Bà mẹ - Trẻ em - Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
Phân trang 2/5 Trang đầu Trang trước [1] [2] [3] [4] [5] Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
Loperamid (loperamid hydrochlorid), là một loại thuốc được các bác sĩ kê để trị tiêu chảy. Bên cạnh tác dụng làm giảm nhu động ruột, giảm tiết dịch đường tiêu hóa và tăng trương lực cơ thắt hậu môn. Thuốc còn có tác dụng kéo dài thời gian vận chuyển qua ruột, tăng vận chuyển dịch và chất điện giải qua niêm mạc ruột do đó làm giảm sự mất nước và điện giải, giảm lượng  phân. Do thuốc có tác dụng để chữa triệu chứng trong các trường hợp tiêu chảy cấp không rõ nguyên nhân, không có biến chứng ở người lớn và một số tình trạng tiêu chảy mạn tính. Trong đó thuốc được chống chỉ định với những trường hợp mẫn cảm với thuốc hoặc khi cần tránh ức chế nhu động ruột, khi có tổn thương gan, viêm đại tràng nặng, hội chứng lỵ hoặc khi bụng trướng. Thận trọng dùng đối với các trường hợp giảm chức năng gan hoặc viêm loét đại tràng. Khi được các bác sĩ kê thì người sử dụng cần theo dõi nhu động ruột, lượng phân, nhiệt độ cơ thể, bụng trướng... và hãy ngừng thuốc nếu không thấy có kết quả trong vòng 48 giờ (2 ngày) điều trị.
Cho bé uống thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ.

Khi điều trị tiêu chảy cấp thì biện pháp hàng đầu là dự phòng hoặc điều trị tình trạng mất nước và điện giải. Thuốc không có vai trò thay thế liệu pháp bù nước và điện giải bằng đường uống. Đặc biệt trong điều trị tiêu chảy cấp ở trẻ em. Thuốc có tác dụng phụ như táo bón, đau bụng, buồn nôn, nôn. Ít gặp hơn là trướng bụng, nhức đầu, chóng mặt và hiếm gặp là dị ứng, tắc ruột do liệt ruột...

Nếu sử dụng cho trẻ nhỏ (dưới 6 tuổi), thuốc có tác dụng phụ trên hệ thần kinh trung ương như ngủ gật, trầm cảm, hôn mê... Vì vậy, để an toàn trong sử dụng, loperamid  được khuyến cáo không dùng cho trẻ em dưới 6 tuổi mà chỉ được dùng cho trẻ em từ 6 tuổi trở lên.    

Dược sĩ  Trần Thuý Mỵ
(suckhoe&doisong)
[i]Con gái tôi bảy tuổi, bị tình trạng khi mắc tiểu thì tiểu tại chỗ, bằng không nín chạy tìm toilet, đến nơi lại không tiểu được. Mỗi lần cháu nín tiểu trông rất khổ sở, nước tiểu hay rỉ ra quần, ngày nào đi học về cũng bốc mùi khó chịu. Năm ngoái, tôi có đưa cháu đi khám bệnh, bác sĩ làm nhiều xét nghiệm, kể cả bơm nước vào bọng đái nhưng lại kết luận cháu bình thường. Chúng tôi rất lo lắng, mong bác sĩ tư vấn. Đức Trọng (trakhucco@...)[/i]

TS.BS Trương Quang Định, phó giám đốc bệnh viện Nhi đồng 2, TP.HCM: Qua mô tả, có thể bé nhà bạn đang bị chứng tiểu không tự chủ không hoàn toàn, tức vẫn còn phản xạ mót đi tiểu nhưng chưa kịp tiểu mà nước tiểu cứ rỉ ra, không nhịn được hoặc tiểu rồi nhưng vẫn có nước tiểu rỉ ra vài giọt. Cùng với tiểu rỉ ra không tự chủ, bệnh nhi vẫn điều khiển các lần đi tiểu khác. Nguyên nhân đầu tiên phải loại trừ là các dị tật bẩm sinh, như ở bé gái có niệu quản lạc chỗ cắm vào âm đạo một bên. Bạn có thể đưa bé đến khám tại khoa thận niệu của bệnh viện Nhi Đồng 2 vào chiều thứ năm hàng tuần để làm các xét nghiệm cần thiết, nhằm loại trừ nguyên nhân này.

Một nguyên nhân khác hay gặp ở trẻ trong lứa tuổi học đường là do tâm lý. Bàng quang khi căng đầy nước tiểu, tạo nên phản xạ cổ bàng quang mở ra và bé đi tiểu. Nếu bàng quang đã căng mà bé nhịn tiểu, cổ bàng quang cũng sẽ tự động mở và nước tiểu rỉ một ít. Điều này hay gặp ở những bé mắc tiểu trong giờ học nhưng không dám xin phép ra ngoài, hoặc do nhà vệ sinh ở trường không tiện nghi... Ở trường hợp này, bạn chỉ cần làm một thời khoá biểu đi tiểu trong ngày cho bé, cứ đến đúng giờ là phải đi tiểu dù lúc ấy bé chưa mắc tiểu. Sau khoảng từ hai đến bốn tuần, bé sẽ theo thói quen đi tiểu đúng giờ, tránh ứ đọng quá mức của bàng quang và sẽ mất đi hiện tượng rò rỉ nước tiểu.
(sgtt)
Thai máy, còn gọi cử động thai, là một trong những dấu hiệu cho biết mầm sống người mẹ đang mang trong mình có khoẻ không. Theo dõi cử động thai không chỉ mang tính cảm xúc mà còn là thực hành có lợi cho thai, đặc biệt trong các tháng cuối thai kỳ.

[img]http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=118924[/img]

[b]Bao giờ thai máy và máy ra sao?[/b]

Thai được tám tuần tuổi đã bắt đầu có cử động. Tuy nhiên, do những cử động này nhẹ và khối lượng thai quá nhỏ, các thai phụ chưa thể cảm nhận. Người mẹ chỉ cảm nhận được cử động thai khi thai vào khoảng 3 – 4 tháng. Do đã có kinh nghiệm nên các bà mẹ sinh con rạ nhận ra dấu hiệu của thai máy sớm hơn các sản phụ sinh con so. Sau năm tháng, nếu chưa thấy thai máy là dấu hiệu đáng ngại. Những thai phụ có thành bụng dày khó cảm nhận thai máy hơn người có thành bụng mỏng. Lượng nước ối quá nhiều hay quá ít cũng làm thay đổi khả năng cảm nhận. Cảm nhận đầu tiên thường nhẹ nhàng, giống như tôm búng, cá quẫy, có cái gì nhúc nhích trong bụng. Về sau, khi thai càng lớn sẽ cảm nhận rõ hơn cử động đạp, quẫy của bé. Ở những tháng cuối thai kỳ, thai phụ cần phân biệt để đừng nhầm lẫn thai máy với cơn gò tử cung. Gò tử cung làm toàn bộ bụng cứng chắc lên, tuỳ mức độ còn gây đau, trong khi thai máy chỉ cảm nhận ở một vùng bụng.

[b]Giúp biết thai bình thường hay bất thường[/b]

Thai nhi có bốn trạng thái: một là tĩnh lặng, không có cử động, tim thai ít dao động; hai là cử động thường xuyên, lớn, kèm cử động nhanh của mắt và dao động nhiều của tim thai, tương ứng giai đoạn trẻ sơ sinh ngủ tích cực; ba là cử động mắt liên tục, không cử động thai và không gia tăng tim thai; bốn là cử động thai đơn độc kèm cử động liên tục của mắt và gia tăng tim thai. Đa số thời gian thai ở trạng thái một và hai. Cử động thai người mẹ cảm nhận được cũng hầu hết vào trạng thái hai. Theo dõi tim thai và cử động thai bằng máy cũng chủ yếu quan sát được hai tình trạng đầu tiên này. Hoạt động thai theo chu kỳ ngủ tĩnh – ngủ tích cực không ảnh hưởng bởi giấc ngủ người mẹ.

Theo dõi thai máy để đánh giá sức khoẻ thai chỉ nên thực hiện trong khoảng hai tháng cuối thai kỳ và trong khoảng một giờ. Càng quá ngày sinh, cử động thai càng giảm. Trong lúc tỉnh thức, tối thiểu thai sẽ cử động 3 – 4 lần/giờ. Thấp hơn mức này, hoặc thai đang ngủ, hoặc đang có vấn đề sức khoẻ. Cử động quá nhiều (hơn 20 lần) thì coi chừng thai đang bị stress hay chính người mẹ đang căng thẳng. Lúc này cần bình tĩnh, nghỉ ngơi, sẽ thấy thai có cử động nhẹ nhàng lại. Nếu cử động vẫn tăng nhanh, dồn dập, nên đến bệnh viện kiểm tra. Những tháng trước đó, theo dõi thai cử động trong ngày là dấu hiệu cho biết thai có hoạt động, tức còn sống, nhưng yếu hay khoẻ không thể kết luận. Khi thấy cả một ngày mà thai không máy hoặc thai máy ít hơn so với ngày trước thì cần chú ý đây có thể là dấu hiệu thai đang bất thường. Một số người mẹ phản ảnh thai máy nhiều khi nằm nghỉ hay vào buổi tối. Thật ra đây là lúc rảnh rỗi, người mẹ có nhiều thời gian theo dõi thai nên nhận ra cử động thai dễ dàng hơn các thời điểm khác.

[b]Làm gì khi thai máy bất thường?[/b]

Khi tự theo dõi thai máy trong hai tháng cuối, nếu thấy ít hơn mức tối thiểu 3 – 4 cử động thai trong một giờ thì có thể theo dõi tiếp trong một giờ nữa hoặc đến kiểm tra tại bệnh viện. Theo dõi tại bệnh viện, ngoài quan sát cử động thai còn theo dõi cả biến động tim thai theo cử động thai. Xét nghiệm này gọi là NST (Non Stress Test), không có tác động gây kích thích thai. Bên cạnh đó, còn có xét nghiệm ST (Stress Test), quan sát tim thai theo sau kích thích thai, có thể kích thích bằng âm thanh hay lắc thai, mục đích xem tim thai có thay đổi. Một số xét nghiệm khác là CST (Contraction Stress Test), theo dõi tim thai qua biến động cơn gò tử cung, bằng cách tạo ra cơn gò tử cung giống như chuyển dạ, nhằm thử thách xem thai có chịu đựng nổi khi vào chuyển dạ không; xét nghiệm OCT gây cơn gò tử cung bằng cách truyền oxytocin; xét nghiệm BST gây cơn gò tử cung bằng cách se đầu vú, làm kích thích cơ thể tiết ra oxytocin nội sinh, đây cũng là lý do bác sĩ thường khuyên các thai phụ không xoa đầu vú khi vệ sinh vào các tháng cuối thai kỳ hoặc tránh để ai đó tiếp xúc khu vực này, vì có thể gây ra cơn đau chuyển dạ, dễ sanh non. Theo dõi cử động thai tại bệnh viện còn có thể áp dụng các trắc nghiệm sinh học (biophysical profile) hoặc qua siêu âm kèm một số chỉ số khác (tim thai, động tác thở, nước ối…)

Cử động thai máy là dấu ấn đặc biệt, cho người mẹ cảm nhận rõ ràng mầm sống hiện hữu trong cơ thể. Thường người mẹ cảm nhận thai máy vào khoảng sau ba tháng, đã hết thai hành, nên cảm xúc cũng gia tăng theo chiều thuận lợi. Chia sẻ điều này giữa vợ chồng càng làm tăng thêm sự gắn bó. Nói ví von, cảm xúc khi nhận được cử động thai cũng giống như cảm nhận của cặp nghệ nhân cùng sáng tạo sản phẩm và nhận ra sản phẩm đó đã thành hình và phát triển tốt.

ThS.BS Đặng Lê Dung Hạnh

[b]Nghe nhạc sinh con thông minh?[/b]

Một số chương trình chăm sóc thai khuyến khích kích thích thai nhi từ tháng thứ năm trở đi bằng ánh sáng, âm thanh, cho người mẹ nghe nhạc cổ điển không lời… với mục đích phát triển trí tuệ cho trẻ, gọi tắt là thai giáo. Thực hành này có lợi không vẫn chưa có kết luận khoa học. Muốn biết chính xác, phải có nghiên cứu cụ thể so sánh giữa thai nhi áp dụng thai giáo và không áp dụng thai giáo. Đây là nghiên cứu thuộc dạng có can thiệp. Theo y đức, can thiệp trên thai nhi khi chưa rõ tác dụng lợi hại là nghiên cứu không tuân thủ y đức, do đó sẽ không có một nghiên cứu khoa học chính thống nào làm điều này. Những khuyến khích thai giáo có chăng chỉ dựa vào quan sát, lập luận. Bản thân thai nhi nằm trong bụng mẹ cũng đã phải chịu nhiều kích thích từ bản thân người mẹ, như hoạt động trong ngày, tình trạng biến động sức khoẻ, buồn vui giận dữ của người mẹ…
[img]http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=118923[/img]
Thai giáo, nếu cần thực hành, nên là khuyên người mẹ bớt những tác động tiêu cực có thể ảnh hưởng xấu cho thai, như cảm xúc tiêu cực, quá độ, làm việc quá tải, quá no, quá đói…, như quan niệm xưa khuyên sản phụ cười nhiều, nghĩ và làm điều thiện. Việc nghe nhạc nên coi là cách giúp người mẹ thư giãn, quên đi phiền muộn, như vậy sẽ tốt cho sức khoẻ. Từ đó, thai nhi cũng được hưởng lợi. Khi nghe nhạc, chọn loại nhạc gì, cổ điển hay dân ca, cải lương… cũng cần phải phù hợp sở thích của người mẹ thì mới mong đạt được mục đích thư giãn.

...

(SGTT)
Mang thai là giai đoạn mà cơ thể người phụ nữ có nhiều sự thay đổi. Bên cạnh niềm hạnh phúc vì “có tin vui”, bạn còn phải chịu đựng nhiều triệu chứng rất khó chịu khi thai nhi dần phát triển.

Buồn nôn vào buổi sáng chỉ mới là bước khởi đầu cho hàng loạt những rắc rối tiếp theo như ợ nóng, căng cơ, rạn da, đau lưng, phù chân và giãn tĩnh mạch, táo bón. Tùy từng thể trạng mà mỗi người có thể gặp một vài hoặc phải chịu đựng tất cả những triệu chứng kể trên.

Sau đây là một số bí quyết giúp bạn đối phó với những rắc rối thường gặp khi mang thai.

[b]1. Xua tan mệt mỏi[/b]

- Ngủ trưa mỗi ngày. Ngủ trưa là cách giúp cơ thể nghỉ ngơi, tái tạo năng lượng để tiếp tục hoạt động cho hết khoảng thời gian còn lại trong ngày. Khi ngủ, bạn nên kê chân cao hơn tim nhằm tránh tạo áp lực lên chân.

- Tập thể dục mỗi ngày. Các động tác thể dục nhẹ nhàng, đi dạo hoặc bơi sẽ giúp bạn có nhiều năng lượng hơn. Tập thể dục thường xuyên còn giúp cho quá trình chuyển dạ và sinh nở diễn ra dễ dàng. Tuy nhiên, cần tham khảo ý kiến của bác sĩ về việc luyện tập cũng như phương thức tập luyện để đảm bảo an toàn cho thai nhi.
[b]
2. Chữa chứng phù chân[/b]

Để giúp máu lưu thông ở chân tốt hơn, bạn có thể ngâm chân bằng nước ấm và nước lạnh thay phiên nhau. Nước nóng giúp máu tập trung nhiều về chân, ngược lại, nước lạnh lại đẩy máu đi khỏi chân nhanh hơn. Hãy chuẩn bị hai chậu nước ngâm chân, một nóng và một lạnh. Ngâm chân vào nước nóng trong 3 phút rồi chuyển sang chậu nước lạnh trong 30 giây. Thay đổi liên tục như vậy khoảng 6 lần. Cuối cùng, ngâm chân vào chậu nước lạnh.

Sau khi ngâm chân, nên nằm nghỉ ít nhất là 10 phút (nhớ kê cao chân).
[b]
3. “Tiêu diệt” các cơn ợ nóng[/b]

- Sự gia tăng áp lực trong bụng khi đang mang thai có thể đẩy axít của dạ dày trào ngược lên thực quản, gây ra các cơn ợ nóng rất khó chịu. Những loại thuốc giúp làm giảm độ axít trong dạ dày có thể giải quyết rắc rối này. Hãy hỏi ý kiến của bác sĩ để được kê đơn thuốc phù hợp.

- Ăn hạt hạnh nhân. Những hợp chất hóa học trong hạnh nhân giúp giữ axít nằm trong dạ dày bằng cách tăng cường sức mạnh của chiếc van đóng mở giữa dạ dày và thực quản. Tuy nhiên, cũng cần chú ý là loại hạt này cung cấp khá nhiều calo, khoảng 10 calo/ hạt. Do vậy, bạn cần từ bỏ những thức ăn giàu calo khác để tránh bị tăng cân quá mức.

- Tránh những thức ăn có thể “nới lỏng” van dạ dày. Danh sách này bao gồm cà phê, đồ chiên xào, nước trái cây có họ cam, quít, bạc hà, những sản phẩm liên quan đồ chua và chất cồn.

[b]4. Đánh bại cơn đau lưng[/b]


- Tránh đứng quá lâu, đặc biệt là ở những tháng cuối của thai kỳ. Thai nhi lớn, các khớp ở vùng xương chậu lại mềm nên những cơn đau lưng sẽ xuất hiện thường xuyên hơn. Đứng nhiều càng làm cơn đau tăng thêm cả về số lượng và mức độ. Khi buộc phải đứng nhiều, chú ý giữ cho trọng lượng của cơ thể phân đều trên hai chân. Nếu dồn trọng tâm về một bên, áp lực sẽ đè lên phần bên dưới của cột sống và khiến chúng bị nghiêng sang một bên.

- Cần ngồi thẳng lưng trên ghế. Tựa phần lưng dưới vào lưng ghế và ngả người về phía sau. Thường xuyên thực hiện động tác này vài lần mỗi ngày sẽ giúp tăng cường “sức mạnh” cho các cơ có nhiệm vụ nâng đỡ lưng.

- Bố trí chỗ để gác chân khi ngồi tại bàn làm việc.
[b]
5. Đối phó với những rắc rối ở xương cổ tay[/b]


Nhiều bà bầu thường xuyên bị tê và ngứa ở các ngón tay, gây cảm giác rất khó chịu. Nguyên nhân của triệu chứng này là do hiện tượng giữ nước gây ra áp lực lên các dây thần kinh ở phần cổ tay. Để xua tan cảm giác không thoải mái này, hãy thường xuyên tập thể dục cho tay và cổ tay bằng cách xoa bóp các ngón tay hoặc xoay cổ tay mỗi giờ. Chú ý không được bẻ cong cổ tay. Biện pháp này chỉ làm cho tình hình trầm trọng hơn. Bạn cũng có thể mua một thanh nẹp cổ tay (có bán ở tiệm thuốc tây) và đeo chúng khi đi ngủ để cổ tay không bị cong trong lúc bạn đang “say giấc nồng”.
[b]
6. Giải quyết tình trạng rạn da[/b]


Rạn da là tình trạng phổ biến mà hầu hết các bà bầu gặp phải. Những đường kẻ sọc trên da sẽ chuyển dần từ màu hồng sang trắng. Đây là vấn đề không thể tránh khỏi vì da buộc phải giãn ra để bụng và ngực to lên. Vết rạn xuất hiện ở lớp collagen của da, vốn nằm bên dưới bề mặt da. Do vậy, những sản phẩm chăm sóc da không “giúp đỡ” được gì. Tuy nhiên, nếu bạn không tăng cân quá nhiều, những vết rạn da sẽ bớt hiện rõ.
[b]
7. “Xử lý” chứng giãn tĩnh mạch[/b]

Giãn tĩnh mạch xuất phát từ việc tích lũy và tăng khối lượng máu nuôi dưỡng thai nhi. Để giải quyết vấn đề này, bạn nên mang những đôi vớ cao đến gối có bán ở những cửa hàng bán đồ cho bà bầu và em bé. Ngoài ra, có thể hạn chế sự xuất hiện của những tĩnh mạch bị giãn bằng cách sử dụng các loại tinh dầu từ cây bách, chanh hoặc rau thơm để thoa và massage cho chân.

[b]8. Ngăn ngừa chứng táo bón[/b]

Phụ nữ mang thai rất dễ bị táo bón, do đó bạn cần chú ý ăn nhiều những thực phẩm giàu chất xơ như đậu, gạo thô, bánh mì thô, hạt lanh đã xay nát, các loại rau có màu xanh đậm và bông cải xanh.

Hồng Xuân (Theo Besthealthmag.ca)
(PNO)
[i]Con em 5 tháng đang bị viêm phế quản cấp. Em đã cho cháu đi khám và được bác sỹ kê đơn thuốc.

Tuy nhiên, cháu uống thuốc hay bị trớ do thuốc quá ngọt và có loại thuốc hơi khó uống. Xin hỏi em có thể trộn thuốc vào sữa hoặc nước hoa quả hay cháo để cháu dễ uống hơn không?

Nguyễn Ngọc Hà (Phương Mai – Hà Nội)
[/i]
Trả lời:

Việc trộn thuốc vào sữa cũng tùy vào từng loại thuốc vì có thể gây kết tủa, ảnh hưởng đến chất lượng thuốc do đó chị nên tham khảo thêm ý kiến bác sĩ với các loại thuốc con được kê uống.

Với những loại thuốc siro quá ngọt, chị có thể pha loãng thuốc với nước tinh khiết để bé uống đỡ khé cổ và dễ nuốt hơn.

Lưu ý khi cho trẻ uống thuốc, cha mẹ không nên đè ngửa con ra để ép uống thuốc có thể làm trẻ sợ hãi hoặc sặc nước thuốc. Tuân thủ cho trẻ uống thuốc theo kê đơn và đúng liều lượng của bác sỹ. Tư thế cho trẻ uống thuốc với trrẻ nhỏ, ẵm bé ở tư thế ngồi. Đặt muỗng sát miệng trẻ ở giữa hoặc phía cạnh má. Đổ từng ít thuốc một vào miệng trẻ. Cho trẻ uống lại với ít nước. Nếu trẻ không tự mở miệng, mẹ dùng ngón tay ấn nhẹ vào cằm hoặc dùng 2 ngón tay bóp nhẹ ở 2 bên má trẻ để mở miệng bé ra.

Trẻ lớn, cho ngồi hoặc nằm đầu cao. Nên dụ trẻ uống thuốc từ từ bằng các mẹo hay như cho con nếm chút vị thuốc vào đầu lưỡi để trẻ cảm nhận vị ngọt rồi mới cho uống nhiều hơn…

Lan Anh
(afamily)
Đổi sữa cho trẻ là chuyện rất thường gặp trong quá trình chăm sóc trẻ. Thực tế, có người dễ tính trong chọn sữa và đổi sữa cũng rất vô tư theo ý thích hay theo những quảng cáo hấp dẫn trên tivi. Tuy nhiên, cũng có người lại quá lo sợ không dám thay đổi. Hai trạng thái chọn sữa này đều không sai nhưng không luôn luôn đúng.


[img]http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=118275[/img]
Với trẻ nhỏ, không nên đổi sữa thường xuyên vì cơ thể trẻ cần có thời gian để thích ứng với loại sữa đó. Ảnh: Phan Quang

Quyết định đổi sữa cho con cần cân nhắc nhiều mặt: tuổi, tình trạng dinh dưỡng, bệnh lý, sự dung nạp và thích ứng của cơ thể trẻ với những loại sữa khác nhau. Chọn loại sữa nào đều không ra ngoài mục đích cuối cùng là thoả mãn và phù hợp với nhu cầu sử dụng. Ở trẻ em, cần tăng trưởng về cân nặng, chiều cao, trí thông minh, tăng cao mà không tăng cân nhiều,… Bên cạnh đó, loại sữa đang sử dụng cần đạt những yêu cầu như phù hợp độ tuổi, khẩu vị, bé uống nhiều, tiêu hoá tốt, đi cầu phân tốt,… Với nhiều loại sữa khác nhau trên thị trường, chọn loại nào để dùng hoặc đổi sang nhãn hiệu nào phải hết sức lưu ý:

Cần phù hợp độ tuổi của trẻ: trẻ dưới sáu tháng chỉ nên dùng sữa công thức 1, nếu muốn đổi sữa (vì bé bú ít, không lên cân hay táo bón nhiều, ọc sữa nhiều, đi tiêu phân không tốt…) thì phải đổi sang nhãn hiệu sữa khác nhưng vẫn phải thuộc nhóm công thức 1, vì chức năng thận còn non yếu của trẻ chỉ phù hợp với lượng chất đạm trong sữa công thức 1. Trẻ bắt đầu tròn sáu tháng thì phải đổi sang sữa công thức 2 của cùng nhãn hàng của loại sữa đã sử dụng trước đó, vì lúc này chức năng thận của trẻ tốt hơn nhiều và thích nghi được với sữa công thức 2 giàu đạm hơn, tương ứng với nhu cầu đạm gia tăng ở trẻ lớn. Trẻ trên một tuổi có thể dùng nhiều loại sữa trong ngày, có thể dùng sữa tươi… Nếu cần thiết, có thể thay đổi tuỳ theo khẩu vị, ý thích trẻ, hoàn cảnh gia đình,…

Không nên đổi sữa thường xuyên với trẻ nhỏ: vì cơ thể trẻ phải có một thời gian để thích ứng với loại sữa đó, nhằm có sự tiêu hoá hấp thu tốt nhất. Mỗi loại sữa có thể tự tạo ra những môi trường vi sinh đường ruột khác nhau. Khi đổi sữa sẽ làm thay đổi môi trường vi sinh đường ruột, ảnh hưởng đến tiêu hoá hấp thu sữa và thậm chí các loại thức ăn khác.

[b]Không pha chung sữa cũ và sữa mới[/b]

Khi sử dụng sữa, cần làm theo những hướng dẫn của nhà sản xuất về bảo quản, lưu trữ, cách sử dụng,… Vì độ thẩm thấu của mỗi loại sữa có thể khác nhau nên khi pha chung sữa cũ và sữa mới trong một bình sữa cho bé bú, có thể sẽ làm bé dễ bị rối loạn tiêu hoá.

Đừng quá e ngại đổi sữa khi cần thiết: như với trẻ lớn, khi bú sữa bị tiêu chảy hay táo bón thường xuyên, phân xấu, bú quá ít, không lên cân…, chỉ cần chọn một loại sữa phù hợp tuổi, nhãn hiệu tin cậy, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, giá cả phù hợp với kinh tế gia đình. Sau đó cho bé uống thử, theo dõi tiêu hoá hấp thu và sự phát triển của bé để xác định sự phù hợp.

Có thể đổi sữa mới ngay lập tức mà không cần giai đoạn chuyển tiếp: nếu trẻ vẫn thích nghi được, uống sữa mới bình thường giống như sữa trước đó, đạt mục tiêu tăng cân, tăng cao tốt…, việc đổi sữa khi đó thành công. Trong trường hợp bé bú hay uống ít hơn, rối loạn tiêu hoá, không tăng cân,… thì cần có giai đoạn chuyển tiếp: tiếp tục uống sữa cũ nhưng bớt đi một cữ mà thay bằng một bữa bú sữa mới, sau đó mỗi 5 – 7 ngày, thay thêm một bữa bú sữa cũ bằng sữa mới cho đến khi có thể thay thế hoàn toàn, để cơ thể có thời gian thích nghi dần.

Tác động của một loại sữa với từng trẻ không phải chỉ một ngày hay hai ngày là thấy ngay. Vì vậy, sau khi đổi sữa một thời gian tối thiểu hai tuần thì mới có thể tạm đánh giá loại sữa đó có phù hợp với trẻ không. Và một điều rất quan trọng, cần biết rõ những trục trặc của trẻ là do sữa hay do thiếu uống nước, do thức ăn đặc không phù hợp, cơ thể trẻ dị ứng, không dung nạp... Nếu đã thay đổi hai, ba loại sữa mà vẫn không đạt mục tiêu mong muốn thì hãy nghĩ đến rắc rối không phải do sữa mà do nguyên nhân khác. Trường hợp gặp khó khăn khi chọn sữa hoặc đổi sữa, có thể đến tư vấn ở các bác sĩ dinh dưỡng.

BS.CK1 Đào Thị Yến Thuỷ
Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM
(sgtt)
Trong một số trường hợp, phụ nữ mắc bệnh tim mạch không được có thai và nếu có thai phải được bác sĩ (BS) theo dõi sát sao.

Trong thai kỳ, tim phải tăng cường hoạt động

Trong thai kỳ, những thay đổi sinh lý ảnh hường đến hệ tim mạch, bắt tim phải tăng cường hoạt động.

- Tăng khối lượng máu: trong 3 tháng đầu, khối lượng máu tăng đến 40 - 50% tổng lượng máu khi chưa có thai và duy trì suốt thai kỳ.

- Tăng cung lượng tim: cung lượng tim là khối lượng máu được tim bơm ra mỗi phút, sẽ tăng lên 30 - 40% do tăng khối lượng máu.

- Tăng nhịp tim: trong thai kỳ, nhịp tim sẽ tăng lên 10 - 15 lần/phút.

- Giảm huyết áp: một số thai phụ có hiện tượng giảm huyết áp 10mmHg trong thai kỳ, do thay đổi nội tiết tố và tăng lượng máu đến tử cung. Tình trạng này thường không phải điều trị gì, nhưng cần theo dõi.

Theo dõi tim mạch cho thai phụ.
Những thay đổi trên nhằm cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng cho bào thai. Tim bình thường có thể thích nghi với các thay đổi này trong khi tim mắc bệnh có thể bị quá tải. Chúng có thể khiến người mẹ cảm thấy mệt mỏi, khó thở, nhức đầu nhẹ trong suốt thai kỳ. Vì vậy, có một số người mẹ không biết mình mắc bệnh tim mạch cho đến khi có thai.

Mắc bệnh tim mạch, cần tham khảo ý kiến BS khi muốn có thai

Phụ nữ mắc bệnh tim mạch cần nhớ rằng, việc tham khảo ý kiến BS khi muốn có thai là cần thiết và hữu ích. BS giúp đánh giá và giải thích tình trạng bệnh, mức độ an toàn khi mang thai, nguy cơ đối với mẹ và thai nhi, có cần điều trị bệnh ổn trước khi có thai không, có cần dùng thuốc hoặc cách thức điều trị nào trong thai kỳ không…? Việc tìm hiểu và chuẩn bị kỹ trước khi có thai hoàn toàn không dư thừa.

Tùy theo tình trạng sức khỏe và bệnh tim mạch đang có mà người mẹ gặp các nguy cơ khác nhau trong thai kỳ. Thậm chí, một số tình trạng bệnh lý quá nặng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng người mẹ khi mang thai như: tăng áp động mạch phổi nặng, bệnh cơ tim giãn nở có suy tim, hội chứng Marfan có giãn động mạch chủ, bệnh tim bẩm sinh tím, hẹp khít van hai lá, hẹp van động mạch chủ nặng. Với các bệnh lý này, BS có thể khuyến cáo bệnh nhân tránh có thai hoặc gián đoạn thai kỳ.

Cần nhớ rằng, bất cứ loại thuốc nào sử dụng trong thai kỳ cũng có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Để điều trị bệnh tim mạch, người mẹ có thể đang dùng một số thuốc. Chính vì vậy, nếu biết người mẹ muốn có thai, BS sẽ cung cấp một chế độ điều trị an toàn nhất, chỉnh liều hoặc sử dụng thuốc thay thế… Người mẹ không nên tự ý dùng thuốc, ngưng thuốc hoặc chỉnh liều thuốc.

Thai kỳ ở phụ nữ mang van tim cơ học

Người mang van tim cơ học phải uống thuốc kháng đông sintrom mỗi ngày đến suốt đời để làm “loãng” máu, tránh tạo cục máu đông khi dòng máu đi qua van cơ học. Việc uống thuốc này phải có sự theo dõi của BS, vì nếu thuốc chưa đủ liều hoặc quá liều đều có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm.

Do phụ nữ có thai có tình trạng tăng khối lượng máu nên dễ hình thành cục máu đông hơn bình thường. Vì thế, phụ nữ mang van tim cơ học mà có thai dễ bị biến chứng tắc van do cục máu đông. Mặt khác, sintrom có thể đi qua nhau thai nên dùng trong thai kỳ sẽ nguy hiểm: có nguy cơ gây dị dạng thai nhi trong 3 tháng đầu, gây cho mẹ nguy cơ xuất huyết và sảy thai trong 3 tháng cuối thai kỳ. Chính vì vậy, BS có chiến lược sử dụng thuốc kháng đông áp dụng cho thai phụ mang van tim cơ học để đảm bảo van không bị tắc bởi huyết khối, không gây nguy hiểm cho thai nhi và thai phụ trong thai kỳ.

Tóm lại, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản có mang van tim cơ học cần ghi nhớ:

- Khi dùng sintrom phải có kế hoạch ngừa thai, có thể dùng thêm thuốc ngừa thai.

- Nếu muốn có thai phải đến gặp BS để được đổi thuốc kháng đông khác ngoài sintrom.

- Trong thai kỳ, tuyệt đối tuân theo chế độ điều trị kháng đông của BS tim mạch. Thai phụ phải khám thai định kỳ để BS sản khoa theo dõi sức khỏe của thai nhi và mẹ, siêu âm phát hiện có hay không dị tật thai nhi.

Giữ sức khỏe cho mẹ là giữ sức khỏe cho con

Khi mang thai, phụ nữ có bệnh tim mạch cần lưu ý chăm sóc sức khỏe bản thân. Điều này cũng mang lại ích lợi cho thai nhi. Một số biện pháp cần áp dụng:

- Trong thai kỳ, người mẹ phải khám thai theo đúng lịch để theo dõi và xử trí kịp thời các biến cố, uống thuốc theo đúng toa điều trị.

- Thường xuyên nghỉ ngơi, tránh các hoạt động thể lực nặng.

- Theo dõi cân nặng: người mẹ tăng cân theo sự phát triển của thai nhi, tuy nhiên, tăng cân quá nhiều là một gánh nặng cho tim.

- Ngừa huyết khối: khi ngồi, tránh thói quen bắt chéo chân, nên thay đổi tư thế thường xuyên, luân phiên co duỗi 2 chân, thỉnh thoảng đi lại để máu dễ hồi lưu về tim. Mang vớ y khoa bó chân cũng là một biện pháp tốt.

- Giữ ấm: thời tiết quá nóng hay độ ẩm quá cao làm giãn mạch máu khiến tim phải tăng cung cấp máu.

- Cố gắng kiềm chế các cảm xúc như: lo lắng, xúc động…

- Không uống rượu, không hút thuốc lá và không dùng thực phẩm có tính kích thích.

- Việc sinh con với người mẹ mắc bệnh tim mạch là sự kiện có nguy cơ cao nên cần sinh con tại một cơ sở y tế đủ điều kiện theo dõi và xử trí trong quá trình chuyển dạ.

BS.CKI. NGÔ BẢO KHOA
(suckhoe&doisong)
[i]Việc nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ cung cấp cho trẻ nguồn dinh dưỡng tốt nhất để trẻ phát triển khỏe mạnh, mà còn giúp ích nhiều cho cả người mẹ.

BS Lữ Thị Trúc Mai (Bệnh viện Phụ sản Hùng Vương) cho biết như vậy khi chia sẻ với các bà mẹ về lợi ích của sữa mẹ và việc nuôi con bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu.[/i]
[b]
Sữa mẹ: quan trọng với trẻ sơ sinh[/b]

Sữa mẹ, đặc biệt là loại sữa non (có từ ngày đầu sau sinh) chứa nhiều thành phần chất béo cần thiết cho sự phát triển của não, mắt, và sự bền vững của các mạch máu. Những chất béo có lợi này được tiêu hóa hoàn thiện hơn nhờ men lipase trong sữa mẹ.

Sau vài ngày, sữa non chuyển thành sữa chuyển tiếp. Sữa đầu có màu hơi xanh vào đầu cữ bú, lượng nhiều, cung cấp nhiều protein, lactose. Sau đó sữa chuyển sang màu trắng đục vào cuối cữ bú, chứa nhiều chất béo nên cung cấp nhiều năng lượng.

Theo khuyến cáo, các bà mẹ nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu sau sinh vì sữa mẹ chứa những chất kháng khuẩn và kháng thể tốt giúp trẻ nhanh chóng phát triển, phòng chống các bệnh tiêu chảy, dị ứng…, bên cạnh đó còn phù hợp với hệ tiêu hóa của trẻ, đầy đủ các loại sinh tố A, C và các chất dinh dưỡng khác... Ngoài ra, sữa mẹ cũng có hàm lượng sắt cao (chiếm tới 50%).

[b]Lợi cho cả mẹ[/b]

Trong quá trình cho con bú, cơ thể người mẹ tiết ra prolactin kích thích tuyến vú tạo sữa đồng thời giúp tử cung co lại tốt hơn, giảm việc chảy máu sau sinh. Prolactin được sản xuất nhiều vào ban đêm, do đó nếu cho con bú vào ban đêm sẽ đặc biệt có ích để duy trì việc tạo sữa, ngoài ra còn giúp người mẹ thư giãn, nghỉ ngơi tốt... Prolactin cũng có khả năng ức chế sự rụng trứng vì vậy việc có thai trở lại cũng giảm đáng kể.

Việc cho con bú sẽ làm giảm một phần năng lượng của cơ thể mẹ, nên giúp bà mẹ nhanh chóng lấy lại vóc dáng ban đầu.

Nhiều chị em sau sinh cho con bú rất lo lắng vì vòng một không còn săn chắc và thiếu cân đối. Để xua tan nỗi lo lắng này, cách tốt nhất là cho con bú đúng cách. Cho trẻ bú một bên vú cho đến khi cạn sữa, sau đó mới chuyển sang vú còn lại (nếu trẻ chưa no). Điều này sẽ giúp trẻ hấp thu toàn bộ dưỡng chất trong một bầu sữa. Một số bà mẹ chọn giải pháp cho trẻ bú luân phiên hai bên vú trong cùng một cữ bú, như vậy sẽ không cung cấp hết toàn bộ chất dinh dưỡng cho trẻ. Đối với vú còn lại, nếu trẻ không bú hết, mẹ có thể dùng dụng cụ hút nặn sữa ra để tạo sự cân đối cho hai bên ngực.

Trong quá trình cho con bú phản xạ Oxytocin cũng xảy ra. Phản xạ này giúp sữa nhỏ giọt khi con đang bú. Nhiều bà mẹ không có sữa cho con bú sau sinh là do không hình thành được phản xạ này. Để kích thích phản xạ Oxytocin, có thể dùng gạc ấm làm ấm vú, dùng ngón tay nhẹ nhàng ấn vào núm vú, xoa bóp và vuốt núm vú để kích thích núm vú. Ngoài ra, việc xoa bóp lưng cho bà mẹ bằng cách xoa bóp từ trên cổ xuống dọc hai bên cột sống (khoảng 2-3 phút), tạo thành những chuyển động tròn nhỏ từ cổ tới bả vai cũng giúp bà mẹ thư giãn.

Nhật Thương

(PNO)
Sốt ruột vì con gái biếng ăn, sắp 1 tuổi mà chưa đầy 7kg, chị Thủy (Xuân Đỉnh, Hà Nội) liền mua men tiêu hóa cho con dùng thay vì đưa con đi khám dinh dưỡng. Ròng rã 3 tháng trời kiên trì cho con uống men, bé biếng ăn vẫn hoàn biếng ăn...

Biếng ăn ở trẻ có rất nhiều nguyên nhân, men tiêu hóa sẽ không

hiệu quả nếu không đúng bệnh và .còn có thể gây rắc rối khác cho trẻ

Chị Thủy cho biết, con của nhiều đồng nghiệp cũng biếng ăn, đi khám đủ nơi, từ Viện dinh dưỡng, phòng khám tây y - đông y mà tình trạng ăn uống không cải thiện mấy. “Con mình đến giờ vẫn không chịu ăn bột, chỉ uống sữa. Mà mỗi lần uống sữa là mỗi lần khóc khản cả giọng. Xót con lắm nhưng vẫn phải đè ra cho uống. Thấy quảng cáo các loại men vi sinh tăng cường vi khuẩn có lợi cho đường ruột, qua đó kích thích bé ăn ngon miệng nên mình mua về. Kiên trì suốt 3 tháng, với gần trăm gói men mà đâu vẫn hoàn đấy. Chưa kể, khi dừng lại, con có hiện tượng khi thì táo bón, khi thì xì xoẹt, lúc lại phân nhão”, chị Thủy nói.

Đưa con đi khám vì đi ngoài không ổn định sau khi dùng men, chị mới biết con bị loạn khuẩn đường ruột (vi khuẩn lợi - hại trong ruột không tự cân bằng được mà bị phụ thuộc vào men) vì dùng men tiêu hóa liên tục thì chị mới ớ người. Chị vẫn nhớ như in là hướng dẫn sử dụng của các gói men đều ghi rõ dùng được cả khi đi ngoài, khi táo bón hoặc để bổ sung men vi sinh, kích thích bé ăn ngon.

Theo BS chuyên khoa II Nhi Trần Thị Nga, Nguyên trưởng khoa dinh dưỡng, BV Nhi TƯ, tình trạng lạm dụng men tiêu hóa của các bà mẹ hiện nay là quá phổ biến. Thực tế khám - tư vấn dinh dưỡng cho thấy, cả 10/10 bà mẹ ôm con đến khám vì biếng ăn đều đã tự cho con uống đủ các loại men tiêu hóa trước đó. Trong khi đó, biếng ăn ở trẻ có rất nhiều lý do. “Cái khó nhất là đa phần mọi người đều nghĩ uống men chẳng gây tác hại gì nên dù chưa biết hiệu quả thực sự đến đâu, họ vẫn thỏa mái, vô tư mua men về cho con uống”, BS Nga nói.

Cùng quan điểm này, PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) cũng cảnh báo các bà mẹ về việc lạm dụng các loại men tiêu hóa. “Từ “men tiêu hóa” thường được cho là có tác dụng tiêu hóa tốt thức ăn, từ đó kích thích ăn ngon, chẳng có hại gì nên nhiều bà mẹ mua về và vô tư sử dụng. Ở nhiều trẻ, uống men đã trở thành quen thuộc như cơm ăn, uống sữa hằng ngày. Thực tế men là một loại thuốc, đã là thuốc thì phải có chỉ định nếu không sẽ bất lợi cho sức khỏe”, TS Dũng cảnh báo.

Hồng Hải
(dantri)
Nhiều gia đình vì quan tâm chưa đúng mức loại tai biến này nên đã có những ứng xử sơ cứu ban đầu không kịp thời và sai cách, khiến trẻ phải gánh lấy những di chứng nặng nề.

Cho trẻ bú nghiêng bình khoảng 45o là một trong những cách để giúp trẻ tránh sặc sữa. (ảnh chỉ mang tính minh hoạ).
[p align=center]
[img]http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=117045[/img]
Ảnh: Lê Kiên
[/p]
Mới đây bệnh viện Nhi đồng 2, TP.HCM đã tiếp nhận điều trị cho một bé trai gần hai tháng tuổi bị viêm xẹp phổi, nhiễm trùng huyết do sặc sữa khi bú bình. Trước đó, bệnh viện này cũng đã cấp cứu hai trường hợp trẻ bị sặc sữa do mẹ vừa ngủ vừa cho con bú. Tại bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM cũng đã từng tiếp nhận nhiều trường hợp trẻ gặp tai biến sặc sữa nghiêm trọng do người nhà xử trí ban đầu sai cách.

Lỗi người lớn, trẻ lãnh đủ

BS Vũ Hiệp Phát, phó khoa hồi sức bệnh viện Nhi đồng 2, TP.HCM cho biết, trẻ sơ sinh rất dễ sặc sữa, do người thân cho trẻ bú không đúng tư thế (cho trẻ nằm ngửa đầu), bình sữa để không đúng vị trí (sữa không ngập hết núm vú làm trẻ nuốt nhiều hơi), lỗ thông núm vú quá to làm sữa chảy xuống nhanh, bé nuốt không kịp. Do bé chưa có những phản xạ tự bảo vệ khi sặc, nên lúc phát hiện thì hầu hết sữa đã chảy tràn vào khí quản, phế quản, làm tắc các đường hô hấp hoặc cản trở quá trình trao đổi khí giữa phế nang và mao mạch.

Một số trẻ vừa ăn vừa ngủ cũng rất nguy hiểm vì khi đó sữa vẫn chảy nhưng trẻ không nuốt, khi thở mạnh có thể hít sữa lên mũi, gây tắc đường hô hấp. Số khác vì không chịu bú bình, các bà mẹ dùng muỗng hoặc chén đổ sữa vào miệng ép uống khiến trẻ không nuốt kịp, bị sặc. “Với những trẻ bú mẹ, tai biến sặc sữa hiếm xảy ra hơn, có thể gặp trong trường hợp mẹ nhiều sữa mà con lại ăn kém, sữa xuống nhiều nhưng trẻ không nuốt kịp, gây sặc”, BS Phát nói.

Chậm sơ cứu, trẻ dễ chết

Theo BS Bạch Văn Cam, cố vấn khối hồi sức cấp cứu bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM: khi trẻ sặc sữa, nếu không sơ cứu kịp thời, trẻ dễ tử vong, “Ngay cả khi có may mắn cứu sống thì trẻ cũng bị những di chứng về não do thiếu oxy não trong lúc ngưng thở. Nhẹ thì liệt một chi nào đó, còn nặng sẽ bị chậm phát triển, tâm thần, sống đời sống thực vật”, BS Cam nói. BS Cam cũng lưu ý cách sơ cứu ban đầu với trẻ sặc sữa phải tuỳ từng trường hợp:

Trẻ tím tái nhưng sau đó hồng hào, khóc, chơi giỡn được: có thể sữa đã bị tống ra ngoài hoặc trôi xuống khí quản. Cách xử lý thích hợp là không can thiệp gì, bế trẻ lên cho dị vật không đi ngược lên trên, rồi đưa đến bác sĩ ngay.

Trẻ tím tái kéo dài, có biểu hiện khó thở hoặc ngưng thở: đặt trẻ nằm sấp, đầu chúc xuống trên một cánh tay. Dùng lòng bàn tay còn lại vỗ mạnh năm cái vào lưng trẻ (chỗ giữa hai xương bả vai). Nếu trẻ vẫn khó thở thì đặt trẻ nằm ngửa trên một mặt phẳng cứng, dùng hai ngón tay trỏ và giữa ấn mạnh xuống nửa dưới của xương ức. Nếu chưa thấy trẻ thở, lập lại thủ thuật vỗ lưng, ấn ngực từ năm – sáu lần. Trường hợp trẻ ngưng thở, có thể kết hợp các biện pháp trên với thổi ngạt, bằng cách ngậm mũi và miệng trẻ thổi vào cho đến khi lồng ngực trẻ hơi nhô lên. “Sau khi sơ cứu, dù trẻ hồng hào trở lại thì vẫn phải đưa đến bệnh viện để kiểm tra xem còn dị vật không”, BS Cam lưu ý.
[b]
Để phòng tránh trẻ sặc sữa[/b]

Theo BS Phát, lỗ thông của đầu vú cao su trên bình sữa không nên đục quá rộng, vì nếu sữa chảy nhanh, trẻ không nuốt kịp, dễ bị sặc. Tốt nhất là đục một – hai lỗ nhỏ ở bên núm vú. Cho trẻ bú nghiêng bình khoảng 45o để sữa ngập lỗ thông. Cho trẻ bú từ từ, không vội, nhất là với trẻ yếu, trẻ non tháng. Khi bú sữa, nếu trẻ ho hoặc khóc phải ngừng ngay, không cố ép. Không nên cho trẻ tự bú lúc ngủ. Khi dùng muỗng đổ sữa vào miệng trẻ phải làm từ từ, trẻ nuốt hết mới đổ muỗng khác, tránh đổ tràn cả vào mũi trẻ. Chỉ cho trẻ bú khi trẻ tỉnh táo, không quấy khóc.

Nếu bú sữa mẹ, người mẹ nên ngồi, đặt mặt trẻ đối diện vú mẹ và miệng trẻ đối diện núm vú, thân trẻ nằm sát thân mẹ, mẹ đỡ toàn bộ thân trẻ. Một lưu ý khác, các bà mẹ nên kẹp hai ngón tay vào đầu vú để sữa chảy ra vừa đủ, không làm trẻ bị sặc.

Hạnh Thuý
(SGTT)
[i] Từ tháng 10/2010, BV Phụ sản Hà Nội sẽ phối hợp với BV Tai mũi họng Trung ương tiến hành sàng lọc mất thính lực bẩm sinh ở trẻ sơ sinh bằng phương pháp đo lường âm thanh thoát ra từ ốc tai, thực hiện khi trẻ đang ngủ.[/i]

Theo TS Nguyễn Công Nghĩa, BV Phụ sản Hà Nội, trẻ có nguy cơ mất thính lực khi người mẹ mang thai mắc một số bệnh lý: nhiễm cytomegalovirus, rubella (sởi Đức), giang mai, herpes, toxoplasmosis (bệnh mèo cào); tiền sử gia đình có người mất thính lực;  các bà mẹ có tiếp xúc hay sử dụng các thuốc, ví dụ các kháng sinh mạnh điều trị nhiễm khuẩn thuộc nhóm aminoglycosides (gentamycin, kanamycin), hóa liệu pháp chống ung thư, hoặc hóa chất độc hại có thể gây ảnh hưởng đến thính lực; trẻ sinh non hoặc sinh nhẹ cân...

Trúc Khuê
(PNO)
[i]Bé nhà em 13 tháng, cao 74cm, nặng 10.8kg. Như vậy bé có bị lùn không? Bé mới mọc được 4 răng, em có nên bổ xung thêm canxi cho cháu?

[img]http://images1.afamily.channelvn.net/Images/Uploaded/Share/2010/09/21/tremocrang.jpg[/img]
Đỗ Thị Thủy, myadts@..., Lê Chân - Hải Phòng.[/i]
[b]
Trả lời:[/b]

Nếu là bé gái thì chiều cao chuẩn ở tuổi này  là 75,2cm, còn bé trai là 76,9cm, như vậy cháu là con gái thì không bị lùn, nhưng là cháu trai thì thấp, răng cháu mọc cũng ít so với tuổi, bình thường phải mọc 8 – 9 cải rồi, tuy nhiên việc bổ sung canxi còn phụ thuộc vào các biểu hiện khác của bệnh còi xương cho nên tốt nhất em nên cho bé đi khám BS, tùy theo mức độ thiếu canxi mà BS có liều chỉ định cho phù hợp. Còn trước mắt em nên bổ sung canxi từ thực phẩm : tăng cường uống thêm sữa, ăn tôm cua, cá, rau xanh và cho bé tắm nắng để tăng tổng hợp vitamin D giúp bé hấp thu được canxi tốt hơn.

Bác sỹ Lê  Thị Hải - Viện Dinh dưỡng Quốc gia
(aFamily)
Ở trẻ răng sữa sẽ dần được thay thế bằng răng vĩnh viễn. Tuy nhiên, cha mẹ cần lưu tâm đến việc chăm sóc tốt răng sữa của trẻ để tạo nền tảng cho một hàm răng vĩnh viễn được đẹp, chắc, khỏe.

[img]http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2010/09/19/5c3cham-soc-rang-sua-cho-tre1.jpg[/img]

[b] Không cho trẻ ăn thức ăn quá nóng hoặc quá lạnh.
Khi răng sữa mọc[/b]

Thế nhưng có những trường hợp răng sữa không mọc đúng lịch trình, có thể sớm hoặc muộn hơn một vài tháng. Theo các bác sĩ chuyên khoa Răng Hàm Mặt, những trường hợp ngoại lệ này không gây bất cứ ảnh hưởng nào đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Việc trẻ mọc răng trễ có thể do nhiều nguyên nhân. Trước tiên, trẻ thiếu mầm răng từ lúc còn nằm trong bụng do người mẹ ăn uống thiếu chất bổ dưỡng để tạo mầm và vôi hóa răng cho bào thai. Kế đến, nướu lợi trong mầm răng quá dày và cứng khiến mầm răng không trồi lên được. Khi gặp trường hợp này, cha mẹ cần đưa trẻ đến bác sĩ Răng Hàm Mặt để rạch nướu cho răng dễ mọc lên. Cuối cùng, do mầm răng có nhưng lại nằm ngầm trong xương, cũng cần phải đưa trẻ đi khám để các bác sĩ có hướng xử lý kịp thời.

Ở giai đoạn mọc răng sữa, trẻ thường xuất hiện các triệu chứng như: sốt, chảy nhiều nước bọt… sau vài ngày sẽ khỏi. Trong thời gian đó, cha mẹ chỉ cần cho trẻ uống thuốc hạ nhiệt, giữ gìn vệ sinh răng, rơ miệng bằng gạc sạch. Đồng thời sau mỗi lần cho trẻ bú, người mẹ cần cho trẻ uống nước để làm sạch miệng.

[img]http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2010/09/19/8fdcham-soc-rang-sua-cho-tre.jpg[/img]
[b]
Ngăn chặn những thói quen xấu[/b]

Những thói quen tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của răng và hàm, thậm chí còn làm rối loạn một số hoạt động chức năng ở vùng hàm mặt. Đặc biệt, răng sữa cũng có chức năng giống như răng vĩnh viễn. Vì thế, các bậc phụ huynh phải lưu ý, có biện pháp chấm dứt sớm những thói quen xấu này.

[b]Lịch mọc răng sữa[/b]

Thường gặp: có tất cả 20 chiếc răng sữa, 10 ở hàm trên và 10 ở hàm dưới, chúng sẽ xuất hiện ở những thời điểm rất khác nhau ở các trẻ khác nhau:

- 4 răng cửa giữa của hàm trên và hàm dưới: 5 - 8 tháng.

- 4 răng cửa bên: 7 - 10 tháng.

- 4 răng hàm đầu tiên: 12 - 16 tháng.

- 4 răng nanh: 14 - 20 tháng.

- 4 răng hàm thứ 2: 20 – 32 tháng.

Một số thói quen ở trẻ như: mút ngón tay hay núm vú, thở bằng miệng, cắn môi dưới có thể gây ra tình trạng hô (răng và hàm trên đưa ra trước); chống cằm và cắn môi trên dẫn đến móm (răng và hàm quặp vào trong). Bên cạnh đó, trẻ nằm nghiêng một bên lâu ngày sẽ làm lệch một bên hàm; thói quen cắn bút, cắn ngón tay… làm mẻ, mịn răng và chết tủy răng. Ngoài ra, trẻ nhai thức ăn hoài một bên sẽ làm lệch mặt ở bên còn lại.

[b]Mất răng sữa sớm - chuyện bình thường?[/b]

Đến một thời điểm nhất định, răng sữa sẽ lung lay, chân răng sữa tiêu dần và được thay thế bằng răng vĩnh viễn. Một số bậc phụ huynh có quan niệm sai lầm rằng răng sữa mất đi, răng vĩnh viễn sẽ mọc lên thay thế. Do vậy, việc chăm sóc răng miệng cho trẻ không được chú trọng, đặc biệt hễ thấy răng sữa nào bị sâu là vội nhổ. Răng sữa bị mất quá sớm (thường do bị sâu răng) không những ảnh hưởng đến ăn, nhai, phát âm mà còn làm mất thẩm mỹ khuôn mặt, ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa và sức khỏe toàn diện. Mặt khác, việc mất răng sữa sớm khiến răng kế cận bị xô lệch, dẫn đến răng vĩnh viễn mọc lên không đúng vị trí, làm sai lệch khớp cắn. Vì vậy, khi thấy trẻ có dấu hiệu lệch lạc răng và hàm, tốt nhất phụ huynh nên đưa trẻ đến bác sĩ chuyên khoa để khám

BS. NGUYỄN QUÝ
(suckhoe&doisong)
Khoảng 90% người có thai đều bị nôn, buồn nôn giai đoạn đầu, sau đó có khoảng 50% giảm đi ở tuần thứ 14 nhưng còn khoảng 10% ở tuần thứ 20vẫn còn nôn, một số người còn nôn đến tận ngày sinh.
[img]http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2010/09/14/c87thuoc-chong-non-khi-co-thai.jpg[/img]

[b]Điều lưu ý khi chọn thuốc[/b]

Nôn có thể nhẹ (chỉ lợm giọng, buồn nôn nhưng không nôn hay nôn rất ít) không cần hay chỉ dùng thuốc thông thường, tại nhà. Nôn cũng có khi nặng, rất nặng (nôn suốt cả ngày, hết thức ăn thì nôn ra nước, dịch mật, hết nước dịch mật thì nôn khan, gây mệt mỏi gầy sút, mất nước, máu bị cô đặc, bị toan, có khi nguy hiểm đến tính mạng), cần dùng thuốc, điều trị tại bệnh viện.

Nôn là triệu chứng thường xảy ra trong thai kỳ. (Ảnh minh họa)
Nôn thường xảy ra trong 3 tháng đầu thai kỳ. Đó cũng là thời gian thai hình thành phát triển các cơ quan chức năng, dễ cảm thụ, bị dị tật do thuốc, nếu cần thì chọn loại thuốc không gây hại, dị tật cho thai. Trước khi dùng thuốc, cần khám loại trừ các nguyên nhân gây nôn do các bệnh khác, tìm cách điều trị riêng (như nôn do viêm loét dạ dày).

[b]Thuốc chống nôn khi có thai, cách dùng[/b]

Dùng gừng tươi hay khô: kinh nghiệm dân gian dùng gừng tươi cắt lát, chấm muối, nhai (khoảng 20 - 50g) phòng chống được buồn nôn, nôn. Theo nghiên cứu mới của Anh: người có thai dưới 20 tuần, nôn nghiêm trọng, dùng mỗi ngày 4 lần, mỗi lần 250mg bột gừng khô, làm giảm được nôn. Theo đánh giá của các bác sĩ lâm sàng Anh thì hiệu năng chống nôn của 1.000mg gừng khô bằng 10mg metoclopramid. Tính chống nôn của gừng là do làm giảm co thắt dạ dày, gia tăng nhu động ruột. Dùng theo kinh nghiệm cổ truyền hay theo các bác sĩ Anh không thấy tác hại gì cho thai phụ, thai nhi.

Dùng vitamin B6: người có thai bình thường nên bổ sung mỗi ngày 2 -10mg. Nếu bị nôn thì mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5mg vitamin B6… Theo cách đó sẽ phòng chống được nôn mà không gây ra bất cứ tác hại gì cho thai phụ, thai nhi. Vitamin B6 được xem là thuốc đầu tay (ở Mỹ) trong phòng chống nôn cho thai phụ.

Kháng histamin: nữ khi có thai không những bị nôn mà có thể bị dị ứng hay nặng thêm các bệnh dị ứng khác (chàm, mề đay). Nôn hay các bệnh lý này không ảnh hưởng nhiều đến thai nhưng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc ăn ngủ, trạng thái cảm xúc của thai phụ nên bắt buộc phải dùng thuốc chống dị ứng. Tuy nhiên, thuốc chống dị ứng có rất nhiều loại. Thử nghiệm trên động vật không thấy hại, dị tật thai. Tuy nhiên, trên người, chỉ loại có đầy đủ thông tin khẳng định tính an toàn với thai ở liều điều trị như: chlopheniramin, diphenylhydramin, dexchlopheniramin, loratadin, cetirizin thì mới dùng cho người có thai; còn loại chưa có đủ thông tin khẳng định tính an toàn với người có thai ở liều điều trị như: hydroxyzin, ketotifen, deslorartdin, fexofenadin thì tuyệt đối không dùng.

Đặc biệt, cấm dùng hai thuốc kháng histamin có tiềm năng gây xoắn đỉnh như: astemizol, terfenadin (đã bị một số nước và nước ta cấm lưu hành). Trong thực tế, thường dùng cho thai phụ trong cả thai kỳ thuốc meclozin. Thuốc có tác dụng kéo dài. Liều dùng mỗi ngày uống 1 - 2 viên 25mg hay nạp thuốc đạn 50mg vào buổi tối trước khi đi ngủ. Riêng diphenylhydramin, tuy không gây dị tật cho thai, nhưng có thể gây hại thai, hại trẻ sơ sinh nên không dùng chống nôn cuối thai kỳ.

Thuốc có chứa magnesium: là dẫn chất của magnesium (dimecrotic acid 250mg + magnesium 50mg). Thuốc làm giảm co thắt của các cơ trơn, lợi mật, chống co thắt đường mật. Là thuốc chống nôn an toàn khi có thai. Mỗi lần uống 1 viên bọc đường 50mg, mỗi ngày 3 lần.

Các thuốc chống trào ngược dạ dày thực quản: metoclopramid kháng dopamin, làm tăng nhu động của hang vị, tá tràng, hỗng tràng, giãn phần trên của dạ dày, làm dạ dày rỗng nhanh nên giảm sự trào ngược dạ dày - thực quản, nhờ thế mà chống nôn. Các thử nghiệm trên động vật cũng như kinh nghiệm thực tế lâm sàng 25 năm qua cho thấy dùng ở liều điều trị (uống hay tiêm mỗi ngày 5 - 10mg) thuốc không gây hại, dị tật thai. Mới đây, một nghiên cứu (Matok I - 2009) hồi cứu hồ sơ quản lý của 81.703 trường hợp đơn thai và 998 trường hợp phá thai (từ 1998 - 2007 ở Israel), trong đó lần lượt có 4,2% và 3,8% dùng metoclopramid 3 tháng đầu thai kỳ. Kết quả: cho thấy trên những người đơn thai, tỷ lệ dị tật quan trọng với thai ở nhóm dùng thuốc là 5,3% và ở nhóm không dùng thuốc là 4,9%, chênh lệch không có ý nghĩa thống kê. Các phân tích ở những trường hợp chấm dứt thai kỳ cũng cho những kết quả tương đương (theo Journal watch Womens Health 10/6/09). Kết luận của nghiên cứu rộng lớn này một lần nữa khẳng định chắc chắn metoclopramid an toàn cho người có thai. Hiện nay, nó vẫn được dùng chống nôn cho thai phụ. Tuy nhiên, nó kháng dopamin nên khi dùng liều cao có thể gây các triệu chứng ngoại tháp ở thai phụ (rối loạn trương lực cơ cấp tính, rối loạn vận động muộn). Cần thận trọng với người tăng huyết áp, người suy thận nặng (dùng giảm liều), người vận hành máy (vì gây buồn ngủ), người động kinh (vì làm bệnh nặng thêm), không dùng cho người u tế bào ưa sắc, người u tủy thượng thận (vì sẽ có cơn tăng huyết áp kịch phát), đề phòng sốc phản vệ nếu dùng tiêm (vì có chứa sulfid). Không dùng với các thuốc gây tương tác bất lợi như: alcohol, thuốc trị Parkinson (levodoapa, các kháng cholinergic), thuốc an thần, thuốc giảm đau gây nghiện.

Domperidon cũng ức chế dopamin, kích thích nhu động ruột làm tăng trương lực cơ thắt tâm vị, tăng độ giãn của cơ thắt môn vị sau bữa ăn, nhờ thế chống được nôn. Tuy nhiên, chưa chắc chắn an toàn cho thai nên không dùng chống nôn cho thai phụ.

Gừng tươi hay vitamin B6 không độc cho thai, thai phụ có thể tự dùng. Khi dùng những loại này không đáp ứng mới dùng tới các hóa dược khác. Các hóa dược khác chỉ mới có đủ thông tin an toàn với thai ở liều điều trị, trong khi đó có các thuốc cùng nhóm tương tự lại không an toàn cho thai, cần khám để thầy thuốc chọn thuốc, cho liều thích hợp, không nên tự ý (rất dễ bị nhầm).

DS.CKII. BÙI VĂN UY
(suckhoe&doisong)
Một ngày sinh non, trẻ thiệt thòi ngang bằng cả tuần trong bụng mẹ. Nói cách khác, cứ mỗi ngày trẻ được ở trong bụng mẹ đợi đến ngày ra đời, trẻ phát triển bằng cả tuần nếu phải “tự lập” sớm hơn dự định, mà không có được sự trợ giúp về chuyên khoa thích hợp.

Khi nào gọi là trẻ “sinh non”?

Trẻ sinh non khi lọt lòng mẹ ở thời điểm tuổi thai chưa đến 37 tuần (tính từ ngày người mẹ có kinh lần cuối), thường cân nặng của trẻ sinh non nặng dưới 2,5kg.  Khi trẻ có trọng lượng lúc sinh nhỏ hơn 1, 5kg,  chúng được gọi là “trẻ rất nhẹ cân”. Các trẻ này có thể là trẻ non tháng hoặc là trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai,  hoặc có thể là cả hai. Nghĩa là trẻ vừa non tháng, vừa suy dinh dưỡng mà hậu quả để lại trên sự phát triển trí tuệ là rất lớn.

Trẻ sinh non có gì khác biệt  ?

Mối nguy hiểm chung của trẻ sinh non nhẹ cân là sự non nớt chưa hoàn thiện của các chức năng trong cơ thể. Phổi non khiến trẻ thở khó khăn, mạch máu mỏng manh nên dễ bị chảy máu trong não; tim có khi chưa phát triển đầy đủ nên có thể bị bệnh tim bẩm sinh; dạ dày, ruột, các dịch tiêu hóa không đủ nên khó bú; khó bài tiết phân , nước tiểu; hệ miễn dịch yếu nên dễ bị nhiễm trùng. Trẻ càng non tháng càng không có các chất dự trữ quan trọng như đường, chất béo  (DHA, ARA), canxi, sắt vì những chất này chỉ được dự trữ trong ba tháng cuối của thai kỳ.  

Nuôi dưỡng các trẻ này rất khó vì trẻ cần nhiều chất dinh dưỡng, nhu cầu về chất đạm, vitamin và khoáng chất cao mà khả năng ăn vào lại hạn chế,  do kích thước dạ dày không đủ lớn, khả năng tiêu hóa các chất dinh dưỡng cũng thấp hơn do các men tiêu hoá rất ít. Trẻ khó tăng cân, dễ bị trào ngược dạ dày thực quản, dễ ọc sữa và tím tái. Trẻ hay bị chướng bụng, khó đi tiêu, phải xoa bụng giúp,  bé mới có thể đi tiêu được mỗi ngày. Do thiếu men tiêu hóa và niêm mạc ruột dễ bị tổn thương nên trẻ dễ bị viêm ruột. Vào khoảng trên 15 ngày tuổi trở đi,  trẻ dễ bị thiếu máu.

Dinh dưỡng giúp trẻ sinh non vượt qua thử thách

Sữa mẹ là dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ sinh đủ tháng và có thể rất thích hợp cho một số trẻ sinh non bởi thành phần dưỡng chất rất dễ tiêu hoá, dễ hấp thu và chứa nhiều yếu tố miễn dịch giúp trẻ chống chọi với các bệnh nhiễm trùng. Tuy nhiên, hàm lượng các chất thiết yếu như đạm, chất béo, các vitamin và muối khoáng trong sữa mẹ không đủ để đáp ứng nhu cầu cho tốc độ phát triển “bắt kịp” của trẻ sinh non như điều kiện trẻ còn nằm trong bào thai. Tương tự, sự nuôi ăn bằng các sữa công thức dành cho trẻ nhỏ thông thường cũng không đáp ứng được sự phát triển và tăng trưởng của các trẻ sinh non.

Vì vậy, các tổ chức y tế thế giới khuyến cáo sữa mẹ và đặc biệt sữa mẹ được làm giàu dưỡng chất (Fortified Human Milk) là lựa chọn tốt nhất cho trẻ sinh non. Nếu không có sữa mẹ, các bà mẹ nên dùng sữa dành cho trẻ non tháng. Các sữa này phải đảm bảo giàu năng lượng, giàu đạm nhưng dễ tiêu hoá để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của trẻ non tháng. Do trẻ sinh non có nguy cơ bị viêm ruột cao, thành ruột dễ tổn thương nếu thành phần dưỡng chất có áp lực thẩm thấu cao nên việc giảm hàm lượng đường lactose là cần thiết và thay vào đó là thành phần đường maltodextrin giúp giảm áp lực thẩm thấu lên thành ruột.

Ngoài ra, do cơ thể trẻ sinh non nghèo dự trữ chất béo DHA và ARA trong khi nhu cầu về hai chất  này lại cao cho phát triển thị giác và trí não, nên việc bổ sung DHA và ARA trong sữa công thức cho trẻ sinh non là rất quan trọng. Bên cạnh đó, sự có mặt của các vitamin và khoáng chất, ví dụ như sắt là rất cần thiết cho trẻ.

Một trẻ non tháng hồng hào, bú mạnh, đi tiêu, tiểu tốt, ngủ yên là dấu hiệu được nuôi dưỡng đầy đủ, đúng cách và phát triển theo chiều hướng an toàn, có cơ hội rất tốt để phát triển bình thường như các trẻ sinh đủ tháng khoẻ mạnh. Ngược lại, nếu không được chăm sóc, điều trị và dinh dưỡng phù hợp sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển thể trạng và trí tuệ của trẻ sau này.



BS. Nguyễn Thị Thanh Bình
(cố vấn Khoa sơ sinh - BV Từ Dũ)
PNO
Hậu quả của việc cho trẻ nghe nhạc qua tai nghe đã được cảnh báo từ lâu nhưng vẫn còn rất nhiều các ông bố bà mẹ làm ngơ vì nghĩ rằng sản phẩm riêng dành cho thai nhi và trẻ em sẽ chỉ giúp con thông minh, không có tác dụng phụ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Săn lùng sản phẩm cho con



Hiện nay không ít ông bố, bà mẹ trẻ cho rằng: Cho thai nhi nghe nhạc hoặc trò chuyện với thai nhi sẽ giúp đứa trẻ thông minh hơn khi ra đời. Chính vì vậy, những sản phẩm giúp các ông bố, bà mẹ có thể trò chuyện được cho với thai nhi và những sản phẩm tai nghe cho trẻ em trở nên đắt đỏ. Giá của các sản phẩm này có khi lên đến hàng triệu đồng nhưng không ít ông bố, bà mẹ vẫn sẵn sàng rút hầu bao với hy vọng có thể giúp con mình thông minh hơn.



Để tìm mua được bộ sản phẩm tai nghe về cho con trai bé bỏng của mình, anh Hà Văn Thuận (Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội) đã phải mất cả buổi chiều chạy đôn chạy đáo qua tất cả các shop phần mềm, tai nghe mới mua được một bộ.



Anh hồ hởi cho biết: Nghe bạn bè trong cơ quan nói hiệu quả cao lắm nên anh cố lùng mua bằng được. Con trai anh đang trong thời kỳ ăn dặm, hy vọng với chiếc tai nghe này chưa quá muộn cho sự phát triển trí tuệ của bé.



Chị Lê Thị Thanh Hiên (phố Chiến Thắng, Hà Đông, Hà Nội) đang mang bầu tháng thứ 8, từ tháng thứ 4 chị đã cho con nghe nhạc thính phòng, nhạc Mozart. Mỗi khi đặt tai nghe vào bụng chị có cảm giác đứa trẻ cũng cảm nhận được nên nó đạp mạnh hơn.



Quá thích thú, mỗi ngày chị lại cho con nghe nhiều hơn. Chị khoe từ ngày mang bầu chị đã thay hai lần bộ tai nghe dành cho thai nhi. Chị rinh sẵn một bộ tai nghe có giá 750 nghìn đồng dành cho trẻ sơ sinh và trẻ 3 tháng tuổi.



Anh Ngô Đức Hùng, chủ của một shop USB, tai nghe trên phố Xuân Thuỷ, Hà Nội cho biết: Khoảng hơn năm trở lại đây sản phẩm này luôn luôn đắt hàng. Khách muốn mua đều phải gọi điện đặt hàng trước. Các sản phẩm này đều chủ yếu do Trung Quốc sản xuất và được bảo hành 1 năm nên nhiều người ưa chuộng.



Giảm 30% thính giác vì thích nghe nhạc to



Chị Chu Thị Nhài (TP. Nam Định) đưa con trai là cháu Bảo 4 tuổi đi khám bệnh vì thính lực giảm. Chị than thở, bạn bè đồn thổi cho trẻ nghe nhạc có thể giúp bé thông minh hơn nên từ khi mới sinh ra bé Bảo đã được bố cho nghe nhạc thay vì hát ru. Dần dần bé rất thích nghe nhạc và có thể tự điều chỉnh âm lượng.



Gần đây, Bảo có biểu hiện nói to hơn mọi người. Cháu thích nghe nhạc mạnh, vừa nghe vừa nhảy theo, chẳng để ý xung quanh. Nhiều khi mọi người thử nói bình thường nhưng Bảo vẫn không có phản ứng. Ban đầu tưởng con cố tình giả vờ không nghe nhưng dần dần chị thấy lo. Đi khám bệnh, bác sĩ cho biết Bảo bị giảm thính lực trầm trọng.



Nhiều trẻ chỉ thích nghe nhạc khi ăn, nghe càng to càng thích. Bé Nguyễn Văn Lâm (3 tuổi) ở khu đô thị Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội cũng giống với Bảo, thích nghe những bài hát trong DJ và nhạc trong Game Audition. Mẹ Lâm còn cho biết, nếu nghe thấy tiếng nhạc nhỏ là Lâm khóc thét lên, mọi người thử cho bé nghe qua tai nghe thì Lâm mới thôi khóc và nghe đến khi ngủ say. Sau một thời gian nghe nhạc mạnh, Lâm trở nên ăn to nói lớn. Tại bệnh viện, bác sĩ chẩn đoán Lâm bị giảm thính lực tới 30%, bị điếc nhẹ, nếu nghe nhạc lâu ngày, Lâm có thể bị điếc tạm thời.



Cho con nghe nhạc chưa chắc đã thông minh



Theo PGS, TS Nguyễn Viết Tiến (Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Trung ương): "Cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào khẳng định vai trò của những kích thích bằng âm nhạc đến sự phát triển trí tuệ của thai nhi.



Thông thường đến tháng thứ tư, thai nhi có thể phản ứng với những âm thanh bên ngoài nhưng không phải thai đạp mạnh là biểu hiện thích nghe nhạc. Chủ yếu thời gian trong bụng mẹ thai nhi đều ngủ.



Khi nghe âm thanh bất ngờ làm gián đoạn giấc ngủ của trẻ do vậy có thể gây rối loạn nhịp sinh học. Nhiều ông bố bà mẹ có thói quen mở nhạc thật to vì sợ con không nghe thấy là sai lầm. Bởi lẽ, nước ối có khả năng khuyếch đại âm thanh, nếu nghe to sẽ ảnh hưởng đến thính lực của đứa bé sau khi ra đời".



Theo TS. Lương Hồng Châu - PGĐ - Trưởng khoa Tai thần kinh - Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, tuyệt đối không được cho trẻ nghe nhạc quá lớn nhất là nghe qua tai nghe.



Khi cho trẻ nghe qua tai nghe, người lớn không thể kiểm soát được cường độ âm thanh lớn hay nhỏ nên trẻ dễ bị ảnh hưởng tới thính lực.



TS. Châu cho rằng: Để dễ hình dung nhất về thính lực, chúng ta nên hình dung bằng chính mắt của mình. Mắt người nhìn ở một cường độ sáng bình thường, nếu sáng quá sẽ dẫn đến chói mắt, ảnh hưởng đến thị lực. Tai người cũng vậy. Tai cũng có ngưỡng của nó nếu vượt quá sẽ ảnh hưởng đến thính lực.



“Chỉ cho trẻ nghe khi có sự kiểm soát được âm thanh, và chỉ nghe trong một thời gian nhất định. Thực tế đã có nhiều người bị điếc vì nghe nhạc qua tai nghe”, TS. Châu nhấn mạnh.



Theo Pháp luật & Đời sống
Cứ nghe chuyện pha sữa cho con uống, tưởng rằng dễ ợt, và bố mẹ nào cũng có thể thực hiện một cách nhanh chóng. Nhưng thực tế không phải như vậy. Pha sữa không đúng cách khiến bé có thể bị tiêu chảy hoặc táo bón khi uống sữa.

Cách tốt nhất, bố mẹ nên pha sữa vừa đủ một cữ bú và cho con măm măm ngay không phải bảo quản tủ lạnh.

Khi pha sữa, trước hết, bố mẹ cần phải tiệt trùng các dụng cụ pha sữa, bình sữa. Mẹ nên đặt nồi đun sôi nước, sau đó đặt các bình sữa vào đun sôi tiếp 15 phút nữa. Tiếp đó, cho núm vú, nắp đậy, nắp vặn vào đun tiếp 5 phút. Nối nước sôi phải đổ đầy, tránh để núm vú, bình sữa tiếp xúc với đáy nồi.

Nếu mẹ dùng bình thủy tinh cho bé, sau khi đun xong, không nên vớt bình ra ngay. Sự thay đổi nhiệt độ khiến bình rất dễ vỡ đấy nhé!

Trước khi pha sữa cho con,bao giờ bố mẹ cũng phải rửa tay sạch sẽ.

Mẹ chú ý trên nắp/bao bì của hộp sữa bao giờ cũng hướng dẫn rất cụ thể và tỉ mỉ: độ tuổi bao nhiêu, pha bao nhiêu thìa sữa, tương ứng với bao nhiêu ml. Trong hộp sữa cũng luôn có sẵn thìa để đong sữa. Mẹ phải pha đúng và chính xác tỉ lệ này mới đảm bảo đúng dinh dưỡng cho con.
Nếu mẹ pha sữa quá đặc, có thể khiến con bị táo bón và gây hại thận vì làm việc nhiều. Nếu mẹ pha sữa quá loãng, không đảm bảo chất dinh dưỡng cho con.
Bé đã lớn cũng có thể tự pha sữa giúp mẹ đấy!

Mẹ chỉ nên thay đổi tỉ lệ pha sữa khi có sự chỉ định của bác sỹ trong trường hợp con có vấn đề về sức khỏe. Cách tốt nhất để giữ đúng tỷ lệ lượng nước và lượng sữa, mẹ nên pha đủ tỉ lệ nước ấm trước rồi mới cho sữa vào sau.

Đun sôi nước và pha với nước lọc để nguội theo nhiệt độ trên bình sữa quy định. Thông thường là từ 40 – 50 độ C, rót lượng nước cần dùng vào bình. Trước khi pha, mẹ nên nhỏ vài giọt vào mu bàn tay để thử độ nóng của nước. Tránh thử bằng miệng. Nếu nước pha sữa quá nóng hoặc quá lạnh so với nhiệt độ quy định cũng sẽ làm mất cân bằng dinh dưỡng của sữa.

Sau khi cho đủ lượng sữa vào nước, mẹ có thể đậy nắp bình và lắc đều cho đến khi sữa tan hoàn toàn trong nước. Nếu mẹ lắc mãi mà thấy sữa không tan hết, vón cục, nên kiểm tra lại hạn sử dụng của sữa, tránh để bé bị uống sữa có vấn đề.

Mẹ chỉ nên pha một lượng sữa vừa đủ với bé. Nếu bé uống không hết, mẹ có thể uống hộ bé phần sữa thừa. Nếu để lại lượng sữa đó lâu, có thể lượng sữa đó sẽ bị nhiễm khuẩn. Vi khuẩn có thể phát triển trong môi trường nước ấm và theo nước bọt của bé vào sữa.

Nên đậy kín hộp sữa sau mỗi lần sử dụng và để ở những nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp. Hộp sữa đã được mở ra, chỉ nên dùng trong 1 tháng trở lại.

Khi mẹ pha sữa đúng cách mà con vẫn bị táo bón hoặc tiêu chảy, không lên cân, cần hỏi ý kiến bác sỹ hoặc thay đổi loại sữa mẹ nhé!
Sau khi con ti sữa, mẹ cần vệ sinh dụng cụ sạch sẽ: như tráng tất cả bình sữa, núm vú, nắp đậy... qua nước. Sau đó cho dung dịch cọ rửa bình sữa dành riêng cho bé vào để rửa. Dùng bàn chải cọ bình sữa dành riêng cho bé để cọ sạch sẽ, không để vết sữa bám. Có thể dùng muối ăn sát vào bên trong núm vú để rửa sạch các vết sữa. Rửa sạch tất cả các dụng cụ đó dưới vòi nước xối mạnh.

Theo Afamily
Cân nặng của trẻ khi ra đời là một trong những yếu tố đánh giá sức khoẻ quan trọng. Một trẻ sinh đủ tháng phải có trọng lượng hơn 2.500g. Dưới mức này được xem là thai nhẹ cân (có thể có hay không có suy dinh dưỡng). Chuyện thế nào là thai suy dinh dưỡng xin hẹn dịp khác, nhưng rõ ràng ngay cả người không có kiến thức y tế cũng biết hiển nhiên thai nhỏ quá là có vấn đề (suy dinh dưỡng hay sanh non). Giới hạn cân nặng này đã ngày càng tăng theo đà tăng trưởng kinh tế, sự quan tâm dinh dưỡng của các bà bầu và người nhà. Tuy nhiên, không thể cứ cho tăng đến “hết cót”, vì có giới hạn giữa tăng bình thường và tăng bất thường.

Mức giới hạn trên bình thường, trong nhiều năm, đã nhích dần từ 3.000g, 3.500g rồi đến 4.000g. Khi trẻ trên 4.000g, nên xem lại tình trạng bé có ổn không, hay mẹ có những nguy cơ bệnh lý gì không. Một tình trạng rất thường gặp là rối loạn dung nạp đường trong lúc mang thai hay còn gọi tiểu đường thai kỳ, làm cho đường máu xuống chậm hơn mức sinh lý cho phép của bà bầu. Tình trạng này cũng y như bệnh lý tiểu đường của người tiểu đường type 2 (không phụ thuộc insulin, không do giảm insulin mà do insulin hoạt động không hiệu quả), sẽ tự hết trong vòng sáu tuần sau sinh; khoảng 20 – 30% các bà bầu này có khả năng trở thành bệnh tiểu đường type 2 vào tuổi trung niên. Tiểu đường thai kỳ chiếm 10 – 15% các thai kỳ, tuy nhiên, con số này có thể gia tăng trong nhóm không có dinh dưỡng hợp lý. Tiểu đường thai kỳ làm cho bà mẹ có nhiều khả năng bị các bệnh lý của thai kỳ như rối loạn huyết áp, tiền sản giật, sản giật hay hôn mê do đường không được kiểm soát tốt. Với con, có thể gây ra tình trạng rối loạn dinh dưỡng mà thường nhất là béo phì, với trọng lượng rất đáng nể, phương phi nhưng không tốt tướng, thường yếu ớt, mà bác sĩ thường dùng chữ “công tử bột” để người nhà dễ hình dung: mập mạp, trắng trẻo, mà yếu ớt, dễ bệnh…

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Điều quan trọng là bé phát triển đều chứ không phải là cân nặng lớn.

Trẻ của bà mẹ tiểu đường dễ bị các đợt giảm đường máu, hạ nhiệt hay vàng da nhiều sau sanh mà nếu không phát hiện sớm hay điều trị phù hợp có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và phát triển trí tuệ của trẻ; còn trong lúc mang thai, do các đợt dao động đường máu của mẹ, bé sẽ dễ bị đột tử trong bụng mẹ mà không thể biết lý do. Một số nhỏ các bé khác thì có tình trạng suy dinh dưỡng trong bào thai, nên đôi khi cần cho sinh sớm để cứu bé. Ngoài ra, còn hay gặp thêm tình trạng rối loạn nước ối trong lúc mang thai, rất dễ dẫn đến việc kết thúc thai sớm. Đó là chưa kể việc bé quá to có thể làm sinh khó, tổn thương đường sinh dục của mẹ khi sinh hay phải mổ sinh; con cũng có thể bị sang chấn lúc sinh do không lường trước được tình trạng quá to.



Bé quá to có thể làm sinh khó, mẹ dễ bị tổn thương, con có thể bị sang chấn do không lường trước được tình trạng quá to, có thể xảy ra gãy xương đòn ở trẻ sơ sinh.
Nhân tiện, cũng nói luôn khi em bé quá to được sinh ngả dưới, phần khó ra nhất là vai – ngực vì bé có khuynh hướng thu hết cả vai để chui lọt qua khung xương của mẹ. Trong quá trình sinh sẽ có thể xảy ra gãy xương đòn, một cách để thu hẹp khung vai. Gãy xương đòn ở trẻ sơ sinh, thật ra đa số là không nặng nề, xương trẻ sẽ tự lành sau vài tuần băng bất động vùng vai, không cần can thiệp y tế; chỉ can thiệp trong trường hợp có gãy phức tạp hay có di lệch nhiều, gãy kèm xương cánh tay.

Sớm loại bỏ ảnh hưởng xấu lên trẻ

Như vậy, không phải cứ em bé to là tốt. Nhưng làm sao tìm ra tình trạng tiểu đường thai kỳ của bà mẹ để dự phòng những ảnh hưởng xấu đến em bé? Có loại xét nghiệm tìm tình trạng này lúc mang thai: mẹ được cho uống 50g đường và đo đường máu một tiếng sau đó, nếu đường vượt mức cho phép là có khả năng bị tiểu đường thai kỳ, cần làm tiếp test uống 100g đường, đo đường huyết trước uống, 1, 2, 3 tiếng sau đó, khi có hai kết quả cao quá mức, là có tiểu đường thai kỳ, cần theo dõi và điều trị. Đầu tiên bệnh nhân sẽ được hướng dẫn cách ăn uống cho phù hợp (ăn nhiều bữa, giảm đường – bột – gạo, tăng rau xanh và thịt cá, tăng vận động), sau đó nếu không cải thiện sẽ phải dùng tới insulin để giảm đường. Bà bầu tiểu đường sẽ được theo dõi chặt chẽ, thường xuyên hơn nhằm phát hiện sớm bất thường hay biến chứng của mẹ và con. Ngày nay, để giảm lo âu và phiền phức cho bà mẹ, tổ chức Y tế thế giới đã khuyến nghị gộp chung hai test 50 và 100g đường thành test 75g đường – uống 75g đường, đo đường máu trước uống, và sau uống 1, 2 tiếng. Các loại test này đều được làm thường xuyên tại các bệnh viện chuyên khoa sản.

Nếu so với cách nay hơn 10 năm thì cùng với tình hình gia tăng tiểu đường type 2, tiểu đường thai kỳ cũng có khuynh hướng tăng theo, thậm chí không chỉ ở nhóm kinh tế khá giả mà ngay cả nhóm kinh tế khó khăn, có vẻ như do cách thức dinh dưỡng, đặc biệt là lúc mang thai chưa được phù hợp. Các chế phẩm sữa cho bà bầu giúp phần nào cho việc bồi bổ sức khoẻ, bổ sung các khoáng chất cần thiết, đặc biệt là canxi. Nhưng cần lưu ý sử dụng chế phẩm sữa này sao cho phù hợp, hiệu quả mà ít tốn kém nhất, đặc biệt nếu có tình trạng tiểu đường thai kỳ, càng cần lưu ý chọn sữa phù hợp hay chỉ chọn viên bổ sung canxi. Thai phụ nếu tăng cân quá nhanh quá nhiều cũng nên xem lại cách ăn uống, lưu ý bác sĩ khám thai để tìm xem có bị tiểu đường thai kỳ hay không. Tăng cân trong thai kỳ 10 – 15kg là vừa, khi mẹ quá gầy có thể đạt 18 – 20kg, mẹ đã thừa cân thì chỉ mươi cân là đủ.

Để thai phát triển bình thường
Điều trước tiên là thai phụ cần ăn uống tẩm bổ hợp lý, vận động vừa phải, khám thai thường xuyên, lưu ý cân nặng và làm các test kiểm tra sự dung nạp đường để phát hiện sớm tiểu đường thai kỳ, nhằm giảm thiểu tác hại của rối loạn này trên mẹ và con. Thai phụ có tình trạng này sẽ được khám thai kỹ hơn, thường hơn, tốn tiền xét nghiệm nhiều hơn… nhưng xin hãy cố gắng theo chế độ khám thai này, tất cả vì “đàn em thân yêu” to con mà rắn chắc, mạnh khoẻ và phát triển tốt.

Theo SGTT
(suckhoe&doisong)
Chất béo giúp bé có làn da và hệ thần kinh khỏe mạnh. Tuy nhiên, quá nhiều chất béo sẽ gây hại cho sức khỏe của bé và quá ít chất béo cũng nguy hiểm như thế.
Cha mẹ cần giới hạn nguồn chất béo có trong kem, bánh quy, thịt mỡ, bánh ngọt. Chất béo từ sữa, sữa chua, phômai, thịt đỏ, cá sẽ tốt cho bé. Hãy chọn loại dầu ăn ít béo như dầu olive trong quá trình chế biến thức ăn cho bé.

Ngoài ra, các axit béo có trong các loại hạt, rau xanh, cá cũng rất tốt cho bé. Hãy cho bé ăn ít nhất một phần cá chứa dầu như cá hồi (cá thu, cá nục) và một phần cá nước ngọt một tuần.

Tránh những chất béo không có lợi cho bé:

- Thức ăn luộc hoặc nướng tốt hơn rán.

- Chọn phần thịt đã được lọc mỡ.

- Loại bỏ da cá, da thịt gà trước khi cho bé ăn.

(Theo giadinh.net)
Một nghiên cứu mới được xuất bản trên Tạp chí y học Mỹ (The American Journal of Medicine) đã chỉ ra rằng, nuôi con bằng sữa mẹ giúp giảm mỡ bụng, do đó các bà mẹ sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bác sỹ Eleanor Bimla Scharz, ĐH Y khoa Pittsburgh Scharz cho biết, nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm trên 2233 phụ nữ từ 40-78 tuổi, trong đó 405 người chưa làm mẹ, 1125 bà mẹ nuôi con bằng sữa mẹ và 703 bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ.
Theo bà, những phụ nữ đã từng cho con bú sữa mẹ thì ít có khả năng mắc đái tháo đường. Những bà mẹ chưa cho con bú thì tăng 2 lần khả năng mắc bệnh so với các bà mẹ chưa sinh con.
Theo bà Schwarz, mối liên hệ giữa tiểu đường và cho con bú sữa mẹ có thể được giải thích bằng mỡ bụng. Những bà mẹ không cho con bú sẽ có nhiều mỡ bụng hơn khi nhiều tuổi, vì thế cho con bú sữa mẹ sẽ giúp các bà mẹ trẻ giảm cân. Mỡ bụng tăng nguy cơ mắc tiểu đường khi bạn lớn tuổi.
Bà Kimberly D Gregory, phó giám đốc Trung tâm cải thiện chất lượng sức khỏe phụ nữ ở Los Angeles cũng cho rằng chăm sóc con bằng sữa mẹ sẽ giúp bạn giảm cân nhanh và giảm nguy cơ mắc đái tháo đường về sau.
Sữa mẹ là nguồn thức ăn tốt nhất cho trẻ, bú mẹ không chỉ giúp con bạn nhận được nguồn dinh dưỡng tốt nhất giúp chúng phát triển và bảo vệ cơ thể, mà con giúp cho người phụ nữ giảm được nhiều nguy cơ bệnh tật.
Nếu bạn đã biết cho con bú sẽ giúp các bà mẹ giảm chảy máu sau khi sinh, giảm tỷ lệ ung thư vú… thì giờ đây bạn sẽ biết thêm rằng, những phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ trong 1 tháng hoặc lâu hơn giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường về sau.
(Theo giadinh.net)
Vấn đề ăn uống để đảm bảo đủ chất và khoa học cho con cái luôn khiến các bậc cha mẹ đau đầu. Chúng tôi sẽ mách bạn 9 mẹo nhỏ dưới đây.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
1. Cha mẹ kiểm soát thực phẩm dự trữ trong nhà
Bạn chính là người quyết định mua loại thực phẩm nào và khi nào thì sử dụng chúng. Trẻ sẽ chẳng thắc mắc tại sao bạn lại mua dự trữ hàng đống thực phẩm như vậy ở trong tủ lạnh bởi vì chúng sẽ ăn bất kì thứ gì có trong đó. Sẽ chẳng bao giờ trẻ bị đói nếu trong nhà chúng có một tủ lạnh chứa đầy thức ăn ngon lành. Hơn thế nữa, những đồ ăn nhanh trong tủ lạnh lại là loại thực phẩm ít dinh dưỡng, chính vì thế mà bạn chỉ mua một ít sử dụng cho một lần thôi. Gia đình bạn không đến nỗi quá túng thiếu để không mua nổi tủ đồ ăn nhưng hãy cảnh giác, chiếc tủ lạnh đầy ắp thức ăn sẽ khiến cho con bạn bị béo phì.
2. Trẻ tự do lựa chọn những gì chúng ăn
Khi bạn đã quyết định mua loại thực phẩm nào là tốt cho cả gia đình thì hãy để trẻ tự do lựa chọn những gì chúng ăn và ăn bao nhiêu là đủ. Đừng sợ là trẻ ăn quá tự do sẽ dẫn tới béo phì. Bởi vì nếu bước 1, bạn lựa chọn thực phẩm hợp lí thì sẽ không phải lo lắng thêm cho bước 2 này.
3. Chế độ ăn khoa học ngay từ khi con còn nhỏ
Sự ngon miệng phát triển khá sớm và khác nhau ở mỗi trẻ. Ngay từ khi còn là một đứa trẻ, các con bạn đã tỏ ra thích hoặc không thích một loại thực phẩm nào đó. Không nên bắt buộc con ăn những thứ mà con không thích nhưng hãy nghĩ cách sáng tạo ra nhiều công thức chế biến, cho con ăn dù chỉ là một chút để đảm bảo dinh dưỡng nếu thực phẩm đó là cần thiết.
4. Menu cho trẻ khi đi ăn tiệm
Lũ trẻ nhà bạn có thể nhao nhao lên “Con thích ăn xúc xích, con thích ăn pizza, con thích ăn bánh bao….” Chúng sẽ làm bạn ngạc nhiên vì sự thiện chí muốn thử mọi thứ. Đừng làm chúng thỏa mãn vì những thực phẩm ăn nhanh đó không tốt cho con chút nào. Hãy lựa chọn nhà hàng có thực đơn riêng cho trẻ em.
5. Tính toán lượng calo trong đồ uống
Sô đa và những thức uống công nghiệp khác có nhiều calo nên hạn chế. Nước và sữa chính là 2 thức uống tốt nhất dành cho trẻ. Nếu cho trẻ uống nước ép trái cây nên cho trẻ uống nước ép trái cây 100% nhưng cũng không nên quá nhiều, chỉ 1-2 cốc/ngày.
6. Không để đồ ngọt trong phòng của trẻ
Đồ ngọt gây sâu răng và khiến cho trẻ khó có thể hấp thu các chất dinh dưỡng khác. Vì thế, bạn không nên để đồ ngọt ở trong tầm với của trẻ hoặc ở trong phòng trẻ.
7. Thức ăn khôngthể hiện tình yêu
Sẽ tốt hơn nếu bạn nói, mẹ yêu con hơn là dành cho trẻ một chiếc kẹo hoặc một hộp bánh mỗi khi trẻ làm được điều gì đó khiến bạn hài lòng.
8. Trẻ học từ bạn
Hãy trở thành người mẹ ăn uống lành mạnh trước mặt trẻ. Khi bạn dạy trẻ thói quen tốt, bạn hãy cố gắng trở thành một tấm gương của điều đó.
9. Hạn chế thời gian xem TV và chơi game ở trẻ
Khi xem TV hoặc chơi game, trẻ thường ăn đồ ăn vặt kèm theo. Những hoạt động này cũng khiến cho trẻ kém hoạt động. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, trẻ giảm thời gian xem TV sẽ giảm được tỉ lệ béo của cơ thể.
(Theo afamily)
Ngày nào cũng tốn thời gian hầm xương với khoai tây, cà rốt để nấu cháo cho trẻ mà trẻ vẫn ngày càng ốm đi, trong khi mẹ thì ngày càng mập hơn vì gặm thịt trong cục xương hầm.


Theo bác sĩ Đào Thị Yến Thủy, Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM, trong thực tế, có nhiều quan niệm sai lầm của các bà mẹ trong việc chế biến món ăn đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.

Chất bổ không có trong nước hầm

Rất nhiều bà mẹ đến gặp bác sĩ bức xúc tại sao mình bỏ nhiều công sức chăm con kỹ vậy mà con vẫn bị suy dinh dưỡng. Ngày nào cũng tốn thời gian hầm xương với khoai tây, cà rốt để nấu cháo cho trẻ mà trẻ vẫn ngày càng ốm đi, trong khi mẹ thì ngày càng mập hơn vì cứ phải gặm thịt trong cục xương hầm. Các bà mẹ không biết rằng trẻ không thể ăn canh xúp này liên tục trong một tuần. Trẻ nhỏ nhưng cũng đã biết thưởng thức mùi vị, ăn mãi một món rất dễ thấy ngán. Và không phải món ngon của mẹ luôn là món ngon của con. Cho bé ăn uống đa dạng, đổi món thường xuyên là cách tốt nhất để bé nhận được nhiều loại chất dinh dưỡng mà không bị ngán.

Nhiều người quan niệm nước hầm là một thức ăn đặc biệt bổ dưỡng vì họ nghĩ rằng sau khi hầm nhừ một loại thực phẩm nào đó, tất cả những chất bổ tinh túy nhất của thực phẩm đã tan vào trong nước, “phần cái” còn lại chỉ là “xác”.

Tuy nhiên, các phân tích thành phần dinh dưỡng đã cho thấy chất đạm (thịt, cá, tôm...) có nấu trong bao lâu thì vẫn chỉ có ở phần xác mà không tan được vào trong nước, chất xơ trong rau củ cũng vậy. Vì vậy muốn nhận đủ các chất dinh dưỡng, phải cho trẻ ăn cả phần cái (xác) của thực phẩm bằng cách băm nhuyễn, cắt nhỏ, nấu mềm... Phần nước hầm có một vị ngọt rất ngon nhưng lại không có giá trị dinh dưỡng bao nhiêu.

Hâm đi hâm lại

Do quá bận rộn, một số bà mẹ đã phải làm cách này vì thời gian hầm một nồi cháo khá lâu, mà bé lại ăn mỗi bữa không nhiều. Khi hâm lại lần 1 rồi lần 2, lượng vitamin trong rau sẽ mất đi gần hết và có mùi vị khó ăn. Trẻ lại bị ngán vì ăn 3 bữa chỉ có một mùi vị.

Nên hầm một nồi cháo trắng khoảng 3 chén, sau đó múc ra một chén cháo để nấu riêng với thịt heo, rau mồng tơi, dầu nêm nước mắm để ăn sáng, để phần cháo trắng còn lại vô tủ lạnh, rồi trưa múc ra một chén để nấu với thịt bò, rau lang, dầu ăn nêm nước tương, chén cháo còn lại ăn tối với đậu hũ, bí đỏ, dầu ăn nêm đường ngọt. Lưu ý sau khi băm nhuyễn thịt, cá sống, nên đánh tan phần đạm này trong một ít nước lã trước khi bỏ vào nồi nấu chín thì thịt sẽ không bị vón cục lại. Phần rau củ cũng nên băm nhỏ để trẻ nhận được đủ chất dinh dưỡng và chỉ nên nấu rau một lần.

“Lạm dụng” máy xay sinh tố

Có nhiều trẻ 3-4 tuổi, răng mọc đầy đủ rồi mà vẫn còn phải ăn bằng máy xay sinh tố, vì cứ ăn lợn cợn là bị ói. Điều này thường xảy ra ở những đứa trẻ “con cưng” mà bà mẹ thì quá sợ việc trẻ nhợn ói. Để tránh điều này, nên tập cho trẻ ăn những thức ăn phù hợp trong từng thời điểm của trẻ. Khi trẻ 6 tháng tuổi, tập ăn bột loãng rồi sệt dần, 7-8 tháng ăn cháo nhuyễn hoặc bột đặc, 12 tháng thì tập quen với cháo nấu còn hột và các thức ăn mềm như phở, bún, nui..., trẻ 2 tuổi mọc đủ răng hàm thì ăn cơm.

Mỗi khi chuyển tiếp chế độ ăn, những bữa đầu mới tập có thể trẻ sẽ nhợn ói, nhưng sau đó trẻ sẽ quen dần. Nên chuyển đổi dần dần để trẻ dễ thích nghi. “Cai máy xay sinh tố” bằng cách xay thô dần (thời gian xay ngắn lại), sau đó ăn cháo nấu đánh qua rây inox có lỗ hơi to, chuyển dần với cháo hột, cháo đặc, cơm nhão chan canh, rồi cơm hột...

Nêm vừa ăn

Trẻ nhỏ có cảm giác vị giác tốt hơn người lớn rất nhiều, vì con người càng lớn thì lưỡi càng bị “chai đi” và nhiều người già bị mất cả cảm giác này. Vì vậy khi nêm nếm thức ăn cho trẻ, cần nêm nhạt hơn “lưỡi” của bạn một chút. Nếu người mẹ nêm vừa miệng mình thì có lẽ là quá mặn hoặc quá ngọt so với trẻ.

(Theo Người Lao Động)
Nhiễm trùng ối và nhiễm trùng nước tiểu, mẹ bầu cần quan tâm và chú ý thường xuyên trong suốt quá trình mang thai. Nó có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe mẹ và con.

1. Nhiễm trùng nước ối


Khi mẹ mang thai, màng ối sẽ hình thành chứa nước ối bên trong. Màng ối có nhiệm vụ che chở không cho vi khuẩn xâm nhập vào tử cung. Nước ối bảo vệ thai nhi chống lại việc bị nhiễm khuẩn. Màng ối và nước ối giúp thai nhi bơi và hoạt động trong môi trường tinh khiết tuyệt đối. Nếu màng ối vỡ, nước ối sẽ chảy ra ngoài, thai nhi không được bảo vệ, nuôi dưỡng.

Nếu mẹ bị viêm nhiễm đường sinh dục trước hoặc trong thời kỳ mang thai, không được điều trị dứt điểm đúng cách, vi khuẩn có thể xâm nhập, gây viêm màng ối, khiến màng ối có thể vỡ ra trong bất kỳ thời gian nào của thai kỳ.

Bé sinh trong tình trạng vỡ ối non, nhiễm trùng ối rất khó cứu sống. Nhiễm trùng ối còn gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của sản phụ.

Mẹ cần chú ý nếu bị rỉ ối, màng ối mòn dần, cảm giác như bị són tiểu. Nếu thấy vùng kín thường xuyên ẩm ướt, mẹ nên đi khám hoặc hỏi ý kiến của bác sỹ chuyên khoa phụ sản. Nếu có dấu hiệu nghi ngờ, bác sỹ sẽ phải theo dõi liên tục, siêu âm khối lượng ối, lấy dịch ối để kiểm tra xem có phải rỉ ối không và có hướng điều trị.

Trong trường hợp mẹ bị viêm nhiễm, bác sỹ hướng dẫn điều trị như đặt thuốc, dùng dung dịch vệ sinh như thế nào, mẹ bầu nên nghe theo. Thực tế có rất nhiều mẹ coi đó là chuyện lằng nhằng, đau rát hay ngứa một chút không sao, nên đã bỏ chuyện dùng thuốc. Điều này dễ dẫn tới việc vỡ ối non, nhiễm trùng ối.

Mẹ bầu nên uống nhiều nước, tốt cho nước ối và lợi tiểu

2. Nhiễm trùng đường tiết niệu


Đó là trường hợp vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể mẹ qua con đường niệu đạo. Vị trí niệu đạo của phụ nữ rất gần với âm đạo và hậu môn nên dễ bị nhiễm trùng đường tiết niệu. Trong thời gian mang thai, thai nhi lớn dần, tạo sự chèn ép, làm giãn đài bể thận, gây ứ đọng nước tiểu, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Từ đó gây nhiễm khuẩn niệu đạo, viêm bàng quang hoặc lan đến thận, gây viêm thận – bể thận cấp.

Dấu hiệu bị nhiễm trùng đường tiết niệu trong thời gian mang thai dễ nhận biết. Mẹ đi tiểu nhiều lần, cả ban ngày lẫn ban đêm, lúc nào cũng buồn tiểu dữ dội và khi tiểu có cảm giác nóng, rát, đau.

Nghiêm trọng hơn, mẹ có thể đi tiểu ra máu và sốt cao, đau lưng, mạch đạp nhanh, mệt mỏi, ngủ li bì, phù nề toàn thân. Trường hợp nặng, mẹ bầu có thể suy thận cấp, sảy thai, thai chết lưu, băng huyết, nhiễm trùng máu.

Cách phát hiện và phòng tránh: mẹ bầu phải xét nghiệm nước tiểu định kỳ 3 tháng/lần. Không được nhịn tiểu. Khi có dấu hiệu buồn tiểu, phải cố gắng đi ngay. Nhiều chị em thấy nhà vệ sinh công cộng bẩn nên nhịn tiểu, gây nguy hiểm cho thai nhi.

Mẹ bầu phải uống nhiều nước. Những ngày nóng, có thể nửa tiếng uống 1 cốc nước chứ không cần đợi đến khi khát mới uống. Khi có những dấu hiệu đau rát, cần báo ngay với bác sỹ chứ không nên đợi đến khi đã quá muộn.

Nếu cần, có thể làm xét nghiệm nước tiểu để xác định chính xác xem có bị nhiễm trùng đường tiết niệu hay không. Nếu phát hiện sớm, bệnh có thể chữa trị dứt điểm hoàn toàn.

(Bài viết có sự tư vấn của Ths, Bác sỹ Mai Trọng Hưng - Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, phòng khám 35 Vạn Bảo - Hà Nội)

Bảo Châu
(aFamily)
Do phải đi làm nên em vắt sữa dành trong tủ lạnh cho bé ngày hôm sau dùng. Sữa mẹ để dành như vậy có nên không hay dư thì bỏ, cho bé uống sữa công thức?

Bé của em được 8 tháng, nặng 8.3kg. Hiện tại bé vẫn bú Mẹ hoàn toàn và ăn đặm ngày 02 bữa, mỗi bữa hơn nửa chén bột ngọt. Em đang tập bé ăn bột mặn nhưng khi bé ăn gì thì bé đi tiêu lại ra thức ăn ấy, mặc dù mỗi lần bé chỉ ăn khoảng 1 muỗng ăn cơm (pha loãng). Sữa mẹ vẫn đủ cung cấp cho bé, nhưng do phải đi làm nên em vắt sữa dành trong tủ lạnh cho bé ngày hôm sau dùng, chiều về cho bé bú mẹ. Cho em hỏi:


- Có nên tập thêm 1 cữ ăn nữa không? Vì em thấy bé lên ký chậm.

- Sữa mẹ để dành như vậy có nên không hay dư thì bỏ, cho bé uống sữa công thức?


(Nguyễn Thị Bích Liên, quynienl79@...)

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Trả lời:


Cân nặng của cháu là bình thường. Tuy nhiên, bé 8 tháng tuổi mà chỉ ăn ngày 2 bữa là quá ít. Bên cạnh bú mẹ bé cần ăn 3 bữa chính/ngày gồm bột mặn có đầy đủ 4 nhóm tinh bột, đạm, rau quả, dầu ăn. Ngoài ra ăn thêm các bữa phụ như: sữa chua, hoa quả, váng sữa… Thức ăn có ảnh hưởng đến màu sắc phân của bé vì vậy chị cần theo dõi xem có phải con bị đi ngoài phân sống hay không? Nếu đúng thì cần cho cháu đi khám tiêu hóa. Khi nấu ăn cho cháu cần lưu ý nấu thực phẩm chín kĩ, hạn chế cho dầu ăn nếu cháu bị đi ngoài.


Về việc chị vắt sữa mẹ để dành cho con bú là rất tốt. Tuy nhiên cần lưu ý cách bảo quản sữa mẹ để đảm bảo chất dinh dưỡng. Tốt nhất là chỉ nên dùng sữa mẹ bảo quản trong tủ lạnh khoảng 48 giờ mặc dù có thể bảo quản được lâu hơn.


Lưu ý: Khi làm lạnh sữa, chất béo trong sữa sẽ tạo thành một lớp mỏng trên bề mặt. Vì vậy, khi làm ấm sữa nên lắc đều để tái phân bố lại lớp chất béo này. Chỉ làm ấm sữa bằng cách ngâm trong cốc nước nóng cho sữa ấm tới nhiệt độ bé có thể bú. Không đun sôi sữa, hấp lại sữa bằng lò vi sóng vì sẽ làm mất các chất bổ dưỡng của sữa mẹ


Nếu có thể trước khi đi làm chị mới vắt sữa cho con bú để rút ngắn thời gian phải bảo quản sữa trong tủ lạnh.


Lan Anh
(afamily)

Trầm cảm

2010/08/16    15:36    {entryviewsnum}    Bà mẹ - Trẻ em Ko chỉ định
Những phụ nữ mắc bệnh trầm cảm sau sinh (TCSS) thường kèm theo trạng thái lo sợ con mình sẽ bị hại và bản thân mình là người mẹ xấu.

Có những bà mẹ còn nghĩ con mình bị ma quỷ nhập nên tìm cách trừ tà. Điều này rất nguy hiểm đến tính mạng của bé. Có khi bà mẹ mang dao đâm người thân chỉ vì hoang tưởng bị hại. Nếu mắc bệnh nặng, sản phụ có ý định hay hành vi tự tử.

Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh TCSS, trong đó có yếu tố giảm đột ngột estrogen và progestrogen. Bên cạnh đó, hormone tuyến giáp giảm nhanh chóng cũng gây ra cảm giác mệt mỏi và trầm cảm. Sản phụ cũng bị thay đổi về thể tích máu, huyết áp, hệ miễn dịch và chuyển hóa dẫn đến tình trạng mệt mỏi và dễ thay đổi cảm xúc. Ngoài ra, còn do mâu thuẫn gia đình, vấn đề tài chính, thiếu sự giúp đỡ của người thân. Một số sản phụ còn gặp khó khăn trong chăm sóc bé. Nhiều bà mẹ cảm thấy căng thẳng, mất ngủ, lo lắng về việc này. Từ đó cảm thấy mất hứng thú sống và mất kiểm soát cuộc sống bản thân…

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Ảnh: Gettyimages.com



Những sản phụ từng bị trầm cảm thì nguy cơ lặp lại đến 50% cho lần sinh kế tiếp. Còn nếu từng bị trầm cảm khi chưa có thai thì khi sinh con, khả năng bị trầm cảm là 25%. Đối tượng bị TCSS cũng hay gặp ở phụ nữ dưới 18 tuổi, người lần đầu tiên làm mẹ, những chị em bị hiếm muộn, thất nghiệp, thiếu sự giúp đỡ, đồng cảm, chia sẻ của người thân, đặc biệt là người chồng. Thậm chí, mâu thuẫn vợ chồng, mâu thuẫn với mẹ chồng, hay có thai không như mong muốn... cũng là những nguy cơ gây nên TCSS.

Phụ nữ mắc bệnh TCSS thường có biểu hiện suy nhược cơ thể, lo lắng, hốt hoảng, khóc lóc mà không có lý do cụ thể, cảm giác bị chồng bỏ rơi mà không có căn cứ. Người bệnh đôi khi cảm thấy đau dữ dội ở đâu đó nhưng bác sĩ lại chẳng tìm ra nguyên nhân. Thường là đau ở đầu và cổ. Những người khác lại đau lưng, đau ngực, có thể là do các vấn đề về tim. Ngoài ra, sản phụ còn bị ám ảnh, có thể về một người, một tình huống hay một hoạt động cụ thể nào đó. Vài người có thể trở nên sợ hãi và tin rằng mình là mối nguy hại cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là đứa trẻ. Người mẹ cảm thấy trí nhớ giảm sút, đôi lúc không sắp xếp được suy nghĩ. Bà mẹ cũng rối loạn trong giấc ngủ và mất hứng thú chuyện tình dục.

Do đó, khi thấy những triệu chứng trên, gia đình nên hiểu rằng bệnh đang ở giai đoạn tạm thời và sự giúp đỡ của họ có thể giúp cho người mẹ phục hồi nhanh chóng. Thường thì một người mẹ trầm cảm không thích sự cô độc, do vậy hãy cố gắng sắp xếp để lúc nào cũng có một người mà cô ta có thể tin tưởng ở bên cạnh. Đồng thời, nếu người mẹ biết mình bị TCSS thì nên đến bác sĩ càng sớm càng tốt, hoặc có thể mời bác sĩ đến nhà. Bên cạnh việc dùng thuốc thì điều quan trọng là phải duy trì chế độ dinh dưỡng tốt, bổ sung vitamine B6 hoặc vitamine tổng hợp.

TS-BS Lê Thị Thu Hà
(Trưởng buồng khám thai,
BV Từ Dũ TP.HCM)

Chăm sóc, chia sẻ những băn khoăn, lo lắng cho “nửa kia” của mình trong quãng thời gian “9 tháng 10 ngày” là trách nhiệm và cũng là niềm hạnh phúc của các ông chồng. Một cuộc cách mạng trong ngành công nghiệp mỹ phẩm dành riêng cho phụ nữ khi mang thai cũng bắt đầu từ tình yêu thương và trách nhiệm đó.

Huyền thoại sinh ra từ tình yêu :

Khi Annette Rubin – chuyên viên một hãng mỹ phẩm cao cấp của Mỹ mang thai đứa con đầu lòng, cô đã tìm kiếm những sản phẩm chăm sóc da an toàn để sử dụng trong giai đoạn này vì cô hiểu rõ tác hại của mỹ phẩm đối với thai nhi. Tuy nhiên trên thị trường lúc đó lại không có bất cứ sản phẩm nào đáp ứng được mong muốn đó.

Annette đã chia sẻ với chồng – bác sĩ Jason Rubin - về những khúc mắc đó và nhận được sự cảm thông sâu sắc từ anh. Băn khoăn về những trăn trở và mong muốn của vợ mình nói riêng cũng như những phụ nữ mang thai khác nói chung, Jason RuBin đã miệt mài nghiên cứu dòng sản phẩm chăm sóc da chuyên dụng với độ an toàn tuyệt đối  dành cho phụ nữ mang thai, bà mẹ cho con bú và trẻ nhỏ.

Là một bác sĩ có kinh nghiệm sâu rộng trong các  lĩnh vực sản khoa, nhi khoa,  da liễu và cấp cứu, đồng thời là thành viên của Hiệp hội Quái thai học và Tổ chức chuyên gia về thông tin quái thai học, ông Rubin  đã cùng những cộng  sự của mình nghiên cứu về các thành phần độc tố trong mỹ phẩm có thể gây dị tật thai nhi và loại bỏ chúng hoàn toàn trong các sản phẩm chăm sóc da mà ông sáng chế.
Kết quả của tình yêu, trách nhiệm và sự lao động miệt mài đó là sự ra đời của thương hiệu chăm sóc da Belli.

Thành công của bác sĩ Jason Rubin đã mang lại  cơ hội “làm đẹp trong an toàn” không chỉ cho phụ nữ Mỹ khi Belli được đánh giá là mỹ phẩm chăm sóc da đạt tiêu chuẩn an toàn,  dẫn đầu ngành công nghiệp chăm sóc da cho bà bầu với các tiêu chuẩn an toàn tiền sản cao nhất hiện nay.

Với 3 dòng sản phẩm cao cấp và an toàn đang được rất nhiều các ngôi sao Hollywood cũng như những bà mẹ trẻ tin dùng: Belli Pregnany (cho bà mẹ mang thai); Belli Motherhood (cho bà mẹ đang cho con bú) và Belli Baby (cho bé yêu),  Belli thực sự đã trở thành một sản phẩm làm đẹp hoàn hảo vì  an toàn cho cả bé và mẹ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Belli – hãng mỹ phẩm đầu tiên áp dụng quy trình sàng lọc dị tật thai nhi :

Sử dụng mỹ phẩm trong thời gian mang thai, các bà mẹ phải rất cẩn trọng, bởi nhiều thành phần có trong hóa mỹ phẩm có tác động không tốt đến sự phát triển của thai nhi bởi nó có thể hấp thu qua thành mạch máu và có khả năng ảnh hưởng đến chất lượng sữa mẹ. Nhiều phụ nữ đã rất băn khoăn trong việc lựa chọn những sản phẩm chăm sóc da vừa hiệu quả vừa an toàn.

Hiểu được những băn khoăn đó,  nên ngoài mục đích chăm sóc và làm đẹp, yếu tố an toàn trong các sản phẩm của Belli đã được đặt lên hàng đầu. Belli là hãng mỹ phẩm chăm sóc da duy nhất trên thế giới có áp dụng quy trình sàng lọc dị tật thai nhi của Hiệp hội quái thai học và Tổ chức chuyên gia về thông tin quái thai học. Sản phẩm được cấp chứng nhận của FDA (Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ), được Hiệp hội Sản khoa và Nhi khoa Hoa Kỳ khuyên các bà mẹ nên dùng.

Như một thông điệp gửi gắm tình yêu chân thành và trách nhiệm cao cả - mong muốn tất cả các bà mẹ và bé yêu trên toàn thế giới được chăm sóc và bảo vệ an toàn, hiện Belli đã có mặt tại Việt Nam. Các bà mẹ quan tâm đến sức khỏe, sự an toàn của mình và bé yêu hãy click vào webite www.Belli.vn (link vào trang web) để cùng tham khảo và chia sẻ. Hoặc gọi điện đến hotline 0904994141 để nhận được sự tư vấn tốt nhất về sản phẩm từ chuyên viên của nhà phân phối Belli tại Việt Nam.

Quỳnh Hương
(PNO)
Khi trẻ gặp một số vấn đề khó khăn trong việc sử dụng sữa như: nôn trớ, đầy hơi, khó chịu, tiêu chảy, nôn ói, nổi mẩn, phát ban, dị ứng… Nếu không được phát hiện xử trí kịp thời có thể dẫn tới hậu quả trẻ bị phát triển dị ứng đa thức ăn, chàm, thiếu máu, hen suyễn, viêm mũi dị ứng, suy dinh dưỡng… Trên thực tế, tình trạng bệnh của trẻ ngày một nặng thêm, nguyên do xuất phát từ những quan niệm sai lầm của cha mẹ.

Từ nghĩ bệnh không có gì nguy hiểm…


Với nhiều bà mẹ, do không biết con bị dị ứng sữa nên không tìm được giải pháp khắc phục tối ưu nhất. Khác với họ, chị Trần Thanh Hằng biết rõ con mình bị dị ứng sữa nhưng cứ vẫn chặc lưỡi: “Chẳng có vấn đề gì”. Chị kể, do sinh mổ nên khi sinh bé ra 3, 4 ngày đầu, chị vẫn chưa có sữa. Chị phải cho bé bú sữa bò. Bé tiêu hóa bình thường và không có hiện tượng gì đặc biệt cả. Sau đó, bé bú mẹ hoàn toàn, từ tháng thứ 3 trở đi, sữa chị bỗng ít đi phải bổ sung sữa ngoài cho con. Lúc đầu, bé bú rất ngon miệng, nhưng rồi tức thì bé nôn hết chỗ sữa vừa bú. Nôn như vòi rồng tất cả chỗ sữa vừa ăn, chị cho bé uống lại bao nhiêu, bé lại nôn hết bấy nhiêu. Chị phải cho bé nghỉ một cữ bú và ngủ, sau mấy giờ mới cho ăn lại được. Tìm hiểu một thời gian, chị biết là con mình bị dị ứng sữa. Nhưng lại suy nghĩ, trẻ con chuyện ăn uống bị nôn ói là “chuyện thường ngày ở huyện”, bé nôn rồi thì cho ăn lại, chẳng có vấn đề gì. Hơn nữa, sợ đưa bé đi khám lại phải thuốc thang chẳng tốt cho sức khỏe của bé.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Sinh con được đúng một tháng thì chị Lê Thị Nga bị mất sữa. Chị đã phải sử dụng sữa bột thông thường cho con uống. Được một thời gian, chị thấy con đi phân lỏng, rồi xuất hiện máu trong phân, da nổi mẩn đỏ. Cho bé đi khám, chị biết bé bị dị ứng sữa bò và khuyên nên sử dụng loại sữa công thức dành cho trẻ bất dung nạp sữa. Chị cũng muốn mua cho con dùng nhưng lại băn khoăn với nhiều câu hỏi: sữa dành cho trẻ dị ứng có đủ chất dinh dưỡng bằng các sữa khác dành cho trẻ bình thường không? Cuối cùng, chị quyết định vẫn sử dụng sữa bột thông thường cho con vì nghĩ chắc cũng chẳng sao.

…Đến nhầm lẫn với các bệnh lý khác

“chắc con bị bệnh về da”, là suy nghĩ của nhiều bà mẹ khi con có một trong những biểu hiện của dị ứng sữa như: phát ban, nổi mẫn đỏ. Cứ chắc bẩm sữa mẹ là tốt nhất, nên khi thấy con da cứ nổi mẫn đỏ sau mỗi cữ bú, chị Thiên Nhi (Bình Dương) lại cho rằng: chắc do da trẻ em rất nhạy cảm nên dễ bị viêm da do dị ứng. Chị không hề biết rằng: sữa mẹ cũng có thể gây ra tình trạng dị ứng ở trẻ sơ sinh do chế độ ăn uống của người mẹ. Đôi khi, chỉ cần mẹ ăn trứng hoặc uống sữa là trẻ cũng xuất hiện các dấu hiệu của dị ứng do hấp thụ một phần các chất này qua sữa mẹ. Để tránh trường hợp trẻ bị dị ứng khi bú mẹ, người mẹ cần loại bỏ các thực phẩm này ra khỏi bữa ăn.

Tuy nhiên, nghĩ con bị rối loạn tiêu hóa hay viêm đường ruột lại là những sai lầm thường gặp hơn cả. Rất nhiều bà mẹ khi thấy con nôn trớ, đầy hơi, khó chịu thậm chí bị táo bón, tiêu chảy hay đau bụng thì chỉ chăm chăm nghĩ tới việc bé có vấn đề về đường ruột. Theo các BS, những quan niệm sai lầm như: suy nghĩ dị ứng sữa không có vấn đề gì, uống sữa với công thức đạm đậu nành tinh chế có tốt bằng sữa chứa đạm sữa bò hay không? Hoặc chỉ nghĩ tới những bệnh lý khác khi trẻ có các triệu chứng của tình trạng dị ứng sữa… là rất nguy hiểm cho trẻ. Bởi với những trẻ này thì phải điều trị bệnh càng sớm càng tốt.

MINH ANH
(suckhoe&doisong)
Nhiều người mẹ thắc mắc không biết nên cho bé bú bao nhiêu là đủ?, làm thế nào để biết bé đã bú đủ, bú no hay chưa?

Con trai tôi 5 tháng tuổi, nặng 6,2 kg, cao 64 cm, lúc sinh nặng 3,4 kg. Tháng thứ tư, bé không tăng ký, tháng thứ năm tăng được 200g. Vì tôi bị mất sữa, nên bé bú sữa ngoài từ tháng thứ tư. Lúc thức, bé không chịu bú, chỉ bú lúc ngủ, mỗi ngày 5-6 bình sữa 90 ml, và một bữa ăn dặm.

Xin hỏi bác sĩ, bé có bị suy dinh dưỡng không? Làm sao để bé bú nhiều, tăng cân, chóng lớn. (Một bạn đọc)

- Trả lời:

Dưới đây là giới hạn bình thường các số cân đo cho bé trai 5 tháng tuổi theo chuẩn quốc tế để bạn so sánh:

Nhịp phát triển tốt về số cân nặng thì miễn sao lúc 4-5 tháng được gấp 2 số cân lúc sinh và khi đầy năm (12 tháng) gấp 3 số cân lúc sinh.

Bạn nên cho bé đi theo dõi sức khỏe hàng tháng tại một cơ sở y tế. Nếu ở TP.HCM, có thể đưa bé đến Phòng khám Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi Đồng 1, Nhi Đồng 2 hoặc Trung tâm Dinh Dưỡng TP.HCM để được theo dõi, tư vấn, hướng dẫn cách nuôi bé theo hướng sau đây:

- Nhiều người mẹ thắc mắc không biết nên cho bé bú bao nhiêu là đủ:

Trung bình ngay sau sinh, cứ 2 – 3 tiếng em bé cần bú khoảng 45 - 90 ml sữa/mỗi cữ bú. Thời gian sau, càng tăng cân, thì lượng sữa bé bú được mỗi cữ cũng tăng lên.

Vào 2 tháng tuổi, lượng sữa bé bú được mỗi lần đạt tới 120 - 150 ml/cữ và cứ 3 – 4 tiếng lại tới cữ cho bú.

Khi được 4 tháng, em bé có thể bú được 120 - 180 ml/cữ , tùy theo nhịp độ cho bú và số cân nặng em bé.

Khi được 6 tháng, lượng sữa bé bú trong 24 tiếng có thể lên tới 720 - 950 ml. Lượng sữa này còn tùy theo việc bạn đã tập cho bé làm quen với thức ăn dặm nào chưa?

Theo BS Nguyễn Lân-Đính

Chuyên viên dinh dưỡng
giadinh.net
Em gái tôi mới sinh cháu đầu lòng được 2 ngày, nhưng bị sinh thiếu tháng. Tôi nghe nói, trẻ sinh non rất dễ mắc bệnh vàng da. Xin hỏi quý báo cách nhận biết trẻ bị vàng da và cách điều trị như thế nào?

Nguyễn Thị Sen (Thanh Hóa)

Vàng da sơ sinh gặp tương đối nhiều ở trẻ em, đặc biệt là trẻ sinh non tháng, trẻ có bướu máu dưới da đầu, trẻ và mẹ không cùng nhóm máu hoặc trong quá trình sinh phải can thiệp. Nguyên nhân gây vàng da ở trẻ là do lượng bilirubin trong máu tăng cao. Nhận biết trẻ bị vàng da không khó, chỉ cần quan sát kỹ trẻ ở nơi đủ ánh sáng sẽ nhận thấy da trẻ có bị vàng hay không. Trong trường hợp khó nhận biết (da trẻ đỏ hồng hoặc đen) thì có thể lấy ngón tay ấn vào phần da phía trong đùi hoặc trên trán, mũi trẻ rồi bỏ tay ra, dấu hiệu vàng da sẽ hiện rõ trên phần ngón tay ấn. Ngoài ra, cũng cần quan sát thêm một số hiện tượng khác của trẻ như trẻ có bú tốt không, đi tiểu mấy lần/ngày, nước tiểu có màu vàng không, nếu câu trả lời là có thì không cần lo lắng vì đây là dấu hiệu bình thường, lượng bilirubin trong máu đang được đào thải tốt qua đường tự nhiên của bé. Nhưng khi trẻ có những dấu hiệu khác thường như bú yếu, ngủ nhiều, nước tiểu trong thì chị nên báo lại với bác sĩ để có biện pháp điều trị sớm, tránh biến chứng. Hiện nay, biện pháp điều trị chủ yếu là sử dụng đèn chiếu, ánh sáng của đèn sẽ biến bilirubin thành chất không độc và đào thải ra khỏi cơ thể qua đường tiêu hóa và nước tiểu.

BS. Trịnh Văn Tùng
(suckhoe&doisong)
Con tôi 9 tuổi, mấy ngày nay cháu bị sốt, không muốn ăn uống, bên mang tai sưng to, đau. Có phải cháu bị quai bị, bệnh này có bị lây không, phòng tránh như thế nào, thưa bác sĩ?

Hoàng Thị Dinh(Thanh Hóa)

Quai bị là một bệnh nhiễm cấp tính do Paramyxovirus gây nên, làm viêm các tuyến nước bọt mang tai. Ai cũng dễ mắc quai bị nhưng hay gặp nhất là lứa tuổi từ 10  -19 tuổi và nam dễ gặp hơn nữ. Bệnh quai bị lây theo đường hô hấp qua những giọt nước bọt bắn vào khi bệnh nhân nói, hắt hơi, ho. Biểu hiện của bệnh là người bệnh có cảm giác khó chịu, ăn kém, sốt, đôi khi rét, đau họng và đau góc hàm. Sau đó, tuyến mang tai sưng to dần trong khoảng 3 ngày rồi giảm sưng dần trong khoảng 1 tuần. Bệnh nhân có cảm giác khó nói, khó nuốt, đôi khi phù thanh môn gây khó thở phải mở khí quản. Thời gian biểu hiện bệnh lý khoảng 10 ngày. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh quai bị có thể để lại những biến chứng nguy hiểm như viêm tinh hoàn và mào tinh, viêm buồng trứng, viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm tuyến mang tai... Phụ nữ có thai mà mắc quai bị trong 3 tháng đầu, con rất dễ bị dị dạng. Phòng bệnh quai bị tốt nhất là chủ động tiêm phòng vaccin và nên tư vấn bác sĩ trước khi tiêm phòng. Khi người nhà đã mắc quai bị nên cách ly đến khi khỏi hẳn để tránh lây lan.        

ThS. Hà Hùng
(suckhoe&doisong)
Kiềm chế cảm xúc của bản thân, kiên quyết từ chối những yêu cầu không chính đáng của con, biết biểu lộ sự cảm thông với trẻ... là những nguyên tắc giúp bạn dạy con thành công.

Mọi trẻ em đều có tiềm năng cho sự phát triển trí tuệ. Cha mẹ cần nắm vững những phương pháp thích hợp để sớm đánh thức được những tiềm năng phát triển, trí tuệ ngay từ khi trẻ ở lứa tuổi mầm non.

Dưới đây là những chia sẻ của tiến sĩ Nguyễn Công Khanh, chuyên gia hàng đầu về giáo dục trẻ mầm non trong buổi hội thảo về những nguyên tắc làm cha mẹ thành công, diễn ra ngày hôm qua, tại Hà Nội:

Phụ huynh phải tự hiểu mình trước


Bạn là người thế nào, bạn mong muốn con cái mình sẽ trở thành những người ra sao? Chính bạn cần nhận ra những quan điểm, mong muốn của mình trước khi dạy con. Trong không ít gia đình, bố và mẹ có những quan điểm, mong muốn mâu thuẫn nhau, và đó là khởi nguồn của những bực bội và bất lực trong việc giáo dục con cái.

Bạn hãy tự vấn mình xem: Quan điểm của bạn như thế nào trong việc quản lý, kiểm soát con cái? Liệu những quan điểm này có được trẻ chấp nhận. Bạn muốn gì ở con mình và liệu điều bạn muốn có giống điều chúng muốn?

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Chơi cùng con cũng là một cách giúp trẻ phát triển trí thông minh, cảm xúc của mình. Ảnh minh họa: Hoàng Hà.

Thật sự lắng nghe để hiểu trẻ

Lắng nghe và nghe hoàn toàn khác nhau. Lắng nghe tức là bạn toàn tâm toàn ý dành mọi sự chú ý tới con. Khi bạn lắng nghe thật sự, trẻ sẽ cảm thấy chúng được tôn trọng. Bố mẹ hãy khuyến khích con trao đổi các câu chuyện ở lớp, ở nhà, những khó khăn, những nguyện vọng của trẻ, đồng thời, đừng vội bác bỏ những ý kiến của trẻ để giúp chúng nuôi dưỡng lòng tự tin.

Khi trẻ có cảm xúc tích cực và cần chia sẻ với bạn, hãy dừng tất cả mọi việc, tắt bếp hay ngưng lau nhà... rồi nhìn vào mắt con và chăm chú lắng nghe từng lời nói, nhận biết cảm xúc của con sau mỗi lời đó và thể hiện cảm xúc của bạn để trẻ có thể cảm nhận được.

Biểu lộ sự cảm thông với trẻ

Đồng cảm là năng lực hiểu và chia sẻ tình cảm với người khác. Khi biết con mắc lỗi ở lớp hay làm hỏng việc gì đó, việc đầu tiên bạn làm là gì? Đừng vội phán xét cho đến khi bạn hiểu được những suy nghĩ, tình cảm của con và trải nghiệm những gì trẻ đang trải qua. Điều này không chỉ là lắng nghe những gì con nói mà phải đọc hiểu được những cảm xúc của trẻ thông qua nét mặt, ánh mắt, cử chỉ...

Học cách tự kiềm chế

Bạn phải rèn khả năng tự kiểm soát những xúc cảm, tình cảm, hành vi bột phát của mình trong những tình huống gây stress. Đó cũng là năng lực trì hoãn những ý muốn đòi thỏa mãn ngay hoặc kháng cự lại sự cám dỗ. Đây là một nguyên tắc hầu như ai cũng biết nhưng hầu hết mọi người đều khó thực hiện. Bạn biết không nên đánh, mắng con nhưng lại không thể không nổi cơn thịnh nộ khi bản thân mình thì mệt nhoài sau một ngày làm việc, mà con lại không vâng lời. Nhưng, hãy dừng lại một phút, hít thở sâu, và bình tĩnh lại. Nguyên tắc này không chỉ giúp bạn thành công trong việc dạy dỗ con cái mà cả với các mối quan hệ khác nữa.

Luôn đóng vai trò người tư vấn, hướng dẫn con


Cha mẹ không nên ca thán, chỉ trích, mắng chửi, ngay cả khi trẻ phạm sai lầm nghiêm trọng. Nếu trẻ phạm sai lầm thì trước hết, việc cha mẹ nên làm không phải là tìm cách phân xét đúng hay sai, hay trừng phạt để răn đe, mà nên bình tĩnh cùng chúng tháo gỡ những vấn đề đang làm chúng lo lắng, sợ hãi. Và điều quan trọng là giúp chúng tự nhìn nhận lại vấn đề đó để rút ra bài học cho việc tương tự trong tương lai.

Kiên quyết từ chối đáp ứng những yêu cầu không chính đáng

Bạn không cho con ăn kẹo trước bữa ăn, hay không muốn mua thêm những đồ chơi vô bổ, tốn kém, nhưng lại gật đầu vì không thể chịu nổi cảnh con mè nheo, khóc lóc hay lăn đùng ra ăn vạ? Nếu vậy, bạn đã thất bại rồi. Nếu bạn luôn đáp ứng mọi đòi hỏi của con thì dần dần trẻ có thể trở thành "ông hoàng", "bà chúa" và biến cha mẹ thành "ô sin", "nô lệ" cho mình.

Hãy khuyến khích trẻ dừng lại để suy nghĩ trước khi yêu cầu hoặc phải giải thích lý do vì sao lại muốn điều gì đó.

Dành thời gian vui chơi với con

Bạn hãy cùng chơi với trẻ và chơi theo ý tưởng của chúng. Trước đó, hãy cùng trẻ thảo luận về trò chơi, quy tắc chơi. Các bậc phụ huynh cũng có thể giúp trẻ nhập vai, hiểu rõ nhiệm vụ và chơi không ăn gian. Trong quá trình chơi, bạn hãy giúp con cảm nhận được sự an toàn, luôn khuyến khích trẻ tự do thể hiện bản thân và tôn trọng luật chơi, bạn chơi.

Vương Linh
(vnExpress)
Vừa qua, một cuộc khảo sát ở Bệnh viện Nhi Đồng 1 (TPHCM) cho thấy trong các loại ngộ độc được đưa vào cấp cứu, ngộ độc thuốc chiếm 50%, trong số đó thuốc chống nôn chiếm tới 30%. Nguyên nhân là do nhiều người cho con dùng thuốc này mà không hỏi ý kiến bác sĩ.

Theo các bác sĩ cho biết, nôn là triệu chứng đi kèm với một số bệnh lý như rối loạn tiêu hoá, rối loạn tâm lý, viêm họng, cảm cúm, ho có đờm... Cho bé ăn không đúng cách cũng có thể gây nôn. Ngoài ra, nôn còn là triệu chứng của một số bệnh nguy hiểm như viêm não, viêm màng não... Thế nhưng, nhiều phụ huynh lại không ý thức được điều này. Cứ thấy con nôn là họ ra hiệu mua ngay thuốc chống nôn về "nạp", không cần biết trẻ mắc bệnh gì. Việc dùng thuốc tuỳ tiện như vậy rất dễ dẫn đến ngộ độc. Ngoài ra, với những trường hợp trẻ mắc bệnh nặng, thuốc sẽ làm lu mờ triệu chứng bệnh, khiến việc chẩn đoán trở nên khó khăn. Trong phạm vi bài này cung cấp thông tin về 2 loại thuốc chống nôn thường sử dụng cho trẻ, những tác dụng, tác dụng phụ và mức độ nguy hiểm.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Domperidone

Domperidone (Motilium M) là thuốc chống nôn do sự phối hợp của tác động ngoại biên (kích thích nhu động ruột, làm tăng lực co thắt một số cơ giúp thức ăn không chạy ngược trở ra miệng) và ức chế vùng cảm ứng CTZ truyền tín hiệu về trung tâm nôn ở não.

Do không thấm qua hàng rào máu não nên tác động ngoại biên là chủ yếu, do đó tác dụng chống nôn không bằng metoclopramide và ít có khả năng gây tác dụng không mong muốn trên hệ thần kinh trung ương như (loạn trương lực cơ, trợn mắt nhìn lên, ưỡn người, chứng ngồi, nằm không yên, đi lại chậm chạp, mất thăng bằng, nhai chậm, nói chậm..), buồn ngủ, đây là một ưu điểm so với metoclopramide.

Tuy nhiên rối loạn và buồn ngủ vẫn xảy ra dù với tỷ lệ rất thấp và thường do rối loạn tính thấm của hàng rào máu não (trẻ đẻ non, trẻ có tổn thương màng não) hay hàng rào máu não phát triển chưa hoàn chỉnh (trẻ nhỏ dưới 1 tuổi) hoặc do quá liều.

Thuốc dùng trị triệu chứng buồn nôn, nôn, cảm giác chướng và nặng bụng, khó tiêu sau bữa ăn do thức ăn chậm xuống ruột, trào ngược dạ dày thực quản.

Metoclopramide

Ngoài tác động ngoại biên và ức chế vùng cảm ứng CTZ, metoclopramide tác động trực tiếp ngay trung tâm gây nôn ở não nên được dùng để điều trị một số dạng nôn nặng, đã biết nguyên nhân, do điều trị ung thư bằng hóa trị liệu hoặc nôn sau phẫu thuật.

Do làm dạ dày rỗng nhanh và giảm trào ngược từ tá tràng và dạ dày lên thực quản nên còn sử dụng metoclopramide như một thuốc hỗ trợ nhu động ( khi trẻ bị trào ngược dạ dày - thực quản hoặc ứ đọng dạ dày,..).

Do đi được vào não nên metoclopramide có thể gây ra phản ứng rối loạn ở trẻ, ngay cả khi dùng liều bình thường. Phải chú ý bất cứ động tác không tự chủ nào xảy ra (thí dụ co cứng cơ,  động tác co giật bất thường nào ở đầu và mặt). Nhìn chung những phản ứng này xảy ra khi bắt đầu dùng thuốc, khoảng 1-3 giờ sau liều cuối cùng hoặc cũng có thể xảy ra sau khi chỉ dùng một liều.

Không tự ý cho trẻ dùng thuốc chống nôn, vì sao?

Khi phụ huynh tự ý sử dụng các thuốc chống nôn có thể làm che lấp triệu chứng của bệnh nguy hiểm, hoặc làm cho trẻ bị những tác dụng phụ rất phức tạp của các thuốc chống nôn gây ra. Bởi vậy, trong bất kỳ trường hợp nào, chỉ có bác sĩ mới có thể xác định được nguyên nhân trẻ bị nôn, và loại trừ được các bệnh lý nguy hiểm mà nôn chỉ là một biểu hiện và có sử dụng thuốc chống nôn hay không? dùng loại nào, liều lượng...?

Thuốc có thể gây ra hội chứng an thần ác tính (sốt không rõ nguyên nhân có hoặc không kèm theo xanh xao, cứng cơ,..). Metoclopramide chống chỉ định đối với trẻ động kinh vì có thể làm cơn động kinh nặng hơn và nhanh hơn. Thận trọng dùng metoclopramide đối với trẻ bệnh hen do có thể tăng nguy cơ co thắt phế quản.

Trong Y văn với những trường hợp đặc biệt vẫn cho phép sử dụng cho trẻ sơ sinh, tuy nhiên mọi trẻ chỉ được sử dụng với sự chỉ định và theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc. Dạng thuốc viên thì không thích hợp sử dụng cho trẻ dưới 6 tuổi (hay dưới 20 kg).

Nên lưu ý rằng liều dùng của metoclopramide là rất nhỏ chính vì vậy đã có những trường hợp quá liều do tự ý dùng thuốc này.

Một số lời khuyên

Nếu trẻ bị nôn nhiều lần, trẻ sẽ bị mất nước và các chất điện giải nên phải cho trẻ bù lại bằng thức ăn lỏng hoặc các dung dịch bù nước như Oresol, Hydrite.

Khi trẻ dùng thuốc chống nôn, nếu phụ huynh thấy có những triệu chứng bất thường như đã kể trên thì phải dừng thuốc ngay và báo cho bác sĩ.

DS. Thúy Nga
(suckhoe&doisong)
Có tới 90% trường hợp phụ nữ mang thai bị nôn hoặc buồn nôn trong những tháng đầu, sau đó có khoảng 50% giảm đi vào tuần lễ thứ 14 nhưng vẫn còn khoảng 10% khi thai đã 20 tuần vẫn còn nôn. Một số rất ít còn nôn đến tận ngày sinh.

Trước khi dùng thuốc chống nôn, buồn nôn cần loại trừ những nguyên nhân  gây nôn khác như viêm dạ dày, tụy, ruột thừa (dựa vào bệnh sử hay khám).

Thuốc thảo mộc đầu tiên có thể dùng là gừng: Gừng làm giảm co thắt dạ dày, làm gia tăng nhu động ruột từ đó làm giảm nôn, buồn nôn. Một nghiên cứu của các nhà khoa học tại Anh đối với những người có thai (dưới 20 tuần, bị nôn trầm trọng, phải nhập viện) uống mỗi ngày 4 lần, mỗi lần 250mg bột gừng khô đã làm giảm được nôn rõ rệt. 1.000mg bột gừng khô có tác dụng chống nôn tương đương với 10mg metoclopramid. Với liều điều trị nói trên, gừng không gây ra bất cứ tác dụng phụ có hại nào cho thai phụ, thai nhi.

Thuốc hoá dược đầu tiên cần dùng là vitamin B6: Đa số người có thai bị nôn, buồn nôn thường uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 5mg. Thông thường với phụ nữ có thai nên bổ sung từ 2-10mg B6 hàng ngày. Đây là thuốc có hiệu quả, không gây tác dụng phụ nào cho thai phụ, thai nhi, được xem là thuốc đầu tay.

Nếu cải thiện chế độ ăn, sinh hoạt, dùng gừng, vitamin B6 không có hiệu quả có thể dùng thuốc chống nôn, buồn nôn khác nhưng cần lưu ý:

- Trong nhóm thuốc kháng histamin không nên dùng diphenylhydramin cho thai phụ vào 3 tháng cuối của thai kỳ. Có thể dùng kháng histamin khác như meclizin.

- Thuốc chống nôn domperidon kích thích nhu động ruột của ống tiêu hoá làm tăng trương lực cơ thắt tâm vị, tăng độ giãn của cơ thắt môn vị sau bữa ăn do đó chống được nôn, buồn nôn (do tính kháng dopamin của thuốc). Thuốc chưa gây quái thai, tuy nhiên để đảm bảo an toàn không nên dùng cho người có thai.

- Thuốc chống nôn metoclopramid làm tăng nhu động của hang vị, tá tràng, hỗng tràng, giãn phần trên dạ dày, làm cho dạ dày rỗng nhanh nên giảm được sự trào ngược từ dạ dày, tá tràng lên thực quản, nhờ thế mà chống được nôn (do tính kháng dopamin của thuốc). Nó qua được nhau thai khi thai đủ tháng. Chưa có nghiên cứu đầy đủ trên người về tính an toàn cho thai, vì vậy không nên dùng cho người có thai.

Với những thuốc có nhiều tác dụng phụ này cần dùng tại các cơ sở y tế theo sự chỉ định, theo dõi của thầy thuốc. Các thuốc đã có khuyến cáo tuyệt đối không được dùng cho người có thai.          

DS.  Vũ Trung Hải
(suckhoe&doisong)
Mama Sữa non sẽ cung cấp các kháng thể cần thiết, tăng cường khả năng miễn dịch ở trẻ, bảo vệ hệ tiêu hóa và triệt tiêu các tác nhân gây bệnh…
Sữa non (Colostrum) là sữa của mẹ được tiết ra 48 tiếng đầu tiên sau khi sinh, cung cấp một lượng lớn chất kháng thể tự nhiên như IgG (ImmunoglobulinG), IgA, Ig… làm tăng cường hệ miễn dịch của trẻ, bảo vệ hệ tiêu hóa và triệt tiêu các tác nhân gây bệnh…

1. Khắc phục được tính biếng ăn của trẻ

Các nhà dinh dưỡng học đã phát hiện ra rằng, trong sữa non của bò mẹ cũng có những chất kháng thể quý giá như vậy. Thậm chí hàm lượng các chất kháng thể có trong sữa non của bò mẹ (IgG) còn rất cao. Ngoài ra sữa non bò mẹ còn có thành phần Glycoprotein, rất hiệu quả trong việc bảo vệ các nhân tố kháng thể và tăng trưởng khỏi sự phá hủy của các ezyme tiêu hóa.

Từ đó nhà sản xuất đã tinh chế ra dòng sữa mang nhãn hiệu Mama Sữa non. Các sản phẩm Mama Sữa non được Công ty cổ phần G&P Mama Sữa non – một đơn vị từng được trao danh hiệu “Doanh nghiệp vì sức khoẻ người Việt” – phân phối độc quyền tại thị trường Việt Nam.

Sản phẩm Mama Sữa non được bào chế với hàm lượng cao sữa non của bò mẹ (100mg cho một lần uống), bổ sung kháng thể giúp tăng cường hệ miễn dịch cho trẻ và những người sử dụng.

Bên cạnh đó, Mama Sữa non còn được bổ sung hệ vi khuẩn Probiotics (gồm các vi khuẩn có lợi như Lactobacillus, acidophilus, bacillus, streptococcus faecalis.v.v…). Khi hệ vi khuẩn probiotics trong cơ thể giảm đi, cân bằng vi khuẩn trong hệ tiêu hóa bị phá vỡ sẽ gây nên rối loạn, giảm khả năng miễn dịch ở hệ tiêu hoá. Lúc đó Mama Sữa non sẽ giúp cân bằng hệ vi sinh đường ruột, tăng cường miễn dịch ở hệ tiêu hoá, phòng và điều trị các triệu chứng rối loạn tiêu hóa như tiêu chảy, phân sống, táo bón… giúp hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn. Đặc biệt Mama Sữa non còn khắc phục được tính biếng ăn của trẻ
Ngoài ra Mama Sữa non còn được bổ sung DHA giúp trẻ thông minh, Canxi cho trẻ chiều cao vượt trội, Lysin, Tourin giúp trao đổi chất tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng. Mama Sữa non colostrum còn có 17 loại acid amin, khoáng chất, vi chất giúp trẻ phát triển hoàn hảo. Do vậy Mama Sữa non thực sự là lựa chọn tốt của các mẹ dành cho bé yêu.


Đến cuối 2010, Công ty G&P Mama Sữa non tiếp tục phát triển việc phân phối ra thị trường các sản phẩm mới thuộc Dòng sản phẩm Mama Sữa non, được dùng cho trẻ biếng ăn, rối loạn tiêu hóa, trẻ sinh thiếu tháng, nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng, giúp tăng cường hấp thu dinh dưỡng, phát triển chiều cao và trí thông minh, tăng cường hệ miễn dịch.

Đặc biệt trong đợt này còn có sản phẩm được dùng cho người mới ốm dậy, người sau mổ, bệnh nhân ung thư đang hóa trị, xạ trị, người gầy muốn tăng cân, giúp bổ sung dưỡng chất để phục hồi sức khỏe nhanh.
Bộ sản phẩm hoàn hảo

3 sản phẩm của Mama sữa non dành cho trẻ như:

- Mama Sữa non Colostrum (dùng cho trẻ từ khi mới sinh)
- Mama Sữa non-Star 1-3 (dùng cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi)
- Mama Sữa non –Star 3+ (dùng cho trẻ từ 3 tuổi trở lên).

Những loại sữa này bổ sung kháng thể để hoàn thiện hệ miễn dịch, đặc biệt thích hợp với trẻ sinh thiếu tháng, còi xương, suy dinh dưỡng, tiêu hóa kém, trẻ không được bú sữa non của mẹ khi mới sinh, trẻ có mẹ bị mất sữa, chậm sữa hay chất lượng sữa không cao.

2 sản phẩm cho người lớn như:


- Mama Sữa Non-For Mama dành cho bà mẹ mang thai, cho con bú. Ngoài các dưỡng chất đặc trưng của sản phẩm Mama Sữa non, sản phẩm này còn được bổ sung thêm Fe, Acid folic giúp mẹ tăng lượng máu nuôi thai nhi và tăng chất lượng sữa.

- Mama Sữa Non –For Old dành cho người cao tuổi và phụ nữ mãn kinh được bổ sung thêm Glucosamin giúp chống thoái hóa xương khớp. Những sản phẩm trên đã được dùng rất phổ biến tại Mỹ, Australia, New Zealand và các nước Tây Âu khác.
Hy vọng Dòng sản phẩm Mama Sữa non sẽ đáp ứng được những nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, tạo tiền đề để có một Việt Nam khoẻ mạnh, cả về thể lực và trí lực.

Câu lạc bộ Gia đình của Mama Sữa non


Công ty CP G & P Mama Sữa non đã thành lập CLB Gia đình Mama dành cho các bà mẹ đang mang thai hoặc có con nhỏ (không phân biệt các bà mẹ và các con đang dùng sữa gì). Đây là nơi các thành viên có thể trao đổi những kinh nghiệm nuôi con với các bác sĩ, chuyên gia dinh dưỡng, gặp gỡ và giao lưu với những bà mẹ khác để chia sẻ cảm xúc của mình.

Để biết thêm chi tiết về CLB cũng như các sản phẩm của Mama Sữa non khách hàng có thể gọi vào đường dây nóng của Công ty. Số điện thoại 04. 38522733

Hoặc website: http://www.mamasuanon.com.vn

An Thái

(giadinh.net)
Dưới đây là lý giải của bác sĩ Nguyễn Ngọc Hưng, trưởng khoa phẫu thuật chỉnh hình, Bệnh viện Nhi Trung ương về một số cách hiểu sai hay gặp của các bậc phụ huynh.

Theo bác sĩ  Hưng, trẻ dưới 2 tuổi thường không bị sai khớp do chấn thương, (nếu bị thì thường có gãy xương kèm theo) vì trong giai đoạn này hệ thống xương và dây chằng của các bé rất mềm mại, đàn hồi và bù trừ tốt, ngoại trừ những bé bị bệnh xương thủy tinh hay còi xương, xương mềm.

Trẻ dùng xe tập đi sau 6 tháng không ảnh hưởng gì đến sự phát triển của xương chân. Bế cắp nách, cho bé ngồi xe tập đi sớm sẽ làm trẻ bị cong chân, đi vòng kiềng, hay bế đứng lúc bé chưa cứng cổ dễ khiến bé gãy cổ... đều là những cách hiểu sai khá phổ biến của nhiều người.

1. Cho trẻ ngồi xe tập đi sớm, dắt trẻ đi lúc còn nhỏ... sẽ khiến chân bé bị cong

Thực tế có nhiều cháu dùng xe tập đi bị ngã do xe lao rất nhanh, lăn xuống bậc thềm hoặc cầu thang. Tuy nhiên, quan điểm cho rằng tư thế của bé khi đứng trong xe lâu ngày sẽ dẫn đến biến dạng xương, gây dị tật chân vòng kiềng chữ O, chữ X lại không đúng. Thật ra, việc cho bé ngồi xe này (khoảng 6 tháng tuổi trở đi) hoặc dắt cho trẻ tập đi không ảnh hưởng đến sự phát triển xương của trẻ.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Để trẻ phát triển tự nhiên

Xương và hệ thống dây chằng của các bé rất mềm mại và đàn hồi tốt. Hơn nữa, mỗi trẻ có tốc độ phát triển riêng, có bé đi được từ lúc 10 tháng, bé khác có khi phải 16 tháng mới đứng được. Hơn nữa, có khi bố mẹ muốn bắt trẻ tập đi sớm cũng không được, vì nếu chưa sẵn sàng thì dù bà, mẹ có cố dắt đi, bé cũng cứ ì ra, ngồi thụp xuống chứ nhất định không chịu nhấc chân và đó là điều hoàn toàn bình thường.

2. Nếu thấy con đi vòng kiềng hay chân bị cong thì nên đi chữa cho con càng sớm càng tốt

Điều này hoàn toàn sai. Do hiểu biết không đầy đủ, nhiều bậc phụ huynh cứ thấy con chân chữ O, chữ X là cho đi mổ, nắn chân, có khi phải bẻ, đục xương. Thực ra, từ khi sinh ra đến lúc 5 tuổi, trẻ có 2 lần chuyển dạng sinh lý về xương, tức là chân bé đang thẳng lại cong rồi đang cong lại thẳng. Vì thế, có thể bạn thấy chân con vòng kiềng nhưng thực chất đó chỉ là bé đang trong thời kỳ 2 lần thay đổi đó. Và tuyệt đối, bố mẹ không nên đưa con đi chữa trị, nhất là mổ nắn xương chân trước 5 tuổi nếu bé không có bệnh lý gì khác.

3. Nếu bé cứng cổ, chỉ nên ẵm ngửa, không nên bế đứng vì có thể bé ngọ ngoậy quay qua quay lại hoặc gập cổ ra sau gây gãy cổ.

Trẻ bình thường không bao giờ bị gãy cổ hay sai các khớp khác do chấn thương. Lý do vẫn là vì cấu tạo xương và hệ thống dây chằng ở trẻ đàn hồi rất tốt.

Theo Thegioisuckhoe
Bé nhà tôi ăn sữa chua đều đặn hàng ngày, hiện nay bé đang bị tiêu chảy, tôi có nên tiếp tục cho bé ăn sữa chua không?
Bằng chứng khoa học cho thấy sữa chua có tác dụng điều trị tiêu chảy, kể cả tiêu chảy do sử dụng kháng sinh cũng như tiêu chảy do nguyên nhân khác mà phân không có máu.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Sữa chua rất tốt cho đường tiêu hóa của trẻ.



Sữa chua làm giảm tần suất tiêu chảy, thời gian tiêu chảy, thời gian nằm viện do quá trình lên men đã chuyển phần lớn đường lactose (loại đường khó hấp thu) trong sữa bò sang một dạng dễ hấp thu hơn. Ngoài ra, một số chủng vi khuẩn trong sữa chua có khả năng ức chế sự phát triển và gây bệnh của các vi sinh vật có hại trong đường tiêu hóa, tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch.

Đây là phương pháp điều trị an toàn, đơn giản và có hiệu quả kinh tế.

Thạc sĩ, Bác sĩ Đậu Việt Hùng
Khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Nhi Trung ương
Phòng khám tại số 55, phố 8/3, Kim Ngưu, Hà Nội

GiadinhNet
Tiền sản giật (TSG) ảnh hưởng tới 5-10% bà bầu, có thể gây tổn hại cho cả mẹ và con. Do đó, việc thử máu và nước tiểu cần được tiến hành ở các bà bầu trước khi sinh. Phát hiện sớm và điều trị để giúp kiểm soát huyết áp cho đến khi mẹ tròn con vuông, có thể giúp ngăn ngừa nhiều biến chứng nguy hiểm.

Thế nào là TSG?

Những phụ nữ bị chứng huyết áp cao và chất đạm trong nước tiểu thường mắc chứng TSG. Bệnh thường xuất hiện khi các bà bầu bắt đầu bước sang tuần thứ 20 của thai kỳ, nhưng có thể cũng xảy ra bất cứ thời điểm nào trong nửa sau của thai kỳ. Nếu không chữa trị, nó có thể dẫn đến một tình trạng nguy hiểm hơn gọi là sản giật. Sản giật gây động kinh và có thể dẫn đến hôn mê hoặc tử vong ở mẹ. TSG có thể nhẹ hay nặng và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể. Nó gây thêm áp lực cho thận, tạo nhiều protein trong nước tiểu. Trong trường hợp nghiêm trọng, TSG có thể gây tổn hại cho thận, tim, não, gan và mắt cho người mẹ. Đối với một số phụ nữ có triệu chứng TSG có thể cần phải nằm viện hoặc nằm bất động trên giường suốt thời gian còn lại cho đến khi em bé được sinh ra. Nó cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các bé được sinh ra.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Các triệu chứng TSG

Những triệu chứng dưới đây có thể là dấu hiệu của TSG:

- Sưng ở bàn tay và bàn chân.

- Đau nặng đầu.

- Có vấn đề với tầm nhìn (mờ mắt).

- Giảm trí nhớ.

- Đau ở phần trên của bụng.

- Tăng cân nhanh.

Làm thế nào để chẩn đoán?

Tại mỗi cuộc hẹn trước khi sinh, bác sĩ sẽ đo huyết áp của bạn và thực hiện một thử nghiệm nước tiểu. Nếu huyết áp cao, bác sĩ sẽ theo dõi chặt chẽ phần còn lại của thai kỳ. Bởi vì huyết áp cao không là điều kiện đủ để chẩn đoán TSG. Nó thường được chẩn đoán khi tình trạng huyết áp cao được đi kèm với một lượng lớn chất đạm trong nước tiểu. Bạn có thể được chẩn đoán là bị TSG nếu bị sưng, thêm protein trong nước tiểu và một trong những dấu hiệu huyết áp sau đây:

- Huyết áp 140/90mmHg hoặc cao hơn.

- Huyết áp tâm thu của bạn tăng thêm 30mmHg hoặc hơn.

- Huyết áp tâm trương của bạn tăng 15mmHg hoặc hơn.

TSG nghiêm trọng xảy ra khi:

- Huyết áp tâm thu hơn 160mmHg.

- Huyết áp tâm trương hơn 110mmHg.

Những đối tượng có nguy cơ bị TSG?

Các chuyên gia không biết lý do tại sao một số phụ nữ mang thai lại bị triệu chứng TSG. Nhưng những đối tượng phụ nữ với những yếu tố sau có nguy cơ bị TSG lớn hơn:

- Phụ nữ trẻ hơn 20 tuổi.

- Phụ nữ lớn hơn 35 tuổi.

- Mang thai lần đầu tiên.

- Mang thai sinh đôi.

- Có cao huyết áp, đái tháo đường, bệnh thận, máu, rối loạn đông máu, lupus...

- TSG ở lần mang thai trước đó.

- Lịch sử gia đình có người bị chứng TSG.

- Thừa cân.

Làm thế nào điều trị được TSG?


Nếu TSG nhẹ thì bạn có thể nằm điều trị tại nhà trên giường. Bác sĩ có thể kê toa thuốc để giảm huyết áp của bạn và sẽ giám sát chặt chẽ sức khỏe của bạn và em bé trong suốt những tháng ngày còn lại của thai kỳ. Nếu bạn có TSG nghiêm trọng, bạn cần nhập viện và sinh con sớm hơn dự định.

Nhiều phụ nữ bị TSG vẫn sinh con khỏe mạnh.

Khi em bé được sinh ra từ những bà mẹ bị TSG thường phải được cách ly sớm. Những em bé này có nhiều nguy cơ đối với các vấn đề sức khỏe khác nhau, bao gồm cả trọng lượng sinh thấp và khuyết tật dài hạn.

BS. THU PHƯƠNG
(suckhoe&doisong)
Khi mang thai, sức nặng của bào thai sẽ khiến lưng luôn bị đau nhức, gây khó ngủ cho bà bầu. Các bài tập luyện dưới nước sẽ làm giảm đáng kể cơn đau lưng và xương chậu.

Thông thường, các bác sỹ đưa ra lời khuyên các bà bầu nên thường xuyên đi bộ để rèn luyện sức khỏe cũng như chuẩn bị cho lúc vượt cạn. Tuy nhiên, việc tập luyện trên bộ hàng tuần không sánh được với một buổi tập luyện dưới nước bởi những lợi ích mà nó mang lại là rất lớn.
Cứ 3 phụ nữ mang thai thì có 1 người mắc chứng đau lưng, thậm chí, nó sẽ kéo dài đến cả thời điểm sau sinh và gây khó khăn cho các hoạt động sau này.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Phương pháp tập luyện dưới nước vừa tập luyện để tăng cơ, đỡ mệt mỏi mà cơ thể thai phụ khi xuống nước cũng cảm thấy nhẹ nhàng hơn, tránh được cảm giác uể oải thường xuyên xuất hiện.
Để tập luyện dưới nước, bà bầu có thể lựa chọn đi bơi thường xuyên hoặc đi bộ dưới bể nước không quá sâu hàng tuần. Tập từ tháng thứ 5 đến lúc chuẩn bị sinh.
Mỗi tuần khoảng 2 lần, tập luyện từ 30 đến 45 phút, sau đó dành 15 phút thư giãn, nghỉ ngơi. Phương pháp tập luyện này vừa đơn giản, dễ thực hiện lại không quá tốn kém. Thỉnh thoảng, các bà bầu có thể rủ chồng tập cùng để tăng thêm hứng thú tập luyện.

Một số cách giúp bà bầu giảm đau lưng

-          Tránh mang vác quá nặng.
-          Đi giày gót thấp.
-          Làm những việc nhà nhẹ nhàng và có thể ngồi nhiều.
-          Khi ngủ, cần kê một chiếc gối xuống phía dưới để nâng bụng bầu, và nằm nghiêng sang một bên.

Theo Eva
(suckhoe&doisong)
Những ngày qua, thời tiết nắng nóng đã ảnh hưởng đến sức khỏe trẻ nhỏ - đối tượng có sức đề kháng yếu. Tại khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, nhiều trẻ phải vào viện do sốt virus.

Trẻ nhỏ dễ mắc bệnh hơn người lớn

Ngày 5/7, trong cái nắng hầm hập dù chưa đến 9h sáng, khi bước chân vào Bệnh viện Bạch mai, phóng viên Bee.net.vn càng cảm nhận rõ cái mệt do nắng nóng, đặc biệt là ở bệnh nhi.

Nhiều trẻ khóc oặt ẹo, trán tướp mồ hôi, xung quanh là 1-2 người nhà thi nhau quạt. PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, trưởng khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai cho biết, do cơ thể chưa phát triển hoàn thiện, hệ thống giải phẫu khác người lớn, mũi bé, hệ thống hô hấp chưa phát triển hoàn thiện, chức năng các bộ phận chưa hoàn chỉnh…, khi gặp thời tiết khắc nghiệt, trẻ em là đối tượng dễ mắc bệnh hơn.

Phải đến một độ tuổi nhất định, qua tiếp xúc với môi trường, bệnh tật, hệ miễn dịch mới tốt hơn và đồng nghĩa với nó là sự đề kháng tốt hơn.

Ở trẻ con, do khả năng điều nhiệt kém nên khi nắng gay gắt, trẻ dễ bị sốt. Nếu sốt thông thường sẽ tự khỏi. Chỉ có điều, nếu không biết cách chăm sóc, để biến chứng co giật hoặc viêm não thì sẽ nguy hiểm.

Thực tế, nhiều gia đình vẫn còn lúng túng khi chăm sóc trẻ, thấy trẻ sốt, có biểu hiện run và ra mồ hôi lại tưởng rét, ủ vào (thay vì cởi bớt quần áo ra và quạt cho mát). Đến khi trẻ co giật mới cuống lên đưa vào viện.

Ngoài sốt do virus, trời nắng, trẻ em còn là đối tượng dễ bị tiêu chảy, mắc các bệnh về đường tiêu hóa nói chung. Vì vậy, các gia đình cần đặc biệt chú ý đến đồ ăn cho trẻ. Tốt nhất với trẻ nhỏ, không cho ăn đồ ăn còn lại từ bữa trước (nhất là đồ ăn thừa mà không để tủ lạnh). Khi mua thực phẩm chế biến, cần chọn thực phẩm tươi, chế biến ngay để phòng nhiễm khuẩn.

Dùng điều hòa, quạt thông gió để phòng sốt

Theo PGS.TS Tiến Dũng, nắng nóng, sử dụng điều hòa là cách tốt để giữ sức khỏe. Nhiệt độ điều hòa thấp so với nhiệt độ thật sẽ giúp cơ thể cân bằng. Nếu không có điều hòa thì phải dùng quạt thông gió, đảm bảo môi trường ở thoáng khí. Khi nắng nóng, cơ thể thoát nhiệt qua da bằng sự tiết mồ hôi.

Để thoát nhiệt, cần có “đối lưu”, tức là có luồng gió chạy qua. Tuy nhiên, cần lưu ý, với một số gia đình ở trong các khu trọ chật chội, mái tôn…, đôi khi dùng quạt còn nóng thêm bởi hơi nóng phả vào người.

Những trường hợp này, nên tính chuyện “sơ tán” để đảm bảo sức khỏe. Bởi với người lớn còn chịu được, chứ để đứa trẻ trong ngôi nhà như vậy, khả năng mắc bệnh do nắng nóng là rất cao.

Để phòng bệnh, trẻ cần được tiêm chủng đầy đủ. Nhưng lưu ý, phải sau một thời gian tiêm chủng, vaccine mới có tác dụng. Việc thấy nắng nóng mới đưa con đi tiêm ngừa bệnh thì sẽ không hạn chế được việc mắc bệnh trong thời điểm này. Trẻ được ăn uống đầy đủ, sức khỏe tốt thì khi gặp thời tiết khắc nghiệt như hiện nay sẽ hạn chế khả năng nhiễm bệnh so với trẻ suy dinh dưỡng.

(beenet)
Để giúp các bậc phụ huynh không bị rối tung trong hàng loạt các loại vác-xin, lịch tiêm chủng dưới đây nên được treo ở vị trí dễ nhìn để cha mẹ không bỏ sót mũi tiêm nào của con.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Lưu ý:  Vacxin bạch hầu - ho gà - uốn ván - bại liệt nên nhắc lại khi 4 - 6 tuổi, 10 - 11 tuổi và 16 - 21 tuổi.
Theo Viện Nhi TW

(family)
Khi đang trong thời kỳ cho con bú, nếu người mẹ bị bệnh phải dùng thuốc, nói chung các thuốc đều có trong sữa mẹ. Khi trẻ bú sữa mẹ thì thuốc cũng vào cơ thể trẻ và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ. Tùy từng loại thuốc mà trẻ bị ảnh hưởng nhiều hay ít.

Khi thuốc vào trong sữa, trẻ bú mẹ có nghĩa là thuốc được đưa vào cơ thể trẻ theo đường uống. Các tác hại có thể xảy ra với trẻ cũng phải trải qua quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hoá và thải trừ.

Các thuốc ảnh hưởng đến trẻ


Có nhiều loại thuốc nếu điều trị cho mẹ trong thời gian nuôi con bú bằng sữa mẹ ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ như thuốc chống chuyển hoá, thuốc an thần, thuốc phóng xạ, thuốc chống đông máu,  thuốc điều trị bệnh nội tiết, thuốc chống lao isoniazid (dùng được cho phụ nữ có thai nhưng lại không khuyên dùng cho phụ nữ cho con bú), kháng sinh metronidazol  (klion, flagyl khi dùng làm cho sữa có vị kim loại: miệng đắng, vị tanh rất khó chịu. Đây là lý do khiến con từ chối bú mẹ, mẹ dễ bị mất sữa), thuốc điều trị đau nửa đầu ergotamin (tamic) cũng không dùng trong thời kỳ phụ nữ cho con bú.

Những bà mẹ có con khoảng 1 tuổi việc bú mẹ chủ yếu là về đêm thì việc dùng thuốc đơn giản hơn rất nhiều so với các bà mẹ đang nuôi con còn rất nhỏ, bú mẹ liên tục và hoàn toàn sống bằng nguồn sữa của mẹ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Khi cho con bú, người mẹ dùng thuốc sẽ ảnh hưởng đến trẻ và khả năng tiết sữa.



Thuốc ảnh hưởng tới khả năng tiết sữa của mẹ


Một số thuốc dùng cho mẹ có khả năng ảnh hưởng tới sự bài tiết sữa của mẹ (kìm hãm bài tiết sữa làm mất sữa). Đó là một số thuốc như lợi tiểu thiazid, vitamin B6 (liều cao), ergotamin (tamic) cũng làm giảm bài tiết sữa, các thuốc chữa bệnh parkingson...

Estrogen là hormon hay được sử dụng và có ảnh hưởng tới bài tiết sữa. Khi dùng cho phụ nữ cho con bú, thuốc vào sữa rất ít nhưng có tác dụng ức chế thụ thể prolactin ở giai đoạn sớm làm giảm bài tiết sữa. Vì thế phụ nữ cho con bú nên sử dụng thuốc tránh thai chỉ chứa progesteron đơn độc. Các biện pháp tránh thai được khuyên dùng tốt nhất thời kỳ này là dùng các biện pháp cơ học (bao cao su, đặt dụng cụ tử cung) hơn là phải uống thuốc.

Ngoài ra các thuốc như metoclopramid, domperidon... lại có tác dụng kích thích bài tiết sữa đã được sử dụng trong lâm sàng. Tuy nhiên người bệnh không tư ý dùng các thuốc này.      

DS. Hoàng Thu Thủy
(suckhoe&giadinh)
Giai đoạn này, tất cả những hoạt động mẹ thường xuyên cấm bé: mút tay, vò giấy và xé giấy,... khiến bé phát triển nhanh nhẹn, khéo léo và kích thích sự thông minh của trẻ.

Thị giác


Mẹ hãy đưa con ra ngoài trời, chơi với lá hoa cây cỏ, chỉ cho con xem cây lá đung đưa mỗi khi có gió. Nếu nhà không có cây cỏ, có thể mua chuông gió cho con xem, treo ngoài cửa sổ, nhiều màu sắc và mỗi khi gió thổi sẽ có tiếng kêu vui tai.

Khi cho con ra ngoài chơi, mẹ nên bế con trên tay, vừa đi vừa nói chuyện, giảng giải cho con. Vì thường con ngồi xe đẩy đi đây đi đó, không cảm nhận được từng bước chân đi, bé không được gần mẹ. Nhiều nghiên cứu đã cho rằng: “Em bé được kề da áp thịt với cha mẹ mình, có cảm giác yên tâm, và sớm trở thành đứa trẻ thông minh”.

Nên cho con chơi nhiều đồ chơi di động, biết chạy, có âm thanh, để có thể di chuyển ở nhiều vị trí khác nhau, hướng tầm nhìn và tai nghe của bé. Hiện nay ngoài hàng đồ chơi có đồ chơi hình các con thú vịt, bắt chước âm thanh thực, rất hấp dẫn các bé.

Thính giác


Cho em bé nghe những bản nhạc nhẹ nhàng. Trẻ không cảm nhận được âm nhạc khi luôn bị nghe nhạc rốc, âm thanh lớn, dai dẳng từ bài này qua bài khác.
Gõ chuông màu sắc bé nghe, bé sẽ nhớ sự khác nhau của các cung bậc nốt nhạc. Chú ý xem trẻ phản ứng thế nào trước những âm thanh lạ tai khác nhau. Ví dụ như bất ngờ bật radio lên chẳng hạn, như vậy sẽ làm cho khả năng phân biệt âm thanh của trẻ được phát triển hơn. Cho trẻ nghe những bài hát ru con của các nước trên thế giới.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Xúc giác

Cho bé nắm ngón tay cha mẹ, cầm tờ giấy có thể xé hoặc vò. Cho trẻ đeo vòng tay, hoặc là buộc nơ vào cổ tay bé. Để đồ vật vừa tầm với để trẻ tập với lấy đồ.

Để vào giường cho trẻ bộ đồ đồ chơi (như cái mái nhà nhỏ, treo lủng lẳng nhiều món đồ chơi) để cho bé làm được nhiều động tác tay như tóm, gõ, đẩy, quay tròn, kéo…

Không được cấm trẻ mút tay. Mút tay đó là dấu hiệu cho thấy trẻ bước vào giai đoạn phát triển mới. Đó là khả năng đưa đồ vật vào miệng của mình đã xuất hiện. Không nên cấm trẻ mút tay mà làm mất tính tự tin của trẻ.

Từ khi bé khoảng 6 tháng tuổi, 2 mẹ con hãy chơi bóng với nhau.

Cho trẻ chơi trò xếp hộp nhỏ lồng vào hộp to. Chơi trò đóng nắp cho hộp.

Vận động


Cho trẻ bò thỏa thích. Để bày trước mắt trẻ nhiều món đồ nó thích để trẻ bò tới nơi lấy để cho chân của bé được vận động hết sức. Hãy để trẻ bò thật nhiều trong suốt quãng thời gian tập bò, không được nôn nóng cho trẻ vào xe tập đi sớm. Vì bò là hoạt động kích thích phát triển gân cốt, kích thích kĩ năng điều khiển vận động nhất.

Ngôn ngữ

Điều quan trọng nhất đối với trẻ trong thời kì này là sự phát triển về ngôn ngữ. Hãy nói chuyện với trẻ thật nhiều, đọc truyện cho trẻ nghe để kích thích trí thông minh của trẻ.

Bảo Châu

(afamily)

Trẻ mới sinh còn bé tẹo. Các bà mẹ thường lo lắng và lúng túng không biết làm thế nào để tự tay tắm cho con, nhiệt độ nước tắm bao nhiêu là vừa?, Tắm bằng gì để tốt cho sức khoẻ của bé?

Tắm bao nhiêu lần trong tuần?

Với bé sơ sinh, nhiều mẹ cho rằng chỉ cần tắm cho bé 2 - 3 lần/tuần là đủ. Tất nhiên mẹ vẫn phải dùng khăn ấm lau rửa cho bé ở những khe, nếp gấp của da, vệ sinh bộ phận sinh dục. Vì ở độ tuổi này, bé thường không bị bẩn, trong khi tắm lại dẫn tới hiện tượng khô da. Nhưng nước là môi trường quen thuộc với bé từ khi nằm trong bụng mẹ và rất tốt cho quá trình tự nhiên của bé. Vì vậy, mẹ nên tắm cho bé hàng ngày.

Tắm vào thời điểm nào trong ngày?

Mẹ nên chọn tắm cho con vào lúc có ánh nắng mặt trời và thuận tiện cho bố mẹ. Vào khoảng 10 giờ - 11 giờ sáng, hoặc 3 giờ - 4 giờ chiều. Lúc đó trời còn sáng, không khí sẽ ấm hơn, bé ngâm mình trong nước cũng không sợ lạnh.

Không nên tắm cho bé vào lúc sáng sớm và chiều muộn, hoặc giữa trưa. Tốt nhất, mẹ có thể rèn cho bé một thói quen theo trình tự: tắm - bé bú mẹ - ngủ. Vì thông thường, sau khi tắm xong, bé sẽ đói, ăn sẽ ngon miệng và ngủ sâu hơn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Cần tắm cho trẻ sơ sinh ở nơi kín tránh gió lùa. Ảnh: H.K



Tắm trong bao nhiêu lâu?

Với các bé sơ sinh, mẹ chỉ nên cho các con tắm từ 4 - 5 phút/lần tắm. Khi bé được ngoài 3 tháng tuổi, mẹ có thể cho bé tắm đến 10 phút, để bé thỏa sức chơi đùa với nước. Cũng tùy theo thời tiết nóng hay lạnh, sức khỏe của bé thế nào để mẹ quyết định cho bé tắm nhanh hay lâu.

Nhiệt độ nước tắm của các bé thông thường là 36 độ C. Mẹ có thể sắm riêng cho bé một nhiệt kế đo nhiệt độ nước tắm cho chuẩn. Nếu không mẹ chỉ cần nhúng khuỷu tay của mẹ xuống chậu nước tắm. Nếu mẹ thấy nước không nóng hay không lạnh quá, vừa phải là được. Tuyệt đối không nên thử nước bằng ngón tay mẹ. Vì thông thường, nước ấm vừa tay mẹ sẽ là quá nóng so với da bé. Bao giờ mẹ cũng thử nước trước khi cho bé vào chậu/bồn tắm. Vào mùa hè, mẹ có thể hạ nhiệt độ nước tắm của bé thấp hơn một chút.

Tắm bằng xà phòng hay các loại lá?

Theo phương pháp dân gian, mẹ có thể tắm cho con bằng các loại nước lá như lá kinh giới, trà xanh, quả mướp đắng, quả chanh... Nhưng cần nhớ rửa sạch các loại lá, quả trước khi xayhoặc giã lấy nước cho bé tắm (nên pha loãng). Sau khi rửa sạch, nên ngâm qua nước muối để khử hết các thuốc trừ sâu, thuốc tăng trọng nếu có trên các loại lá, loại quả.

Ngoài ra, các mẹ có thể dùng một số loại xà phòng, sữa tắm dành riêng cho bé sơ sinh. Nhưng cũng không nên lạm dụng các loại xà phòng này. Vì tắm nhiều bằng các loại xà phòng, bé dễ bị khô da. Tốt nhất, một tuần chỉ nên tắm cho bé bằng xà phòng từ 1 - 2 lần.

Tắm cho bé như thế nào?


Mẹ hãy chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ trước khi tắm cho bé: quần áo, khăn lau, khăn tắm, kem bôi da. Sau khi cởi quần áo, mẹ thả ngay bé vào chậu tắm, giữ con bằng tay gồm cả phần đầu và gáy, lưng sao cho phần mặt bé nổi trên mặt nước.

Do bé có phần mỡ dày hơn người lớn nên dễ dàng giữ cho người không bị chìm xuống nước. Có thể cho bé đạp chân, đạp tay vào nước thoải mái. Sau đó mẹ lật bé nằm úp, tay mẹ giữ vào phần cằm và ức của con.

Khi tắm cho bé, nên rửa mặt trước, rồi chuyển dần xuống vùng mông. Gội đầu cho bé để sau cùng. Nhấc bé lên khỏi mặt nước, mẹ phải quấn và lau khô cho bé ngay, tránh bị nhiễm lạnh. Nơi tắm cho bé cũng phải đóng kín cửa, tránh gió lùa.

Bác sĩ Bùi Phương
(suckhoe&doisong)
Yoga không chỉ giúp phụ nữ mang thai có tinh thần sảng khoái, giảm thiểu những khó chịu như đau lưng, nhức mỏi, tê, phù chân… mà còn giúp quá trình sinh nở dễ dàng và an toàn hơn.

Xin giới thiệu một số động tác yoga đơn giản cho các bà bầu từ sáu đến chín tháng.

Động tác 1: Động tác này giúp dễ sinh nở.

Ngồi lên gót chân, quỳ gối xuống sàn, ngón cái chân phải đặt lên ngón cái chân trái. Cúi cho cằm chạm cổ, hóp bụng thở ra. Nâng cằm. Ngả cổ ra sau, nâng bụng hít vào. Thực hiện từ ba đến năm lần. Xoay cổ sang phải, hóp bụng thở ra. Xoay cổ sang trái, nâng bụng hít vào. Thực hiện từ ba đến năm lần. Tiếp tục đặt hai tay lên vai, xoay đều từ trước ra sau và ngược lại, hít thở tự do.

Động tác 2: Giúp tăng thể lực cánh tay, kéo giãn cơ vai, giúp loại bỏ căng thẳng, lo lắng trong thời gian mang thai, đồng thời có tác dụng làm linh hoạt các khớp xương chậu, giúp thời gian chuyển dạ sau này dễ dàng hơn.

Tư thế quỳ, hai đầu gối rộng bằng vai. Hai tay chống về phía trước, ngang bằng vai. Hóp bụng, cuộn cằm vào sát cổ, hóp bụng thở ra. Từ từ hõm lưng, nâng ngực, nâng cằm, nâng bụng hít vào (thực hiện liên tục năm lần). Duỗi chân phải, đưa thẳng về phía sau, đưa tay trái về trước. Tay, chân, cột sống lưng, cột sống cổ song song với sàn nhà. Hít thở chậm rãi khoảng năm lần. Trở về vị trí ban đầu. Bắt đầu lại từ động tác cuộn cằm, sau đó đổi bên.

Động tác 3: Có tác dụng mở rộng, giãn xương chậu, giúp tăng sức mạnh cho vùng cơ quanh hông, loại bỏ sự đau nhức do căng cơ và dây chằng, giảm phù chân khi mang thai.

Tư thế quỳ, duỗi mu bàn chân về sau, hai gối hơi mở. Bước chân phải về phía trước, chống hai tay trên gối, đẩy hông về phái trước, nâng ngực và cằm lên, hít vào. Từ từ thở ra, trở về tư thế quỳ thẳng. Đưa hai tay lên cao, hít vào, người hơi ưỡn ra phía sau, trở về tư thế ban đầu. Ngồi lên gót chân, ngón cái chân phải đặt lên ngón cái chân trái, hít thở tự do. Khi hết mệt bắt đầu với bên ngược lại.

Động tác 4: Giúp giảm đau lưng và giúp em bé xoay đầu.

Ngồi tự do, hai tay đặt trên đầu gối. Chồm người về phía trước, hít vào, nghiêng người qua trái. Tiếp tục đẩy người về phía sau, thở ra, nghiêng người qua trái. Đẩy người về phía trước, bắt đầu lại từ đầu. Thực hiện khoảng năm lần. Cũng có thể đứng để thực hiện động tác này.

Động tác 5: Giúp căng giãn dây thần kinh liên sườn và thần kinh đáy chậu, giúp bài tiết tốt, tránh hiện tượng tiểu khó.

Ngồi chân phải co, chân trái duỗi một góc 45 độ, nghiêng eo về bên trái. Ngón cái của tay trái đặt lên mu bàn chân trái, các ngón còn lại nắm lấy lòng bàn chân (nếu không nắm đến, có thể dùng một chiếc khăn nhỏ, quấn quanh bàn chân và dùng tay nắm hai đầu khăn). Ngực đẩy về trước, cột sống lưng và cột sống cổ thẳng, tay phải thả lỏng phía trước ngực, mắt nhìn theo tay. Hít vào, kéo dài tay phải về bên phải, tay đưa hơi cao, mắt nhìn theo tay. Thở ra, thả lỏng tay về vị trí cũ.

Động tác 6: Tác động vào cột sống phía sau, giúp giảm chứng đau lưng khi mang thai. Từ tuần thứ 24 trở đi, động tác này sẽ giúp em bé vào đúng vị trí khi sinh nở. Tuy nhiên, động tác này chỉ thích hợp với những bà bầu có sức khỏe tốt.

Đứng thẳng, quay mặt vào tường, hai chân chếch 45 độ, hai gót chạm vào nhau, hai tay đặt lên tường. Hít vào, kiễng gót. Thở ra, dùng hai tay bám vào tường, mở gối, từ từ hạ người xuống hết mức có thể, giữ lưng thật thẳng. Đứng lên chậm và bắt đầu lại từ đầu (tập khoảng ba đến năm lần).

Động tác 7: Thư giãn cơ bắp, giảm mệt mỏi cho cơ thể, đặc biệt là phần chân. Giúp chân không bị chuột rút, mắt cá chân và bàn chân không sưng tấy, đồng thời giúp nới lỏng khung xương chậu.

Nằm nghiêng bên trái, chân hơi co, đầu gối lên tay. Từ từ lăn sang tư thế nằm ngửa, đầu gối co, hai bàn chân sát đất. Trượt dần phần mông về phía dưới cho đến khi mũi chân chạm vào tường. Duỗi chân lên tường, hai tay đặt nhẹ lên bụng, thả lỏng toàn thân. Giữ tư thế trên tùy theo ý muốn. Tiếp tục xoay bàn chân cho hai lòng bàn chân chạm vào nhau, mở gối, thả hai chân nhẹ nhàng xuống và dừng ở vị trí nào cảm thấy thoải mái nhất, thả lỏng toàn thân.

Khi tập xong các động tác, bà bầu có thể thả lỏng bằng cách nằm nghiêng về bên trái, gối đầu lên gối mềm. Đặt một chiếc gối khác giữa hai đùi, hai tay ôm một chiếc khăn lông lớn hoặc mền cuộn tròn. Thả lỏng toàn thân, hít thở đều khoảng năm phút.

Lưu ý: Các bà bầu cần thông báo cho HLV và bác sĩ nếu có bất kỳ một biểu hiện nào bất thường trong quá trình tập luyện.

HLV Lê Thị Kim Yến

(Mommy Spa, 16 Phạm Đình Toái,

Q.3, TP.HCM)

Ảnh: P.Huy

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



(phunu-online)
Bé phát triển toàn diện chính là việc phát triển trọn vẹn các khả năng của 5 giác quan thị giác, thích giác, xúc giác, khướu giác, vị giác.

1. Giao tiếp mặt – mặt là điều thiết yếu

Khi giao tiếp mặt đối mặt, bạn có thể mở cánh cửa các giác quan của bé như xúc giác, thị giác, thính giác. Đồng thời bạn tạo ra một mối liên hệ mạnh mẽ với bé yêu và làm cho bé vững tin, ấm áp trong tình yêu của bạn.

2. Khuyến khích các hoạt động thể chất

Những bé ít hoạt động đặc biệt là cứ nằm ì ra như “một củ khoai tây” thì bạn cần kích thích bé. Ví dụ, bạn có thể dành nhiều thời gian để khuyến khích bé tập bò hoặc bạn có thể đặt đồ chơi bé thích ngoài tầm với của bé để bé bò tới hoặc tìm mọi cách “đoạt” được món đồ chơi đó.

3. Để thời gian chơi chính là thời gian chơi theo đúng nghĩa


Những hoạt động thể chất không có nghĩa là phải tới phòng thể dục, lớp học bơi mà nó có thể là những hoạt động tự nhiên nhất của bé như bò, đi, chạy… tùy theo độ tuổi. Không cần thiết đưa bé tới các lớp học thể dục chính thức. Thực tế, các lớp học thể dục không giúp gì nhiều cho bé trong thời gian này.

Nếu bạn muốn để bé một mình chơi trong phòng thể dục thì bạn cần cân nhắc xem bé có thích thú dành tất cả thời gian chơi của mình ở đó hay không.
Đối với các lớp học bơi, bé yêu dưới 1 tuổi không nên tập bơi. Bé phải 4 tuổi mới có thể tập bơi được


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Dành nhiều thời gian chơi với con...

4. Chọn đồ chơi có thể kích thích theo các giác quan khác nhau

Nếu bạn muốn chọn đồ chơi cho bé vào sinh nhật chẳng hạn, hãy chọn những đồ chơi có tính hoạt động, các loại hình nặn khác nhau, đồ chơi xếp hình, các đồ chơi cần sự khéo léo của đôi tay… Một điều thiết yếu khi mua đồ chơi là đồ chơi đó có thể sử dụng rất nhiều các hoạt động của tay như đẩy, kéo, xoay, bấm, nhấn và nó không chỉ kích thích các giác quan của bé mà còn giúp bé phát triển kĩ năng vận động.

5. Cần ‘đào tạo’ cho người giữ trẻ

Nếu bạn thường xuyên làm việc ở ngoài và ít khi trở về nhà thì hãy dạy người giúp việc, người giữ trẻ những cách khác nhau kích thích giác quan cho bé. Hướng dẫn họ các bài tập thể dục, trò chơi giúp bé phát triển các giác quan.

6. Kiên nhẫn với bé

Bé phát triển và học hỏi từ từ, các kĩ năng cần được trau dồi cho tới khi bé làm chủ được nó và sử dụng nó vào cuộc sống. Sự tập trung của bé yêu vào hành động rất ngắn thậm chí bé còn ngủ ngon lành trong khi bạn hăng hái dạy bé điều này điều kia. Đừng có thất vọng, hãy ôm lấy bé và gợi ý bé chơi các hoạt động khác.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



... là cách mà bạn giúp bé phát triển tốt nhất!

7. Cho bé nhìn ra thế giới


Chỉ ngồi trong nhà và ôm cái TV, bé nào cũng sẽ rất chán. Bạn nên mở rộng tầm nhìn và hiểu biết cho bé bằng việc bế bé đi chơi nhà hàng xóm, tới siêu thị, công viên, sở thú, bảo tàng, chợ động thực vật… Bé có thể nhìn thấy những điều lạ, nghe thấy những âm thanh lạ, ngửi được mùi khác biệt, thưởng thức những thứ quà ngon, chạm vào những chất liệu khác nhau…

8. Coi chừng kích thích bé quá nhiều

Khi bé không thích chú ý nữa, bé sẽ trở nên buồn bã, có khi bé còn khóc. Bé mệt mỏi với bất kì hoạt động nào. Hãy để bé ngủ và nghỉ ngơi lúc này.

9. Hạn chế TV với trẻ sơ sinh

Xem TV không phải là một hoạt động tốt cho bé dưới 1 tuổi. Các ông bố bà mẹ thường bận rộn và cứ ấn bé cùng với chiếc TV cả ngày thực tế đang làm hại bé. Xem quá nhiều TV liên quan tới chứng căng mắt, thụ động, làm cho trẻ nhiễm bạo lực.

10. Hãy để bé sáng tạo

Một tờ giấy trắng cùng bút chì màu không độc sẽ là hai thứ khiến bé thích thú và thỏa thuê sáng tạo. Tuy nhiên, bút chì không nên vót nhọn vì có thể sẽ làm bé bị thương.

Nếu bé có thể đập đồ chơi và ngồi một mình để lắp lại chúng thì bạn nên cho đó là điều đáng mừng. Không nên quát mắng để bé sợ.

(Theo Eva)
Trong năm đầu tiên, kĩ năng ngôn ngữ của bé sẽ phát triển một cách nhanh chóng.
Từ đầu tiên

Bé sẽ nói từ nào đầu tiên? Bố, Mẹ hay Bà? Bạn sẽ nghe thấy từ đặc biệt đó khi con được 1 tuổi và kể từ đó thì không gì có thể ngăn được em bé đang nói líu lo này. Khoảng 15 tháng tuổi, bé sẽ bắt đầu sử dụng phụ âm để tạo ra nhiều từ hơn. Ở 18 tháng tuổi, từ vựng của con sẽ tăng mạnh và có thể nói được vài từ một ngày.

Trẻ có thể tự phát triển được nhưng bố mẹ cũng có thể giúp trẻ phát triển kĩ năng ngôn ngữ. Điều tốt nhất là bạn hãy nói liên tục với em bé 1 tuổi cả ngày.

Nhìn tay con

Trẻ 1 tuổi có thể hiểu được nhiều từ hơn là những từ con có thể nói. Do đó, dùng cử chỉ và giao tiếp phi ngôn từ là kĩ năng quan trọng bạn nên khuyến khích. Khi con vẫy tay thì mẹ hãy đệm thêm là “bye bye”. Hay khi con chỉ vào cái gì đó thì bạn có thể hỏi “con muốn lấy cái cốc à?”.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Ảnh minh họa.



Đọc truyện thật truyền cảm cho con


Bố mẹ thường mắc sai lầm khi cố đọc truyện cho con thật gấp gáp do mệt mỏi hay muốn con ngủ thật nhanh. Nhưng bạn nên đọc truyện cho con vào lúc bạn không bận rộn. Hãy trao đổi về những gì mà bạn nhìn thấy trong bức tranh: “Hãy nhìn cậu bé này xem. Con thấy cậu bé vui hay buồn?”. Bằng cách hỏi như vậy, bạn sẽ giúp con thực hành kĩ năng nói.

Cho con chơi với các bạn cùng trang lứa

Hãy tổ chức các hoạt động dành cho con và các bạn, thậm chí là trẻ 1 tuổi không hề hay nói. Hãy ở bên cạnh trẻ và cho trẻ cơ hội được nghe, giao tiếp và kiểm tra vốn từ vựng của trẻ. Có thể nói vọng lên: “Con được bạn tặng con gấu bông rồi. Hãy nói cám ơn bạn đi nào”.
Bước theo con

Nếu con tò mò về một điều gì đó, rất có thể con sẽ muốn biết nó được gọi là gì. Hãy để ý xem con thích thú với cái gì và nói về điều con đang nhìn: “Đó là con mèo trắng dễ thương”.

Thay đổi giọng điệu

Con sẽ biết được khi bố mẹ ở trong nhà thì nói bằng giọng nhẹ nhàng còn ở bên ngoài thì giọng lớn hơn. Bố mẹ có thể bắt chước giọng bác gấu già ồm ồm hay giọng sợ sệt, lí nhí của chú chuột sóc. Như vậy, con có thể bắt chước và thực hành nhiều giọng điệu khác nhau.

Hãy tương tác với nhau

Trẻ con thích nhạc và hát chính là cách tuyệt vời để dạy thêm từ cho con. Hãy dạy con những bài hát đơn giản, có nhiều tiếng động. Nhưng lưu ý là không nên cho trẻ học qua ti vi vì trẻ nhạy với tiếng bố mẹ và tương tác với bố mẹ hơn.

Theo Eva
Khi mới sinh, bé đã có thể nhìn thấy mọi vật. Lớn dần lên, bé sẽ sử dụng thị giác để thu nạp thêm nhiều hình ảnh về thế giới xung quanh. Hình ảnh sẽ truyền lên não, dẫn tới những hoạt động của bé như ngồi, lăn, bò và đi.

Dù trong tháng đầu tiên, tầm nhìn của bé đã nét nhưng phải đến 6-8 tháng, bé mới nhìn được mọi vật như người lớn.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Quá trình phát triển



Khác với thính giác (có thể hoàn thiện vào tháng đầu tiên), thị giác ở bé phát triển dần dần. Lúc mới sinh, thị giác của bé khá mờ nhạt dù bé nhìn được ánh sáng, hình dạng và cử động. Bé có thể nhìn thấy vật trong cự ly 20-30cm, tương đương với khoảng cách từ bé đến mẹ khi được bế. Vì thế, khuôn mặt người thân là điều thú vị nhất với bé ở giai đoạn này; tiếp đến là những vật có màu tương phản như bàn cờ đen và trắng. Tầm nhìn của bé được cải thiện từ từ, đến khoảng 8 tháng là tương đối hoàn chỉnh.

Dù trong tháng đầu tiên, tầm nhìn của bé đã nét nhưng phải đến 6-8 tháng, bé mới nhìn được mọi vật như người lớn

Giai đoạn một tháng tuổi

Lúc mới sinh, bé không biết phối hợp hai mắt với nhau nên thỉnh thoảng, bạn sẽ thấy mắt của con “đi lang thang”. Khoảng 1-2 tháng, bé biết cách tập trung cả hai mắt khi theo dõi một vật chuyển động. Một chiếc lục lạc gần khuôn mặt bé sẽ thu hút bé; hoặc bạn có thể chơi trò “mắt đối mắt”  - ghé sát vào mặt con rồi chầm chậm nghiêng đầu từ bên này sang bên kia.

Hai tháng

Bé nhìn thấy màu sắc từ khi sinh ra, nhưng lại gặp khó khăn phân biệt tông màu như màu đỏ và cam. Kết quả, bé thường thích màu đen - trắng hoặc màu có độ tương phản cao. Tuy nhiên khoảng 2-4 tháng, sự khác biệt màu sắc sẽ trở nên rõ ràng hơn và bé bắt đầu biết nhận diện màu. Bé quan tâm nhiều hơn đến đồ vật màu sắc tươi sáng, chi tiết và thiết kế phức tạp. Bạn có thể cho bé quan sát những bức ảnh sáng màu, sách và đồ chơi .

Bốn tháng

Bé có thể nhìn những đồ vật ở xa hơn. Bé biết điều khiển cánh tay tốt hơn; vì vậy, bé dễ dàng chộp tay vào tóc và hoa tai của mẹ chính xác.

Năm tháng


Tại thời điểm này, bé nhận dạng được tốt hơn ở các đồ vật rất nhỏ và theo dõi chuyển động của chúng. Thậm chí, bé có thể nhận ra một đồ vật sau khi nhìn thấy chỉ một phần của nó. Bé 5 tháng phân biệt tốt những màu in đậm.

Tám tháng

Lúc này, tầm nhìn của bé đạt 20/40, gần được bằng người lớn. Mặc dù tầm ngắn, thị giác của bé đủ để nhận ra người thân và đồ vật trong một căn phòng.

Sự phát triển tiếp theo của thị giác

Thị giác của bé tiếp tục phát triển đầy đủ ngay từ khi bé còn nhỏ, nhưng điều quan trọng là cha mẹ nên kiểm tra mắt cho bé thường xuyên để phát hiện sớm những trục trặc. Nên cho bé đi khám sức khỏe tổng quát.

Vai trò của bạn

Nghiên cứu cho thấy, bé sơ sinh rất hứng thú với khuôn mặt người thân và màu sắc, do đó, hãy giữ khuôn mặt bạn gần với khuôn mặt con để bé bắt chước những cử động trên khuôn mặt. Vào khoảng một tháng, hầu như bất cứ thứ gì bạn đặt trước mặt bé đều được bé tự nhận diện và ghi nhớ. Hãy di chuyển một quả bóng nhựa hoặc đồ chơi nhựa sáng màu sang hai bên của bé. Sau đó, thử di chuyển đồ vật lên – xuống để thu hút sự chú ý của bé, dù bé chưa thể dõi mắt theo những cử động thẳng đứng cho đến 3-4 tháng tuổi.

Như đã đề cập ở trên, khuyến khích sự quan tâm của bé tới những màu cơ bản và những màu nhạt. Hãy treo đồ chơi, tranh ảnh lên quanh cũi của bé.

Dấu hiệu cần lo lắng

Bé cần được kiểm tra thị giác đều đặn, ngay từ khi sinh ra và tiếp tục trong mỗi lần đưa bé đi khám sức khỏe. Những bệnh về mắt ở bé sẽ được điều trị khỏi nếu phát hiện sớm. Nếu bé không thể tập trung hoặc khó theo dõi một đồ vật (hay khuôn mặt của bạn) với cả hai mắt ở tháng thứ 3-4, bạn nên đưa bé đi khám.

Bé sinh non có nguy cơ mắc bệnh về mắt gồm loạn thị, cận thị và lác; do đó, cha mẹ nên chú ý đến thị giác của bé sinh non. Đưa bé đi khám nếu:

- Bé khó khăn khi di chuyển một (hoặc cả hai) mắt.

- Bé nhìn ngang mọi lúc.

- Một (hoặc hai) mắt của bé có xu hướng lồi ra ngoài.

Theo Ngọc Huê
Mevabe.net
(tintuconline)
Hiện nay, nhiều sản phụ chọn cách sinh mổ vì sợ đau đẻ, đồng thời chủ động được thời gian, tránh cho người nhà và sản phụ những căng thẳng, mệt mỏi của quá trình chờ sinh. Tuy nhiên, theo các bác sĩ, sinh thường mới là “giải pháp tối ưu” cho cả mẹ và bé.

Sinh mổ khi nào?

Các bác sĩ sẽ chỉ định sinh mổ trong trường hợp sản phụ gặp những vấn đề không thể sinh thường như: khung chậu hẹp, bất tương xứng giữa đầu thai với khung chậu vì em bé quá to khoảng trên 4kg (đầu thai lớn hơn khung chậu sản phụ), mẹ mắc bệnh tim mạch, không đủ sức rặn hoặc tử cung không gò được để đẩy thai ra ngoài và biện pháp giục sinh đã thất bại… Ngoài ra, còn có trường hợp sinh khó buộc phải mổ: ngôi thai xoay ở tư thế bất thường ở cuối kì (ngôi mông, ngôi ngang…) nếu không phẫu thuật sẽ nguy hiểm cho mẹ và bé; hoặc thai suy khi đang chuyển dạ, nước ối không tốt… bác sĩ cũng sẽ quyết định cho sinh mổ để bảo đảm an toàn cho mẹ và bé.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Chỉ sinh mổ khi có chỉ định của bác sĩ. Ảnh: Hồng Nga



Những nguy cơ của sinh mổ

Hiện không ít người mẹ quyết định phương pháp sinh mổ để chọn “ngày đẹp, giờ vàng” cho bé ra đời hoặc vì lý do sợ đau, sợ bị giãn âm đạo khi sinh thường. Tuy nhiên, người mẹ phải hết sức thận trọng vì biện pháp sinh này có thể đưa lại những nguy cơ như:

- Sinh mổ sẽ tránh cho người mẹ những cơn đau khi chuyển dạ, tuy nhiên, những thủ thuật sau đó lại khiến người mẹ bị đau hơn nhiều.

- Những nguy cơ khi sinh mổ như: tai biến khi gây tê, vết mổ bị rách, chảy máu, tổn thương đường tiết niệu, nhiễm trùng, băng huyết… đe dọa trực tiếp đến sức khỏe người mẹ. Đặc biệt, nhiễm trùng mổ có khả năng gây hoại tử cổ tử cung. Nguy hiểm hơn, sinh mổ còn khiến người mẹ có thể bị tắc ruột, tắc ống dẫn trứng, gây vô sinh thứ phát.

Ngoài ra, sinh mổ cũng buộc người mẹ phải dùng kháng sinh trong khoảng thời gian cho bé bú sau đó. Điều này sẽ khiến chất lượng sữa của mẹ giảm sút, thậm chí còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe bé. Những bé sinh mổ có nguy cơ suy yếu hệ miễn dịch và hô hấp lớn hơn nhóm bé được sinh thường.

Sau mổ bao lâu có thể mang thai lại?

Những người đã sinh mổ là trường hợp gặp những vấn đề không thể sinh thường nên lần sinh sau thường cũng phải áp dụng biện pháp sinh mổ. Trong lần sinh sau bác sĩ vẫn sẽ thao tác trên vết mổ cũ nên nếu khoảng cách giữa hai lần sinh quá gần vết khâu sẽ không an toàn (rách, bung đường khâu…) hoặc thai to cũng sẽ làm rách, bục vết khâu của lần sinh trước. Đồng thời, các cơ quan nội tạng sẽ bị tác động tiếp tục và làm gia tăng khả năng dính ruột, rất nguy hiểm. Những sản phụ phải sinh mổ chỉ nên sinh tối đa là 2 lần, khoảng cách giữa hai lần sinh là 5 năm để không ảnh hưởng đến sức khoẻ. Trong khoảng từ 2 – 3 năm, nếu bị “nhỡ” thì có thể giữ lại nhưng để đảm bảo an toàn cho cả mẹ và con cần được các bác sĩ chuyên khoa theo dõi chặt chẽ.

Hiện nay, các bệnh viện cũng đang triển khai thực hiện giải pháp “đẻ không đau”. Thực chất đây chỉ là giảm đau sản khoa bằng cách tiêm thuốc tê vào các khe trống giữa các đường dẫn tủy trong cột sống. Lúc này, sản phụ vẫn hoàn toàn tỉnh táo vì thuốc chỉ lan đến các dây thần kinh phía dưới cơ thể nên làm giảm cảm giác đau vùng này. Thai phụ chỉ có cảm giác đau nhẹ đủ để tạo sức rặn giúp tử cung gò đẩy thai ra ngoài. Phương pháp này cũng giúp các thai phụ giảm bớt cảm giác sợ những cơn đau đẻ.

Sinh thường bao giờ cũng tốt nhất cho cả mẹ và bé, nên trong những trường hợp không bắt buộc phải can thiệp phẫu thuật, bác sĩ vẫn khuyên các sản phụ nên chọn biện pháp sinh thường.

Bác sĩ  Nguyễn Thanh Thủy
(suckhoe-doisong)
Một đứa con với thân hình cao lớn, thông minh và khỏe mạnh là niềm mong mỏi của các bậc làm cha mẹ. Đặc biệt trong cuộc sống hiện đại, đời sống nâng cao, mức độ quan tâm về vật chất lẫn tinh thần đến con cái ngày càng tăng lên.

Tuy nhiên, không phải bậc cha mẹ nào cũng có cách hiểu thấu đáo về dinh dưỡng cho trẻ, cách làm thế nào để đứa con yêu của bạn có một chiều cao lý tưởng, một thân hình cân đối khỏe mạnh.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Trước hết, bạn cần biết rằng có 3 giai đoạn cơ thể tăng trưởng rất nhanh về chiều cao:

- Giai đoạn trong bào thai: quá trình 9 tháng mang thai, nếu người mẹ được ăn uống, bổ sung dưỡng chất tốt, tăng từ 10 - 20kg thì con sẽ đạt được chiều cao 50cm lúc chào đời và nặng từ 3kg trở lên.

- Giai đoạn sơ sinh đến 3 tuổi: trong 12 tháng đầu trẻ tăng 25cm; 2 năm tiếp theo mỗi năm trẻ cao thêm 10cm nếu được nuôi dưỡng tốt.

- Giai đoạn dậy thì: giai đoạn phát triển chiều cao mạnh nhất với con gái từ 10 - 16 tuổi và con trai từ 12 - 18 tuổi.

Việc chăm sóc nuôi dưỡng trong các giai đoạn mang thai, 3 năm đầu và giai đoạn dậy thì là rất quan trọng để phát triển chiều cao của trẻ. Các nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng của các yếu tố đến sự phát triển chiều cao cụ thể: dinh dưỡng 32%, di truyền (23%); rèn luyện thể lực (20%), môi trường sống, ánh nắng, bệnh tật, giấc ngủ... (25%). Để con bạn phát triển chiều cao tối ưu, bạn cần lưu ý:

1. Nuôi dưỡng trẻ với một chế độ dinh dưỡng hợp lý: ăn đủ năng lượng để giúp cơ thể khỏe mạnh và tăng trưởng liên tục. Bữa ăn phải đầy đủ rau xanh, thịt, cá, trứng, sữa…

2. Rèn luyện thể lực: cho trẻ tập thể dục thường xuyên phù hợp với lứa tuổi và sự tăng trưởng của trẻ.

3. Môi trường sống: Phải trong lành, nhiều oxy và ánh nắng.

Môi trường sống trong lành, giàu oxy, ánh nắng giúp bé hấp thu các chất dinh dưỡng, phát triển cân đối

4. Chăm sóc y tế: Bạn cần cho con tiêm phòng đầy đủ theo Chương trình Tiêm chủng mở rộng để con bạn được bảo vệ khỏi các bệnh nguy hiểm. Việc giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ giúp con bạn ít bị các bệnh nhiễm khuẩn, ngộ độc, nhờ đó mà con bạn có điều kiện lớn nhanh hơn.

5. Canxi là một khoáng chất quan trọng trong cấu trúc xương (chiếm 99%), làm cho xương vững chắc và giúp trẻ phát triển chiều cao. Ngoài việc cho trẻ ăn thức ăn có nhiều canxi gồm: sữa, cá, tép, tôm, cua, nghêu sò, ốc hến, đậu hũ, các loại rau, các bậc cha mẹ cũng nên bổ sung các sản phẩm có chứa canxi cho trẻ. Một sản phẩm chứa Canxi tốt phải đảm bảo các yếu tố sau:

• Hợp chất chứa Canxi phải là dạng dễ hấp thu nhất (Canxi Gluconat là hợp chất dễ hấp thu nhất).

• Phải chứa Vitamin D3 ở hàm lượng thích hợp, vì Vitamin D giúp xương hấp thu được Canxi.

• Phải giúp cho hệ tiêu hóa của bé khỏe mạnh, không bị táo bón. Vì sản phẩm chứa Canxi rất dễ gây táo bón. Nếu bé bị táo bón sẽ dẫn tới giảm hấp thu dưỡng chất và Canxi, khiến bé càng còi xương và chậm lớn. Vì vậy các chế phẩm chứa Canxi này nên bổ sung một lượng men tiêu hóa sống để giúp hệ tiêu hóa của bé được khỏe mạnh, chống táo bón, tăng cường hấp thu canxi và dưỡng chất.

Canxi King là thực phẩm chức năng được bổ sung Canxi gluconat (loại canxi dễ hấp thu nhất). Ngoài ra còn chứa Lysin, các Vitamin như Vitamin D3, men bia tươi. Đặc biệt Canxi King có chứa men tiêu hóa sống là 3 chủng vi khuẩn đã được định tên rõ ràng là Lactobacilus acidophilus La-5, Bifidobacterium Bb-12 và Streptococcus thermophilus TH-4. Đây là các chủng vi khuẩn có hoạt lực mạnh nhất được nhập khẩu trực tiếp từ Đan mạch do Công ty Ch. Hansen sản xuất, với công nghệ bao vi nang Polysaccharide Matrix hiện đại nhất thế giới. Canxi King sẽ cung cấp cho bé yêu của bạn hệ tiêu hóa khỏe mạnh, tăng cường khả năng hấp thu canxi và dưỡng chất, giúp bé yêu có một cơ thể cân đối và chiều cao lý tưởng.

Canxi King thực sự là người bạn thân thiết của con bạn.

CANXI-KING LỚN CÙNG TRẺ EM

Global marketed by:

GALIEN PHARMA

Z.A Les Hauts de Lafourcade, 32200 Gimont, France.

Thông tin chi tiết về sản phẩm, xin liên hệ:

Công ty Cổ phần Thương mại và Dược phẩm An Bình

Đ/c: Số 4, Ngách 21/4, Phường Phương Mai, Quận Đống Đa, Hà Nội

ĐT: 04 35772420 - Fax: 04 35772422

Email: info@abpharma.vn

Website: www.abpharma.vn

(24h)
Theo Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM, kết quả các cuộc điều tra dịch tễ về vi chất dinh dưỡng (VCDD) ở VN cho thấy, tình trạng thiếu vitamine A, thiếu máu do thiếu sắt và các rối loạn do thiếu iốt là nghiêm trọng và phổ biến trong cộng đồng, đặc biệt trên đối tượng trẻ em và phụ nữ.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Dù VN có các chương trình quốc gia về phòng chống thiếu VCDD, nhưng vẫn tồn tại tình trạng thiếu vitamine A tiền lâm sàng (thiếu nhẹ, chưa có biểu hiện bên ngoài) ở trẻ em dưới 5 tuổi và bà mẹ cho con bú tại TP.HCM. Trẻ nhỏ vẫn còn nhiều nguy cơ bị thiếu vitamine A. Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại TP.HCM là 17,5%, thiếu sắt là 42,7%. Thiếu máu ở bà mẹ cho con bú là 9,6%. Ở trẻ dưới 5 tuổi tỷ lệ thiếu máu là 11,6%. Tình trạng thiếu iốt ở phụ nữ mang thai đến 72,8%.

Ngọc Lâm
(Phunu-online)
Những thắc mắc muôn thuở của người phụ nữ khi tìm đến biện pháp tránh thai luôn nghĩ rằng thuốc tránh thai (TTT) có thể sẽ gây vô sinh? Rất muốn hỏi ai đó về tình dục, cách tránh thai nhưng lại e ngại họ sẽ thắc mắc làm bạn xấu hổ? Hoặc muốn uống TTT nhưng không nói cho mọi người biết?

Có thể khẳng định “TTT là biện pháp ngừa thai có hồi phục. Chỉ có tác dụng ngừa thai trong thời gian dùng thuốc, còn ngừng thuốc là có khả năng mang thai ngay”. Thậm chí trước đây, người ta còn dùng TTT để điều trị cho những trường hợp khó mang thai. Bác sĩ cho bệnh nhân uống thuốc tránh thai trong một thời gian nhất định để gây hiện tượng ức chế buồng trứng. Sau đó, cho dừng thuốc đột ngột, kích thích trứng rụng để người bệnh có khả năng mang thai. Vì thế, không có một căn cứ nào để nói dùng TTT lâu có thể dẫn đến vô sinh. Dùng thuốc tránh thai từ 5 - 6 năm, thậm chí lâu hơn rồi ngừng lại vẫn có khả năng mang thai ngay. Tuy nhiên, các bác sĩ đều đưa ra lời khuyên, ngừng TTT vài tháng mới nên mang thai vì rất dễ mang song thai, đa thai nếu có thai ngay.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Các loại thuốc tránh thai.
Uống TTT dễ béo phì?


Câu trả lời là sai. Thực tế, một số người uống TTT có khả năng béo phì, tăng cân, nhưng không phải là tất cả. Và bác sĩ cũng không thể xác định trường hợp nào dễ béo phì khi uống thuốc. Vì thế, chỉ có cách là mọi người khi uống thuốc thì tự theo dõi tình trạng sức khỏe, cân nặng của mình. Nếu thấy lên cân, béo lên nhiều thì phải tìm biện pháp tránh thai khác.

Dùng TTT gây khô âm đạo?


Đúng là dùng một số loại thuốc, âm đạo sẽ bị khô. Cần biết rằng, sự ẩm ướt, hay “khô hạn” của âm đạo là do estrogen và progestin gây nên. Sự ẩm ướt mạnh nhất trong thời điểm trứng rụng là vì lúc này hormone estrogen được sản xuất ra nhiều nhất. Sau vài ngày rụng trứng thì âm đạo trở về bình thường, thậm chí khô vì lúc này progestin nhiều, estrogen ít đi. Trong khi đó, nếu sử dụng viên thuốc ngừa thai kết hợp giữa hai nội tiết tố là estrogen và progestin thì một số người cảm thấy âm đạo khô hơn. Nhưng cần phân biệt, khô ráo trong lúc bình thường khác hẳn sự “khô hạn” khi quan hệ. Nếu bình thường thấy khô, sạch sẽ, nhưng khi quan hệ, âm đạo vẫn tiết dịch như thường thì không thể “quy tội” TTT làm khô âm đạo.

Uống TTT lâu ngày gây ung thư vú?

Đây là một quan niệm sai. Sự thật, không có mối liên quan nào giữa uống TTT và ung thư vú. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ được xác định là ung thư (ung thư vú hay bất cứ loại ung thư cơ quan sinh dục nào) thì đều không được sử dụng TTT cũng như tất cả các loại thuốc nội tiết tố khác. Ung thư vú là bệnh có liên quan tới estrogen. Hiện nay, các nhà khoa học vẫn tranh luận những phụ nữ đã từng chữa khỏi ung thư vú liệu có được tiếp tục sử dụng TTT hay không? Và hiện vẫn chưa có câu trả lời chính thức cho vấn đề này.

Phụ nữ mãn kinh nên uống TTT bổ sung nội tiết tố?

Sai. Vì nhóm TTT dù có kết hợp giữa hai nội tiết tố estrogen và progestin, nhưng không phải là thuốc nằm trong nhóm thuốc bổ sung nội tiết thay thế ở phụ nữ mãn kinh. Những người mãn kinh mà muốn bổ sung nội tiết tố, phải uống loại thuốc khác và phải tuân theo chỉ định của thầy thuốc.

Thuốc có tác dụng điều trị mụn trứng cá?

Thời gian gần đây, nhiều người đề cập đến một tác dụng khác của TTT, đó là trị mụn trứng cá hiệu quả và đã được ứng dụng trong thực tế. Tuy vậy, mọi người không nên tự ra hiệu thuốc mua về dùng vì không phải loại thuốc nào cũng có tác dụng này. Hơn nữa, tác dụng điều trị mụn trứng cá ở mỗi loại thuốc lại rất khác nhau, vì hàm lượng progestin là khác nhau. Thậm chí trong 2 loại thuốc của cùng một hãng sản xuất, thành phần chất này cũng đã khác nhau. Nếu người phụ nữ dùng TTT chỉ với mục đích ngừa thai bình thường thì có thể tự đến hiệu thuốc mua. Nhưng nếu nhằm mục đích điều trị mụn trứng cá, thì phải tuân theo chỉ định của thầy thuốc. Và cần lưu ý, phải dùng đúng nguyên tắc như dùng TTT, phải dùng đúng chỉ định, theo đúng hướng dẫn nếu không sẽ có nguy cơ gây rối loạn kinh nguyệt.

BS. NGUYỄN ĐỨC
(suckhoe&doisong)
Một phụ huynh hỏi: 'Con em được 8 tháng 10 ngày, cháu đã tiêm phòng đủ theo lịch của viện. Có tiêm phòng thêm cúm lúc 8 tháng, viêm màng não mủ lúc 6 tháng, uống vacxin tiêu chảy Rota. Bác sĩ cho em hỏi các tháng tiếp theo cháu phải tiêm phòng gì nữa không? Em cảm ơn bác sĩ'.
ThS.BS. Lê Nguyễn Thanh Nhàn (BV Nhi đồng 1) trả lời như sau:

Cháu cần tiêm sởi lúc 9 tháng tuổi, vacxin này chị sẽ tiêm phòng tại trạm y tế phường. Khi cháu được 12 tháng tuổi, cháu cần tiêm phòng viêm não Nhật Bản, thuỷ đậu, quai bị.

- Con trai tôi 33 tháng tuổi nhưng chưa được tiêm phòng lao(BGG). Xin hỏi tôi còn có thể cho con tôi tiêm phòng mũi lao không và tiêm ở đâu? Đến Nhi đồng 1 tiêm được không?

- Cháu cần thử phản ứng lao tố (IDR) xem trong cơ thể cháu có kháng thể chống lại bệnh lao chưa. Nếu đã có kháng thể thì không cần tiêm phòng lao nữa. Tuy nhiên, theo qui định của chương trình tiềm chủng mở rộng quốc gia hiện nay thì các cháu trên 12 tháng không cần tiêm phòng lao vì hầu hết các cháu đã có sức đề kháng do đã bị nhiễm lao nhưng không biểu hiện bệnh.

- Bé nhà em được 2,5 tháng. Em muốn đưa bé đi tiêm phòng mũi 6 trong 1 ở BV Nhi Đồng 1 có được không ạ? Bé đã tiêm phòng lao + viêm gan mũi 1 rồi. Lúc 2 tháng bé chưa đủ 5kg nên chỗ y tế phường chưa cho tiêm. Nếu được thì em có thể đưa bé đến vào lúc nào và chi phí cụ thể là bao nhiêu? Em xin cám ơn

- Cháu được 2,5 tháng có thể tiêm phòng vacxin 6 trong 1 (Infanrix-hexa). Bệnh viện tiêm phòng từ thứ hai đến sang thứ bảy, chiều thứ bảy và chủ nhật nghỉ. Giá mỗi mũi vacxin 6 trong 1 là 536 nghìn đồng chưa kể tiền khám.

- Tiêm sởi - quai bị - rubella lúc nào là tốt nhất?

- Thời điểm tiêm sởi - quai bị - rubella tốt nhất là lúc cháu 15 tháng tuổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy, ở thời điểm này đáp ứng miễn dịch của bé đối với vacxin này là cao nhất.

- Hiện nay, bé nhà tôi đã được 14 tháng tuổi. Tôi đã cho cho bé tiêm chủng các mũi tiêm chủng quốc gia (chỉ còn quai bị là chưa tiêm, vì cơ sở y tế phưởng chỗ tôi cho bé đi tiêm phòng nói, bé phải từ 15 tháng tuối trở lên mới tiêm được). Như vậy có đúng không ? Ngoài ra, tôi đã cho bé tiêm phòng thêm mũi cúm vào tháng 2 và nhắc lại vào tháng 3 vừa rồi. Tôi muốn nhờ bác sĩ tư vấn giúp sẽ tiêm phòng tiếp cho bé mũi gì và vào lúc nào?

- Vacxin sởi - quai bị - rubella có thể tiêm phòng cho bé từ 12 tháng tuổi trở lên. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu cho thấy thời điểm để cơ thể bé có đáp ứng miễn dịch với vacxin sởi tốt nhất là 15 tháng tuổi. Cháu 14 tháng tuổi có thể tiêm phòng các vacxin sau: Trái rạ, viêm não Nhật bản, viêm màng não mủ, viêm gan siêu vi A. Hai vacxin sởi - quai bị - rubella và trái rạ phải tiêm cách nhau ít nhất 1 tháng.

- Xin cho em hỏi, bé nhà em tiêm phòng viêm não nhật bản 2 mũi đầu lúc 15 tháng tuổi nhưng chưa tiêm mũi thứ 3 (đúng hẹn 1 năm sau) vì khi tới đợt tiêm bé lại bệnh. Nay bé được 30 tháng tuổi, vậy bé tiêm phòng mũi thứ 3 có hiệu quả không hay phải tiêm lại từ đầu? Bé nhà em hay bị viêm phế quản, viêm phổi và mới đây chuyển sang viêm tai giữa. Vậy bé có tiêm phòng được vacxin Hib và vacxin ngừa khuẩn cầu phổi không ạ?Thời gian bé miễn dịch bệnh nếu tiêm phòng là được bao lâu ạ? Hết thời gian lại phải tiêm lại ạ?Hiện tại mình đã có vacxin ngừa khuẩn cẩu phổi chưa ạ?


- Cháu nên tiêm tiếp mũi viêm não Nhật Bản thứ ba mà không cần tiêm lại từ đầu vì vẫn còn hiệu quả miễn dịch. Hiện nay, vacxin viêm não Nhật Bản đang tạm hết, khi nào có vacxin trở lại, chị đem cháu đến tiêm càng sớm càng tốt.

Cháu 30 tháng tuổi có thể tiêm phòng Viêm màng não mủ Hib. vacxin này chỉ tiêm một lần cho bé từ 12 tháng đến 5 tuổi. Hiệu quả bảo vệ đến 5 tuổi. Sau 5 tuổi không cần tiêm nữa vì hầu hết các cháu ở lứa tuổi này đều có kháng thể. Hiện tại, ở Việt Nam chưa có vacxin phế cầu khuẩn loại tái tổ hợp mà chỉ có loại polysaccharide. Ở bé em, vacxin phế cầu khuẩn loại tái tổ hợp thì thích hợp và hiệu quả hơn.

- Cháu nhà em nay được 37 tháng tuổi nặng 13kg, hầu như tháng nào cháu cũng bị viêm họng, sổ mũi, sốt, ho, khám bác sĩ ghi bênh viêm họng mãn tính, amidan cấp (đã tránh không cho cháu ăn uống nóng, lạnh, giữ ấm cho cháu). Em có biết có thuốc tiêm phòng cúm cho bé trên 3 tuổi, vậy xin hỏi bác sĩ trường hợp cháu nhà em nếu tiêm phòng có thể giảm nguy cơ mắc bệnh trở lại không? Có cần tiêm phòng thêm bệnh gì nữa không? Xin cảm ơn bác sĩ.


- Có nhiều nguyên nhân gây sốt, ho, sổ mũi ở bé. Cúm chỉ là một trong những nguyên nhân trên. Virus cúm thay đổi theo mùa nên tiêm chủng vacxin cúm chỉ phòng bệnh cúm trong một thời gian (thường là 6 tháng), sau đó cần tiêm nhắc lại. Vì vậy, tiêm vacxin cúm chỉ phòng bệnh cúm trong một thời gian (khoảng 6 tháng) mà thôi không phòng được các nguyên nhân gây bệnh khác.

Cháu 37 tháng có thể tiêm viêm màng não mủ do Hib, não mô cầu, viêm não Nhật Bản, trái rạ, quai bị, thương hàn, viêm gan siêu vi A. Mỗi lần chỉ tiêm một mũi. Chị nên thu xếp đưa cháu đến bệnh viện tiêm cho cháu.

- Con tôi nay đã 14 tháng tuổi, lúc mới sinh cho đến nay đã tiêm phòng viêm gan siêu vi b 3 lần ở bệnh viện Từ Dũ. Nay tôi muốn tiêm phòng nhắc lại  mũi vacxin viêm gan B thì tiêm phòng tại bệnh viện nhi đồng có được không vì tôi đang thắc mắc hai bệnh viện dùng hai loại vacxin khac nhau thì có tiêm được không. Mong bác sĩ giải đáp giúp. Thành thật xin cám ơn!

- Theo lịch tiêm chủng mở rộng hiện nay, vacxin viêm gan siêu vi B chỉ cần tiêm 3 lần là đủ không cần tiêm nhắc lại. Tuy nhiên, việc tiêm thêm mũi nhắc lại sẽ giúp cháu củng cố thêm đáp ứng miễn dịch và không có hại gì. Thông thường những vacxin mà Bộ Y tế cho phép sử dụng ở nước ta đã được chứng minh tính an toàn và hiệu quả. Do vậy, dù lần này tiêm vacxin của hãng A, lần sau tiêm vacxin của hãng B (nhưng cùng là vacxin viêm gan B) vẫn cho thấy có hiệu quả đáp ứng miễn dịch tốt.

- Mũi sởi - quai bị - rubella (vacxin priorix) và mũi Pentaxim cần có khoảng cách tối thiểu la bao lâu? Mũi Pentaxim nhắc lại sau 1 năm có thể tiêm muộn hơn lịch tối đa là bao lâu? Em cám ơn nhiều!

- Về nguyên tắc vacxin sởi - quai bị - rubella có thể tiêm cùng lúc với vacxin pentaxim. Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn, hai loại vacxin này nên tiêm ở hai ngày khác nhau. vacxin pentaxim mũi nhắc nếu không tiêm đúng lịch được thì nên thu xếp tiêm càng sớm càng tốt. Bạn hình dung việc tiêm chủng cho bé giống như bạn gửi tiền trong ngân hàng, gửi càng sớm hiệu quả càng cao, tiêm càng đúng lịch đáp ứng miễn dịch càng tốt.

Các vấn đề khác

- Tôi có một cháu gái. Sau khi sinh vài ngày tuổi, cháu khóc không có nước mắt, các BS BV Từ Dũ khám và bảo cháu bị nghẽn tuyến lệ, có cho thuốc nhỏ mắt. Về nhà cháu vẫn không khỏi, mắt đổ ghèn, có đi khám BS khoa nhi định kì khi cháu tròn tháng tuổi, BS cho nhỏ thuốc kháng sinh đến hêt một tuần nhưng vẫn không khỏi. Xin hỏi: Nghẽn tuyến lệ ảnh hưởng như thế nào đến sức khoẻ của bé? Tôi có cần đưa cháu đi BV không? BV nào để điều trị tốt nhất?

- Nghẽn tuyến lệ hay còn gọi là tắc lệ đạo là một bệnh hay gặp ở bé sơ sinh. Bệnh này điều trị bằng cách thông lệ đạo, tuy nhiên chỉ thực hiện khi bé từ 3 tháng tuổi trở lên mà chưa khỏi. Khi mắt cháu đổ ghèn là dấu hiệu bị viêm kết mạc, cần đến bác sĩ chuyên khoa mắt nhi khám và điều trị. Nghẽn lệ đạo không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của bé.

- Con gái em 1 tháng tuổi nặng 4kg, cứ khoảng 7h sáng là bé thức tới khoảng 4h chiều bé không ngủ, tối bé ngủ ngon và bú nhiều. Lúc bé thức bế bé trên tay ru ngủ thì bé chỉ nhắm mắt lim dim đặt bé xuống giường là bé khóc rất nhiều, ban ngày bé không chịu bú mẹ, chủ yếu là bé bú bình. Có lúc bế bé, bé không khóc nhưng có lúc bế thì bé khóc rât nhiều. Xin bác sĩ cho biết bé bị gì và cách điều trị.

- Bé 1 tháng tuổi trung bình ban ngày ngủ 7 tiếng, ban đêm ngủ 8,5 tiếng. Ban ngày cháu không ngủ tốt, gia đình nên xem lại các điều kiện ảnh hưởng đến giấc ngủ của bé như nhiệt độ phòng, tiếng ồn, thói quen nằm võng, nôi hay ngủ trên tay mẹ …. Nếu cháu khóc nhiều, kéo dài không cách nào làm dịu được cơn khóc cần đưa đến bác sĩ chuyên khoa khám.

(Theo BV Nhi đồng 1)

Trong cái nắng oi nồng, nóng bức của mùa khô, đã có không ít bà mẹ đang cố gắng lùng mua cho những "thiên thần" của mình các loại sản phẩm "chống nóng" có hiệu quả.


Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



Cũng để đáp ứng nhu cầu này và tạo sự yên tâm cho các bà mẹ, thị trường đã xuất hiện ngày càng nhiều sản phẩm chuyên dùng dành cho trẻ con và thành phần thảo dược được lạm dụng triệt để. Vì thế, trong vô số sản phẩm này có không ít loại thuộc diện cảnh báo…

Một trong những sản phẩm hiện đang rất đắt hàng tại chợ Đông dược trên đường Hải Thượng Lãn Ông (quận 5, TP HCM) là loại thảo dược tắm cho trẻ. Do nhu cầu của người mua khá đông nên nhiều nhà thuốc đã trưng ra vô số các loại "lá tắm" với các tên gọi: lá tắm dưỡng da, lá tắm chống rôm sảy, ngứa… Nhưng nhìn chung đều có tác dụng là làm mát, giải nhiệt, trẻ em sử dụng rất phù hợp và tốt cho sức khỏe trong mùa nắng nóng như hiện nay.

Theo khảo sát của chúng tôi, loại lá tắm này rất đa dạng, phổ biến nhất là loại được đóng gói sẵn trong bịch ni lông giá 10.000đ - 20.000đ gói. Khi chúng tôi hỏi về nhãn sản phẩm để tìm những thông tin cần thiết như: Thành phần, công dụng, ngày đóng gói, hạn sử dụng… thì người bán hàng cho rằng, sản phẩm do cửa hàng tự đóng gói và nguyên liệu lúc nào cũng sẵn có nên không cần thiết phải ghi thông tin. Nhưng trong mỗi gói lá tắm như vậy có không dưới 10 loại thảo dược khác nhau(?).

Cũng đánh vào tâm lý trẻ nhỏ thường ngứa ngáy, khó chịu trong mùa oi nóng dễ dẫn đến mất ngủ, cáu bẳn, một loại sản phẩm thảo dược khác cũng xuất hiện  giúp trẻ cải thiện sự "khó tính" này. Trong quảng cáo của một đơn vị sản xuất sản phẩm gối thảo dược (gối nằm có nguyên liệu bằng thảo dược) đăng tải trên trang web, giới thiệu hai loại gối thảo dược được làm từ vỏ đỗ và thảo quyết minh (hạt muồng), công ty này cho rằng: "Sách y học cổ truyền về thảo quyết minh có ghi: Gối thảo quyết minh chữa khó ngủ, căng thẳng, cao huyết áp; vỏ đậu xanh có tính mát, thanh nhiệt, giải độc, ngừa say nắng, giảm bứt rứt, trừ tâm hỏa... làm gối nằm thích hợp cho mùa nóng và người bệnh tăng huyết áp, mắt đỏ, đau họng...".

Sản phẩm gối thảo dược này không chỉ dành cho người lớn mà sản phẩm cũng được công ty khuyên dùng cho trẻ em vì rất tốt, có giá từ 70.000 - 100.000đ/chiếc. Khảo sát thị trường, chúng tôi cũng nhận thấy có rất nhiều nơi bán gối thảo dược này từ chợ, cửa hàng, thậm chí bán ở cả lề đường. Hầu hết các loại sản phẩm này bán trôi nổi, không có nguồn gốc rõ ràng.

Theo giới thiệu của người bán thì bên trong gối có nhiều loại thảo dược như: lá đinh lăng, ngải cứu, thảo quyết minh... có tác dụng giảm stress, điều hòa được nhiều chứng bệnh (đối với người lớn) và đối với trẻ em, gối thảo dược có chức năng đuổi muỗi, làm mát da đầu nên giúp trẻ ngủ sâu, ngon giấc.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Nhiều loại thảo dược dành cho trẻ ở chợ Đông dược, đường Hải Thượng Lãn Ông.

Theo lương y Nguyễn Đức Nghĩa - Hội Dược liệu TP HCM thì lá đinh lăng, lá thuốc cứu, lá ngũ trảo… giúp người lớn nằm trị đau lưng nhưng thành phần thảo dược phải có liều lượng vừa phải và không phải ai cũng nằm được. Đối với trẻ nhỏ thì càng phải cẩn trọng, không nên tùy tiện bỏ thảo dược vào gối cho trẻ nằm vì nếu dùng không đúng thành phần, liều lượng, độ tuổi,… sẽ rất nguy hiểm dù là dùng để tắm hay ngửi. Nếu thảo dược không được rửa sạch, ẩm mốc sẽ gây dị ứng cho trẻ.

Cùng với các loại thảo dược làm nước tắm, làm gối nằm cho trẻ... thì trên thị trường cũng xuất hiện đầy rẫy các loại nước uống giải nhiệt, đủ màu, đủ mùi ở dạng hộp, túi lọc, chai… với nguyên liệu chính là hoa quả có tác dụng bồi bổ sức khoẻ, hỗ trợ tiêu hóa, giúp thông mũi, mát họng… Kể cả mỹ phẩm dành cho trẻ (kem dưỡng da) cũng được khai thác triệt để...

Tuy nhiên, theo khuyến cáo của các nhà chuyên môn thì không nên cho trẻ uống trà thảo dược. Chẳng hạn nếu uống quá liều nước cam thảo dẫn đến trẻ bị tím tái, khó thở; uống liều cao nước lô hội sẽ dẫn đến ngộ độc... Thảo dược nếu dùng không đúng loại, đúng liều, đúng cách, thì cũng rất nguy hiểm cho trẻ em

 K.Ngân - K. Anh

(Cand)
Ăn vặt, bỏ ăn sáng, nghiền nước ngọt, snack,… đều là những thói quen ăn uống không tốt dẫn đến chứng béo phì ở trẻ em và thiếu niên. Một vài nguyên tắc sau đây sẽ trang bị kiến thức cho các bà mẹ đang chăm sóc con trong độ tuổi phát triển này.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới



 

Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ 4 - 17 tuổi


Lượng dinh dưỡng cung cấp cho cơ thể trong độ tuổi này cần được đảm bảo đầy đủ về năng lượng, tương đương 1.750 – 2.500 calo. Tuy nhiên, con số này có thể thay đổi tuỳ theo độ tuổi, thể trạng và các hoạt động thể chất của từng em.


Khẩu phần ăn hằng ngày của các em cần chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết: protein (11-15% tổng lượng calo cung cấp hàng ngày), gluxit (50-55%), và lipit (30-35%), ngoài ra, các loại vitamin và khoáng chất cũng là thành phần không thể thiếu trong mỗi bữa ăn. Tuy nhiên, việc áp dụng theo các chỉ số mơ hồ này lại không phải là điều dễ dàng. 6 mốc sau đây sẽ giúp bạn có được những kiến thức cơ bản khi chăm sóc con trẻ trong độ tuổi này.


Những nguyên tắc cần nhớ



1. Ít nhất một chế phẩm từ sữa mỗi ngày



Tương đương với 2 hũ sữa chua.


Ở các bé gái, việc cung cấp đủ can-xi cho cơ thể có tác dụng ngăn chặn nguy cơ mắc phải chứng loãng xương. Hệ xương sẽ dừng phát triển khi ở độ tuổi 20, vì thế, ngay từ tuổi thiếu niên, hãy cung cấp một lượng can-xi nhiều nhất có thể!


2. Một phần protein động vật ngày


Cụ thể hơn, các chuyên gia dinh dưỡng khuyên rằng, mỗi ngày, một em bé 3 tuổi cần được bổ sung 40gr protein (từ thịt, cá hoặc trứng) và cứ thêm một tuổi thì lượng protein cần cung cấp cho cơ thể tăng thêm 10gr. Như vậy, trẻ 4 tuổi cần 50gr, 7 tuổi cần 80gr, 9 tuổi cần 100gr…


3. 5 phần hoa quả và rau xanh mỗi ngày


Một “phần” tương đương khoảng 80gr hoa quả và rau xanh mỗi ngày, cụ thể là:


1/2 đĩa rau củ chín hoặc 1 đĩa nhỏ hoa quả tươi hoặc 1 bát súp rau củ.


1 quả họ táo, lê, cam hoặc 2 quả họ mơ, quýt, kiwi hoặc một vài quả dâu, sơri, vải…


4. Tinh bột trong tất cả các bữa ăn



Bánh mỳ, bột nhào, cơm tẻ, rau củ khô hay khoai tây đều giàu tinh bột, rất cần thiết cho cơ thể trẻ.


5. Hạn chế đồ ngọt



Bạn chỉ nên cho trẻ ăn nhiều các loại bánh kẹo và đồ ngọt khác vào dịp đặc biệt. Ngày thường, bạn không nên dự trữ chúng để thỉnh thoảng trẻ “nhâm nhi”. Thói quen này thật sự không tốt đối với sức khỏe của các em. Ngoài ra, để tránh cho trẻ nguy cơ mắc các bệnh như béo phì hay sâu răng… bạn cũng không nên cho trẻ uống quá nhiều nước ngọt và đồ uống có ga.

6. Tạo thói quen uống đủ nước

Đây là loại đồ uống duy nhất có lợi cho cơ thể (mà không gây bất cứ một “tác dụng phụ” nào). Tuyệt đối không nên cho đường vào nước để đánh lừa vị giác của trẻ, bạn nên phân biệt chúng một cách rạch ròi.

Lưu  ý cuối cùng, đồ ăn nhanh (fast-food) là loại thực phẩm bạn nhất thiết không được để trẻ  quá lạm dụng. Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là buộc trẻ phải “tẩy chay” loại thực phẩm hấp dẫn này. Một suất đồ ăn nhanh với khẩu phần phù hợp có thể được lặp lại sau 3-6 tuần.


(dantri)
hời tiết chuyển mùa mưa nắng thất thường cùng với độ ẩm tăng cao đang là yếu tố thuận lợi cho các loại vi khuẩn, virut gây bệnh. Trẻ em là đối tượng dễ bị các tác nhân này tấn công nhất, đặc biệt là các bệnh lý đường hô hấp. Trong đó viêm tiểu phế quản (VTPQ) là bệnh thường gặp, có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề nếu trẻ không được phát hiện và điều trị kịp thời.

VTPQ có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm

VTPQ là bệnh hay  gặp ở trẻ nhỏ, nhất là 3-6 tháng tuổi. Khi mắc bệnh, các phế quản nhỏ này bị viêm, sưng phù, tiết nhiều dịch làm cho đường thở của trẻ bị chít hẹp thậm chí tắc nghẽn. Các bậc cha mẹ không được chủ quan khi thấy trẻ có những dấu hiệu như ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Sau từ 3 - 5 ngày thì trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng thì tím tái, thậm chí ngừng thở. Những trẻ đến viện khi thăm khám thường thấy nhịp thở của trẻ nhanh, sốt vừa, xuất hiện các cơn co kéo cơ hô hấp, lồng ngực bị rút lõm, trẻ thở rên. Tiếng thở có thể nghe ran rít, ran ngáy, thông khí phổi kém. Sau đó, trẻ ho nhiều hơn kèm khò khè và có thể bị khó thở (thở nhanh hơn, thở co kéo lồng ngực). Nặng hơn nữa trẻ có thể bỏ bú, tím tái. Bệnh có triệu chứng tương tự hen suyễn. Thông thường, trẻ sẽ khò khè kéo dài khoảng 7 ngày, ho giảm dần trong khoảng 14 ngày rồi khỏi hẳn nếu được chăm sóc tốt. Tuy nhiên, trong khoảng 1/5 trường hợp, bệnh có thể kéo dài nhiều tuần lễ.

Biến chứng thường gặp của bệnh là suy hô hấp, viêm phổi (do dễ bị bội nhiễm), xẹp phổi, viêm tai giữa. Cần lưu ý là bệnh có thể sẽ nặng hơn, kéo dài hơn, nhiều biến chứng hơn và tử vong cũng cao hơn trong các trường hợp sau: trẻ dưới 3 tháng tuổi, trẻ sinh non - nhẹ cân, trẻ suy dinh dưỡng nặng, trẻ có sẵn bệnh tim, phổi, suy giảm miễn dịch. Đây là những trẻ có yếu tố nguy cơ cần được cho nhập viện sớm khi bị VTPQ. Ngoài ra, bệnh cũng dễ tái phát.
Viêm tiểu phế quản ở trẻ em.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới


Những thủ phạm gây bệnh

Tác nhân làm cho trẻ bị VTPQ thường là do các virut, đứng hàng đầu là virut hợp bào hô hấp, chiếm 30- 50% các trường hợp mắc bệnh. Virut này có 2 điểm đặc biệt: có khả năng lây lan rất mạnh nên bệnh có khả năng xảy ra thành dịch;  người lớn, trẻ lớn cũng có thể bị nhiễm nhưng biểu hiện thường nhẹ, chỉ như cảm ho thông thường. Nhưng nếu trẻ dưới 2 tuổi bị lây nhiễm có thể biểu hiện dưới dạng nặng là VTPQ. Virut cúm và á cúm cũng gây bệnh cho khoảng 25% số trẻ bị VTPQ. Ngoài ra phải kể đến Adenovirus với 10% số mắc.

Nếu trẻ sống trong vùng có dịch cúm hay viêm đường hô hấp trên (do virut hợp bào) thì tỷ lệ bị lây nhiễm rất cao do sức đề kháng ở cơ thể trẻ còn quá yếu, nhất là trẻ tuổi bú mẹ mà không được bú đầy đủ sữa mẹ. Những trẻ từng bị ốm do nhiễm virut trước đó như viêm mũi họng, viêm amidan, viêm VA... đều có nguy cơ dễ nhiễm bệnh nếu không được chăm sóc tốt. Các trường hợp trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, sống trong môi trường hút thuốc lá thụ động, bị bệnh phổi bẩm sinh hay bị suy giảm miễn dịch đều có nguy cơ cao mắc phải VTPQ.

Người ta cũng đề cập đến mối liên quan của VTPQ với bệnh hen. Sau khi bị VTPQ, đường thở của trẻ sẽ trở nên nhạy cảm hơn và khoảng 1/3 trẻ bị VTPQ có thể diễn tiến thành hen sau này.

Chăm sóc trẻ như thế nào?

Nếu trẻ có dấu hiệu bệnh nhẹ, không có biến chứng, không có yếu tố nguy cơ thì có thể được chăm sóc tại nhà. Tiếp tục cho trẻ bú hay ăn uống đầy đủ. Cần cho trẻ uống nhiều nước để tránh thiếu nước. Cần làm thông thoáng mũi cho trẻ để giúp trẻ dễ thở hơn và bú tốt hơn. Có thể nhỏ mũi với 2-3 giọt nước muối sinh lý sau đó làm sạch mũi cho trẻ. Cho trẻ dùng thuốc đúng như chỉ dẫn của thầy thuốc. Tránh khói thuốc lá vì có thể làm bệnh của trẻ nặng hơn và dễ bị hen sau này. Cần đi tái khám đúng hẹn của bác sĩ.

Khi trẻ có dấu hiệu nặng như khó thở, bú kém, tím tái, có biến chứng cần cho trẻ nhập viện để điều trị.  Đối với các thể thông thường, không có suy hô hấp thì ngay khi vào viện các bác sĩ sẽ tiến hành hút thông đường thở, giải phóng các chất xuất tiết. Dùng khí dung ẩm thuốc giãn phế quản có tác dụng nhanh như ventolin, bricanyl, salbutamol. Kết hợp với lý liệu pháp hô hấp, vỗ rung, hút đờm. Những trẻ sốt cao, nôn, thở nhanh phải dù đủ dịch và điện giải theo nhu cầu cơ thể trẻ. Cần cho trẻ dinh dưỡng đủ chất, và cân nhắc cẩn thận trước khi sử dụng kháng sinh. Đối với những trường hợp nặng có suy hô hấp thì phải sử dụng liệu pháp oxygen, hút thông đường hô hấp trên, dùng thuốc giãn phế quản đường khí dung ẩm, truyền nước, điện giải theo nhu cầu cơ thể bù lượng thiếu hụt. Nếu những biện pháp trên không cải thiện tình trạng suy hô hấp thì phải tiến hành đặt nội khí quản và các biện pháp hô hấp hỗ trợ khác. Chỉ sử dụng kháng sinh khi có biểu hiện viêm nhiễm thứ phát, không nên dùng steriod cho trẻ.

Nhiều khuyến cáo nhấn mạnh, để phòng ngừa bệnh cho trẻ các bà mẹ hãy cho trẻ bú sữa mẹ đến 2 tuổi, không để trẻ bị lạnh, giữ cho môi trường sống của trẻ được trong lành. Những trẻ bị các bệnh tim, phổi bẩm sinh càng đặc biệt lưu ý vì trẻ dễ mắc bệnh và tiến triển xấu.

BS. Nguyễn Tiến Dũng (Đại học Y Hà Nội)

(suckhoe&doisong)

Đối với người mẹ có con dưới 1 tuổi sai lầm thường mắc đó là không chịu nuôi con bằng sữa mẹ, hoặc nói đúng hơn là không biết cách để duy trì nguồn sữa mẹ.
Nhiều người mẹ vẫn chưa hiểu đúng về vai trò của sữa mẹ đối với sự phát triển của bé mặc dù vấn đề này đã được thông tin đại chúng, sách báo nói rất nhiều.

Một sốngười mẹ nuôi con bằng sữa mẹ thì lại ăn kiêng quá mức nên chất lượng sữa không bảo đảm. Bé bú mẹ nhưng không lên cân, vẫn bị còi xương, thiếu máu thế là lại cho rằng sữa mình xấu, nóng nên bỏ sữa mẹ cho ăn sữa ngoài.

Sai lầm nữa là cho bé ăn bổ sung quá sớm, có cháu mới 3-4 tháng tuổi đã cho ăn bột, ăn nước cháo dẫn đến rối loạn tiêu hóa và hậu quả là suy dinh dưỡng.
 
Một sai lầm phổ biến nữa là khi cho bé ăn bột, cháo thì chỉ ninh nước xương, nước thịt, nước rau củ mà không cho bé ăn cái vì cứ nghĩ rằng, bé không ăn được. Đặc biệt, còn rất nhiều người mẹ cho rằng, ăn xương ống, xương chân gà để chống bệnh còi xương, ăn xương để cho bé cứng xương. Thế nên, những cháu nào càng ăn nhiều nước xương thì lại càng bị còi xương.
Một sai lầm nữa cũng thường gặp là cho bé ăn quá ít dầu mỡ, thường chỉ cho bé ăn thịt nạc. Chính tình trạng thiếu dầu mỡ làm cho các cháu bị thiếu năng lượng dẫn đến suy dinh dưỡng, bị thấp còi do không hấp thu được vitamin D và A.

Còn đối với các cháu đã lớn hơn thì sai lầm hay gặp là không chịu tập nhai cho bé. Bé đã 3-4 tuổi vẫn cháo xay, bé không biết nhai, không biết nuốt. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạnglười ăn của bé. Do không nhai, không ăn được rau quả nên các cháu rất hay bị táo bón.

Một sai lầm phổ biến ở lứa tuổi mẫu giáo là hay cho bé ăn vặt bánh kẹo, nước ngọt, snack..., trước các bữa ăn dẫn đến tình trạng biếng ăn của bé. Các bậc ông bà khi đi đón bé buổi chiều hay mắc sai lầm này.

Còn những sai lầm gặp ở mọi lứa tuổi đó là cho bé ăn quá ít, khi bé ăn ít thì lại không tăng số bữa lên. Thành phần các chất dinh dưỡng trong bữa ăn không cân đối, cho bé ăn quá nhiều chất đạm nhưng lại thiếu chất bột đường (cháo, cơm, mì,...) nên bé bị thiếu năng lượng dẫn đến suy dinh dưỡng nhưng lại bị táo bón do ăn nhiều chất đạm và ăn ít rau quả. Phần lớn người mẹ không chú ý đến lượng lớn nước uống cho bé hằng ngày nên vào mùa hè, các cháu bị thiếu nước dẫn đến mệt mỏi, lười ăn, táo bón.

Hiện nay, nhất là ở các thành phố lớn, sai lầm hay mắc của người mẹ là ép con ăn quá nhiều, dẫn đến tình trạng lười ăn, nôn trớ của bé. Nhưng bé nào ăn được theo ý muốn của mẹ thì lại bị thừa cân béo phì, một tình trạng dinh dưỡng ngày càng gia tăng hiện nay. Tâm lý thích bé béo bụ bẫm ở các người mẹ vẫn còn rất phổ biến. Điều trị một bé bị thừa cân béo phì khó hơn nhiều so với điều trị một bé suy dinh dưỡng.
(theo giadinh.net)
Viêm tuyến sữa là một dạng bệnh hóa mủ cấp tính phát sinh ở vú, thường phát ở các phụ nữ sau khi sinh nở, nhất là phụ nữ sinh nở lần đầu càng dễ thấy.

Viêm tuyến sữa phần nhiều do vi khuẩn dạng hóa mủ dẫn tới, do khi sản phụ  đẻ lần đầu cho con bú, rách đầu vú, khuẩn bệnh xâm nhập mà dẫn tới. Viêm tuyến sữa nói chung chia thành mấy giai đoạn: uất sữa, hóa mủ và vỡ loét.

Đối với người bệnh viêm tuyến sữa, đặc biệt chú ý chọn thức ăn giải nhiệt thông sữa, như quýt, hạt quýt, cà chua, mướp, dưa chuột, hoa cúc, ngó sen, mã thầy, canh đậu đỏ, canh đậu xanh, tư cô...
 
Viêm tuyến sữa phần nhiều do vi khuẩn dạng hóa mủ dẫn tới, do khi sản phụ  đẻ lần đầu cho con bú, rách đầu vú, khuẩn bệnh xâm nhập mà dẫn tới

Với trường hợp lở loét vỡ lâu không lành, sữa không thông, mặt vàng, cơ  thể gầy còm, tứ chi mất sức, có thể  ăn một số thức ăn mát bổ thích hợp, như  canh cá diếc, canh gan lợn, canh trứng, canh đậu phụ, sữa trâu bò...

Giai đoạn phát bệnh, kiêng ăn các thức ăn tanh, mặn, mỡ, ngọt và cay.

Một số bài thuốc:

*Núm bí ngô 15 cái, đốt tồn tính, nghiền bột, mỗi lần uống 2 cái, hòa rượu uống, 2 lần vào sớm và tối, dùng cho giai đoạn đầu nhọt vú.

*Hạt quýt 15g rang qua, rượu 30g đun ấm uống, dùng chữa nhọt vú mới phát.

*Hạnh đào nhục 15g giã nát, sơn tư cô 3g nghiền bột, hòa đều, dùng 250g bồ công anh tươi sắc nước, chiêu uống, dùng chữa giai đoạn thành mủ của nhọt vú.

* Lá kiều mạch tươi 100g, mỗi ngày 1 thang, sắc nước uống.

* Rau kim châm khô 50g hầm với 250g thịt lợn nạc cùng ăn, hoặc dùng 100g rau kim châm tươi nấu với 1 chiếc móng lợn, dùng chữa viêm tuyến sữa, sữa không xuống.

*Khoai lang trắng sống rửa sạch, gọt vỏ thái nhỏ, giã nát, cũng có thể thêm rau diếp cá tươi (ngư tinh thảo) lượng bằng nhau giã nát, đắp vào chỗ viêm tuyến sữa, đắp tới lúc nóng cục bộ thì thay, đắp liền vài ngày có thể khỏi, dùng chữa người bệnh bị viêm tuyến sữa sưng trướng chảy mủ.
(bee.net.vn)
(24h) - Khi chăm sóc trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi, nếu thấy trẻ bị bệnh kèm theo một trong những biểu hiện sau đây, cha mẹ nên đưa trẻ đi khám sớm, đừng để bệnh trở nặng gây nguy hiểm cho trẻ.
1. Sốt

Bản thân sốt không phải là bệnh mà là phản ứng của cơ thể trẻ với các tác nhân gây bệnh. Bạn hãy gọi cho bác sĩ ngay khi thấy trẻ dưới 3 tháng tuổi có thân nhiệt tăng trên 37,5 độ C hoặc trẻ từ 3-6 tháng tuổi có thân nhiệt 38 độ C.

Nếu trẻ sốt kèm theo các dấu hiệu khác như: phát ban, khó chịu, bú kém, khó thở, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục, có biểu hiện mất nước hoặc hôn mê cũng nên đưa trẻ đến bệnh viện để được các bác sĩ chữa trị kịp thời.

2. Mất nước

Tình trạng mất nước có thể xảy ra do trẻ bú kém, sốt cao, nôn mửa hoặc tiêu chảy liên tục. Khi bị mất nước, trẻ thường có những biểu hiện sau: miệng và nướu khô, khóc không chảy nước mắt, chỗ thóp hơi lún xuống, mệt mỏi, lờ đờ. Trường hợp này cũng cần cho trẻ đến bác sĩ.

3. Tiêu chảy

Tiêu chảy là triệu chứng thường gặp ở trẻ sơ sinh. Nếu phát hiện trẻ đi tiêu có máu trong phân (màu máu có thể đỏ tươi hoặc sẫm, đen), trẻ đi phân lỏng hơn 6 lần/ngày hoặc có dấu hiệu mất nước, phải đưa trẻ đến bác sĩ ngay.

4. Nôn mửa

Trẻ nhỏ “nôn ọe” một, hai lần thì không gây nguy hiểm. Nhưng nếu triệu chứng này xảy ra thường xuyên thì cũng là dấu hiệu đáng lo ngại, đặc biệt khi trẻ nôn ra dịch màu xanh hoặc có máu.

5. Khó thở

Nếu thấy trẻ có biểu hiện khó thở, bạn cũng nên gọi cho bác sĩ ngay lập tức.

Dấu hiệu trẻ khó thở:

- Trẻ thở gấp, nhịp thở nhanh hơn bình thường.

- Quan sát phần giữa xương sườn hoặc phần bụng trên có bị lõm khi trẻ hít vào không.

- Trẻ thở ra hổn hển.

- Đầu trẻ gật gù.

- Môi và da tái nhợt.

6. Rốn đỏ, rỉ dịch và chảy máu

Khi thấy chỗ rốn hoặc dương vật của bé đỏ lên, rỉ dịch hay chảy máu, bạn cần đưa trẻ đến bệnh viện ngay vì thường đó là những dấu hiệu nhiễm trùng.

7. Phát ban

Phát ban cũng là dấu hiệu phổ biến ở trẻ nhỏ, nhưng hết sức lưu ý khi triệu chứng nổi mẩn đỏ trên vùng da rộng, đặc biệt là trên mặt, hoặc đi kèm với biểu hiện sốt, rỉ dịch, chảy máu, sưng…

8. Cảm lạnh

Đa số trẻ sơ sinh hay bị nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, nguyên nhân do virus. Các triệu chứng liên quan khi nhiễm khuẩn đường hô hấp hoặc cảm lạnh thường là: bé sốt, kén ăn trong vài ngày đầu, sổ mũi kéo dài 1-2 tuần, triệu chứng ho có thể đến 2-3 tuần sau mới khỏi.

Theo dõi trẻ, nếu thấy các triệu chứng trên ngày càng trở nên nghiêm trọng thì bạn cần đưa trẻ đến bác sĩ để được chăm sóc và điều trị.

24H.COM.VN
Thai phụ cần dùng các loại rau, trái, trứng, thịt có chứa chất sắt và folate (chứa nhiều acid folic) vốn rất cần thiết cho sự phát triển của thai nhi. Bên cạnh đó, chất acid folic còn giúp chống ung thư vú, đường ruột, và dị ứng da, tăng hệ miễn dịch của cơ thể đặc biệt khi trở trời, thay đổi khí hậu.
Do vậy, mỗi khi cảm thấy chóng mặt, mệt mỏi, hoa mắt, da vàng tái hoặc mét xanh, móng tay chân trắng bệch, không bóng láng chắc chắn thai phụ bị thiếu máu, sắt và acid folic.

Thông thường, cơ thể phụ nữ cần lượng sắt là 15-20mg/ngày. Khi mang thai nhu cầu cao hơn 25-30mg/ngày. Trong chế độ ăn uống bình thường chỉ cung cấp khoảng 10mg/ngày. Vì vậy cần phải bổ sung dinh dưỡng để có đủ lượng sắt- acid folic nuôi thai.

Sau đây là thực đơn của Viện bảo vệ sức khỏe các thai phụ tiền sinh sản (thuộc Đại học New York và Johnson O’connor Medichrome):

- Ăn sáng (từ 7g30- 9g) các loại bột ngũ cốc, nui không chứa nhiều chất béo, đậu bắp nấu với nước hầm xương ống heo hay với măng tây.

- Ăn trưa (từ 11g30- 13g) các loại mì vắt, mì ống, bột gạo, trứng cá, gan gà, vịt, bò, heo, nấm rơm, hắc mộc nhĩ và 1-2 cốc vang đỏ, bia đen.

- Xế chiều ăn từ 3-5 trái chuối, cam sành, cam vàng và 2 cốc trà xanh.

- Tối ăn rau trộn, gồm: cà chua, rau muống, cải xoong, rau cần, rau dền đỏ, củ dền, củ cải đường nấu súp với gan heo, bò sẽ giúp chống huyết áp cao và ổn định tim mạch.

Đông y sĩ Kiều Bá Long - Thanhnien
Tiêu chảy trong thời gian mang thai là một vấn đề cần được bạn quan tâm thích đáng. Tiêu chảy không phải là một bệnh nguy hiểm song cũng không nên coi thường.
Phụ nữ mang thai bị tiêu chảy thì phân thường lỏng và nhiều nước. Việc đi tiêu diễn ra khoảng 3 lần trong ngày. Tiêu chảy có nhiều nguyên nhân có thể là di virus, vi khuẩn, nhiễm khuẩn kí sinh. Nguyên nhân chung khác dẫn tới tiêu chảy ở bà bầu là do căng thẳng, ngộ độc thức ăn, viêm dạ dày, dị ứng thức ăn, không dung nạp lactose.

Phần lớn các ca tiêu chảy thường được tự người bệnh chữa trị nhưng có một số ca do mất nước quá nhiều dẫn tới tình trạng cơ thể gặp nguy hiểm. Mất nước dẫn tới cơ thể bà bầu trở nên háo nước trong một thời gian ngắn.

Bạn nên gọi bác sĩ nếu gặp tình trạng như:

- Tiêu chảy nghiêm trọng trong vòng 2 ngày hoặc lâu hơn.

- Tiêu chảy kèm theo sốt và nôn mửa.

- Phân chứa máu.

- Tiêu chảy kèm theo bị đau bụng dữ dội.

- Không tiểu khoảng hơn 5 giờ.

Những triệu chứng của tiêu chảy

Thông thường, bà bầu thường bị tiêu chảy trong những ngày cuối của thai kì.

Những triệu chứng của tiêu chảy có thể gồm: Nôn và buồn nôn, háo nước, sốt, lạnh, đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, đau bụng hoặc thường xuyên bị co rút…

Tiêu chảy ở bà bầu có thể kéo dài từ 1-10 ngày tùy theo nguyên nhân. Thông thường các bà bầu thường bị táo bón hơn là bị tiêu chảy. Vì khi hấp thụ vitamin tổng hợp trước khi mang thai, bà bầu hấp thụ nhiều sắt khiến cho việc đi tiêu khó hơn.

Khi tiêu chảy kèm theo các triệu chứng nguy hiểm trên thì bạn nên gọi bác sĩ vì tiêu chảy có thể liên quan tới việc sinh non.

Nguyên nhân khiến bà bầu bị tiêu chảy

1. Nhiễm khuẩn: Một vài loại vi khuẩn có trong nước uống và thức ăn dẫn tới việc bạn bị tiêu chảy.

2. Virus như Rota, Cyptomegalo cũng có thể gây ra chứng tiêu chảy.

3. Động vật kí sinh có thể vào cơ thể thông qua thức ăn và nước uống rồi nó cư ngụ trong hệ tiêu hóa. Một vài loại có thể gây ra tiêu chảy ở bà bầu như Giardia, Cryptosporidium và Entamoeba.

4. Thuốc điều trị huyết áp, thuốc giảm axit trong dạ dày chứa magiê và kháng sinh có thể gây ra chứng tiêu chảy ở thai kì.

5. Các bệnh đường ruột như bệnh Crohn cũng gây ra chứng tiêu chảy.

6. Tiêu chảy cũng có thể do nguyên nhân bạn uống nhiều nước. Bạn ăn những loại hoa quả có nước nhiều như dưa hấu, các loại rau xanh…

7. Những nguyên nhân khác bao gồm như không dung nạp đường lactose, bị viêm dạ dày hoặc ngộ độc thức ăn.

Điều trị tiêu chảy ở bà bầu

Bạn không nên tự điều trị mà hãy nhờ sự giúp đỡ của bác sĩ.


Chế độ ăn uống không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe mà còn trực tiếp tác động tới khả năng thụ thai của phụ nữ.
Đây là nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, họ chỉ ra rằng việc ăn quá nhiều các thực phẩm giàu chất xơ sẽ phá vỡ sự cân bằng nội tiết trong cơ thể, ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thụ thai của phụ nữ.

Khi lượng chất xơ trong cơ thể tăng cao thì lượng hóc môn sản sinh trong quá trình thụ tinh sẽ bị giảm đi đáng kể.

Lý do được đưa ra để giải thích cho vấn đề này là do những thực phẩm giàu chất xơ khi được hấp thụ càng nhiều vào cơ thể càng khiến cho lượng hóc môn sản sinh trong quá trình thụ tinh bị ít đi, chất lượng cũng kém hơn.
Khi lượng chất xơ trong cơ thể tăng cao thì lượng hóc môn sản sinh trong quá trình thụ tinh sẽ bị giảm đi đáng kể. Đây chính là nguyên nhân khiến những phụ nữ ăn quá nhiều chất xơ khó thụ thai hơn bình thường.

Kết luận trên đã được các giáo sư người Mỹ tiến hành với 250 phụ nữ đang trong độ tuổi sinh đẻ. Các giáo sư tỏ ra hết sức thận trọng với kết quả bất ngờ của cuộc nghiên cứu chính vì vậy phải sau 2 năm nghiên cứu tỉ mỉ các giáo sư mới công bố kết quả.

Lời khuyên được các giáo sư đưa ra đó là hãy cân bằng chế độ dinh dưỡng đảm bảo cung cấp cho cơ thể chất xơ, protein, axit amin vừa đủ. Hiện nay nhiều phụ nữ hay mắc sai lầm khi nghĩ rằng hạn chế ăn thịt và ăn thật nhiều rau sẽ tốt cho sức khỏe và đẹp da. Nhưng nếu kéo dài chế độ dinh dưỡng đó thì khả năng thụ thai cũng như khả năng trong "chuyện ấy" của bạn sẽ bị hạn chế.
(theo giadinh.net.vn)
Bác Sĩ Nguyễn Thị Nhuận, Chuyên Khoa Nhi Đồng

Hầu như không một người Việt Nam nào không từng nghe nói tới bệnh sởi. Ðứa bé nào bị mọc nhiều nốt đỏ trong người cũng được cho là đang bị “ban sởi”. Một đứa bé dưới 5 tuổi có thể bị rất nhiều bệnh có kèm theo triệu chứng nổi những vết đỏ khắp người và lần nào cũng cho là lên ban, phải cữ ra nắng gió, phải cữ nước, nếu không thì sẽ bị “chạy hậu”… Vậy ban đỏ là gì?
Bệnh sởi là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp gây ra bởi một con siêu vi có mặt trên toàn thế giới. Những vết đỏ khắp người có thể làm người ta chú ý tới bệnh sởi. Nhưng thực ra đây chỉ là một trong những triệu chứng bên ngoài, những thay đổi bên trong mới nguy hiểm hơn. Bệnh sởi có thể nguy hiểm chết người, nhất là ở những trẻ nhỏ.
Từ vài chục năm nay, với thuốc chích ngừa sởi, bệnh sởi ít sẩy ra ở những quốc gia tiến bộ như Mỹ chẳng hạn, nhưng vẫn còn là một ám ảnh kinh hoàng cho những người dân các nước chậm tiến. Do đó, người Việt thường lo sợ khi nghe nói tơí bệnh sởi.
Bệnh lại rất hay lây và dễ dàng lan ra từ những người du lịch quốc tế. Hiện nay trên thế giới có đến 30 tới 40 triệu trường hợp bệnh sởi xẩy ra, gây ra hơn 750,000 cái chết.
Triệu Chứng - Khoảng 10 tới 12 ngày sau khi tiếp xúc với siêu vi sởi, những triệu chứng sau đây có thể xẩy ra:
1. Sốt
2. Ho khan
3. Chảy nước mũi
4. Mắt đỏ
5. Không chịu được ánh sáng
6. Những nốt nhỏ xíu với trung tâm mầu xanh trắng xuất hiện bên trong miệng nơi gò má. Những nốt này có tên là đốm Koplik.
7. Người mọc ra những đốm đỏ lớn, phẳng, chập vào nhau
Diễn Biến Của Bệnh
Bệnh sởi thường bắt đầu với một cơn sốt khá nhẹ, kèm theo những triệu chứng như ho, chảy mũi, mắt đỏ và đau cổ họng. Khoảng 2, 3 ngày sau, đốm Koplik nổi lên, đốm này là dấu hiệu đặc biệt của bệnh sởi. Sau đó, bệnh nhân có thể bị sốt cao lên tới 104 hay 105 độ F. Cùng lúc đó, những mảng đỏ nổi lên, thường là ở trên mặt, theo đường tóc và sau tai. Những vết đỏ hơi ngứa này có thể dấn lan xuống ngực, lưng và cuối cùng xuống tới đùi và bàn chân. Khoảng một tuần sau, những vết nhỏ này sẽ nhạt dần, vết nào xuất hiện trước sẽ hết trước.
Nguyên Nhân
Bệnh sởi gây ra do siêu vi sởi. Bệnh này hay lây đến nỗi 90% những người tiếp xúc với bệnh nhân sẽ bị lây sởi nếu chưa chích ngừa. Siêu vi sởi có ở mũi và cổ họng của bệnh nhân.
Họ thường đã có thể lây bệnh cho người khác 4 ngày trước khi vết đỏ xuất hiện. Khi bệnh nhân ho, hắt xì, hay nói chuyện, những giọt nước nhỏ xíu có chứa siêu vi sẽ bắn ra không khí và người khác có thể hít vào hoặc những giọt này có thể rơi xuống một nơi nào đó như mặt bàn, điện thoại…Khi ta sờ vào những nơi này và đưa tay lên mũi hay miệng, ta sẽ bị lây bệnh
Một khi siêu vi sởi vào cơ thể bệnh nhân, chúng thường mọc vào trong những tế bào đằng sau cổ họng và phổi. Sau đó bệnh sẽ lan khắp cơ thể kể cả hệ hô hấp và da.
Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chúng ta sẽ có kháng thể chống bệnh nên ta sẽ không mắc bệnh sởi lại nữa. Nếu bạn sinh trước năm 1957, bạn thường đã có kháng thể chống bệnh dù chưa hề chủng ngừa. Ðó là vì bạn đã sống qua nhiều thời kỳ mà bệnh sởi hoành hành rất nhiều và nhiều phần bạn đã có nhiễm siêu vi dù có thể không lộ ra. Do đó bạn đã có miễn nhiễm.
Bệnh sởi ít có ở Mỹ nhưng vẫn xảy ra ở nhiều các nước khác và bệnh rất nặng nếu bệnh nhân bị thiếu vitamin A, một điều dễ thấy ở những nước chậm tiến, do dân chúng thường thiếu ăn.
Biến Chứng
Bệnh sởi thường kéo dài từ 10 tới 14 ngày. Ở vài nơi trên thế giới, bệnh sởi là một bệnh nặng có thể gây ra chết người. Ở các nước tiến bộ Tây phương, ít khi xẩy ra cái chết.
Bệnh nhân có thể bệnh nặng nhưng thường qua khỏi. Tuy nhiên biến chứng có thể xẩy ra:
1 - Nhiễm trùng tai xẩy ra ở 1 trong 10 trẻ bị sởi.
2 - Viêm não: xẩy ra ở khoảng 1 trong 1000 người mắc bệnh sởi. Não bị nhiễm siêu vi trùng gây ra ói mửa, giật kinh, có khi hôn mê. Viêm não có thể xẩy ra sau bệnh sởi hoặc có thể xẩy rất nhiều năm sau, vào tuổi vị thành niên, do một loại siêu vi mọc chậm, rất hiếm.
3 - Sưng phổi: khoảng 1/20 trườg hợp bị sởi. Có thể nguy hiểm chết người.
4 - Tiêu chảy và ói mửa: thường xẩy ra cho trẻ nhỏ.
5 - Sưng cuống phổi, sưng thanh quản hay “croup”.
6 - Ðàn bà co thai mắc bệnh sởi có thể hư thai, sanh sớm hay sanh trẻ nặng cân.
7 - Thiếu tiểu cầu (platelets) khiến khó đông máu.
Ngăn Ngừa Sởi
Thuốc chích ngừa sởi rất công hiệu. Trước khi có thuốc ngừa, có chừng 450,000 trường hợp bệnh gây ra khoảng 450 cái chết mỗi năm trên đất Mỹ. Việc chủng ngừa rộng rãi đã giảm con số này 99%. Vào những năm 80 khi số trường hợp bệnh hơi tăng lên, việc chích ngừa đã được đẩy mạnh hơn khiến hiện nay con số bệnh xuống thấp nhất từ trước đến giờ.
Thuốc ngừa sởi thường được gồm chung trong một loại thuốc tên MMR chứa 3 thứ: sởi, quai bị và ban Ðức. Thuốc được chích cho trẻ em từ 12 tới 15 tháng và thêm liều thứ hai chích lúc 4, 5 tuổi. Các em bé mới sinh được kháng thể của mẹ truyền qua nên được bảo vệ từ 4 tới 6 tháng. Nếu em bé được bảo vệ trước 12 tháng, thí dụ như sẽ đi du lịch những vùng nhiều bệnh, em có thể được chích ngừa nhưng phải chích lại lúc được 12 tháng.
Ai cần Chích Ngừa MMR (Sởi, Quai Bị và ban Ðức)?
Bạn sẽ KHÔNG cần chích nếu bạn
1. Là đàn ông sinh trước 1957
2. Thử nghiệm máu chứng tỏ có kháng thể bệnh trong máu
3. Là đàn bà sanh trước năm 1957 và không định sanh con nữa, đã có miễn nhiễm bệnh ban Ðức hay đã chích ngừa ban Ðức.
4. Lúc bé đã được chích ngừa liều MMR sau 1 tuổi.
Bạn cần chích ngừa nếu bạn không có một trong những điều kiện trên và bạn:
1 - Là đàn bà trong tuổi có thể mang thai và hiện đang không có thai.
2 - Ðang đi học đại học.
3 - Làm việc ở những cơ quan y tế hay trường học, nhà giữ trẻ…
4 - Ðang dự định đi du lịch.
Những người sau đây không nên chích ngừa:
1) Đàn bà có thai hoặc dự định có thai trong vòng 4 tuần kế tiếp.
2) Người đã từng có phản ứng dị ứng nặng nguy hiểm đến tính mạng với chất gelatin hay chất trụ sinh neomycin.
Nếu bạn đang bị ung thư, bệnh về máu hay một bệnh miễn nhiễm nào đó, bạn cần nói chuyện với bác sĩ trươc khi chích ngừa.
Phản Ứng Phụ Của Thuốc Ngừa:
Ða số người được chích ngừa không bị phản ứng nào cả. Có khoảng 10% sẽ bị sốt từ 5 tới 12 ngày sau khi chích và khoảng 5% bị nổi đỏ nhẹ. Ít hơn 1 phần triệu bị phản ứng dị ứng nặng.
Trước kia người ta thường tin rằng người bị dị ứng với trứng không nên chích ngừa sởi. Tuy nhiên điều này không đúng. Ngưòi dị ứng với trứng có thể chích ngừa sởi hay MMR.
Gần đây thường có dư luận liên kết việc chích ngừa sởi với bệnh “tự kỷ” autism. Tuy nhiên, báo cáo từ nhiều cơ quan y tế chính của Mỹ đều cho thấy không có sự liên hệ nào giữa hai việc này. Ða số những trẻ em bị autism được định bệnh vào khoảng 18 tới 30 tháng, vài tháng sau khi chích MMR. Do đó người ta dễ liên kết hai sự việc. Tuy nhiên, không có dữ kiện khoa học nào hiện nay cho thấy có sự liên kết cả.

Bs Nguyễn Thị Nhuận, Chuyên Khoa Nhi Đồng
(YDuocNgayNay)[i][/i]
Thời tiết hiện nay đang là thời điểm thuận lợi cho các bệnh sốt phát ban bùng phát, điển hình là bệnh Rubella, vì vậy phải có sự phân biệt để tránh nhầm lẫn giữa sởi và các bệnh sốt phát ban khác.

Rubella - Bệnh sốt phát ban chủ yếu ở nước ta


Bệnh Rubella hay còn gọi là bệnh sởi Đức, do vi rút Rubella gây ra. Đây là bệnh sốt phát ban lành tính nhưng rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai.



Bệnh rất dễ lây lan, chủ yếu là qua đường hô hấp và người nhiễm bệnh là nguồn bệnh duy nhất. Trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là nguồn truyền nhiễm rất cao cho người tiếp xúc, vi rút có thể đào thải nhiều tháng sau khi sinh.


Những triệu chứng của bệnh Rubella rất nhẹ nên rất khó được phát hiện, đặc biệt ở trẻ em.


Bệnh khởi phát sau 10 ngày đến 15 ngày kể từ lúc tiếp xúc với người bệnh. Triệu chứng thông thường là mệt mỏi, sốt nhẹ, nhức đầu, sưng hạch kéo dài từ 1 - 7 ngày. Những nốt ban màu hồng mịn, bắt đầu từ mặt và nhanh chóng lan xuống thân, sau đó xuống cánh tay và chân trước trước khi biến mất. Ban tồn tại từ 1-5 ngày, nhưng thường gặp nhất là 3 ngày. Trong khoảng thời gian từ 7 ngày trước phát ban và trong lúc phát ban là thời gian mà người bệnh có khả năng lây bệnh cao nhất.


Sự nguy hiểm ở đây là bệnh rất dễ lây lan và nguồn lây bệnh không thể phát hiện được cho đến khi người bị nhiễm có triệu chứng phát ban 7 ngày sau đó. Biện pháp cách ly người bệnh đến thời điểm này cũng được xem là đã quá trễ.


Bệnh Rubella rất nguy hiểm cho phụ nữ mang thai đặc biệt là trong 3 tháng đầu của thai kỳ. 90% phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ sẽ sinh ra em bé bị hội chứng Rubella bẩm sinh như: điếc, đục thủy tinh thể, tật mắt nhỏ, tăng nhãn áp bẩm sinh, tật đầu nhỏ, viêm não, màng não, chậm phát triển tâm thần, gan to, lách to... Đối với những người bị bệnh cần phải được cách ly một tuần lễ kể từ lúc phát ban để tránh lây nhiễm cho những người tiếp xúc. Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh Rubella. Biện pháp phòng bệnh duy nhất là tiêm chủng. Loại vắc xin đang sử dụng hiện nay là vắc xin phối hợp ngừa 3 bệnh: sởi, quai bị, Rubella.


Lịch tiêm chủng của vắc xin ngừa 3 bệnh Rubella, sởi, quai bị được áp dụng như sau: Trẻ em: mũi thứ 1: 12 tháng tuổi; mũi thứ 2: 4-6 tuổi. Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản: một liều duy nhất (phụ nữ chỉ được có thai sau khi tiêm vắc xin được 3 tháng).


Phân biệt sởi với các sốt phát ban khác


Tác nhân gây bệnh Sởi là vi rút thuộc giống Morbillivirus của họ paramyxoviridae. Bệnh Sởi là tình trạng nhiễm vi rút cấp tính với sự lây truyền cao. Sau khi vi rút xâm nhập vào cơ thể, biểu hiện khởi đầu là sốt, viêm kết mạc, chảy nước mũi, ho và có nốt kiplik ở niêm mạc miệng.


Ban đỏ xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh. Ban bắt đầu mọc ở mặt, sau lan ra toàn thân và kéo dài từ 4 - 7 ngày, có những trường hợp bệnh kết thúc trong tình trạng tróc vảy. Trong thời gian mang bệnh, xét nghiệm máu sẽ tháy lượng bạch cầu giảm.


Sự nguy hiểm của bệnh Sởi chính là những biến chứng của bệnh, đó là do sự nhân lên của vi rút hoặc do bội nhiễm vi khuẩn gây ra các bệnh viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, viêm thanh quản, phế quản, khí quản và viêm não. Tất cả mọi người chưa mắc bệnh hoặc được gây miễn dịch chưa đầy đủ đều có nguy cơ bị nhiễm bệnh. Trẻ em là đối tượng nhiễm bệnh dễ dàng và có thể xuất hiện những biến chứng nặng nề. Trẻ sinh ra từ những người mẹ đã bị bệnh sởi trước đây sẽ được miễn dịch thụ động do mẹ truyền cho trong vòng 6 - 9 tháng.


Hầu hết tử vong khi bệnh sởi xuất hiện thường không do vi rút Sởi gây ra mà do những biến chứng. Sự lây nhiễm của bệnh Sởi do vi rút từ những giọt nước bọt li ti của người bệnh bắn ra khi nói và người lành hít phải khi tiếp xúc, do vậy bệnh rất dễ lây thành dịch.


Chẩn đoán bệnh thường căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học. Tuy nhiên cách xét nghiệm mẫu bệnh phẩm trong phòng thí nghiệm là đặc biệt cần thiết để phân biệt với các bệnh sốt phát ban khác như Rubella.


Vắc xin là biện pháp dự phòng tốt nhất


Trước khi có vắc xin sởi phòng bệnh thì đây là căn bệnh mà tuổi ấu thơ hầu như ai cũng mắc phải. Phòng bệnh bằng vắc xin được khuyến cáo khi trẻ đủ 9 tháng tuổi, tuy nhiên người ta thấy rằng việc tiêm một mũi vắc xin duy nhất không đủ tạo ra miễn dịch bền vững và rộng rãi trong cộng đồng vì tỷ lệ trẻ tiêm phòng bệnh sót cũng như tỷ lệ đạt được miễn dịch của vắc xin này cũng chỉ đạt xung quanh 90%. Do vậy cần phải tiêm nhắc lại mũi thứ 2, thời gian tiêm là khi trẻ đủ 6 tuổi, độ tuổi bước vào lớp 1. Việc tiêm liều thứ 2 có thể tạo miễn dịch tới 99%. Chương trình TCMR Việt Nam đã thực hiện mũi nhắc lại này trên cả nước từ năm 2006. Tại các địa phương còn xuất hiện những vụ dịch sởi nhỏ, khi đối tượng mắc không chỉ trẻ em thì cần thiết phải thực hiện những chiến dịch tiêm nhắc cho người dân khu vực này để tạo miễn dịch lớn và bền vững trong cộng đồng trong nhiều năm.


Hiệu quả của tiêm phòng vắc xin sởi còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng bảo quản, vận chuyển vắc xin. Nhiệt độ bảo quản vắc xin lý tưởng là từ 2-8oC. Có thể dùng loại vắc xin kết hợp sởi - quai bị - rubella (MMR) để phòng được 3 bệnh một lúc. Tất cả bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch và tại các cơ sở y tế. Trước khi tiêm cán bộ y tế cần khám sơ loại, nếu trẻ đang mắc các bệnh khác thì có thể hoãn lịch tiêm đến khi trẻ khỏe mạnh bình thường.


Theo BS. Nguyễn Văn Dũng

Sức khỏe & Đời sống
Bệnh Rubella đang lây lan nhanh tại TP.HCM: Q. 6, 7, Gò Vấp, Phú Nhuận đều có người bệnh. Bệnh chưa có thuốc điều trị. Dưới đây là những câu hỏi thường gặp xoay quanh căn bệnh rubella - hay còn gọi là sởi Đức.  

- Tại sao lại có tên là bệnh sởi Rubella, còn gọi là sởi Đức?
Soạn: AM 763353 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Những nốt đỏ nhỏ, đặc trưng của rubella, xuất hiện trên cánh tay của một người đàn ông trưởng thành.

Rubella là tên xuất phát từ Latin, nghĩa là “nốt đỏ nhỏ”, là một nhiễm trùng chủ yếu ảnh hưởng đến da và hạch bạch huyết. Thoạt tiên, người ta cho đây là một biến thể khác của sởi hay sốt phát ban, nên nó được gọi là “bệnh thứ ba”. Mãi đến năm 1841, lần đầu tiên y văn Đức mô tả nó như một căn bệnh độc lập. Do đó Rubella còn gọi là “German measles”, nhưng tên German không có nghĩa là nước Đức. Nó xuất phát từ gốc Latin “germanus”, có nghĩa là “tương tự - similar”, v ì rubella và sởi có nhiều triệu chứng giống nhau.

Nghiên cứu dịch tể học về rubella vào năm 1940 đã được Norman Gregg, một bác sĩ nhãn khoa người Úc, báo cáo vào năm 1941, về sự xuất hiện bệnh đục nhãn mắt bẩm sinh ở 78 trẻ sơ sinh của những bà mẹ bị nhiễm rubella trong thời kỳ đầu mang thai. Đây là báo cáo đầu tiên về hội chứng rubella bẩm sinh  (congenital rubella syndrome - CRS).
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

 - Bệnh này khác gì bệnh sởi?

Sởi thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên, thời gian nung bệnh từ 7-10 ngày. Bệnh khởi phát trong 2-3 ngày với các triệu chứng: sốt đột ngột từ 38oC trở lên, mắt ướt, kèm nhèm, ho, chảy nước mũi, tiêu chảy... Khi bệnh toàn phát thì sốt cao 38,5-39oC, li bì, mệt mỏi, các ban sởi dày, mịn, xuất hiện đầu tiên ở sau tai, lan ra mặt, cổ xuống thân mình, tứ chi trong 1-2 ngày. Bệnh sẽ lui khi hết sốt, ban bay dần theo trình tự mọc và để lại vết thâm trên da.

Bệnh sởi hay để lại nhiều biến chứng khi bệnh toàn phát hoặc lui bệnh như: viêm phổi, viêm phế quản... có thể gây tử vong, nhất là ở trẻ dưới 1 tuổi; viêm tai giữa, viêm xoang, viêm răng lợi (nếu nặng bị cam tẩu mã); tiêu chảy có thể gây mất nước dẫn đến tử vong; suy dinh dưỡng; viêm loét giác mạc; lao và các bệnh nhiễm trùng khác.

Rubella thường phát triển mạnh vào dịp đông xuân. Bệnh xuất hiện từ nhiều năm nay ở Việt Nam, tuy nhiên lâu nay ít được chú ý vì có các triệu chứng và thời điểm bùng phát giống với sởi, và thường được thống kê chung vào bệnh này.

Bệnh Rubella có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nung bệnh từ 12-23 ngày, khởi phát với các triệu chứng sốt nhẹ, các dấu hiệu mắt ướt, ho, chảy nước mũi, ỉa lỏng... gần như không thấy. Khi bệnh toàn phát, các biểu hiện mới thấy rõ: mệt mỏi, sốt nhẹ, chảy nước dãi và rõ ràng nhất là nổi mẩn đỏ trên da giống như bệnh sởi. Trẻ ít khi nằm li bì, xung huyết mắt, da mặt, hạch to ở dọc hai bên cổ, không đau.

Các nốt ban trên da dạng chấm đỏ rải rác, mọc không có quy luật và có thể thấy đau khớp. Khi bệnh lui thường hết sốt, ban bay nhanh không theo quy luật, không để lại các dấu vết trên da, hạch trở về bình thường muộn hơn, thường sau 1 tuần.

Hầu hết các ca nhiễm rubella hiện nay xảy ra ở người lớn trẻ chưa có miễn dịch hơn là ở trẻ em. Trên thực tế, các chuyên gia ước tính hiện có 10% số người lớn trẻ tuổi mẫn cảm với rubella, gây nguy hiểm cho đứa con mà họ có thể có vào một ngày nào đó.

- Bệnh rubella lây truyền như thế nào?
Soạn: AM 763363 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Trẻ cũng bị mắc bệnh rubella

Bệnh gây bởi virus rubella (không phải là virus sởi), được phân lập lần đầu tiên vào năm 1962. Nó cũng là một bệnh truyền nhiễm nhưng mức độ không nhiều hơn so với bệnh sởi hay bệnh thuỷ đậu.

Người nhiễm rubella dễ lây bệnh cho người khác trong thời điểm từ 1 tuần trước đến 1 tuần sau khi phát ban. Người nhiễm bệnh nhưng không có triệu chứng vẫn có thể lây truyền bệnh.

Trẻ bị hội chứng rubella bẩm sinh có thể gieo rắc virus qua nước tiểu hoặc dịch tiết mũi họng trong một năm hoặc hơn và có thể lây virus sang người chưa có miễn dịch. thường lây qua không khí từ dịch tiết mũi họng.

Virus cũng có thể đi qua máu của người mẹ nhiễm vào thai nhi, gây nhiễm trùng bào thai. Vì nói chung đây là một bệnh nhẹ ở trẻ em, nên mối nguy hiểm chính của rubella là ở phụ nữ có thai, có thể gây hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ.

- Khi phát bệnh, dấu hiệu và triệu chứng của bệnh rubella như thế nào?

Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 12 - 23 ngày. Nhiễm rubella có thể bắt đầu bằng 1 - 2 ngày sốt nhẹ (37,2 - 37,8oC) và sưng đau hạch, thường ở mé sau cổ hoặc cạnh tai. Vào ngày thứ hai hoặc thứ ba, phát ban bắt đầu trên mặt và lan xuống dưới. Khi phát ban lan xuống người, thì ở mặt thường hết. Phát ban thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh mà cha mẹ nhận thấy.

Phát ban rubella trông giống như nhiều loại phát ban do virus khác. Ban biểu hiện thành những chấm hồng hoặc đỏ nhạt, có thể liên kết với nhau tạo thành những mảng phẳng đổi màu. Ban có thể ngứa và kéo dài tới 3 ngày. Khi ban lặn, da đôi khi bị bong vảy như tuyết.

Ở trẻ vị thành niên và người lớn, sau 1 – 5 ngày các triệu chứng của rubella thường hay gặp hơn, sẽ là: sốt nhẹ, đau đầu khó chịu, chán ăn; viêm kết mạc nhẹ (viêm lớp màng lót mí mắt và nhãn cầu); hắt hơi hoặc chảy nước mũi, sưng hạch ở các vùng khác của cơ thể, đau và sưng khớp (nhất là ở phụ nữ trẻ). Nhiều người bị rubella có rất ít hoặc hoàn toàn không có triệu chứng.  

- Bệnh rubella có nguy hiểm không?

Bệnh này đối với trẻ con thường là lành tính. Những biến chứng của bệnh này không phổ biến, thường ít xuất hiện ở trẻ con mà chủ yếu ở người lớn.  

Các biến chứng của Rubella chủ yếu là đau và sưng ở các khớp như ngón tay, cổ tay hay đầu gối, nhất là ở phụ nữ cao tuổi (chiếm 70%), viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm thần kinh, gây dị dạng thai nhi ở phụ nữ có thai.

Phụ nữ mắc bệnh Rubella khi đang mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh như: các bệnh tim bẩm sinh, bệnh đầu nhỏ, chậm phát triển tâm thần, đục thủy tinh thể, điếc, các tổn thương xương dài...
Soạn: AM 763365 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Những trẻ bị mắc Hội chứng rubella bẩm sinh dễ gặp các biến chứng nặng như bại não, tổn thương phổi, mù mắt... Trong ảnh: Trẻ bị di chứng mù mắt do nhiễm rubella bẩm sinh.

Những trẻ mắc Rubella bẩm sinh dễ gặp các biến chứng nặng nề như bại não, tổn thương phổi, mù mắt... Một số nước có quy định bắt buộc phá thai nếu người mẹ mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ.

Những biến chứng khác có thể là: tổn thương thai nhi (nhiều khuyết tật)  với 9/10 trường hợp có thai (trong 8 - 10 tuần đầu). Tổn thương thai nhi  1/5 đến 1/10 (từ 10-16 tuần). Sau 16 tuần, tổn thương thai nhi hiếm gặp. Các rối loạn máu  1/3.000. Viêm não 1/5.000

- Cách phòng ngừa và điều trị như thế nào?

Rubella hiện chưa có thuốc điều trị. Cách chữa chủ yếu vẫn là cho bệnh nhân nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và dùng các thuốc nâng cao thể trạng, đặc biệt là vitamin để tăng khả năng chống đỡ của cơ thể.

Ngoài ra, cách phòng ngừa đặc hiệu đối với bệnh Rubella là tiêm vắc-xin loại kết hợp phòng cả 3 bệnh rubella, sởi và quai bị. Sử dụng cho trẻ em trên 12 tháng tuổi và người lớn.

Vaccin sởi-quai bị-rubella (MMR) thường được tiêm cho trẻ 12 - 15 tháng tuổi. Liều MMR thứ hai được tiêm khi trẻ lên 4 - 6 tuổi, nhưng không nên quá 11-12 tuổi.  

Những phụ nữ trong độ tuổi mang thai, hoặc dự định mang thai trong thời gian này nên đi chích ngừa bệnh, nhờ đó ngăn chặn những ca khuyết tật bẩm sinh do hội chứng rubella bẩm sinh. Sản phẩm tạo miễn dịch trong thời gian rất dài và tác dụng bảo vệ vẫn còn nếu người phụ nữ chích ngừa mang thai nhiều năm sau đó.

Tuy nhiên, không nên tiêm vaccin rubella cho phụ nữ có thai hoặc phụ nữ có thể sẽ có thai trong vòng một tháng sau khi tiêm. Nếu bạn đang dự định có thai, hãy đảm bảo là bạn có miễn dịch với rubella thông qua xét nghiệm máu hoặc tiêm chủng. Nếu không, bạn nên tiêm vaccin ít nhất 1 tháng trước khi mang thai.

Phụ nữ có thai chưa có miễn dịch nên tránh tiếp xúc với người bị bệnh và nên tiêm vaccin sau đẻ để có miễn dịch cho lần mang thai sau.

Ngoài ra, có thể phòng bệnh bằng các biện pháp không đặc hiệu khác như mặc đủ ấm, ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp.

- Làm cách nào để biết trẻ bị mắc bệnh rubella?

Bởi vì những nốt ban của rubella trong tương tự các loại bệnh khác, cách chắc chắn duy nhất để xác định rubella là thực hiện các xét nghiệm.

- Khi nào cần đưa trẻ đi khám?

Rubella thường là bệnh nhẹ, nhất là ở trẻ em và ít cần sự chăm sóc đặt biệt tại nhà. Theo dõi nhiệt độ của trẻ, và đưa trẻ đi khám bác sĩ nếu sốt quá cao. Để làm giảm khó chịu, bạn có thể cho trẻ acetaminophen hoặc ibuprofen. Tránh dùng aspirin cho trẻ bị bệnh do virus vì sử dụng aspirin ở những trường hợp này có thể gây ra hội chứng Reye, dẫn đến suy gan và tử vong.

Đưa trẻ đi khám nếu trẻ bị sốt 38,9oC trở lên (trẻ dưới 6 tháng cần đi khám nếu nhiệt độ từ 38oC trở lên), hoặc nếu trẻ có vẻ bị ốm nặng hơn những triệu chứng nhẹ được mô tả ở trên.

- Bệnh có khả năng tái phát lần thứ hai?

Không chỉ ở trẻ em, bệnh rubella còn xảy ra ở nhiều lứa tuổi, người lớn cũng có thể mắc bệnh. Bệnh có thể xảy ra ở những người chưa mắc rubella lần nào, hoặc chưa từng được chủng ngừa trước đó. Rubella xảy ra rải rác quanh năm, nhưng có năm cũng xảy ra theo mùa (thường bệnh xảy ra nhiều vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 6). Những nơi đông người như trường học, công ty, xí nghiệp, khu nhà trọ là môi trường dễ làm lây nhiễm bệnh rất nhanh, bởi rubella lây qua đường hô hấp.

   *
     Hương Cát (Tổng hợp : Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh (Centers for Disease Control and Prevention – CDC), Viện Thông tin Y học Trung Ương Việt Nam)
Tôi có thai được 34 tuần, mấy hôm nay tôi rất chóng mặt, mệt mỏi, ăn uống kém. Xin hỏi bác sĩ tình trạng sức khỏe của tôi có nguy hiểm gì không?

http://img.suckhoedoisong.vn/Images/Uploaded/Share/2009/11/30/chongmat-cuoi-thai-ky-rat-nguy-hiem.JPG

Chóng mặt thời kỳ thai nghén là một biểu hiện thường thấy. Trong thời kỳ đầu mang thai, một loạt các triệu chứng xuất hiện như váng đầu, buồn nôn, nôn, kiệt sức... Nguyên nhân có thể là do trạng thái tinh thần và cơ chế tác động của hormon trong cơ thể. Ngoài ra chức năng của tuyến vỏ thượng thận bị suy giảm, thiếu vitamin B6 và tâm lý sợ hãi có thể thúc đẩy phát sinh các phản ứng thời kỳ đầu mang thai, làm xuất hiện chóng mặt. Vào cuối thời kỳ mang thai, thai phụ có thể xuất hiện tăng huyết áp, nước tiểu có abumin và phù thũng (phù chân voi). Tăng huyếp áp có thể dẫn đến chóng mặt, nặng đầu.

Chóng mặt khi mang thai cũng có thể do thiếu máu. Vào cuối thời kỳ mang thai, dung lượng huyết tương tăng nhanh hơn tổng hợp gia tăng của huyết sắc tố và hồng cầu khiến máu bị loãng, tỉ lệ hồng cầu bị hạ thấp, làm thai phụ xuất hiện hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt. Khi thiếu máu nặng sẽ khiến hoạt động của đại não và tai trong bị trở ngại do không được cung cấp đủ máu và xuất hiện các triệu chứng như váng đầu, ù tai, mất thăng bằng, mất sức, sắc mặt tái xanh... Khi có các dấu hiệu phù chân voi, chóng mặt, váng đầu ở thời kỳ cuối của quá trình thai nghén cần phải đi khám ngay ở các cơ sở sản khoa tin cậy, và không được tự ý uống bất kỳ loại thuốc nào.BS. Lê Hoàng  
Cháu mang thai được 7 tháng, da bụng cháu rạn rất nhiều. Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân và cách khắc phục?

Trần Thu Thảo (Hà Tĩnh)

Hầu hết khi mang thai, phụ nữ thường bị rạn da bụng, da bầu vú, đùi. Điều này không ảnh hưởng tới sức khỏe nhưng lại làm mất thẩm mỹ sau sinh. Da của chúng ta có khả năng co giãn và đàn hồi rất tốt nhờ các sợi collagen và elastin. Khi mang thai, bụng, mông và ngực của phụ nữ thường tăng nhanh về kích thước nên da không giãn ra kịp, các sợi collagen và elastin bị đứt, gãy. Các vết đứt gãy đó xảy ra liên tiếp tạo thành các vết rạn, nứt. Ban đầu sẽ có màu đỏ nâu do các mạch máu dưới da bị tổn thương, sau khi sinh, cơ thể hồi phục, các vết rạn sẽ chuyển thành sẹo màu trắng, đến lúc này thì việc điều trị sẽ trở nên vô cùng khó khăn vì các vết rạn đã trở thành sẹo vĩnh viễn. Để khắc phục tình trạng trên, khi bắt đầu có thai, bạn nên bôi kem, mỡ tránh rạn da hiện có bán trên thị trường; mát-xa để tăng sự lưu thông máu; ăn, uống các thực phẩm có chứa vitamin C, E.

Theo BS. Vũ Thu Dung (suckhoedoisong)
Nhiều bà mẹ rất chịu khó massage cho con để bé phát triển tốt, nhưng nếu massage không đúng cách sẽ lợi bất cập hại.

Tiến sĩ  Đinh Thị Thủy, chuyên gia dinh dưỡng và nhi khoa, từng công tác tại Bệnh viện 19/8, Hà Nội, cho biết, massage giúp cơ bắp và khớp xương của bé cứng cáp hơn, giảm triệu chứng đau nhức hay ngăn ngừa một số bệnh. Ngoài ra, qua việc này, cha mẹ biết cách nhận diện các phản ứng và hiểu rõ nhịp điệu sinh học tự nhiên của cơ thể con để đáp ứng kịp thời các nhu cầu, mong muốn của bé. Tuy  nhiên, những lợi ích này chỉ có khi massage đúng cách.

Những sai lầm thường gặp

Massage khi ốm: Nhiều bà mẹ trẻ nghĩ rằng khi em bé bị ốm, việc massage sẽ khiến cho bẻ cảm thấy thoải mái, khỏe hơn. Nhưng bác sĩ Thủy khuyên rằng, khi bé có dấu hiệu đau ốm, sốt, cha mẹ không nên massage vì cơ thể bé rất nhạy cảm, việc massage lúc này sẽ khiến bé dễ bị cảm lạnh hoặc ốm nặng hơn.

Massage lâu và nhiều lần trong ngày: Nhiều phụ huynh cứ tiện là massage, có khi mấy ngày liền không làm nhưng cũng có khi mấy lần mỗi ngày, và nhiều người nghĩ rằng xoa bóp càng lâu càng tốt. Điều này không tốt bởi mỗi trẻ có thể trạng khác nhau. Tùy vào lứa tuổi của con, các bà mẹ nên có thời gian biểu massage hợp lý. Trẻ sơ sinh chỉ nên massage trong vòng 2 - 5 phút, trẻ từ hai tháng tuổi trở nên có thể massage trong 8 - 10 phút, còn bé 10 tháng trở lên có thể massage trong vòng 10 - 15 phút. Việc massage mỗi ngày một lần làm tăng khả năng tuần hoàn máu, giúp bé ăn ngoan, chóng lớn, giảm các chứng đầy bụng khó tiêu, nhưng không nên thực hiện nhiều hơn.

http://www.baodatviet.vn/Uploaded_CDCA/thanhnhan/20091112/ds12110913.jpg

Chỉ xoa bóp, không giao lưu: Việc massage mà không có sự giao tiếp giữa mẹ và bé (trò chuyện, trao đổi bằng ánh mắt, hát cho trẻ nghe ...) sẽ không tạo được hiệu quả tốt. Trong quá trình massage và trò chuyện, bạn giúp bé sớm phát triển ngôn ngữ, giảm bớt những khó chịu do căng thẳng. Massage là một cách thể hiện tình thương và sự chăm sóc cho bé yêu, giúp bé phát triển tốt cả thể chất và tâm sinh lý.

Những lưu ý khi massage cho con

Khi bắt đầu xoa bóp, bạn hãy thực hiện các động tác vuốt ve một cách nhẹ nhàng và từ từ để tìm hiểu tâm trạng của bé. Nếu bé khóc ít, cố gắng dỗ nín trước khi xoa bóp. Nếu bé khóc nhiều thì không nên cố massage, mà nên dừng ngay.

Không massage khi bé không muốn, khi bé đói hoặc vừa ăn no, khi bé không khỏe.

Không đánh thức bé dậy để massage.

Không bắt buộc bé chỉ ở một tư thế.

Nên massage cho bé vào buổi sáng sớm hoặc chiều, tắm cho bé sau khi massage.

Trước khi bắt đầu, phải chắc chắn rằng căn phòng đặt bé để xoa bóp cũng như đôi tay của bạn phải ở nhiệt độ thường. Nhiệt độ quá thấp sẽ rất dễ gây cảm lạnh cho trẻ. Không nên mở quạt số lớn và không để gió quạt thổi thẳng vào người bé. Cởi hết quần áo bé và đặt nằm trên một chiếc chăn hay đệm mềm.

Trong khi xoa bóp, bạn có thể sử dụng tinh dầu, dầu massage để thoa lên da trẻ, giúp thao tác dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nên chú ý kiểm tra độ kích ứng của loại tinh dầu bạn định dùng với da trẻ

Khi xoa bóp, bạn hãy cởi bỏ hết các loại trang sức đeo trên tay để tránh làm tổn thương đến da của bé.

THeo Anh Trần (Bao datviet)
Khi dùng thuốc ngừa thai uống ở phụ nữ, một trong những tác dụng phụ gây lo ngại nhất đó là việc tạo thành các cục máu đông trong lòng mạch máu và gây ra hậu quả tắc mạch rất nguy hiểm. Các nhà khoa học luôn tìm kiếm một loại thuốc có nguy cơ thấp nhất và điều này có ý nghĩa đối với những phụ nữ vốn đã có sẵn nguy cơ hình thành cục máu đông nếu muốn dùng thuốc ngừa thai dạng uống.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia từ Đại học Y khoa Leiden, Hà Lan thì thuốc ngừa thai uống chứa levonorgestrel và liều thấp estrogen có nguy cơ thấp nhất gây huyết khối tĩnh mạch so với các thuốc khác. Trong nghiên cứu này, các chuyên gia đã so sánh, đánh giá các loại thuốc ngừa thai chứa progestin kết hợp với liều khác nhau của estrogen. Nghiên cứu tương tự được thực hiện trên phụ nữ Đan Mạch. Thật ra thì nguy cơ gây cục máu đông của các thuốc ngừa thai uống đã được biết đến từ nhiều thập kỷ nay, với hàng loạt các nghiên cứu cho thấy nguy cơ này tăng lên 2 - 6 lần khi dùng thuốc.

Viên thuốc ngừa thai uống và cục máu đông

GS. Van Hylckama Vlieg và cộng sự đã tiến hành phân tích dữ liệu từ 1.524 phụ nữ tuổi từ 18 - 50, được chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu ở chân lần đầu tiên hoặc huyết khối ở phổi với 1.760 phụ nữ khỏe mạnh. Những phụ nữ uống thuốc ngừa thai có nguy cơ bị cục máu đông gấp 5 lần so với người không dùng thuốc, nguy cơ này cũng khác nhau giữa các loại progestin. Thuốc ngừa thai dạng uống mới chứa drospirenone hoặc cyproterone acetate thì lại có nguy cơ cao hơn khi so với thuốc chứa levonorgestrel. Các chuyên gia đã đưa ra một số kết luận như sau:

- Levonorgestrel gây ra nguy cơ cục máu đông gần 4 lần so với người không dùng thuốc.

- Gestodene làm tăng nguy cơ lên 5,6 lần.

- Drospirenone gây tăng nguy cơ lên 6,3 lần.

- Cyproterone gây tăng nguy cơ lên 6,8 lần.

- Desogestrel gây tăng nguy cơ lên 7,3 lần.

Nguy cơ cục máu đông cũng liên quan đến các nồng độ estrogen khác nhau trong viên thuốc, estrogen càng cao thì nguy cơ càng cao.

Ở nghiên cứu của Đan Mạch đánh giá nguy cơ cục máu đông ở những phụ nữ khỏe mạnh từ 15 - 49 tuổi dùng các loại viên thuốc ngừa thai uống từ năm 1995 - 2005. Trong thời gian nghiên cứu có đến 4.213 người bị cục máu đông. Kết quả cho thấy nguy cơ sẽ giảm nếu thời gian dùng thuốc ngắn lại và liều thấp của estrogen. Giống như kết quả của các chuyên gia Hà Lan, các viên thuốc chứa levonorgestrel thì có nguy cơ thấp nhất so với những loại progestin khác (viên thuốc chứa norethisterone cũng có nguy cơ thấp như vậy).

Ý kiến tiếp theo

Một nghiên cứu mới đã khẳng định lại các khám phá trước đây và bổ sung những thông tin mới, đó là kết quả từ các chuyên gia của Trung tâm Y khoa Cedars - Sinai ở Los Angeles, Hoa Kỳ. Các viên thuốc ngừa thai kết hợp giữa estrogen và progestin sẽ làm tăng nguy cơ huyết khối trong lòng mạch. Những phụ nữ thừa hưởng di truyền về rối loạn đông máu nếu dùng thuốc ngừa thai sẽ có nguy cơ cao nhất tạo thành cục máu đông. Thật sự đối với một người phụ nữ khỏe mạnh thì nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch sâu sau khi dùng thuốc ngừa thai uống rất thấp, chỉ có khoảng 6 người bị huyết khối trong một năm theo dõi đối với 10.000 phụ nữ dùng thuốc. Dùng càng lâu thì nguy cơ càng thấp đi, nghe như vô lý nhưng các chuyên gia giải thích rằng: những người dùng thuốc ngừa thai uống gặp phải tác dụng phụ thì họ đã ngưng dùng thuốc, còn những người dùng lâu dài tức là những người có rất ít nguy cơ để bị tác dụng phụ.

Điều quan trọng nhất mà mọi người phải ghi nhớ là mỗi người có nguy cơ gặp tác dụng phụ khi uống thuốc ngừa thai là khác nhau và giữa những loại thuốc ngừa thai dạng uống thì tác dụng phụ gặp phải cũng khác nhau. Bạn phải báo với bác sĩ kê thuốc ngừa thai về những đều tốt cảm nhận được và các tác dụng phụ gặp phải. Bác sĩ sẽ phải xem xét lựa chọn loại thuốc ngừa thai phù hợp nhất cho bạn. Khi bắt đầu dùng thuốc ngừa thai thì nên chọn loại có hàm lượng estrogen thấp nhất kết hợp với một loại progestin, các chuyên gia khuyến cáo chọn loại levonorgesterol hoặc norethisterone kết hợp liều thấp estrogen.

Theo BS. ĐẶNG MINH TRÍ (Suckhoedoisong)
Báo Lao Động đã từng đề cập tới một số tác hại của thuốc lá đối với phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, vẫn còn có những biến chứng cụ thể do thuốc lá ở phụ nữ có thai như vỡ ối sớm, đẻ non...

Theo Hội Sản phụ khoa Mỹ, ở những thai phụ hút 1 bao thuốc lá (TL)/ngày thì tỉ lệ đẻ non cao hơn 20% so với phụ nữ không hút thuốc. Những trẻ đẻ quá sớm (dưới 37 tuần tuổi) thường hay gặp những biến chứng nguy hiểm có thể gây tử vong.

Trước hết, hút thuốc gây tổn thương trực tiếp, thậm chí phá huỷ noãn bào, do vậy gây vô sinh. Nicotine trong TL ngăn cản hình thành lớp bảo vệ được gọi là lớp vỏ. Lớp này ngăn không cho các tinh trùng khác xâm nhập vào trứng sau khi đã có một tinh trùng xâm nhập vào trong trứng, ngăn tình trạng đa tinh trùng. Những phôi có nhiều tinh trùng này dễ bị chết trong quá trình phát triển hoặc sẩy thai tự phát.

Phụ nữ hút thuốc còn gây thay đổi nồng độ một số hormon bao gồm hormon estrogen và hormon kích thích nang. Sự phóng noãn của buồng trứng xảy ra không được bình thường ở người hút thuốc. Đó là nguyên nhân chính gây vô sinh. Những phụ nữ hút thuốc, ngoài tỉ lệ vô sinh nhiều hơn còn phải chịu kém hiệu quả trong điều trị vô sinh. Những bệnh nhân hút thuốc thường ít thành công hơn trong thụ tinh trong ống nghiệm và quá trình giao tử vận chuyển trong vòi trứng.

Khi đã mang thai, phụ nữ hút thuốc hay gặp vỡ ối sớm hơn ở những người không hút thuốc. Vỡ ối sớm khiến vi khuẩn có điều kiện xâm nhập vào môi trường vô khuẩn của thai nhi gây nên tình trạng nhiễm trùng, có thể đe doạ tính mạng của thai nhi. Hút thuốc còn gây các tác hại xa làm tăng huyết áp và ảnh hưởng tới khả năng của thai nhi thực hiện các cử động thở. Bản thân nhau thai cũng bị ảnh hưởng xấu bởi TL. Những phụ nữ hút thuốc hay bị bong nhau non và nhau tiền đạo, gây chảy máu ở mẹ và chết ở thai nhi.

Hút thuốc còn có thể gây biến chứng về phụ khoa. Theo giải thích, hút thuốc tác động lên cơ quan sinh sản của người phụ nữ cả khi mang thai và không mang thai; hậu quả nghiêm trọng của TL thường xuất hiện ở thời kỳ mãn kinh và gây mãn kinh sớm. Hút thuốc cũng làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung.
B.C.Đ (theo Chương trình phòng chống tác hại thuốc lá quốc gia) - laodong.com.vn
Các nhà khoa học vừa chứng minh rằng, thai nhi có thể bị lây bệnh ung thư từ mẹ, nếu thai phụ vừa bị ung thư vừa mắc bệnh bạch cầu.

Một nhóm nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Ung thư thuộc Đại học Tổng hợp London (Anh) phối hợp với các nhà khoa học Nhật Bản, phát hiện rằng (trong trường hợp nêu trên), tế bào ung thư không tuân theo các thuyết sinh học thông thường.

Thử nghiệm trên cơ thể một thai phụ 28 tuổi cho thấy, các tế bào bạch cầu bị ung thư đã thông qua nhau thai thâm nhập thai nhi. Đã từng có những nghi vấn dai dẳng về khả năng lây truyền ung thư trong dạ con.

Cho đến nay, 17 trường hợp nghi truyền nhiễm ung thư qua dạ con được ghi nhận, chủ yếu liên quan chứng ung thư bạch cầu và u ác tính. Nhưng cho đến nay, các nhà nghiên cứu chưa làm rõ được cơ chế lây nhiễm.

Trong trường hợp kể trên, không ai biết thai phụ, một người Nhật Bản, bị ung thư trong lúc mang thai. Cô sinh một bé gái, vẻ bề ngoài hoàn toàn khỏe mạnh. Nhưng một tháng sau, người mẹ bị chứng chảy máu âm đạo mà các bác sỹ không thể xử lý được. Chẩn đoán cho thấy, bệnh nhân bị ung thư bạch cầu giai đoạn cuối. Bệnh nhân tử vong ngay sau đó.

11 tháng sau, đứa trẻ phải nhập viện với má phải bị sưng. Chiếu chụp thấy cháu bé có u trong hàm và các tế bào ung thư đã lan đến phổi.

Giáo sư Mel Greaves, chỉ huy nhóm nghiên cứu, nói: "Có nhiều bằng chứng cho thấy trong trường hợp này, và chúng tôi cho rằng cả trong nhiều trường hợp lây truyền ung thư từ mẹ sang con khác, tế bào ung thư được lây truyền từ mẹ sang con mà không bị phát hiện và tiêu diệt là do các tế bào này gần như miễn dịch trước hệ miễn dịch của thai nhi. Đây là phát hiện rất quan trọng, trả lời cho những nghi vấn tồn tại lâu nay".

A.M
Theo Guardian
Tiền sản giật là một bệnh nặng khi mang thai, có thể gây sản giật với diễn biến nặng như hôn mê, đột quỵ, phù phổi cấp, nếu không điều trị kịp thời có thể tử vong mẹ và con. Tiền sản giật có liên quan đến những bất thường của sự tự điều chỉnh tuần hoàn não, làm tăng nguy cơ đột quỵ khi chỉ số huyết áp gần như bình thường. Có khoảng 5-7% phụ nữ có thai mắc tiền sản giật.

Nguyên nhân gây tiền sản giật

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Có nhiều nguyên nhân gây tiền sản giật như: những thai phụ bị nhiễm độc thai nghén, tăng huyết áp, các bệnh thận mạn tính, rối loạn tâm thần và nội tiết, con so, sinh đôi và đa thai, đái tháo đường, tiền sử bệnh thận hoặc tăng huyết áp mạn tính, tiền sử đã mắc tiền sản giật, thai phụ cao tuổi (trên 35) hoặc quá thấp (dưới 16 tuổi), béo phì, đột biến do yếu tố V Leiden, gen angiotensinogen T235, hội chứng kháng thể kháng phospholipid, do thời tiết giá rét, ẩm ướt...

Biểu hiện tiền sản giật như thế nào?

Tiền sản giật gồm các rối loạn: tăng huyết áp và protein niệu kèm theo các rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương như đau đầu, nhìn mờ, cơn co giật, hôn mê. Tiền sản giật nhẹ có protein niệu khoảng 1-2g, phù nhiều, tăng cân lên chừng 3-4 kg, tiểu ít, huyết áp lên tới 170/100mmHg, nhức đầu. Thai phụ bị tiền sản giật nhẹ khi được chẩn đoán bị tăng huyết áp, protein niệu và phù trở lại mà không có bằng chứng tiền sản giật nặng. Nếu không chữa trị khẩn trương có thể tiến triển thành tiền sản giật nặng. Tiền sản giật nặng protein niệu 2-3g hay cao hơn, phù nhiều, thai phụ tăng hàng chục kg, huyết áp tăng cao, có khi đến 190/100 mmHg, tiểu ít, nhức đầu nhiều nhưng uống thuốc gì cũng không đỡ; mờ mắt, phù võng mạc hay xuất huyết võng mạc; toàn thân mệt mỏi, hốt hoảng, bơ phờ... Hậu quả là tổn thương nội mô của nhiều cơ quan. Nếu protein niệu cao hơn 5g/24 giờ, thiểu niệu hay suy thận, phù phổi, tổn thương tế bào gan, giảm tiểu cầu dưới 1000.000/microlit hay đông máu nội mạch lan tỏa; có biểu hiện của hội chứng HELLP bao gồm: tan huyết, men gan tăng, tiểu cầu thấp là một dạng đặc biệt của tiền sản giật nặng, đây là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh và tử vong của tiền sản giật.

Chữa trị và phòng bệnh tiền sản giật

Thai phụ bị tiền sản giật sẽ phục hồi trong vòng vài tuần sau khi sinh. Trường hợp bị tiền sản giật khi tuổi thai nhỏ hơn 37 tuần, nếu để người mẹ sinh có thể giảm tỷ lệ bệnh của mẹ nhưng gây nguy cơ sinh non cho thai. Điều trị tiền sản giật đòi hỏi thầy thuốc phải cân nhắc giữa sức khỏe của mẹ và của thai, phải quyết định sao cho có cơ hội tốt nhất cho thai nhi còn sống. Đối với thai phụ bị tiền sản giật nhẹ có thể xử lý: cho nằm nghỉ, theo dõi chặt chẽ huyết áp và chức năng thận, theo dõi sát sức khỏe thai nhi. Những trường hợp thai phụ bị tiền sản giật nặng, nếu thai trên 32 tuần tuổi thì nên cho sinh sớm. Điều trị tiền sản giật nặng khi thai còn xa kỳ sinh có thể có lợi cho thai nhi nhưng gây nguy cơ cao cho thai phụ. Khi đó nên quản lý thai phụ ở các trung tâm chăm sóc chuyên khoa tuyến tỉnh, nơi có bác sĩ chuyên khoa sản chăm sóc cho mẹ và thai, có đủ điều kiện xử trí các tai biến.

Đối với thai phụ bị tiền sản giật nặng, phải điều trị tích cực chứng tăng huyết áp để làm giảm nguy cơ tai biến mạch máu não.

Có thể dùng Labelatol hay hydralazin truyền tĩnh mạch là hai thứ thuốc thường dùng nhất để xử lý tiền sản giật. Cũng có thể dùng thuốc chẹn kênh canxi. Tuân thủ nguyên tắc là giảm huyết áp động mạch từ từ để tránh giảm huyết áp và giảm lượng máu đến thai. Tránh dùng những chất ức chế men chuyển angiotensin cũng như những chất chẹn thụ thể angiotensin trong ba tháng giữa và ba tháng cuối của thai kỳ vì ảnh hưởng có hại cho sự phát triển của thai nhi. Thai phụ điều trị bằng những chất ức chế men chuyển angiotensin thường bị ít dịch ối, có lẽ là do giảm chức năng thận của thai nhi.

Để điều trị và phòng ngừa cơn sản giật có thể dùng magiê  sunphat vì hiệu quả tốt hơn hẳn phenitoin và diazepam. Magiê có thể ngừa cơn sản giật bằng cách tương tác với các thụ thể N-Methyl-D-asparate (NMDA) trong hệ thần kinh trung ương. Do khó dự đoán được cơn sản giật trong những ca bệnh nặng nên khi đã quyết định cho sinh thì tất cả thai phụ đã chẩn đoán tiền sản giật nên được điều trị bằng magiê sunphat.

Quản lý thai nghén tốt, phát hiện và điều trị tích cực các trường hợp tiền sản giật là cách tốt nhất để ngăn chặn bệnh tiến triển thành sản giật, hạn chế tai biến năng cho cả mẹ và thai nhi.

Theo BS. Phạm Văn Thân (suckhoedoisong)
Vợ tôi sinh con đến nay được hơn 1 tháng. Nhưng sau khi sinh được 2 tuần thì bị cảm cúm, mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, không muốn ăn. Tôi đã đưa vợ tôi đi khám nhưng bác sĩ nói vợ tôi bị cảm phong hàn. Xin Quý báo tư vấn về bệnh của vợ tôi, nguyên nhân do đâu?

Đỗ Văn Phượng (Quảng Ninh)

Phụ nữ sau sinh sức đề kháng giảm, gặp lạnh rất dễ mắc bệnh. Các cụ nói phụ nữ sau đẻ như vừa bị lột xác, muốn nói sau sinh sức khỏe thường yếu do mất sức, đau đớn khi vượt cạn; sau đó là sự thay đổi giấc ngủ, ăn uống do phải chăm con, cho con bú... Cảm do nhiều yếu tố gây nên, nguyên nhân chính là do bộ máy hô hấp kém khả năng lọc sạch không khí. Phần lớn do mũi và vùng lân cận bị vi khuẩn hoặc vi rút xâm nhập. Khi thể lực sút kém hoặc viêm mũi họng, những triệu chứng cảm cúm xuất hiện. Theo Đông y, bệnh này là do bị ngoại cảm xâm nhập gây ra phong hàn hoặc phong nhiệt. Những người thể lực yếu, chính khí thiếu như sau sinh nở hoặc do lao động mệt ngồi hóng phải gió lạnh hoặc quạt lạnh làm tổn thương chính khí mà mắc bệnh. Đối với thể phong hàn, thường thấy không có mồ hôi, đau đầu và khớp xương đau, khạc đờm, họng ngứa, đổ nước mũi loãng, có thể sốt hoặc không. Với thể phong nhiệt thường, thường thấy cảm giác sốt rõ rệt. Nếu bệnh nhẹ hoặc thời gian đầu thường bị đau đầu, họng đau sưng đỏ, khi nuốt vào cảm giác đau rất rõ, miệng khô, hắt hơi nhiều, ho có đờm...

Trường hợp của vợ anh sau sinh đẻ, nuôi con nhỏ, nếu không được nghỉ ngơi bồi dưỡng tốt rất dẽ bị suy nhược cơ thể, thiếu máu, thể lực yếu nên có biểu hiện chóng mặt. Chú ý trong tháng đầu phụ nữ sau sinh rất hay bị trầm cảm, biểu hiện mệt mỏi, thờ ơ, buồn tủi, không ngủ được, ăn kém, do vậy mọi người trong gia đình cần phải quan tâm giúp đỡ thì sẽ tránh được tình trạng này. Tốt nhất anh nên đưa chị đi khám tại cơ sở y tế để được hướng dẫn điều trị đúng.

Theo Bác sĩ Nguyễn Hải Diệp (Suckhoevadoisong)
Nói đến bệnh của tuyến vú, người ta thường nghĩ đến ung thư. Ung thư vú là loại ung thư có tần suất cao nhất ở phụ nữ trên thế giới, là nỗi ám ảnh kinh hoàng của phái đẹp. Tuy nhiên, bệnh thường xảy ra nhất của tuyến vú lại không phải ung thư!

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Ung thư vú chỉ chiếm khoảng 10%, còn lại 90% là các bệnh lành. Cũng chính các bệnh này đã đưa bệnh nhân đến với thầy thuốc khi bệnh còn rất mới, với một triệu chứng rất “tầm thường” nhưng làm nhiều người xanh mặt, mất ngủ và sụt cân vì tưởng ung thư, đó là: “đau vú”.

Trong khi bác sĩ chuyên khoa ung bướu lại thường mừng khi nghe bệnh nhân than đau vú và lại thấy lo khi nghe nói có một cục u trong vú mà cục đó không đau đớn gì, bởi hầu hết các khối ung thư trong vú đều không đau hoặc nếu có thì chỉ đau nhè nhẹ và rất hiếm xảy ra.

Đau mơ hồ, nhức tăng tăng

Đau vú rất thường xảy ra, nhất là ở phụ nữ còn kinh nguyệt và ít xảy ra hơn ở phụ nữ đã có tuổi, ngoại trừ những người đang dùng nội tiết tố thay thế.

Đau theo chu kỳ kinh. Đau nhiều trước khi có kinh khoảng một, hai tuần. Bớt đau dần cho đến lúc kinh ra. Thường đau cả hai vú mặc dù một trong hai vú có cảm giác đau nhiều hơn. Vùng đau hay gặp là vùng trên ngoài của vú (phía nách). Cảm giác đau mơ hồ, nhức tăng tăng, có thể lan ra nách và xuống cánh tay cùng bên. Cường độ đau thay đổi, có thể đau nhiều làm hạn chế cử động mặc áo, nằm ngủ. Loại đau vú này hầu hết liên quan với một tình trạng được gọi là: thay đổi sợi bọc (xơ nang tuyến vú). Hiện tượng này thường gặp nhất ở phụ nữ trong độ tuổi 30 đến 50 tuổi.

Thay đổi sợi bọc được quan tâm nhiều vì làm đau vú, mà vú đau là do trong vú có những cục u nên làm bệnh nhân sợ ung thư. Ám ảnh càng nặng nề hơn khi những dấu hiệu này thường xảy ra ở độ tuổi phụ nữ dễ bị ung thư vú nhất.

Bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm, phối hợp với các phương tiện chẩn đoán như siêu âm, nhũ ảnh, chọc hút tế bào bằng kim nhỏ, sinh thiết, sẽ dễ dàng chẩn đoán được tính chất lành, ác của các cục u. Trong thay đổi sợi bọc, các cục u trong tuyến vú có thể là: nang (tức túi chứa chất dịch. Có thể chỉ có một nang nhưng thường là nhiều nang, dưới dạng khối tròn hay bầu dục. Dạng nang là dạng dễ điều trị nhất. Với nang nhỏ, không cần điều trị vì có thể tự biến mất. Với nang to chỉ cần rút dịch cho nang xẹp xuống). Mảng hay cục đặc (do tình trạng hoá sợi, kích thước vài centimét, giới hạn không rõ, thường ở 1/4 trên ngoài của một vú, đau nhẹ trước mỗi kỳ kinh hay khi ấn vào) hoặc có cả hoá sợi xen lẫn với các nang kể trên (dạng này thường gặp nhất, được gọi là thay đổi sợi bọc hay xơ nang).

Thuốc, thực phẩm... cũng là thủ phạm

Đau vú cũng có thể không theo chu kỳ kinh, thường chỉ ở một vú, có thể liên tục, hoặc không thường xuyên. Có cảm giác nhói, như bị bỏng, hay gặp ở ngay dưới quanh núm vú. Loại đau này ít xảy ra hơn loại trên. Nếu có, là do u lành của vú (u sợi tuyến, một loại u lành có thể làm đau vú và đau tại khối u); viêm tuyến vú do nhiễm trùng vú (có thể xảy ra ở người có tình trạng vệ sinh kém núm vú, nhất là phụ nữ đang cho con bú. Vi khuẩn xâm nhập vào vú qua núm vú, từ miệng bé khi bú. Tình trạng viêm này có thể diễn tiến nặng hơn, thành áp xe vú, với một hay nhiều bọc chứa mủ, làm vú sưng to, căng tròn, rất đau kể cả khi nằm nghỉ và không đụng vào vú). Ngoài ra, đau sụn sườn bên dưới vú, chấn thương ở vú, bị bệnh zona (giời leo) ở vùng ngực cũng làm đau một bên vú.

Nam giới có bị đau vú?

Tuyến vú là bộ phận thường có nhiều thay đổi nhất của phụ nữ. Từ lúc dậy thì, tuyến vú bắt đầu phát triển cùng với chu kỳ kinh nguyệt cho đến suốt cuộc đời. Bất kỳ người phụ nữ nào cũng sẽ có những lúc cảm giác đau và có những thay đổi trong tuyến vú, chu kỳ kinh, lúc mang thai, lúc cho con bú, và trong thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh. Đối với nam giới rất hiếm khi đau vú. Nếu có thì xảy ra ở tuổi thiếu niên do nữ hoá tuyến vú: tuyến vú sưng to đều, thường ở một vú, kèm đau nhẹ.

Một số hoạt chất thuộc nhóm xanthines như caffeine, theophylline, theobromine… cũng là nguyên nhân làm vú căng đau. Các hoạt chất này có trong một số thực phẩm mà nếu dùng thường xuyên hoặc nhiều sẽ làm đau vú: cà phê, trà, cacao, thức uống có cocaine (một số loại nước giải khát có gas), sôcôla…

Ngoài ra, một số dược phẩm có thể có tác dụng phụ làm đau vú, như estrogen (có trong thuốc ngừa thai và thuốc điều hoà kinh nguyệt), digoxin (một loại thuốc chữa bệnh tim), methyldopa (một loại thuốc chữa bệnh tăng huyết áp), spironolactone (một loại thuốc lợi tiểu), oxymetholone (một loại thuốc chữa bệnh loãng xương, thiếu máu và được các vận động viên thể hình dùng để phát triển cơ bắp), chlorpromazine (một loại thuốc chữa bệnh tâm thần), cimetidine (một loại thuốc chữa bệnh dạ dày)…

Có thể tự điều trị các cơn đau

Hầu hết các trường hợp đau vú đều là bệnh nhẹ. Khoảng 60 – 80% trường hợp cơn đau tự biến mất. Nếu đau vú làm khó chịu và kéo dài nhiều ngày, nên dùng thuốc. Trước khi dùng, cần ghi chép lại các thời điểm xuất hiện cơn đau, mức độ đau trong khoảng 1 – 2 chu kỳ kinh, để sau này dễ kiểm tra sự đáp ứng với thuốc.

Bệnh nhân cũng có thể tự điều trị các cơn đau này, bằng cách hạn chế dùng những thực phẩm kể trên. Nếu ghiền thì cứ dùng nhưng chấp nhận… đau. Có thể uống vitamin E nhưng không quá 600mg/ngày (theo một số nghiên cứu, vitamin E có thể làm giảm thay đổi sợi bọc nhưng không chắc chắn); dùng nịt ngực vừa, không chặt quá, nhất là ở những người vú to; chườm nóng lên vú; dùng thuốc giảm đau thông thường…

Nếu đau do chấn thương, nên chườm lạnh khoảng 20 phút. Có thể uống thêm thuốc có chứa ibuprofen. Nếu có viêm, nên hỏi ý kiến bác sĩ về việc dùng thuốc kháng sinh, ngưng cho con bú (tiếp tục cho bú có thể làm bệnh nặng thêm, gây tiêu chảy cho bé) và chườm nóng.

Rất hiếm trường hợp phải mổ trừ khi vú có khối u với tính chất nghi ngờ là ung thư (cần được lấy ra để làm xét nghiệm) hoặc có áp xe vú (sau khi tiêm thuốc tê hoặc gây mê, bác sĩ sẽ rạch thoát lưu mủ)…

Đau vú không phải là dấu hiệu của bệnh nặng, hầu hết không gây khó chịu, chỉ làm lo lắng nếu bệnh nhân hiểu nhầm đau vú là dấu hiệu của ung thư. Đau vú theo chu kỳ kinh nguyệt thường gia tăng theo tuổi, tự khỏi, nhất là khi phụ nữ đến tuổi mãn kinh. Hầu hết không gây khó chịu nhiều, không cần điều trị đặc hiệu. Đau vú do nhiễm trùng thường khỏi nhanh chóng, không biến chứng nếu điều trị đúng cách với thuốc kháng sinh.

Theo GS.TS Nguyễn Sào Trung
Sài gòn Tiếp thị
Sau chín tháng mười ngày mang thai và sinh con, cơ thể người phụ nữ trải qua rất nhiều thay đổi. Vì vậy việc chăm sóc sau sinh đóng một vai trò quan trọng nhằm giúp cho cơ thể người phụ nữ nhanh chóng trở về trạng thái bình thường.

Ảnh: Scienphoto.com

1. Hiện tượng sản dịch

Sản dịch hay còn gọi là máu sau khi sổ nhau, thường ra nhiều trong những giờ đầu sau khi sinh, ban đầu ra nhiều nhưng giảm dần trước khi chấm dứt. Cũng có trường hợp sản dịch ra ít hoặc không ra và  được xem là bất thường.

Nếu dịch không thoát ra được thì tử cung khó co lại, dễ bị nhiễm trùng máu hậu sản.

Để khắc phục, sau khi sinh, sản phụ cần nằm bất động trong thời gian 8-10 giờ, nếu sinh mổ thì thời gian này cần kéo dài hơn thậm chí có thể dài tới 20 tiếng.

Sau thời gian trên cần duy trì các hoạt động từ từ để giúp cơ thể chóng được bình phục. Trường hợp ra quá nhiều máu hoặc quá nhanh thì nguy cơ bị băng huyết rất cao, nên tư vấn bác sĩ ngay.

Nói chung, những người khỏe mạnh thì sau 3 tuần sẽ hết sản dịch, thậm chí có thể có kinh trở lại, vì lý do này cần có biện pháp tránh thai để khỏi bị vỡ kế hoạch.

2.Những hiện tượng nguy hiểm sau khi sinh

Trường hợp xuất hiện những hiện tượng bất thường dưới đây cần báo ngay cho bác sĩ biết:

- Ngất, bất tỉnh

- Ra máu nhiều, máu dạng đỏ tươi kèm theo cục đông máu

- Đau bụng dữ dội

- Nôn ói, tiêu chảy

- Máu và dịch tiết âm đạo có mùi hôi

- Vết mổ sưng đau, rỉ máu

- Có nước tiểu, phân chảy từ âm đạo

- Người mệt mỏi, da xám, mặt nhợt nhạt

Ngoài dấu hiệu về thể chất nói trên, phụ nữ sau khi sinh còn thay đổi về cảm xúc, dễ xúc động, vui buồn thay đổi đột ngột, khóc vô cớ, dễ cáu giận, biếng ăn, mệt mỏi khó ngủ...

Những dấu hiệu về tinh thần được xem là nguy hiểm nếu như không mất mà có chiều hướng phát triển mạnh hơn, dẫn đến không thể chăm sóc được bản thân và con cái được, lo sợ bị cô đơn cùng con cái, có ý định quyên sinh hoặc gây tổn thương đến đứa trẻ thì cần đi khám và tư vấn bác sĩ càng sớm càng tốt.

3. Chăm sóc bầu vú

Càng về cuối giai đoạn mang thai bầu vú bắt đầu có nhiều sữa, không nên nặn vú bởi nó gây tác động đến quá trình phát triển của thai nhi, phát sinh những biến chứng gây đẻ non.

Sau khi sinh khoảng 3 ngày, phụ nữ bắt đầu có sữa chất lượng, nếu bị cứng, tắc thì khi trẻ bú sẽ hết dần. Để giảm đau, nên massage bầu vú, tắm vòi hoa sen, dùng đèn hồng ngoại chiếu kết hợp xoa bóp nhẹ nhàng.

Phương án nuôi con bằng sữa mẹ được người ta tuyên truyền không chỉ tốt cho sản phụ mà còn tốt cho cả đứa trẻ và cũng là phương án giúp cơ thể người mẹ nhanh chóng bình phục, cả về thể chất lẫn về trạng thái tinh thần.

4. Chăm sóc vùng kín

Để giúp dạ con nhanh trở lại bình thường thì nên giữ vệ sinh tốt âm đạo, đi đứng nhẹ nhàng. Kết quả, sau 20 ngày đến 1 tháng dạ con sẽ trở lại bình thường.

Chăm sóc vùng kín rất đa dạng như giữ gìn vệ sinh, đeo băng, thay băng, giữ gìn âm đạo luôn sạch và khô, ngoài ra cũng nên tăng cường  hoạt động, không nên nằm nhiều, luyện tập các môn thể thao nhẹ nhàng, tăng cường thực phẩm giàu chât xơ để tránh táo bón...

Sau khi sinh có thể tắm gội bình thường, không nên tắm ngâm mình dưới ao hồ hoặc trong bồn tắm, nên nghỉ ngơi thích hợp.

5. Một số cách giúp bình phục nhanh sau khi sinh

- Nghỉ ngơi đầy đủ:

Do bị tổn thất nhiều năng lượng nên việc nghỉ ngơi sau khi sinh ở phụ nữ đóng vai trò quan trọng, tốt cả cho sức khỏe thể chất lẫn tinh thần, nhất là những bà mẹ trẻ sinh con lần đầu.

Trong thời gian nghỉ ngơi, được mọi người quan tâm hỏi thăm là liệu pháp tinh thần tốt, giúp sản phụ khỏe và hồi phục nhanh.

- Ăn uống khoa học:

Ăn uống khoa học sau khi sinh rất đa dạng như ăn nhiều rau xanh hoa quả, thực phẩm giàu protein như thịt, pho mát, thực phẩm dạng bột, tăng cường thực phẩm giàu chất xơ để chống táo bón, uống nhiều nước để tăng cường sữa.

Tuy nhiên cần hạn chế dùng đồ uống kích thích như chè, cà phê, coca, rượu bia, tăng cường nước hoa quả, chè dược thảo, sữa.

- Chú ý đến các vết mổ:

Những người phải mổ khi sinh hoặc phải qua thủ thuật chích cửa mình thì phải giữ vệ sinh để tránh viêm nhiễm, đặc biệt là phải thường xuyên vệ sinh, lau khô để tránh nhiễm trùng.

Một khi xuất hiện hiện tượng sưng tấy, rỉ máu phải đi thăm khám bác sĩ.

- Phụ nữ sau khi sinh nên tập các bài thể dạo nhẹ nhàng:

Những bài tập thể thao này sẽ giúp co khít cơ niệu đạo, cơ âm đạo, tránh bị són tiểu sau này, trường hợp bị táo bón có thể chườm nước nóng, tắm nước nóng, massage vùng xương mu, massage vùng bụng.

- Chú ý về tắm giặt:

Phụ nữ sau khi sinh không nên kiêng tắm, tắm giặt sớm làm sạch các tế bào chết trên da giúp da sáng khỏe.

Nên tắm bằng nước ấm, trong phòng kín, cũng có thể tắm nước nóng và nước lạnh kết hợp để giúp máu tuần hoàn tốt.

Nhiệt độ phòng ngủ nên duy trì ở mức 25oC, phù hợp cho cả mẹ lẫn con.

6. Vấn đề tình dụcsau khi sinh    

Vấn đề tình dục sau khi sinh được coi là tế nhị, làm cho nhiều người phân vân và ít được đề cập, nhất là những người làm mẹ lần đầu. Lý do đơn giản là sợ đau giống như khi sinh.

Theo các chuyên gia tình dục học của Mỹ thì trong 6 tháng đầu sau khi sinh không nên hoạt động tình dục nhưng cũng có người cho rằng nếu sức khỏe của sản phụ hồi phục nhanh thì sau 4-6 tháng vẫn có thể sinh hoạt bình thường và cũng là cách giúp cho cơ thể người phụ nữ kích hoạt trở lại, giúp máu tuần hoàn tốt hơn.

Phương án nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ tốt cho sản phụ mà còn tốt cho cả đứa trẻ và cũng là phương án giúp cơ thể người mẹ nhanh chóng bình phục.
Tuy nhiên, việc làm này cần phải có sự đồng thuận của cả hai, mọi thao tác phải nhẹ nhàng để tránh gây tổn thương cho phụ nữ, đây là lý do gây căng thẳng và làm cho phụ nữ sợ giống như tổn thương, đau khi sinh.

Ngoài ra cũng nên tránh các kiểu sex bằng miệng bởi lẽ nó có thể gây viêm nhiễm âm đạo, thậm chí dẫn đến tử vong bởi vì các môi chất ngoại lai thâm nhập từ bên ngoài, nhất là không khí bởi nó mang theo vi trùng thâm nhập vào dòng máu, gây ra căn bệnh có tên là air embolison (sự tắc mạch) nguy hiểm đến tính mạng như đã từng xảy ra ở Anh, trong đó người chồng chính là thủ phạm giết vợ sau khi sinh hoạt tình dục bằng miệng.

7. Một số cách giảm cân sau khi sinh

- Nên uống mỗi ngày từ 10-12 cốc nước, không nên uống nước đóng chai, có chứa gas mà thay bằng nước hoa quả.

- Nên dùng đồ ăn vặt có lợi như bỏng ngô, lạc rang...

- Tăng cường thịt nghèo, như thịt gà, thịt bò, cá

- Tăng cường thực phẩm dạng hạt, hạn chế thực phẩm chế biến quá kỹ

- Nên tăng cường luyện tập thể thao ngay sau khi hồi phục theo phương án nhẹ nhàng và tăng dần đều.

- Nên nuôi con bằng sữa mẹ, đây là cách tốt nhất cho cả mẹ lẫn con, trong đó có tác dụng giảm cân và duy trì vẻ đẹp tự nhiên cho cơ thể phụ nữ sau khi sinh.

Nam Giang
Theo Net/PP/SK - 8/2009
Nhiều khi thấy một vài cục tròn, nhỏ như hột nhãn ở ngực, nhiều chị em “tá hỏa” tưởng mình bị... ung thư. Tuy nhiên, biểu hiện này không có gì đáng lo ngại. Bác sĩ chỉ cần chích thuốc tê, mổ lấy bướu ra là khỏi. Dưới đây là một số bất thường ở ngực mà chị em hay gặp.

Xuất hiện bướu ở ngực

Đôi khi bạn sờ ngực thấy một vài cục tròn, láng, bằng hột nhãn. Điều này không có gì đáng lo ngại. Nhiều chị em có đôi ba cục lớn nhỏ khác nhau ở một vú, cũng có khi ở cả hai.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Đó là loại bướu thường gặp ở các thiếu nữ, rất lành gọi là bướu sợi tuyến. Bác sĩ chỉ cần chích thuốc tê, mổ lấy bướu ra, vết sẹo mổ nhỏ. Nếu vài tháng hoặc vài năm sau có một cục mọc ở chỗ khác trong vú hoặc vú kia thì đó là bướu sợi tuyến mọc thêm, vẫn lành tính.

Có ngực quá sớm

Con gái 10-12 tuổi, tự nhiên thấy một bên ngực hơi u lên ở vùng giữa vú và đau. Nhiều bà mẹ tỏ ra lo lắng: “Nếu dậy thì sớm thì phải lớn cả hai bên ngực chứ”. Trong trường hợp này nên để bác sĩ theo dõi, thường mọi việc đâu sẽ vào đấy. Các mẹ không nên quá lo lắng đến nỗi nhờ bác sĩ mổ lấy đi “cục u” nhỏ ở núm vú, vì như thế lớn lên một bên ngực sẽ xẹp lép.

Trong vú có nước

Một phụ nữ khoảng 40-50 tuổi lo lắng đi khám vì có một cục ở vú, lớn bằng đầu ngón tay cái, đau ê ẩm. Thực chất đó là một nang vú, chỉ cần chọc nhẹ vào đó, chích nước đục, bóp xẹp hoàn toàn thế là khỏi. Số lượng nang nhiều ít tùy người và tùy lúc, kích thước lớn nhỏ không đều, có thể nang to bằng trái quýt. Nang thường gặp ở phụ nữ khoảng 40 tuổi trở lên. Việc siêu âm chẩn đoán nang vú khá chính xác và thường nang không thành ung thư.

Nhũ hoa bị lao

Bệnh lao vú tuy hiếm nhưng nếu xác định bệnh chính xác thì điều trị rất hiệu quả. Viêm lao dễ nhầm với ung thư hay áp-xe vú. Sự nhầm lẫn không chỉ ở người bệnh mà cả bác sĩ, dẫn đến chữa trị không đúng, làm bệnh nặng hơn. Lao vú do vi trùng lao gây ra, thường ở phụ nữ 30 - 40 tuổi, một bên ngực bị viêm, da ửng đỏ, đau nhẹ ở vú, sau đó đau như kim châm, khiến nhiều người không dám mặc áo ngực. Có thể sờ thấy một cục u ở vú, có khi kèm theo triệu chứng của bệnh lao như: sốt, ớn lạnh về chiều. Chỗ viêm lao nếu không điều trị sẽ xì ra một chất giống mủ, sau đó xẹp và lành để lại vết sẹo xấu. Tình trạng này lặp đi lặp lại nhiều lần và để lại nhiều vết tích làm nhũ hoa thay đổi hình dạng, có khi xẹp hẳn gò bồng đảo.

Bọc sữa

Khi cho con bú, nhiều bà mẹ băn khoăn vì sờ ngực thấy một khối tròn, mềm như trái nho, bóp nhão nhão. Đó là một bọc sữa, sữa ứ lại do một ống sữa bị tắc. Bác sĩ có thể dùng một cây kim chọc rút ra chất sữa sệt như kem. Khi con đã bú trên 12 tháng, chỉ cần không cho con bú nữa, bọc sữa sẽ từ từ nhỏ lại. Nếu bọc teo lại mà không lặn mất thì bác sĩ có thể mổ lấy bọc. Nếu cháu bú được vài tháng, mẹ vẫn tiếp tục cho bú, bọc sữa có thể to lên, đôi khi đau nhức vì bội nhiễm, như thế phải dứt sữa.

Vú phụ

Một số chị em có thêm núm vú hoặc vú nhỏ, đó là vú phụ, có người có cả đôi vú phụ. Thường các núm vú hoặc vú lạc chỗ này nằm gần nách, khi có kinh hoặc đang có thai, vú có thể hơi căng đau, và đôi khi ứa sữa. Đây không phải là bệnh, mà là dấu vết còn sót lại của thời kỳ thai phôi trong bụng mẹ.

Những bất thường của núm vú và quầng vú

Ứa dịch đầu vú, dịch ứa ra từ một hoặc nhiều lỗ ở đầu núm vú là một thứ nước trong vắt hoặc hơi trắng đục như sữa, thường không đáng lo. Triệu chứng lặp lại trong vài tháng hoặc một hai năm. Khi nào ứa dịch từ một lỗ núm vú, kéo dài khá lâu khi siêu âm cho biết là giãn ống sữa thì bác sĩ mới quyết định mổ lấy trọn một ống sữa.

Lún núm vú có thể xuất hiện ở bất cứ tuổi nào, có khi từ lúc bắt đầu có “ngực”, gọi là bẩm sinh. Nếu biểu hiện này mới có thì đó có thể là một ung thư bên trong vú. Chị em nên đi khám khi thấy núm vú bất thường.

Ngoài ra, có thể xuất hiện các hột lấm tấm ở quầng vú, gọi là các hột montgomery. Đó là đầu ra của các ống dẫn sữa phụ. Vài hột có thể nhô cao hơn và hơi đau, thêm một ít dịch ứa ra, nhất là vào lúc có thai hoặc cho con bú.

Núm vú hoặc quầng vú có thể bị ngứa lở và tươm nước. Nguyên nhân thường do áo ngực không phù hợp. Chị em nên thay loại khác, ở nhà nên cởi bỏ áo lót.

Theo BS. THANH QUÝ (suckhoedoisong)
Sinh môt không phải là ca phẫu thuật quá phức tạp, tuy nhiên, sản phụ sinh mổ vẫn cần lưu ý vài điểm sau để phục hồi sức khỏe một cách nhanh chóng.

Không nên nằm ngửa

Sau khi mổ, tác dụng của thuốc mê không còn nữa, vết mổ bắt đầu đau. Nằm ngửa dưới giường là không tốt, sẽ cảm thấy đau đớn hơn, tử cung co thắt. Vì vậy cần nằm nghiêng, kê gối, mền cao sau lưng sao cho thoải mái, giảm việc di động của cơ thể, vết mổ sẽ bớt đau.

Không ngủ nhiều

Sau khi phẫu thuật, bạn nên nghỉ ngơi, nhưng không nên ngủ nhiều, nước ối sẽ bị tích tụ ở tử cung. Bạn cần khởi động chân tay nhẹ nhàng để lấy lại cảm giác. Ngồi dậy nhẹ nhàng để tăng cường sự hoạt động của ruột, dạ dày, điều tiết khí sớm, tránh trường hợp bị dính ruột cùng các mạch máu bị tắc. Nên cho trẻ bú sữa sớm, không nên để sữa chảy, vú căng.

Không ăn no, ăn tanh

Sau khi mổ sinh, ruột bị kích thích, dạ dày bị ức chế, sự hoạt động của ruột giảm. Do đó, sau khi phẫu thuật mà ăn nhiều sẽ tiêu hóa khó khăn, tích tụ lâu dễ dẫn tới táo bón và tăng thêm khí trong ruột khiến bụng bị đầy hơi, không có lợi cho việc hồi phục sức khỏe. Cho nên sau phẫu thuật khoảng sáu giờ thì không được ăn gì, khi ruột đã dần dần khôi phục chức năng mới nên ăn uống. Sản phụ nên tránh những món ăn có tính hàn như: cua, rau đay. Không nên ăn quá sớm những thức ăn tanh như: cá, ốc, nó sẽ ức chế sự ngưng tụ của máu, không có lợi cho việc đông máu sau khi mổ và khiến vết thương lâu lành. Nên ăn mướp, thịt nạc, rau đậu, cà chua, chuối.

Không làm việc sớm

Nên tránh các hoạt động nặng, người mẹ sau mổ sinh cần hết sức giữ gìn, khôi phục sức khỏe để vết thương chóng lành, không nên làm các việc lặt vặt trong gia đình sớm.

Kiêng lạnh

Sau khi sinh, thận khí bị suy nhược nên sản phụ dễ bị nhiễm lạnh. Vì vậy, không được tắm nước lạnh, giặt quần áo hoặc uống đá lạnh. Tuy nhiên, nếu không đụng cả đến nước nóng, suốt  tháng không lau mình như một số người thì lại không tốt. Cơ thể lâu không tắm rửa sẽ là môi trường lý tưởng cho vi khuẩn phát triển, gây bệnh cho mẹ và lây sang con (như viêm miệng, tưa lưỡi, tiêu chảy)...

Kiêng “chuyện ấy”

Ngoài ra, các sản phụ nên kiêng sinh hoạt tình dục một thời gian 4 - 6 tuần cho tử cung phục hồi. Nên tránh xúc động mạnh, ảnh hưởng đến tinh thần vì các stress có thể gây nguy hại cho sức khỏe sản phụ, gây thiếu sữa.

Giữ vệ sinh sạch sẽ

Đặc biệt là khu vực bụng, nơi có vết thương chưa lành cùng với âm đạo, nên pha nước ấm với thuốc rửa âm hộ để vệ sinh hàng ngày, vừa chống nhiễm trùng vừa giúp khử mùi hôi. Dùng chai nước nóng hoặc túi chườm nóng để chườm bụng, lưng và hai bên háng. Việc này có tác dụng chống đau lưng, mỏi gối, giúp cơ thể chóng hồi phục. Sau khi phẫu thuật chừng 3 - 4 tuần thì được tắm rửa, gội đầu.

Theo BS. THU PHƯƠNG ()
Đối với những trẻ em bị hen suyễn, khi tới trường hay ở bất cứ nơi đâu, bố mẹ các em cần phải lưu ý hết sức với tình trạng sức khoẻ cũng như việc dùng thuốc của con mình. Dưới đây là một vài lưu ý cần thiết.

Vấn đề vệ sinh

Với những người bị hen suyễn thì việc bị cảm lạnh và cảm cúm... là vô cùng nguy hiểm, điều này sẽ rất bất lợi cho việc điều trị bệnh hen. Vì vậy, nếu con bạn bị hen, bạn cần giúp chúng tránh những căn bệnh này. Bạn có thể giúp cháu làm giảm nguy cơ bị nhiễm cúm và ngăn ngừa những tác nhân gây bệnh bằng việc giữ vệ sinh thân thể thật tốt, tránh đối diện với những người đang bị cảm cúm...

Đừng để bệnh thêm nặng

Giảm đến mức tối thiểu nguy bệnh hen nặng hơn do bị một số bệnh khác đi kèm như cúm, cảm, các bệnh về đường hô hấp. Bác sĩ khuyên trẻ bị hen suyễn nên ở nhà nếu chúng bị sốt, bị cảm hoặc có nguy cơ ốm, và tốt nhất không nên đến trường ít nhất là 24h sau khi phát hiện bệnh.

Kiểm tra thường xuyên

Theo như các chuyên gia về bệnh hen suyễn cho biết, những người bị hen thường rất dễ mắc các bệnh khác về đường hô hấp, vì vậy bạn cần cho con đến các cơ sở y tế để kiểm tra sức khoẻ định kỳ. Nếu cần tiêm phòng các bệnh về đường hô hấp thì nên cho trẻ tiêm định kỳ theo chỉ dẫn của bác sĩ.

Khám sức khoẻ toàn bộ

Có thể con của bạn không bị hen suyễn quá nặng, nhưng tốt nhất bạn nên cho trẻ đi khám sức khoẻ toàn bộ cơ thể tại một phòng khám nhi. Điều này giúp các bác sĩ có thể điều chỉnh cách chữa trị, cân nhắc chế độ dùng thuốc của con bạn một cách hiệu quả nhất. Đây chính là cách để phát hiện sớm những căn bệnh tiềm ẩn mà chúng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ cũng như tính mạng của cháu.

Cân nhắc việc dùng thuốc

Những trẻ bị hen suyễn thường được kê một toa thuốc và chúng luôn phải mang theo bên người bất kể lúc nào. Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý với việc dùng thuốc của trẻ, vì có thể trẻ sẽ dùng quá liều, hoặc không đủ liều, hoặc quên mang thuốc bên mình. Điều này sẽ rất nguy hiểm khi trẻ lên cơn hen.

Kế hoạch hoạt động cho bệnh nhân hen suyễn

Tất cả những học sinh bị hen suyễn đều phải thông báo về tiền sử bệnh cũng như hiện trạng bệnh của mình và những phương thuốc đã dùng, đang dùng một cách rành mạch, rõ ràng cho nhà trường. Điều này giúp giáo viên sẽ điều tiết sự hoạt động, luyện tập của trẻ cho phù hợp với tình trạng sức khoẻ, tránh hoạt động quá mạnh gây nguy hiểm.

Thường xuyên liên lạc với y tá và giáo viên ở trường

Bạn nên gửi cho giáo viên, y tá, huấn luyện viên... tại trường con bạn học một bản kế hoạch hoạt động của con mình để họ nắm rõ và theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khoẻ con bạn. Và bạn nên thường xuyên liên lạc, trao đổi với giáo viên phụ trách con mình và y tá của trường để họ có những biện pháp nhanh chóng và trợ giúp tích cực khi con bạn lên cơn hen suyễn tại trường học.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Động viên trẻ

Động viên là một điều rất quan trọng đối với việc học tập và đến trường của trẻ. Nếu con bạn luôn có những bạn cùng lớp ủng hộ và lo lắng, quan tâm, giúp đỡ thì bạn sẽ bớt được phần nào lo lắng về bệnh tình của con mình.

Sự ủng hộ của nhà trường

Để đảm bảo rằng nhà trường biết con bạn bị bệnh và sẽ luôn ứng phó kịp thời, bạn cần trao đổi trước khi cho con vào học. Việc thông báo tiền sử bệnh của trẻ tới nhà trường là một việc rất quan trọng. Các bậc phụ huynh nên thông báo, xác nhận rõ ràng về tính trạng bệnh của con mình với nhà trường, với các giáo viên thể dục, các huấn luyện viên, lái xe buýt... để được hỗ trợ những lúc cần thiết.

Theo Hoàng Mai - VTV
Chiếc băng ca đẩy chị Nguyễn Ngọc Lan, 34 tuổi, mang thai 15 tuần, nhà ở Q.9, TPHCM, vào phòng cấp cứu. Bên ngoài hành lang, bà Mai, mẹ chị Lan, nức nở: "Biết thế này tôi đã ngăn không cho con uống ngải cứu".

Theo chuẩn đoán của bác sĩ, con gái bà bị sảy thai vì ngộ độc thuốc an thai. Trước đó, chị Lan nghe người thân mách uống sẽ tốt cho thai nên làm theo. Sau năm ngày uống, chị bị đau bụng dữ dội, ra huyết và được người nhà đưa đi cấp cứu.

Phải dùng thuốc, thai mới an?

Tâm lý chung của nhiều thai phụ là luôn muốn thai nhi khỏe mạnh. Tuy nhiên, một số người đã tìm cách dưỡng thai theo hướng tiêu cực như uống thêm các thuốc an thai mà không có sự tư vấn, kê đơn của bác sĩ hoặc lương y.

Theo lương y Đào Trọng Văn, Hội Đông Y TPHCM, một số phụ nữ có lần mang thai trước không suôn sẻ, nên lần mang thai tiếp theo, họ thường tìm đến một số bài thuốc an thai. Lý giải về trường hợp sảy thai của chị Lan, lương y Văn cho biết: "Ngải cứu có thể là nguyên nhân gây ra sảy thai. Về cơ bản, ngải cứu có tác dụng xoa dịu những cơn đau cơ, làm dịu thần kinh, giúp tuần hoàn máu, giảm cơn đau vùng bụng. Do đó, ngải cứu được sử dụng trong một số bài thuốc dành cho người bị động thai hay sảy thai liên tiếp. Thế nhưng, nếu người mẹ uống ngải cứu khi thai đang khỏe mạnh sẽ gây tác dụng ngược".

http://www32.24h.com.vn/upload/news/2009-08-04/1249358792-chuyen-ve-an-thai1.jpg

Một số vị thuốc có khi là an thai, nhưng cũng có thể trở thành thuốc gây trụy thai (Ảnh minh họa)

Nếu uống nhiều ngải cứu trong ba tháng đầu thai kỳ, người mẹ dễ tăng dấu hiệu ra máu. Đó là do ngải cứu có chứa chất liên hệ dẫn đến sự co bóp tử cung, một yếu tố dễ dẫn tới sảy thai hoặc chuyển dạ sớm. Do đó, trong trường hợp bị động thai hoặc sảy thai liên tiếp, nếu muốn dùng ngải cứu, các bài thuốc Nam hoặc Bắc khác, thai phụ nên trao đổi với lương y.

Nhiều vị thuốc Bắc hoặc Nam khi sử dụng liều lượng khác nhau sẽ đem đến tác dụng khác nhau. Cho nên, một vị thuốc có khi là an thai, nhưng cũng có thể trở thành thuốc gây trụy thai nếu dùng liều lượng không hợp lý.

Một số loài thảo dược có thể gây hại như rễ cam thảo nếu dùng quá liều có thể khiến thai phụ dễ bị cao huyết áp. Dùng quá liều bạc hà hoặc nhân sâm cũng gây rối loạn hấp thụ dinh dưỡng ở thai phụ. Hậu quả có thể gây sảy thai hoặc chuyển dạ sớm.

Những quan niệm sai lầm về an thai

Ngoài việc dùng thuốc, một số thai phụ còn an thai bằng cách tẩm bổ quá mức cần thiết hoặc hạn chế vận động tối đa. Hậu quả khiến thai nhi phát triển không bình thường.

Cụ thể, nhiều thai phụ còn nghe theo lời mách ăn trứng ngỗng cho con thông minh, gạo tẻ hoặc cháo cá chép có tác dụng chữa được chứng phù chân và an thai. Ngoài ra, còn có các kinh nghiệm  truyền miệng như thai phụ nên ăn các món bổ dưỡng như lòng đỏ trứng gà luộc với rượu, gan gà chưng với rượu, thịt gà mái đen nấu gạo tẻ...

Một bác sĩ dinh dưỡng cho biết, tất cả các món trên đều giàu dinh dưỡng, tốt cho thai phụ.

Tuy nhiên, một số người lại lạm dụng, ăn quá nhiều, ăn từ ngày này sang ngày khác. Việc tẩm bổ không hợp lý này có thể gây tai biến cho thai nhi. Đã có những trường hợp thai phụ bị tiểu đường, béo phì trong thai kỳ do tẩm bổ nhiều, tăng cân nhanh. Điều này làm gia tăng nguy cơ đứa trẻ sinh ra mắc bệnh tim mạch hoặc thận.

Ngoài ra, một số thai phụ có tiền sử sảy thai hay dưỡng thai dài hạn trong lần mang thai sau. Trên thực tế, sảy thai do nhiều nguyên nhân. Nếu tế bài nhau thai sinh trưởng không tốt, người mẹ có nằm dưỡng thai suốt ngày, phôi thai cũng không thể phát triển bình thường. Sảy thai vẫn xảy ra.

http://www32.24h.com.vn/upload/news/2009-08-04/1249358792-chuyen-ve-an-thai2.jpg
Nằm nhiều làm giảm sức đề kháng của thai phụ (Ảnh minh họa)

An thai - phải làm cho đúng cách

Bác sĩ Hoàng Thị Diễm Tuyết, bệnh viện phụ sản Từ Dũ cho biết: "Việc thai phụ nằm suốt trên giường có thể ảnh hưởng xấu tới chức năng tiêu hóa. Trong thai kỳ, các nội tiết tố do nhau thai tiết ra có thể gây ức chế đối với chức năng tiêu hóa, tăng sự chèn ép đối với tử cung nên thai phụ thường như nôn ói, chán ăn, táo bón.... Nếu nằm một chỗ trong thời gian dài, các triệu chứng này sẽ càng thêm nghiêm trọng".

"Nằm lâu cũng khiến tuần hoàn máu chậm lại. Sức đề kháng của cơ thể suy giảm, máu dễ đóng vón.... Trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn tới tử vong cho thai phụ. Hơn nữa, do không vận động nhiều, chức năng vận động của chân, tay thai phụ yếu đi, đi lại sẽ khó khăn".

Như vậy, không phải thai phụ nào cũng cần đến giải pháp an thai. Việc an thai chỉ có ý nghĩa thật sự đối với những người có tiền sử sảy thai, dọa sảy thai hoặc thai có vấn đề bất thường. Chuyện áp dụng các phương pháp an thai như nằm một chỗ, tẩm bổ quá mức là những quan niệm sai lầm, có thể gây hại cho bà mẹ lần thai nhi.

Cách an thai tốt nhất là người mẹ luôn giữ tinh thần thoải mái, chế độ ăn hợp lý, gồm đầy đủ chất dinh dưỡng như axit folic, canxi, chất sắt, vitamin... Thai phụ cần nghỉ ngơi, vận động hợp lý, tập thể dục nhẹ nhàng, tránh nằm hoặc ngồi một chỗ quá lâu.

Ngoài ra, thuốc an thai chỉ cần thiết với thai phụ trong trường hợp cấp bách. Khi bắt buộc phải sử dụng thuốc, bạn phải có sự chỉ dẫn về liều lượng cũng như những chỉ định khác của bác sĩ điều trị. Việc lạm dụng thái quá các bài thuốc an thai, dù là thuốc bổ cũng có thể phản tác dụng.

Theo24H.COM.VN (TTGĐ)

Bác sỹ Nguyễn Minh Hồng - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ y học Việt Nam và Thạc sĩ, bác sĩ Bùi Thị Phương, Trưởng bộ môn Điều dưỡng Sản phụ khoa, Cao đẳng Y Hà Nội, BV Phụ sản Hà Nội trao đổi về vấn đề dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe phụ nữ mang thai.

Thưa bác sỹ, bà bầu bị nghén sẽ ảnh hưởng như thế nào đến chế độ dinh dưỡng cho thai nhi? Chế độ ăn uống và chăm sóc mẹ và bé thế nào là hợp lý?

http://www.tienphong.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=218511

BS Bùi Thị Phương: Không có lời giải thích nào cho lý do nghén ngoài nguyên nhân do sự thay đổi các nội tiết do thai nghén sinh ra. Những thay đổi này làm tăng sự nhạy cảm đối với mùi vị gây buồn nôn hoặc nôn, người thường mỏi mệt.

Mức độ nghén rất khác nhau ở từng phụ nữ, có người chỉ thoáng qua, không gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và và sức khỏe. Cũng có trường hợp nghén nặng gây nôn rất nhiều, ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe của bà mẹ và bé. Những trường hợp này cần có chế độ chăm sóc và điều trị tại bệnh viện.

Những trường hợp còn lại, chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn uống, tránh những chất kích thích như nóng, cay, những thức ăn có nhiều dầu mỡ, hoặc những thức ăn mà người phụ nữ sợ.

Tăng cường rau, củ, quả và uống đủ nước. Không nên ăn nhiều trong bữa mà nên chia nhỏ bữa. Chú ý nghỉ ngơi hợp lý, ngủ đủ giấc, buổi sáng thức dậy cử động nhẹ nhàng.  Khoảng ngoài 2 tháng, các dấu hiệu nghén sẽ giảm dần và bà mẹ sẽ ăn uống lại bình thường.

Trong quý I của thai kỳ, thường cân nặng tăng không nhiều, khoảng từ 1-2 kg. Đây cũng là giai đoạn hình thành các cơ quan của em bé, tất cả các tác nhân lý, hóa học như các thuốc, hóa chất, nhiệt độ, tia X đều có thể ảnh hưởng đến bé. Vì vậy các bà mẹ cần thận trọng.

Tất cả các thuốc sử dụng trong giai đoạn này đều phải có chỉ định của bác sĩ sản khoa trừ các chế phẩm có chứa sắt và acid Follic uống theo chương trình.

Từ lâu dân gian coi cá chép là một trong những thực phẩm quý và rất tốt cho sức khỏe, nhất là thai phụ, có đúng không, thưa bác sỹ?

BS Nguyễn Minh Hồng: Cá chép không những là món ăn ngon do thịt dày và béo, ít xương dăm, thớ thịt trắng mịn, mùi vị thơm ngon... mà còn chứa nhiều chất dinh dưỡng có tác dụng chữa trị bệnh tốt.

Theo Đông y, cá chép là dương tính trong âm tính, có thể chữa được bệnh khi kết lạnh, nướng lên thì hỏa hóa, làm sạch đường tiêu hoá, bài tiết và trừ khử được tả độc sưng tấy.

Cá chép còn là vị thuốc quý chữa bệnh phụ khoa, nó có tác dụng an thai (cá chép nửa cân, để cả vảy, gạo nếp nửa lạng, thêm một ít gừng, vỏ quýt, muối nấu cháo ăn trong 5 - 7 ngày sẽ hiệu quả), chữa nôn ói cho phụ nữ khi có thai, chữa bệnh phù thủng khi mang thai, giúp làm tăng lượng sữa cho phụ nữ sau khi sinh (cá chép 3 lạng, một chân giò, 3g thông thảo đem hầm thật nhừ), chữa bệnh ứ huyết sau khi sinh, làm tăng công năng dạ dày sau khi sinh.

Người ta thường nói tầm quan trọng của DHA đối với phụ nữ có thai và cho con bú, xin bác sỹ giải thích?

BS Nguyễn Minh Hồng: DHA có tên gọi đầy đủ Docosa Hexaenoic Acid, một acid béo thuộc nhóm omega-3, cần thiết cho sự hoàn thiện của hệ thần kinh, đặc biệt là thị giác và tổ chức não. Nếu thiếu DHA trong quá trình phát triển, trẻ sẽ có chỉ số thông minh (IQ) thấp.

Một nghiên cứu theo dõi trẻ từ lúc mới sinh tới 8 - 9 tuổi, cho thấy trẻ được bú sữa mẹ và ăn đủ chất chứa DHA có chỉ số IQ cao hơn 8,3 điểm so với những trẻ ít, hoặc không được bú sữa mẹ và không được cung cấp đầy đủ DHA. DHA là một chất rất quan trọng, nhưng cơ thể không tự tổng hợp được, mà phải thu nạp từ nguồn thực phẩm.

Bởi vậy, các nhà dinh dưỡng học khuyến cáo, chế độ ăn trước và trong khi có thai của người phụ nữ rất quan trọng đối với tình trạng dự trữ các acid béo không no cần thiết (EFAs) cho thai nhi, đặc biệt trong ba tháng cuối. DHA có nhiều trong dầu cá, cá và thuỷ hải sản. Sữa mẹ cung cấp đủ EFAs cho trẻ. Cho nên, việc cho con bú sữa mẹ trong sáu tháng đầu là rất quan trọng.

Theo bác sỹ, phụ nữ trong thời kỳ mang thai tăng cân bao nhiêu thì vừa?

BS Bùi Thị Phương: Để bảo đảm sức khỏe và sự phát triển cho mẹ và bé, các bà mẹ phải tăng từ 9-12 kg trong suốt thai kỳ. Nếu tăng ít dưới 9 kg cần điều chỉnh ngay chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và lao động hợp lý.

Nhưng nếu tăng quá nhiều cần xem xét liệu người phụ nữ có bị phù hay không. Trung bình khi mang thai, người phụ nữ tăng không quá 0,5 kg/tuần. (Các bà mẹ cần biết về cân nặng của con theo tháng tuổi có thể tham khảo ở website: www.dinhduong.com.vn).

Có phải phụ nữ mang thai thường bị thiếu máu không, thưa bác sĩ?

BS Nguyễn Minh Hồng: Với những phụ nữ mang thai thường bị thiếu máu, có thể thiếu thực sự do giảm số lượng hồng cầu, có thể thiếu máu do nhu cầu nuôi dưỡng thai nhi, nhất là vào những tháng cuối.

Do vậy, phụ nữ mang thai cần bổ sung ăn uống bằng những thức ăn giàu đạm, và chất sắt để tạo hồng cầu nuôi dưỡng thai nhi. Các thức ăn đó là: bột mì, khoai... (nhóm giàu cacbon hydrat), thịt, cá, trứng, gan, tôm, đỗ, nấm... (nhóm giàu protein), dầu thực vật (nhóm giàu lipid), rau, quả, củ các loại, trong đó nhiều sắt là rau muống, rau dền, rau ngót...(nhóm nhiều muối khoáng và vitamin).

Trong thời kỳ mang thai bà mẹ nên và không nên ăn gì, thưa bác sỹ?

BS Bùi Thị Phương: Trong thời kỳ mang thai, bà mẹ cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề dinh dưỡng. Phải đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng. Khi mang thai nhu cầu năng lượng cần tăng thêm khoảng 300 Kcalo so mới mức bình thường khi chưa có thai.

Bởi vậy mỗi bữa ăn, bà mẹ cần ăn đủ no cơm hoặc các loại ngũ cốc khác và ăn cân đối các thành phần dinh dưỡng. Để bảo đảm về số lượng, có thể ăn tăng số lượng ở mỗi bữa hoặc tăng thêm số bữa trong ngày. Các loại thực phẩm nên đa dạng hóa theo mùa, không nên kiêng khem.

Ví dụ, để tăng cường chất đạm và chất béo, bà mẹ cần khoảng 70g/ngày. Đạm có nhiều trong các loại thức ăn: Thịt, cá, trứng, sữa, đậu tương, đậu xanh, vừng, lạc… Sắt có nhiều trong các loại thịt màu đỏ và các loại rau có màu xanh sẫm.

Tôm, cua,  ốc… là những thức ăn chứa nhiều can xi. Các khoáng chất này làm giảm nguy cơ đẻ non, phòng thiếu máu do thiếu sắt, giúp tạo xương cho thai… Những thức ăn chứa nhiều vitamin: Sữa, gan, trứng, ngũ cốc, rau ngót, rau xanh các loại, cà rốt, đu đủ… Chú ý uống nhiều nước.

Những thứ bà mẹ nên tránh là: Bia, rượu, thuốc lá, ma túy và các chất gây nghiện khác. Các món gỏi, các món ăn nấu chưa chín kỹ, các loại đồ hộp, các sản phẩm từ bơ, sữa chưa diệt khuẩn, các loại thức ăn gây dị ứng cho cơ thể, một số các loại rau quả trái vụ…

Theo bác sỹ, về việc chọn sữa, thai phụ có bắt buộc phải uống loại sữa dành cho bà mẹ mang thai không? Có thể thay thế bằng sữa đậu nành, sữa chua không? Cách xử lý khi cơ thể không có men tiêu hóa sữa, gây nên hiện tượng tiêu chảy, dị ứng với sữa?

BS Bùi Thị Phương: Sữa bà bầu, loại sữa được chế biến theo công thức dành riêng cho thai phụ là tốt nhất dành cho phụ nữ mang thai. Nhưng nếu như không thích, bạn vẫn có thể uống sữa tươi, sữa đậu nành thay thế, nhưng nhớ là phải sữa tươi tiệt trùng.

Vì những loại sữa chưa tiệt trùng có chứa vi khuẩn listeria cao, dễ gây bệnh nguy hiểm. Nhưng sữa đậu nành không có nhiều chất dinh dưỡng như sữa nên phải kết hợp ăn thật nhiều thực phẩm để cân bằng dinh dưỡng trong cơ thể.

Sữa là thực phẩm rất tốt cho cả mẹ và bé, vì vậy các chị em nên tập dần thói quen uống sữa. Có thể tập bằng cách chia ra uống nhiều lần trong ngày, hoặc thay đổi mùi vị sữa cho phù hợp với cơ thể. Khi uống sữa, kết hợp với chế độ ăn uống hợp lý, đủ chất tạo điều kiện cho con bạn có sự phát triển hoàn hảo.

Siêu âm có hại cho em bé hay không?

Theo BS Bùi Thị Phương, cho đến hiện nay, theo các khuyến cáo chung, siêu âm không có hại cho bé và sức khỏe bà mẹ. Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng.

Thông thường khi có thai, các bạn nên đến khám ở các cơ sở chuyên khoa, ít nhất 3 lần ở 3 quý của thai kỳ. Siêu âm hay không sẽ do các bác sĩ sản khoa chỉ định.

Trong chương trình chăm sóc trước sinh, siêu âm sàng lọc thường ở tuần 12-13, tuần 22 và tuần 32 của thai kỳ.
Tại sao một số phụ nữ mang thai bị đái tháo đường, thưa bác sĩ?

BS Nguyễn Minh Hồng: Có khoảng 3% phụ nữ lúc mang thai ở tháng thứ 8, hoặc sớm hơn bị đái tháo đường. Đái tháo đường lúc mang thai là do nhu cầu insulin tăng lên khi thai phát triển, nhu cầu cung cấp năng lượng của người mẹ cũng tăng lên đòi hỏi một lượng insulin nhiều hơn để đưa đường từ máu vào tế bào.

Vào thời gian này (3 tháng cuối) nhu cầu insulin của người mẹ tăng gấp hai, ba lần so với lúc bình thường.

Mặt khác, ba tháng cuối của thời gian mang thai cơ thể người mẹ lại sinh ra các nội tiết tố có tác dụng kháng insulin. Đái tháo đường lúc mang thai thường xảy ra ở những phụ nữ béo, tiền sử gia đình có người mắc bệnh đái tháo đường, đã từng sinh con có cân nặng trên 4kg, hoặc người mang thai ở lứa tuổi trên 35 tuổi.

Những phụ nữ mắc một số căn bệnh như hen, tim bẩm sinh... khi mang thai liệu có ảnh hưởng gì đến thai nhi không?

BS Nguyễn Minh Hồng: Hen là bệnh có tiềm năng thường xảy ra, nhất là khi có thai. Trong thực tế có khoảng 7% phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ bị lên cơn hen. Tuy nhiên, nếu được kiểm soát tốt thì không phải là nguy cơ nặng cho bà mẹ hoặc thai nhi. Hầu hết các biện pháp được sử dụng để kiểm soát hen không có hại cho sự phát triển của thai nhi.

Phụ nữ bị bệnh tim bẩm sinh khi mang thai, thai nhi sẽ phát triển kém do người mẹ luôn thiếu oxy và chất dinh dưỡng. Do thiếu oxy và dưỡng chất kéo dài, trẻ khi sinh ra thường thiếu cân (dưới 2,5 cân), hoặc bị sinh non.

Tuy nhiên, bệnh tim có nhiều loại, nếu bị nhẹ vẫn có thể sinh con bình thường. Nhưng nếu bị hẹp van hai lá, hoặc tim đã suy mà mang thai và sinh nở sẽ rất nguy hiểm cho người mẹ, gặp trường hợp này cần được bác sỹ tư vấn cẩn thận.

Thưa bác sỹ, nhiều khi bà mẹ gặp phải vấn đề về sức khỏe, nên tránh sử dụng những loại thuốc gì có khả năng gây dị tật bẩm sinh ở thai nhi?

BS Bùi Thị Phương: Có rất nhiều loại thuốc khi người phụ nữ mang thai không nên dùng. Đặc biệt trong tháng đầu, có những phụ nữ không biết mình có thai nên khi có vấn đề sức khỏe, đã tự ý dùng thuốc.

Khi phát hiện mình có thai, thường các bạn rất lo không biết con mình có làm sao không? Nhiều trường hợp muốn phá thai vì sợ trẻ bị dị tật. Bởi vậy lời khuyên tốt nhất cho các bạn trẻ là nếu sinh hoạt tình dục không được bảo vệ, luôn phải nghĩ liệu mình có mang thai hay không.

Nếu nghĩ mình có thai, nếu có bất kỳ vấn đề gì về sức khỏe, cần được khám và chỉ có thể sử dụng thuốc theo đơn của các bác sĩ. Tuyệt đối không nên sử dụng thuốc tùy tiện và tự ý mua thuốc uống, hậu quả sẽ khó lường.

Theo bác sĩ, phụ nữ đang mang thai có nên tập thể dục hàng ngày để nâng cao sức khoẻ không?

BS Nguyễn Minh Hồng: Tập luyện thể dục trong thời gian mang thai là việc rất đáng khích lệ, bởi nó giúp cho người phụ nữ khỏe mạnh và sau khi sinh mau hồi phục.

Tuy nhiên, việc tập luyện thời gian này phải hết sức cẩn thận. Cường độ tập luyện không quá cao, bởi khi người mẹ thở dốc là em bé đang bị thiếu oxy. Tuyệt đối không được tham gia tập các môn thể thao đòi hỏi phải vận động mạnh, quá sức. Ngoài các bài tập dành riêng cho thai phụ, có thể đi bộ chậm, bơi lội nhưng tránh đừng lặn sâu.

Nhiều người cho rằng, khi mang thai vợ chồng không được sinh hoạt tình dục, vì không có lợi cho sức khỏe của người mẹ và thai nhi. Ý kiến của bác sỹ về vấn đề này?

BS Nguyễn Minh Hồng: Khoa học hiện đại lại chứng minh rằng, việc duy trì sinh hoạt tình dục vợ chồng trong thời gian người phụ nữ mang thai lại tốt cho sức khỏe và tâm lý của người mẹ.

Tuy nhiên, trong thời gian này cần lưu ý vài điều sau: Việc sinh hoạt tình dục phải do người phụ nữ quyết định, vì nhu cầu và cảm nhận tình dục của phụ nữ trong thời kỳ mang thai có thể tăng hoặc giảm do thay đổi về hormone sức khỏe, tâm lý, nên nếu người vợ muốn thì hãy quan hệ tình dục, còn không muốn thì đừng cố chiều chồng.

Khi quan hệ, các động tác cần nhẹ nhàng, nhất là ở tháng cuối thai kỳ, nên thiên về vuốt ve, âu yếm hơn là giao hợp.

Bác sỹ có lời khuyên gì về cách chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho thai phụ trước và sau khi sinh?

BS Bùi Thị Phương: Các bạn có thể tiêm phòng một số bệnh từ khi chưa mang thai, ví dụ uốn ván viêm gan B,  Rubella… khi mắc những bệnh này, có thể lây truyền cho em bé hoặc có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh cho thai.

Trong khi mang thai, cần đăng ký, quản lý thai nghén và khám thai theo định kỳ. Chú ý tránh xa những hóa chất độc hại, kể cả những chất tẩy rửa hay hóa chất sử dụng để nhuộm tóc, sấy tóc…Các bạn có thể tham gia các bài tập thể dục dành cho phụ nữ mang thai, tập thở, đi bộ nhẹ nhàng, tránh mang vác các vật nặng.

Sau sinh, có rất nhiều vấn đề cần trao đổi. Tôi chỉ lưu tâm các bạn rằng các bạn cần có kiến thức cơ bản để chăm sóc bản thân mình từ vệ sinh, dinh dưỡng cho đến cách phát hiện các bất thường cũng như vấn đề tập thể dục, làm đẹp sau sinh….

Còn mảng rất lớn nữa là chăm sóc em bé ngay sau sinh cũng như những năm đầu đời. Có lẽ khi có bầu hoặc khi nuôi con, các bạn phải tham gia lớp tập huấn dành cho bà bầu và chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ mới có thể thỏa mãn các câu hỏi được.

Chị em phụ nữ có thể đăng ký theo học lớp dành cho phụ nữ mang thai do Thạc sỹ, bác sỹ Bùi Thị Phương giảng dạy và các lớp dành cho bà mẹ có con dưới 1 tuổi, từ 1 đến 3 tuổi tại Công ty Cổ phần Truyền thông Dinh dưỡng Việt Nam, website: http://www.dinhduong.com.vn/, điện thoại: 0944 883 296).

Diệu thiện - Nguyên Nhung  (Tienphong online)
Hiện nay, việc nuôi con bằng sữa mẹ đang giảm trầm trọng, không chỉ ở thành phố lớn mà còn lan rộng đến các vùng nông thôn. Một hội nghị về công tác bảo vệ bà mẹ và trẻ em gần đây cũng đã lên tiếng báo động về thực trạng đáng lo ngại này.

Với trẻ em từ độ tuổi ăn giặm trở lên, sữa chỉ có vai trò là thực phẩm bổ sung, ít nhiều có thể thay thế bằng các thực phẩm giàu dinh dưỡng khác; nhưng với trẻ sơ sinh sữa là thực phẩm duy nhất nên có vai trò quan trọng vô cùng, việc thay thế sữa mẹ bằng sữa bột sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của bé cả hiện tại và tương lai.

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=349369

Nguyên nhân của thực trạng này do đâu?

1. Do việc quảng cáo các sản phẩm sữa một cách quá mức. Điều này không thể chối cãi khi các kênh truyền thông, báo đài đều đập vào mắt người xem suốt ngày các quảng cáo đủ loại sữa với đủ loại từ ngữ có cánh như: IQ thần đồng, chiều cao vượt trội, đảm bảo thành công, ươm mầm tài năng... Rồi từ đường phố lớn đến góc xóm nhỏ đều ngập tràn panô quảng cáo sữa đủ màu sắc, ngôn từ bắt mắt, hấp dẫn.

2. Do các bà mẹ. Một số bà mẹ sau sinh do công việc phải cho con bú bình nhưng thật sự con số này không nhiều, và nếu khéo thu xếp họ vẫn có thể cho trẻ bú mẹ được 3-4 lần trong ngày, như vậy trẻ vẫn tiếp nhận được nhiều dưỡng chất và kháng thể từ mẹ. Do sinh mổ phải dùng kháng sinh nhiều ngày hoặc một vài vấn đề sức khỏe sau sinh, một số bà mẹ không dám cho con bú mẹ vì sợ sữa mang thuốc sẽ ảnh hưởng đến em bé, nhưng thật sự các loại thuốc kháng sinh và giảm đau dùng cho sản phụ thường được bác sĩ cân nhắc rất kỹ và hầu như không gây tác hại gì khi tiết qua sữa mẹ (nếu người mẹ mong muốn cho con bú thì họ có thể tìm lời khuyên đúng đắn từ các bác sĩ một cách dễ dàng).

Vấn đề mang tính quyết định ở đây chính là nhận thức và ý thích của người mẹ. Khi mức sống được nâng lên, nhiều phụ nữ muốn được tự do thoải mái đi ra ngoài, không muốn bị gò bó vì công việc chăm sóc con cái, do vậy sữa bình thay sữa mẹ là giải pháp tối ưu. Cũng vì muốn tự do thoải mái nên họ chọn giải pháp sữa bình thay sữa mẹ để khỏi phải tẩm bổ, thoải mái ăn kiêng và tập luyện nhằm lấy lại sắc đẹp và vóc dáng xưa. Rất nhiều bà mẹ trẻ bỏ ngoài tai lời khuyên của mẹ ruột, mẹ chồng và cả của chồng để toàn tâm toàn ý ăn kiêng và tập luyện. Các bà mẹ truyền cho nhau kinh nghiệm giữ dáng, giữ ngực bằng cách không cho con bú và ăn kiêng cùng tập luyện cật lực ngay sau sinh. Các bà mẹ này thừa biết ích lợi của sữa mẹ đối với trẻ nhỏ, nhưng việc cho con bú vẫn bị họ xếp sau mối quan tâm về tự do và sắc đẹp.

BS THÙY TRANG (Huế)

Theo Tuoitre online