 3 triệu chứng: trụi lông mi, mắt ướt, bờ mi đỏ mà dân gian gọi là mắt toét.

Các biến chứng do mắt hột

Bệnh nhân bị mắt hột có thể dẫn tới các biến chứng: viêm kết mạc mạn tính bị đỏ mắt, ngứa, cộm, xốn quanh năm; lông quặm, lông xiêu là tình trạng tổn thương kết mạc bờ mi gây cho lông mi bị xiêu vẹo, biến dạng, quặp vào cọ xát liên tục vào giác mạc, gây tổn thương, trầy sướt, loét giác mạc, làm mờ đục giác mạc. Do vệ sinh kém bị nhiễm khuẩn gây viêm mủ nhãn cầu có thể phải khoét bỏ mắt hoặc viêm teo mắt dẫn đến mù lòa; Viêm sụn mi  là tổn thương làm bờ mi dày lên, xơ hóa, biến dạng sụn mi; Loét giác mạc làm bệnh nhân bị đau mắt, nhức mắt, sợ ánh sáng, hậu quả là biến dạng giác mạc gây loạn thị, đục giác mạc và dẫn đến mù lòa; Bội nhiễm là do bệnh mắt hột làm cho giác mạc bị tổn thương dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm virut và cả nhiễm vi nấm, dẫn đến viêm loét giác mạc, có thể gây mù lòa;  U hột ở rìa giác mạc lan vào diện đồng tử và có khi lan cả toàn bộ giác mạc;  Loạn thị vì sạn vôi và các sẹo mắt hột cọ sát lâu ngày trên giác mạc làm giác mạc ghồ ghề, lởm chởm, sai lệch đường đi của ánh sáng, gây loạn thị, giảm thị lực; Viêm tuyến lệ, tắc ống dẫn lệ dẫn đến mờ mắt, chảy nước mắt sống. Khô mắt, khô giác mạc: do các ống tuyến bị teo, giảm tiết dịch, mắt trắng khô, mờ hẳn, có thể dẫn tới tình trạng loét giác mạc, thủng giác mạc và gây mù mắt.

Kiên trì chữa trị

Bệnh mắt hột có các thể từ nhẹ đến nặng, những trường hợp nhẹ không cần điều trị cũng tự khỏi, các trường hợp nặng có thể gây biến chứng nguy hiểm cho mắt và đưa đến mù lòa nên phải điều trị tích cực. Phương pháp điều trị mắt hột phổ biến là dùng thuốc nhỏ mắt hoặc tra thuốc mỡ vào mắt. Có thể dùng một trong các thuốc sau để điều trị: mỡ tetracyclin 1%, tra mắt buổi tối mỗi tháng 10 ngày liên tục trong khoảng  6 tháng - 1 năm;  đồng thời uống một trong các thuốc tetracyclin, erythromycin hay doxycyclin x 3-4 tuần; Phẫu thuật xử lý các trường hợp biến chứng như lông quặm, sẹo giác mạc.

Làm gì để phòng bệnh đau mắt hột?

Bệnh mắt hột rất dễ mắc và lây lan thành dịch, có nguy cơ dẫn đến mù lòa nhưng có thể phòng tránh bằng các biện pháp đơn giản, dễ thực hiện như sau: luôn luôn rửa sạch tay mỗi khi lao động hay tiếp xúc với môi trường đất, nước bẩn; mọi người chú ý tập thói quen  không dụi tay bẩn lên mắt. Sử dụng kính khi đi đường tránh gió bụi vào mắt; rửa mặt bằng khăn mặt riêng; không sử dụng nước ao hồ để tắm rửa, tránh để nước bẩn bắn vào mắt; thường xuyên làm vệ sinh môi trường, diệt ruồi nhặng, gián, chuột; khi mắc bệnh phải điều trị bảo đảm thời gian theo hướng dẫn của bác sĩ...

Theo SK&ĐS
Bố mẹ bé Hùng (5 tuổi, thành phố Thanh Hóa) lạnh người khi bác sĩ nói bé bị đục thủy tinh thể. Chứng lác của Hùng, vốn được bố mẹ coi là chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ, lại chính là một biểu hiện của bệnh.

Bé Hùng bắt đầu có biểu hiện lác từ khi gần 3 tuổi. Tuy nhiên, gia đình cho rằng triệu chứng không gây hại gì đến sức khoẻ và khả năng nhìn, chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ nên định để cháu lớn lên mới điều trị. Gần đây, thấy con có dấu hiệu nhìn kém, bố mẹ Hùng mới đưa đi khám. Họ không ngờ chẩn đoán lại quá nặng nề: Đục thuỷ tinh thể bẩm sinh giai đoạn nặng. Bác sĩ cho biết, lác mắt chính là một hệ quả của bệnh này. Sau phẫu thuật thay thủy tinh thể, Hùng sẽ phải trải qua quá trình điều trị khá dài để phục hồi thị lực.

Theo bác sĩ Hoàng Cương, phòng khám Bệnh viện Mắt Trung ương, cha mẹ không nên chủ quan khi thấy con bị lác mắt vì đó có thể là biểu hiện của một số bệnh lý nguy hiểm, mà đục thuỷ tinh thể bẩm sinh là một ví dụ. Bệnh này cần được chữa sớm bởi nếu để lâu, tế bào thị giác của trẻ sẽ thoái hoá và rất khó phục hồi.

Ngoài lác, đục thủy tinh thể bẩm sinh còn có một số biểu hiện dễ thấy là lỗ con ngươi của trẻ có màu trắng phấn, thường bị cả hai bên. Mắt có những cử động bất thường như rung lắc. Trẻ nhìn kém, hay dụi mắt, nheo mắt khi nhìn.

Khối u võng mạc (thường là ung thư) cũng có thể gây lác. Bệnh chủ yếu gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Nếu phát hiện muộn, trẻ sẽ phải múc bỏ mắt để bảo toàn tính mạng. Phần lớn số trẻ bị ung thư võng mạc đến Bệnh viện Mắt Trung ương điều trị đều lâm vào cảnh này.

Cháu Ngọc ở Vĩnh Phúc là một ví dụ. Mới 3 tuổi, bé gái này đã mất đi một bên mắt; và do phải chịu những đợt hóa trị để chống lại tế bào ung thư nên bị suy dinh dưỡng nặng. Ngọc được phát hiện triệu chứng lác nhẹ khi mới hơn 1 tuổi, nhưng bác sĩ ở địa phương khẳng định là không vấn đề gì nên cha mẹ bé hoàn toàn yên tâm. Gần đây thấy đồng tử một bên mắt bé to hơn và có màu sáng là lạ, nhất là trong bóng tối, họ mới đưa đi Hà Nội khám, nhưng đã không kịp cứu con mắt đó.

Lác do khối u thường có dấu hiệu đi kèm là ánh đồng tử bệnh nhân có thay đổi. Khi trẻ ở trong bóng tối, ánh mắt có màu xanh lơ hoặc trắng xám. Mắt bên tổn thương trông rất dại, vô hồn. Nếu để muộn, mắt có thể đỏ, lồi, gây đau nhức và buồn nôn.

Ngoài ra, các bệnh như viêm màng bồ đào, tổn thương ở não bộ... cũng có thể gây lác. Do đó, khi có biểu hiện này, trẻ cần được đưa đi khám ngay.

Lác thông thường cũng không chỉ là vấn đề thẩm mỹ

Các tật khúc xạ như viễn thị, loạn thị hoặc viễn - loạn thị phối hợp cũng gây lác mắt ở trẻ em, nhất là khi khúc xạ hai mắt lệch nhau. Trường hợp này thường gây lác vào trong. Nếu trẻ bị cận thị số cao nhưng không đều hai bên thì mắt nặng hơn thường bị lác ra ngoài.

Theo bác sĩ Đỗ Quang Ngọc, khoa Mắt trẻ em Bệnh viện Mắt Trung ương, ngay cả với các trường hợp kể trên, lác mắt cũng không phải chỉ ảnh hưởng đến thẩm mỹ. Nếu không điều trị, mắt lác sẽ yếu dần và dẫn đến nhược thị.

Do đó, chứng lác cần được điều trị càng sớm càng tốt, và phải chữa dứt điểm trước tuổi đi học. "Sẽ là quá muộn khi bệnh nhân đã 5-7 tuổi bởi não bộ và thị giác đã phát triển hoàn hảo, khó có thể đảo ngược được tình hình", bác sĩ Hoàng Cương nói. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều bậc cha mẹ vì nghĩ rằng mắt lác chỉ là vấn đề xấu -đẹp nên không đưa con đi khám và điều trị sớm. Khi trẻ lớn lên, bắt đầu quan tâm đến hình thức mới tới gặp bác sĩ thì thị lực đã giảm nghiêm trọng.

Nhiều thanh niên đến khi đi khám sức khỏe để lấy bằng lái xe mới biết mình chỉ còn một mắt. Mắt bên kia bị lác và hỏng từ lâu, tuy trông bề ngoài vẫn khá lành lặn. Do không bao giờ che một mắt để kiểm tra thị lực mỗi bên, họ không biết. Lúc này, đã quá muộn để khôi phục thị lực.

Theo VNExpress
Nguyên nhân nào gây ra bệnh viêm loét giác mạc ?

Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu do vi khuẩn, nấm và siêu vi khuẩn, những vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất là :

Staphylococcus aureus.
Staphylococcus   epidermidis.
Streptococcus pneumoniae.
Pseudomonas aeruginosa.
Moraxella.
Neisseria gonorrhoeate.
Với khí hậu nóng và ẩm là điều kiện thuận lợi cho nhiễm trùng giác mạc phát sinh và phát triển cùng với mức sống người dân còn thấp và ý thức vệ sinh phòng bệnh chưa cao càng làm cho bệnh thêm trầm trọng.

Triệu chứng của bệnh như thế nào ?

Lúc đầu mắt cộm, xốn, cảm giác như có dị vật dưới mi. Cảm giác này nặng dần lên và đau như lan ra cả hốc mắt. Sợ sáng và chảy nước mắt, mi co quắp, thị lực giảm.

Mi sưng, kết mạc đỏ, cương tu mạnh ở vùng rìa màu đỏ tím. Vén mi lên nước mắt sẽ ứa ra nhiều và thấy các tổn thương ở giác mạc : loét nông hoặc sâu rộng nhiều hay ít, thẩm lậu quanh vết loét màu xám hay mờ đục.

Tiền phòng thường mất tính trong suốt do thủy dịch bị đục và đôi khi có mủ đọng lại ở phía dưới tiền phòng. Mủ này thường vô trùng chừng nào màng Descemet chưa bị thủng.

Mống mắt sắc bóng bình thường.

Ðiều trị bệnh này ra sao ?

Khi có những triệu chứng trên bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa mắt để được khám bệnh không nên chậm trễ. Chỉ có bác sĩ chuyên khoa mới có cách điều trị đúng đắn. Lưu ý với bạn rằng không nên tự ý nhỏ bất kỳ loại thuốc nào, kể cả những bài thuốc truyền miệng trong dân gian vào mắt khi không có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa. Vì như vậy sẽ rất nguy hiểm cho đôi mắt của bạn.

Hiện nay, có một số biện pháp điều trị như :

Dùng thuốc

Trị liệu bằng lạnh

Tráng giác mạc

Cạo biểu mô giác mạc

Phòng ngừa bằng cách nào ?

Ðến khám kịp thời để được chẩn đoán và điều trị nhằm tránh tổn thương viêm loét giác mạc.

Giữ vệ sinh sạch sẽ cho đôi mắt : không dùng nguồn nước ô nhiễm để rửa mặt, khăn lau mặt phải sạch sẽ.

Theo BSGĐ
Nhờ tác dụng của mật ong, mắt của bạn không bị đỏ, mệt mỏi và không bị ảnh hưởng của màn hình vi tính. Dưới đây là một vài phương pháp giúp bạn chăm sóc mắt bằng mật ong.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Trước khi bắt đầu liệu pháp chăm sóc bằng mật ong, bạn nên kiểm tra xem loại mật ong mà bạn dùng có gây kích thích tới da của bạn không. Để làm điều này, chỉ cần lấy một lượng nhỏ mật ong bôi lên vùng cổ. Để khoảng 10 - 15 phút.

Nếu trong khoảng thời gian 15 - 20 phút, vùng da bôi mật ong không mẩn ngứa và sưng tấy thì bạn hoàn toàn có thể sử dụng loại mật ong này. Nếu vùng da ở cổ bị mẩn ngứa. Bạn nên chọn loại mật ong khác.

Liệu pháp “từ trong ra ngoài

Uống mật ong lúc đói rất tốt cho phụ nữ: Sau khi đánh răng khoảng 10 - 15 phút, bạn nên uống 1 thìa nhỏ mật ong. Liệu pháp này cũng có thể thực hiện trước khi đi ngủ. Bạn nên nuốt mật ong một cách từ từ.

Liệu pháp này rất tốt để phòng chống các bệnh về mắt. Làm tốt cơ mắt và thị lực. Nên uống mật ong khoảng hai tuần, sau đó nghỉ 2 tuần. Hiệu quả của liệu pháp này sẽ kéo dài được khoảng nửa năm.

Nhỏ mắt

Khi bị đau mắt, đục thủy tinh thể, mắt bị viêm thì mật ong rất tốt cho màng mắt. Mật ong hình thành nên lớp màng mỏng bảo vệ giúp giảm căng thẳng cho cơ mắt. Phương pháp này rất hợp với những người thường xuyên bị căng thẳng ở mắt, ví dụ như thường xuyên phải làm trên vi tính, hoặc luôn phải đọc nhiều, viết nhiều.  

Phương pháp làm thuốc nhỏ mắt: Cần phải lấy mật ong tinh khiết không bị kết tinh và nước cất (không dùng nước ở vòi hoặc nước không đun sôi) pha theo tỷ lệ 1:10 (1 giọt mật ong thì pha thêm 10 giọt nước) rồi khuấy đều dung dịch.

Mỗi ngày bạn nên nhỏ 1 lần dung dịch này vào buổi sáng. Mắt bạn sẽ khỏe mạnh cả ngày. Liệu pháp này nên kéo dài khoảng 2 tuần, sau đó dừng lại.

Liệu pháp tắm

Lấy mật ong bằng các đầu ngón tay và thoa lên cổ. Xoa bóp khoảng 5 - 7 phút để phần cổ đỏ lên. Sau đó lại lấy thêm mật ong và lặp lại khoảng 2 - 3 lần. Khi mật ong không thể hấp thụ được thêm vào phần da ở cổ thì bạn có thể chuẩn bị nước ấm (35 - 40oC) và ngâm mình trong nước từ 10 - 15 phút.

Nên lặp lại liệu pháp này khoảng 2 lần trong tuần. Liệu pháp này rất tốt cho thủy tinh thể của mắt. Thủy tinh thể sẽ được giữ ẩm và mắt tinh hơn.

Rất tốt cho trẻ em

Mật ong không có tác dụng phụ. Do vậy trẻ em khoảng 3 - 4 tuổi có thể  dùng được mật ong. Bạn có thể bôi mật ong vào núm vú cao su và cho trẻ ngậm.

Đối với học sinh, sử dụng mật ong rất tốt cho thị lực. Cơ mắt của trẻ luôn mệt mỏi do phải chú ý cao ở trường, làm bài tập về nhà và chơi điện tử. Vì thế, mật ong là phương thuốc có lợi, tự nhiên và hiệu quả nhất mà các bậc cha mẹ có thể cho trẻ uống.

Theo BSGĐ
Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A mà hậu quả nặng nề của nó là mù vẫn đang là mối đe dọa đối với trẻ em của nhiều nước trên thế giới trong đó có nước ta. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, hằng năm có trên nửa triệu trẻ em các nước bị mù; có tới 6-7 triệu trẻ em khác bị thiếu vitamin A thể nhẹ hoặc vừa làm cho số trẻ em này dễ bị các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy, viêm phổi...

Thiếu vitamin A và bệnh khô mắt là một bệnh thiếu dinh dưỡng hay gặp ở trẻ em nhất là ở các cháu bị suy dinh dưỡng nặng, sau khi mắc các bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp... Bệnh thường gặp ở các vùng nông thôn, miền núi do kinh tế chưa phát triển, ăn uống thiếu dinh dưỡng. Một nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa tỷ lệ mắc bệnh khô mắt với tỷ lệ suy dinh dưỡng cao.

Biểu hiện lâm sàng của bệnh khô mắt

Dấu hiệu sớm nhất của bệnh khô mắt là trẻ bị “quáng gà”, không nhìn được lúc chập choạng tối, thường đứa trẻ sợ, ít hoạt động, đi hay vấp ngã hoặc va quệt vào đồ vật. Dấu hiệu này khó phát hiện ở những trẻ còn nhỏ và không phát hiện được ở những trẻ chưa biết đi. Các biểu hiện nặng hơn gồm: Khô kết mạc, kết mạc không nhẵn, mất sắc bóng láng, có màu vàng nhạt ở kết mạc nhãn cầu và ở kết mạc mi. Khi kết mạc khô không thấm nước, không trong suốt, có màu đục như sữa do các bọt nhỏ của hiện tượng tăng sừng hóa, các vi kết mạc không nhìn rõ. Kết mạc có thể dày lên, nhăn nheo, sắc tố hóa làm cho kết mạc có màu vàng nhạt xám xẩm, hoặc các hạt nhỏ rải rác, ở góc mi có những chất cặn đọng màu kem nâu.

- Vệt Bitot là triệu chứng đặc trưng của bệnh thiếu vitamin A. Vệt Bitot là đám tế bào dày lên có màu trắng xám nổi lên trên bề mặt nhãn cầu, bề mặt phủ một lớp bọt nhỏ li ti hoặc lổn nhổn nổi lên trên bề mặt nhãn cầu, thường là hình tam giác đáy quay vào rìa giác mạc, hoặc có hình ô van, thường có ở cả hai mắt.

- Khô giác mạc: làm trẻ chói mắt sợ ánh sáng, hay nhắm mắt, nheo mắt. Giác mạc biểu hiện sự mất bóng sáng, sù sì và khô, nặng hơn thì có những chấm thẫm nhiễm tế bào viêm, đục mờ như làn sương phủ, thường xuất hiện ở nửa dưới giác mạc.

- Loét nhuyễn giác mạc: Đây là triệu chứng nặng, đứa trẻ rất sợ ánh sáng, mắt luôn nhắm nghiền, chảy nước mắt. Mức độ loét có thể gặp nhỏ như hạt đỗ, nặng có thể đến 1/3 hoặc toàn bộ giác mạc, màu trắng đục do bội nhiễm. Có khi có hiện tượng phồng màng, hoại tử, có thể thủng giác mạc, phòi mống mắt.

- Sẹo giác mạc: do khô giác mạc, loét giác mạc, sẹo có thể chỉ như những chấm nhỏ, hoặc như khói phủ, có thể toàn bộ giác mạc dẫn tới mù hẳn.

- Tổn thương đáy mắt: Dùng đèn soi đáy mắt chúng ta có thể phát hiện tổn thương đáy mắt do thiếu vitamin A với biểu hiện đáy mắt điểm vàng có những chấm nhỏ thường ở rìa các mạch máu võng mạc.

Phòng chống bệnh thiếu vitamin A như thế nào?

Cải thiện chế độ dinh dưỡng: Khẩu phần ăn hằng ngày cần cung cấp đủ vitamin A và caroten. Vitamin A chỉ có trong thức ăn động vật, nhưng caroten vốn sẵn có ở rau có màu xanh đậm, các loại củ quả có màu da cam. Nên nghiền rau, cà rốt nấu súp hay bột cho trẻ ăn. Các loại thức ăn giàu caroten như rau muống, rau ngót, rau diếp, lá hành, gấc... thường kèm theo nhiều chất dinh dưỡng quý khác như riboflavin, vitamin C, canxi, sắt và các yếu tố vi lượng. Thức ăn cho trẻ có thêm chất béo để hỗ trợ hấp thu caroten.

Bổ sung vitamin A trong thức ăn: Tăng cường vitamin A vào sữa gầy vì loại này hay được sử dụng trong các chương trình dinh dưỡng ở các nước mà bệnh khô mắt đang lưu hành.

- Cho uống vitamin A: Khi đã phát hiện cộng đồng có vấn đề thiếu vitamin A, việc cho uống các viên nang vitamin A liều cao là biện pháp trước mắt có hiệu quả ngay, đồng thời có chương trình lâu dài phòng chống thiếu vitamin A. Thông thường cho trẻ uống dự phòng 1 viên nang 200.000 UI mỗi năm 2 lần. Nếu bệnh đang tiến triển, dùng vitamin A theo phác đồ điều trị của Tổ chức Y tế Thế giới như sau: Ngay sau khi chẩn đoán: 200.000 UI theo đường uống hoặc 100.000 UI tiêm bắp; Ngày hôm sau: 200.000 UI theo đường uống; 2-4 tuần lễ sau, hoặc bệnh nặng thêm trước khi xuất viện 200.000 UI theo đường uống. Đối với trẻ em dưới 1 tuổi dùng nửa liều nói trên. Có thể tiêm bắp bằng chế phẩm vitamin A tan trong nước khi bệnh nhân bị nôn hoặc tiêu chảy nặng. Cần tích cực phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn như viêm họng, viêm phổi, tiêu chảy, nhất là sởi cũng tác động đến mắt, đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ thiếu vitamin A. Do đó, công tác phòng chống bệnh thiếu dinh dưỡng và nhiễm khuẩn phải được triển khai trong các hoạt động của chăm sóc sức khỏe ban đầu.


Theo BS. Nguyễn Bùi Diệu Linh - Sức Khoẻ & Đời Sống
Ngoài hiện tượng lão thị và các bệnh về mắt như đục thủy tinh thể..., người lớn tuổi còn có tỷ lệ cao bị thoái hóa hoàng điểm ở mắt (bệnh AMD). Đây là nguyên nhân phổ biến nhất gây bệnh mù lòa cho người lớn tuổi và theo thống kê của châu Âu và Mỹ, khoảng 25% người trên 60 tuổi bị tình trạng này.
Bệnh AMD là gì?

Điểm vàng hay hoàng điểm là bộ phận nằm ở vùng trung tâm của võng mạc giúp ta nhận biết độ sắc nét, màu sắc và độ rõ của hình ảnh. Tình trạng hoàng điểm bị thoái hóa gây mất thị lực ở vùng trung tâm gọi là bệnh thoái hóa điểm vàng AMD.

Có hai dạng thoái hóa: dạng thoái hóa khô, chiếm khoảng 90% và dạng thoái hóa ướt, chỉ chiếm 10% nhưng lại là nguyên nhân của 90% tình trạng mất thị lực nặng.

Đối tượng có nguy cơ cao bị AMD

- Tuổi tác: Nguy cơ bị AMD tăng theo lứa tuổi. Nguy cơ ở lứa tuổi 50 chỉ là 2%, nhưng ở lứa tuổi trên 75 lên đến khoảng 30%.

- Giới tính: Phụ nữ có nguy cơ cao gấp 2 lần hơn nam giới.

- Hút thuốc: Hút thuốc có thể tăng nguy cơ AMD.

- Di truyền: Người có tiền sử gia đình mắc AMD có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người bình thường.

- Cholesterol: Người có hàm lượng cholesterol trong máu cao dễ bị mắc AMD ướt nhiều hơn.

- Dinh dưỡng kém: Sử dụng chất chống oxy hóa liều cao có thể làm giảm nguy cơ mắc AMD.

Các dấu hiệu của bệnh AMD

Dấu hiệu đầu tiên của AMD khô là thị lực bắt đầu bị kém đi. Khi bệnh tiến triển, bạn có thể thấy một điểm mờ ở vùng trung tâm của hình ảnh, rồi điểm mờ này sẽ ngày càng lớn hơn và tối hơn. Đối với AMD ướt, triệu chứng ban đầu là hình ảnh các đường thẳng bị biến thành đường dạng sóng.

Nếu cả hai mắt cùng bị AMD, bệnh nhân sẽ khó khăn khi đọc sách báo hoặc khi làm việc trong khoảng cách nhìn gần. Những triệu chứng này xảy ra ở một mắt của bệnh nhân đôi khi không phát hiện được cho tới khi mắt thứ hai bị bệnh. 42% bệnh nhân bị một mắt sẽ có nguy cơ bị mắt thứ hai trong vòng 3-5 năm.

Những bệnh nhân trên 65 tuổi nên đi khám định kỳ mỗi năm ngay cả khi chưa có triệu chứng.

Ngăn ngừa sự tiến triển và điều trị bệnh AMD

Khi bệnh AMD ở giai đoạn cuối thì hầu như không thể điều trị được. Tuy nhiên AMD thường tiến triển chậm qua một thời gian dài nên có thể ngăn chặn sự tiến triển đó bằng chế độ dinh dưỡng và chăm sóc mắt thích hợp.

Một vài trường hợp AMD ướt có thể được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật lấy đi màng tân mạch. Tại Bệnh viện Mắt Trung Ương đã ứng dụng laser quang động để hủy diệt tân mạch. Gần đây, người ta đã có nhiều nghiên cứu mới như sử dụng laser quang nhiệt động TTT hoặc quang động học.

Tuy nhiên, tất cả mọi phương pháp điều trị đều cho kết quả hạn chế. Tốt nhất có thể làm giảm nguy cơ tiến triển của AMD bằng cách bổ sung dinh dưỡng cho mắt với một số vitamin và nguyên tố vi lượng chống oxy hóa. Một kết quả nghiên cứu của Viện Mắt Quốc Gia ở Mỹ cho thấy là việc kết hợp chất chống oxy hóa và kẽm làm giảm 25% nguy cơ tiến triển AMD và giảm 19% nguy cơ mất thị lực ở người bệnh. Một số chất chống oxy hóa được điều chế tự nhiên như Lutein và Zeaxanthine đã được sử dụng một cách rộng rãi trong việc giảm nguy cơ AMD.

Tại Khoa Đáy mắt, Bệnh viện Mắt Trung ương, từ 1/4 đến hết 30/6 sẽ mở một phòng khám đáy mắt với chương trình khám phát hiện bệnh lý hoàng điểm miễn phí cho người từ 50 tuổi trở lên (không mắc các bệnh lý về mắt khác như bệnh lý glocom, bệnh lý giác mạc, mắt hột, bệnh đục thủy tinh thể, tiểu đường v.v….). Thời gian từ 14h00 đến 16h00 các ngày thứ 3, 5 hàng tuần.

BS Bùi Minh Ngọc, Bệnh viện Mắt TW
Khi nhìn vào mắt trẻ, nếu thấy có một khối màu trắng hoặc sau đồng tử có ánh màu trắng, chứng tỏ trẻ đã bị một bệnh nặng như đục thủy tinh thể, ung thư võng mạc, nhiễm ký sinh trùng... Nếu không được điều trị sớm, trẻ có thể bị hỏng mắt.
Hầu hết các bệnh gây đồng tử trắng đều không có triệu chứng rõ rệt (không đau, không nhức, nhìn vào không thấy có gì đặc biệt...). Trẻ lại không diễn đạt được tình trạng của mình nên bệnh chỉ được phát hiện một cách tình cờ khi đi khám một bệnh khác. Vì vậy, cha mẹ cần chú ý theo dõi đôi mắt của con; nếu thấy đồng tử có màu trắng, cần nghĩ ngay đến các bệnh sau và đưa trẻ đi khám ngay:

- Đục thủy tinh thể: Thường do vi khuẩn Rubeola (do bà mẹ mắc phải khi có thai 3 tháng) gây ra. Cách điều trị là phẫu thuật thay thủy tinh thể nhân tạo. Sau này, trẻ có thể nhìn thấy bình thường.

- Ung thư võng mạc: Thường gặp nhất ở trẻ 1-3 tuổi, đa số trước 6 tuổi. Ngoài chứng đồng tử trắng, trẻ mắc bệnh này còn có thể bị lé, mắt đau, đỏ, tăng nhãn áp. Nếu thấy các dấu hiệu trên, cần cho trẻ đi khám ngay vì đây là bệnh rất nguy hiểm, cần chẩn đoán sớm và điều trị tích cực. Bác sĩ sẽ cho trẻ siêu âm, chụp CT hay MRI để xác định bệnh. Tùy theo giai đoạn bệnh và kích thước của u, bác sĩ sẽ quyết định điều trị bằng tia, làm lạnh đông, hóa trị hay múc bỏ mắt.

- Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non: Thường gặp ở những trẻ có cân nặng khi sinh dưới 1,5 kg và tuổi thai dưới 36 tuần. Bệnh ở thể nặng thường gặp ở trẻ có trọng lượng dưới 1,2 kg và tuổi thai dưới 28 tuần. Cách điều trị: phẫu thuật, lạnh đông hay quang đông. Nếu bệnh nhẹ, tỷ lệ phẫu thuật thành công có thể lên đến 75%. Trong một số ít trường hợp nhẹ, bệnh sẽ tự lành.

- Giãn mạch võng mạc (bệnh Coat): Thường xảy ra ở trẻ nam, dưới 10 tuổi, bị ở một mắt. Ngoài chứng đồng tử trắng trẻ, còn có thể bị lé. Khi khám, bác sĩ thấy ở võng mạc có mạch máu giãn nở, ngoằn ngoèo, thoát ra các chất mỡ màu hơi trắng ở cực sau hay ngoại biên của mắt. Bệnh có thể tiến triển thành bong võng mạc, đục thủy tinh thể hoặc viêm màng bồ đào. Việc điều trị (áp lạnh đông hay dùng laser) không giúp cải thiện thị lực mà chỉ có thể không cho bệnh tiến triển nặng thêm.

- Nhiễm ký sinh trùng của loài chó (Toxocara): Thường thấy ở trẻ lớn. Ngoài chứng đồng tử trắng, trẻ còn có những u hạt ở phần sau mắt hoặc bị viêm pha lê thể. Xác định bệnh bằng cách thử máu. Điều trị: cho uống thuốc chống sán và cortisone.

Theo SK
Nếu mắc chứng đau đầu dai dẳng, bạn nên đến thăm khám tại một cơ sở chuyên khoa mắt. Bởi nhiều khi nguyên nhân của đau đầu lại là do những rắc rối liên quan đến mắt.
Triệu chứng có thể là sáng sớm ngủ dậy, bạn có cảm giác đau đầu rõ rệt ở diện trán, thái dương hoặc mắt. Dạng đau đầu này có nhiều nguyên nhân khả dĩ.

Cơ vận động mắt đã làm việc quá mức
Chỉ với việc thăm khám trên bình diện chỉnh quang, bác sĩ có thể chỉ ra ngay cho bạn những rối loạn bắt nguồn từ sự làm việc quá mức với máy vi tính hoặc do đọc sách quá nhiều. Bạn có thể nghe thấy cụm từ "thiểu năng hội tụ", đó là khi mắt không đạt được mức hội tụ cần thiết để nhìn gần thật tốt bằng cả hai mắt cùng một lúc. Tình trạng này có thể dẫn đến đau đầu do các cơ vận nhãn không thật khỏe. Việc điều trị chỉ đơn giản là nghỉ ngơi, hoặc bằng một liệu trình chỉnh thị trên cơ sở thỏa thuận và sự thấu hiểu vấn đề giữa bạn, bác sĩ và cơ quan công tác.

Kính của bạn tỏ ra không tương thích
Rất nhiều tật khúc xạ đã không được hiệu chỉnh đúng mức. Ví dụ như bạn đã đeo kính đọc sách có công suất quá cao, gây ra tình trạng cưỡng bức điều tiết quá mức cần thiết. Chính sự nỗ lực không đáng có nói trên là nguyên nhân gây đau đầu. Chúng tôi - những bác sĩ nhãn khoa - đã gặp rất nhiều bệnh nhân bị loạn thị, viễn thị không đeo kính như giới chuyên môn yêu cầu nên gây ra đau đầu. Vì vậy bạn nên đến thăm khám tại cơ sở nhãn khoa để có một đôi kính thích hợp. Ðồng thời đừng nên chịu đựng, bỏ qua việc đeo kính khi bị cận thị nhẹ.

Ðau đầu khi làm việc với máy vi tính
Ðể giữ cho đôi mắt được khỏe mạnh khi phải làm việc lâu dài với máy vi tính, ta cần tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của y học lao động. Trước hết phải đảm bảo khoảng cách giữa máy tính và mắt của bạn khi làm việc bằng khoảng chiều dài của cánh tay. Màn hình có thể hơi ở trên hoặc ở dưới tầm nhìn của bạn nhưng đừng bao giờ để quá cao. Ðể tránh sự căng cơ quá đáng, nên tổ chức, sắp xếp chỗ ngồi có khoảng cách hợp lý với tài liệu, giữ lưng luôn thoải mái. Sau cùng cần có khoảng nghỉ ngơi sau mỗi 2 giờ làm việc.

Trên đây chỉ là những dạng đau đầu thường gặp có nguyên nhân từ mắt và có thể dễ dàng khắc phục. Ngoài ra còn rất nhiều căn bệnh khác tại mắt cũng gây nên chứng đau đầu, nhưng đó là cảm giác đau dai dẳng, dữ dội hơn kèm theo các biểu hiện chức năng khác như đỏ mắt, nhìn mờ... Nếu mắc phải thì cách tốt nhất là chúng ta nên đi khám mắt ngay.

5 bài tập thư giãn cho mắt:
Nên thực hiện những động tác này sau giờ làm việc hoặc trong lúc giải lao. Có thể chọn bài tập nào giúp bạn cảm thấy thoải mái nhất, nên bắt đầu thật nhẹ nhàng để không gây chóng mặt.

- Nhắm mắt và cử động đầu kiểu gật và lắc thật từ tốn.

- Chớp mắt, đừng quên nhắm thật chặt và mở thật to mắt cho mỗi lần chớp.

- Không cử động đầu, nhìn lên trên - xuống dưới rồi sang phải - trái.

- Cử động xoay tròn 2 mắt theo một vòng kín - một chiều rồi theo chiều ngược lại.

- Cầm một cây bút để cố định phía trước mũi, rồi nhìn vào một điểm thật xa trên tường (chiều đi). Sau đó làm ngược lại (chiều về).

Theo BS. HOÀNG CƯƠNG (Email từ Tarbes, Pháp)
Theo một số nghiên cứu của Mỹ khoảng ba phần tư số người thường xuyên sử dụng máy vi tính gặp các rối loạn chức năng về mắt. Nếu bạn là người thường xuyên sử dụng máy vi tính bạn có thể đã gặp phải một trong những rắc rối này.

HỘI CHỨNG VỀ MẮT DO SỬ DỤNG MÿY VI TÍNH (COMPUTER VISION SYNDROME hay CVS)

Các triệu chứng thường gặp của CVS là: căng thẳng về mắt hay mệt mỏi thị giác, khô mắt, cảm giác rát mắt, chói sáng, nhìn mờ, đau đầu và mỏi vai, mỏi cổ và lưng .

NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH XỬ LÝ

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới CVS như : giảm lượng nước mắt đến giác mạc, quá nhiều ánh sáng chói hoặc ánh sáng phản xạ từ màn hình, vị trí đặt màn hình không đúng hoặc mắt bạn có tật khúc xạ cần đeo kính hoặc thay kính mới. Sau đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể và đưa ra hướng giải quyết cho từng vấn đề.

LÀM GIẢM SỰ KÍCH THÍCH CHO MẮT :

Mắt bị kích thích thường có các biểu hiện sau : mỏi mắt, khô mắt, nóng rát trong mắt và chói sáng.

* BẠN CHỚP MẮT CÓ ĐỦ KHÔNG ?

Khi chúng ta sử dụng máy tính do quá chăm chú ta thường chớp mắt ít hơn thường lệ (chỉ bằmg 2/3 số lần so với bình thường), thêm nữa do màn hình máy tính thường đặt cao hơn tầm mắt làm cho ta phải nhướng mắt lên và mở to mắt ra điều này làm cho mắt bị khô.

Hướng xử lý

1 - Bạn hãy chú tâm hơn đến việc chớp mắt.

2 -Nghỉ mắt 15 phút sau mỗi giờ làm việc trên máy vi tính.

3 - Nếu mắt quá khô bạn có thể sử dụng thêm nuớc mắt nhân tạo (đặc biệt khi bạn sử dụng máy tính mà có đeo kính tiếp xúc thì mắt sẽ dễ bị khô hơn).

Bổ xung nước mắt nhân tạo là cần thiết

* SỰ CHÓI SÁNG VÀ ÁNH SÁNG PHẢN XẠ TỪ MÀN HÌNH

Anh nắng mặt trời và đèn trong văn phòng đều có thể phản xạ lên màn hình và làm cho mắt ta khó chịu. Bạn nên lưu ý :

1 - Sắp đặt vị trí màn hình sao cho cửa sổ ở về một bên .

2 - Chỉnh màn cửa sao cho ánh nắng mặt trời không chiếu trực tiếp lên màn hình và mắt của bạn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

3 - Tắt bớt đèn trên trần nhà nếu quá sáng còn trong trường hợp ngược lại bạn có thể sử dụng một ngọn đèn bàn có chụp.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
(Đèn trong phòng quá sáng có thể làm giảm độ tương phản của màn hình)

4 - Nếu sử dụng đèn bàn bạn nên đặt đèn tại vị trí sao cho ánh đèn không phản chiếu lên màn hình.

5 - Bạn có thể đặt thêm kính lọc cho màn hình để lọc bớt ánh sáng chói từ màn hình

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

(Kính lọc cũng giúp ích )

* HÃY XEM XÉT ĐẾN MÀN HÌNH

Mọi người thường lo lắng về những tia bức xạ độc hại từ màn hình máy tính nhưng thực sự thì lượng bức xạ này thường thấp hơn mức tối đa cho phép.

Màn hình nên được đặt cách mắt 50 đến 60 cm và tâm của màn hình nên đặt thấp hơn tầm mắt từ 10 đến 20 cm vì mắt của chúng ta chỉ làm việc thoải mái khi chúng ta liếc nhẹ xuống khi đọc sách cũng như khi làm việc gần. Nếu màn hình thấp hơn hoặc cao hơn vị trí này sẽ làm cho ta hay bị mỏi cổ gáy và vai.

Bạn cũng nên thường xuyên lau bụi cho màn hình vì bụi sẽ làm giảm tương phản (contrast) của màn hình.

[b]* SỰ CHIẾU SÁNG VÀ ĐỘ TƯƠNG PHẢN CỦA MÀN HÌNH[/b]

Trước khi chỉnh độ sáng và tương phản của màn hình ta cần lưu ý đến cường độ chiếu sáng trong phòng vì nếu phòng quá sáng thì màn hình cũng phải chỉnh cho sáng để có thể đọc được chữ trên đó. Do đó ta cần lưu ý điều chỉnh lượng ánh sáng trong phòng không quá sáng hoặc quá tối, sau đó ta sẽ chỉnh đến độ sáng và độ tương phản của màn hình cho đến khi mắt ta cảm thấy dễ chịu.

* CỠ CHỮ VÀ MÀU SẮC

Việc chỉnh cỡ chữ của trang văn bản cũng giúp làm giảm những cố gắng gây mệt mỏi về thị giác. Cỡ chữ lý tưởng là cỡ chữ gấp 3 lần cỡ chữ nhỏ nhất mà ta có thể đọc được. Muốn  chỉnh được cỡ chữ này ta chỉ cần đứng xa máy tính một khoảng cách gấp 3 lần khoảng cách thông thường sử dụng máy và chỉnh cỡ chữ sao cho nhỏ nhất mà ta vẫn có thể đọc được.

Tốt nhất là ta nên chọn chữ đen trên nền trắng  hoặc chữ đậm trên nền sáng cũng có thể chấp nhận. Ta không nên chỉnh cho độ tương phản giữa chữ và nền quá kém hoặc đọc chữ trên một nền quá rối rắm sẽ dễ gây mệt mỏi về thị giác.



* CHẤT LƯỢNG CỦA MÀN HÌNH

Chất lượng của màn hình cũng ảnh hưởng đến sự thoải mái về thị giác khi sử dụng .

Ba yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của màn hình đó là : tốc độ quét, độ phân giải và điểm ảnh. Ta được khuyên nên sử dụng màn hình có tốc độ quét là trên 80 Hz, độ phân giải 800x600 và điểm ảnh dưới 0.28mm.



KÍNH ĐEO MẮT SỬ DỤNG CHO MÁY VI TÍNH

Nếu bạn có tật khúc xạ việc đầu tiên là bạn nên đeo kính khi sử dụng máy vi tính vì các tật khúc xạ như viễn thị, loạn thị hay cận thị nếu không được điều chỉnh hoặc điều chỉnh không đúng sẽ dẫn đến nhức mỏi mắt nếu làm việc lâu trên màn hình.

Dấu hiệu của tật khúc xạ là bạn nhìn mờ và hay mỏi mắt khi làm việc với máy vi tính. Khi đó bạn nên đi đo mắt, các bác sĩ nhãn khoa và kĩ thuật viên khúc xạ sẽ đo mắt và cho bạn lời khuyên về việc đeo kính thích hợp.



Nếu bạn ở tuổi lão thị (trên 40 tuổi) thì bạn càng cần phải dùng kính khi làm việc với máy tính. Nhưng việc chọn kính cho người lão thị sử dụng máy tính hơi phức tạp vì màn hình máy tính nằm trong vùng thị giác trung gian chứ không phải ở thị giác gần hoặcthị giác xa. Trong trường hợp này kính 2 tròng thường không phù hợp vì tròng dưới chỉ phục vụ cho thị giác gần, người đeo phải ngẩng đầu lên cao và sát vào màn hình mới thấy chữ do đó dễ gây mỏi cổ.



Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



(Kính hai tròng có thể không phù hợp khi làm việc với máy tính vì thị giác đòi hỏi là thị giác trung gian)

Giải pháp là ta có thể sử dụng kính 3 tròng, nhưng kính này hơi hiếm trên thị trưởng Việt Nam cộng với vùng thị giác trung gian của loại kính này không lớn lắm do đó ta đọc cũng không đượcthoải mái. Nếu đeo kính công suất tăng dần (kính progressive) thì ta nên chọn loại đặc chủng dùng cho máy vi tính vì loại này cho người đeo 1 thị trường trung gian khá rộng, loại kính này còn có ưu điểm là giúp ta nhìn rõ ở mọi khoảng cách (nhưng bất lợi là giá hơi cao).  Còn nếu không ta có thể dùng kính đọc sách (loại kính 1 tròng) dùng riêng khi làm việc trên máy tính.

Kính đeo mắt dùng cho máy tính được khuyên là nên dùng loại tròng có chống tia phản xạ (tròng chống loé) vì sẽ làm giảm bớt lượng ánh sáng phản xạ từ 2 bề mặt kính đeo gây mệt mỏi thị giác.

Bạn cũng không nên đeo loại kính lão có độ làm sẵn vì loại kính này được lắp hàng loạt theo những số đo nhất định nên chưa chắc đã phù hợp với từng người.

Kính đeo mắt phù hợp sẽ giúp chúng ta rất nhiều khi sử dụng máy tính. Nó giúp ta tránh khói nhức mỏi mắt, đau đầu mỏi gáy, và mỏi cổ…

Tuy nhiên chúng ta cũng cần chú ý đến một yếu tố không kém phần quan trọng đó là việc sắp xếp chỗ ngồi làm việc sao cho hợp lý.

VIỆC SẮP CHỖ NGỒI LÀM VIỆC

Việc sắp xếp chỗ ngồi làm việc không hợp lý sẽ dẫn tới đau đầu, mỏi cổ, mỏi gáy và mỏi vai.

Bạn hãy để màn hình thẳng ngay trước mặt chứ đừng dể lệch về một bên

Màn hình nên để cách mắt từ 50 đến 60 cm, không để quá cao cũng như quá thấp, tâm màn hình thấp hơn tầm mắt từ 10 đến 20 cm.
Khi ngồi bạn nên chỉnh ghế sao cho 2 cẳng tay của bạn song song với nền nhà, 2 đùi vuông góc với cẳng chân và 2 bàn chân của bạn được đặt phẳng trên nền nhà.

Bạn cũng nên nhớ luôn giữ thẳng lưng và 2 vai giữ ngang bằng

Nếu bạn sử dụng đồ kẹp hồ sơ dùng khi đánh máy thì kẹp này nên để càng sát màn hình càng tốt.

Theo YK
Trường hợp 2 bé gái đẻ non sinh bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm tại Bệnh viện Từ Dũ TP HCM bị bệnh võng mạc đã thu hút sự chú ý của nhiều người. Sau đây là lời giải thích của Bác sĩ Phan Hồng Mai, Khoa Điều trị Khúc xạ, Trung tâm Mắt TP HCM về bệnh lý này.
Võng mạc là lớp trong cùng của mắt, nhận ánh sáng và chuyển thành thông tin, đưa lên não. Mạch máu nuôi võng mạc chỉ phát triển hoàn thiện ở trẻ sơ sinh đủ tháng. Vì vậy, trẻ đẻ càng non thì số mạch máu đã phát triển càng ít.

Ở một số trẻ đẻ non, nhất là trẻ quá nhẹ cân, mạch máu võng mạc phát triển bất thường, gây bệnh võng mạc ở trẻ sinh non, gọi tắt là ROP. Tỷ lệ bệnh càng cao nếu trẻ sinh càng non tháng và càng nhẹ cân.

Biểu hiện bệnh

Giai đoạn đầu, bệnh không thể hiện ra ngoài. Chỉ đến giai đoạn cuối cùng mới thấy con ngươi mắt của trẻ bị trắng đục. Thường với những trẻ sơ sinh đẻ non, nên khám để phát hiện bệnh vào tuần thứ 5-7 sau khi sinh, lúc bệnh mới bắt đầu có biểu hiện. Khám sớm hơn sẽ không an toàn cho trẻ.

Các khả năng tiến triển của bệnh:

- Trong đa số trường hợp, các mạch máu bất thường sẽ tự lành (khoảng 90%).

- Ở một số trẻ, các mạch máu này chỉ lành một phần, dẫn đến hiện tượng cận thị hoặc lác mắt sau này.

- Đôi khi, bệnh để lại sẹo ở võng mạc, khiến thị lực giảm.

- Trường hợp nặng, mạch máu võng mạc tiếp tục phát triển bất thường và tạo thành mô sẹo gây co võng mạc, kéo nó khỏi vị trí bình thường, dẫn tới giảm thị lực trầm trọng.

Phương pháp điều trị

Có 2 phương pháp để chữa bệnh này: Dùng laser quang đông và áp lạnh. Phương pháp thứ nhất thì Việt Nam chưa có, còn phương pháp thứ 2 lại làm các cháu đau đớn và chấn thương tinh thần nặng nề mà hiệu quả không cao. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, bệnh có thể điều trị được với kết quả rất khả quan.

Chương tình nghiên cứu

Trước đây, hầu hết những trẻ đẻ quá non đều chết nên vấn đề này chưa được chú ý. Hiện nay, Bệnh viện Từ Dũ đã cứu được rất nhiều trẻ đẻ non nhẹ cân (có trẻ chỉ nặng 500 g) nên số bệnh nhân mang bệnh này được phát hiện nhiều hơn. Từ giữa tháng 2, Trung tâm Mắt TP HCM bắt đầu tiến hành nghiên cứu bệnh ROP ở trẻ đẻ non tại Bệnh viện Từ Dũ.

Bác sĩ Trần Thị Phương Thu, Giám đốc Trung tâm Mắt cho biết: Sắp tới, trung tâm sẽ cố gắng tìm thêm các nguồn tài trợ để có kinh phí đầu tư trang thiết bị và đào tạo bác sĩ chuyên khoa điều trị ROP cho trẻ sơ sinh. Riêng các bà mẹ có con đẻ non, cân nặng dưói 1.500 g nên đưa các cháu đến Khoa Mắt nhi của trung tâm để khám sớm. Nếu muốn tham gia "Chương trình Nghiên cứu Võng mạc ở Trẻ sinh non" có thể đưa các cháu đến khám tại Phòng Kanguru, Khoa Sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ vào các buổi sáng thứ tư hằng tuần.

Tuổi Trẻ

Dinh dưỡng có liên quan mật thiết với sự hình thành đục thủy tinh thể. Chế độ ăn giàu đường galactose (một thành phần của đường lactose trong sữa) sẽ khiến chất này tích tụ ở mắt, làm mất cân bằng nước và điện giải của thủy tinh thể, dẫn đến tăng sinh tế bào sợi gây đục thủy tinh thể.
Thủy tinh thể là một bộ phận của nhãn cầu, là một thấu kính 2 mặt lồi, trong suốt, dày 4 mm và rộng 9 mm, được bao bởi một màng bán thấm đối với nước và chất điện giải. Thủy tinh thể có chức năng điều tiết để vật thể bên ngoài mắt dù gần hay xa cũng đều có ảnh xuất hiện trên võng mạc. Thủy tinh thể bị đục cũng giống như tấm kính bị mờ không nhìn rõ được bên ngoài. Nếu bị đục hoàn toàn, hình ảnh sẽ không vào được võng mạc, gây mù.

Bệnh đục thủy tinh thể (cataract) là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù trên thế giới và ở Việt Nam, thường gặp ở người trên 50 tuổi. Bệnh diễn tiến từ từ, biểu hiện ban đầu là giảm độ kính lão do xuất hiện cận thị chiết xuất; khi ra ánh sáng, mắt sẽ khó chịu nhưng không bị đau nhức. Sau đó, bệnh nặng hơn, mắt như nhìn qua một lớp kính mờ, thấy một điểm đen cố định trên nền mắt sáng; dần dần bệnh nhân không còn nhìn thấy gì. Việc điều trị bằng phẫu thuật sửa chữa cho kết quả tốt nhưng không phải lúc nào cũng đảm bảo kết quả và đủ điều kiện để mổ. Điều quan trọng là phải biết cách phòng ngừa đục thủy tinh thể từ những nguyên nhân gây bệnh đã xác định được.

Nguyên nhân gây đục thủy tinh thể là thiếu oxy, tăng lượng nước, giảm protein. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh bao gồm: tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, ánh sáng nhân tạo (đèn pha sân khấu, trường quay phim, đèn cao áp...), tiếp xúc với virus, vi trùng, chất độc của môi trường, khói (thuốc lá, máy xe, nhà máy...). Sự tiếp xúc này sẽ làm tổn thương tiềm tàng thành phần protein của thủy tinh thể, làm mất dần protein và dẫn đến đục.

Chế độ dinh dưỡng có liên quan mật thiết với sự hình thành đục thủy tinh thể. Chế độ ăn giàu chất chống oxy hóa và chức năng gan tốt sẽ có tác dụng giúp phòng ngừa bệnh. Người bị đục thủy tinh thể có khuynh hướng thiếu vitamine C, đồng, mangan, kẽm. Beta-carotene giúp “dọn dẹp” tốt các gốc tự do - một tác nhân gây tổn hại mắt, bảo vệ mắt không bị những tổn thương liên quan đến ánh sáng. Còn taurin là một acid amin chính trong thủy tinh thể, có khả năng làm chậm sự khởi phát của bệnh.

Để phòng ngừa đục thủy tinh thể, cần lưu ý:

- Ngưng hút thuốc lá.

- Ăn nhiều đậu lăng (lentils), hành, tỏi, rau bina (spinach), bắp cải, giá, đậu và hạt tươi.

- Không ăn tảo, thực vật biển, sò ốc, sản phẩm từ sữa ít béo, chocolate, gà công nghiệp... vì đây là những nguồn chứa vanadium vốn độc hại cho mắt.

- Xét nghiệm xem có bị ngộ độc chì hay thủy ngân không? Phát hiện và điều trị suy giáp, đái tháo đường, rối loạn nước và điện giải, tăng cholesterol và triglycerid máu.

- Tẩy giun và khử độc gan định kỳ 16 tháng một lần.

- Không tiếp xúc trực tiếp với tia UV.

- Nếu làm việc trong phòng có máy lạnh, phải giành thời gian cho mắt nghỉ ngơi, mỗi giờ nên nhắm mắt khoảng 2 phút, ra ngoài hít thở khí trời. Trong văn phòng nên có cây xanh để không khí được lọc trong lành. Ở Trung Quốc, nhân viên văn phòng, thầy cô giáo và học sinh phải giành thời gian thư giãn mắt (“tập thể dục” cho mắt) vào lúc 10 giờ sáng và 3 giờ chiều.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Căn bệnh này xuất hiện rất nhiều từ đầu mùa xuân đến hết mùa hè. Bệnh không lây nhưng lại có yếu tố di truyền, thường xảy ra ở những người có cơ địa dễ dị ứng với phấn hoa, lông hoặc phấn của côn trùng.
Tiến sĩ Đinh Thị Khánh, khoa Mắt hột - Giác mạc, Viện Mắt Trung ương, cho biết, nguyên nhân gây bệnh viêm kết mạc mùa xuân là các tác nhân gây dị ứng. Triệu chứng chính của bệnh là ngứa, đỏ mắt, dử mắt dai, có thể kéo dài thành sợi. Khám thường phát hiện được ở phần kết mạc sụn mi những nhú gai có gờ, ranh giới rõ ràng, trông gần giống như trong bệnh đau mắt hột. Bệnh càng nặng thì các nhú gai này càng to, gồ cao.

Nếu viêm kết mạc phối hợp với viêm giác mạc, người bệnh sẽ thấy mắt bị cộm như có cát rơi vào, sợ ánh sáng, nhìn mọi vật thấy mờ như nhìn qua màn sương.

Cách điều trị

Tiến sĩ Khánh cho biết, vì đây là bệnh dị ứng nên hướng giải quyết chính sẽ là chống dị ứng. Việc điều trị phải được tiến hành từng bước, phối hợp điều trị tại chỗ với toàn thân. Tùy từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ lựa chọn một trong các cách sau:

- Điều trị triệu chứng: Người bệnh có thể nhỏ các thuốc chống viêm và dị ứng như thuốc có Cortison. Thuốc này làm giảm rất nhanh các triệu chứng ngứa, cộm mắt. Tuy nhiên, người bệnh phải dùng thuốc theo chỉ dẫn của thầy thuốc, để tránh những biến chứng nguy hiểm như tăng nhãn áp. Nếu bệnh nặng, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dùng  thuốc chống viêm, chống dị ứng toàn thân.

- Giải mẫn cảm: Bác sĩ sẽ chích vào da người bệnh những thành phần gây dị ứng (chẳng hạn phấn hoa) với liều tăng dần, giúp bệnh nhân làm quen với các yếu tố này và không phản ứng mãnh liệt khi gặp nó nữa.  

- Dùng tia bêta: Điều trị triệu chứng bằng cách chiếu tia bêta lên các ổ sùi, nhú gai để biến chúng thành các tổ chức xơ. Phương pháp này có hiệu quả cao nếu các nhú gai còn bé.

- Phẫu thuật: Áp dụng khi bệnh ở giai đoạn nặng, các nhú gai quá to. Bệnh nhân sẽ được cắt bỏ phần kết mạc bị thương tổn, sau đó kéo trượt phần kết mạc phía trong trùm qua phần đã bị cắt bỏ.

Theo YK
Một buổi sáng thức giấc, bạn trang điểm và phát hiện ra quầng mắt bị thâm, ngạc nhiên không hiểu lí do vì sao. Nhưng nếu tình trạng này kéo dài thường xuyên thì cũng không thể lơ là, rất có thể là điều báo động về mắt.

Xuất hiện quầng thâm ở mắt, phụ nữ cũng dễ mắc bệnh phụ khoa. Thường có ba trường hợp như sau:

Thứ nhất:

Vùng da ở trên và dưới mắt gần lông mày do bị khô, mất nước hoặc do thời gian tập trung nhìn màn hình (vi tính, tivi…) kéo dài. Có lúc thì do vùng da đó bị thô ráp, sần sùi, nhăn lại. Những hiện tượng đó thường hình thành vào thời kì trung niên. Nguyên nhân hình thành quầng đen tương đối phức tạp. Có người là do bị thương bên ngoài như bị va đập mạnh bởi vật gì đó vào mắt nên tích tụ lại sắc tố đen lâu ngày hay bẩm sinh sinh ra bị những bớt đen không thể mất. Có người do mô mỡ dưới da quá dầy, nếu không mát xa vùng này liên tục thì lâu ngày da cũng thô dần và chuyển đen.

Thứ hai:

Từ góc trong của mắt chếch xuống phía dưới khoảng 45 độ có vùng da hình oval, lúc trẻ chưa nhìn rõ nhưng đến tuổi trung niên bắt đầu lan rộng ra ngoài bầu mắt chính xác hình bán nguyệt. Nó sẽ xuất hiện ở cả trẻ hay già chỉ khác nhau là độ sẫm hay nhạt. Loại quầng thâm như thế thông thường là tuỳ theo tuổi tác hay sự thay đổi sức khỏe hình thành. Phần lớn là do mất ngủ nhiều, thiếu máu, hoặc một số bệnh phụ nữ khác như kinh nguyệt không đều, khả năng điều tiết cuộc sống kém, suy nghĩ nhiều… cũng ảnh hưởng đến mắt.

Thứ ba:

Phản ánh một vài sự thay đổi bệnh lí có liên quan đến mao mạch, tế bào vùng mắt đều dễ tạo nên hiện tượng tụ máu, đọng máu khiến cho vùng da chuyển đen.

Khi quá mệt mỏi, thức đêm lâu ngày, hoặc trang điểm dùng phấn mắt nhiều cũng khiến cho vùng da mắt tổn thương, máu không lưu thông.

Tóm lại, đại đa số người khỏe mạnh đều có thể mắc phải hiện tượng mắt quầng thâm ở mọi mức độ, nếu không tính nó vào một kiểu bệnh lí thì bình thường hãy chú ý đến vùng mắt một chút. Y học Trung Quốc cho rằng sự thay đổi nội tạng, “khí huyết” hưng suy của người đều thể hiện rõ trên khuôn mặt.
Mẹo nhỏ giúp bạn phòng ngừa:

1. Xoa hai tay vào nhau cho ấm lên, nhanh chóng áp hai lòng bàn tay vào mắt, làm đi làm lại 10 lần, duy trì đều đặn sẽ đem lại hiệu quả.

2. Thường xuyên dùng hai ngón tay trỏ mát xa nhẹ nhàng xung quang mắt trước khi đi ngủ và sau khi ngủ dậy.

3. Trước khi đi ngủ ngâm qua bàn tay vào nước ấm rồi mát xa vùng mắt hoặc đắp trà túi lọc ấm, bông ấm cũng hiệu quả không kém.

4. Ăn nhiều trứng gà, thịt nạc, tôm cá, vừng, lạc, đỗ… đồng thời uống thêm vitamin, axit amin, vitamin E và A là thực phẩm thiết yếu nhiều dinh dưỡng có lợi cho khu vực quanh mắt.

5. Ngày nào cũng dùng nước lạnh và ấm xen kẽ rửa mặt, chú trọng đôi mắt

6. Cân bằng cuộc sống, điều tiết lịch trình cơ thể, đảm bảo thời gian ngủ nghỉ, thường xuyên tập thể thao sẽ cải thiện rất nhiều các trạng thái cơ thể.     
Lai Tuệ - Zhongguo Zhongyi
Không nên tắt hết điện để xem ti vi, bởi sự tương phản giữa bóng tối căn phòng và ánh sáng màn hình sẽ gây mỏi mắt. Nên đặt một chiếc đèn tối đa là 40 W gần sát với ti vi. Bạn sẽ thấy hình ảnh trên ti vi rõ nét hơn và mắt không bị mỏi nữa.

Sau đây là cách sử dụng ánh sáng trong một số trường hợp:

- Đọc sách: Nếu đọc ở bàn, nên chọn loại đèn có chao đèn to và rộng. Đặt đèn ở ngay sát tay cầm bút. Như vậy, ánh sáng sẽ chiếu toàn bộ trang sách và không bị lấp bóng khi viết. Nếu đọc ở giường, tốt nhất là có một chiếc đèn treo tường. Ánh sáng sẽ chiếu thẳng vào sách, không gây chói mắt. Chú ý chọn bóng đèn vàng 60 W.

- Làm việc trên máy vi tính: Để bảo vệ đôi mắt, tốt nhất là có 2 ngọn đèn. Ngọn thứ nhất nên là đèn treo, rọi thẳng xuống bàn phím. Ngọn đèn thứ 2 chiếu sáng toàn bộ khu vực làm việc. Tổng công suất của cả hai ngọn đèn không vượt quá 90 W.

Theo Nông Nghiệp Việt Nam
Các nhà nghiên cứu thuộc hai viện Khoa học Thể dục thể thao của Việt Nam và Matxcơva đã soạn thảo một số bài tập nâng cao thị lực cho những người có thị lực kém. Bạn có thể chọn một số bài mà bạn thích nhất và điều quan trọng là phải tập luyện thường xuyên.

Khi tập, phải giữ thẳng lưng, tập trung sự chú ý vào đôi mắt. Sau mỗi bài tập hãy để mắt nghỉ ngơi bằng cách nhắm lại hoặc chớp nhanh trong vòng 20-30 giây.

1- Chậm rãi đảo nhãn cầu theo vòng từ trái qua phải và ngược lại. Lặp lại động tác trên từ 3 đến 5 lần.

2- Nhìn lên cao, xuống thấp, sang phải, sang trái, xuống góc dưới bên phải, lên góc trên bên phải, rồi góc trên bên trái và góc dưới bên trái. Tại các vị trí trên hãy giữ nguyên ánh mắt trong vài giây. Có thể lặp lại vòng gồm 8 động tác này. Sau mỗi vòng đừng quên thư giãn (nhắm mắt lại).

3- Nhìn 5-6 giây vào ngón cái của bàn tay phải được đưa ngang tầm mắt. Từ từ đưa tay qua phải, đầu giữ nguyên, mắt nhìn theo ngón tay. Đưa tay trở về vị trí ban đầu, mắt không rời khỏi đầu ngón tay. Lặp lại bài tập này với tay trái.

4- Đưa đầu ngón tay cách mặt khoảng 30 cm, nhìn vào đó rồi chuyển ánh mắt đi xa dần, dừng lại 2-3 giây ở mỗi vị trí. Lặp lại bài tập từ 3 đến 5 lần. Cần tập trung sự chú ý cao độ khi thực hiện bài tập.

5- Dùng bàn tay trái che hờ mắt trái (mắt vẫn mở), bàn tay phải nắm lại sao cho các ngón cái ở trên. Duỗi thẳng ngón giữa và dùng nó vẽ những vòng tròn gần mắt phải, bắt đầu từ góc trong của mắt, sau đó lên cao tới lông mày và góc ngoài, tiếp theo từ mái mắt dưới trở về phía trong mắt. Đồng thời mắt phải mở dõi theo sự chuyển động của ngón tay cái. Chú ý: Chuyển động của mắt và ngón tay phải nhịp nhàng, chậm rãi. Đổi tay, lặp lại bài tập tương tự, dần dần kéo dài thời gian bài tập tới 3 phút.

6- Sự nghỉ ngơi tối ưu cho mắt là sự thư giãn. Có thể thực hiện thư giãn ở thế nằm ngửa, hay ngồi. Nhắm mắt lại và cố gắng thư giãn tối đa các mí mắt, hai nhãn cầu gần như được hạ xuống hố mắt. Nếu khó đạt được sự thư giãn hoàn toàn thì xoa hai bàn tay vào nhau đến khi có cảm giác ấm lên, nhẹ nhàng dùng các ngón tay ấn nhẹ vào các mí mắt đang khép. Động tác này sẽ giúp thư giãn tối đa các cơ mắt. Giữ nguyên tư thế này trong vòng 20-40 giây.

7- Tư thế ban đầu: Ngồi xuống sàn nhà, lưng thẳng, hai bàn tay đặt lên hai đầu gối, cơ thể thư giãn, đầu thẳng, toàn thân bất động. Đưa mắt nhìn lên cao và dừng lại ở một điểm bất kỳ, nơi bạn có thể nhìn rõ nhất mà không phải cố sức, không nheo mắt, không xoay đầu. Sau đó, đưa mắt nhìn xuống tìm một điểm bất kỳ trên sàn mà bạn có thể nhìn thấy rõ nhất. Chú ý: Khi thực hiện bài tập trên, nhịp thở phải được giữ tự nhiên (không sâu, đều). Luôn luôn nhìn đúng điểm đã chọn mỗi khi ngước mắt lên, hạ mắt xuống. Lặp lại các động tác trên 4 đến 5 lần. Sau đó nhắm mắt lại, nghỉ ngơi một chút.

8- Tiếp tục các động tác tương tự bài 7, sử dụng các điểm ở bên trái, bên phải ngang tầm mắt. Có thể định hướng bằng các ngón tay ở hai phía với khoảng cách phù hợp để bạn có thể nhìn thấy rõ nhất mà không phải cố sức. Đưa mắt chuyển động qua phải, qua trái, lặp lại 4 lần. Nháy mắt vài lần, nhắm mắt lại nghỉ ngơi.

9- Chọn điểm mà bạn ngước mắt lên và nhìn sang phải, sau đó là điểm khi hạ mắt xuống và nhìn sang trái, khép hờ mi mắt. Vẫn giữ nguyên tư thế ngồi, lưng thẳng, hai tay để trên đầu gối, đầu thẳng và bất động. Lặp lại các động tác trên khi nhìn lên bên trái, nhìn xuống góc phải. Thực hiện 4 lần, nhắm mắt lại và nghỉ ngơi.

10- Nên bắt đầu bài tập này sau 3 đến 4 ngày kể từ khi bắt đầu đợt tập luyện. Đó là động tác đảo mắt chậm rãi, lúc đầu theo chiều kim đồng hồ, sau đó theo chiều ngược lại. Thực hiện như sau: Hạ mắt và nhìn xuống sàn, sau đó chầm chậm đưa mắt sang trái cao dần lên cho đến khi nhìn thấy trần nhà. Tiếp tục đưa mắt sang phải thấp dần cho đến khi nhìn thấy sàn. Chú ý chầm chậm đảo mắt hết một vòng tròn, nháy mắt, nhắm mắt lại và nghỉ ngơi. Lặp lại tương tự khi quay mắt ngược chiều kim đồng hồ.

11- Khi tập bài tập này, bạn hãy chuyển tầm nhìn từ xa đến gần. Đưa ngón tay đến sát đầu mũi, từ từ chuyển tới vị trí mà bạn có thể nhìn thấy rõ nhất. Sau đó hơi ngước mắt lên và nhìn ra xa vào một điểm nào đó mà bạn có thể nhìn thấy. Lặp lại vài lần, sau đó nhắm mắt lại và nghỉ ngơi.

12- Ngồi trên ghế, đặt trước mắt hai chồng sách để chống khuỷu tay, sao cho cổ được giữ thẳng. Xoa nhẹ hai lòng bàn tay vào nhau, để chúng "tích điện”. Đặt hai lòng bàn tay chéo vào nhau, tay phải lên mắt tay trái, tay trái lên mắt tay phải. Các đầu ngón tay ép chặt vào trán, cố giữ thẳng, thở sâu. Kéo dài 3-4 phút.

Khoa Học và Đời Sống
Đây là những bệnh thường gặp ở bờ mi mắt. Hai bệnh này khác nhau nhưng hay bị nhầm lẫn. Bệnh gây đau nhức bờ mi, kết hợp với tình trạng phù nề làm cho bệnh nhân khó chịu khi nhìn, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt.

Chắp là tình trạng viêm mạn tính của tuyến Meibomius. Triệu chứng: bệnh nhân thấy xuất hiện một cục nhỏ như hạt đỗ rắn và không di động theo da, sờ nắn rõ. Tổn thương nằm xa bờ mi, không sưng, không đỏ, không đau, không lên mủ. Nếu bị bội nhiễm, cục viêm sẽ hóa mủ.

Lẹo là tổn thương viêm cấp của tuyến Zeiss bị áp xe hóa nằm ngay ở chân lông mi, với những tính chất khác hẳn chắp.

- Triệu chứng điển hình của viêm cấp tại chỗ: sưng, nóng, đỏ, đau và tiến triển nhanh. Có khi sưng ít, nhưng thường sưng to cả mi mắt.

- Lẹo ở sát ngay bờ mi và dính chặt vào da mi. Sau 3-4 ngày lẹo làm mủ rồi vỡ. Tổn thương hay tái phát hết mi này sang mi kia.

Xử trí: Do tổn thương bệnh lý khác nhau nên phương pháp xử trí hai bệnh này cũng khác nhau.

Chắp: - Nếu tổn thương bé thì không cần can thiệp.

- Nếu tổn thương lớn quá hoặc đã bội nhiễm hóa mủ thì cần rạch tháo mủ và nạo sạch tổ chức viêm. Do tổn thương mạn tính nên thường tổ chức xơ phát triển, cần chú ý nạo kỹ cả vỏ xơ của tổn thương để tránh tái phát.

Lẹo: - Khi mới xuất hiện (chưa tạo mủ) thì điều trị bảo tồn: dùng thuốc khác sinh (uống hoặc viêm).

- Khi đã tạo mủ cần rạch tháo mủ và nạo sạch tổ chức viêm. Sau thủ thuật cần băng bất động mi mắt 1-2 ngày.

- Để phòng ngừa bệnh này cần chú ý giữ vệ sinh mắt và bờ mi, nhất là sau khi đi qua những vùng bụi bặm, rửa mi mắt bằng nước sạch, tra kết mạc bằng dung dịch natri clorit 0,9%. Có thể bôi một lượt mỏng mỡ kháng sinh (mỡ tetracilin 1%) hàng ngày vào bờ mi.

Đông y điều trị chắp, lẹo thường dùng một số phương pháp sau:

- Xông mắt bằng cách lấy lá trầu không giã nát, cho vào một cốc nước nóng và đưa miệng cốc đến gần mắt bị tổn thương, cách khoảng 10 cm.

- Châm: Châm và nặn máu ở huyệt Phế du.

Chú ý không nên chữa chắp, lẹo bằng cách tự ý nặn mủ, tra thuốc không theo hướng dẫn, vì những phương pháp này dễ làm cho tổn thương lan rộng hoặc tái phát, để lại sẹo xấu gây mi quặp, những tổn thương này đều tồn tại dai dẳng, khó chữa trị.

Bác sĩ Kiều Minh, Sức khoẻ và Đời sống
Cận thị là bệnh liên quan mật thiết đến vấn đề ăn uống. Vậy nên từ xưa, trong Đông y học đã có khoa "Thực Trị", tức là khoa chữa bệnh bằng các thức ăn đồ uống trong đó có nhiều món có tác dụng bổ dưỡng và chữa trị các chứng bệnh ở mắt.

Phòng cận thị

- Điểm tâm: Caramen trộn mật ong

Cách chế và dùng: Đánh đều trứng gà với 1 ly sữa. Đun cách thủy đến khi chín, đến khi thấy chỉ còn âm ấm thì trộn mật ong vào. Ăn sau khi ăn sáng.

Trứng gà và sữa là những món ăn có giá trị dinh dưỡng cao. Chúng có tác dụng tốt đối với thần kinh, võng mạc và các bộ phận của mắt, đặc biệt là có tác dụng làm tăng độ dẻo dai của các cơ mắt. Mật ong cũng bao gồm nhiều hoạt chất sinh học quý. Các thứ thức ăn trên có tác dụng tăng cường sức khỏe toàn thân và phòng chống cận thị.

- Món lót dạ buổi chiều

Thành phần: 10g kỷ tử, 3g trần bì (vỏ quýt lâu ngày), 10 quả long nhãn, mật ong 1 muỗng nhỏ.

Cách chế và dùng: Kỷ tử và trần bì gói vào vải mỏng rồi cùng đun với các thứ còn lại. Cho nước vừa phải, đun nhỏ lửa trong 1/2 giờ; vớt kỷ tử và trần bì ra rồi ăn phần còn lại. Ăn lót dạ thêm vào đầu giờ chiều.

Kỷ tử bổ can, thận, là vị thuốc làm sáng mắt kinh điển trong Đông y. Long nhãn an thần, bổ tỳ. Trần bì kiện tỳ, khai vị. Các vị thuốc trên đồng thời cũng là thức ăn có tác dụng bổ dưỡng toàn thân và phòng các bệnh về mắt.

Nếu có điều kiện, nên thường xuyên sử dụng hai món ăn trên.

Chữa cận thị

Thành phần: Kỷ tử 10g, trần bì 3g, hồng táo 8 quả, mật ong 2 thìa.

Cách làm: Lấy kỷ tử, trần bì và  đại táo đun nhỏ lửa với 200ml nước trong 20 phút, chắt nước ra rồi thêm nước vào, đun lần thứ hai như trên. Hai nước trộn đều, chia hai lần uống; các lần uống cách nhau 3 đến 4 tiếng. Mỗi lần uống thêm một thìa mật ong vào.

Hồng táo, ta thường gọi là "táo tàu", bán ở các hiệu thuốc. Hồng táo chứa các sinh tố A, B2, C và các nguyên tố vi lượng có ích cho mắt; tác dụng tăng cường cơ nhục của nó đã được chứng minh bằng thực nghiệm. Món ăn trên có tác dụng bổ tỳ, can, thận; đặc biệt là tăng cường sự dẻo dai của các cơ vùng củng mạc và vùng thể mi, những loại cơ có liên quan mật thiết đến chứng cận thị.


Theo Sức khỏe & Đời sống
Việc chăm sóc mắt, nhất là với trẻ, đòi hỏi sự quan tâm toàn diện từ chế độ ăn uống, học tập, tư thế... nhằm ngăn ngừa các tật khúc xạ vốn đang ngày càng tăng. Cũng như các cơ quan khác, mắt cần nhiều loại vi chất như vitamin A, B, phốt pho, chondroitin...

Các số liệu mới nhất thu thập được tại Chương trình khám mắt học đường do Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) và Galepo thực hiện cho thấy, tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội và TP HCM là 49%, tỷ lệ cận thị là 48%. Nguyên nhân có thể là tình trạng làm việc quá tải của mắt do thời gian và không gian vui chơi bị thu hẹp, trẻ dành quá nhiều thời gian để đọc sách báo, xem tivi, chơi điện tử, dùng máy tính... Ngoài việc thay đối lối sống, các bà mẹ cần lưu ý đến dinh dưỡng cho mắt trẻ. Những chất sau đây rất cần cho đôi mắt:

Vitamin E:

Làm chậm quá trình phát triển đục thủy tinh thể. Các nghiên cứu cho thấy, việc dùng thường xuyên vitamin E sẽ giúp tránh tình trạng đục thủy tinh thể. Vitamin E hiện diện nhiều trong các loại lạc, dầu mè ; trứng (một quả trứng có thể cung cấp đến 6% lượng vitamin E khuyến cáo hằng ngày), cà chua, khoai tây, măng tây.

Vitamin A:

Cơ thể thiếu vitamin A thì tế bào mô tuyến lệ sẽ bị tổn hại, dẫn đến bệnh khô mắt, quáng gà. Trong một số trường hợp nặng, người bệnh sẽ rất khó nhìn thấy khi trời tối, hoặc đèn mờ. Vitamin A có nhiều trong các loại thực phẩm như gan động vật, sữa bò, lòng đỏ trứng gà, dầu gan cá.

Vitamin B1, B2 và niacin:

Hiện tượng viêm dây thần kinh thị giác, gây sung huyết dây thần kinh thị giác có nguyên nhân từ việc không cung cấp đủ lượng vitamin B1. Vitamin B1, B2 giúp võng mạc và giác mạc chuyển hóa bình thường. Thiếu vitamin B2, trẻ sẽ xuất hiện các triệu chứng chảy nước mắt, mắt đỏ, ngứa, viêm bờ mi, việc giác mạc, đục thủy tinh thể. Tình trạng thiếu niacin gây rung giật nhãn cầu, gây yếu thị giác. Chất này có nhiều trong các loại đậu, thịt nạc, đậu, các loại rau lá xanh, đậu xanh, táo, ngô.

Chondroitin:

Là một thành phần được chiết xuất từ sụn vi cá mập thiên nhiên; là chất sinh lý giác mạc, giúp giác mạc và thủy tinh thể giữ được độ trong suốt, làm tăng tính đàn hồi của thấu kính và thể mi khi mắt điều tiết. Chondroitin cũng nuôi dưỡng các tế bào của giác mạc, tái tạo lớp phim nước mắt trước giác mạc, chống tình trạng khô mắt, mỏi mắt, hoa mắt do làm việc quá nhiều. Hiện trên thị trường đã có loại thuốc bổ mắt chứa chondroitin.

Selen:

Giữ vai trò về độ nhạy của thị lực. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, việc bổ sung selen mỗi ngày qua thực phẩm sẽ giúp giảm sự phát sinh cận thị và cả các bệnh về mắt. Ở nước ta, selen tìm thấy trong các thực phẩm phong phú như cá, tôm, sò, hến, gạo lức, ớt, tỏi, hành tây, nấm, cà rốt.

Phốt pho:

Đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì độ dẻo dai của võng mạc. Do đó, thức ăn chứa nhiều phốt pho là rất cần thiết cho mắt. Các thức ăn giàu phốt pho là cá tôm, sò biển, sữa, rau câu.

TS Nguyễn Thị Lâm (Viện phó Viện Dinh Dưỡng )

Theo VnExpress
Bạn có thể tự xử lý các tổn thương nhẹ ở mắt trẻ bằng cách rửa bằng tia nước, nhưng nhiều trường hợp tổn thương nặng hơn đòi hỏi phải được sự chăm sóc của y tế.

Các tổn thương mắt - thường có thể ngăn ngừa được - có thể gây mù mắt, vì vậy khi có nghi ngờ hoặc có sơ suất trong việc xử lý tổn thương mắt ở trẻ, hãy nhanh chóng gọi bác sĩ để nhờ giúp đỡ.

* Khi mắt trẻ bị tổn thương do các nguyên nhân thường ngày như cát, bụi, các dị vật bên ngoài mắt:

- Rửa tay cẩn thận trước khi lật mí mắt lên để kiểm tra hoặc trước khi rửa mắt.

- Không nên để trẻ tự tiếp xúc, ấn hoặc cọ xát mắt, và cố giữ không để trẻ sờ mó mắt bị tổn thương (với trẻ nhỏ, có thể dùng khăn quấn để ngăn trẻ dụi tay vào mắt).

- Cố không lấy bất kỳ dị vật nào bằng cách rửa dưới nước, vì có nguy cơ làm trầy xước bề mặt mắt, đặc biệt là giác mạc.

- Nghiêng đầu trẻ trên một cái chậu nước nhỏ, để cho con mắt bị nhiễm nhúng vào nước và kéo nhẹ mí mắt dưới, khuyến khích trẻ mở to mắt. Với trẻ còn ẵm ngửa hoặc trẻ nhỏ, nhờ người thứ hai giữ mắt trẻ mở khi bạn rửa mắt cho trẻ.

- Nhẹ nhàng đổ nước ấm (nước không quá nóng) từ một chiếc bình vào mắt bị nhiễm. Cũng có thể dùng dung dịch muối vô trùng để rửa mắt cho trẻ. Rửa trong vòng 15 phút, kiểm tra mắt mỗi 5 phút để tìm dị vật xem nó đã rơi ra ngoài chưa.

Do một mẩu dị vật nhỏ cũng có thể làm trầy giác mạc và gây nhiễm trùng nên mắt cần được kiểm tra bởi một bác sĩ chuyên khoa nếu như mắt vẫn còn sưng tấy sau khi được rửa. Trong trường hợp không thể lấy dị vật ra bằng cách rửa bằng nước, có thể đưa trẻ đến bác sĩ chuyên khoa mắt.

* Khi dị vật lọt vào cầu mắt:

- Nhanh chóng gọi cho cấp cứu.

- Che mắt bị ảnh hưởng. Nếu đó là vật thể nhỏ, hãy sử dụng miếng đắp mắt hoặc băng vô trùng. Nếu đó là vật thể lớn, hãy che mắt bị tổn thương bằng một chiếc cốc nhỏ buộc cố định. Điều này sẽ giúp tránh áp suất lên cầu mắt. Giữ cho trẻ (và cả bạn) bình tĩnh và không quá lo lắng cho đến khi nhân viên y tế đến.

* Khi hóa chất rơi vào mắt:

- Nhiều hóa chất, ngay cả những hóa chất có ở xung quanh nhà bạn, có thể gây tổn hại đến mắt. Nếu trẻ bị hóa chất rơi vào mắt mà bạn biết đó là chất gì, hãy tìm trên chai đựng chất đó để tìm số điện thoại khẩn cấp để nhờ hướng dẫn.

- Rửa mắt bằng tia nước âm ấm từ 15-10 phút. Nếu cả hai mắt đều bị nhiễm, hãy rửa mắt dưới vòi sen.

- Hãy gọi cho trung tâm y tế để được hướng dẫn thích hợp. Tuy nhiên, điều đầu tiên nên nhớ là không được trì hoãn việc rửa mắt bằng tia nước.

T.VY (Theo KidsHealth)

Theo Tuổi Trẻ Online
Đeo kính sát tròng thay cho kính cận thị, viễn thị hiện nay đã trở nên khá phổ biến. Bạn cũng là một trong số đó? Dưới đây là một số điều nên và không nên làm khi đeo kính sát tròng.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Nên:

- Thực hành đeo kính dưới sự hướng dẫn của bác sĩ đo thị lực, những người có chuyên môn

- Giữ gìn cẩn thận và đeo theo đúng hướng dẫn

- Rửa sạch, lau khô tay trước khi đeo kính

- Cất giữ kính sát tròng trong dụng cụ chuyên dụng và giữ gìn chúng thật sạch

Không nên:

- Không nên sử dụng xà phòng tắm để rửa vì xà phòng tắm ảnh hưởng đến màng mỏng trên kính

- Không thổi vào kính vì có thể làm cho kính bị bẩn do nhiễm vi khuẩn từ nước bọt

- Không sử dụng nước muối tự pha để rửa

T.L. (Theo HealthDay News)

Theo Tuổi Trẻ Online
Sau khi đeo kính cận, Trung thấy luôn đau đầu, chóng mặt và mệt mỏi. Bác sĩ cho biết đó là do hai mắt anh có độ cận khác nhau, nhưng hai tròng kính lại cùng một loại.

Thấy mắt mình ngày càng khó nhìn xa, Trung (19 tuổi, sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội) nghĩ mình bị cận nên quyết định mua kính để đeo. Tại hiệu kính thuốc gần nhà, sau khi đo mắt, Trung được kết luận là cận 3 độ, và được bán cho một cặp kính khá điệu.

Đeo vào, anh thấy nhìn rõ hơn nhưng không hiểu sao thấy không thoải mái. Cảm giác đó ngày càng rõ. Trung rất dễ bị mệt mỏi, hay đau đầu, chóng mặt, thị lực giảm. Đến kiểm tra lại ở Bệnh viện Mắt Trung ương, anh mới biết hai mắt mình có độ cận khác nhau, nên cần hai mắt kính khác nhau.

Theo bác sĩ Trần Thế Hưng, Bệnh viện mắt Sài Gòn – Hà Nội, sai lầm lớn nhất mà những người bị cận thị thường mắc là mua kính không theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa mắt, thường chỉ đo ở các hiệu kính thuốc - nơi có khi không đủ thiết bị cũng như chuyên môn để chẩn đoán bệnh về mắt. Nhiều người đã đi khám ở bác sĩ nhãn khoa và có chỉ định đúng, nhưng lại mua kính ở những nơi không đảm bảo nên lắp kính không đúng theo đơn (lắp sai khoảng cách đồng tử, sai số kính…) khiến mắt càng bị ảnh hưởng xấu.

Đối với trẻ em, việc đến khám ở các sĩ có chuyên môn sâu về nhãn khoa càng quan trọng, bởi mắt trẻ có độ điều tiết rất lớn. Nhiều khi máy đo tự động cho chẩn đoán cận thị nhưng thực ra mắt chỉ mệt do điều tiết nhiều, những lúc ổn định nếu đo sẽ có kết quả khác.

Một số sai lầm thường gặp khác

Không tái khám định kỳ theo hẹn: Tuỳ theo mức độ tiến triển của bệnh mà bác sĩ hẹn khám lại sau 1-3-6 tháng hoặc 1 năm. Nhiều người chỉ đi khám một lần để mua kính, nhưng sau đó độ cận thay đổi. Nếu không được đổi kính phù hợp, mắt sẽ bị tổn hại.

Không đeo kính hoặc đeo kính sai độ: Nhiều người vì ngại xấu hoặc cho rằng đeo kính sẽ bị phụ thuộc vào nó, khiến mắt kém hơn. Thực ra, kính là dụng cụ hỗ trợ cho mắt; không có nó, mắt phải cố điều tiết để nhìn rõ khiến trục nhãn cầu càng dài thêm, làm tăng độ cận. Việc đeo kính có số thấp hơn độ cận cũng làm bệnh nặng thêm, có thể dẫn đến nhược thị.

Tin rằng có thể chữa cận bằng châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt hay uống thuốc bổ: Các phương pháp này không thể làm trục nhãn cầu co ngắn lại nên không thể chữa được cận thị. Hiện chỉ phẫu thuật mới làm được điều đó. Một số bệnh nhân điều trị bằng các cách trên và thấy mắt nhìn tốt hơn. Đó có thể là do việc châm cứu, bấm huyệt, massage và thuốc bổ làm tăng sức khoẻ thể trạng và sức khoẻ của mắt, vốn chỉ bị mệt mỏi và nhìn kém do điều tiết chứ không thực sự bị cận.

Một số lưu ý trong sinh hoạt

Để bảo vệ mắt, góc học tập và làm việc nên đặt ở nơi đủ sáng nhưng nên tránh những chỗ ánh nắng quá nhiều vì cũng sẽ làm hại mắt.

Nếu học và làm việc ban đêm, ngoài đèn chung trong phòng còn cần một đèn bàn để ở phía đối diện với tay cầm bút, có chụp phản chiếu.

Không nên tắt hết đèn khi xem TV bởi ánh sáng chói từ màn hình sẽ làm hại mắt. Tuy nhiên, tránh để ánh đèn phản xạ trực tiếp lên màn hình. Nên ngồi cách một khoảng bằng 7 lần chiều rộng của TV (khoảng 3,5 m với TV 21 inch).

Không nên đọc sách khi đi tàu xe, vì chuyển động lắc lư gập ghềnh sẽ khiến mắt phải điều tiết liên tục, dẫn đến mệt mỏi. Nên nhìn cảnh vật phía trước xe để thư giãn thị giác.

Khi ta đặt sách lên mặt bàn, khoảng cách từ mắt tới đầu trang sách sẽ lớn hơn là tới cuối trang, nên mắt bị áp lực nhiều hơn khi đọc đến cuối. Vì vậy, nên để nghiêng sách một góc khoảng 20 độ.

Hải Hà/VnExpress
Chắp lẹo thường tái đi tái lại nhiều lần với biểu hiện cộm hoặc ngứa mí mắt rồi bờ mi mắt sưng đỏ, sau vài hôm có thể thành mủ, nếu không được điều trị sẽ vỡ mủ và để lại sẹo xấu.

Đông y chữa chắp lẹo bằng nhiều biện pháp xử trí như chích lể, giác...

Chích lể huyệt phế du

Nếu có điều kiện, nên dùng kim tam lăng. Đây là loại kim đầu nhọn có ba cạnh vát nên khi chích nhẹ vào huyệt sẽ rất dễ dàng nặn được máu. Huyệt phế du được xác định khi tay bạn vắt ngang qua đầu, đầu ngón trỏ với ra sau lưng, đầu ngón tay chạm đến đâu thì đấy là huyệt cần thiết có thể chích lể được.

Phế du là huyệt thuộc kinh Túc thái dương Bàng quang, nằm cách gai đốt sống lưng thứ 3 ngang ra hai bên 1,5 thốn (bằng 1/2 khoảng cách từ chính giữa cột sống đến bờ trong xương bả vai). Theo y học cổ truyền, chắp lẹo là do nhiệt tà xâm phạm vào bì mao. Phế du là du huyệt của tạng Phế. Khi chích nặn máu, phế du có tác dụng thanh tiết nhiệt độc. Theo kinh nghiệm thực tiễn, có thể chỉ cần chích nặn máu huyệt phế du cùng bên với mắt bị bệnh là được.

Cách chích lể: Dùng kim tam lăng chích nhẹ vào huyệt, sau đó nặn ra chút máu. Nếu có điều kiện, có thể dùng bầu giác giác ngay trên huyệt sau khi đã chích lể. Đây là cách giác ướt, tức là giác để cho ra máu.

Chích lể huyệt nhĩ tiêm

Nhĩ tiêm là huyệt nằm ngay trên đỉnh vành tai. Khi xác định huyệt, lấy ngón tay ép cho vành tai gập lại, huyệt nằm ở đỉnh của vành tai. Dùng kim chích lể và nặn chút máu. Ở huyệt này, không áp dụng phương pháp giác trên huyệt được.

Giác ướt

Là phương pháp có thể áp dụng một cách dễ dàng. Trường hợp cần thiết có thể dùng cốc thủy tinh nhỏ để giác. Trước tiên, phải sát trùng vùng da cần giác, dùng kim tam lăng hoặc kim tiêm chích nhẹ vài điểm trên vùng huyệt phế du, tiếp đó tiến hành giác. Có thể chỉ cần giác một vài lần là đạt kết quả tốt.

Chú ý: Trước khi chích lể, phải dùng cồn hoặc dung dịch Betadine, iod sát trùng vùng da tại huyệt. Nếu không có các thuốc sát trùng nói trên, có thể dùng một nhánh tỏi cắt lát ngang xát lên huyệt để sát trùng. Trường hợp không có kim tam lăng, có thể dùng kim khâu, kim tiêm... để chích lể.

Nên chích lể, châm cứu sớm ngay khi chắp lẹo mới hình thành để đạt hiệu quả điều trị tốt, làm chắp lẹo tiêu nhanh. Trường hợp để muộn vẫn có thể áp dụng các phương pháp điều trị như trên. Tuy nhiên, nếu chắp lẹo đã thành mủ thì nên đến thầy thuốc hoặc cơ sở y tế để làm thủ thuật chích tháo mủ, nạo ổ viêm...

Không nên dùng chung kim để chích lể cho nhiều người nhằm tránh lây lan các bệnh truyền nhiễm. Tốt nhất là dùng kim riêng cho từng người.

Đoàn Hạnh (Theo VnExpress)
Bệnh lác có chữa được không và cách điều trị ra sao?

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Trả lời

Theo thống kê ở nước ngoài, lác gặp ở 2% nhóm tuổi dưới 3; khoảng 3% trẻ em và người trẻ. Lác có thể có tính di truyền, thường kèm theo các biểu hiện bệnh lý khác ở mắt như nhược thị, tật khúc xạ và cũng có thể kèm theo biểu hiện bệnh lý khác toàn thân.

Đại đa số các trường hợp lác được bố mẹ hoặc bác sĩ nhi khoa phát hiện trước khi đi khám nhãn khoa. Có thể đánh giá thị lực sơ bộ của trẻ bằng các đồ chơi thông thường. Để đánh giá chính xác thị lực, trẻ cần được đưa đến khám tại các trung tâm nhãn khoa.

Những trường hợp gia đình có tiền sử lác, nên đưa trẻ đi khám sớm vào độ tuổi 12 đến 18 tháng. Nhiều trường hợp độ lác rất ít, còn gọi là vi lác, rất khó phát hiện ngay cả khi bác sĩ mắt trẻ em có kinh nghiệm. Đây là một hình thái quan trọng vì nhược thị có thể đi kèm và tình trạng nhược thị chỉ phát hiện được khi kiểm tra thị lực.

Ở trẻ em bị lác mắt, vấn đề quan trọng là cần phải phát hiện và điều trị sớm, như thế mới có thể đem lại kết quả về cả chức năng và thẩm mỹ được.

Điều trị lác bao gồm phức hợp chỉnh quang, chỉnh thị và chỉnh lệch trục nhãn cầu. Chỉnh thị là các phương pháp tập luyện như bịt mắt để thị lực của mắt kém được cải thiện. Chỉnh quang là quá trình điều chỉnh tật khúc xạ, thường là cho đeo kính điều chỉnh. Điều trị chỉnh thị chỉnh quang có thể diễn ra trước và cả sau khi phẫu thuật. Quy trình điều trị nội khoa này có thể mất rất nhiều thời gian và công sức.

Một số ca lác không cần đến phẫu thuật mà chỉ cần điều chỉnh bằng kính và tập luyện. Tuy nhiên, đại đa số các trường hợp lác mắt cần đến phẫu thuật để điều chỉnh lệch trục nhãn cầu.

Phẫu thuật không thể điều trị nhược thị (bệnh này cần đến các phương pháp chỉnh thị chỉnh quang). Muốn đạt được hiệu quả tối ưu trong điều trị lác mắt, cần phải tuân thủ qui trình khám, điều trị và theo dõi theo đúng đặc thù của chuyên ngành lác học.

TS Vũ Thị Thanh Thủy

Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Đôi mắt là nơi biểu lộ sức khoẻ và tuổi thanh xuân của bạn rõ nét nhất. Tròng mắt long lanh giữa quầng mắt căng tràn nhựa sống chính là tuổi trẻ và sức khoẻ dồi dào của bạn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Da quanh hốc mắt có một cấu tạo hết sức đặc biệt, khác với những vùng da khác của cơ thể. Đó là một trong những vùng da mỏng manh nhất. Hầu hết các vùng da khác có độ dày từ 30-35mm thì ở mắt con số đó có thể xuống tới 0,8mm. Cùng với môi, đây là vùng da tập trung nhiều tế bào histamin nên rất nhạy cảm.

Chỉ cần một tác động nhỏ như dụi mắt hoặc bị di ứng, côn trùng đốt thì sẽ đỏ hoặc sưng to lên ngay. Vùng da này lại che chở nhiều mạch máu ở bên dưới, có thể nhìn rõ ngay mỗi lúc mắt có vấn đề và nếu bị tác động mạnh thì dễ bị thâm tím.

Mắt nhăn

Mắt và miệng lại là những vùng đặc biệt nhất trên da mặt. Cấu tạo cơ ngắn nên dễ bị yếu. Lại là những bộ phận hoạt động nhiều nên tạo những nếp hằn trên da. Cộng thêm độ "siêu mỏng" khiến cho da mắt rất dễ chùng. Đó là lý do tại sao vùng da mắt rất dễ bị lão hoá.

Mắt thâm

Có rất nhiều lý do dẫn đến quầng mắt thâm. Trước hết là sự lão hoá vì thời gian - tuổi tác đi đôi với nhăn, thâm và bạn không thể cưỡng lại được nó. Những cú sốc tâm lý, mang thai, điều trị kháng sinh dài ngày... khiến cho cơ thể mệt mỏi, da dẻ xanh xao, biến đổi nội tiết tố làm cho mắt thâm quầng nhiều hơn. Nhưng không sao đôi mắt ấy sẽ cải thiện ngay khi bạn trở lại bình thường.

Tuy nhiên, mắt thâm thường hay bắt nguồn từ lối sống nhất. Nếu bạn hay dùng thuốc, cà phê thì đương nhiên có thể giảm tiền dùng màu mắt mà vẫn có đôi mắt tối om. Khi đi ra ngoài trời nắng bạn không có thói quen đội mũ rộng vành và kính râm. Đồng nghĩa tăng nếp nhăn vì nheo mắt quá lâu và da sạm đi vì tăng sinh sắc tố malanin.

Bạn thường xuyên phải làm việc khuya  hoặc thích đi chơi tối ngày nên mắt ít có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi, thậm chí không đủ giờ cho ngủ - không chỉ thu về đôi mắt mệt mỏi, mà còn làm da nhợt nhạt, xanh xao, tạo điều kiện cho các mạch máu dưới da mặc sức xuất đầu lộ diện, tạo nên màu đen thẫm quanh mắt.

Với những ai biết mắt thâm quầng do chính cách sống của mình thì thời gian lấy lại mắt đẹp đồng nghĩa với việc bạn đã sống tốt hơn.

Bọng mắt

Những người có dấu hiệu can thận âm hư, tì yếu, mắc các bệnh tim mạch, tuyến giáp trạng... thường gặp "phản ứng dây chuyền" là mắt lồi to ra với quầng mắt sưng mọng. Đó lại là những bệnh khó chữa dứt nên khả năng lấy lại đôi mắt bình thường là vô cùng khó khăn.

Bên cạnh đó là cấu tạo mô mỡ dưới mắt. Điều này cũng phụ thuộc vào cơ địa riêng của từng người và mang tính di truyền. Nếu bạn có nhiều mô mỡ thì phải chấp nhận một lúc nào đó mắt sẽ mang những cái bọng to đùng.

Chỉ những ai bị mất ngủ dài ngày vì căng thẳng, suy nghĩ làm cho mắt cũng sưng húp lên thì mới có thể biến mất khi nguyên nhân bị dẹp mà thôi.


Theo Mỹ Phẩm
Khô mắt là một trong những chứng bệnh rất phổ biến của mắt, đặc biệt là ở những người tiếp xúc nhiều với máy tính. Do yêu cầu công việc, bạn không thể rời xa chiếc máy tính. Vậy phải làm sao để hạn chế được tối đa những tổn thương cho mắt?

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
1. Chớp mắt

Bạn hãy thường xuyên chớp mắt khi làm việc với máy tính.

Cường độ làm việc quá lớn trên máy tính, sẽ khiến mắt bạn không chỉ bị khô, mà còn phải điều tiết nhiều, gây nên cảm giác mệt mỏi cho mắt.

Chớp mắt là thói quen tốt, đem lại hiệu quả cao khắc phục chứng khô mắt.

2. Con số 10 quan trọng

Cứ 10 phút, bạn nên ngưng làm việc trên máy tính.

Hãy nhìn xa với khoảng cách 10m, để giúp mắt thư giãn.

3. Thời gian nghỉ ngơi

Trong giờ nghỉ, bạn nên đi dạo.

Trong khi đi dạo bạn hãy quan sát các sự vật xung quanh (có trong tự nhiên), không nên xem phim, hay chơi game trong thời gian này.

4. Đặt máy tính ở vị trí khoa học

Vị trí đặt máy tính có ảnh hưởng phần lớn tới mắt của bạn.

Chính vì thế, phải lựa chọn vị trí khoa học và hợp lý để đặt máy.

Theo các bác sĩ chuyên khoa mắt, đặt máy tính ở chỗ quá nhiều ánh sáng (ánh sáng chói) đều không tốt cho mắt.

Trái lại, nên chọn vị trí hơi tối một chút, ánh sáng chiếu vào vừa phải ( không sáng chói nhưng cũng không tối đen), như vậy bạn sẽ dễ quan sát và mắt không phải điều tiết nhiều.

5. Khoảng cách hợp lý

Khoảng cách từ màn hình tới mắt, không quá xa, khiến bạn phải “căng” mắt ra để nhìn.

Khoảng cách thích hợp là từ 16 - 24cm, điều này còn phụ thuộc vào thị lực và kích cỡ của màn hình.

6. Hạn chế sử dụng máy tính

Chỉ sử dụng máy tính khi cần thiết, ngoài ra bạn không nên chơi game, coi phim qua máy tính.

Hãy học cách đánh máy tính cũng như những thao tác trên máy tính thành thạo, để hạn chế thời gian mắt phải tiếp xúc với máy tính.

Khổng Thu Hà

Theo DE/ Dân trí

Ngày 9/7, BV Mắt TP.HCM cho biết các giáo sư chuyên khoa mắt của Mỹ vừa chuyển giao kỹ thuật đặt thủy tinh thể nhân tạo Toric để điều trị một lần cho bệnh nhân bị đục thuỷ tinh thể kèm loạn thị. Sau khi đặt Toric, bệnh nhân không cần mổ tiếp để điều trị loạn thị như trước đây.


Trước đây những bệnh nhân bị đục thủy tinh thể có độ loạn thị hơn 1D thường phải chịu thiệt thòi hơn rất nhiều so với những người không bị loạn thị. Cụ thể là thị lực sau mổ sẽ kém hơn nhiều. Bệnh nhân phải đeo kính loạn sau mổ.


Tuy rằng, bệnh nhân cũng có thể mổ loạn thị bằng laser excimer sau mổ cườm. Nhưng như thế, bệnh nhân sẽ phải chịu thêm một cuộc phẫu thuật thứ hai với chi phí không phải là nhỏ.


Theo BS. Trần Hải Yến, trưởng khoa Khúc xạ BV Mắt TP.HCM, vật liệu cấu tạo của thuỷ tinh thể nhân tạo Toric là Acrysoft, như các loại thuỷ tinh thể nhân tạo truyền thống. Nhưng Toric có thêm một kính trụ để điều trị loạn thị.


Các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện ở Hoa Kỳ cho thấy thủy tinh thể nhân tạo Toric có tính ổn định vững chắc và tương thích sinh học cao hơn hẳn các loại thủy tinh thể nhân tạo cùng loại.


Từ ngày 4/ - 7 đến 5/7/2007, BV đã áp dụng kỹ thuật mới này trên 4 bệnh nhân bị đục thủy tinh thể có kèm loạn thị.


Bệnh nhân được đặt thủy tinh thể nhân tạo Toric được cải thiện thị lực hơn và làm giảm sự lệ thuộc vào kính gọng hơn khi so sánh với các loại thủy tinh thể nhân tạo thường.


Điểm nổi bật của loại thủy tinh thể nhân tạo này là công thức tính toán độ thủy tinh thể nhân tạo cho bệnh nhân được cập nhật thường xuyên trên internet và các bác sĩ phẫu thuật hoàn toàn có thể sử dụng các thông tin và công thức mới nhất từ nhà sản xuất là hãng Alcon - Hoa Kỳ nhằm đem lại cho bệnh nhân sự chính xác tuyệt đối.


Tuy nhiên, do thuỷ tinh thể nhân tạo Toric là một kỹ thuật còn rất mới nên BV Mắt TP.HCM chưa có bảng giá điều trị chính thức.


Ngoài thủy tinh thể nhân tạo Toric, từ cuối 2004 đến nay, BV Mắt TP. HCM vẫn tiếp tục cung cấp thủy tinh thể nhân tạo có thể khắc phục được cả hiện tượng lão thị đó là thủy tinh thể nhân tạo nội nhãn giả điều tiết.


Thủy tinh thể nhân tạo này sẽ giúp cho bệnh nhân có thể nhìn được xa, trung gian và gần với khả năng không cần đeo kính thêm bênh ngoài lên tới trên 90%.


Bệnh nhân sau khi đặt thủy tinh thể nhân tạo hoàn toàn có khả năng tham gia lao động và sinh hoạt bình thường từ chơi cầu lông, xem vô tuyến, làm việc trên máy tính cho tới đọc sách, khâu vá …

Hương Cát (Theo VietNamNet)
Mắt của chúng ta rất dễ bị mỏi mệt khi làm việc với máy tính. Các biểu hiện thường gặp là đau nhức, chảy nước mắt… Mắt sẽ bị yếu đi nếu tình trạng này kéo dài.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bạn có thể hạn chế tình trạng nhức mỏi mắt bằng những lời khuyên sau:

Vị trí của màn hình máy tính phải thẳng với hướng nhìn của bạn và hơi thấp hơn so với tầm mắt một chút để bạn không phải ngước lên liên tục.

Không đặt màn hình máy tính ở phía trước cửa sổ hoặc một nguồn sáng trực tiếp chiếu vào màn hình. Vì điều này sẽ gây ra sự nhức mỏi mắt.

Tránh làm việc với máy tính trong phòng tối. Ban ngày, bạn có thể bật đèn trong phòng nhưng nếu ánh sáng quá chói cũng không tốt cho mắt. Làm việc trong môi trường ánh sáng tự nhiên là tốt nhất.

Cần điều chỉnh ánh sáng màn hình ở chế độ phù hợp nhất với mắt bạn. Và tốt nhất nên sắm bộ phận bảo vệ màn hình giúp cân bằng ánh sáng.

Nếu bạn làm việc buổi tối, rất cần có đèn bàn bên cạnh để đọc các trang giấy. Tuy nhiên, ánh sáng của nó không nên chiếu trực tiếp vào màn hình máy tính, vì như vậy sẽ gây ra lóa sáng.

Nên tăng cỡ chữ khi bạn đọc hoặc đánh máy các văn bản để tránh mỏi mắt và phải căng mắt để nhìn những con chữ li ti. Hãy chọn chữ đen trên nền trắng, để mắt không bị mỏi khi nhìn lâu.

Nên vệ sinh màn hình thường xuyên, điều này không chỉ giúp màn hình không bị lóa, bị mờ mà còn giúp bảo vệ tuổi thọ của màn hình.

Một số người cận thị đã phải mua một chiếc kính riêng để dùng khi làm việc với máy tính. Thường thì độ của chiếc kính này nên giảm đi. Với loại kính đọc sách sử dụng khi làm máy tính có thể hơi lớn vì khoảng cách giữa màn hình và mắt (cộng thêm ánh sáng của màn hình phản chiếu).

Tất nhiên, trước khi mua bạn cần cân nhắc xem mình có nhanh bị mỏi mắt, đau mắt khi làm việc trên máy tính so với thời gian đọc sách thông thường. Để chắc chắn hơn, bạn cần tư vấn bác sĩ chuyên khoa mắt.

Nên tự đặt cho mình một chế độ nghỉ ngơi hợp lý. Cứ khoảng 15 – 30 phút nên thư giãn một lần bằng cách rời khỏi bàn làm việc, đi lại, nhìn ra cửa sổ để mắt đỡ bị mỏi. Nếu ngồi lỳ vài tiếng đồng hồ trên máy, mắt bạn sẽ bị suy yếu dần, cho dù có “tẩm bổ” thường xuyên cho mắt bằng các loại dầu gan cá mập hảo hạng đi chăng nữa.

Một số người “nghiện” máy tính (chơi game, lướt web) thì nên cắt giảm thời gian “ngồi thiền” này cho các hoạt động hữu ích khác để bảo vệ sức khỏe lâu dài của đôi mắt – một trong những tài sản quý nhất của con người.


(Theo SGGP)
Chắp là một u hạt xuất phát từ tuyến của sụn mi bị bít tắc. Chất bã ứ đọng xâm nhập các mô lân cận và gây viêm hạt mạn tính. Tổn thương tiêu đi sau nhiều ngày đến nhiều tháng, khi chất lipit xâm nhập bị thực bào tiêu diệt; có thể còn lại một phần nhỏ mô sẹo.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Chắp rất thường gặp và có nhiều dạng. Chắp bên ngoài là một nốt đỏ ở mi mắt, kích thước và độ rắn giống như hạt đậu. Chắp bên trong thường kín đáo hơn, nằm ở mặt trong của mi mắt, tức là phần kết mạc của mi, khi lật mi ra chúng ta có thể nhìn thấy được, trong một số trường hợp còn có thể thấy đầu mủ trắng của chắp. Nhiều trường hợp đa chắp, tức là có rất nhiều đầu chắp trên một mi hay cả hai mi, thậm chí hai mắt.

Chắp có thể khởi phát cấp tính hoặc âm ỉ. Hầu hết chắp đều vô trùng, do đó dùng kháng sinh không có giá trị gì.

Chườm nóng có thể làm giảm triệu chứng đau đối với các tổn thương sớm. Chắp thường tự tiêu tan sau nhiều tuần. Những chắp to hoặc chắp dai dẳng có thể sử dụng corticoid nhưng phải được bác sĩ khám và theo dõi. Cũng có thể chích chắp, hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Ngoài ra, lạnh đông hay laser được sử dụng thử nghiệm với một số trường hợp và cho kết quả tốt.

Các ung thư tại mi mắt như (ung thư biểu mô tế bào đáy hay ung thư biểu mô tuyến bã) có thể bị chẩn đoán nhầm là chắp. Vì vậy, nếu chắp dai dẳng, kéo dài hay không điển hình, đặc biệt là ở người lớn tuổi, cần xét nghiệm mô bệnh học.


(Theo Sức Khoẻ & Đời Sống)
Trong các nguyên nhân gây viêm bờ mi không phải chỉ có vi khuẩn, nấm mà còn cả... chấy. Những con chấy này rất nhỏ, phải soi qua kính hiển vi mới thấy được.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bạn hãy soi gương hoặc nhìn vào mắt người nhà (khẽ kéo mi trên bằng ngón tay cái, mi dưới bằng ngón trỏ), cái vùng như bờ môi của con cá, đó là bờ mi. Bờ mi là vùng quá độ giữa da mi ở phía trước và kết mạc mi (còn gọi là niêm mạc mi) ở phía sau.

Bờ mi có lỗ đổ ra của tuyến bã và một số tuyến khác. Gần gốc mũi của bờ mi có một cái lỗ nhỏ (mi trên một cái, mi dưới một cái) gọi là lỗ lệ hay điểm lệ. Đó là cửa dẫn nước mắt xuống mũi. Lông mi thì mọc trên da mi, sát với bờ mi, chứ không phải là mọc trên bờ mi.

Bờ mi ít khi được quang quẻ và luôn sùi tuyến, cương tụ vì nó lộ ra phía trước, luôn tiếp xúc với gió bụi, tia nắng, các khí độc của sinh hoạt (khói xăng, hơi than tổ ong...).

Mầm bệnh cụ thể của viêm bờ mi thường gặp là vi khuẩn, nấm lang ben pityrosporum, chấy mi (nhổ lông mi đem soi kính hiển vi, sẽ thấy các chấy mi bám quanh như châu chấu bám gốc lúa hoặc củ sắn quây quanh gốc sắn).

Bạn đừng lầm chấy mi với rận mi. Rận mi cùng loại với rận bẹn; nó to, mắt thường nhìn thấy được. Còn chấy mi thì vi thể, chỉ thấy được qua kính hiển vi.

Bạn cũng đừng phát hoảng, đừng lấy làm lạ. Nếu thấy ngứa mắt, bạn dụi mắt hoặc túm lấy lông mi giật giật cho đỡ ngứa, sợi mi rụng ra nếu được soi dưới kính hiển vi thường sẽ thấy vi chấy. Ở các loài vật có lông mao khác như mèo, chó, cừu... cũng thường có vi chấy ở củ lông.

Để chữa viêm bờ mi, mỗi ngày nên rửa mặt hai lần (trước khi đi làm buổi sáng và sau khi đi làm về, buổi chiều). Việc rửa mặt bằng khăn vắt kiệt sẽ giúp loại bỏ bụi bặm. Động tác lau nhẹ trên mắt còn có tác dụng nặn nhẹ chất bã bẩn của bờ mi.

Sau khi rửa mặt buổi sáng, nhỏ vài giọt cloroxit 4 phần nghìn. Cloroxit có phổ kháng khuẩn rộng, diệt được nhiều loại vi khuẩn.

Nếu mắt ngứa quá, nên tra mỡ mắt tetracyclin. Thuốc này làm tuyến bã giảm bài tiết quá nhiều. Chất vadơlin của thuốc mỡ làm những con chấy mi bị bí hô hấp và bị tiêu diệt.

Theo BS. Hoàng Sinh

Sức khỏe & Đời sống
Những trường hợp bỏng mắt thường là do bị hoá chất bắn, đổ vào và gây những tổn thương sâu, nếu không kịp thời xử trí, thị lực sẽ bị ảnh hưởng rất lớn, thậm chí phải bỏ hẳn con mắt bị bỏng.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Theo Bác sĩ Nguyễn Như Lâm, Chủ nhiệm Khoa Hồi sức cấp cứu Viện Bỏng Quốc gia, bỏng mắt có thể do nhiều nguyên nhân gây nên.

Không chỉ những người thường xuyên tiếp xúc với hoá chất, acid như người bán hoá chất, thợ làm acquy… có nguy cơ bị bỏng do hoá chất bắn vào mắt, mà còn có một số học sinh bị bỏng khi thực tập phòng thí nghiệm…

Thông thường, bỏng hoá chất hay gặp nhất là bỏng acid sulfuric, acid clohydric, acid hữu cơ và kiềm (xút, nước vôi…). Bỏng mắt do hoá chất có thể nặng hay nhẹ tuỳ vào bản chất, hoàn cảnh xảy ra tai nạn, lượng hoá chất bắn vào mắt…

Khi mắt bị bỏng hoá chất, các tổn thương nông và nhỏ có thể tự khỏi, nhưng đối với các trường hợp nặng có thể gây sẹo giác mạc, glôcom thứ phát, viêm nội nhãn, đục thủy tinh thể, sẹo và biến dạng mi…

Sơ cứu như thế nào?

- Không được đưa tay dụi mắt.

- Nhanh chóng loại bỏ dung dịch hoá chất ra khỏi mắt bằng nước sạch. Có thể vục mặt vào chậu nước sạch rồi chớp chớp mắt liên tục để hoá chất trôi ra khỏi mắt. Nếu trong mắt vẫn còn những hạt vôi nhỏ thì phải rửa mạnh để làm bật những hạt vôi đó ra.

Sau khi sơ cứu, nhanh chóng chuyển bệnh nhân tới cơ sở y tế gần nhất để được điều trị đúng cách. Khi đến bệnh viện, bệnh nhân sẽ được rửa mắt bằng các dung dịch đặc biệt, nhằm đảm bảo không còn hoá chất kết dư trong mắt.

Khi đưa bệnh nhân tới viện, người nhà cũng nên mang theo chai lọ và nhãn mác dung dịch, hoá chất gây chấn thương đến bệnh viện để bác sĩ nhận biết nhanh được loại hoá chất gây bỏng và có hướng xử trí nhanh nhất.

Hồng Hải (Theo Dantri)
(Dân trí) - Em bị cận thị 2,5 đi-ốp. Do đặc thù nghề nghiệp nên rất muốn sử dụng kính áp tròng cho tiện lợi. Xin bác sĩ cho biết em nên dùng loại kính áp tròng nào? Thương Hiền (Thanh Xuân - Hà Nội)

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
BS Trần Thế Hưng, Bệnh viện mắt Sài Gòn, Hà Nội trả lời:

Kính áp tròng có rất nhiều loại:

- Kính áp tròng cứng: loại kính áp tròng cứng có thể làm thay đổi hình dạng giác mạc và trong nhiều trường hợp được bác sĩ chỉ định dùng kính này vào ban đêm để chỉnh hình giác mạc

- Kính áp tròng mềm: đây là loại phổ biến nhất ở Việt Nam bởi loại kính này ít kích thích mắt hơn, ít thay đổi chỉ số bức xạ của mắt.

Tuy nhiên, hai loại kính áp tròng cứng và mềm không có trao đổi khí nên nếu đeo liên tục sẽ khiến giác mạc không trao đổi được khí, gây mờ mắt, có thể dẫn đến sẹo tròng đen mắt nên không nên đeo thường xuyên.

- Kính áp tròng có trao đổi khí: đây là loại kính tốt nhất cho mắt hiện này. Vì bản thân giác mạc có màng phim có 3 lớp là nước (gồm dinh dưỡng, khoáng… để nuôi dưỡng giác mạc); lớp nhầy có tác dụng bôi trơ; lớp mỡ để hạn chế tình trạng bay nước. Như vậy, bản thân giác mạc cũng cần có sự hô hấp, do vậy, loại kính áp tròng có trao đổi khí là tốt nhất cho mắt.

Mặc dù kính áp tròng mang lại rất nhiều lợi ích, nhưng bạn nên đến bác sĩ chuyên khoa thăm khám kỹ trước khi dùng. Vì bản chất kính áp tròng là 1 hợp chất, nó có thể gây dị ứng, kích ứng với từng người, không phải ai cũng có thể đeo được kính áp tròng.

Hơn nữa, việc đeo kính áp tròng có chỉ định rất chặt chẽ. Chỉ có thể sử dụng loại kính này khi bạn có đôi mắt hoàn toàn khỏe mạnh, không bị viêm nhiễm, không bị khô mắt. Nếu mắt đang bị viêm, bị bụi, sạn sạn vôi mắt hột mà vẫn đeo kính áp tròng thì nguy cơ bị tổn thương mắt, nhiễm khuẩn… dẫn đến giảm thị lực là khó tránh khỏi.

Dù có một đôi mắt khỏe, việc sử dụng kính áp tròng cũng cần rất thận trọng. Vì trong điều kiện khí hậu nóng ẩm và môi trường ô nhiễm, nhiều khói bụi của nước ta, việc đeo kính áp tròng có thể gây nhiều nguy cơ, có thể khiến mắt người dùng bị khô, đỏ, cảm giác vướng, viêm loét, nhiễm khuẩn...  Do vậy, nếu không cần thiết, bạn không nên đeo kính áp tròng. Còn nếu đeo, cần thận trọng tuân thủ những hướng dẫn của bác sĩ để tránh gây tổn thương cho mắt. Người đeo kính áp tròng nên khám định kỳ để phát hiện kịp thời những vi chấn thương ở mắt. Chỉ sử dụng khi thật cần thiết và nên xen kẽ giữa kính áp tròng và kính gọng để đôi mắt được nghỉ ngơi, đủ dinh dưỡng.

Hồng Hải
Mi mắt là bộ phận che chắn và bảo vệ nhãn cầu nên luôn bị các tác nhân gây bệnh tấn công dữ dội. Vì vậy, các bệnh nhiễm trùng và viêm tại chỗ của mi mắt cũng thật đa dạng, từ chắp, lẹo đến viêm bờ mi.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Tỷ lệ viêm bờ mi khá cao nhưng thường bị bỏ qua vì không gây mù lòa, không gây chết người. Thế nhưng, những khó chịu mà bệnh này gây ra, lượng thuốc men mà người bệnh phải hao tốn lại không hề nhỏ. Nhiều người còn tự mua thuốc hoặc mách bảo nhau dùng những thuốc có chứa cortizol kéo dài. Triệu chứng bệnh thì có giảm nhưng những hệ lụy mà nó đem lại thật nguy hiểm khôn lường: bội nhiễm nấm, vi khuẩn, glaucoma do dùng cortizol kéo dài, đục thủy tinh thể...

Nguyên nhân

Có rất nhiều yếu tố gây viêm mi như vệ sinh kém, bội nhiễm các vi khuẩn gây bệnh trong vật dụng hằng ngày (khăn mùi xoa chẳng hạn); bụi, ô nhiễm, sử dụng máy điều hòa, chứng khô mắt, đái tháo đường, vảy nến. Chính thầy thuốc cũng có thể góp phần gây viêm bờ mi cho bệnh nhân khi dùng các nội tiết tố như oestrogen, androgen hay điều trị tia xạ kéo dài.

Thủ phạm gây viêm bờ mi thường là tụ cầu, nấm hay demodex. Viêm mi do tụ cầu thường gây chắp hay hay lẹo, loét trợt bờ mi, nặng hơn có thể gây viêm giác mạc ở 1/3 dưới.

Các loại viêm bờ mi

Các nhà khoa học Anh, Mỹ chia các bệnh viêm nhiễm tại mi làm 4 nhóm chính: lẹo, chắp, viêm phần trước mi (viêm bờ mi), viêm phần sau mi (viêm và loạn năng tuyến Meibomius).

Viêm bờ mi

Bệnh nhân thường than phiền về cảm giác nóng rát trong mắt, cộm như có cát ở trong mắt, chảy nước mắt, đau mức độ trung bình tại mắt và mi, đôi khi bệnh nhân cảm giác nhìn mờ, nhất là vào buổi sáng.

Khi thăm khám lâm sàng, thấy bờ mi đỏ, quanh chân lông mi có nhiều chất bẩn và vảy tiết, kèm theo đó là tình trạng giãn mao mạch dọc theo phần trước của bờ tự do. Các lỗ ra của tuyến giãn rộng và nhiều chất bã nhờn. Cũng có thể có tình trạng bã tiết các chất bọt. Thường thì viêm bờ mi sẽ đi kèm với viêm kết mạc, gọi là viêm bờ mi-kết mạc.

Bệnh viêm mi tăng tiết bã nhờn

Chính tên bệnh đã phản ánh bản chất của nó. Thường là bệnh thứ phát trên cơ địa viêm da tăng tiết bã nhờn. Các tổn thương tại da: Ban đỏ, đóng vảy ở chân tóc và vùng mặt, thường có trước những tổn thương tại mi. Các yếu tố thuận lợi cho bệnh phát triển là khí hậu lạnh, nghiện rượu, bệnh lý thần kinh, tình trạng stress hay AIDS. Tiến triển của viêm mi thường song song với tình trạng tổn thương ở da (thoái triển hoặc kịch phát).

Bệnh trứng cá đỏ

Trứng cá đỏ gây phiền toái cho khoảng 10% dân số thế giới, trong đó 50% có biểu hiện tại mắt. Các yếu tố khơi mào cho bệnh phát triển có thể là nhiệt độ bất thường (quá nóng hoặc quá lạnh), da sáng màu, ăn nhiều gia vị hoặc các chất cay, nóng, bia, rượu, thuốc lá…

Những biểu hiện của bệnh trứng cá đỏ rất đa dạng: viêm mi, phình giãn mao mạch ở bờ mi, đa chắp tái phát, kết mạc cương tụ, viêm thượng củng mạc, tân mạch giác mạc, mụn nước và loét bờ mi. Trứng cá đỏ thường đi kèm với loạn năng tuyến Meibomius.

Viêm mi do loạn năng tuyến Meibomius

Tuyến Meibomius là một tuyến ngoại tiết mà các lỗ mở ra bờ tự do của mi, phía sau các chân lông mi. Chức năng của nó tạo ra lớp lipid của phim nước mắt, lớp này có tác dụng chống bay hơi cho phim nước mắt và quyết định chất lượng của phim nước mắt.

Viêm, nhiễm trùng, quá mẫn cảm là những yếu tố có thể thay đổi chất lượng của phim nước mắt và cũng là nguyên nhân viêm bờ mi.

Biến chứng

Hậu quả chủ yếu của viêm bờ mi là cảm giác khô rát mắt. Nguyên nhân là nước mắt bị bay hơi quá nhanh do lớp mỡ của phim nước mắt có chất lượng kém - một hệ quả tất yếu của loạn năng tuyến Meibomius.

Viêm bờ mi có xu hướng mạn tính và kèm theo nó là các biến chứng tiềm tàng và khó tránh khỏi.

Điều trị

Việc điều trị giúp kiểm soát tình hình chứ gần như không thể làm khỏi bệnh hoàn toàn được.

Phương pháp điều trị bao gồm: Vệ sinh cá nhân, chủ yếu là rửa tay, dùng khăn lau loại một lần, massage nhiều lần trong ngày lên bờ mi có dùng găng tay và gạc chườm nóng hoặc dùng gel đặc trị đánh lên bờ mi bằng tăm bông. Các biện pháp trên chủ yếu để dẫn lưu tuyến Meibomius.

Điều trị bằng kháng sinh tại chỗ hoặc đường toàn thân đôi khi rất hữu ích. Các kháng sinh được khuyên dùng thuộc nhóm tetracycline và oxytetracycline như mỡ tetracycline, mỡ posicycline và nhóm sunfamide như bacitracine.

Theo Sức khỏe và Đời sống
TTO - Các nhà khoa học Anh đang có kế hoạch sử dụng tế bào mầm (trong tủy sống) để chữa bệnh mù mắt. Đây là tin vui cho những bênh nhân từ trước đến nay vẫn nghĩ rằng không thể chữa khỏi được.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Những bệnh nhân đầu tiên sẽ tham gia thí nghiệm này trong thời gian năm năm.

Dự án tiên phong này nhằm hồi phục những tế bào võng mạc đã bị hư bằng tế bào lấy từ tủy sống của con người. Những người ủng hộ cho rằng để làm việc này chỉ cần một phẫu thuật đơn giản như phẫu thuật bệnh đục thủy tinh thể và sau một ngày bệnh nhân có thể khỏe mạnh bình thường.

Họ tin rằng biện pháp mới giúp hồi phục nhãn lực của nhiều bệnh nhân, nhất là những người bị suy giảm thị lực do tuổi tác và hay nhìn thấy chấm đen (age-related macular degeneration (AMD)). Đây là một nguyên nhân phổ biến dẫn đến mù lòa ở người cao tuổi, có ảnh hưởng tới 14 triệu người ở châu Âu.

AMD bị gây ra bởi tế bào biểu mô võng mạc (retinal pigment epithelial (RPE)).  

Theo nghiên cứu mới này, những tế bào RPE sẽ được thay thế bởi những tế bào mầm. Sau đó, bác sĩ phẫu thuật sẽ tiêm vào mắt một số tế bào mới, có kích thước khoảng 4 đến 6 milimét.

Dự án chữa trị ADM đã liên kết được nhiều nhà khoa học từ trường Đại học London, Bệnh viện mắt Moorfields ở London và trường Đại học Sheffield. Chương trình nhận được 4 triệu bảng Anh (8 triệu đô la Mỹ) từ một nhà hảo tâm giấu tên ở Mỹ.

Giám đốc dự án, ông Pete Coffey thuộc trường Đại học London cho biết ông tin tưởng rằng quá trình nghiên cứu này có thể áp dụng trên con người nhưng nhóm nghiên cứu cần phải đảm bảo độ an toàn và chất lượng của những tế bào được tiêm vào. Ông cũng nói thêm rằng “Mục tiêu của dự án là trong vòng 5 năm chúng tôi phải chọn ra được 10 hoặc 12 bệnh nhân để đưa tế bào vào”.

Dự án này không mang tính thương mại.  

TAM HÀ (Theo Reuters)