Xương khớp - Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa - Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học
Phân trang 2/6 Trang đầu Trang trước [1] [2] [3] [4] [5] [6] Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]
Viêm khớp là bệnh gây tổn thương sưng, đau và hạn chế hoạt động của khớp, do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có nguyên nhân từ thức ăn: có những loại thức ăn làm cho bệnh nặng lên và cũng có nhiều loại thức ăn giúp cho bệnh nhẹ đi. Cho nên người ta có thể dùng thức ăn phòng và chữa bệnh viêm khớp. Trong điều trị các bệnh viêm khớp, phải phối hợp dùng thuốc, luyện tập và dinh dưỡng, trong đó chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với công tác phòng và chữa bệnh. Các chất giúp phòng chữa bệnh viêm khớp gồm: acid béo omega-3, có tác dụng ngăn chặn phản ứng của hệ miễn dịch gây ra chứng viêm khớp, chất này có nhiều trong cá, nhất là mỡ các loại cá thu, cá ngừ, cá trích, cá mòi, cá hồi… Acid béo omega-6: có tác dụng ức chế sự sản sinh ra chất gây viêm prostaglandin, có nhiều trong thịt động vật và hầu hết các loại dầu thực vật. Các vitamin có tác dụng chống ôxy hóa: C, D, E và beta-caroten phòng tránh được một số dạng viêm khớp, có nhiều trong rau củ quả các loại. Chất canxi có tác dụng phòng tránh loãng xương, chống đau khớp, có nhiều trong sữa, các loại rau xanh, thủy hải sản…

BS. Ninh Thanh Tùng

Bấm huyệt chữa đau khớp gối

Đau khớp gối ở đây chỉ bệnh thoái hoá khớp xương từ độ tuổi trung niên về sau. Người bệnh cảm thấy tê nhức, mức cử động không còn linh hoạt, đặc biệt là buổi sáng ngủ dậy hoặc ngồi lâu, đứng lâu thì càng tê nhức trầm trọng. Nếu có hoạt động chốc lát thì sẽ giảm nhẹ đi nhưng sau đó lại đau hơn. Bệnh tiến triển chậm, thường là do tổn thương mạn tính mà ra. Lúc đầu chỉ phát sinh ở một khớp xương sau đó thì các khớp gối, cổ tay, cột sống đều đau nhức, tê mỏi.

Cách chữa

- Điểm huyết hải: Người bệnh ngồi hoặc nằm, hơi co gối, người chữa bệnh dùng một tay đỡ trên gối, tay kia dùng ngón cái điểm vào huyệt huyết hải để điều hoà khí huyết (hình 1).

Vị trí huyết hải: Bờ trong đầu xương bánh chè đo thẳng lên 4 – 5cm (2 thốn).

- Điểm bánh chè: Tư thế như trên, người chữa bệnh dùng hai ngón cái điểm vào hai bên bánh chè (hình 2).

- Đè đẩy: Tư thế như trên, người chữa bệnh chéo hai ngón tay cái đè vào dây chằng dưới khớp xương bánh chè, sau đó đẩy lên trên, lặp lại nhiều lần (hình 3).

- Đẩy vuốt: Người bệnh duỗi thẳng gối, người chữa bệnh đè hai ngón cái vào dưới xương bánh chè sau đó ấn dần lên trên rồi vuốt xuống (hình 4).

- Ôm vuốt: Người chữa bệnh chụm hai tay vào chỗ gối đau người bệnh, dùng cạnh chưởng bàn tay đẩy vuốt vùng gối (hình 5).

- Ấn vuốt: Người chữa bệnh dùng một tay ấn vuốt vào gối người bệnh (hình 6). Bệnh này đa số phát sinh ở hai bên (2 cạnh) cho nên sau khi xong cạnh bên phải thì thực hiện cạnh bên trái.

(Theo suckhoedoisong)
Không chỉ mang lại sự ngon miệng khi ăn, những thực phẩm này còn có tác dụng như thuốc giảm đau đối với nhiều bệnh sau khi ăn. Không những vậy, chúng còn không gây tác dụng phụ như thuốc aspirin.

Cam

Bằng cách phân tích chế độ ăn của hơn 25.000 cá nhân, một nhóm nghiên cứu của Trường ĐH Manchester, Anh đã phát hiện thấy, những người có nhiều beta-cryptoxanthin trong chế độ ăn chắc chắn ít bị mắc bệnh viêm khớp và giảm được các cơn đau. Nghiên cứu được xuất bản trên Tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng Mỹ cho biết, chỉ cần uống một tuần vài cốc nước cam ép cũng đủ tạo nên sự khác biệt. Họ khuyên rằng, những người bị đau trong người hoặc viêm khớp (thường xuyên đau nhức) thì nên chăm uống nước cam.


Ăn thực phẩm giàu omega-3

Một nghiên cứu của Trường ĐH Pittsburgh ở những bệnh nhân thường xuyên bị tra tấn bởi những cơn đau cổ và lưng, kết quả cho thấy, 60% số bệnh nhân đã giảm được đáng kể cơn đau và mức độ đau sau ba tháng được cho ăn những thực phẩm giàu axit béo omega-3 (chất được phát hiện có chứa nhiều trong cá ngừ, cá hồi, cá kiếm, cá trích). Kết quả này tiếp tục củng cố những nghiên cứu khác cho thấy, dầu cá có tác dụng chống viêm. Ngoài cá thì những thực phẩm giàu chất béo omega-3 như hạt hướng dương, hạt vừng, hạt điều, và hạt lanh. Tuy nhiên, omega-3 trong cá vẫn là tốt nhất, do vậy các bệnh nhân này cần ăn cá ít nhất mỗi tuần 3 lần.

Nho

Thành phần hóa học resveratrol có trong vỏ quả nho, đặc biệt là nho màu đỏ có thể ngăn chặn được enzyme cyclooxygenase(COX). Các loại trái cây trên có tác dụng giống như thuốc giảm đau và các loại dược phẩm kháng viêm khác. Nhưng còn một lợi ích khác khi ăn nho: Giống như thuốc giảm đau, resveratrol làm cản trở COX-2 gây viêm và đau nhưng không giống thuốc giảm đau nó không cản trở COX-1, loại enzyme hỗ trợ làm lành vết thương ở dạ dày.

Ăn thực phẩm giàu chất chống oxi hóa

Những thực phẩm giàu chất chống oxi hóa như măng tây, súp lơ, cải bắp, cà chua, lê, bưởi, cam, đào, dưa hấu đều giàu chất chống oxi hóa glutathione. Nhiều bằng chứng cho thấy, glutathione hạ thấp nguy cơ mắc bệnh viêm khớp. Các loại thực phẩm giàu chất chống oxi hóa khác nhưng ít hơn là chanh, kiwi và quả mọng.

Lạc, vừng

Lạc, vừng và cả hạt hướng dương là những thực phẩm giàu chất tryptophan. Trong các nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện thấy tryptophan có khả năng giảm được sự nhạy cảm của cơn đau khoảng 1 giờ sau khi đi vào cơ thể. Do vậy, bạn cần tăng cường ăn lạc vừng để thay thế thuốc giảm đau mà không gây tác dụng phụ. Các thực phẩm khác giàu tryptophan là sữa, sữa đậu nành, đậu phụ, đậu lăng, và gạo.

Thực phẩm giàu Flavanoids

Những hợp chất mà tạo nên màu sắc của trái cây và rau củ là thành phần chủ chốt trong việc ngăn chặn bệnh là chất flavanoids. Flavanoids làm chậm quá trình suy hóa-yếu tố dẫn đến cơn đau nhiều hơn. Điều này có nghĩa rằng, các thực phẩm này đã góp phần ngăn chặn vết đau trên cơ thể. Những thực phẩm đó là táo, trà xanh, hành, tỏi, đậu tương.

Dâu tây

Một nghiên cứu được xuất bản năm 2007 trên tạp chí của Trường cao đẳng dinh dưỡng Hoa Kỳ cho biết, quả dâu tây có thể làm giảm chứng viêm và đau. Kết quả cho thấy, những người ăn nhiều dâu tây giảm được đáng kể cơn đau. Thành phần mang lại lợi ích này chính là resveratrol giàu có trong dâu tây.

Táo

Ăn táo không chỉ chống lại nhiều bệnh ung thư mà nó còn giúp bạn cải thiện được những cơn đau khớp mãn tính. Lý do là trong quả táo có chứa baron, một loại khoáng chất giúp làm giảm sự phát triển bệnh viêm khớp xương mãn tính. Hơn nữa, khi baron được đưa cho những người bị thương sử dụng thì cơn đau của họ cũng giảm. Như vậy, bạn cần tăng cường ăn táo để nhận được chất này.

Ớt

Ớt là gia vị có chứa nhiều capsaicin-thành phần giúp ớt có vị cay nóng. Nhờ nó mà ớt có thể giúp giảm được các cơn đau bằng cách kích thích sức đề kháng của một số tế bào thần kinh. Các nhà khoa học ở trường King’s College, London cho biết, những người viêm khớp mà thường xuyên ăn ớt sẽ giảm được đáng kể các cơn đau hành hạ. Đó là lý do tại sao mà ngày nay nhiều hãng dược phẩm đã sử dụng capsaicin trong ớt để làm kem bôi da chống mụn và đau.

Tỏi

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho biết, ăn tỏi có thể giảm được các cơn đau ở bệnh lao, phổi, và viêm khớp. Thành phần trong tỏi mang lại lợi ích tốt này chính là sulphur (chất giúp tỏi có mùi hăng). Một nghiên cứu khác thì cho thấy, hợp chất dialyl disulphide trong tỏi có tác dụng ngăn chặn enzyme bị phá hủy, điều này cũng giúp giảm bớt các cơn đau cho người ăn tỏi.

Gừng

Gừng giúp làm giảm nồng độ prostaglandin gây đau trong cơ thể và từ lâu loại gia vị này đã được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ để điều trị đau nhức viêm tấy. Một nghiên cứu của các nhà khoa học Ấn Độ phát hiện thấy rằng, những người mà bị đau cơ được cho sử dụng gừng đã được cải thiện đáng kể. Liều lượng dùng gừng mỗi ngày là từ 500-1.000 miligram.

Cần tây

Tiễn sỹ James Duke, tác giả của công trình nghiên cứu nổi tiếng “Dược phẩm xanh” (những loại rau xanh có tác dụng chống bệnh như thuốc) đã phát hiện hơn 20 hợp chất chống viêm ở trong rau và hạt cần tây, trong đó có hợp chất apigenin-chất có tác dụng chống đau và viêm cực mạnh. Ngoài việc sử dụng rau cần tây để xào nấu thì bạn có thể dùng hạt cần tây để cho vào súp, hầm với thịt…

(Theo nongnghiep.vn)
Thoái hóa khớp (còn gọi là hư khớp, viêm xương khớp) là bệnh lý cơ xương khớp thường gặp nhất trên lâm sàng. Vị trí bị thoái hóa khớp có tỷ lệ cao nhất là: cột sống thắt lưng 31%, cột sống cổ 14% và ở khớp gối 13%. Riêng thoái hóa khớp gối có tỷ lệ mắc bệnh đứng hàng thứ 3, nhưng đứng đầu thoái hóa khớp ở các chi và đang là nguyên nhân hàng đầu gây hạn chế vận động và tàn tật ở người có tuổi.

Biểu hiện lâm sàng chính của bệnh là đau, cứng khớp và hạn chế vận động.

Người bệnh thường khởi đau sau vận động đi lại nhiều, mang xách nặng và thay đổi thời tiết… Đau sâu ở khớp gối kiểu cơ học (đau tăng khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi), khó khăn khi đi lại, lên xuống cầu thang. Cứng khớp buổi sáng kéo dài từ 5 – 30 phút và dấu lạo xạo ở khớp khi vận động.


Đôi khi khớp gối có sưng, phù nề các tổ chức tổ chức quang khớp, hoặc có thể teo cơ cạnh khớp gối do hạn chế vận động.

Dấu hiệu chụp X-quang(khớp gối)có: gai xương, hẹp khe khớp gối và xơ xương dưới sụn.

Các biểu hiện lâm sàng của thoái hóa khớp gối theo Y học cổ truyền: được mô tả trong phạm vi chứng Tý hay bệnh Tý: biểu hiện bằng đau sưng khớp, gối kêu lạo xạo, co cứng gân cơ, đi lại khó khăn,..

Nguyên nhân

Ngoại nhân(thay đổi thời tiết): thừa khi cơ thể suy yếu (vệ khí là yếu tố bảo vệ không đầy đủ) thì tà khí: phong, hàn, thấp tà (gió, lạnh, ẩm thấp) xâm nhập vào làm cho sự vận hành của khí huyết tắc lại, gây sưng, đau, tê nặng ở khớp. Gặp ở những bệnh nhân đau khớp sau nhiễm mưa, nhiễm lạnh, thời tiết chuyển mùa…

Nội thương (yếu tố thể tạng, cơ địa): do người già lớn tuổi hoặc mắc bệnh lâu ngày làm cho tạng can, tạng thậnn bị hư suy, khí huyết giảm sút dẫn đến thận hư không chủ được cốt tủy gây đau nhức trong xương – khớp, gối kêu lạo xạo, đi đứng yếu đau.

Tạng can hư không nuôi dưỡng được gân (theo YHCT gối là chỗ biểu hiện của gân) gân yếu bại thì co duỗi cứng hoặc yếu, teo. Kết quả làm khớp xương bị đau, co duỗi cứng và đi lại khó khăn. Nặng thì khớp bị biến dạng, còn gân cơ bị teo. Gặp ở những trường hợp đau khớp ở người có tuổi, bệnh mạn tính như: đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa mỡ, béo phì…

Nguyên nhân khác (môi trường sống): điều kiện sống và làm việc trong môi trường ẩm thấp, ngâm tẩm thường xuyên dưới nước, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, làm việc mệt nhọc lại bị mưa rét thường xuyên. Vận động quá mức, mang xách nặng (gây sang chấn).

Thực tế khó phân biệt được nguyên nhân cụ thể, mà các nguyên nhân gây bệnh thường kết hợp với nhau, tạo ra nhiều thể lâm sàng đa dạng, ví dụ trên một người lớn tuổi kết hợp với nhiễm mưa lạnh hoặc đi bộ quá nhiều gây đau sưng khớp gối.

Điều trị

Không có thuốc chữa quá trình thoái hóa của khớp; điều trị triệu chứng và phục hồi chức năng là quan trọng. Mục đích điều trị: giảm đau cho người bệnh và duy trì chức năng vận động của khớp. Qua thực tiễn lâm sàng, để đạt kết quả điều trị tốt cần phối hợp toàn diện giữa phương pháp dùng thuốc và phương pháp không dùng thuốc như: châm cứu. tập vật lý trị liệu, chế độ chăm sóc, dinh dưỡng hợp lý.

Với mỗi bệnh nhân với mỗi mức độ bệnh cần được bác sĩ khám và hướng dẫn điều trị phù hợp.

Phương pháp chữa nhằm: lưu thông khí huyết, đưa tà khí ra ngoài, bổ khí huyết và bổ can than, mạnh gân xương để giảm đau và chống tái phát.

Trong kho tàng YHCT còn lưu truyền và sử dụng rộng rãi nhiều bài thuốc trong điều trị bệnh thoái hóa khớp gối như bài Bạch hổ thang, Thược dược tri mẫu thang, PT5… Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang thường được chỉ định nhất, cũng đã có nhiều nghiên cứu chứng minh tác dụng tốt và không có tác dụng phụ.

Bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang:

Độc hoạt 12g, tế tân 4, sinh địa 12g, đảng sâm 12g, quế chi 4g, phòng phong 10g, đương quy 12g, phục linh 10g, tang ký sinh 16g, ngưu tất (Bắc) 12g, bạch thược 10g, cam thảo(Bắc) 4g, tần giao 8g, đỗ trọng(Bắc) 12g, xuyên khung 8.

Bài thuốc PT5 :

Lá lốt 10g, thiên niên kiện 10g, hà thủ ô 12g, mắc cỡ (trinh nữ) 12g, cỏ xước 16g, sinh địa 12g, quế chi 8g, thổ phục linh 16g.

Các phương pháp không dùng thuốc:

Châm cứu: thường chọn các huyệt tại chỗ như: độc tỵ, hạc đỉnh, âm lăng tuyền… Châm tả (kích thích xung điện với tần số 60 -100Hz), hoặc cứu tả.

- Kết hợp bổ khí huyết, bổ can thận, mạnh gân xương: dùng châm bổ các huyệt can du, thận du, dương lăng tuyền, huyết hải…

- Thủy châm (vitamine nhóm B…): thận du, can du, huyết hải…

- Điện phân (dùng dòng điện một chiều đều), tác dụng tốt cho giảm đau và tăng nuôi dưỡng khớp, tránh teo cơ.

- Châm ngày 1 lần, một liệu trình từ 10 -20 lần châm.

Nghỉ ngơi: nên nghỉ nghơi, hạn chế đi lại khi khớp gối đau sưng.

- Các biện pháp bảo vệ khớp: tránh đi bộ nhiều, đeo băng thun khớp gối.

Đau nhiều dùng nạng, can chống.

- Chú ý vấn đề giảm cân đối với các bệnh nhân béo phì… Với nghề nghiệp phải đứng lâu, nếu có thể hướng dẫn cho người bệnh nhân thích nghi với điều kiện làm việc.

Vật lý trị liệu: phục hồi chức năng nhằm giảm đau, duy trì vận động khớp, làm mạnh cơ tứ đầu đùi, ngăn ngừa biến dạng khớp gối.

- Tập theo hướng dẫn của kỹ thuật viên.

- Đạp xe đạp từ 10 – 30 phút/ ngày

- Nhiệt trị liệu: chiếu đèn hồng ngoại 15 – 30 phút/ ngày. Tắm nước khoáng nóng, đắp bùn…
Theo benhviemkhop.net

Biện chứng đông y: Phong hàn thấp tà, đọng ở các khớp, uất lâu hóa nhiệt, khí trệ huyết ứ.

Cách trị: Sơ phong thanh nhiệt, hoạt huyết hóa ứ.

Đơn thuốc: Hi đồng ẩm, xạ hương, tam thất hoàn.

Công thức: Hi đồng ẩm: Hi thiêm thảo 30g, Hải đồng bi 30g, Nhẫn đông đằng 30g, Tang chi (non) 30g, Kê huyết đằng 15g, Tần giao 10g, Tri mẫu 10g, Cát cǎn 10g, Sinh ý mễ 30g, Phòng kỷ 10g. Thêm nước vừa đủ, nấu sôi 20 phút, sắc lại còn 300 ml, uống lúc còn ấm, mỗi ngày 2 lần. Xạ hương tam thất hoàn: Sinh toàn yết 60g. Tam thất 30g, Địa long 90g, Sinh hắc đậu 60 hạt, Xuyên ô 15g, Xạ hương 3g (nghiền nhỏ, bỏ vào sau). Tất cả nghiền thành bột mịn, dùng hồ gạo làm thành hoàn to bằng hạt đỗ xanh, mỗi ngày uống 2 lần (sáng, chiều) mỗi lần 7 đến 10 hoàn, với nước ấm.

Bàn luận: Bệnh viêm đa khớp dạng tháp thuộc phạm vi trù chứng “tí” của đông y. “Chứng tí” phát sinh là do lỗ chân lông mở kết, doanh vệ không vững chắc, phong hàn thấp tà thừa hư xâm nhập vào mà thành. Vì tà làm tắc chính khí, không tuyên hành được mà đọng lại, khí huyết ngưng trệ, lâu thành ra tí. Tí là có ý bất thông, bất thông tắc thống, thấp tà trú ở khớp nên sưng, tà lâu hóa nhiệt, chuyển thành nhiệt tí, ca bệnh trên dùng phép sơ phong thanh nhiệt, hoạt huyết hóa ứ, phối hợp với thuốc lá côn trùng để thu tà có công hiệu.

Theo Top Sante
Theo một số nghiên cứu hiện nay, hơn 2/3 trường hợp viêm khớp dạng thấp có liên quan đến cơ chế tự miển dịch. Ở  những người nầy, hệ kháng nhiễm của cơ thể đã nhận lầm một số yếu tố bình thường và vô hại như những tác nhân lạ và tấn công chúng.  Quá trình nầy đã tạo ra viêm nhiễm.  Do đó,  bên cạnh việc rèn luyện và vận động hợp lý việc phòng ngừa và điều trị kịp thời căn bệnh phải  bắt đầu từ việc điều chỉnh chế độ ăn uống để loại bỏ hoặc hạn chế các tác nhân gây bệnh.

         

Nguyên nhân

           Viêm khớp dạng thấp là một dạng bệnh do thoái hoá cơ, xương, khớp.  Mỗi khớp thường được bảo vệ bởi nhiều thành phần như cơ, gân, sụn và màng hoạt dịch.  Trong quá trình cuộc sống, do tuổi đời, do chấn thương, do lao động nặng nhọc hoặc do tích lũy những chất độc hại, các khớp có thể bị thoái hóa, các tổ chức ở khớp bị khô nước, hóa vôi, xơ hóa hoặc biến dạng.  Những sự thay đổi này làm mất đi tính đàn hồi và sự linh hoạt cần thiết nên gây đau nhức và khó khăn khi chuyển động.  Bệnh thường xảy ra ở những khớp nhỏ và có tính đối xứng nhau như khớp ngón tay, cổ tay, khuỷu tay, ngón chân, đầu gối. . Bệnh cũng có thể xảy ra ở khớp háng, hoặc các đốt sống.  Thoái hoá khớp thường được xem là một hệ quả tự nhiên của quá trình lão hoá.  Tuy nhiên theo một số nghiên cứu của khoa học hiện nay, phần lớn trường hợp viêm khớp mãn tính có liên quan đến những vấn đề của hệ miển dịch.

           Theo y học cổ truyền, Can chủ gân, Thận chủ xương và Tỳ chủ vận hóa khí huyết.  Do đó, khi Can, Thận hư tổn và Tỳ Vị suy yếu thì phong, hàn, thấp xâm nhiễm khiến chân tay đau nhức, co duỗi khó khăn. Ngoài ra,  cơ chế “tự miển dịch” có liên quan đến cơ địa dị ứng và yếu tố “phong” của y học cỗ truyền.



Điều trị

           Viêm khớp dạng thấp là một loại bệnh phong thấp thuộc phạm vi chứng Tý của y học cổ truyền.  Bệnh biểu hiện rõ khi thời tiết thay đổi hoặc khí trời ẩm ướt.  Phong và thấp là hai yếu tố gây bệnh luôn đi kèm với bệnh viêm khớp mãn tính.  Tỳ Vị thuộc Thổ.  Trong ngũ hành khí, Thổ khí là loại khí đối kháng với thấp khí.  Nếu Tỳ Vị sung mãn sẽ giúp tiêu trừ thấp khí, tăng cường chuyển hóa và thúc đẩy khí huyết lưu thông.  Khi “huyết hành, phong sẽ tự diệt”, những điểm ứ trệ khí huyết gây tê, đau  cũng sẽ dần dần được giải tỏa.  Do đó, ngoài việc bổ Can Thận, sơ phong tán thấp thì việc kiện Tỳ, bổ khí là khâu chủ đạo trong phép chữa bệnh thấp khớp.  Tỳ Vị là cơ quan thu nạp và chuyển hoá thức ăn, Tỳ  lại “chủ tứ chi và cơ nhục” nên chế độ ăn uống và vận động hợp lý  có liên quan mật thiết đến thịnh suy của Tỳ.  Dù có dùng thuốc hay không thì chế độ ăn uống và luyện tập thể lực luôn là yếu tố quyết định trong việc phòng ngừa và điều trị viêm khớp.  Chế độ ăn uống ngoài việc  cung cấp đủ những nhóm thức ăn thiết yếu và vi chất cần thiết còn phải biết nhận dạng và kiêng cử những thức ăn sinh phong, có phong  để loại bỏ các tác nhân có khả năng kích hoạt quá trình viêm nhiễm.



Bài thuốc

                     

Độc hoạt tang ký sinh .  Độc hoạt tang ký sinh là một cỗ phương thông dụng để chữa trị các chứng phong thấp, thấp khớp gây đau nhức, chân tay co duỗi khó khăn.  Phương thang bao gồm Sâm, Linh, Quế,Thảo để kiện Tỳ, ôn dương hoá thấp, gia tăng trương lực cơ và tăng cường chính khí; Khung, Quy, Thục, Thược, Đỗ trọng, Ngưu tất để dưỡng Can, Thận, khỏe mạnh gân cốt; thêm các vị thuốc có tác dụng khu phong, thông kinh hoạt lạc như Độc hoạt, Tang ký sinh, Tế tân, Tần giao, Phòng phong.  Bài thuốc này thiên về sơ phong, tán tà, chữa phong thấp, thấp khớp ở vùng hạ tiêu như eo lưng. đầu gối, khớp chân.  Nếu đau nhức ở vùng cánh tay, bàn tay có thể gia thêm Khương hoạt 8gr, Quế chi 4gr.  Sau đây là nguyên thang của bài Độc hoạt ký sinh thang.



Nhân sâm 8gr

Thục địa 16gr

Tang ký sinh 12gr

Phục linh 8gr

Bạch thược 12gr

Tần giao 12gr

Cam thảo 6gr

Đỗ trọng 12gr

Phòng phong 12gr

Xuyên khung 8gr

Ngưu tất 8gr

Nhục quế 4gr

Đương quy 12gr

Độc hoạt 12gr

Tế tân 4gr

           Đổ vào 3 chén nước sắc còn hơn nữa chén.  Nước thứ hai đổ vào thêm 2 chén, sắc còn hơn nữa chén.  Trộn đều hai lần thuốc sắc được.  Chia làm hai hoặc ba lần uống trong một ngày.  Uống trong lúc thuốc còn ấm.  Mỗi đợt có thể uống từ 5 đến 7 thang.



Thương truật phòng kỷ thang.  Trong một số trường hợp cấp diễn, phong thấp sinh nhiệt, hóa hỏa gây sưng, nóng, đỏ, đau.  Trường hợp này hỏa đang thịnh nên không dùng Sâm. Quế.  Phép chữa chủ yếu chỉ nhằm khu phong giải độc, hoạt huyết tiêu ứ.  Có thể dùng bài thuốc Thương truật phòng kỷ thang:



Thương truật 12gr

Kim ngân hoa 24gr

Ngưu tất 12gr

Phòng kỷ 12gr

Liên kiều 12gr

Tô mộc 8gr

Thông thảo 12gr

Ý dĩ 15gr

Cam thảo 6gr

Bồ công anh 30gr

Địa long 12gr





           Sắc uống giống như những thang trên.



Thuốc chườm bên ngoài

           Trong những lúc thời tiết ẩm ướt, đau nhức gia tăng, người bệnh có thể dùng biện pháp chườm nóng bên ngoài để sức nóng và sức thuốc thấm qua da tăng cường tác dụng làm tan ứ huyết và giảm đau.

Dùng gừng tươi, lá ngủ trảo, lá ngải cứu tươi hoặc lá lốt rửa sạch, giả nát, có thể thêm vào một chút rượu.  Xào nóng, bỏ vào túi vải, chườm nóng bên ngoài chỗ đau.
Dùng muối hột rang nóng bỏ vào túi vải, chườm nóng bên ngoài chỗ đau.
Ngâm nước gừng nóng: Quậy đều 1 muổng bột gừng vào trong một chậu nước nóng hoặc bồn tắm nóng. Độ nóng vừa đủ.  Ngâm vùng thân thể có khớp bị đau nhức từ 10 đến 15 phút mỗi lần.
Không chườm nóng trong những trường hợp có sưng, nóng, đỏ, đau.


Điều trị không dùng thuốc



Chế độ ăn uống. Chế độ ăn uống và sinh hoạt có ảnh hưởng rất lớn đến việc phòng ngừa cũng như điều trị bệnh thấp khớp.  Yếu tố nào giúp ích cho Tỳ Vị vượng thịnh hoặc tăng cường khả năng giải độc của Can Thận sẽ có tác động hỗ trợ điều trị.  Yếu tố nào làm suy yếu Vị khí sẽ có tác động tiêu cực đối với bệnh  Để được hấp thu và tiêu hóa, thức ăn, thức uống phải thông qua dạ dày nên có tác dụng trực tiếp đến khí hóa của Tỳ Vị.  Những vật thực cay, ấm, dễ tiêu và việc ăn uống tiết độ có thể phát huy Vị khí.  Trái lại, “Tỳ ố thấp”, những thức ăn hàn, lạnh đình tích khó tiêu, dễ sinh thấp khí sẽ làm trệ Tỳ.  Ngoài ra, việc ăn nhiều protein động vật dễ sinh ra nhiều chất cặn bả không được phân giải tốt, bám vào các tổ chức bị xơ hoá hoặc vôi hoá chung quanh khớp có thể  làm nặng thêm tình trạng của bệnh.  Hiện nay nhiều nghiên cứu cho thấy bệnh viêm khớp dạng thấp thường liên quan đến những vấn đề của hệ miển dịch hơn là sự hư hoại tự nhiên của các khớp qua thời gian hoặc tuổi đời.  Tiến sĩ Andrew Nicholson, một nhà nghiên cứu về y tế dự phòng của Mỷ cho biết ở hơn 2/3 số người bị thấp khớp hệ kháng nhiễm của cơ thể đã nhận dạng nhầm những yếu tố tự nhiên hoặc vô hại (thường là một số protein trong các loại động vật hoặc những chế phẩm từ sữa) như những tác nhân lạ và tấn công chúng.  Quá trình nầy đã tạo ra sự kích thích và viêm nhiễm.  Ở bệnh viêm khớp, sự viêm nhiễm đã thúc đẩy sự giải phóng các chất bị hư hoại.  Điều nầy càng làm tăng thêm mức độ tổn thương cho các mô ở vùng khớp làm cho tình trạng viêm nhiễm ngày càng trầm trọng thêm.  Đây là một cơ chế tự miễn dịch đã được “lập trình” sẳn từ gen di truyền  mà cho dến nay khoa học vẫn chưa có cách để khắc phục.  Thông thường, vì không thay đổi được cơ chế tự miễn dịch, chu kỳ viêm và dùng thuốc chống viêm cứ tiếp tục phải tái diễn.  Đây chính là một bi kịch cho người bệnh vì  dùng thuốc ức chế miển dịch lâu dài sẽ làm giảm khả năng chống lại các vi trùng gây bệnh và vì những phản ứng phụ nguy hại mà các loại thuốc kháng viêm có thể gây ra như xuất huyết tiêu hoá, loãng xương, phù . . Do đó, một biện pháp quan trọng trong chữa bệnh thấp khớp là chận đứng và kiểm soát được các yếu tố nguy cơ dẫn đến phản ứng dây chuyền.  Điều này phải bắt đầu từ việc nhận dạng và điều chỉnh chế độ ăn uống để loại bỏ hoặc hạn chế các tác nhân gây bệnh.  Đó là lý do tại sao nhiều trường hợp bệnh viêm khớp đã thất bại với các liệu pháp chính thống, người bệnh đã phải chịu đựng những cơn đau dai dẵng suốt hàng chục năm trời nhưng lại chuyển biến khá tốt chẳng mấy chốc sau một thời gian ngắn thay đổi chế độ ăn uống.  Cũng vì điều nầy, khi điều trị viêm khớp, các thầy thuốc Đông y thường khuyên bệnh nhân phải kiêng cử một số vật thực được cho là có phong, hay sinh phong như thịt gà, bò, tôm, cá biển . . .Nếu bệnh đã diển tiến nhiều năm, các khớp đã bị biến dạng, liệu pháp tự nhiên không thể phục hồi nguyên vẹn các khớp nhưng có thể giúp người bệnh giảm bớt đau đớn và không phải lệ thuộc vào những loại thuốc độc hại. Ngày nay những chuyên gia dinh dưỡng cho biết những loại rau xanh và ngũ cốc thô, các loại đậu, các loại hạt còn nguyên lớp vỏ lụa bên ngoài chứa rất nhiều chất xơ, sinh tố và khoáng chất có tính năng giải độc, chống béo phì và tăng cường sức đề kháng, những yếu tố hửu ích cho việc điều trị và phục hồi sức khoẻ trong bệnh thấp khớp.  Tiến sĩ Alan J. Silman  thuộc trường Đại Học Manchester (Anh) qua phân tách dử liệu ăn uống của  hơn 25.000 người đã cho biết những người ăn nhiều các loại rau có lá màu xanh đậm hoặc vàng  có chứa nhiều  chất chống oxy hoá như beta-cryptoxanthin, zeaxanthin và Vit C có thể phòng chống hiệu quả các chứng bệnh viêm khớp. Ăn ngũ cốc thô và rau quả tươi thay thế cho phần lớn những loại thực phẩm công nghiệp hoặc chế độ ăn có nhiều đạm động vật là yếu tố rất quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị loại bệnh nầy.  Mặt khác, lớp vỏ ngoài của các loại ngủ cốc có nhiều sinh tố nhóm B.  Về thuộc tính Âm, Dương, lớp vỏ ngoài thuộc dương, tính ấm.  Cả hai yếu tố này đều có tác dụng hỗ trợ cho sự chuyển hóa ở dạ dày và việc tăng cường khí hóa của Tỳ Vị.



Vận động thân thể.  Về mặt sinh hoạt, Tỳ chủ về tay chân và chủ về sự lưu thông khí huyết.  Khí của Tỳ Vị không thể phát huy nếu không có sự vận động.  Tiến sĩ Arthur Brownstein, Giám đốc Bệnh viện Princeville, Hawaii cũng cho rằng “90% các chứng đau nhức là hậu quả của việc thiếu vận động.” Mới đây, những nhà khoa học của trường đại học Queensland (Úc) cũng vừa công bố một kết luận cho thấy việc vận động thân thể có thể giúp tránh khỏi bệnh viêm khớp.  Kết luận nầy được đưa  ra sau nhiều năm theo dõi sự liên hệ giữa tình trạng viêm khớp và sự vận động thân thể của những phụ nử tuổi từ 72 đến 79 tuổi.  Nghiên cứu cho thấy những người tập thể dục trên 60 phút mỗi tuần đã giảm đáng kể nguy cơ viêm khớp,  những người tập trên 2,5 giờ mỗi tuần đã ngừa được nguy cơ viêm khớp.  Do đó,vận động, rèn luyện thân thể trong điều kiện sức khỏe cho phép là biện pháp  trực tiếp và quan trọng để cải thiện sức khỏe trong bệnh thấp khớp.  Một vài động tác  căng giãn thích hợp của Yoga hoặc vài chục phút đi bộ mỗi ngày  sẽ làm linh hoạt các cơ và khớp, tăng cường sự lưu thông khí huyết để giúp phân tán và đào thải những cặn bả ra khỏi cơ thể.



Hít thở sâu.  Hít vào sâu đến bụng dưới giúp tạo phản xạ thở bụng để tăng cường nội khí.  Thở ra tối đa, ép sát bụng dưới khi thở ra có tác dụng xoa bóp nội tạng, gia tăng nhu động ruột, tăng cường khí hóa ở Tỳ Vị.  Điều này sẽ thúc đẩy khí huyết lưu thông, giúp tán hàn, trừ thấp, giải tỏa những điểm ứ trệ gây đau nhức.  Việc thở ra chậm và đều còn có tác dụng điều hòa thần kinh giao cảm để điều hòa nội tiết, nội tạng và phục hồi tính tự điều chỉnh của cơ thể trong việc cải thiện sức khỏe.  Thực hành: Nằm hoặc ngồi thoải mái.  Hít vào đến bụng dưới.  Hít vào vừa với sức của cơ thể, không cần cố căng bụng ra.  Thở ra từ từ, chậm và nhẹ.  Cố ép sát bụng vào tối đa ở cuối thì thở ra.  Thở chậm và đều từng hơi thở một, từ hơi thở này đến hơi thở khác.  Có thể tập mỗi lần khoảng 10 đến 15 phút.  Cũng có thể thở mỗi lần vài hơi bất kỳ ở đâu hoặc bất kỳ lúc nào.



Phất thủ liệu pháp.  Phất thủ liệu pháp còn gọi là Dịch cân kinh với ý nghĩa là thay đổi gân cốt nên có thể được vận dụng để điều trị thấp khớp.  Phất thủ liệu pháp là một phương pháp khí công đơn giản, có tác dụng làm cho Dương giáng, Âm thăng, tăng cường nội khí và cải thiện lưu thông khí huyết.  Tác dụng trực tiếp nhất của Phất thủ liệu pháp là gia tăng nhu động ruột, tăng cường khả năng giải độc, cải thiện khí hóa của Tỳ Vị và kích hoạt chân hỏa ở Trường cường để gia tăng Dương khí  tán hàn, trừ thấp. Trong cơ thể con người, các khớp có hình dạng (khớp) và công năng (tiếp hợp) giống nhau nên có tương quan và tác động lẫn nhau về mặt khí hoá.  Do đó một khớp bị thoái hoá có khuynh hướng dẫn đến thoái hoá dần các khớp khác.  Ngược lại, khi thực hành PTLP, việc chuyển động linh hoạt và liên tục 2 khớp vai và 2 khớp cổ tay lâu dài có tác dụng hoạt hoá toàn bộ các khớp  qua đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến bệnh viêm khớp.  Ngoài ra, giống như nhiều phương pháp khí công khác, Phất thủ liệu pháp còn có tác dụng tăng cường chức năng của các cơ quan và điều hoà khí hoá giữa các phủ tạng qua đó có thể điều chỉnh tình trạng “tự miễn dịch” trong các chứng viêm khớp mãn tính. Thực hành: Đứng thẳng, hai chân dang ra song song ngang vai.  Các ngón chân bám chặt mặt đất.  Bụng dưới hơi thót lại.  Ngực hơi thu vào.  Vai xuôi tự nhiên.  Hai mắt khép nhẹ.  Đầu lưỡi chạm nướu răng trên.  Tâm ý hướng vào Đan điền.  Hai cánh tay, bàn tay và ngón tay duỗi thẳng tự nhiên.  Hai cánh tay hơi cong ở khuỷu tay.  Đưa hai cánh tay về phía trước động thời hít vào.  Dùng lực vẩy hai cánh tay ra phía sau đến hết tầm tay đồng thời với thở ra và nhíu hậu môn lại.  Khi hết tầm tay ra phía sau thì hai cánh tay theo đà của luật quán tính sẽ trở về phía trước, đồng thời với hít vào.  Một lần hít vào và một lần thở ra là một cái lắc tay.  Làm liên tục nhiều cái.  Để chữa bệnh cần thực hành mỗi lần từ 800-1000 cái.  Mỗi ngày 2 lần.  Động tác lắc tay cần phải nhẹ nhàng, linh hoạt.  Không cần dùng sức mạnh để cố vẫy tay ra phía sau mà chỉ cần dùng sức bình thường ứng với nhịp thở điều hòa để có thể làm được nhiều lần.  Việc nhíu hậu môn và bám các đầu ngón chân xuống đất cũng vậy.  Chỉ cần dùng sức vừa phải nhằm bảo đảm tâm lý thoải mái và thể lực dồi dào để có thể thực hành hàng ngàn cái mỗi lần.



Thư giãn tâm & thân. Bên cạnh việc ăn uống hợp lý và vận động thân thể thì tinh thần lạc quan, thoải mái là một yếu tố quan trọng cần thiết để phục hồi sức khoẻ trong bất cứ chứng bệnh mãn tính nào.  Đối với bệnh thấp khớp, yếu tố nầy còn có một ý nghĩa đặc biệt.  Tỳ chủ lưu thông khí huyết nhưng  tính của Tỳ là “hoãn” , nhịp sống nhanh và tâm lý căng thẳng dễ làm thương tổn Tỳ khí.  Do sự tương tác giữa thần kinh và cơ, căng thẳng tâm lý thường xuyên còn tạo ra tình trạng cường cơ, gây co cứng vùng  khớp.  Điều này không những làm tiêu tốn nhiều năng lượng mà còn  làm xấu thêm tình trạng sưng và đau ở vùng khớp bị bệnh.  Trái lại một nếp sống lạc quan, yêu đời, giữa được tâm bình, khí hòa có tác dụng tư dưỡng cho Tỳ.  Do đó, những biện pháp để thư giãn thân và tâm như tập dưỡng sinh ngồi thiền, tập khí công, sinh hoạt nhóm . .  sẽ hữu ích cho việc phòng và điều trị bệnh viêm khớp.
Lương y VÕ HÀ
Theo Ykhoanet
Từ lâu, nhân dân ta đã biết sử dụng các biện pháp chườm nóng hoặc chườm lạnh để chữa đau lưng, đau khớp, sưng nề sau chấn thương, hoặc điều trị các vùng viêm tấy.

Trong y học, người ta sử dụng nhiệt nóng và nhiệt lạnh để điều trị.

Trong các khoa vật lý trị liệu người ta sử dụng paraffin, túi silicagen, khay nhiệt điện, túi chườm nhiệt sử dụng điện. Trong dân gian thường dùng cám rang, muối rang, lá cây sao nóng, túi nước nóng, ngâm trong nước nóng để làm các chất trung gian truyền nhiệt. Sử dụng nhiệt để điều trị đã mang lại hiệu quả rất tốt, nhưng nếu dùng không đúng có thể gây thêm tác dụng có hại. Vì vậy, hiểu biết về tác dụng của nhiệt trong chữa bệnh là kiến thức cần thiết đối với mỗi người.


Nhiệt nóng: Gây ra giãn mạch, làm tăng lượng máu đến vùng điều trị. Nhờ việc tăng tuần hoàn và dinh dưỡng cho vùng điều trị sẽ kích thích quá trình tái tạo tế bào, hàn gắn tổn thương. Làm tăng các phản ứng sinh học, tăng quá trình chuyển hóa của mô, làm tăng tái tạo mô. Làm tăng tính thấm của mô, tăng trao đổi dịch giữa khoang máu và khoang kẽ tế bào, do đó làm tăng quá trình hấp thu dịch nề, làm giảm nề, giảm đau. Làm tăng khả năng xuyên mạch của bạch cầu, tăng khả năng thực bào của bạch cầu, làm phân tán nhanh các chất trung gian gây viêm, do đó làm giảm viêm cả viêm do nhiễm khuẩn và viêm không do nhiễm khuẩn. Nhiệt nóng được dùng rộng rãi để điều trị các vùng viêm do nhiễm khuẩn giai đoạn viêm tấy chưa hóa mủ (như viêm cơ, viêm tắc tia sữa, viêm tổ chức liên kết do răng, mụn nhọt, chắp lẹo); điều trị các trường hợp viêm không do nhiễm khuẩn (như viêm khớp dạng thấp, viêm quanh khớp vai, viêm cột sống dính khớp); điều trị các vùng thiếu nuôi dưỡng do tổn thương thần kinh, mạch máu (như những vùng đe dọa loét hoặc do đè ép ở người phải nằm bất động lâu, các vùng thiếu nuôi dưỡng ở bàn chân, cẳng chân do bệnh đái tháo đường); điều trị các vùng đau do thoái hóa (như đau cột sống cổ, đau thắt lưng, đau khớp do thoái hóa cột sống, thoái hóa khớp); làm giảm nề, tan khối máu tụ sau chấn thương; làm nhanh liền sẹo vết thương, làm sẹo mềm mại, chống dính và co kéo do sẹo; điều trị dị ứng do lạnh. Thời gian đắp nóng khoảng 20-30 phút, ngày 1-4 lần. Cách dùng: Mỗi lần nóng lên duy trì khoảng 20-30 phút, một ngày có thể đắp nóng 1-4 lần. Mỗi lần đắp nóng không quá 1/6 diện tích cơ thể để tránh gây rối loạn thân nhiệt. Khi đắp nóng cần chú ý tránh để nhiệt độ quá cao > 40o vì có thể gây bỏng.

Chống chỉ định các vùng đang chảy máu hoặc đe dọa chảy máu, các ổ viêm đã hóa mủ, các vùng có khối u cả u lành và u ác tính, các vùng lao đang tiến triển như lao khớp, lao cột sống, các chấn thương mới trong một hai ngày đầu, những người đang sốt.

Nhiệt lạnh

Nhiệt lạnh gây ra các tác dụng ngược lại so với nhiệt nóng, như làm co mạch, giảm tuần hoàn, giảm dinh dưỡng, giảm chuyển hóa, giảm tiêu thụ ôxy, giảm tính thấm của mô. Nếu bị lạnh quá lâu có thể gây ra thiếu dinh dưỡng và hoại tử mô do lạnh. Nhiệt lạnh được dùng để làm giảm sưng nề sau các chấn thương mới, làm giảm chảy máu ở những vùng đang chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu, như chườm lạnh vùng thượng vị trong chảy máu dạ dày, giảm tụ máu, giảm nề trong chấn thương mới (một hai ngày đầu), chườm lạnh để hạ nhiệt độ khi sốt cao, bảo quản mô ghép giúp mô ghép chịu đựng được tình trạng thiếu ôxy kéo dài mà không bị hủy hoại. Người ta thường dùng túi nước lạnh, túi nước đá hoặc ngâm chi trong nước lạnh. Cần chú ý thời gian chườm lạnh cần ngắn vài phút, không kéo dài để tránh gây tổn thương mô do thiếu dinh dưỡng.

(theo suckhoedoisong)
Alendronat là thuốc có tác dụng ức chế tiêu xương đặc hiệu. Các nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy, thuốc tích tụ chọn lọc ở các vị trí tiêu xương đang hoạt động, alendronat có tác dụng ức chế sự hoạt động của các hủy cốt bào. Khi điều trị bằng alendronat có thể làm tăng đáng kể khối lượng xương ở xương cột sống, cổ xương đùi và mấu chuyển. Ở phụ nữ mãn kinh từ 40 trở lên bị loãng xương (được xác định là có khối lượng xương thấp, ít nhất là 2 độ lệch chuẩn dưới trung bình của thời kỳ trước mãn kinh), điều trị alendronat làm giảm đáng kể số lần gãy đốt sống sau 3 năm dùng thuốc. Mật độ chất khoáng ở xương tăng rõ sau 3 tháng điều trị bằng alendronat và còn tiếp tục trong suốt quá trình dùng thuốc. Tuy nhiên sau 1 - 2 năm điều trị, nếu ngừng liệu pháp  alendronat thì không duy trì được sự tăng khối lượng xương.
Thuốc được sử dụng điều trị và dự phòng loãng xương ở phụ nữ mãn kinh, phụ nữ có nguy cơ mắc loãng xương hoặc cho người mong muốn duy trì khối lượng xương và giảm nguy cơ gãy xương sau này. Thuốc còn dùng dự phòng và điều trị loãng xương do dùng corticosteroid....


Mặc dù trong các nghiên cứu lâm sàng, các phản ứng có hại do dùng thuốc thường nhẹ và nói chung không cần phải ngừng thuốc. Tuy nhiên, cần chú ý với những tác dụng không mong muốn trên đường tiêu hóa của thuốc.

Đã có báo cáo về các biến cố ở thực quản như viêm thực quản, loét thực quản, trợt thực quản, đôi khi kèm với chảy máu ở người bệnh đang điều trị bằng thuốc này. Trong  một số trường hợp, những biến cố này bị nặng phải nằm viện. Vì vậy, trong quá trình dùng thuốc này nếu thấy có triệu chứng khó nuốt, nuốt đau hoặc đau xương ức..., người bệnh phải ngừng thuốc và gặp thầy thuốc ngay để xử trí kịp thời. Nguy cơ mắc biến cố nặng về thực quản gặp nhiều hơn ở những người bệnh nằm ngay sau khi uống thuốc và/ hoặc không nuốt viên thuốc với một cốc nước đầy và/hoặc vẫn tiếp tục uống thuốc này sau  khi đã thấy những triệu chứng của kích ứng thực quản.

Thuốc có thể kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa trên và khả năng làm cho bệnh xấu đi. Cần thận trọng khi dùng thuốc ở người bệnh có bệnh lý đang hoạt động về đường tiêu hóa  như các bệnh thực quản, viêm dạ dày, viêm tá tràng hoặc loét...

Để thuốc dễ hấp thu phải uống thuốc với nhiều nước (khoảng 200ml), không dùng nước khoáng để uống thuốc. Uống thuốc ít nhất 30 phút trước khi ăn, uống hoặc dùng thuốc khác. Ngay khi cả uống thuốc với nước cam hoặc cà phê thì sự hấp thu của thuốc cũng đã giảm rõ rệt. Không ngậm hoặc nhai viên nén khi uống và người bệnh tránh nằm trong ít nhất 30 phút sau khi uống thuốc để thuốc vào dạ dày dễ dàng và giảm tiềm năng kích ứng thực quản. Không nên uống thuốc vào lúc đi ngủ hoặc trước khi dậy trong ngày. Cần bổ sung calci và vitamin D nếu lượng hằng ngày trong khẩu phần ăn không đủ.      

DS. Hoàng Thu Thủy
THeo SKĐS
Với sự ra đời rất sớm của ngành thấp khớp học, các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh cơ xương khớp ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, để chẩn đoán và điều trị bệnh lý xương khớp thực sự không đơn giản, các bác sĩ nội khoa phải qua những khóa đào tạo chuyên ngành khớp và chuyên sâu. Kỹ thuật tiêm khớp được ứng dụng 60 năm nay. Năm 1951, Hollander nghiên cứu đầu tiên tác dụng của tiêm thấm corticoid vào khớp. Vậy ai có thể thực hiện được kỹ thuật này? Đó là các bác sĩ khớp, bác sĩ chấn thương chỉnh hình và phục hồi chức năng đều có thể ứng dụng kỹ thuật tiêm khớp trong công tác điều trị bệnh khớp.

Tại Pháp, tình trạng viêm khớp được phát hiện sớm và điều trị cơ bản ngay từ khi mới phát hiện. Trong thực hành hàng ngày, các thầy thuốc chuyên khoa khớp ít phải điều trị tại chỗ như tiêm khớp và cạnh khớp. Một kỷ niệm khó quên vào năm 1999 khi chúng tôi thực tập ở Khoa Thấp khớp, Bệnh viện Conception, Marseille. Ở đây vấn đề tiêm nội khớp ít được thực hiện bởi lẽ các bác sĩ khớp chỉ định tiêm khớp và cạnh khớp theo đúng nguyên tắc mà điều đầu tiên là điều trị tốt cơ bản các bệnh khớp. Vào một buổi sáng tại phòng khám khớp, tôi còn nhớ một thanh niên bị viêm lồi củ trước xương chày gọi là bệnh Osgood-Schlatter, tôi mới nói tiêm thấm - infiltration corticoid chưa dứt lời thì Giáo sư Hubert Roux nói với tôi “jamais” nghĩa là không bao giờ tiêm thấm corticoid.


Một số vị trí tiêm khớp cổ chân, khớp cổ tay và vai.
Những điều bệnh nhân cần hiểu khi được tiêm khớp? Khi thực hiện tiêm khớp, chúng ta nên giải thích cho người bệnh hiểu được mục đích tiêm, kết quả đạt được của tiêm khớp và các biến chứng trong và sau khi tiêm, phản ứng đau sau khi tiêm. Cần để vùng tiêm nghỉ 24-48 giờ, lưu băng dính 24 giờ. Đặc biệt trước khi tiêm cần biết các biến chứng có thể xảy ra như: nhiễm khuẩn; teo da tại chỗ; biến chứng không nhiễm trùng (chảy máu chỗ tiêm, đau chỗ tiêm, tổn thương gân, tổn thương sụn).
Tuân thủ các chỉ định tiêm khớp

Thầy thuốc cần tuân thủ các chỉ định tiêm khớp, không được tiêm quá 4 lần/1 năm trên cùng một vị trí. Tiêm khớp cho các trường hợp như bị bệnh viêm khớp mạn tính (viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp phản ứng, viêm khớp vảy nến), bệnh gút, thoái hoá khớp đợt tiến triển, bệnh viêm quanh khớp vai, viêm điểm bám gân, hội chứng đường hầm cổ tay, cổ chân. Những bệnh nhân không uống được thuốc chống viêm như bị loét dạ dày tiến triển hoặc tăng huyết áp nặng có thể ứng dụng tiêm khớp.

Không nên tiêm khớp trong các trường hợp nào?

Vùng da tiêm khớp nóng đỏ do mới đắp thuốc. Nhiễm khuẩn tại chỗ, viêm các mô, áp xe, nhiễm khuẩn toàn thân, uống thuốc chống đông, prothèse trong khớp, chấn thương khớp, loãng xương tại chỗ, đái đường chưa bình ổn, dị ứng với chất tiêm.

Lợi ích của tiêm khớp

Kết quả của tiêm đem lại nồng độ thuốc tại chỗ tối đa, mang lại hiệu quả chống viêm tối đa và giảm lượng thuốc chống viêm. Tiêm khớp có hiệu quả trong điều trị các bệnh khớp vì viêm màng hoạt dịch giải phóng ra cytokine và protease, tiêm corticoid ức chế cytokine và protease làm giảm đau nhanh.

Tiêm thuốc nội khớp chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng

Điều quan trọng nên nhớ tiêm corticoid vào khớp chỉ làm giảm phản ứng viêm và giảm đau. Chính vì vậy, điều trị gốc mới là nền tảng.

Trước thực trạng lạm dụng tiêm các thuốc chống viêm corticoid và chỉ định tiêm rộng rãi, kỹ thuật tiêm chưa đúng và không tuân thủ nguyên tắc tiêm khớp, gây ra nhiều hậu quả nặng nề như nhiễm khuẩn khớp. Ảnh hưởng sức khỏe và chức năng vận động khớp, ảnh hưởng kinh tế gia đình và xã hội. Hậu quả nhiễm khuẩn khớp do tiêm khớp cũng là tiếng chuông thức tỉnh người bệnh và thầy thuốc nên tuân thủ nghiêm ngặt các chỉ định tiêm khớp.

Mỗi thầy thuốc và người bệnh nên xem xét “cái được và cái không được của tiêm khớp”. Là thầy thuốc chuyên khoa khớp, chúng tôi rất thận trọng khi  bệnh nhân yêu cầu thầy thuốc cho tiêm khớp vì biết rằng người bệnh quá tin vào giá trị tiêm khớp.    

TS. Mai Thị Minh Tâm (Khoa Cơ Xương Khớp, Bệnh viện E)
Theo SKĐS
(TNTS) Chỉ cần dùng một lượng nhỏ dầu cá hằng ngày là bạn có thể giảm bớt những cơn đau của chứng viêm xương khớp. Cụ thể một nghiên cứu do các nhà khoa học từ nhiều trường đại học, bệnh viện ở Úc và Tasmania tiến hành trong 2 năm trên hơn 200 bệnh nhân có độ tuổi trung bình 60 cho thấy những người dùng dầu cá thường xuyên với liều lượng vừa phải có thể giảm chứng đau khớp gối gấp đôi so với những người không dùng hay dùng quá nhiều.

Hơn nữa, những người này còn cải thiện đáng kể khả năng di chuyển so với trước đó. Sở dĩ như thế vì trong dầu cá chứa nhiều axit béo omega-3 có hiệu quả tích cực trong việc giảm viêm sưng và giảm đau ở những người bị viêm khớp. Ngoài ra, nhóm cũng phát hiện dùng dầu cá liều cao chưa hẳn đã có tác dụng bằng liều thấp, dù vẫn chưa rõ nguyên nhân. (Theo Times of India)

Nhật Vân
Thói quen gập cổ để xem video trên máy tính bảng hoặc liên tục nhắn tin điện thoại đang khiến nhiều người mê thiết bị di động khổ sở vì chứng đau cổ và căng vai.

Nhắn tin quá nhiều không những khiến mỏi tay mà cổ và vai đều đau nhức. Đôi khi, cơn đau này không chỉ dừng lại ở đó mà còn lan xuống cánh tay và bàn tay. Giới bác sĩ cảnh báo những động tác cúi đầu vào bàn phím hoặc màn hình thiết bị di động có thể gây nên hậu quả vĩnh viễn đối với cơ thể con người. Đây là căn bệnh đang diễn ra trên toàn cầu, theo nhà vật lý trị liệu Dean L.Fishman (Mỹ), thuộc Viện Đau cổ do nhắn tin (Text Neck Institute). Sau khi nhận thấy đến 90% bệnh nhân than phiền về chứng đau nhức này, Fishman quyết định đặt cái tên trên cho cơ sở trị liệu của mình.

Theo chuyên gia Fishman, đau cổ do nhắn tin không phải mới xuất hiện gần đây, nhưng hiện căn bệnh này lan nhanh với tốc độ chóng mặt trên phạm vi toàn cầu, với độ tuổi bệnh nhân ngày càng trẻ dần. Theo thống kê, có hơn 6 tỉ điện thoại di động được kết nối trên toàn thế giới, đó là chưa kể các loại thiết bị đọc sách, máy tính bảng và những thiết bị di động khác mà con người đang sử dụng mỗi ngày. Giới bác sĩ trước đây thường gọi tình trạng bệnh này dưới cái tên “tư thế đầu gập về phía trước”, nhưng ông Fishman nhận thấy bệnh nhân của mình hiểu rõ hơn khi ông nói đến từ “đau cổ do nhắn tin”.

Richard Wells, giáo sư chuyên về khoa học ứng dụng thuộc Đại học Waterloo (Canada), cho biết ông lo lắng về ảnh hưởng của công nghệ đối với cơ thể con người. Để xác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề này, Wells đã tiến hành cuộc nghiên cứu được cho là đầu tiên trên thế giới về chứng đau cổ do tin nhắn. Kết quả, những người bỏ hơn 3 giờ/ngày chúi đầu vào thiết bị công nghệ cầm tay đối mặt với nguy cơ cao gấp đôi bị đau cổ so với những người ít dùng hơn, theo báo cáo trên chuyên san Journal of Applied Ergonomics.

Để tránh những cơn đau khó chịu liên quan đến phần cổ, và thậm chí lan xuống vai, cánh tay, bàn tay, giới chuyên gia khuyên nên cố gắng đừng gập cổ về phía trước trong lúc sử dụng thiết bị cầm tay. Nên giữ đầu thẳng và đưa thiết bị lên ngang tầm mắt. Nghe có vẻ kỳ quặc, nhưng động tác này có thể “cứu” cần cổ và cột sống của bạn. Tạm rời mắt khỏi màn hình mỗi 15 phút/lần và ngả đầu ra đằng sau cũng có thể giúp giảm bớt những triệu chứng khó chịu. Thường xuyên tập các tư thế kéo giãn cánh tay, bàn tay, siết quả bóng nhỏ trong bàn tay và căng lồng ngực. Đối với những ai đang bị đau cổ và vai, cần đến ngay các cơ sở vật lý trị liệu để bác sĩ có thể chẩn đoán và đưa ra những liệu pháp trị liệu phù hợp, cũng như hướng dẫn những bài tập tại nhà.

Phi Yến
Theo TNO
Mẹ tôi bị bệnh thoái hóa cột sống, có người chỉ dẫn dùng quả na khô với cây vuốt hùm sao vàng rồi hạ thổ uống để trị bệnh. Điều đó có đúng không? (nuongnuong@...)

Quả na khô còn gọi là quả na điếc, là quả na đang lớn bị ong châm, khô teo, đen lại và rơi xuống gốc. Quả na điếc có công dụng chữa viêm họng. Để chữa quai bị, áp xe, tắc tia sữa, dân gian dùng quả na điếc phơi hoặc sấy khô, tán nhỏ thành bột, trộn với giấm thành hỗn hợp sền sệt đắp lên vùng đau. Mỗi ngày một lần, đến hết sưng là được.

Còn cây vuốt hùm vị đắng, theo y học cổ truyền có tính hàn (lạnh), có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, chống ngứa. Hạt có tác dụng giảm đau, thanh nhiệt. Dân gian thường dùng rễ sắc uống chữa đau nhức xương khớp, kém ăn, mất ngủ. Như vậy, cây vuốt hùm có tác dụng chữa đau xương khớp, còn quả na điếc hầu như không có liên quan gì tới việc điều trị thoái hóa cột sống. Có thể điều người ta nói với mẹ bạn là kinh nghiệm của dân gian, cần phải có sự tìm hiểu thêm.

Lương y Quốc Trung
Theo TNO
(Yduocvn.com) - Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ

1. Đặt vấn đề.

1.1. Tầm quan trọng và dịch tễ bệnh:


Thoát vị đĩa đệm cột sống là một bệnh lý khá phổ biến, trong đó thoát vị đĩa đệm cột sống cổ đứng hàng thứ hai sau thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Bệnh hay gặp ở lứa tuổi lao động nên ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế xã hội.
Theo Kokubun (Nhật Bản) thì thấy có 1,54 bệnh nhân/100 nghìn dân bị bệnh thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) cổ cần can thiệp phẫu thuật.
1.2. Đặc điểm giải phẫu cột sống cổ liên quan đến bệnh:

+ Khớp mỏm móc đốt sống (khớp Luschka):
Mặt trên các thân đốt sống từ CIII - CVII có hai mỏm móc hay mấu bán nguyệt ôm lấy góc dưới của hai bên thân đốt phía trên hình thành khớp mỏm móc đốt sống. Các khớp này có vai trò giữ không cho đĩa đệm lệch sang hai bên.
+ Sự tưới máu của tủy cổ chủ yếu là do động mạch đốt sống cổ chạy trong lỗ ngang từ CVI  trở lên (cấp máu một phần qua động mạch rễ) còn chủ yếu là nguồn động mạch tủy sống trước (1 động mạch) và hai động mạch tủy sống sau (2 động mạch này đều bắt nguồn từ đốt tủy sống hai bên đoạn trong sọ).
+ Động mạch tủy sống trước cấp máu cho 2/3 trước tủy, động mạch tủy sống sau cấp máu cho 1/3 tủy còn lại. Khi TVĐĐ tủy trung tâm sẽ gây chèn ép vào động mạch tủy sống trước gây thiếu máu cục bộ vùng tủy tương ứng tạo lên hội chứng chèn ép tủy trên lâm sàng.
+ Thần kinh thực vật liên quan: từ các hạch giao cảm cổ trên, giữa, dưới và ngực trên (hạch sao) có các nhánh thần kinh giao cảm đi vào các dây thần kinh cổ từ C1  - C4 (hạch giao cảm cao), C5 - C6 (hạch giao cảm giữa), C7 - D2 (hạch giao cảm dưới). Từ các hạch này lại có nhánh đi tới tim, các động mạch và các cơ quan nội tạng khác. Do vậy khi TVĐĐ cổ, ngoài triệu chứng tủy, rễ còn có những triệu chứng của thần kinh thực vật.
+ Dây chằng dọc trước phủ kín mặt trước các thân đốt sống và đĩa đệm rất dày và khỏe, TVĐĐ cổ ít xảy ra ở phía trước. Dây chằng dọc sau thưa, mỏng, đây là điểm yếu, nơi dễ xảy ra TVĐĐ sau bên.
2. Phân loại TVĐĐ cổ.

Có một số phân loại chung:
+ Phân loại theo liên quan đĩa đệm thoát vị với tủy sống và rễ thần kinh: theo Rothman P.H và Marval J.P 1975 có 3 loại:
- TVĐĐ trung tâm chủ yếu chèn ép tủy sống gây hội chứng bệnh lý tủy là chính.
- TVĐĐ cạnh trung tâm: chèn ép cả tủy và rễ thần kinh gây hội chứng bệnh lý tủy kết hợp bệnh lý rễ thần kinh.
- TVĐĐ cạnh bên: còn gọi là TVĐĐ lỗ ghép, gây chèn ép rễ thần kinh là chủ yếu.
+ Phân loại theo bệnh sinh - bệnh căn:
Yumashev G.S; Furman M.E (1916); Yamano Y. (1985); Rothman R.H (1975) chia ra:
- TVĐĐ cứng (hard disc herniation): TVĐĐ hay mỏ xương hoặc đĩa đệm cốt hoá đè ép vào tủy rễ. Bệnh lý loại này mang tính chất mãn tính, TVĐĐ có thoái hoá đi kèm xảy ra chủ yếu ở người nhiều tuổi.
- TVĐĐ mềm (soft disc herniation): không hoặc có ít thoái hoá đi kèm, thường do TVĐĐ cấp tính sau chấn thương gây nên (thợ lặn, ngã, vật nặng rơi, tai nạn giao thông...).
+ Phân loại đĩa đệm thoát vị liên quan với dây chằng dọc sau:
Wagner O.H. (1995) chia ra:
- TVĐĐ nằm dưới dây chằng dọc sau.
- TVĐĐ xuyên  rách qua dây chằng dọc sau.
Woad II G.W. (1992); Arcenia và Cimonescu (1973) chia 4 loại:
- Loại 1: phồng đĩa đệm (normal bulge): nhân nhầy còn nguyên vẹn nhưng nằm lệch vị trí vòng xơ rạn nứt phồng lên.
- Loại 2: lồi đĩa đệm (protrution): đĩa đệm đã xé rách vòng xơ nằm dưới dây chằng dọc sau gọi là tiền thoát vị.
- Loại 3: thoát vị thực sự (extrusion): nhân đĩa đệm đã chui một phần qua dây chằng dọc sau.
- Loại 4: TVĐĐ mảnh rời (sequestration): mảnh đĩa đệm đã rời khỏi đĩa đệm hoặc là nằm trước, sau dây chằng dọc sau di chuyển đi nơi khác (lên trên, xuống dưới ống sống; có trường hợp tưởng nhầm như u tủy (pseudo tumor), cá biệt xuyên thủng màng cứng đè vào rễ - tủy gây bệnh lý nặng nề. Tác giả Arcenia gọi những trường hợp đó là "đĩa đệm lang thang"- Micration (đĩa đệm di chuyển).
3. Bệnh sinh và nguyên nhân cơ chế TVĐĐ cổ.

3.1. Bệnh sinh:


+ Yếu tố dịch tễ: Theo Gore và Kelsey thì TVĐĐ cổ có tỷ lệ 5,5/100.000 dân (tỷ lệ mới mắc). Nam bị nhiều hơn nữ; tuổi trung bình khoảng 40. Vị trí hay gặp là đĩa đệm CV - CVI > CIVCV > CVICVII > CIIICIV > CVIIDI > CIICIII.
Theo Kelsey J.L. các nghề nghiệp thói quen liên quan bệnh là: thợ lặn, khuân vác, hút thuốc, các động tác cúi gập quá mức, lái xe, bấm nắn cổ không đúng kỹ thuật, các nghệ sĩ piano, đánh trống, xiếc nhào lộn... có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn.
+ Bệnh sinh: đĩa đệm cổ coi như một loại khớp cột sống đặc biệt, có 3 chức năng chính:
- Gắn kết hai thân đốt sống giữ cho cột sống và tủy sống ổn định.
- Hấp thu lực sang chấn và chịu tải cột sống. Hạn chế tối đa tác động rung sóc làm chấn động não và tủy sống.
+ Tham gia vào chức năng vận động cột sống. Để làm được chức năng đó đĩa đệm có cấu trúc như một bán khớp trong đó dịch khớp chính là nhân nhầy (có gelatin) lỏng sánh đặc, 2 mặt khớp chính là 2 mâm sụn trong (hyalin). Các vòng sợi xơ và dây chằng xung quanh như là bao khớp. Do vậy đĩa đệm cũng chịu sự chi phối của quy luật thoái hóa khớp như mọi khớp khác trong cơ thể.
Khi đĩa đệm chưa bị thoái hóa (dưới tuổi trưởng thành) các thành phần nhân nhầy, bao xơ, mâm sụn... còn tốt, khi có lực nén lên cột sống cổ thì nhân nhầy chịu lực đầu tiên bẹt xuống, các vòng sợi phình ra. Lực nén chia đều ra nhiều hướng vào vòng sợi và tác động lên các tấm sụn trong. Lực nén xuống thân đốt sống dưới giảm đi nhiều. Khi tới tuổi trưởng thành (18 - 20 tuổi) cũng là lúc đĩa đệm bắt đầu thoái hoá, biểu hiện là: nhân nhầy khô kiệt dần, vòng sợi rạn nứt dần. Quá trình phát tán dịch thể  ra khỏi đĩa đệm nhiều lên mà quá trình tái hấp thu dịch thể qua các lỗ nhỏ li ti ở mâm sụn ít dần do bị bít tắc dần. Đĩa đệm dần thoái hoá cùng với sự thoái hoá khác ở các thành phần cột sống và cơ thể.
TVĐĐ là hậu quả của một quá trình thoái hóa sinh lý (hoặc thoái hóa bệnh lý).
Nhân nhầy thoái hóa đầu tiên: mất khả năng hấp thu lực, thoái hóa rách vòng sợi ở các mức độ khác nhau.
Nếu sự căng phồng nhân nhầy còn duy trì ở mức nào mà các vòng sợi và dây chằng đứt rách nhiều thì chỉ cần một lực nhỏ cũng đủ để nhân nhầy thoát ra qua lỗ rách đó, mạch máu sẽ bao quanh nhân nhầy đi sâu vào chỗ đứt rách đó hình thành sẹo đĩa đệm.
Mặt trên của đốt sống phía dưới bị lực tác động mạnh hơn và bị xơ hoá dần các thớ cột sống, các khớp mỏm móc cũng thoái hoá. Các khớp phì đại, nhiều gai xương hình thành, hẹp lỗ ghép chèn ép vào cả rễ thần kinh và mạch máu đốt sống.
Đến lúc dây chằng dọc sau cũng bị đẩy ra sau tách khỏi mặt đốt sống kéo rách màng xương tạo phản ứng sinh xương ở mép thân đốt sống, vôi hoá dây chằng.
Dây chằng vàng cũng bị thoái hóa, kéo giãn làm cho mất khả năng đàn hồi, phì đại dây chằng vàng, từ đó gây hội chứng hẹp ống sống cột sống cổ.
3.2. Nguyên nhân cơ chế TVĐĐ cổ:


Có 2 cơ chế gây ra TVĐĐ cổ đó là: thoái hoá và chấn thương. Trong đó thoái hoá là nguyên nhân chiếm đa số.
Thoái hóa cột sống đĩa đệm (CSĐĐ) tiến triển theo lứa tuổi được các yếu tố vi chấn thương thúc đẩy, một lực chấn thương tác động lên một cơ địa thoái hóa cột sống sẽ là cơ hội gây TVĐĐ.
Ngoài ra có ý kiến nêu thêm là: rối loạn chuyển hoá, dị dạng cột sống cổ, bệnh lý tự miễn dịch. Những yếu tố đó coi như là yếu tố tiền thoái hoá cũng dễ gây TVĐĐ cổ trong một số hoàn cảnh lực tác động vào cột sống cổ.
4. Lâm sàng.

TVĐĐ cột sống cổ xảy ra như là một biến chứng của quá trình thoái hoá đĩa đệm cột sống cổ; nó nằm trong bệnh cảnh chung của hội chứng hẹp ống sống cổ nên lâm sàng rất đa dạng và phong phú (tùy theo vị trí  thoát vị, thể thoát vị, mức độ và giai đoạn bệnh, tính phản ứng của từng cơ thể). Tuy vậy cũng có những bệnh cảnh chung nhất. Các tác giả chia 3 loại.
4.1. Hội chứng chèn ép rễ đơn thuần:


* Nguyên nhân: do TVĐĐ vào lỗ ghép (hoặc cạnh trung tâm chèn ép vào lỗ ghép) kết hợp với mỏ xương, gai xương do thoái hóa cột sống hình thành dần dần làm hẹp lỗ ghép, từ đó gây kích thích, đè ép, căng kéo rễ thần kinh cổ kéo theo viêm, phù nề thần kinh, thiếu máu rễ thần kinh.
* Triệu chứng:
+ Đau kiểu rễ thần kinh: đây là một triệu chứng sớm nhất, hay gặp nhất gây chú ý ở bệnh nhân. Người bệnh thường phàn nàn thấy đau ở gáy cổ lan xuống vùng vai, ngực, đau dần xuống cánh tay, cẳng tay và các ngón tay.
- Đau liên quan tới vận động cúi, ưỡn nghiêng, có thể làm bệnh nhân vẹo cổ (torticolis).
- Đau tăng khi ho hoặc hắt hơi.
- Có thể thấy đau đầu hay đau mặt nhưng ít gặp hơn.
- Khởi phát đau có thể cấp tính sau chấn thương đầu, cổ. Có thể từ từ sau một đêm ngủ dậy hoặc một lần đi xe đường xa về.
- Tính chất đau: hoặc âm ỉ hoặc đau sâu ở trong cơ xương, nhức nhối khó chịu như dao đâm hoặc như bỏng rát ở một vùng nào đó ở chi trên, đau ưu thế ở gốc chi kèm theo tê bì ở các ngón tay.
- Tiến triển: đau thường không liên tục, ban đầu đau ở gáy cổ sau đó đau từng đợt lan xuống chi trên. Nghỉ ngơi có thể đỡ, điều trị có thể ổn định lâu dài.
Khám có thể thấy một số dấu hiệu:
. 2 bàn hay, ngón tay nề, tê phù múp míp (hội chứng Steinbrocker): gặp khoảng 2% các trường hợp.
. Dấu hiệu Spurling: khi ấn tay đỉnh đầu trong khi bệnh nhân nghiêng đầu về bên đau gây đau tăng lên thì đó là dấu hiệu dương tính. Lý do đau tăng vì như vậy làm hẹp lỗ ghép và làm tăng áp lực nội đĩa đệm nên chèn ép thần kinh tăng lên.
. Dấu hiệu bấm chuông: ấn gai sau hoặc cạnh sống cổ, bệnh nhân đau từ cổ xuống vai đi xuống cánh tay, cẳng tay, bàn tay. Đó là dấu hiệu dương tính.
. Dấu hiệu Lhermitle: khi cúi bệnh nhân đau từ gáy cổ lan xuống cánh tay, cẳng tay.
. Test kéo giãn cột sống cổ: cho bệnh nhân nằm hay ngồi, kéo cằm, gáy, đầu bệnh nhân dọc trục cột sống một lực = 10 kg nếu bệnh nhân thấy dễ chịu (triệu chứng rễ giảm) thì test dương tính.
. Test dang vai: bệnh nhân ngồi đưa tay lên đầu nếu bệnh nhân thấy dễ chịu (triệu chứng rễ thần kinh giảm) thì là test dương tính.
Hai test trên mục đích: giảm áp lực nội tủy và giảm căng kéo dây thần kinh, do vậy bệnh nhân giảm đau.
+ Rối loạn cảm giác:
Đặc điểm rối loạn cảm giác thường đi cùng triệu chứng đau tập trung ở chi trên. Vùng rối loạn cảm giác cho phép đánh giá một phần định khu rễ thần kinh bị đè ép. Ví dụ:
- Rối loạn cảm giác đau ngón cái: rễ C6  bị tổn thương.
- Rối loạn cảm giác đau ngón giữa: rễ C7 bị tổn thương.
- Rối loạn cảm giác đau ngón út: rễ C8 bị tổn thương.
+ Rối loạn vận động: tương tự như vậy có thể căn cứ chức năng chi phối vận động của các rễ mà suy luận lâm sàng:
- Yếu dang vai: rễ thần kinh C5 chi phối.
- Yếu gấp khuỷu: rễ thần kinh C6 chi phối.
- Yếu duỗi khuỷu: rễ thần kinh C7 chi phối.
- Yếu gấp và dạng khép ngón tay: rễ thần kinh C8 chi phối.
Thường chỉ yếu động tác chứ ít khi bị liệt hoàn toàn vì đây là bệnh lý mạn tính.
+ Rối loạn phản xạ:
- Mất hoặc giảm phản xạ cơ nhị đầu: rễ C5 tổn thương.
- Giảm phản xạ châm quay: C6 tổn thương.
- Giảm phản xạ cơ tam đầu: C7 tổn thương.
Tóm lại: tùy theo rễ tổn thương mà có triệu chứng rễ khác nhau về vận động, cảm giác, phản xạ. Tuy vậy do sự đan xen chi phối của các rễ thần kinh với nhau, mặt khác có thể  thoát vị cổ kết hợp với hội chứng bệnh lý thoái hóa hẹp ống sống cổ hoặc là TVĐĐ cổ đa tầng, thoát vị cách tầng cho nên không có triệu chứng thần kinh nào có cả độ nhạy và độ đặc hiệu cao cho đánh giá mức đĩa đệm bị thoát vị. Do vậy cần MRI để chẩn đoán chính xác.
4.2. Hội chứng chèn ép tủy đơn thuần:


* Nguyên nhân: do TVĐĐ tủy trung tâm và cạnh trung tâm lớn gây đè ép trực tiếp vào sừng trước tủy sống, động mạch đốt sống trước (chi phối 2/3 tủy trước).
* Cơ chế bệnh sinh: kết hợp với mỏ xương, gai xương đã gây hẹp ống sống sẵn (bình thường đường kính trước sau tủy sống cổ ³ 12 mm, nhưng có gai xương nên đường kính trở lên hẹp dần £ 12 mm) nên khi có thêm thoát vị thì càng gây thiếu máu tủy tăng lên, có thể gây nên phù tủy ngang mức thoát vị. Nếu chèn ép mạn tính có thể gây thoái hóa một phần sợi trục myelin.
* Lâm sàng hội chứng tủy cổ:
Bệnh thường xảy ra từ từ ở lứa tuổi trung niên hoặc khởi phát đột ngột sau chấn thương. Bệnh có từng đợt tiến triển sau thoái lui do điều trị thuốc, nghỉ ngơi, kéo giãn. Có thể gặp các triệu chứng sau:
+ Rối loạn vận động: là triệu chứng hay gặp nhất, chi trên bệnh nhân thấy tê bì, cầm nắm yếu, sự khéo léo giảm đi. Chi dưới bệnh nhân đi lại khó khăn, chóng mỏi một bên hay cả hai bên chân. Đi thường dạng chân, có khi phải chống gậy khi đi, đôi lúc co giật ở chân làm bệnh nhân có thể ngã.
Có thể triệu chứng ở chi trên xuất hiện trước hoặc xuất hiện sau hay có khi gặp trên một bệnh nhân có liệt ngoại vi một chi trên, liệt trung ương hai chi dưới (nếu thoát vị CV trở xuống).
Nhưng nếu thoát vị CIII - CIV, CIV - CV thì liệt cả tứ chi trung ương. Do vậy mà rối loạn phản xạ ở chi trên có thể là tăng hay giảm phản xạ, trong khi đó phản xạ chi dưới thường tăng trong thoát vị cổ.
+ Rối loạn cơ tròn: thường khó đái, khó ỉa.
Nhiều tác giả Hauser S.L 1988, Clark C.R 1991, Hoff J.T 1997, 5 loại dấu hiệu tổn thương ưu thế.
+ Hội chứng tủy cổ trước: tổn thương chủ yếu bó vỏ gai và tế bào sừng trước sau chấn thương cúi quá mức: đĩa đệm, gai xương chèn vào động mạch tủy trước và phần trước. Bệnh nhân thường liệt hoàn toàn và mất cảm giác nóng, lạnh, đau dưới mức tổn thương.
+ Hội chứng tủy trung tâm: tổn thương cả chất trắng và chất xám trung tâm.
- Mất cảm giác nông: nóng, lạnh, đau ở 2 tay.
- Còn cảm giác sâu và cảm giác rung tứ chi.
+ Hội chứng Brown - Sequard:
- Một bên phía tổn thương do thoát vị đè vào: liệt kiểu trung ương, mất cảm giác sâu và cảm giác rung.
- Bên kia mất cảm giác nông: nóng, lạnh, đau, còn cảm giác sâu và cảm giác rung.
+ Hội chứng tủy cắt ngang: liệt hoàn toàn tứ chi.
+ Hội chứng tủy cổ sau: thiên về tổn thương ở sừng sau nên cổ chấn thương ngửa quá mức (hyper extension), mất cảm giác sâu, vận động, dáng đi loạng choạng, 2 chân dang rộng, còn các cảm giác khác.
+ Hội chứng rễ tủy phối hợp: bao gồm 2 triệu chứng trên. Đây là hội chứng phổ biến nhất. Tuy vậy nhưng triệu chứng tủy vẫn trội hơn triệu chứng rễ (Clark 1991). Rối loạn vận động + phản xạ rõ hơn rối loạn cảm giác; thường giảm cảm giác hơn là mất cảm giác hoàn toàn.
4.3. Hội chứng rối loạn thần kinh thực vật:


* Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:
+ Khối thoát vị đè ép vào các màng tủy, mạch máu các thần kinh có các nhánh giao cảm đi lên kích thích ngược lại hạch giao cảm và các nhánh tới các tạng khác (mắt, tim và các cơ quan nội tạng khác).
+ Mỏ xương, gai xương đè ép vào động mạch đốt sống.
+ Bản thân đĩa đệm cổ cùng với cột sống cổ đã có chức năng vận động cổ và điều tiết định hướng không gian và điều khiển tư thế; nên khi TVĐĐ thường gây mất điều khiển trong hoạt động cổ, ảnh hưởng chức năng thực vật cổ thông qua phản xạ điều chỉnh động tác: mắt, đầu, thân mình.
* Lâm sàng:      
+ Chóng mặt, mất thăng bằng.
+ Ù tai, mờ mắt từng cơn.
+ Mặt đỏ từng lúc, hạ huyết áp và vã mồ hôi.
+ Cơn đau ngực do căn nguyên cột sống cổ: hay gặp trong thoát vị CVI - CVII.
5. Các phương pháp chẩn đoán TVĐĐ cột sống cổ.

Các triệu chứng lâm sàng như vừa nêu trên giúp cho người ta định hướng tới bệnh lý vùng cột sống cổ. Các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng đóng vai trò chủ yếu chẩn đoán xác định bệnh và các phương pháp đó từ đơn giản đến hiện đại như sau:
5.1. Chụp X quang thường quy:


Đây là thăm khám cận lâm sàng đầu tiên với chụp thẳng, nghiêng, chếch phải, chếch trái và tư thế Fank chụp CI, CII há miệng to. Đó là các kiểu chụp phim thông thường cột sống cổ.
+ Ưu điểm:
- Đơn giản, giá thành rẻ...
- Cho biết trục cột sống, độ cong sinh lý cột sống ra sao ? hình dạng thân đốt, khe khớp, mỏm móc, gai xương, khe liên đốt, lỗ tiếp hợp (phim chếch 3/4 hai bên).
+ Nhược điểm:
- Đây chỉ là những thông tin ban đầu về xương cột sống cổ không đánh giá đầy đủ các thay đổi về tủy, đĩa đệm cơ và phần mềm cạnh sống.
- Hay bị cản hình bởi khớp hàm phía trên, xương vai ở phía dưới.
5.2. Chụp tủy cản quang:


Sicard (1922) chụp tủy cản quang bằng lipiodol để chẩn đoán bệnh lý tủy. Nhưng nhược điểm là dễ gây viêm dính màng nhện tủy vì tồn tại rất lâu trong tủy sống. Năm 1957, người ta tìm ra amipaque (metrizamid) sau đó tìm ra omnipaque (iohexol) là loại tốt nhất hiện nay (tan trong nước hấp thu nhanh trong vòng 4 - 6 giờ, không bị ion hóa, ít độc lại có độ cản quang cao) nên việc chụp tủy cản quang an toàn hơn nhiều.
+ Kỹ thuật: chọc kim ngang CI - CII ở tư thế nằm sấp hoặc ngửa tối đa, bơm   5 - 10 ml omipaque hàm lượng 300 hoặc 350 (không dùng loại 370). Kỹ thuật này do Henz và Goldmen đề xuất lần đầu tiên (năm 1972).
+ Ưu điểm: xác định được sự đè ép từ xương, đĩa đệm, rễ thần kinh, u, viêm dính của cột sống cổ.
+ Nhược điểm:
- Đây là thủ thuật gây sang chấn.
- Kỹ thuật chọc khó.
- Thuốc cản quang dù tốt đến đâu cũng có một tỷ lệ dù nhỏ gây phản ứng phụ.
- Hình ảnh cho là hình ảnh gián tiếp.
5.3. Chụp đĩa đệm:


Đầu tiên là Lindblom (1948) chụp đĩa đệm vùng thắt lưng, sau đó Smith là người chụp đĩa đệm cột sống cổ.
+ Kỹ thuật: đưa 2 ml thuốc cản quang bơm trực tiếp vào đĩa đệm.
+ Ưu điểm:      
- Đánh giá được trực tiếp hình dáng cấu trúc bên trong đĩa đệm, do đó biết được tổn thương cụ thể của đĩa đệm, các thể bệnh đĩa đệm.
- Là thủ thuật bắt buộc để điều trị theo phương pháp hoá tiêu nhân.
+ Nhược điểm:
- Thủ thuật gây đau đớn, khó làm.
- Có khả năng bị nhiễm khuẩn thứ phát.
Ngày nay ít làm, nhất là từ khi có MRI.
5.4. Chụp cắt lớp vi tính:


Kỹ thuật:
Không dùng thuốc cản quang: cắt lớp ngang mỏng 1mm và chụp kiểu xoắn ốc.
+ Ưu điểm: phương pháp này có thể giúp người ta nhìn thấy các hình ảnh khác của TVĐĐ: trung tâm, lệch bên vào lỗ tiếp hợp. Đó là hình ảnh giảm tỷ trọng đĩa đệm thoát vị » 80 đơn vị HU so với xương ở vị trí đĩa đệm bệnh lý. Có thể thấy thêm hình ảnh mỏ xương, thoái hoá mỏm móc.
+ Nhược điểm: hay bị nhiễu, cản hình ở vùng vai - gáy nên khó làm ở bệnh nhân béo, vai rộng, cổ ngắn; thuận lợi nhất là chụp đĩa đệm  cổ CV - CVI - CVII.
5.5. Chụp CLVT có dùng thuốc cản quang (hoặc là đưa thuốc đường ống sống hoặc là đường tĩnh mạch):
Đa số là chụp CLVT sau bơm thuốc cản quang vào ống sống.
+ Ưu điểm:
- Cho thấy rõ hơn sự đè đẩy của đĩa đệm vào tủy và rễ thần kinh.
- Dễ tái tạo hình ảnh dọc toàn bộ tủy (tất nhiên độ phân giải không cao).
- Có thể chẩn đoán hẹp ống sống cổ hoặc tắc ngẽn lưu thông dịch não tủy, phát hiện bất thường ở xa đường giữa.
Theo Greenberg (1997) giá trị chẩn đoán chính xác phương pháp CLVT + có bơm thuốc cản quang các bệnh cột sống cổ là 98 %.
Phương pháp này chỉ đúng khi không thể chụp MRI hoặc khi cần biết kỹ hơn về xương.
+ Nhược điểm:
- Đây cũng là phương pháp chẩn đoán có can thiệp.
- Hình ảnh bị nhiễu từ CVI - DI vì mắc xương bả vai bệnh nhân.
5.6. Chụp cộng hưởng từ  (MRI - magnetic resonance imaging):
+ Ưu điểm:
- An toàn, thủ thuật không xâm hại.
- Không gây nhiễm xạ cho bệnh nhân và thầy thuốc.
- Cho hình ảnh không gian 3 chiều với nhiều lớp cắt ở nhiều bình diện khác nhau.
- Độ tương phản cao của các tổ chức phần mềm.
- Đánh giá khá toàn diện: tủy sống, dịch não tủy, dây chằng vàng, mạch máu, tổ chức mỡ, xương sống và đĩa đệm.
Tóm lại: MRI là phương pháp tiên tiến nhất hiện nay chẩn đoán các bệnh lý cột sống tủy sống. Đặc biệt chẩn đoán TVĐĐ cột sống cổ, nhất là liên quan chỉ định điều trị nội khoa, ngoại khoa.
+ Hình ảnh TVĐĐ trên phim cộng hưởng từ:
- Đĩa đệm là một tổ chức có ranh giới rõ rệt.
Màu đen trên hình ảnh T1W là tổ chức giảm tín hiệu.
Màu trắng trên hình ảnh T2W là tổ chức tăng tín hiệu.
- Khối TVĐĐ đồng tín hiệu với mô đĩa đệm đẩy nhô ra sau đè vào ống tủy không ngấm thuốc đối quang từ.
- Các hình ảnh Sagittal (cắt dọc trước sau) cho biết đầy đủ kỹ về xương cột sống, độ cong đốt sống cổ, vị trí TVĐĐ, số tầng TVĐĐ. Mức độ đè ép đĩa đệm thoát vị vào tủy, sự phù tủy thế nào ?
- Hình ảnh cắt ngang (axial) cho thấy rõ TVĐĐ là loại TVĐĐ trung tâm, cạnh trung tâm, thoát vị lỗ ghép thậm chí cho biết có rách dây chằng dọc sau do đĩa đệm đè ép hay không.
Với 2 hình ảnh cắt dọc và một hình ảnh cắt ngang cơ bản người ta đo được các kích thước của ống sống và tủy sống. Người ta đánh giá tình trạng có hẹp ống sống cổ không ? Đây là một loại hội chứng bệnh lý khá phổ biến ở người cao tuổi.
Theo nhiều tác giả, các bệnh nhân có đường kính ống sống trước sau £ 12 mm từ CIV - CVII coi như hẹp ống sống. Đường kính rộng bình thường của CIV - CVII là 13 - 14 mm, CI ³ 21 mm, CII ³ 20 mm, CIII ³ 17 mm. Người ta còn thấy nếu đường kính tủy sống hẹp £ 10 mm thì biểu hiện lâm sàng TVĐĐ cổ rõ ràng hơn khi đường kính tủy sống > 13 mm.
+ Nhược điểm MRI:
- Đắt tiền (nhiều người dân không thể làm được).
- Bị nhiễu từ (artifact) khi trong cơ thể bệnh nhân có mảnh kim khí hoặc đặt máy tạo nhịp.
- Có một số bệnh nhân quá sợ hãi (trẻ em, phụ nữ...) không làm được.
Trong một số trường hợp có TVĐĐ cột sống cổ trên phim MRI nhưng không có biểu hiện lâm sàng. Do vậy luôn luôn khám xét lâm sàng thật kỹ trước khi quyết định phương pháp điều trị nào ? Nhất là chỉ định phẫu thuật ?
6. Chẩn đoán phân biệt.

Hội chứng cổ-vai-cánh tay và bại yếu hai chi dưới có thể có do nhiều nguyên nhân khác nhau nên cần phải phân biệt trong chẩn đoán mới có phương pháp điều trị hợp lý. Người ta chia ra 2 nguồn gốc bệnh lý:
+ Nguồn gốc từ cột sống-tủy sống lành tính hoặc ác tính:
- U tủy: u màng tủy (meningioma), u rễ thần kinh (neurinoma, schwannoma), u màng ống nội tủy ependymoma, u tế bào thần kinh đệm của tủy (glioma, astrocytoma), u mỡ (lipoma); các nang nước ở tủy do viêm dính, do máu tụ cũ tiêu đi, do thoái hoá sau chấn thương (kistique).
- U xương sụn (osteochondroma), u xương (osteoma), u ác tính (osteosarcoma), các mỏ xương (osteophis), gai xương chèn ép vào ống sống gây hẹp ống sống cổ. Các loại u vùng này có thể là di căn ung thư phổi, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư tuyến giáp, ở phụ nữ có thể là ung thư tử cung, ung thư tuyến vú...
- 2 loại bệnh lý cũng được nhắc đến nhiều là:
. Xơ cứng cột sống bên teo cơ với triệu chứng chủ yếu là teo cơ, rung giật cơ, không rối loạn cảm giác, có tổn thương kèm theo, tổn thương thần kinh XII, IX, X, phản xạ bệnh lý tháp tăng rõ cả tứ chi (hay gặp độ tuổi 40 - 60).
. Bệnh xơ cứng rải rác: hay gặp độ tuổi từ 20 - 40, tiến triển từng đợt, nặng dần hay rối loạn về mắt hoặc tiểu não.
- Viêm đa khớp dạng thấp không đặc hiệu hay gặp nhất là viêm tiêu mỏm nha gây sai khớp trục-đội, từ đó gây chèn ép tủy sống ngang CI, CII, bệnh nhân bị bại yếu tứ chi, co cứng chân tay, liệt cơ vòng dễ gây thiểu năng động mạch sống-nền (mất thăng bằng, chóng mặt, ù tai, rung giật nhãn cầu). Bệnh lý này cần làm phẫu  thuật Brook and Jenkin đóng cứng chẩm cổ sau.
- Viêm xương khớp do vi khuẩn: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn toàn thân đau, nề sưng to ở gáy cổ, hội chứng rễ-tủy xuất hiện nếu có ổ viêm lan toả đè ép ống sống hoặc trượt đốt sống, xẹp đốt sống do ổ viêm gây nên. Trong đây có tỷ lệ 3 - 5 % viêm xương đĩa đệm do lao đốt sống. Trong 6 năm gần đây ở Bệnh viện 103 gặp 2 trường hợp lao cột sống cổ. Phẫu thuật kết hợp điều trị toàn thân bằng thuốc chống lao đạt kết quả tốt.
- Chấn thương cột sống cổ cũ.
- Bệnh rỗng tủy.
- Bệnh vôi hoá phì đại dây chằng dọc sau hay dây chằng vàng.
+ Nguồn gốc bên ngoài cột sống cổ gây đau thần kinh đám rối cổ:
- Hội chứng phù áo khoác do u đỉnh phổi (pancast).
- Hội chứng viêm quanh khớp vai.
- Bệnh lý đám rối (plexus) và rễ thần kinh.
- Bệnh tâm căn và các bệnh khác ở nội tạng đau theo kiểu xuất chiếu tại cổ có thể đau theo đường thần kinh giao cảm; do đó nên cần khám xét cẩn thận, kỹ lưỡng.
7. Điều trị bệnh TVĐĐ cổ.

7.1. Điều trị nội khoa:


Sau khi khám xét chẩn đoán TVĐĐ cổ người ta điều trị theo nguyên tắc điều trị nội trước, điều trị ngoại sau.
+ Điều trị có hệ thống, bao gồm nhiều biện pháp:
- Uống thuốc chống viêm giảm đau.
- Tiêm thuốc chống viêm giảm đau.
- Xoa bóp, bấm nắn, vật lý trị liệu: bó nến, điện xung, điện phân.
- Châm cứu.
- Bất động cột sống giai đoạn cấp bằng nẹp Minerve hay bằng khung Halo, Coloar.
- Kéo giãn cột sống nếu có chỉ định.
+ Điều trị cơ bản: tùy thể bệnh, người bệnh mà có liều độ trị liệu khác nhau và với phương pháp điều trị thích hợp riêng. Tránh biến chứng và gây tổn thương thêm cho bệnh nhân chỉ vì không hiểu biết giải phẫu sinh lý, bệnh lý, bệnh căn, bệnh sinh. Điều trị theo kiểu mò mẫm, tiêm chích thuốc vào cột sống, tủy sống không đúng nguyên tắc chỉ định.
Định kỳ tái khám xét: có hướng dẫn cho người bệnh biết cách vệ sinh lao động, nghỉ ngơi hợp lý, phòng ngừa tái phát và tai biến. Nếu thấy bệnh lý có xu hướng tăng dần hoặc không thuyên giảm hoặc tái phát nhanh thì cần chẩn đoán xác định lại và chuyển phương pháp điều trị hợp lý hơn.
7.2. Điều trị ngoại khoa:


Sau điều trị nội khoa hệ thống và cơ bản mà không có kết quả.
+ Điều trị ngoại khoa nhằm 3 mục đích:
- Giải phóng chèn ép tủy, rễ thần kinh do đĩa đệm chèn ép hoặc là xơ sợi, dây chằng vàng tăng sinh đè ép.
- Phục hồi giải phẫu cột sống cổ.
- Cố định vững cột sống tránh di lệch tổn thương thứ phát sau khi lấy đĩa   đệm cổ.
+ Chỉ định:
- TVĐĐ trung tâm, cạnh trung tâm, TVĐĐ lỗ ghép đã gây bại yếu tứ chi, chèn ép đau đớn dai dẳng, không khắc phục được bằng thuốc và các phương pháp điều trị nội khoa khác.
- Chụp MRI xác định rõ vị trí, thể bệnh và mức độ bệnh TVĐĐ.
+ Kỹ thuật:
- Trước đây thường làm phẫu thuật đi đường sau:
Tạo hình cung sau cột sống sau giải phóng chèn ép; mở rộng lỗ ghép; tạo hình cung sau mở rộng.
- Vào những năm 50 thế kỷ XX đến nay, phẫu thuật chủ yếu đi đường trước bên với các phương pháp của các tác giả: Cloward, Robinson, Bailey, Badgley, Simmon.
7.3. Các phương pháp không mổ hoặc phẫu thuật gây thương tổn tối thiểu (minimaly invasive neurosurgery):
* Phương pháp hoá tiêu nhân (phương pháp ăn mòn bằng men chemonucleolyse):
Lyman (năm 1963) là người đầu tiên đề xuất và áp dụng phương pháp này. Có giai đoạn áp dụng phổ biến ở Mỹ và Pháp (những năm 1980 - 1990).
+ Nguyên lý: men sẽ phân hủy protein, polysacharide thành nước, nước sẽ được đào thải ra ngoài qua nước tiểu làm đĩa đệm khô xơ cứng lại, áp lực nội đĩa đệm giảm, đỡ chèn ép rễ tủy thần kinh.
+ Nguyên liệu tiêu nhân: chymopapain hoặc aprotimin (trasylon). Đây là những chất men tiêu đạm rất mạnh.
+ Chỉ định: TVĐĐ còn bao xơ tương đối tốt.
Không áp dụng phương pháp này khi TVĐĐ đã vỡ rách bao xơ, TVĐĐ mảnh rời (sequestration) TVĐĐ lớn đè ép tủy sống, TVĐĐ tự do (micration), TVĐĐ xuyên màng cứng, xuyên rễ, thoái hoá cột sống-đĩa đệm, đĩa đệm giàu mạch máu nuôi: chất men dễ hấp thụ qua mạch máu gây sốc phản vệ.
Hạn chế dùng phương pháp này với vùng giải phẫu quan trọng.
+ Ưu điểm:
- Hiệu quả nhanh.
- Thời gian nằm viện ngắn.
- Vô cảm đơn giản: tê tại chỗ, không cần gây mê.
Tất nhiên là cần phải chụp đĩa đệm trước.
+ Biến chứng:
Viêm đốt sống, chảy máu dưới nhện, sốc phản vệ nếu đĩa đệm giàu mạch máu.
* Phương pháp lấy đĩa đệm qua da bằng nội soi:
+ Đây là phương pháp mới cần có dụng cụ tinh xảo chuyên dùng: màn huỳnh quang tăng sáng, dụng cụ mổ nội soi, đó là các dụng cụ:
Vi phẫu tích: rougeur, bipolar, gouse, carry-sion đèn soi nối với một video.
+ Ưu điểm: an toàn, thuận lợi, gây ít tổn thương nhất cho xương sụn cột sống.
+ Nhược điểm: chỉ lấy mảnh đĩa đệm lớn chèn ép nhiều nhất.
Không mổ cho các thể đặc biệt như: đĩa đệm mảnh rời di chuyển (micration), đĩa đệm xuyên màng cứng.
* Dùng Laser YAG giảm áp đĩa đệm:
+ Phương pháp do Choy và Ascher (1980) đề xuất và áp dụng dựa trên nguyên lý năng lượng của laser nd YAG có tác dụng làm quang đông và bốc bay hơi tổ chức cấp thời.
+ Kỹ thuật: dùng kim chọc sống thắt lưng số 18 chọc vào nhân nhầy đĩa đệm, luồn sợi quang dẫn có laser nd YAG dưới gây tê tại chỗ và theo dõi qua màn huỳnh quang khi đúng vị trí tiến hành đốt. Khi đó nhân nhầy đĩa đệm bị co lại. Áp lực bên trong đĩa đệm giảm đi đột ngột gây co toàn bộ đĩa đệm nên sẽ hạn chế đè ép tủy, thần kinh.
+ Chỉ định và chống chỉ định như 2 phương pháp trên.
+ Ưu điểm: rất đơn giản, hiệu quả tức thì. Bệnh nhân có thể điều trị ngoại trú, có thể làm nhắc lại. Tuy nhiên không phải thể TVĐĐ nào cũng áp dụng phương pháp này được.
Ở Việt Nam hiện tại giá thành của điều trị theo phương pháp này còn đắt.
Phẫu thuật tự động qua da là phương pháp chữa thoát vị đĩa đệm mới, hiệu quả, an toàn tuyệt đối mà Bệnh viện Việt Đức vừa áp dụng thành công. Đây là đơn vị đầu tiên ở Việt Nam thực hiện phương pháp ưu việt này.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thạch, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật Cột sống, Bệnh viện Việt Đức cho biết, phẫu thuật chữa thoát vị đĩa đệm là phương pháp can thiệp tối thiểu nhất nên an toàn tuyệt đối và không để lại biến chứng.

Bác sĩ sẽ sát trùng vùng da bên ngoài, xác định trên X-quang về đĩa đệm cần điều trị rồi dùng một kim có đường kính 1,5mm chọc vào lòng đĩa đệm, hút phần đĩa đệm bị thoát vị. Việc này có tác dụng làm giảm áp lực lên đĩa đệm khiến phần thoát vị co lại.

Đĩa đệm nằm giữa các xương của cột sống. Khi đĩa đệm nào đó bị rách hoặc đứt, những chất dạng gel bên trong nó (nhân tủy) sẽ tràn ra ngoài. Hiện tượng này được gọi là thoát vị nhân tủy - hay thoát vị đĩa đệm. Những người ở độ tuổi từ 30 đến 50 là có nguy cơ bị thoát vị cao nhất do những thành phần nước và đàn hồi bên trong nhân tủy sẽ giảm đi theo tuổi.
Vì chỉ thực hiện qua da, nên phương pháp này không hề ảnh hưởng tới cấu trúc độ vững của cột sống và ít xâm lấn vào các vùng mô mềm khác, bệnh nhân có thể ra viện sau 1-3 giờ điều trị.

Tuy nhiên, theo bác sĩ Thạch, phương pháp này chỉ định khá hạn chế, áp dụng với những trường hợp bị thoát vị ở giai đoạn từ 2 đến 3 trong 4 giai đoạn bệnh thoát vị đĩa đệm, khi bệnh nhân dùng thuốc không hiệu quả nữa nhưng bệnh chưa quá nặng, bao xơ không bị rách.

Hiện đã có hàng chục bệnh nhân được áp dụng cách chữa này và đều có kết quả tốt.

Tiến sĩ Thạch cho biết, thoát vị đĩa đệm là một bệnh khá phổ biến, thường do quá trình lão hóa hay bị chấn thương. Tại Bệnh viện Việt Đức đã áp dụng nhiều phương pháp chữa bệnh này hiệu quả như thay đĩa đệm nhân tạo, điều trị bằng sóng cao tần, mổ nội soi...

Vương Linh
Theo Vnexpress
Đau lưng luôn là nỗi ám ảnh của người lớn tuổi hoặc người lao động nặng. Đau lưng có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng ngại nhất là tình trạng thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ), chủ yếu gây đau vùng thắt lưng, cản trở hầu như mọi sinh hoạt thường nhật của bệnh nhân. Điều trị TVĐĐ có nhiều phương cách. Thời gian gần đây, y học hiện đại đã mang đến cho bệnh nhân nhiều cơ hội mới.

Nguyên nhân thoát vị đĩa đệm

Đĩa đệm (ĐĐ) là chiếc gối đệm đàn hồi có dạng như một thấu kính lồi chêm vào giữa 2 đốt sống nhằm tạo sự uyển chuyển cho cột sống trong các động tác xoay, nghiêng, ưỡn, cúi… Đồng thời, ĐĐ còn là vật hộ thân giúp cột sống phân tán trọng lực và lực đè ép từ bên trên do khiêng vác vật nặng và chống rung lắc cho cơ thể. Để thực hiện được các chức năng trên, ĐĐ có một cấu tạo đặc biệt gồm nhân nhầy, bao quanh là các vòng sợi và dây chằng, TVĐĐ hình thành khi vì một lý do nào đó (lão hóa, thoái hóa, chấn thương…) các cấu trúc vòng ngoài xuất hiện “lỗ mọt” hay rách hẳn, mở đường cho nhân nhầy thoát ra chảy vào ống sống hay lỗ tiếp hợp, chèn vào búi thần kinh, gây ra hiện tượng đau thắt lưng dai dẳng. TVĐĐ hay xảy ra ở vùng thắt lưng lan xuống mông, chân, thường được gọi là đau thần kinh tọa.

Phương pháp chẩn đoán

Một thầy thuốc kinh nghiệm có thể xác định TVĐĐ qua thăm khám lâm sàng, nhưng để chẩn đoán chính xác cần nhìn qua phim X-quang hay bổ sung chụp cản quang, ghi điện cơ… Hiện nay, người ta còn sử dụng CT scan hay MRI (cộng hưởng từ) khá hiệu quả trong việc chẩn đoán.

Điều trị TVĐĐ thắt lưng

Tùy thuộc mức độ nặng – nhẹ (chủ yếu căn cứ vào lượng nhân nhầy thoát ra nhiều hay ít và mức độ chèn ép thần kinh), các thầy thuốc sẽ dành cho bệnh nhân những can thiệp vừa phải trước, sau đó tùy tình hình sẽ lựa chọn biện pháp triệt để hơn. Lần lượt gồm có:

- Kéo giãn cột sống thắt lưng bằng giường kéo:

Mục đích làm giảm áp lực đè lên các đốt sống thắt lưng mở đường cho nhân nhầy quay trở lại vị trí cũ. Giường kéo là một thiết bị chuyên dụng nhưng không phức tạp lắm, áp dụng nguyên lý đơn giản là cố định phần trên thân thể, phần dưới nối với hệ thống ròng rọc có treo quả cân nặng để duy trì lực kéo thường xuyên và từ từ. Trọng lượng quả cân sẽ tăng dần theo thời gian, đôi khi người ta dùng chính sức nặng của bệnh nhân làm lực kéo (nằm trên giường dốc xuống).

Ngoài ra, các thầy thuốc còn thêm vài trợ giúp như xông hơi thuốc, áp nhiệt, chiếu tia hồng ngoại, xung điện… nhằm mục đích giãn cơ, giảm đau. Mọi chi tiết về chỉ định, kỹ thuật, thời gian kéo sẽ được áp dụng cụ thể cho từng bệnh nhân. Những trường hợp thoát vị bán cấp hay mạn tính thường là lựa chọn của biện pháp này.

- Tiêm nội đĩa đệm:

Tác động vào chính ĐĐ với mong muốn thu nhỏ hay tiêu hẳn khối thoát vị để giảm áp lực căng phồng, giải phóng sự chèn ép của nó vào thần kinh. Biết được thành tố chính của nhân nhầy là một loại protein, nhiều chất tiêu đạm thịnh hành được mang ra dùng như chymopain (trích xuất từ một giống đu đủ), collagenase (men tiêu collagen)… Tuy có vẻ khả thi nhưng cho đến nay, nhiều thầy thuốc thường e dè biện pháp này vì những tai biến sốc phản vệ nguy hiểm. Gần đây, người ta đã tính đến việc tiêm máu tự thân của chính bệnh nhân vào ĐĐ với cùng mục đích trên nhưng có thể tránh được hiện tượng phản vệ.

- Phẫu thuật đĩa đệm:

Lựa chọn sau cùng có tính triệt để, nhất là sau khi các biện pháp bảo tồn thất bại, mở đường vào thẳng ĐĐ và lấy đi khối thoái vị.

- Laser điều trị:

Rất may là “cánh tay” ngày càng dài ra của laser đã vươn tới lĩnh vực điều trị TVĐĐ, triển khai vào thập niên 80 và ngày càng thâu tóm mọi ưu điểm mà các thầy thuốc mong muốn. Không ngoài cung cách phá hủy cấu trúc nhân nhầy giải phóng chèn ép (laser điều trị giảm áp đĩa đệm cột sống xuyên da – Percutaneous Laser Disc Decompresion – PLDD), các bác sĩ dùng kim chuyên dụng chọc vào ĐĐ và gửi theo nó một sợi quang học dẫn đường năng lượng bức xạ từ máy phát laser (loại Nd-YAR) vào khởi hoạt hiện tượng quang động làm bốc cháy và bay hơi một phần nhân nhầy.

Ít tai biến, không “động dao, động kéo” nhiều, thời gian hồi phục nhanh, PLDD thường được chỉ định trong khá nhiều trường hợp, trừ khi kèm theo thoát vị là nhiều tổn thương nặng nề khác như rách dây chằng ĐĐ, khối thoát vị quá to hay có các bất thường của cột sống liên quan… thì không còn cách nào khác là phẫu thuật để giải quyết trọn gói.

Sau cùng,  biện pháp nội khoa hỗ trợ như giảm đau, giảm cứng cơ, vật lý trị liệu… luôn được áp dụng song song. Với các cứu cánh trên cùng với sự hợp tác tích cực của bệnh nhân, đa số các trường hợp đau thắt lưng do TVĐĐ đều đạt kết quả khả quan. Vấn đề còn lại là thời gian, tổn phí nằm viện… có thể trở thành trở ngại lớn với bệnh nhân nghèo  là một trong những đối tượng mà bệnh đau thắt lưng hay “viếng thăm” nhất.

Anh Tuấn
(ĐH Y khoa Hà Nội)
Thời tiết thay đổi, khí hậu lạnh là những yếu tố ngoại cảnh tác động lớn đến các khớp trong cơ thể, nhất là khớp gối và cột sống. Biểu hiện đau là dấu hiệu dễ nhận biết nhất, khi các khớp đã bị thoái hóa thì đau càng rõ ràng hơn, gây tâm lý lo lắng và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sống của người bệnh. Tuy nhiên, nếu thực hiện những chỉ dẫn dưới đây, người bệnh vẫn có những biện pháp để loại trừ chứng đau do thoái hóa khớp.

Phương pháp điều trị thoái hóa khớp

Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động ở khớp, cần phải đi khám bệnh để các bác sĩ đánh gía tình trạng bệnh và cho các điều trị thích hợp. Việc điều trị sẽ bao gồm:

Điều trị không dùng thuốc: tăng cường các kiến thức về sức khỏe, đặc biệt sức khỏe xương khớp; vận động, tập luyện, làm việc vừa sức; ăn uống dinh dưỡng hợp lý; tránh dư cân, béo phì, tránh mang vác vật nặng, tránh tăng áp lực cho sụn khớp và đĩa đệm; phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý tại hệ thống xương khớp.

Điều trị bằng thuốc: điều trị triệu chứng đau và viêm cho người bệnh bằng thuốc giảm đau và các thuốc kháng viêm; làm chậm quá trình thoái hóa bằng các thuốc có thể cải thiện được tiến triển của bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ với nhiều thuốc hữu hiệu: glucosamine sulfate dạng tinh thể, diacerein, acid hyaluronic… Các thuốc này đều cần được điều trị đủ liều theo hướng dẫn của các thầy thuốc.

Phẫu thuật: Trong những trường hợp bệnh nặng, không đáp ứng với điều trị nội khoa cần xem xét việc điều trị ngoại khoa kết hợp: mổ nội soi để cắt xương, loại bỏ dị vật, sửa trục khớp; mổ thay khớp nhân tạo khi khớp bị mất chức năng.


Thoái hóa cột sống thắt lưng.
Các cách phòng ngừa thoái hóa khớp

Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi còn trẻ cần tập thể dục đều đặn, tránh bị dư cân, tránh những động tác quá mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống. Điểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là các biện pháp được các nhà chuyên môn khuyến cáo:

- Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp, tránh dư cân béo phì.

- Tập vận động thường xuyên và vừa sức: luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Đó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương và giảm khả năng té ngã trong sinh hoạt và lao động.

- Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng và cân bằng: Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

- Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng và tránh quá sức: khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay và khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân và nên tận dụng thêm sự hỗ trợ (của dụng cụ hay người khác).

- Giữ nhịp sống thoải mái và thường xuyên thay đổi tư thế: Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

- Điều trị tích cực các bệnh lý xương khớp mắc phải.

Biểu hiện của thoái hóa khớp

Đau:Triệu chứng sớm nhất của thoái hóa khớp là đau khi vận động, mới đầu chỉ đau khi khớp hoạt động, nghỉ sẽ hết đau; sau đó có thể đau âm ỉ, liên tục cả khi nghỉ, đau trội hơn khi vận động. Nếu thoái hóa khớp gối, người bệnh đau nhiều khi đi lại, đứng lên ngồi xuống khó khăn, nhất là lúc lên xuống thang gác hoặc đang ngồi xổm đứng lên, có khi đau quá bị khuỵu xuống đột ngột. Nếu thoái hóa cột sống thắt lưng, người bệnh bị đau âm ỉ ở vùng thắt lưng và thường đau trội lên về chiều sau một ngày làm việc phải đứng nhiều hay lao động nặng, lúc nằm nghỉ đau sẽ giảm. Khi đau, bệnh nhân làm các động tác cúi, nghiêng, ngửa hoặc xoay người rất khó khăn. Nếu thoái hóa khớp háng, người bệnh đau ở vùng bẹn, vùng trước trong đùi, có thể đau cả vùng mông lan xuống mặt sau đùi và dọc theo đường đi của thần kinh tọa.

Hạn chế vận động:Sau triệu chứng đau là tình trạng hạn chế vận động. Nếu bị thoái hóa khớp gối, các động tác gấp và duỗi thẳng chân bị hạn chế, đứng lên ngồi xuống khó khăn, có thể không ngồi được. Nếu bị thoái hóa khớp vai sẽ hạn chế các động tác đưa tay ra trước, ra sau, quay tay và không làm được một số động tác đơn giản như gãi lưng, chải đầu. Nếu bị thoái hóa khớp háng, người bệnh đi khập khiễng, giạng hay khép háng đều khó khăn, khó gập đùi vào bụng.

Tiếng kêu tại khớp:vận động khớp thường thấy tiếng lạo xạo hoặc lục khục.

Kèm theo có thể thấy đầu xương bị phì đại, lệch trục khớp, teo cơ…

PGS.TS.BS. Lê Anh Thư
(Khoa Nội cơ xương khớp - BV Chợ Rẫy)
Theo SKĐS
(ĐTĐ) - Thời tiết lạnh, ẩm khiến người mắc các bệnh xương khớp khổ sở hơn rất nhiều. Nếu biết cách vận động và giảm đau, có thể giúp làm dịu những cơn đau khớp và phòng căn bệnh này.

Bệnh có tỷ lệ tàn tật cao
Theo các bác sĩ, viêm khớp là một trong những dạng bệnh mạn tính có tỷ lệ tàn phế cao nhất và thực tế có rất nhiều người đã trở nên tàn tật vì căn bệnh này, dẫn đến giảm và mất khả năng lao động sinh hoạt, lao động hàng ngày.

Người mắc các bệnh lý về khớp nên vận động nhẹ nhàng để tránh các cơn đau cho khớp. Ảnh: minh họa - Internet

Theo ThS Võ Tường Kha, Trưởng khoa Đông y, Viện Khoa học TDTT, thời tiết từ nóng sang lạnh là lúc bệnh phát triển mạnh. Đau là triệu chứng đầu tiên của bệnh này. Lúc khởi đầu chỉ có một vài khớp bị đau, rồi từ từ nhiều khớp và có thể toàn thân bị đau nhức.
Mưa lạnh, ẩm thấp đau tăng, thường hay tái phát mỗi khi thay đổi thời tiết. Bệnh âm ỉ kéo dài, thường kèm theo các rối loạn khác như rối loạn tiêu hóa, mất ngủ, ăn uống kém…
Nguyên nhân của bệnh là do ổ khớp có rất ít mạch máu, chủ yếu hoạt động là do thẩm thấu. Vì vậy, những ổ khớp nào có nhiều mạch máu lưu thông thì ít bị đau và ngược lại. Mùa này vừa ẩm thấp, lại lạnh gây co mạch, làm máu lưu thông kém làm khớp bị loạn dưỡng và gây đau, tê cứng…
Ngoài ra, nguyên nhân gây đau khớp là do sức đề kháng và khả năng tự bảo vệ của cơ thể không đầy đủ, các yếu tố gây bệnh là Phong – Hàn - Thấp cùng phối hợp tác động xâm phạm đến kinh lạc – cơ – khớp, làm cho sự vận hành của khí huyết bị tắc nghẽn không thông gây ra sưng đau, hoặc không sưng mà chỉ đau tê mỏi nặng ở một khu vực khớp xương hoặc toàn thân.
Đặc biệt, ở người già, các chức năng hoạt động cơ thể bị suy yếu, làm cho khí huyết cũng giảm sút không nuôi dưỡng được cân mạch gây nên tình trạng thoái hóa khớp xương và gây đau.
Càng xoa bóp càng hỏng khớp
Bác sĩ Kha cho biết, nhiều người đã rất sai lầm khi thấy đau là xoa bóp, điều đó sẽ rất có hại, làm cho khớp các đau thêm. Xoa bóp có thể có ích trong một số trường hợp, với các dụng làm giảm cơn co cứng.
Tuy nhiên, không bao giờ được xoa bóp trực tiếp lên vùng khớp viêm cấp (sưng, nóng, đỏ, đau…). Khi đau có thể dùng châm cứu để giảm đau. Bởi theo y học cổ truyền, các biểu hiện bệnh lý tại khớp xương như sưng, đau, mỏi, nặng, phù, biến dạng khớp… được gọi là chứng Tý. Tý có nghĩa là sự bế tắc, không thông, tắc nghẽn khí huyết sinh ra chứng sưng, đau nhức…
Cách giảm đau và phòng ngừa
Lấy lá ngải cứu trắng rửa sạch, cho lẫn muối vào rồi nướng nóng lên, sau đó đắp vào khớp. Khi khớp bị sưng, đắp ngải cứu muối ấm sẽ làm cơn đau giảm đi, khớp bớt sưng hơn.
Hoặc mỗi ngày, tốt nhất ngâm chân một lần vào thời gian thuận lợi, ngâm từ 15 - 30 phút. Nước muối ấm và gừng cũng có tác dụng làm dịu cơn đau, phòng bệnh đau khớp cổ chân và còn giúp phòng ngừa nhiều bệnh cho toàn thân.
Do đó, khi dùng kim châm vào những huyệt ở vùng khớp bệnh và xung quanh, sẽ làm kinh mạch được khơi thông, khi huyết được điều hoà, sẽ có kết quả giảm đau. Ngoài ra, những người bệnh bị đau khớp, viêm khớp dạng thấp, thấp tim cần lưu ý không nên ra ngoài khi trời lạnh. Độ ẩm không khí cao là nguy cơ gây đau, sưng. Hãy luôn giữ ấm bàn chân để phòng bệnh một cách hiệu quả nhất
Khi bị đau, cách tốt nhất để giảm đau là làm nóng (khi người bệnh không có bệnh lý gì đặc biệt): tắm nước nóng toàn thân (áp dụng cho các trường hợp viêm nhiều khớp), tắm nóng từng phần (những người không tắm được toàn thân hay đau khớp cục bộ, tay chân…), đắp nóng hoặc chườm nóng, dùng đèn hồng ngoại…
Đối với tắm nóng, nhiệt độ nước từ 30 – 40oC, thời gian tắm từ 15 – 20 phút. Nước nóng có tác dụng giảm đau, tăng tuần hoàn ngoại vi, tạo thư giãn cơ, giảm cơn co cứng cơ và giúp người bệnh thực hiện một số cử động chủ động của khớp trong nước. Đắp nước nóng bằng túi chườm nóng cho đau ở một hoăặ 2 khớp. Thời gian đắp tối đa 20 phút. Đèn hồng ngoại đặt cách da 60 cm, thời gian chiếu tối đa 30 phút…
ThS Đỗ Sĩ Hùng, Trưởng khoa Vật lý trị liệu Trung tâm Cơ Xương khớp, bệnh viện E Hà Nội nhấn mạnh, nghỉ ngơi có tác dụng giảm đau ở người bệnh viêm khớp mạn tính và trong nhiều trường hợp có thể làm lui cơn bệnh. Đây cũng là lý do quan điểm điều trị trước đây thường xuyên người bệnh nghỉ ngơi tại giường.
Nếu khớp đau do nguyên nhân cơ học như đau dây chằng hoặc lớp sụn thì nghỉ ngơi hoặc bất động khớp đó – là cách điều trị tốt nhất. Tuy nhiên, việc nằm lâu một chỗ cũng tạo ra các nguy cơ ảnh hưởng tới chức năng vận động và gây ra những thương tật thứ cấp. Vì vậy, người bệnh vẫn có thể di chuyển nhẹ nhàng để tránh co rút khớp.
Tuy nhiên, các chuyên gia đều khuyên, nếu sau vài ngày áp dụng các biện pháp này, không thấy thuyên giảm hoặc giảm rất ít, người bệnh nên đến cơ sở y tế để khám chữa bệnh, không nên tự ý dùng thuốc để tránh những hậu quả đáng tiếc.
Nguồn Tienphong.vn
(ĐTĐ) - Biểu hiện đầu tiên của viêm khớp cổ là cổ đau cứng và chứng dính cứng khớp cổ có thể tăng nặng do tư thế ngồi trước máy tính hay các hoạt động khác (là ủi quần áo) không đúng, khiến các đĩa đệm bị ép về phía trước...

>> Khi các khớp kêu lạo xạo…
Vai
Vai không phải gánh trọng lượng vì thế nó ít bị viêm hơn cả. Tuy nhiên, ở nam giới trung niên, những người thường xuyên phải làm các công việc nâng vác, chứng bệnh hay gặp là trật khớp. Đó là vì khớp vai có mức độ dịch chuyển không lớn như hông nên các hốc cũng rất hẹp, vì thế các đầu xương có xu hướng bị trượt ra ngoài hay không còn ở đúng vị trí khi bị quá sức.

Nâng vật nặng nhiều có nguy cơ mòn và hư khớp vai
Vai cũng có nguy cơ bị căng cơ hay giãn dây chằng do bất ngờ nâng một vật nặng qua đầu hoặc ném cái gì đó.
Phòng ngừa: Sự thoái hóa của khớp vai thực tế là không chỉ ảnh hưởng riêng tới khớp. Nhiều người bị đau vai nhưng là ở các mô mềm xung quanh khớp, đó là vì chúng không được kéo căng vừa đủ. Kết quả là mỏm xương và hốc xương gần nhau quá và các xương bắt đầu chà xát vào nhau.
Dấu hiệu đầu tiên thường là rất khó tự gội đầu. Một biểu hiện thường gặp khác là cứng vai. Điều này diễn ra khi không sử dụng khớp vai thường xuyên và khiến nó bị “tê liệt”.
“Tại sao điều này lại xảy ra thì đến nay chưa rõ nhưng có thể là các mô và bao quanh khớp bị viêm và làm cho khớp vai bị “kẹt cứng”, một chuyên gia về khớp vai cho biết.
Những động tác hỗ trợ khớp vai: vươn tay qua đầu để vai được vận động. Đánh tay trong khi đi bộ cũng rất tốt.
Các nguy cơ: Chúng ta cũng nên bảo vệ vai bằng cách tránh uốn cong vai hay gập vai quá mức.
Nếu vai bị uốn cong, khớp sẽ không còn ở đúng vị trí, sẽ nhanh “xuống cấp”.
Cổ
Cổ là bộ phận có nhiều cử động và vì thế mà các khớp cổ cũng dễ bị suy yếu. Điều này có thể dẫn tới dính cứng khớp cổ, nơi các đĩa đệm giữa các các đốt sống mất đi chức năng “giảm xóc”.
Phòng ngừa: Chứng dính cứng khớp cổ có thể tăng nặng do tư thế ngồi trước máy tính hay các hoạt động khác (là ủi quần áo) không đúng, khiến các đĩa đệm bị ép về phía trước.
Theo chuyên gia phẫu thuật Steve Krikler, để phòng tránh bệnh này, đặc biệt là ở nhóm dân văn phòng, dân công nghệ, “Khi ngồi vào bàn, cần phải chú ý chiều cao giữa ghế và bàn làm việc sao cho đầu không phải cúi hay ngầng khi nhìn vào màn hình máy tính”.
Những động tác hỗ trợ khớp cổ: cúi đầu sao cho cằm hướng về phía ngực và rồi ngước mắt lên trần nhà. Làm động tác này 5 lần. Sau đó từ từ quay đầu sang 2 bên hết mức có thể trong 10 lần.
Các nguy cơ: Không cúi đầu khi làm việc với máy tính, làm vườn, là quần áo… trong 1 thời gian dài.
Mắt cá chân
Khớp mắt cá chân là chịu áp lực đầu tiên khi đi hay chạy. Mắt cá nhân cho phép bàn chân di chuyển lên xuống, trong khi khớp sên gót sau khớp dưới sên lại có nhiệm vụ giúp bàn chân di chuyển theo hướng vào trong hay ra ngoài.
Viêm mắt cá chân thường gặp ở phụ nữ bởi vì họ thường mang giày cao gót. Vấn đề này thường gặp ở 2 giới khi trong độ tuổi 35-45. Một nguyên nhân khác gây ra viêm khớp mắt cá là do những chấn thương trước đó.

Đi bộ hay chạy có lẽ không phù hợp với người có bàn chân khum hoặc phẳng

Phòng ngừa: mặc dù đi bộ là một cách luyện tập tốt nhưng những người có bàn chân khum hay phẳng thì khả năng hấp thụ áp lực khi đi bộ thường kém hơn, vì thế dây chằng dễ bị ảnh hưởng. Khi dây chằng bị yếu sẽ gây áp lực cho khớp mắt cá trong mỗi bước đi, thậm chí là ảnh hưởng tới cả hệ thống xương chân.
Khoảng 40% chúng ta bị bàn chân bẹt và cứ 10 người sẽ có 1 người mắc chứng viêm khớp do cấu tạo chân đặc biệt này.
Để giảm thiểu tất cả các vấn đề, cần mua giày có gót phù hợp để giảm áp lực lên chân. Tránh đi các loại giày dép phẳng hoặc có gót quá cao vì sẽ gây hại cho gót chân.
Các động tác hỗ trợ: Cử động chân và mắt cá khi ngồi và vận động các ngón chân lên xuống 10 lần trước khi xoay chúng theo chiều kim đồng hồ và ngược lại.
Thực hiện điều này mỗi sáng và tối.
Các nguy cơ: mang giày không phù hợp với bàn chân hoặc đi giày quá cao.
Khuỷu tay
Mặc dù khớp khuỷu tay ít bị suy yếu hơn các khớp khác nhưng nguy cơ có thể xảy ra khi nâng các vật nặng. Những vấn đề khác thường gặp là khi tay bị bẻ quặt, gây giãn dây chằng. Vấn đề này cũng thường gặp ở những người chơi tennis hay chơi golf do họ thường xuyên phải ngửa cổ tay hoặc xoay tròn cẳng tay.
Phòng ngừa: Không để tay thực hiện đi thực hiện lại một động tác trong một thời gian dài. Có thể đeo nẹp tay để chấm dứt tình trạng căng dây chằng.
Các động tác hỗ trợ: Gập rồi duỗi thẳng tay 10 lần mỗi ngày để rèn luyện dây chằng và gân tay. Nếu dùng máy tính, nên để chuột ở gần người để tránh bị căng cơ, dây chằng do với tay.
Các nguy cơ: làm vườn hay bất kỳ công việc nào mà động tác chỉ lặp đi lặp lại trong một thời gian dài.
Cổ tay và bàn tay
Tình trạng suy yếu thường gặp ở các khớp gốc ngón tay. Phụ nữ lớn tuổi dễ gặp hiện tượng này, có lẽ là do họ làm các công việc chân tay lặp đi lặp lại trong một thời gian dài.
Các động tác hỗ trợ: ngón cái dễ bị viêm nhất, đặc biệt nếu phải lặp đi lặp lại các hoạt động như đan lát, thêu thùa vì thế cần thường xuyên nắm mở tay, xoay cổ tay và gập lên gập xuống cổ tay 10 lần mỗi ngày.
Các nguy cơ: dùng ngón cái để cầm các đồ vật.
Theo DM - Dantri.com.vn
(ĐTĐ) - Số người mắc bệnh xương khớp ở Việt Nam ngày càng gia tăng, đặc biệt ở nhóm trung niên và người cao tuổi.

Theo TS.BS Trần Đắc Nghĩa, Trưởng khoa Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Saint Paul, biến chứng dễ nhận thấy nhất ở bệnh nhân bị mắc bệnh xương khớp là cứng khớp, tàn phế, không còn khả năng lao động, chịu đau đớn trong thời gian dài, gây khó khăn trong sinh hoạt… Với những bệnh nhân này, nếu được điều trị thay khớp thì có thể trả lại hoạt động sinh hoạt tương đối bình thường, trong thời hạn khoảng 10 - 30 năm (tùy theo từng loại khớp).
Tự làm bệnh nặng hơn
Theo tiến sĩ Nguyễn Vĩnh Ngọc, Khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai, vì xương khớp là nhóm bệnh gần như gắn liền với hệ thống miễn dịch của cơ thể nên bệnh nhân thường rất nhạy cảm với sự thay đổi khí hậu, thời tiết. Khí hậu ở Việt Nam dù nóng hay lạnh đều có độ ẩm khá cao so với các nước vùng ôn đới, áp suất không khí cao là những yếu tố khiến bệnh khớp trở thành căn bệnh phổ biến



Một ca phẫu thuật thay khớp tại bệnh viện. Ảnh: K.Linh.

Ngoài ra, các nguyên nhân khác như tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng cao làm tăng tỷ lệ người bị thoái hóa xương khớp (chủ yếu ở người già); các vụ tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt xảy ra nhiều; tình trạng lạm dụng rượu; bệnh nhân nhiễm HIV tăng; đối tượng phụ nữ ở các vùng nông thôn phải lao động nặng nhọc… Đặc biệt là tình trạng lạm dụng các loại thuốc chứa corticoid ngày càng phổ biến (dẫn đến giòn xương)…
Tuy nhiên, theo các bác sĩ, bệnh ngày càng nặng hơn do sự thiếu hiểu biết của người bệnh khi lạm dụng thuốc, gây ra nhiều tai biến như chảy máu và thủng dạ dày, tăng huyết áp, dễ nhiễm khuẩn, tăng đường trong máu, loãng xương, suy tuyến thượng thận (dẫn đến tử vong).
Thậm chí, nhiều bệnh nhân còn dùng thuốc nam dài ngày vì cho rằng không độc hại mà không biết rằng nhiều loại thuốc nam không đạt tiêu chuẩn, thuốc bị trộn nhiều thuốc tây có chứa corticoid khiến không ít bệnh nhân phù nề, suy giảm sức khỏe. Ngoài ra, các bác sĩ khuyến cáo, các loại thực phẩm chức năng như Luxy Samin, Glucosamine… chỉ có tác dụng hỗ trợ điều trị chứ không phải là thuốc đặc trị các bệnh về khớp.
Nên phẫu thuật thay khớp ở bệnh viện chuyên khoa
Theo TS.BS Trần Đắc Nghĩa, trong số các bệnh nhân đến điều trị viêm khớp, có một tỷ lệ không nhỏ buộc phải thay khớp (chủ yếu là khớp háng, khớp gối).
Tuy nhiên, có một thực trạng đáng lo ngại hiện nay là rất nhiều bệnh viện, kể cả các bệnh viện tuyến huyện cũng tham gia thực hiện phẫu thuật thay khớp cho bệnh nhân, trong khi trình độ chuyên môn của các bác sĩ thực hiện kỹ thuật này còn hạn chế. Trong khi, đây là một kỹ thuật chuyên khoa sâu đòi hỏi phải được đào tạo và thực hành bài bản, kỹ lưỡng. Việc điều trị không đúng chuyên môn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây biến chứng cho bệnh nhân sau mổ như nguy cơ bị nhiễm trùng, trật khớp, lỏng, tụt phương tiện… hoặc đau đớn hơn nhiều.
Khi bệnh nhân có biểu hiện như viêm, sưng nóng, đau các khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối…cần đến các cơ sở chuyên khoa khớp để được khám và điều trị đúng. Việc điều trị phải kiên trì, tuân thủ lịch tái khám do bác sĩ đưa ra. Tùy theo giai đoạn tiến triển của bệnh, bác sĩ sẽ thay đổi liều thuốc và hướng dẫn chế độ luyện tập phù hợp.
Theo Baodatviet.vn
(ĐTĐ) - Phương pháp điều trị phổ biến nhất là các loại thuốc chống viêm đơn thuầnnhư steroid, như Vaux, Celebrex và Extra. Nhưng các thuốc này có thể có tác dụng phụ gây đau đớn.

Đau khớp là cảm giác đau hoặc khó chịu ở một hoặc nhiều khớp xương của cơ thể. Khớp là hai xương gặp nhau, chẳng hạn như khớp ở hông, đầu gối, khuỷu tay, vai và mắt cá chân. Đau khớp có thể xảy ra khiến bạn khó cử động, trường hợp nghiêm trọng làm cho bạn không thể di chuyển.
Khi bị đau khớp, bệnh nhân có thể có những cảm giác như khó chịu, sưng, tăng nhiệt độ cơ thể hoặc cảm thấy nóng, đau hoặc tê cứng ở khớp.
Khớp là mối nối giữa các xương. Chúng hỗ trợ và giúp bạn di chuyển. Bất kỳ thiệt hại nào ở khớp hoặc chấn thương khớp cũng có thể cản trở sự chuyển động và gây đau nhiều.
Nguyên nhân dẫn tới đau khớp rất đa dạng, có thể là viêm khớp thoái hóa khớp dạng thấp, viêm bao hoạt dịch, bệnh gút, bong gân, căng thẳng và các thương tích khác... trong đó đau khớp là phổ biến nhất ở lứa tuổi trưởng thành.
Đau đầu gối là dễ gặp nhất, tiếp theo vai và đau hông. Đau khớp có thể ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào trên cơ thể, từ mắt cá chân tới vai.

Các triệu chứng khi bị đau khớp, viêm khớp
Nguyên nhân khác nhau của chứng đau khớp dẫn đến các triệu chứng khác nhau và mức độ nghiêm trọng cũng thay đổi tùy theo từng trường hợp.
Nếu đau khớp là do bệnh viêm nhiễm như viêm khớp hay chấn thương, các triệu chứng có thể có hoặc có thể không. Một số người có thể thấy bị đỏ hoặc sưng khớp, có thể sốt hoặc cứng xương sau một khoảng thời gian không hoạt động hoặc sau một giấc ngủ.
Nếu đau khớp là kết quả của sự rối loạn do viêm thì bệnh nhân thường chỉ có độ cứng khớp nhẹ, đau tăng lên trong khi tập luyện, và giảm đau đớn sau khi nghỉ ngơi.
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn dịch và cũng là nguyên nhân gây đau và cứng khớp. Viêm xương khớp là kết quả của sự thoái hóa ở sụn của khớp. Nó là rất phổ biến ở người trên 45 tuổi và có thể gây đau ở các khớp.
Đau khớp cũng có thể là do viêm (viêm cơ xương khớp). Cơ xương khớp là nền tảng xương, chứa đầy túi chất lỏng có tác dụng làm đệm cho xương, cho phép các cơ bắp và dây chằng di chuyển tự do hơn xương.
Điều trị chứng viêm khớp
Hàng triệu người bị các triệu chứng đau của viêm khớp và các bệnh liên quan, bao gồm viêm, đỏ, sưng đau và cứng khớp. Trong khi có hàng trăm loại khác nhau của viêm khớp, thì viêm xương khớp, viêm khớp dạng thấp và bệnh gút là ba phổ biến nhất. Cho đến gần đây, phương pháp điều trị phổ biến nhất là NSAID (thuốc giảm đau ngoại vi) hoặc thuốc chống viêm đơn thuần khác như steroid, như Vaux, Celebrex và Extra.
Tuy nhiên các loại thuốc trị đau khớp có thể có tác dụng phụ là gây đau đớn. Một trong những loại thuốc là Vaux có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ và đau tim ở bệnh nhân dùng thuốc này trong một thời gian dài.
Mặc dù các thuốc này có thể hữu ích trong điều trị triệu bệnh, nhưng bên cạnh đó vẫn có nhiều bệnh nhân đang tìm kiếm phương pháp an toàn hơn, đó là lựa chọn biện pháp thay thế mang tính tự nhiên hơn như glucosamine, chondroitin, nghệ, dầu cá… để điều trị các triệu chứng đau.
Theo Health - Nguồn Afamily.vn
(ĐTĐ) - Khoảng  0,3 - 1% dân số trưởng thành trên toàn thế giới mắc bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT), nữ có tần xuất cao gấp 2 - 3 lần so với nam và tăng theo tuổi.

Một số nghiên cứu cho thấy, sau 5 năm bị viêm khớp chỉ 40% bệnh nhân (BN) còn chức năng bình thường, 16% bị mất chức năng nghiêm trọng. Đa số nghiên cứu đều cho thấy ở BN VKDT bị viêm khớp trên 10 năm, tỷ lệ mất khả năng làm việc lên tới 40 – 60%. Tuổi thọ của những BN VKDT nặng thường bị rút ngắn khoảng 7 năm với nam và 4 năm với nữ. Nguyên nhân tử vong thường liên quan đến một số bệnh cùng mắc, như xơ vữa động mạch, nhiễm khuẩn và bệnh ác tính - TS Lê Anh Thư, Trưởng khoa Cơ Xương Khớp (BV Chợ Rẫy) cho biết tại hội thảo cập nhật các phương pháp về điều trị viêm khớp dạng thấp, ngày 1/10.

VKDT là bệnh khớp mạn tính quan trọng nhất trong các bệnh cơ xương khớp và đứng hàng thứ 2 trong các bệnh tự miễn (sau Lupus ban đỏ hệ thống), có liên quan đến di truyền, hormon, nhiễm khuẩn, môi trường và chế độ ăn uống. Triệu chứng điển hình của bệnh là sưng, đau các khớp nhỏ đối xứng ở tay và chân, đặc biệt đau nhiều về đêm hay gần sáng. Cứng khớp buổi sáng, thường kéo dài hơn 1 giờ. Các triệu chứng toàn thân như: Mệt mỏi, sụt cân, thỉnh thoảng sốt nhẹ. Hiện tượng viêm tiến triển, dẫn đến tổn thương sụn khớp, ăn mòn xương gây biến dạng khớp không hồi phục, dính khớp, mất chức năng hoạt động của khớp.
Nguồn Phunuonline.com.vn
(ĐTĐ) - Thoát vị đĩa đệm do nguyên nhân cột sống kém vận động hay vận động mạnh gây nên. Tập luyện khí công sẽ làm khung cơ thể giãn nở, tăng sức mạnh, dẻo dai bên ngoài là cân cơ xương và cũng tăng sức bền sinh học bên trong là tinh - khí - thần.

Cột sống với chức năng vận động cho phép là xoay tròn 180o, gập xuống 90 - 120o, gập sau 75o. Khi vận động, các đốt sống xoay, nâng, ép để giãn mở sẽ kích thích tủy sống, kích hoạt các rễ thần kinh từ tủy sống lan tỏa ngoại biên và làm cho nội dịch bôi trơn đĩa đệm. Tập luyện khí công sẽ làm khung cơ thể giãn nở, tăng sức mạnh, dẻo dai bên ngoài là cân cơ xương và cũng tăng sức bền sinh học bên trong là tinh - khí - thần.
Nằm, ngồi luôn thả lỏng cơ thể. Khi ngồi ý thủ khoang bụng dưới, khi nằm ý thủ vùng thắt lưng.
Nguyệt túc phan duyên: Ngồi dưới sàn, 2 chân duỗi song song. Khi hít vào 2 tay vươn lên trời hình chữ "V". Khi thở ra, mặt ép sát đầu gối, đồng thời 2 bàn tay nắm lấy chân. Khi dùng thở 2 tay nắm lại thu về bên hông. Thực hiện 9 lần.


Tập luyện khí công sẽ làm khung cơ thể giãn nở, tăng sức mạnh, dẻo dai bên ngoài là cân cơ xương
và cũng tăng sức bền sinh học bên trong là  tinh - khí - thần.

Phiên thân: Chân phải trước, chân trái sau (chân trái như chống chân xe máy), 2 tay xuôi phía trước. Khi hít vào, 2 tay mở rộng ra 2 bên, đồng thời cột sống vận động từ trước ra sau. Thực hiện 9 lần.
Thần long quyển trụ (rồng thần quấn cột): Vẫn ngồi dưới mặt sàn, 2 chân song song phía trước, 2 tay dang ngang bên vai. Khi hít vào xoay eo quay cột sống về bên trái, tay phải tiến tới vai trái (bàn tay ngửa). Mở ra xoay về tư thế ban đầu. Tiếp theo lại quay về phía bên phải theo cách thức như vậy, nhưng bàn tay đổi chiều. Thực hiện 9 lần.
Én bay: Nằm sấp trên mặt bàn, 2 chân co nổi lên mặt sàn, 2 tay song song bên thân cũng nâng nổi lên mặt sàn, người cong hình cánh cung, chỉ có bụng chạm mặt sàn. Thực hiện vận động trước sau như cần bập bênh.
Ngoài tập luyện, chế độ dinh dưỡng nên ăn các chất ăn giàu canxi như tôm, ốc, cua đồng, lươn, chạch, các thức ăn giàu đạm như thịt bò, dê, thịt bê, thịt động vật núi. Tăng cường ăn rau nhiều chất xơ. Bữa chính nên nhiều ngũ cốc như gạo, đỗ, lạc, vừng và các chất tinh dầu.
BS.VS. Nguyễn Văn Thắng - Chưởng môn phái Thăng Long Võ Đạo

Nguồn Bee.net.vn
(Dân trí) - Khi bị viêm khớp dạng thấp, người bệnh có thể mắc phải 1 số loại ung thư nhưng cũng có thể giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư khác. Lý do nằm ở các loại thuốc viêm khớp dạng thấp mà bạn đang sử dụng.


Sau đây là 8 loại ung thư thường gặp có liên quan đến chứng viêm khớp dạng thấp này:

Nhóm bệnh có nguy cơ cao

Ung thư phổi: Người hút thuốc lá có nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp cao. Tuy nhiên, mặc dù tỉ lệ bị ung thư phổi thấp hơn những người hút thuốc nhưng những người bị viêm khớp mà không hút thuốc cũng có nguy cơ bị ung thư phổi do viêm khớp dạng thấp có thể gây viêm phổi.

Vậy nên nếu đang hút thuốc, bạn nên bỏ thuốc lá ngay lập tức. Những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp mà bị các bệnh về  phổi nên tránh thuốc methotrexate hoặc leflunomide vì chúng sẽ làm phổi ngày càng yếu dần.

Ung thư da: Nghiên cứu chỉ ra rằng khối u hắc tố ác tính, một loại ung thư da nguy hiểm nhất có khả năng xuất hiện ở những người thường sử dụng chất ức chế hoại tử khối u (TNF inhibitor), do những loại thuốc này sẽ kìm hãm chức năng của hệ miễn dịch.

Một nghiên cứu vào năm 2007 tìm ra rằng những người mắc viêm khớp dạng thấp mà sử dụng các chất ức chế TNF này sẽ tăng gấp đôi nguy cơ mắc ung thư da hắc tố.

Ngoài ra, những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cũng có nguy cơ cao mắc các loại ung thư da khác có thể chữa trị được. Theo số liệu phân tích năm 2011, những người sử dụng chất ức chế TNF sẽ tăng 45% nguy cơ mắc ung thư da không hắc tố.

Ung thư tủy: Ung thư tủy là loại ung thư hiếm gặp. Theo nghiên cứu năm 2008, những bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp tăng 17% nguy cơ mắc bệnh này. Điều này được giải thích do những bệnh nhân bị chứng bệnh này trong thời gian dài sẽ sản xuất quá mức các loại protein kháng thể trong máu (gây hội chứng tăng globulin huyết).

Ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin và bệnh hodgkin: Viêm khớp dạng thấp làm tăng nguy cơ 2 loại bệnh trên. Đây là các loại ung thư tế bào miễn dịch (tế bào bạch huyết).

Nghiên cứu năm 2003 trên 76.000 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp Thụy Điển cho thấy: nguy cơ mắc ung thư hệ bạch huyết cao gấp 2-3 lần so với những người bình thường.

Theo giáo sư, bác sỹ  Hochberg, trường ĐH Y Maryland (Baltimore), điều này có thể là do hệ miễn dịch bị kích thích mãn, thường xảy ra ở những bệnh nhân bị viêm khớp nặng trong thời gian dài mà  không có sự kiểm soát kịp thời và đúng hướng.

Ung thư hệ bạch huyết liên quan đến chất ức chế TNF: Những người sử dụng Humira, một loại chất ức chế TNF điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp sẽ tăng nguy cơ phát triển ung thư hệ bạch huyết non-hodgkin hiếm gặp và nguy hiểm.

Bệnh bạch cầu: Một nghiên cứu trên khoảng 12.000 nam giới và 35.000 nữ giới cho thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh bạch cầu ở những nam giới mắc chứng viêm khớp dạng thấp cao hơn so với người bình thường. Trong khi ở phụ nữ lại không đáng kể.

Theo bác sỹ Hochberg, mối liên quan giữa bệnh bạch cầu và viêm khớp dạng thấp là khá hiếm và đây cũng là biến chứng liên quan đến các liệu pháp ức chế miễn dịch như Cytoxan và Azasan dùng để chữa trị viêm khớp dạng thấp. Methotrexate cũng làm tăng tỷ lệ mắc phải bệnh bạch cầu.

Nhóm bệnh “khó” mắc

Ung thư vú và ung thư ruột kết: Trái với những loại ung thư trên, những bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp sẽ có nguy cơ thấp mắc hai loại ung thư này.

Nghiên cứu năm 2008 ước tính những người mắc viêm khớp dạng thấp giảm 16% mắc ung thư vú và giảm 23% ung thư ruột kết.

Điều này là do nhiều bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp thường uống thuốc kháng viêm.

Ung thư tuyến tiền liệt: Việc sử dụng dài kỳ thuốc chống viêm không steroid (NSAID) có thể giảm nguy cơ tử vong ở nam giới bị viêm khớp dạng thấp mà mắc ung thư tuyến tiền liệt.

Nghiên cứu trên gần 100.000 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt Thụy Điển cho thấy, nguy cơ tử vong giảm 2% so với những người bình thường. Tỷ lệ tử vong cũng giảm đến 6 lần ở bệnh nhân có kèm viêm khớp dạng thấp.

Quách Vinh
Theo Health
Tại hội nghị thường niên Hiệp hội Các nhà khoa học dược Mỹ (AAPS) tổ chức cuối tháng 10/2011 vừa qua, nhóm nghiên cứu Benech Reseach và Pjizer của Mỹ đã công bố kết quả một nghiên cứu mang tính khả thi cao, sử dụng hạt nano để đưa thuốc chống viêm vào khoang khớp gối, tăng thời gian lưu giữ thuốc và kéo dài tác dụng của thuốc. Qua thử nghiệm cho thấy, 70% hạt nano có chứa thuốc này lưu lại trong khoang gối dài tới hơn một tuần so với một hoặc hai ngày ở liệu pháp truyền thống.

Trong kỹ thuật này, các hạt nano tích điện dương mang thuốc liên kết với tích điện âm của các phân tử tự nhiên trong khớp gối để tạo ra dạng gel. Đến lượt nó, gel lại đóng vai trò hoạt hoá giống như một kho chứa để lưu giữ thuốc. Phương pháp này khắc phục hiện tượng rửa trôi thuốc thường thấy ở các phương pháp truyền thống, làm giảm đau do ít phải tiêm, tiết kiệm chi phí và kéo dài hiệu quả trị bệnh. Theo thống kê, tại Mỹ hiện có trên 30 triệu người mắc bệnh viêm xương khớp, dự báo đến năm 2025 sẽ tăng thêm khoảng 20% nữa, vì vậy phương pháp nói trên nếu thành công sẽ mở ra triển vọng cho nhóm người mắc bệnh xương khớp.
KHẮC NAM (Theo PO/AAPS, 10/2011)
Theo SKĐS
Bệnh gắn liền với đau đớn, mất sức, tật nguyền, trầm cảm và mất việc làm. Bệnh viêm khớp dạng thấp có thể gặp ở mọi lứa tuổi và mọi giới. Bệnh xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau, diễn biến phức tạp, gây hậu quả nặng nề.

Đeo đẳng người bệnh
Tại VN, bệnh thường xảy ra ở phụ nữ với tỉ lệ nữ nhiều gấp 3 lần nam, đa số khởi phát bệnh từ 30 – 60 tuổi, bệnh thường đeo đẳng người bệnh cho đến cuối đời. Bệnh khởi phát từ từ và thường diễn biến kéo dài, tiến triển từng đợt, có xu hướng tăng dần nhưng đôi khi cũng tiến triển rất nhanh, dẫn đến tổn thương sụn khớp và đầu xương gây dính khớp, biến dạng khớp và mất chức năng vận động của khớp.
Diễn biến của bệnh rất khác nhau với từng người bệnh, thường qua hai giai đoạn. Giai đoạn đầu thường kéo dài 1 - 2 năm với biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau, hạn chế vận động các khớp do hiện tượng viêm màng hoạt dịch của khớp. Ở giai đoạn sau (giai đoạn muộn), bệnh bắt đầu xuất hiện tổn thương bào mòn ở sụn khớp và đầu xương. Các tổn thương này một khi đã xuất hiện thì không thể mất đi. Nếu không được điều trị, các tổn thương sụn khớp và đầu xương ngày càng nặng nề gây biến dạng khớp, dính khớp, cứng khớp và mất khả năng vận động của khớp.
Nguy hiểm từ tác dụng phụ của thuốc
Chú ý cứng khớp buổi sáng
Vị trí bắt đầu thường ở các khớp nhỏ ở hai bàn tay, sau đó ảnh hưởng tới các khớp khác như khớp gối, khớp cổ chân, khớp khuỷu tay, khớp vai, khớp háng... Các triệu chứng thường gặp của bệnh là cứng khớp buổi sáng (gây khó cử động các khớp vào buổi sáng lúc mới ngủ dậy, kéo dài hàng giờ), hiện tượng sưng, đỏ, nóng, đau các khớp nhỏ, đặc biệt ở bàn tay như cổ tay, bàn tay, các ngón tay, ngón chân và khớp gối, đối xứng hai bên và kèm theo các dấu hiệu toàn thân như sốt, mệt mỏi, xanh xao, gầy sút.
Bệnh viêm khớp dạng thấp rất cần được chẩn đoán sớm (trong 1 – 2 năm đầu) khi chưa có các tổn thương làm hư hỏng sụn khớp và đầu xương. Lúc này người bệnh cần được khám lâm sàng, làm các xét nghiệm chuyên biệt, chụp X-quang... để chẩn đoán bệnh. Khi các tổn thương sụn khớp và đầu xương đã nặng nề bệnh thường kèm theo các ảnh hưởng toàn thân: sốt, xanh xao, mệt mỏi, suy nhược, chán ăn, gầy sút, teo cơ... Tuy nhiên, nếu để trễ như vậy thì việc điều trị sẽ rất ít kết quả, khó lòng cứu người bệnh thoát khỏi tàn phế.
Do khó khăn về các thuốc đặc trị nên việc điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp ở nước ta (đặc biệt ở các vùng xa) còn chưa đầy đủ. Người bệnh mới chỉ được làm giảm đau, giảm sưng bằng các loại thuốc kháng viêm giảm đau mà chưa làm thay đổi diễn tiến tự nhiên bất lợi, dẫn tới hư hỏng các khớp và gây tàn phế.
Vì dùng thuốc kháng viêm giảm đau kéo dài nên nhiều người bệnh đã bị ảnh hưởng nặng nề của tác dụng phụ thuốc (viêm, loét, thủng, chảy máu dạ dày, loãng xương, tiểu đường, rối loạn nội tiết, suy thận...). Do đó, người bị viêm khớp dạng thấp cũng cần điều trị các biến chứng do thuốc điều trị và sửa chữa các di chứng dính khớp, biến dạng khớp bằng phẫu thuật chỉnh hình.
Điều trị bệnh bằng các loại thuốc chống thấp khớp có thể cải thiện bệnh viêm khớp dạng thấp. Việc lựa chọn thuốc, thời gian điều trị, liều thuốc, phối hợp thuốc, ngưng thuốc, thêm thuốc, đổi thuốc dựa trên mức độ bệnh, giai đoạn bệnh, tình trạng sức khỏe, đáp ứng điều trị và hoàn cảnh kinh tế của từng người bệnh... Ngưng thuốc tùy tiện, dùng thuốc không đều, không đủ liều, không theo dõi sát, bỏ dở điều trị... là những nguyên nhân làm giảm hoặc làm mất hiệu quả điều trị. Việc điều trị toàn diện bệnh viêm khớp dạng thấp cần được áp dụng càng sớm càng tốt vì đây là cách duy nhất để ngăn chặn ngay từ đầu các tổn thương sụn khớp và xương – nguyên nhân gây tàn phế cho người bệnh.
Ngoài ra, người bệnh cũng cần được điều trị hỗ trợ gồm tập luyện, dự phòng, phục hồi chức năng, vật lý trị liệu, thuốc y học dân tộc, châm cứu, xoa bóp...
Theo TS – BS Lê Anh Thư / Người Lao Động
(Khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Chợ Rẫy

Ngừa loãng xương

2011/11/23    10:37    {entryviewsnum}    Xương khớp Ko chỉ định
Để nhận biết bị loãng xương, cần lưu ý khi gặp một số triệu chứng như: Đau lưng và ít phổ biến hơn là đau ngực, hông, cổ tay và vùng xương chậu; Hụt chiều cao (do cột sống bị dồn nén lại); Dễ bị gãy xương mặc dù chỉ bị té nhẹ.

Cách điều trị loãng xương tốt nhất vẫn là phương pháp phòng ngừa, đó là:
- Ăn nhiều thực phẩm giàu can-xi, nên cân nhắc uống các viên bổ sung can-xi.
- Tránh lối sống thụ động. Tập thể dục hoặc đi bộ thường xuyên.
- Hạn chế các loại nước uống có thể lấy can-xi ra khỏi xương. Giảm nước uống có cồn xuống còn một ly mỗi ngày nếu bạn là phụ nữ và hai ly đối với nam giới. Không dùng quá 2 tách cà phê mỗi ngày.
- Nếu bạn hút thuốc lá thì hãy bỏ ngay.
- Tạo một số sự thay đổi tại nhà và văn phòng làm việc của bạn để ngừa nguy cơ té ngã như đóng thảm vào sàn nhà, lắp đặt tay vịn ở những nơi cần thiết…
(Theo TTO/Reader’s Digest)
Người cao tuổi hay bị các bệnh xương khớp như hở sụn, loãng xương, thoái hóa khớp, viêm khớp... gây đau đớn làm hạn chế vận động và trở ngại sinh hoạt.


Tốt nhất là đi bộ và đi xe đạp tại chỗ, có tác dụng thư giãn khớp
Bệnh nhân có thể tập vài động tác như xoa bóp huyệt thận du, động tác này có tác dụng bổ thận giãn gân cơ. Đứng thẳng, úp hai bàn tay vào vùng thắt lưng, xát lên xuống 20 lần tới khi nóng lên rồi đặt hai bàn tay vào vùng hông, ngón cái hướng ra sau bấm nhẹ vào huyệt thận du (huyệt nằm cách khe giữa đốt sống thắt lưng 2 và 3 hai bên khoảng 2cm) day huyệt khoảng 20 lần theo chiều kim đồng hồ rồi day ngược lại.

Khi bị thoái hóa khớp gối thì có thể xoa nhẹ phần đùi trên khớp và phần cẳng chân dưới khớp khi ngồi và khi nằm giúp tăng cường tuần hoàn đến khớp, mỗi lần khoảng 15 phút, ngày 2 lần sáng tối.

Ngoài ra, bạn nên lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp với tình trạng sức khỏe bản thân, tốt nhất là đi bộ và đi xe đạp tại chỗ, nó có tác dụng thư giãn khớp, tránh tình trạng để cho các khớp bị ì ít hoạt động mà không cần vận động quá sức.

PGS.TS Phạm Thúc Hạnh
(Học viện Y dược học Cổ truyền Việt Nam)
Theo Bee
10 nguyên tắc vàng để xương sống khỏe!
(Dân trí) - Vóc dáng của chúng ta, đặc biệt là dân văn phòng, bị mất cân đối, dễ dẫn đến các bệnh về xương khớp, chủ yếu do 2 nguyên nhân chính sau: Do chúng ta vận động sai tư thế, gây ảnh hưởng lên xương sống.


Để khắc phục điều này, cần tuân thủ tuyệt đối các nguyên tắc vàng sau đây:

1. Sau khi đi làm về bạn nhất định phải nằm nghỉ khoảng 15 phút. Điều này sẽ giúp cho các cơ bắp của bạn được thả lỏng sau khi đã vận động cả ngày. Điều này đồng nghĩa với việc bạn tuyệt đối không được ngay lập làm việc nhà.

2. Bạn nên duy trì việc đi bơi khoảng 1-2 lần trong tuần để giữ gìn cơ bắp được săn chắc và các lưu thông của mạnh máu.

3. Bạn tuyệt đối không được còng lưng! Hãy tập trung thường xuyên tăng cường vận động cho xương sống thẳng và các cơ bắp của vùng thắt lưng.

4. Ngoài các thời gian ngủ nghỉ bạn nên để cơ bắp được vận động.

5. Không được ngồi “ì một chỗ”, hãy thay đổi tư thế khoảng 10 phút một lần.

6. Chỉ được cúi nhặt những đồ vật mềm, nhẹ và chỉ được ngồi xổm

7. Tránh các vận động mạnh, đặc biệt các tư thế xoay đầu.

8. Đối với phụ nữ: Không đi giày gót nhọn hoặc đế bằng nhưng cao hàng ngày. Những đôi giày như thế chỉ lên đi một vài lần trong tuần. Phương án tối ưu để cho việc này là: Gót giày cao không quá 5cm, có đường kích trung bình, thoải mái, không dùng giày có mũi thon và hẹp và không có các đai mảnh siết nhẹ.

9. Bạn nên duy trì việc đi bộ khoảng nửa tiếng mỗi ngày.

10. Không được xách đồ nặng bằng một tay, bạn cần phải phân chia trọng lượng cân bằng.

Minh Đỗ
Theo kp.ru
Thoái hóa xương sụn thiếu niên là một nhóm bệnh hay gặp ở trẻ em đang tuổi phát triển nhưng chưa rõ nguyên nhân. Người ta cho rằng có thể yếu tố vi chấn thương lặp đi lặp lại là nguyên nhân khởi phát bệnh. Từ đó dẫn đến sự giảm hay mất máu nuôi dưỡng tới vị trí trung tâm cốt hóa ở đầu xương của một số xương, gây tổn thương trung tâm cốt hóa, hoại tử tại chỗ, mọc xương tân tạo, hậu quả là xương phát triển không bình thường.

Biểu hiện bệnh thường khó nhận biết

Nhìn chung bệnh có tiến triển âm ỉ, đau ít tại vị trí xương bị tổn thương. Một số bệnh như bệnh Kienbock có thể có biểu hiện sưng đau ở vùng cổ tay, chỗ vị trí xương nguyệt, hoặc bệnh Legg-Perthes-Calve đau nhiều, hạn chế vận động tại vùng khớp háng, đi lại khó khăn hoặc bệnh Scheuermann có biểu hiện đau nhiều kèm biến dạng gù cột sống. Bệnh viêm xương sụn bóc tách là do một số mảnh xương hay sụn tự tách rời ra khỏi xương, rơi vào trong khớp gây ra các triệu chứng như “tiếng kêu chuột khớp” do chúng di chuyển ở trong khớp, dấu hiệu kẹt khớp, đau hạn chế vận động khớp.

Điều trị bao gồm thuốc điều trị triệu chứng, phục hồi chức năng, sử dụng nẹp cố định, nghỉ ngơi tránh làm việc nặng và phẫu thuật chỉnh sửa khi cần thiết.

Nhìn chung kết quả điều trị rất thay đổi, phụ thuộc vào vị trí tổn thương, phát hiện bệnh sớm hay muộn. Đa số các các trường hợp mắc bệnh Sever hay bệnh Freiberg tự khỏi, không đau, xương không biến dạng. Ngược lại bệnh Legg-Perthes-Calve hay gây đau nhiều, để lại di chứng nặng nề, thường cần phải thay chỏm xương đùi.


Một số bệnh trong nhóm thường gặp và phương pháp điều trị

Thoái hóa xương sụn cột sống là một bệnh gây biến dạng cột sống ngực hoặc cột sống thắt lưng, hay gặp ở trẻ em. Lâm sàng bao gồm triệu chứng đau âm ỉ tại khu vực tổn thương, cảm giác tức nặng, thường cách quãng không liên tục và liên quan đến hoạt động thể lực, giảm khi nghỉ ngơi. Khám bệnh nhân thấy gù cột sống, có thể có vẹo gây giảm, hạn chế vận động rõ. Co cơ cạnh cột sống, đặc biệt ở ngay trên và dưới vị trí gù. Các triệu chứng thần kinh do chèn ép hiếm khi gặp.

Điều trị bao gồm bảo tồn nội khoa và chỉnh hình ngoại khoa. Điều trị nội khoa phục hồi chức năng, dùng thuốc giảm đau, nghỉ ngơi, tránh công việc mang vác nặng. Khi gù nặng hơn, cần mặc áo nẹp cột sống giữ cho lưng thẳng kèm các biện pháp phục hồi chức năng cột sống kết hợp thư giãn nghỉ ngơi, nằm trên giường cứng.

Điều trị phẫu thuật ít khi chỉ định trong bệnh Scheuermann, chủ yếu khi đau nhiều không đáp ứng với điều trị bảo tồn nội khoa và gù gây mất thẩm mỹ. Nhìn chung, điều trị cần căn cứ vào tuổi tác, mức độ biến dạng cột sống, mức độ đau và đánh giá hiệu quả chức năng đạt được sau mỗi giai đoạn.


Bệnh dẹt chỏm xương đùi còn gọi là bệnh Legg-Perthes-Calve: do tổn thương ở đĩa sụn phát triển ở đầu xương, gần chỏm xương đùi. Bệnh hay gặp ở tuổi từ 3-12, hay gặp ở nam giới hơn (gấp 4-5 lần nữ). Tổn thương thường ở một bên, có thể gặp ở hai bên (15-20% trường hợp).

Triệu chứng đau tự nhiên ở khớp háng, gối hoặc vùng đùi, đi lại khập khiễng. Khám thấy hạn chế vận động khớp háng, đặc biệt động tác xoay trong hay dạng, có thể teo cơ nếu ở giai đoạn muộn. Chân tổn thương thường ngắn hơn chân lành. Xét nghiệm máu thường không phát hiện gì đặc biệt. Chụp Xquang khớp háng, đặc biệt ở tư thế dạng chân (chân ếch) có giá trị chẩn đoán: chỏm xương đùi bên tổn thương nhỏ hơn bên lành, có thể dẹt hẳn chỏm; có xơ hóa và hình ảnh giảm thấu quang ở vùng tổn thương dưới sụn; có thể có các nang xương nhỏ ở vùng cổ xương đùi.

Thường chia 5 giai đoạn tổn thương trên Xquang và tiến triển bệnh: giai đoạn ngừng phát triển của đầu xương, biểu hiện bên tổn thương chỏm xương đùi nhỏ hơn, khe khớp rộng hơn; giai đoạn gẫy xương dưới sụn: hình vạch tăng thấu quang ở vùng cổ nối với chỏm; tiêu xương; thoái hóa thứ phát với mọc xương tân tạo; giai đoạn ổn định. Việc điều trị bao gồm nghỉ ngơi hợp lý, tránh vận động mạnh, tập phục hồi chức năng, nẹp khớp háng khi cần để tránh trật khớp khỏi ổ cối.

Thuốc điều trị triệu chứng giảm đau, giãn cơ. Phẫu thuật chỉnh sửa những biến dạng nhiều ở chỏm xương, khi cần có thể xét thay khớp háng (thường khi trẻ đến tuổi trưởng thành). Nhìn chung tuổi khởi phát bệnh càng nhỏ tiên lượng càng tốt, khởi phát sau tuổi lên 10 thì trẻ dễ bị thoái hóa khớp háng thứ phát.
ThS. Bùi Hải Bình(Khoa Cơ Xương Khớp - Bệnh viện Bạch Mai)
Theo SKĐS
Gai xương, vôi hóa cột sống là một biểu hiện của thoái hóa cột sống thắt lưng. Xin cung cấp một số kiến thức cơ bản về bệnh này.

Tại sao có hiện tượng thoái hóa cột sống?


Xương cột sống qua máy chụp X-quang
(Ảnh: nieukhoa)

Thoái hóa cột sống thắt lưng chỉ là một biểu hiện của bệnh thoái hóa khớp. Thoái hóa khớp là một bệnh mạn tính, đặc trưng bởi tổn thương thoái hóa tiến triển của sụn khớp và đĩa đệm gây đau, biến dạng khớp, nhưng hiếm khi có biểu hiện viêm kèm theo. Bệnh này còn được đặt các tên khác như viêm xương khớp, thấp khớp thoái hóa hay hư xương khớp. Bệnh gặp ở những người cao tuổi và tỷ lệ mắc bệnh tăng dần theo tuổi tác.

Nguyên nhân chính là do tế bào sụn bị lão hóa, làm giảm tổng hợp các thành phần của sụn. Các yếu tố cơ học như sang chấn, béo phì cũng gây áp lực quá tải và kéo dài lên sụn khớp và đĩa đệm liên đốt sống. Ngoài ra, các dị tật bẩm sinh cũng tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh xuất hiện. Bình thường, sụn khớp được cấu tạo chủ yếu bởi nước, collagen và proteoglycan. Khi sụn của đĩa đệm bị thoái hóa, tế bào sụn bị mất hoặc giảm chức năng khiến cho quá trình tái tạo sụn bị rối loạn, làm lực phân bố trên thân đốt sống không đều, khiến cho xương mâm đốt sống phải tăng chịu tải, kết quả là hình thành các gai xương ở rìa ngoài thân đốt sống. Gai xương có hình thô và đậm đặc.

Điều đặc biệt là phì đại xương, dẫn đến tạo thành các gai xương có thể xuất hiện ngay từ giai đoạn sớm của bệnh, thường kèm theo các thay đổi cấu trúc khớp khác như mòn sụn, giảm chiều cao đĩa đệm liên đốt sống và dày xương dưới sụn. Các thay đổi cấu trúc này có thể nhìn thấy rất rõ trên phim chụp Xquang cột sống thắt lưng thẳng và nghiêng. Theo nghiên cứu của Framingham ở Mỹ, tỷ lệ thoái hóa khớp có triệu chứng lâm sàng là 6% ở người trên 30 tuổi. Những biểu hiện trên Xquang còn cao hơn nhiều (20-30%) ở những người trong độ tuổi từ 55-65.
Đặc điểm lâm sàng của thoái hóa cột sống thắt lưng

Có ba thể lâm sàng chính là đau lưng cấp, đau lưng mạn tính và đau thần kinh tọa.

Đau lưng cấp

Thường gặp ở lứa tuổi 30-40. Đau xuất hiện sau một động tác mạnh, quá mức, đột ngột, trái tư thế. Đau tăng khi hắt hơi, rặn, thay đổi tư thế, đặc biệt là khi có phồng đĩa đệm gây chèn ép dây thần kinh tọa hoặc gây ép rễ thần kinh.

Đau lưng mạn

Hay gặp ở người trên 40 tuổi. Đau âm ỉ, đau dọc xuống chân và đùi, đau tăng khi vận động, thay đổi thời tiết. Đặc biệt là đau gây hạn chế vận động (khó quay, cúi...). Chụp Xquang cột sống thường thấy dấu hiệu mọc gai xương đốt sống, xơ xương dưới sụn, có các ổ khuyết xương dưới sụn.

Đau thần kinh tọa

Thường bệnh nhân đã có tiền sử đau thắt lưng mạn tính. Khi bệnh nhân vận động đột ngột hay bê, mang vác vật nặng thì xuất hiện dấu hiệu ép thần kinh. Để chẩn đoán, bệnh nhân cần phải chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ cột sống thắt lưng.

Điều trị thoái hóa cột sống thắt lưng: Không có thuốc chữa quá trình thoái hóa khớp. Cần tiến hành điều trị khi có triệu chứng. Đầu tiên, trong các đợt cấp của bệnh cần phải sử dụng các thuốc giảm đau chống viêm không steroid, phối hợp với các thuốc giảm đau đơn thuần, thuốc giãn cơ. Thuốc giảm đau chống viêm không steroid là nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất. Trước đây người ta thường sử dụng các thuốc chống viêm không steroid kinh điển như aspirin, diclofenac. Tuy nhiên các thuốc này có tác dụng kích ứng niêm mạc dạ dày, gây viêm loét, thủng dạ dày, xuất huyết tiêu hóa. Hiện nay thực tế nghiên cứu và áp dụng lâm sàng đã chứng minh rằng các thuốc chống viêm không steroid ức chế chọn lọc trên men COX-2 là thuốc có tính an toàn nhất trong điều trị.

Người ta còn dùng các thuốc làm chậm quá trình thoái hóa, thậm chí có thể cải thiện được cấu trúc khớp bị thoái hóa. Cũng có thể tăng cường dinh dưỡng sụn bằng cao động vật, thuốc nội tiết... Ngoài ra cần áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như xoa bóp, sử dụng vật lý trị liệu bằng nhiệt, bằng nước...

Phòng bệnh

Để phòng bệnh có hiệu quả, trước tiên cần phát hiện sớm các dị tật của xương, khớp, cột sống để điều trị kịp thời. Những người béo phì cần có chế độ ăn hợp lý để giảm cân. Cần tập thể dục thể thao ở mức độ sức khỏe cho phép. Trong lao động và sinh hoạt cần tránh những tư thế xấu, cũng như các động tác quá mạnh, đột ngột. Kiểm tra sức khỏe định kỳ những người lao động nặng.

TS. BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc

Theo Sức khỏe đời sống, Nhân dân
PGS. TS. BS Võ Văn Thành , trưởng khoa cột sống A Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP.HCM, cho biết: Chúng ta cần phân biệt thoái hóa cột sống ở cổ, lưng hay thắt lưng. Ở ba vùng bệnh, tính chất khác nhau. Lưu ý là ở những vùng nào có đĩa đệm (cổ, lưng, thắt lưng) mới có vấn đề thoái hóa cột sống, còn ở vùng xương thiêng (từ dưới thắt lưng xuống - dính thành khối, không đĩa đệm), xương cụt không có thoái hóa cột sống.
* Nguyên nhân chính của bệnh từ đâu?



- Hiện nay chúng ta chưa có một thống kê chính xác để nói về tỉ lệ mắc bệnh thoái hóa cột sống, tuy nhiên đây là một bệnh lý cột sống rất phổ biến, chiếm khoảng trên 60% bệnh lý chỉnh hình cột sống. Thường sau tuổi 40 trở đi, càng lớn tuổi bệnh càng xảy ra nhiều hơn, có những người thoát vị đĩa đệm ở tuổi 30-40,thoái hóa thân đốt sống ở tuổi 50-60. Nguyên nhân chính là do sự lão hóa.

Có thể có những tác động, yếu tố khác nhau khiến bệnh lý phát triển sớm hoặc muộn, như lao động nặng nhọc quá mức lúc còn trẻ, hoặc sự thiếu vận động, không huấn luyện cơ bắp (cơ bụng, cơ thắt lưng) để chịu lực, các tư thế sai của cổ, lưng, thắt lưng trong sinh hoạt hằng ngày làm phát triển nhanh tiến trình lão hóa.


PGS. TS. BS Võ Văn Thành * Làm việc văn phòng ngồi nhiều có dễ mắc bệnh?
- Những người lao động văn phòng nên ngồi tư thế đúng, phải có lưng ghế tựa và hơi nhô ra ngay thắt lưng, ngồi đầu gối hơi cao hơn háng một chút là tốt. Sau 45 phút đến một giờ cần làm những động tác thể dục nhẹ nhàng.

Người lái xe đường dài sau khoảng hai giờ phải nghỉ ngơi 10-15 phút để tập cơ cổ, cơ lưng thì làm việc mới lâu bền được.

Những người buôn gánh bán bưng, khuân vác phải thận trọng, không làm việc quá mức. Có những thanh niên ỷ sức khuân vác 50-70kg là không hợp lý, chưa kể tư thế không đúng, những yếu tố rủi ro làm nặng thêm tiến trình lão hóa. Làm nặng sai tư thế cũng thúc đẩy tiến trình thoái hóa cột sống, thoái hóa đĩa đệm tăng lên.

Tóm lại, phải phòng ngừa bằng cách biết tư thế đúng khi làm việc nặng và làm việc thời gian dài. Tuy giữa lý thuyết và thực hiện trên thực tế có khoảng cách, nhưng chúng ta cần biết để tránh những động tác sai.

* Thưa bác sĩ, đối với học sinh làm thế nào để có được tư thế đúng với bàn ghế hiện nay?

- Phải có những kiểu mẫu bàn ghế phù hợp từng lứa tuổi khác nhau. Trẻ cao lớn mà ngồi bàn quá thấp sẽ bị vẹo cột sống, ngược lại bé thấp mà bàn quá cao, phải niểng cổ dẫn đến các tư thế cổ sai.

* Bác sĩ có thể giới thiệu một số sai lầm trong chẩn đoán?

- Nhiều người khi đi khám bệnh cầm theo phim X-quang và cho rằng bị gai cột sống nên gây đau. Đây là một sai lầm trong chẩn đoán. Những biểu hiện gai cột sống chỉ là một trong các triệu chứng nghĩ đến thoái hóa cột sống giai đoạn sớm, nhưng gai cột sống không phải là nguyên nhân chủ yếu gây ra đau trong giai đoạn này.

Vấn đề chính là phải chẩn đoán cho được có hay không có thoái hóa cột sống. Cần phải chẩn đoán rõ ràng các loại bệnh lý thoái hóa khác nhau (thoái thân đốt sống, thoái hóa đĩa đệm, thoái hóa khối mấu khớp...), tầng bệnh khác nhau (cổ, lưng, thắt lưng).

* Nhiều người nghe quảng cáo và chi hàng chục triệu đồng để điều trị thoái hóa cột sống với phương pháp mới - giảm áp bằng laser. Đây có phải là phương pháp tối ưu?

- Hầu như phương pháp giảm áp bằng laser không nên áp dụng cho các bệnh lý thoái hóa cột sống. Một số ít trường hợp thoát vị đĩa đệm nhẹ, chưa phá rách dây chằng dọc sau, có thể được áp dụng một cách thận trọng phương pháp này. Các trường hợp thoát vị đĩa đệm nặng gây đau thần kinh tọa, có biểu hiện trên hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) sự xé rách dây chằng dọc sau hay khối thoát vị lọt vào ống sống thì chỉ định phẫu thuật ít xâm nhập là phù hợp nhất.

* Có khi nào bị thoái hóa cột sống mà bác sĩ chẩn đoán nhầm đau dây thần kinh tọa, uống thuốc thời gian dài không khỏi ?

- Đau thần kinh tọa chỉ là một triệu chứng của nhiều nhóm bệnh khác nhau: thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống, hẹp ống sống thắt lưng, viêm rễ thần kinh tọa hay do bướu chèn ép vùng thắt lưng... Vì vậy phải chẩn đoán chính xác. Nếu chẩn đoán ra nguyên nhân, cần phẫu thuật thì phải tiến hành phẫu thuật mới giải quyết vấn đề được.

Còn nếu là dạng mãn tính (bệnh lý thoái hóa khối mấu khớp, bệnh lý hẹp ống sống thắt lưng, bệnh lý thoái hóa thân đốt sống, lồi đĩa đệm...) mới dùng thuốc lâu dài trước khi quyết định phẫu thuật.

* Nếu đến một cơ sở y tế, bác sĩ cho chụp MRI ngay để chẩn đoán, có hợp lý không ?

- Với sự thăm khám lâm sàng cẩn thận và hình ảnh X-quang thường qui rõ (nếu được, nên chụp X-quang thường qui kỹ thuật số) đã đủ hướng đến chẩn đoán chính xác có hay không có thoái hóa cột sống để bắt đầu hướng dẫn điều trị bảo tồn trong đa số trường hợp.

Chỉ khi nào bệnh nhân có các triệu chứng biểu hiện bệnh lý rễ thần kinh, bệnh lý tủy cổ hay lưng mới nên chụp MRI để quyết định hướng điều trị phẫu thuật. Không nên cho chỉ định chụp ngay MRI mà không qua X-quang thường qui nếu không thấy các triệu chứng bệnh lý nặng.

* Xin cảm ơn bác sĩ.

KIM SƠN

Việt Báo (Theo_TuoiTre)
Thoái hóa cột sống thắt lưng là một bệnh rất phổ biến. Bệnh này không nguy hiểm, không gây chết người, nhưng có tính chất dai dẳng gây cho bệnh nhân cảm giác đau đớn khó chịu, người bệnh bị hạn chế vận động vùng thắt lưng, gây giảm sức khỏe, giảm khả năng học tập, lao động và sản xuất.

1. Những biểu hiện của bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng:

Phần lớn bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng là do những tổn thương của đĩa đệm gây nên. Tùy thuộc vào mức độ hư đĩa đệm mà có các biểu hiện như:

- Đau lưng xuất hiện đột ngột sau chấn thương, vận động quá mức, hoặc sau khi bị mắc mưa, bị lạnh.

- Đau ở phần cột sống thắt lưng, đau nhiều nên cúi không được, ngồi xuống không đứng lên ngay được.

- Đau dữ dội, hoặc âm ỉ làm hạn chế vận động, đứng vẹo qua một bên.

- Đau tăng xuất hiện khi vận động, thay đổi thời tiết, ho hay trở mình cũng đau. Thường xuất hiện từng đợt kéo dài rồi giảm và hết, sau đó lại xuất hiện đợt khác sau khi vận động nhiều ở khớp và quanh khớp, kết hợp với tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của cột sống.

- Kèm theo co cứng cơ cạnh cột sống.

2. Nguyên nhân dẫn đến thoái hóa cột sống thắt lưng:

- Sự lão hóa: là nguyên nhân chính, theo quy luật tự nhiên các tế bào sụn cột sống với thời gian tích tuổi lâu dần sẽ già, khả năng sinh sản và tái tạo sụn sẽ giảm dần và hết hẳn, chất lượng sụn kém dần, tính đàn hồi và chịu lực giảm. Bệnh thường xuất hiện muộn, thường ở người trên 60 tuổi, tiến triển chậm, tăng dần theo tuổi, mức độ không nặng.

- Yếu tố cơ giới: là yếu tố thúc đẩy sự thoái hóa nhanh, thể hiện ở sự tăng bất thường lực nén trên một diện tích của mặt đĩa đệm cột sống, là yếu tố chủ yếu trong thoái hóa cột sống thứ phát, gồm:

+ Các dị dạng bẩm sinh làm gù vẹo cột sống, làm thay đổi diện tích tỳ nén bình thường của cột sống.

+ Các biến dạng sau chấn thương, viêm, u làm thay đổi hình thái, tương quan của cột sống.

+ Sự tăng trọng tải: tăng cân quá mức do béo phì, do nghề nghiệp.

- Các yếu tố khác:

+ Di truyền: cơ địa già sớm.

+ Nội tiết: mãn kinh, tiểu đường, loãng xương, dùng thuốc corticoid.

+ Chuyển hóa: bệnh Goutte.

3. Điều trị và phòng ngừa:

Không có thuốc điều trị quá trình thoái hóa, chỉ có thể điều trị triệu chứng, phục hồi chức năng và phòng bệnh bằng cách ngăn ngừa và hạn chế các tác động cơ giới quá mức lên cột sống.

Dùng thuốc giảm đau và chống viêm không steroid (chỉ sử dụng khi thật cần thiết), phải tuân thủ theo y lệnh điều trị của bác sĩ.

* Một số phương pháp giúp làm giảm đau tại nhà:

- Chườm ấm vùng đau bằng muối rang nóng hoặc bó thuốc (gồm: lá ngải cứu, lá ngũ trảo, lá lốt, gừng tươi giã nát xào với rượu) 1 - 2 lần/ngày.

- Xoa bóp đơn giản, tập vận động nhẹ nhàng vùng cột sống thắt lưng.

- Nằm nghỉ tại giường khi đau nhiều, nằm ngửa trên ván cứng, hai chân duỗi thẳng đầu kê gối thấp.

- Dùng gậy, nạng khi đi lại nhằm mục đích làm giảm áp lực đè nặng lên bề mặt khớp.

* Phòng ngừa:

- Chống các tư thế xấu trong lao động và sinh hoạt.

- Tránh các động tác quá mạnh, đột ngột và sai tư thế khi mang, vác, đẩy, xách, nâng...

- Chống béo phì bằng chế độ dinh dưỡng thích hợp.

- Kiểm tra sức khỏe định kỳ những người làm lao động nặng dễ bị thoái hóa khớp để phát hiện và điều trị sớm.

- Chế độ ăn: trái cây, rau quả nhiều dinh dưỡng, giàu calci như: tôm, cua, cá biển...

BS. Bùi Ngọc Truyền
(Phó giám đốc Bệnh viện y dược cổ truyền Đồng Nai)
Theo Báo Đồng Nai
BS. CK2. Nguyễn Đức Lê

Ước tính hơn 80% những người độ tuổi trung niên trở lên thường bị đau vùng thắt lưng (TL) do thoái hóa cột sống TL. Dưới đây là những điều cơ bản về vùng TL và một số biện pháp tập luyện để điều trị và phòng ngừa chứng đau này.


Kéo dãn cột sống thắt lưng.

Kéo dãn cột sống thắt lưng.
Cơ thể học vùng TL

Cột sống của cơ thể con người gồm 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực, 5 đốt sống TL, 5 đốt sống cùng - cụt dính lại với nhau, giữa hai đốt sống có một đĩa đệm. Các đốt sống nối lại với nhau bằng 4 dây chằng: dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây chằng vàng và dây chằng liên gai sống. Điểm đặc biệt của dây chằng dọc sau là có chứa nhiều thụ thể thần kinh cảm giác nên khi chạm vào đấy dễ gây đau. Bên trong đốt sống có ống sống chứa tủy sống. Tủy sống chứa nhiều điểm xuất phát của rễ thần kinh vận động và cảm giác. Đây là nơi dẫn truyền thông tin giữa não và các cơ quan trong cơ thể. Do đó, khi bị chấn thương vùng cột sống, ngoài nguy cơ ảnh hưởng đến sự chuyển động và khả năng chống đỡ trọng lượng cơ thể, còn có thể gây ra đau hay mất cảm giác hoặc liệt ở phần cơ thể tương ứng.

Nguyên nhân đau vùng TL

Một trong những nguyên nhân đau vùng TL thường gặp nhất là do thoái hóa cột sống TL, bệnh không những gặp ở người cao tuổi mà còn gặp ở người độ tuổi trung niên. Vùng cột sống TL là vùng gánh chịu sức nặng của trọng lượng cơ thể, lại là vùng bản lề cho các động tác hoạt động của cột sống và toàn thân, nên sự thoái hóa cũng diễn ra sớm hơn so với vùng xương khớp khác. Khi đó, các dâychằng, đĩa đệm cột sống giảm đi tính đàn hồi vốn có, vận động sẽ bị giới hạn, cơ vùng TL co cứng dẫn tới tình trạng đau kéo dài, ê ẩm ngang lưng, khi vận động mạnh quá mức có thể có những đợt đau cấp tính. Tình trạng này còn có thể gặp ở những người có liên quan đến nghề nghiệp, tư thế ảnh hưởng nhiều đến cột sống như đứng lâu, ngồi lâu một tư thế, công nhân bốc vác, lái xe, vận động viên cử tạ… gây nên tình trạng thoái hóa thứ phát.

Biện pháp tập luyện

Ngoài việc điều trị bằng thuốc trong bệnh thoái hóa cột sống TL, thực hiện các biện pháp tập luyện cũng góp phần rất thiết thực, phối hợp với công tác điều trị và phòng ngừa bệnh tái phát. Sau đây xin giới thiệu 10 động tác tập luyện, cụ thể như sau:


Động tác 1: xoa bóp huyệt thận du. Đứng thẳng, úp hai bàn tay vào vùng TL, sát lên xuống 20 lần tới khi nóng lên rồi đặt hai bàn tay vào vùng hông, ngón cái hướng ra sau bấm nhẹ vào huyệt thận du (huyệt nằm cách khe giữa đốt sống thắt lưng 2 và 3 hai bên khoảng 2cm) day huyệt khoảng 20 lần theo chiều kim đồng hồ rồi day ngược lại. Động tác này có tác dụng bổ thận giãn gân cơ.

Động tác 2: nằm ngửa trên giường, hai chân duỗi thẳng, hai tay ôm gối, co gấp gối phải vào ngực hết cỡ, giữ vài giây rồi duỗi ra. Đổi chân làm tương tự, mỗi chân làm khoảng 20 lần.

Động tác 3: nằm ngửa thẳng 2 chân, nâng từ từ chân phải lên hết mức tới khi chân vuông góc với mặt giường. Giữ ở tư thế này vài giây hạ chân xuống, làm tương tự với chân trái. Mỗi chân làm như vậy 20 lần.

Động tác 4: tư thế như động tác 3, nâng thẳng cả hai chân hết mức có thể, giữ ở tư thế đó rồi dạng ra, khép vào 3 - 5 lần, hạ chân xuống. Làm như vậy 10-15 lần. 3 động tác trên có tác dụng làm khỏe khối cơ lưng. Động tác 5: nằm ngửa, hai tay đặt hờ vào đùi, uốn cong người ngồi dậy, tay không bám chặt vào đùi. Rồi từ từ ngồi xuống. Làm khoảng 15 lần.

Động tác 6: nằm ngửa, tay xuôi, tỳ xuống mặt giường, hai chân co. Đẩy hai chân ưỡn bụng lên phía trên, nâng mông khỏi mặt giường rồi từ từ hạ xuống. Làm khoảng 15 lần.

Động tác 7: nằm nghiêng về một phía, chân trên duỗi, chân dưới co, nâng chân trên lên cao hết mức, giữ vài giây rồi hạ xuống. Làm khoảng 15 lần, đổi tư thế làm tương tự với chân kia.

Động tác 8: nằm sấp, hai tay vòng ra sau ôm lấy hông, hai chân thẳng. Ưỡn người nâng nửa người trên khỏi mặt giường, giữ ở tư thế này vài giây rồi hạ xuống, làm khoảng 15 lần.

Động tác 9: nằm sấp, hai tay chống xuống mặt giường, lưng và chân thẳng, chống đẩy khoảng 10 lần. Nếu khi chống đẩy thấy đau từ từ chống đầu gối để hạ dần người xuống. Không nên làm động tác này khi đang đau cấp.

Động tác 10: đứng thẳng, hai tay xuôi thẳng ra trước, gối thẳng, từ từ cúi gập người xuống rồi trở lại tư thế ban đầu. Làm khoảng 15 lần. Lúc bắt đầu tập không nên cố cúi quá thấp gây đau mà phải hạ dần độ cúi.

Khi tiến hành các bài tập này phải chú ý tập từ từ, tránh tập quá sức, khi thấy đau phải ngừng tập, không nên tập trong giai đoạn đau cấp. Những người đã có thoái hóa cột sống trong sinh hoạt phải hết sức tránh các động tác gây sự quá tải về trọng lượng và áp lực cho cột sống. Không nên đứng, ngồi quá lâu một tư thế, nên vận động cột sống, thay đổi tư thế thường xuyên trong khi làm việc, hạn chế tối đa khuân, vác, mang, xách vật nặng, làm việc quá sức. Đối với những người béo phì còn cần phải thực hiện chế độ ăn kiêng và vận động hợp lý để giảm cân, giảm tải trọng đối với cột sống.
Theo SKĐS
Đau thắt lưng là hậu quả của quá trình thoái hóa cột sống thường gặp ở người cao tuổi. Hiện tượng đau là do tình trạng hư hỏng phần sụn đệm giữa các đốt sống thắt lưng kèm theo phản ứng viêm, làm giảm chức năng nâng đỡ cơ thể, đè ép vào các rễ thần kinh gây đau với nhiều mức độ khác nhau. Bệnh không gây tử vong như tăng huyết áp, đái tháo đường nhưng bệnh ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt do triệu chứng đau, tê, hạn chế cử động... Nếu không biết cách chăm sóc và điều trị đúng cách có thể dẫn tới tàn phế.
Cột sống con người gồm 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống lưng, 5 đốt sống thắt lưng, 5 đốt sống cùng và 5 đốt sống cụt. Chúng nối lại với nhau bằng 4 dây chằng: dây chằng dọc trước, dây chằng dọc sau, dây chằng vòng và dây chằng liên gai sống. Điểm đặc biệt trong cấu trúc của dây chằng dọc sau là có chứa nhiều thụ thể thần kinh cảm giác nên khi chạm vào đấy dễ gây đau. Do đó, chấn thương vùng cột sống không chỉ ảnh hưởng đến sự chuyển động và khả năng chống đỡ trọng lượng cơ thể mà còn có thể gây đau, mất cảm giác hoặc liệt ở phần cơ thể tương ứng.
Thoái hóa cột sống thắt lưng có hai thể bệnh: cấp tính và mạn tính. Thể cấp tính thường gặp ở nam giới, lứa tuổi từ 30 - 40. Do ngồi lâu, ngồi cong lưng, không đúng tư thế; do ảnh hưởng của sự mang vác nặng mà không đặt trọng lượng đều trên cả hai chân; hoặc chấn thương; tư thế ngồi hoặc đứng không hợp lý làm cơ căng mỏi và cuối cùng gây đau thắt lưng. Đối với phụ nữ, đau thắt lưng còn liên hệ đến chu kỳ kinh nguyệt, thường đau thắt lưng trước khi hành kinh. Cơn đau xuất hiện sau một động tác mạnh, quá mức, đột ngột và trái tư thế. Thể cấp tính thường dễ điều trị, cần nằm nghỉ và điều trị vài ngày thì cơn đau giảm dần, khỏi sau 1 - 2 tuần, có thể hay tái phát. Còn thể mạn tính thường gặp ở người cao tuổi do ảnh hưởng của tuổi tác sẽ gây nên tình trạng đau, viêm và tê cứng. Hiện tượng này được xem như một phần của quá trình lão hoá dẫn đến thoái hóa khớp, viêm khớp, loãng xương, lao đốt sống, bệnh lý ác tính (như ung thư đốt sống,…). Ngoài ra, đau thắt lưng phần lớn còn do thoát vị đĩa đệm, gai cột sống,... Dấu hiệu thường gặp là đau âm ỉ vùng thắt lưng; không lan xa; đau tăng khi vận động, khi thay đổi thời tiết, hoặc nằm lâu bất động; đau giảm khi nghỉ ngơi. Cột sống có thể biến dạng một phần và hạn chế một số động tác.
Để điều trị, trong giai đoạn đau cấp cần dùng thuốc như giảm đau, kháng viêm, giãn cơ,... nhưng phải theo sự chỉ định của bác sĩ. Cần điều trị duy trì bằng phương pháp không dùng thuốc như khi đau lưng thì nên nằm nghỉ yên tĩnh, tránh nằm võng hay nệm mềm, nên nằm ngửa thả lỏng người thoải mái trên giường cứng. Tập vật lý trị liệu, kéo giãn cột sống, dùng phương pháp xoa bóp, chườm nóng (bằng bó nến, khay nhiệt điện, gối ấm điện,... hoặc bằng lá ngải cứu, cám rang, muối rang áp vào vùng thắt lưng đau). Riêng châm cứu, bấm huyệt và xoa bóp (không nên dùng dầu nóng, rượu mật gấu) có thể áp dụng nhưng cần tránh những động tác mạnh lên vùng bị đau sẽ làm bệnh tái phát do vận động quá mức.
Phòng bệnh đau thắt lưng do thoái hóa cột sống cần được thực hiện từ khi còn nhỏ, tránh lạm dụng lao động trẻ em, nên ăn uống đủ chất (nhất là canxi, vitamin D,...), học tập và thể dục thể thao đúng mức. Với người lao động trí óc (tại văn phòng), tài xế thì ngồi làm việc từ 1 - 2 tiếng phải nghỉ ngơi, đi lại thư giãn, làm vài động tác giãn cơ lưng. Với người lao động chân tay, không mang vác quá sức, không cúi lưng nhấc vật nặng, khi khuân vác phải đúng tư thế tránh tổn thương cột sống. Việc tập thể dục thường xuyên, dưỡng sinh, bơi lội cũng phòng ngừa tốt bệnh thoái hóa cột sống. Đặc biệt, với người thừa cân, cần giảm cân sẽ giúp giảm áp lực cho khớp và các đốt sống.
DIỄM QUỲNH
Theo báo Đồng Nai
Nếu như sau khi chụp X-Quang, CT scan, bạn được bác sĩ cho biết đã bị thoái hóa đốt sống cổ thì hãy tích cực thực hành theo những chỉ dẫn sau để cải thiện tình trạng bệnh tật nhé!

1. Điều trị bằng vật lý trị liệu trong một vài tuần với các thuốc kháng viêm không steroid. Ngoài ra, nên hạn chế sử dụng những chiếc áo ngực có dây áo vòng qua bả vai vì nó làm giảm chuyển động của cổ, gây ê mỏi vai mà từ đó có thể khiến bệnh tình nặng hơn.



Nếu như bạn quá đau đớn vì bị thoái hóa đốt sống cổ thì trong một số trường hợp, steroid, thuốc gây mê có thể được tiêm vào ống tủy sống để giúp giảm nhẹ triệu chứng.

Bên cạnh những biện pháp này, bạn nên duy trì một tư thế ngủ tốt như đặt một chiếc gối dưới cổ và đầu trong khi ngủ có thể khá hữu ích.



Việc điều trị thoái hóa đốt sống cổ có thể kéo dài từ vài tuần đến ba tháng hoặc nhiều hơn nữa. Do vậy bạn nên kiên nhẫn khi điều trị. Chỉ phẫu thuật khi các liệu pháp điều trị khác đã thất bại.

2. Bạn có thể tìm đến những biện pháp điều trị khác như châm cứu, xoa bóp trị liệu và yoga là những biện pháp trị liệu khá hiệu quả làm giảm đau đớn cho người bị thoái hóa đốt sống cổ.  



3. Bạn có thể giảm nguy cơ bị thoái hóa đốt sống cổ hoặc giảm thiểu tình trạng bệnh tật bằng cách thực hành nghề tư thế tốt trong khi ngồi, đứng, nâng, vác phải đảm bảo luôn luôn đúng cách. Bên cạnh đó luôn thực hiện các bài tập duỗi cổ, duy trì trọng lượng lý tưởng và bỏ hút thuốc.



4. Điều quan trọng để cải thiện tình trạng bệnh là tập thể dục thường xuyên từ mức độ nhẹ nhàng đến vừa phải mỗi ngày. Điều này sẽ giúp giảm sự đau đớn theo thời gian mặc dù cổ bạn vẫn có thể khá cứng.

5. Kết thân với những bộ môn thể thao như bơi lội hoặc thủy liệu pháp (phép chữa bệnh bằng nước) sẽ giúp bạn vượt qua sự cứng cổ do thoái hóa đốt sống cổ, giúp thư giãn và trị liệu hiệu quả.


6. Bạn cũng có thể làm giảm áp lực cho cổ bằng một thiết bị kéo cổ do bác sĩ chuyên khoa khuyến cáo sử dụng. Thiết bị này được gắn vào đầu bệnh nhân và kéo lên trên nó bằng cách sử dụng một hệ thống ròng rọc và trọng lượng. Nó thường được áp dụng một vài lần/ ngày và có thể được sử dụng trong khi bạn ngồi hoặc nằm trên giường.  

                               Lê Nhi (Theo arthritis)
Theo afamily
“Trước đây, tôi không phải nấu ăn, dọn dẹp vì sống cùng con dâu nhưng thi thoảng vẫn bế cháu và tham gia câu lạc bộ dưỡng sinh. Từ ngày cơn đau cột sống hành hạ, tôi không thể làm những việc mình muốn”, Bà Lê Thị Mão (62 tuổi, ở Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội) tâm sự.


Dù luôn hạnh phúc vì  được con cái quan tâm chăm sóc nhưng bất kỳ người cao tuổi nào vẫn rất muốn được tự mình thực hiện các sinh hoạt hàng ngày, được tham gia các hoạt  động cộng đồng, giao lưu với bạn bè. Vậy mà những điều tưởng như đơn giản ấy lại bị tước đoạt bởi căn bệnh thoái hóa cột sống.

Đau đớn từng ngày

Cơ thể con người là  bộ máy hoàn hảo nhất nhưng cũng không thể chạy  được vĩnh viễn. Theo năm tháng, xương khớp sẽ phải lão hóa. Bệnh thoái hóa xương khớp thường bắt đầu ở tuổi 30 và phát triển nhanh ở tuổi ngoài 50.

Thoái hóa cột sống chiếm tỷ lệ cao nhất đồng thời cũng ảnh hưởng nặng nề nhất. Khi bị thoái hóa cột sống, người bệnh thường phải chịu những cơn đau đớn dai dẳng, gây cản trở rất nhiều trong sinh hoạt.

Bà Lê Thị Mão 62 tuổi (Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội) tâm sự “Trước đây, tôi không phải nấu ăn, dọn dẹp vì sống cùng con dâu nhưng thi thoảng vẫn bế cháu và tham gia câu lạc bộ dưỡng sinh. Từ ngày cơn đau cột sống  hành hạ tôi sinh hoạt càng khó khăn. Tôi vẫn muốn làm các việc trước kia nhưng không thể. Ngày càng cảm giác mình già và thừa…”.

Theo ông Phạm Hưng Củng, nguyên vụ trưởng vụ Y học cổ truyền Việt Nam, thoái hóa cột sống là bệnh hình thành do sự mất cân bằng giữa quá trình tạo xương và hủy xương. Bệnh tiến triển một cách âm thầm, lặng lẽ, báo hiệu bởi các triệu chứng đau buốt, nhức mỏi bả vai, cổ, sống lưng, thắt lưng; Thoái hóa cột sống là nguyên nhân dẫn đến một số bệnh như thoát vị đĩa đệm, gai cột sống, đau dây thần kinh tọa, bán thân bất toại, liệt ....

Cao rắn có vị  ngọt, hơi mặn, tính ấm, là vị thuốc bổ  mạnh gân cốt, giúp giảm đau do cứng khớp, đau dây thần kinh, trị nhức mỏi tê liệt, bán thân bất toại... Theo y học hiện đại, cao rắn hổ mang chứa nhiều acid amin và dinh dưỡng thiết yếu giúp nuôi dưỡng và bền vững các dây chằng, tăng cường hoạt dịch cho khớp và tái tạo sụn khớp.


Theo GS.TS Đỗ Tất Lợi (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam)
Điều trị không đúng càng khổ thêm

Khi bị thoái hóa cột sống, các cơn đau tái phát chính là thủ phạm khiến người cao tuổi không thể vận động, sinh hoạt như mong muốn.

Thói quen của nhiều người là khi thấy đau thì xoa nắn, đấm bóp, kích thích nhiều vào chỗ đau, thực ra điều này chỉ làm các cơn đau thêm kéo dài. Thay vào đó, khi cơn đau xuất hiện đột ngột, dữ dội, hãy nằm yên, bất động chỗ đau và có thể dùng thêm các thuốc giảm đau và giãn cơ. Tuy nhiên, cần lưu ý là các thuốc giảm đau thường có họ với corticoit, tức là có thể gây xuất huyết, loãng xương, đái đường, huyết áp cao nếu dùng quá liều.

Do đau đớn nên người bị thoái hóa cột sống ngại vận động. Hoặc ở mức thái quá là đau cũng cố vận động. Tốt nhất nên tập từ từ, tránh quá sức, khi thấy đau phải ngừng tập, giảm cân nếu béo phì…

Rắn hổ mang, vị thuốc quý phục hồi cột sống


Sau nhiều năm nghiên cứu, vừa qua đã có một đề tài nghiên cứu thành công và  Bộ y tế đã cấp phép cho ứng dụng vào điều trị bệnh thoái hóa cột sống với tên Bách Xà (có thành phần từ cao rắn hổ mang, cao xương dê và các vị thuốc Nam) do công ty Nam Dược sản xuất và phân phối.

Số điện thoại tư vấn bệnh học: 043.995.3901. website: www.namduoc.vn

Hà Phương
Theo Dantri
Thoái hóa khớp là bệnh mãn tính thường gặp ở người trung niên và người có tuổi, do hậu quả của quá trình tích tuổi và sự chịu lực tác động thường xuyên lên khớp, ngoài ra có thể do yếu tố di truyển, nội tiết hay chuyển hoá.
Điều trị thoái hóa khớp

Thoái hóa  khớp gây đau và biến đổi cấu trúc khớp có thể dẫn đến tàn phế làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ làm chậm phát triển của bệnh, giảm đau đớn và duy trì hoạt động bình thường.

Vị trí các khớp thường bị thoái hóa: Cột sống thắt lưng chiếm: 38%; Cột sống cổ: 14%; Gối: 14%; Háng: 8%; Các ngón tay: 5 %; Các khớp khác: 21 %.

Đây là tình trạng xảy ra do sự mất cân đối giữa sự tái tạo và sự thoái hóa sụn, gồm 2 quá trình song song là: Thoái hóa phá hủy dần sụn khớp phủ ở đầu xương cùng với thay đổi cấu trúc khớp và hiện tượng viêm những tổ chức quanh khớp.

Điều trị viêm khớp chủ yếu là dùng các thuốc kháng viêm giảm đau (NSAID) nhằm mục đích giảm các triệu chứng đau và hạn chế vận động khớp. Những thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ đặc biệt trên đường tiêu hoá như chảy máu dạ dày… và thường không cải thiện được tình trạng bệnh lý của sụn khớp. Tác dụng của nhóm thuốc này chủ yếu nhằm giảm bớt viêm và cắt cơn đau. Theo GS. TS Đào Văn Phan, nguyên chủ nhiệm bộ môn Dược lý trường Đại học Y Hà Nội, ngày nay, người ta thường sử dụng Glucosamine trong điều trị thoái hóa khớp. Vì glucosamine có nhiều ưu điểm hơn hẳn NSAID. Ưu điểm lớn nhất là rất an toàn, một vài trường hợp dị ứng nhẹ. So sánh Glucosamine với NSAID cho kết luận: Giảm đau và chống viêm tương đương nhau, song sau khi ngưng sử dụng thì tác dụng giảm đau của Glucosamine sẽ tiếp tục được duy trì, nhưng đối với NSAID sẽ không còn nữa. Glucosamine an toàn hơn hẳn, không gây chảy máu dạ dày và có thể sử dụng lâu dài. Có thể phối hợp Glucosamine với NSAID trong khoảng 5-7 ngày đầu, sau đó sử dụng Glucosamine đơn thuần cho kết quả tốt hơn.

Bước đột phá trong điều trị thoái hóa khớp

Tập đoàn EARTH’S CREATION (Hoa Kỳ) chính thức đưa vào thị trường Việt Nam một sản phẩm nổi tiếng của mình trong dự phòng và điều trị thoái hóa khớp là MoveFree.



MoveFree phối hợp ba thành phần: Glucosamine 750 mg; Chondroitin 600 mg và MSM 400 mg. Ngoài Glucosamine có tác dụng như đã nói trên, thì Chondroitin (sụn vi cá mập) có tác dụng làm tăng tính đàn hồi của sụn, tăng nuôi dưỡng sụn và duy trì dịch ổ khớp; còn MSM thì làm giảm co cơ, giúp khớp cử động dễ dàng, tăng cường máu nuôi dưỡng khớp;

MoveFree được sử dụng để khôi phục lại sụn khớp bị tổn thương trong các bệnh khớp có tổn thương sụn như: Thoái hoá khớp, thấp khớp,viêm khớp, chấn thương khớp, gút…

MoveFree rất hiệu quả trong điều trị và dự phòng thoái hóa khớp. Hiệu quả giảm đau thường bắt đầu sau 10-15 ngày sử dụng. Khi đau nhiều, bệnh nhân nên kết hợp MoveFree với một thuốc giảm đau (NSAID) ví dụ như Meloxicam, Tenoxicam… trong một tuần đầu tiên, sau đó tiếp tục sử dụng MoveFree thêm 3-4 tuần nữa thì sẽ cho kết quả cao nhất.

Theo ông Donald Passwater, đại diện nhà sản xuất Earth’s Creation, MoveFree đã được xuất khẩu đến 75 quốc gia trên thế giới.

Theo lời khuyên của  Bác Sỹ, bệnh nhân nên sử dụng trong ít nhất 4-6 tuần mỗi đợt, với liều thông thường là 2 viên/ ngày, mỗi lần một viên. Mỗi năm bốn đợt, hoặc sử dụng liên tục.
Hồng Hương

MoveFree đã được nhiều người Việt Nam sử dụng và cho hiệu quả cao. Sản phẩm đã chính thức có mặt tại Việt Nam.

Công ty Mỹ Việt (VNUS), nhà nhập khẩu MoveFree, có mạng lưới phân phối đến hầu hết các nhà thuốc tại Tp. HCM, Hà Nội và có đại lý tại các tỉnh thành trên cả nước.
Theo 24h
Hiện nay, tại các cơ sở y tế tư nhân và Nhà nước đều áp dụng phương pháp kéo giãn cột sống để điều trị các chứng đau do thoái hóa cột sống. Nhưng bệnh lý của cột sống cổ rất phức tạp, kéo giãn cột sống cổ không phải là đơn giản, không phải là vô hại. Không những thế, nếu không được chỉ định đúng, còn có thể gây biến chứng, tai biến nguy hại cho người bệnh.

Kéo giãn cột sống cổ được áp dụng để điều trị các chứng đau do thoái hóa cột sống. Nguyên nhân là vì kéo giãn cột sống có thể làm thay đổi khoảng cách và thể thích của khoang gian đốt sống trong một thời gian nhất định và làm giảm đau nhanh. Tuy nhiên, nếu biện pháp này không được thực hiện thích hợp với từng người về thời gian, trọng lượng kéo, đeo đai mềm… thì dễ xảy ra những điều đáng tiếc.
Kỹ thuật kéo giãn cột sống cổ

Kéo giãn ở tư thế nằm bằng đai Glisson, người ta có thể có lực kéo nhẹ nhàng và điều chỉnh được và đã được áp dụng từ lâu trong lâm sàng. Đai Glisson phải vừa vặn với đầu và không được phép đè nén vào cằm hoặc cuống họng và không bao giờ làm ứ đọng máu ở các mạch máu cổ lớn. Giống như trong xoa bóp, điều quan trọng trong kéo giãn cột sống cổ là để bệnh nhân nằm đúng tư thế. Kéo giãn bằng đai Glisson tiến hành ở tư thế nằm ngửa, cột sống cổ gấp với góc giữa 20-30o của bệnh nhân là nguyên tắc vì do sự mất trọng tải của đầu, lực kéo sẽ cần ít hơn khi ngồi và ở tư thế nằm cơ dễ giãn hơn. Các rễ thần kinh tủy sống thường được trùng lỏng khi hơi giang tay hoặc giơ tay ngang vai. Kéo giãn cột sống cổ ở tư thế ngồi hoặc đứng với tư thế của tay để dọc thân sẽ làm đau tăng lên. Vì rễ thần kinh tủy sống do các hoàn cảnh nhất định đang bị kéo căng, nên hệ thống kéo Glisson không nên nằm cùng với trục của cơ thể mà hơi chếch về trước làm cho cột sống cổ hơi cong ra trước. Không được phép kéo chỉnh nằm ở tư thế ưỡn cột sống vì nó làm hẹp các lỗ liên đốt cột sống cổ, đồng thời lại gây quá căng các cơ cổ ở mặt trước.

Kéo giãn ở tư thế thẳng đứng: lực kéo ở cột sống cổ có thể tạo ra bằng các trọng lượng treo trên ròng rọc bằng máy điều chỉnh với kéo giãn cách quãng. Sau mỗi lần kéo phải mang đai cổ hoặc đỡ cổ để cố định. Kéo giãn cột sống cổ không được kéo lâu quá vì do giảm áp lực trong đĩa đệm sẽ gây tăng thể tích nhanh nên đau sẽ tăng. Tác dụng điều trị của phương pháp kéo giãn cột sống cổ đã được đánh giá bởi nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới và tại các trung tâm thần kinh và phục hồi chức năng.


Hình ảnh thoái hóa cột sống cổ.
Những ai không nên kéo giãn cột sống cổ?

Chống chỉ định chung đối với kéo giãn thông thường: u ác tính bất kể khu trú nào; rối loạn hoạt động tim mạch và xơ cứng động mạch; bệnh tăng huyết áp giai đoạn 2,3 có xu hướng rối loạn tuần hoàn não; các bệnh cơ quan nội tạng cấp tính; trạng thái sốt; bệnh của tủy sống.

Chống chỉ định đối với kéo giãn dưới nước: bệnh nấm và các bệnh ngoài da khác; bệnh giun sán; các bệnh cơ quan sinh dục (viêm phần phụ, trùng roi âm đạo…); người có tuổi (trên 60) và trẻ em dưới 15 tuổi; thoái hóa cột sống có phản ứng loạn thần kinh chức năng.

Chống chỉ định (không kể thể bệnh và giai đoạn nào): thoái hóa cột sống có biểu hiện lâm sàng – Xquang của bệnh tủy cổ do cơ chế chèn ép hoặc rối loạn mạch máu; thoái hóa cột sống có biểu hiện lâm sàng của hội chứng động mạch sống (chóng mặt, thường xuyên ù tai); bệnh tăng huyết áp giai đoạn 2,3 và cơ cứng động mạch não; thoái hóa đốt sống có biến dạng, biểu hiện dính liền xương (các biểu hiện chèn xương trong những thay đổi thoái hóa cột sống ở các mức độ khác nhau không thuộc về chống chỉ định kéo giãn); sau từ 1-2 lần kéo giãn, hội chứng đau lại tăng lên và chóng mặt.

Chỉ định kéo giãn cột sống cổ (trong giai đoạn cấp và mạn tính): thoái hóa cột sống với hội chứng đĩa đệm nặng (có phản ứng cơ, vẹo cổ), thích hợp hơn với kéo giãn dưới nước; thoái hóa cột sống với hội chứng rễ, thích hợp hơn với kéo giãn dưới nước; thoái hóa cột sống với hội chứng cơ thang, thích hợp hơn với kéo giãn dưới nước; thoái hóa cột sống với hội chứng bả vai - cánh tay, thích hợp hơn với kéo giãn dưới nước; thoái hóa cột sống sau chấn thương (trừ trường hợp gẫy đốt đội và đốt trục), thích hợp hơn với kéo giãn dưới nước; thoái hóa cột sống với hội chứng động mạch sống với những đặc trưng lâm sàng ở mức vừa (trung bình), thích hợp hơn với kéo giãn khô (thông thường); thoái hóa cột sống với hội chứng tim và các hội chứng nội tạng khác, thích hợp hơn với kéo giãn khô.    

 PGS. Vũ Quang Bích
Theo SKĐS
Bạn sẽ không phải lo lắng về chứng viêm khớp dạng thấp nếu biết cách “chung sống hòa bình” với nó. Sau đây là những điều “thú vị” quanh chứng bệnh này có thể giúp bạn yên tâm hơn khi bị mắc viêm khớp dạng thấp.



Ảnh minh họa
Ảnh hưởng không giống nhau

Có nhiều loại viêm khớp mà phản ứng từ hệ miễn dịch gây ra đau ở các khớp và khó vận động. Ở viêm khớp dạng thấp, hệ miễn dịch hướng đến mô hoạt dịch ở các khớp.

Đây là một loại bệnh nhưng viêm khớp dạng thấp có ảnh hưởng khác nhau ở những người khác nhau. Một số ca nhẹ kéo dài một vài tháng hoặc một vài năm, nhưng sau đó sẽ biến mất.

Vẫn có một số trường hợp mắc bệnh khá nặng gây ra các cơn đau thường xuyên và phá hủy các khớp.

Một tin tốt lành là những năm gần đây, với những hiểu biết sâu sắc về căn bệnh này mà các bác sỹ đã có thể tìm ra các cách chữa trị khác nhau cho tất cả các loại viêm khớp dạng thấp.

Chữa trị là vấn đề ở từng cá nhân

Do các triệu chứng viêm khớp dạng thấp là khác nhau ở mỗi người nên cũng có những cách chữa trị khác nhau.

Bác sỹ sẽ trực tiếp thăm khám cho bạn để tìm ra cách chữa trị tốt nhất để xóa tan cơn đau, làm nhẹ chỗ viêm và ngăn ngừa sự phá hủy khớp tạm thời.

Phong cách sống thay đổi như chế độ ăn và các bài tập thể dục có thể giúp đỡ người bệnh, tuy nhiên hầu hết đều cần dùng đến thuốc để kiểm soát bệnh.

Phẫu thuật có thể giúp một số ca nặng

Một số loại phẫu thuật có thể chữa trị viêm khớp dạng thấp bao gồm chỉnh sửa các khớp và gân bị phá hủy hoặc thay thế chúng. Phương pháp phẫu thuật có thể an toàn và hiệu quả hơn.

Xóa tan lo lắng = xóa tan cơn đau

Lo lắng và áp lực tăng nguy cơ bị viêm khớp dạng thấp và thúc đẩy bệnh phát triển nhanh hơn.

Do vậy, bên cạnh các biện pháp chữa trị thì các “kỹ thuật thư giãn” cũng là những yếu tố xóa tan cơn đau và hồi phục hoạt động cho cơ thể. Bạn có thể hỏi bác sỹ một số bài tập để thư giãn.

Hệ xương có thể gặp nguy hiểm

Bệnh nhân mắc viêm khớp dạng thấp có thể bị loãng xương và dễ gãy. Có thể là do các loại thuốc dùng để điều trị kháng viêm ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên, phần xương gần khu vực khớp bị ảnh hưởng thường yếu nhất, do vậy gãy xương có thể xảy ra như hậu quả trực tiếp từ bệnh viêm khớp dạng thấp.

Bổ sung chế độ ăn giàu can-xi và vitamin D sẽ giúp bạn có bộ xương chắc khỏe. Ngoài các sản phẩm từ sữa, rau xanh, cá nước mặn và lòng đỏ trứng cũng là lựa chọn hoàn hảo cho bạn.

Từ bỏ thói quen hút thuốc lá

Thuốc lá không chỉ có hại cho phổi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp. Theo nghiên cứu đăng tải trên trang Annals of the Rheaumatic Diseases, các nhà nghiên cứu cho biết rằng 1/3 các trường hợp viêm khớp dạng thấp nặng có liên quan đến hút thuốc lá.

Viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng đến tim

Cũng giống như hàm lượng cholesterol hay huyết áp cao, viêm khớp dạng thấp cũng có thể khiến tim bạn bị ảnh hưởng nguy hiểm. Điều này được giải thích do các khớp bị sưng sẽ lan rộng ra khắp cơ thể và dần đến tim. Trong một nghiên cứu gần đây trên tạp chí Journal of Internal Medicine, nguy cơ bị đau tim tăng 60% ở những người bị mắc chứng viêm khớp dạng thấp.

Hoàn toàn có thể “sống hòa bình” với chứng bệnh này

Duy trì các khớp luôn hoạt động sẽ có thể giúp xóa tan cơn đau và bảo vệ những bạn khỏi những biến chứng như bệnh tim. Hãy dành 30 phút mỗi ngày để có những bài tập luyện chuyên sâu vừa phải. Tập trung vào 3 loại vận động sau:

- Hoạt động tăng cường nhịp hô hấp và nhịp tim mà không ảnh hưởng đến các khớp như bơi, đi

bộ.

- Hoạt động tăng cường sức mạnh cho cơ khớp nhưng các bài tập cân nặng nhằm giảm áp lực

lên các khớp.

-Hoạt động cân bằng như đứng bằng một chân để giảm nguy cơ bị ngã.

Tuy nhiên cần có sắp xếp hợp lý và thời gian nghỉ ngơi phù hợp nhất.

Theo SKĐS
Trong môi trường lạnh, thân nhiệt của người mắc bệnh viêm khớp thấp hơn còn khi chuyển sang môi trường ấm áp, thân nhiệt của người mắc bệnh viêm khớp lại tăng chậm hơn so với người bình thường.



Giữ ấm là cách phòng bệnh quan trọng đối với người mắc viêm khớp
Trên thực tế, hiện tượng đau nhức do thay đổi của thời tiết không có nghĩa là bệnh viêm khớp nặng thêm. Khi thời tiết ấm lên thì đau nhức cũng dần dần theo đó mà mất đi. Tuy nhiên, để giảm bớt đau nhức, người bệnh nên chuẩn bị sức khỏe khi nghe tin dự báo thời tiết sắp chuyển lạnh như tăng cường giữ ấm cơ thể, tránh lao động quá sức….

Ngoài ra, có thể tập luyện hợp lý để cải thiện chức năng của khớp hoặc có thể mát-xa, dùng phương pháp trị liệu hoặc uống thuốc để giảm nhẹ triệu chứng đau nhức.

Thời tiết lạnh làm cho độ kết dính niêm dịch của khớp tăng lên, tăng thêm trở ngại cho các hoạt động của khớp, khiến người bệnh viêm khớp thấy đau nhức các khớp.

Lúc này, để giảm đau cần giảm hoạt động và áp lực cho khớp như dùng gậy chống, vịn tay, mang găng hay miếng dán ở các khớp xương; với người thừa cân thì cần giảm cân.

Người bị viêm khớp dạng phong thấp rất cần sự trợ giúp của người nhà, không nên vì điều trị khó khăn mà mất đi lòng tin. Thực tế, chỉ cần chú ý một số chi tiết nhỏ là có thể khống chế được bệnh tình. Khi bệnh phát tác cấp tính thì cần nghỉ ngơi điều độ, giảm bớt hoạt động. Khi bệnh tạm lui thì nên tập luyện giúp duy trì chức năng các khớp.

Người bị viêm khớp khi ăn uống cần phải chú ý bổ sung đầy đủ protein và các loại vitamin, đặc biệt là vitamin C, D; đồng thời ăn nhiều thực phẩm hàm chứa can-xi như sữa, chế phẩm từ đậu, tránh ăn các thực phẩm kích thích, đông lạnh. Nếu trong khi uống thuốc bị phù thũng và huyết áp cao thì nên hạn chế lượng muối nạp vào cơ thể.

Còn có một số thực phẩm kỵ với người mắc bệnh viêm khớp dạng phong thấp bởi vì những thực phẩm này sẽ sinh ra các chất có thể làm tăng gánh nặng cho khớp, trong đó bao gồm các thực phẩm chất béo cao, hải sản (ví dụ như hải sâm, tảo biển, cá biển, tôm biển…) và các sản phẩm quá chua, quá mặn (ví dụ như lạc, rượu trắng, các loại rau củ muối, trứng muối, cá muối vv).


Theo Xã luận
Kỳ 3: Các bài tập thêm

Để quá trình điều trị và dự phòng đau cột sống thắt lưng đạt hiệu quả tối ưu, ngoài những bài tập cụ thể dành cho tháng đầu tiên và tháng thứ 2, chúng tôi cung cấp thêm đến bạn đọc một số bài tập thêm. Những bài tập này không những giúp bạn thoát khỏi chứng đau thắt lưng mà còn giúp bạn có được vòng 2 như ý.

Bài tập 8

Đứng trên sàn ở tư thế thẳng, hai tay xuôi theo người, thở đều.

+ Bước chân phải lên trước cách mũi chân trái 60cm, hai bàn tay chống lên bờ xương chậu, thở đều.

+ Từ từ hít vào, chùng chân phải để gối gập trên 90o, chân trái duỗi thẳng, ưỡn lưng và ngửa đầu tối đa. Thời gian làm động tác này khoảng 5 giây.

+ Nín thở và giữ ở tư thế trên khoảng 5 giây.

+ Từ từ thở ra và duỗi thẳng chân phải, đưa đầu và nửa thân người phía trên về tư thế thẳng. Động tác này kéo dài khoảng 5 giây.

+ Kéo chân phải về sát chân trái, trở về tư thế đứng thẳng ban đầu, hai tay xuôi theo người, thở đều, thư giãn 5 - 10 giây rồi làm lại động tác trên với chân trái. Mỗi chân tập 5 lần xen kẽ nhau, tổng số 10 lần.

Bài tập 9

Đứng trên sàn như bài tập 8, hai chân mở bằng vai, hai bàn tay đặt lên bờ trên xương chậu.

+ Từ từ hít vào, ưỡn cong cột sống thắt lưng về phía trước, nửa người trên từ rốn tới đầu ngửa tối đa. Động tác này kéo dài khoảng 5 giây.

+ Giữ ở tư thế trên và nín thở khoảng 5 giây.

+ Từ từ thở ra, đưa thân người phía trên và đầu về tư thế thẳng đứng, hai bàn tay vẫn đặt ở bờ trên xương chậu. Động tác này kéo dài khoảng 5 giây.

+ Thả hai tay xuống, thư giãn ở tư thế đứng, thở đều 5 - 10 giây rồi lặp lại bài tập trên 10 lần.

Bài tập 10

Nằm ngửa trên sàn, hai tay xuôi theo người, bàn tay úp xuống sàn, hai chân khép sát nhau duỗi thẳng, thở đều.

+ Duỗi thẳng bàn và các ngón chân phải, từ từ hít vào và nâng chân phải lên khi tạo với mặt sàn một góc 45o thì dừng lại. Chân trái và thân người vẫn giữ nguyên và áp sát mặt sàn. Động tác này kéo dài khoảng 5 giây.

+ Nín thở, giữ chân phải thẳng ở tư thế nâng 45o trong thời gian khoảng 5 giây.

+ Từ từ thở ra và hạ chân phải xuống mặt sàn, trở về tư thế ban đầu. Động tác này kéo dài 5 giây.

+ Nằm ở tư thế ban đầu, thở đều và thư giãn 5 - 10 giây rồi lặp lại với chân trái. Mỗi chân tập 5 lần, tổng số 10 lần.



Bài tập 10.
Bài tập 11
Nằm ngửa trên sàn, hai tay xuôi theo người, bàn tay úp xuống sàn, hai chân khép sát nhau duỗi thẳng, thở đều.

+ Duỗi thẳng bàn chân và các ngón chân, từ từ hít vào và nâng hai chân lên khi tạo với mặt sàn một góc 45o thì dừng lại, hai chân vẫn duỗi thẳng và khép sát nhau. Động tác này kéo dài khoảng 5 giây.

+ Nín thở, giữ hai chân ở tư thế trên khoảng 5 giây.

+ Từ từ thở ra và hạ hai chân xuống mặt sàn, trở về tư thế ban đầu. Làm động tác này trong khoảng 5 giây.

+ Nằm thư giãn và thở đều khoảng 5 - 10 giây sau đó lặp lại bài tập trên 10 lần.

+ Các bài tập làm vững cơ thành bụng: các bài tập này được áp dụng vào tháng thứ hai, tháng thứ nhất tập các bài tập 1 - 4.



Bài tập 11.
Bài tập 12 (Cánh cung)
Nằm sấp, hai tay xuôi dọc hai bên thân, hai chân duỗi và khép sát nhau. Thả lỏng hoàn toàn các cơ lưng, nâng cằm lên trong khi gập hai gối, duỗi thẳng hai bàn chân, hai tay nắm lấy hai cổ chân, ngón cái không đối diện mà cùng phía các ngón khác.

+ Chỉ dùng lực của hai chân để thực hiện động tác, hai tay thụ động dùng để nối liền hai vai và cổ chân như một dây cung. Căng mạnh các cơ đùi và bắp chân, kéo mạnh bàn chân ra sau. Trong cả quá trình làm động tác, cơ lưng phải thả lỏng, nếu cơ lưng mà căng thì động tác không thực hiện được. Cuối động tác, đầu gối phải được nâng cao hơn cằm, đúng nhất phải ngang đỉnh đầu. Xương mu không chạm sàn, trọng lượng của cơ thể nằm ở vùng mũi ức thì hiệu quả mới tốt, nội tạng mới được xoa bóp mạnh.

+ Khi toàn thân ở vị trí hình cánh cung thì bắt đầu dao động đung đưa trước - sau như cưỡi ngựa gỗ. Lúc đầu đu đưa nhẹ, sau tăng dần, lần lượt bụng rồi đến ngực và kết thúc là đùi chạm sàn. Có thể làm từ 5 - 10 dao động, khi dao động có thể hít vào khi ngẩng đầu lên, thở ra khi đầu dao động xuống hoặc thở theo nhịp bình thường.

+ Cuối cùng duỗi chân ra sau để từ từ trở về vị trí ban đầu, nghỉ và thư giãn 10 - 15 phút.

Bài tập này có nhiều tác dụng phối hợp, tốt cho nội tiết và tiêu hóa, hạn chế thoái hóa đĩa đệm, duy trì mật độ khoáng của xương, chống loãng xương, làm mạnh các cơ đùi, bụng. Tác động mạnh lên đám rối dương gây hoạt hóa thần kinh thực vật, chống được béo phì và làm giảm dần lớp mỡ dưới da bụng.

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm
Theo SKĐS
Kỳ 1: Các bài tập trong tháng đầu tiên

Đau cột sống thắt lưng là một chứng bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra, gặp ở mọi lứa tuổi, cả nam, nữ. Ngoài việc dùng thuốc dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số bài tập có tác dụng tốt trong điều trị cũng như dự phòng tái phát bệnh.

Đối tượng nào nên tập cột sống thắt lưng?

Các bài tập cột sống thắt lưng được áp dụng cho các bệnh nhân đau thắt lưng mạn tính hoặc để dự phòng đau thắt lưng tái phát do thoái hoá đĩa đệm hoặc thoát vị đĩa đệm nhẹ và vừa. Trong đó có bài tập tác dụng làm dãn cột sống, tác dụng tương tự như kéo dãn cột sống thắt lưng, có bài tập làm mạnh các cơ thành bụng và khối cơ lưng, giúp giữ vững cột sống thắt lưng. Các bài tập đều có tác dụng tăng cường dinh dưỡng cho đĩa đệm, phục hồi chức năng vận động của cột sống. Cần tập hằng ngày, mỗi ngày một đến hai lần, mỗi lần 30 phút, mỗi tuần ít nhất năm ngày. Với người đau thắt lưng cần tập một đợt ít nhất hai tháng. Một người tập luyện đều đặn sẽ duy trì được một cột sống trẻ lâu, chậm thoái hóa đĩa đệm, khả năng chịu đựng lực trọng tải của cột sống tốt hơn, các động tác trở nên thuần thục, có khả năng tránh được các tổn thương do các chấn thương hoặc các động tác sai tư thế đến bất ngờ trong lao động hoặc sinh hoạt. Với những người cao tuổi, phụ nữ sau mạn kinh, tập luyện còn làm giảm được bệnh lý loãng xương.

Nguyên tắc khi tập luyện

Cần tập khởi động nhẹ nhàng trước khi thực hiện bài tập như chạy tại chỗ, tập vài động tác thể dục buổi sáng. Khi áp dụng một bài tập nào đó thì trong quá trình tập cũng như sau tập, người bệnh phải cảm thấy dễ chịu, không đau tăng. Nếu thấy đau tăng cần điều chỉnh lại kỹ thuật của bài tập, có thể do vận động nhanh, đột ngột hoặc vận động quá tầm có thể chịu đựng. Nếu sau điều chỉnh vẫn thấy đau tăng cần ngừng bài tập đó.

Các động tác trong bài tập cần được làm từ từ, không được làm nhanh, mạnh hay đột ngột. Tập theo những giới hạn mà cơ thể người tập có thể làm được. Nếu không làm được đầy đủ một động tác thì làm một nửa hoặc ít hơn, rồi tăng dần.

Một lần tập nên kéo dài 30 phút đến một giờ, kể cả thời gian thư dãn. Kết thúc buổi tập cần thư dãn ít nhất 10 phút ở tư thế nằm thoải mái hoặc lặp lại các động tác khởi động như trước buổi tập. Tập hàng ngày, mỗi ngày một đến hai lần, một tuần ít nhất tập năm ngày, một đợt ít nhất hai tháng.

 

 
Các bài tập có tác dụng làm dãn cột sống và làm mạnh khối cơ lưng:

Bài tập 1 (con châu chấu)

Người tập nằm sấp trên sàn, mặt nghiêng về một bên, hai tay xuôi theo người, bàn tay úp xuống mặt sàn, hai chân khép, thở đều.

+ Từ từ hít vào và nâng chân phải lên trong khi chân phải vẫn giữ thẳng, nâng càng cao càng tốt. Chân trái vẫn duỗi thẳng và sát mặt sàn, cột sống lưng hơi ưỡn về phía trước. Thời gian từ lúc bắt đầu nâng chân đến khi nâng tối đa khoảng 5 giây.

+ Nín thở và giữ ở tư thế này khoảng 5 giây.

+ Từ từ thở ra và hạ chân phải xuống mặt sàn, động tác này kéo dài khoảng 5 giây.

Nghỉ khoảng 5 giây, thở đều rồi làm lại động tác trên với chân trái. Mỗi động tác làm 5 lần luân phiên chân phải rồi chân trái, tổng cộng 10 lần.

Bài tập 2 (con bò cạp)

Tư thế nằm sấp như bài tập 1.

+ Hai chân khép, từ từ hít vào và nâng hai chân lên khỏi mặt giường càng cao càng tốt, hai chân vẫn thẳng, bàn và ngón chân duỗi, cột sống thắt lưng cong ưỡn về phía trước. Thời gian làm động tác này khoảng 5 giây.

+ Nín thở và giữ ở tư thế này khoảng 5 giây.

+ Từ từ thở ra và hạ hai chân xuống sát mặt sàn, thời gian làm động tác này khoảng 5 giây.

+ Nằm thư dãn 10 giây, thở đều rồi làm lại động tác trên 10 lần.

Bài tập 3 (con thằn lằn)

Nằm sấp trên sàn, hai bàn tay úp sấp đặt trên sàn ngang hai vai. Hai khuỷu tay co và khép sát người, hai chân duỗi thẳng, đặt cằm trên sàn nhìn thẳng về phía trước.

+ Từ từ hít vào chậm và sâu, đẩy tay nâng nửa thân người phía trên lên, ưỡn đầu và ngực tối đa để phần trên rốn trở lên được nâng lên. Ở tư thế này, bàn chân được duỗi căng hết mức, mũi bàn chân không nhấc khỏi sàn, cột sống thắt lưng cong ưỡn về phía trước. Thời gian làm động tác này khoảng 5 giây.

+ Nhìn lên trần, nhịn thở, giữ ở tư thế này khoảng 5 giây.

+ Từ từ thở ra chậm và hạ đầu xuống dần, tựa má xuống sàn. Thời gian làm động tác này khoảng 5 giây.

+ Toàn thân thả lỏng, thư dãn, thở đều khoảng 5 giây rồi lặp lại bài tập trên 10 lần.

Bài tập 4 (cầu vồng)

Nằm ngửa trên sàn, hai tay xuôi theo người, bàn tay úp xuống mặt sàn, hai chân duỗi thẳng khép sát nhau, thở đều.

+ Co hai chân để hai cẳng chân vuông góc với mặt sàn, từ từ hít vào và nâng mông lên tối đa, chỉ còn hai bả vai, đầu và hai bàn chân tiếp xúc với mặt sàn. Động tác này kéo dài khoảng 5 giây.

+ Giữ ở tư thế hình cầu vồng như trên khoảng 5 giây và nín thở.

+ Từ từ thở ra và hạ mông xuống sát mặt sàn, thời gian làm động tác khoảng 5 giây.

+ Thở đều, duỗi thẳng chân, thả lỏng, thư dãn 5 - 10 giây rồi lặp lại bài tập trên 10 lần.

PGS.TS. Hà Hoàng Kiệm
Theo SKĐS
Đông y gọi đau lưng là "yêu thống", là một trong những chứng thuộc phạm vi chứng tý. Nguyên nhân là do phong hàn thấp xâm nhập vào hệ cân cơ kinh lạc gây bế tắc vận hành kinh khí gây đau; hoặc do lao động quá sức, sai tư thế mất thăng bằng hoặc tổn thương cân cơ, xương khớp như thoái hoá đốt sống, dị dạng đốt sống... gây đau; hoặc cũng có thể do công năng can thận suy giảm không nuôi dưỡng được xương khớp, cân cơ lâu ngày gây đau, co cứng cơ...

Biểu hiện là một bên hoặc cả hai bên thắt lưng đau nhức hoặc đau nhói, đau âm ỉ, cũng có thể có cảm giác đau nhức, lạnh tê, có khi lan sang vùng mông, khi lao động hoặc khi thời tiết thay đổi thì đau hơn, được nghỉ ngơi thì đau giảm. Bệnh thường tái phát nhiều lần gây hạn chế hoạt động thắt lưng. Một số trường hợp cột sống vẹo về một bên, co rút cơ thắt lưng, đau lan tới chi dưới. Các phương pháp điều trị của Đông y như thuốc sắc, châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, chườm nóng... có kết quả đối với những trường hợp mạn tính hoặc có kết hợp các yếu tố như phong, hàn, thấp. Xin giới thiệu  cách xoa bóp bấm huyệt để bạn đọc tham khảo áp dụng tại nhà. Phương pháp này có tác dụng thông kinh lạc, hết sưng, giảm đau. Nên thực hiện đều đặn mỗi ngày một lần, mỗi lần 20 phút.


Huyệt thận du.
Người bệnh nằm sấp trên giường cứng. Người chữa thực hiện các thao tác sau:

- Từ đốt xương ngực số 1 đến khớp xương hông dùng phép xoa day 3 lượt: Người chữa dùng gốc bàn tay hoặc ô mô ngón tay út hơi ấn xuống da người bệnh và di động theo vòng tròn. Tay của người chữa và da người bệnh dính với nhau. Thao tác chậm, làm mạnh hay nhẹ tùy thuộc tình trạng đau của người bệnh. Làm 3 lượt.


Huyệt thừa sơn.
- Người chữa nắm hờ hai bàn tay đấm kích đốc mạch từ huyệt đại chùy đến trường  cường, khi đấm vào vùng thắt lưng cần có lực mạnh thích hợp và kết hợp bảo bệnh nhân ho.

- Kéo dãn cột sống thắt lưng: người bệnh hai tay nắm đầu giường. Người thao tác đứng phía dưới chân người bệnh, cầm hai cổ chân người bệnh từ từ kéo dãn xuống trong khoảng 1 phút, sau đó dùng ngón cái gãi gãi vào chỗ đau của người bệnh khoảng 1 phút.

- Người chữa một tay nắm vào đùi bên chân đau của người bệnh nâng lên cao về sau, dùng gốc bàn tay kia day lăn ở điểm ấn đau và quanh chỗ đau khoảng 3 phút.


Nắm véo hai bên cột sống thắt lưng.
- Nắm véo cơ hai bên cột sống thắt lưng, véo huyệt a thị khoảng 2 phút: người chữa dùng ngón cái và bốn ngón còn lại kẹp giữ vị trí cần tác động đồng thời vê đi vê lại.

- Day ấn các huyệt thận du, chí thất, uỷ trung, thừa sơn mỗi huyệt khoảng  2 phút.

- Người bệnh xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho nóng lên rồi áp vào hai bên thắt lưng trong khoảng 3 phút.

Có thể kết hợp dùng muối rang nóng hoặc lá ngải cứu sao nóng với dấm chườm vào chỗ đau hằng ngày để tăng hiệu quả điều trị.


Vị trí huyệt

Đại chùy: Huyệt nằm giữa đốt sống cổ 7 và đốt sống ngực 1.

Trường cường: Chỗ lõm sau hậu môn và trước đầu xương cụt 0,3 tấc.

Thận du: Dưới mỏm gai đốt sống thắt lưng 2 sang ngang 1,5 tấc.

Chí thất: Từ huyệt thận du đo sang ngang 1,5 tấc.

Ủy trung: Chỗ giữa nếp lằn khoeo chân.

Thừa sơn: Ở giữa đường nối huyệt ủy trung và gót chân, dưới huyệt ủy trung 8 tấc, ngay chỗ lõm giữa 2 khe cơ sinh đôi ngoài và trong.

Lưu ý:
- Khi đau cấp, người bệnh cần nằm nghỉ trên giường cứng (nằm ngửa, chân hơi co), tránh di chuyển hoặc thay đổi tư thế. Nếu đau nhiều cần dùng thuốc giảm đau.

- Không nên nằm ngủ ở nơi  gió lạnh, ẩm thấp, không nên nằm đệm mềm, giường lò xo.

- Lao động vừa sức, bảo đảm tư thế đúng khi đứng, ngồi, mang vác hay nhấc vật nặng. Khi nhấc vật nặng  nên co đùi gấp gối nhưng lưng vẫn phải giữ thẳng. Tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Nếu phải ngồi lâu, nên thường xuyên đứng lên và làm các động tác thể dục giữa giờ.

- Điều trị kịp thời các bệnh lý ở cột sống.

- Để phòng bệnh nên tập các bài tập tăng cường sự dẻo dai, khỏe mạnh của các khối cơ lưng cạnh cột sống, tăng sự mềm mại của cột sống. Người bị đau thắt lưng không nên tập các môn thể thao phải vận động quá mức như tennis, bóng chuyền, golf.      


Lương y Đình Thuấn
Theo SKĐS
Đau thắt lưng cấp là một trong những hội chứng rất thường gặp trong lao động sản xuất, trong sinh hoạt và trong cuộc sống hằng ngày. Bệnh thường tái đi tái lại nếu không điều trị sớm và đúng bệnh dễ chuyển thành đau lưng mạn tính.

Đau thắt lưng cấp là gì?

Đau thắt lưng cấp là đau ngang vùng thắt lưng, người bệnh có thể bị đau một nơi ở giữa cột sống hoặc đau ở các điểm cạnh cột sống vùng thắt lưng. Đau nhiều khi lan tỏa sang hai bên. Đau thắt lưng cấp thường xảy ra do hoạt động sai tư thế trong sinh hoạt lao động, sinh hoạt thường ngày như: khiêng, nhấc vật nặng trong tư thế cúi lưng hay trong các tư thế đứng kiễng chân với tay cao, nhón gót lấy vật nặng trên cao... khiến người bệnh không đứng thẳng lên được, phải đi đứng lom khom. Ngoài ra, bệnh cũng còn thấy trong các trường hợp ngồi liên tục nhiều giờ (nhân viên văn phòng, thợ may, lái xe...). Ở những người công việc đòi hỏi phải khom cúi (như cấy, gặt lúa), các vận động viên thể thao hay sử dụng tư thế cúi lưng và xoay thân thình lình. Bệnh cũng hay gặp ở những phụ nữ sau mãn kinh...


Điều trị sớm, hiệu quả cao

Việc điều trị đau thắt lưng cấp phải được thực hiện sớm và dứt điểm nếu để bị tái phát nhiều lần sẽ trở thành đau thắt lưng mạn tính. Nếu điều trị sớm và đúng phương pháp sẽ mang lại kết quả tốt, bệnh nhân nhanh phục hồi và sớm trở lại công việc hằng ngày. Điều quan trọng, trong quá trình điều trị bệnh nhân phải tuân thủ đúng phác đồ của bác sĩ.

Phòng bệnh đau thắt lưng cấp

Một trong những cách phòng ngừa đau lưng cấp là giữ cho cơ thể ở tư thế đúng trong lao động và sinh hoạt hằng ngày. Đây chính là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất. Sau đây là một số hướng dẫn cụ thể:

Đứng: Khi đứng cần đứng thẳng, cân xứng hai bên, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai chân. Không ưỡn bụng và thắt lưng, cần giữ độ cong bình thường của cột sống đặc biệt là đoạn thắt lưng. Không nên đứng ở những tư thế cố làm cho thân mình cao lên đặc biệt là thói quen thường xuyên dùng giày hoặc guốc cao gót. Đối với những người bị thoát vị đĩa đệm cần hạn chế các động tác cúi làm gấp cột sống.


Không cúi gập người khi bê vật nặng.
Ngồi: Khi ngồi nên ngồi trên ghế có chiều cao phù hợp với cơ thể mình để hai bàn chân đặt sát trên sàn nhà, khớp cổ chân, khớp gối, khớp háng hai bên vuông góc, lưng thẳng, tựa đều vào thành ghế phía sau, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai bên mông và hai chân. Những người đã bị đau lưng đặc biệt là thoát vị đĩa đệm không được ngồi xổm.
Khi bê, nâng đồ vật lên: Hai bàn chân đứng cách nhau một khoảng rộng phù hợp để tạo chân đế vững chắc; Ngồi xổm xuống (bằng cách gấp khớp gối và khớp háng) không cúi gấp cột sống; Đưa đồ vật cần bê vào sát bụng, căng cơ bụng ra; Nâng đồ vật đó lên bằng cách đứng dậy. Không dùng cơ thắt lưng để nâng vật đó lên; Giữ cho cột sống thẳng, không xoắn vặn trong khi thực hiện động tác.

Như vậy, việc phòng bệnh đau thắt lưng cấp là rất quan trọng. Ý thức giữ cột sống trong tư thế tốt nên được quan tâm và thực hiện hằng ngày. Tư thế tốt khi làm việc, sinh hoạt, lao động dù nhẹ hay nặng là rất quan trọng. Càng lớn tuổi, càng phải chú ý giữ tư thế tốt vì cột sống của người có tuổi không còn mềm dẻo như khi còn trẻ.  

Bác sĩ  Nguyễn Minh Hiệp
Theo SKDS
Thoát vị đĩa đệm là một quá trình thoái hoá tự nhiên và ít khi gây ra đau. Phần lớn các chứng dau lưng, đau vai, cổ đều thuộc hội chứng đau cơ do tâm lý.  Những ức chế tâm lý lâu ngày làm  rối loạn hệ thần kinh tự động gây  co mạch.  Mạch máu co lại khiến máu không lưu thông đủ đến vùng có liên quan, một số cơ, thần kinh hoặc dây chằng thiếu oxy và cảm giác đau xảy ra.

Thoát vị đĩa đệm là một quá trình tự nhiên và ít khi gây ra đau.

Cột sống là trục chống đở chính của toàn cơ thể. Cột sống gồm  33 đốt sống được liên kết với nhau bởi những đĩa đệm.  Đĩa đệm là những bao xơ dày chắc bao bọc một lớp nhầy bên trong có chức năng co dãn để giúp cột sống cúi ngửa, vặn mình qua lại được dễ dàng.  Dưới sức nặng của cơ thể, và áp lực của sự vận động, mang, vác và cả quá trình lão hoá, những đĩa đệm ở những vị trí phải chịu nhiều áp lực của cơ thể như đốt sống cổ, đốt sống thắt lưng dễ bị thoát vị. Được gọi là thoát vị khi đĩa đệm bị xẹp xuống thái quá, bao xơ bị rách và lớp nhân nhầy thoát ra ngoài.  Gai cột sống là tình trạng lắng động calcium qua thời gian chung quanh khớp, tiếp giáp với dây chằng hoặc chỗ thoát vị.  Thoát vị đĩa đệm, gai cột sống là những biểu hiện của sự thoái hoá cơ, xương, khớp. Giống như tóc sẽ bạc, da sẽ nhăn, thoát vị đĩa đệm là một quá trình thoái hoá tự nhiên và không nhất thiết phải gây ra đau.  Y văn đã ghi nhận rất nhiều trường hợp thoát vị đĩa đệm mà không hề đau lưng.  Những trường hợp này không có biểu hiện gì và  thoát vị chỉ bị phát hiện tình cờ khi người bệnh được chụp  CT hoặc MRI trong khi điều trị một căn bệnh khác[i].  Trong quyển sách Những tiến bộ mới trong nghiên cứu và điều trị đau nhức[ii], Bác sĩ Hubert Rosomoff, truởng khoa giải phẫu thần kinh trường Đại Học Y khoa Miami cũng đã nêu lên ý kiến phần lớn các trường hợp thoát vị đĩa đệm đều không làm đau qua bài viết “Phải chăng thóat vị đĩa đệm là nguyên nhân gây ra đau?”  Giáo sư Alf Nachemson, một người Thuỵ Điển cũng cho rằng “người ta chưa biết rõ nguyên nhân trong hầu hết các trường hợp đau lưng và hầu hết đều phải điều trị bằng cách gì khác hơn là phẫu thuật.”[iii].  Cũng vì lý do nầy phần lớn việc điều trị gai cột sống đều nặng về bảo tồn.

Cơ chế gây bệnh của hội chứng đau lưng do tâm lý.

Hiện nay, những hiểu biết thông thường đều cho rằng phần lớn đau lưng là do những hư hao hoặc sai lệch về mặt cấu trúc vật chất của cơ thể, nhất là khi mặc định nầy được cũng cố bằng những “bằng chứng hiển nhiên” qua  hình ảnh được chụp CT hoặc MRI của sự vôi hoá hoặc thoát vị của một vài đốt sống.  Đã có “bằng chứng” không lo gì không tìm ra được thủ phạm.  Đến đây, người bệnh sẽ rất dễ dàng nhớ lại, hoặc một lần vấp ngã ở chân cầu thang, lần đá banh bị va chạm 2 năm trước, lúc nâng phụ một bao tải và bị cụp lưng dạo nọ, thậm chí nhiều người còn đổ lỗi cho . . thoái hoá cột sống vì hay thủ dâm từ thời còn niên thiếu!  Trong nhiều trường hợp, chính những phán quyết và “bằng chứng” nầy đã làm tăng thêm những nổi lo âu, ám ảnh, những dồn nén về mặt tâm lý, nguyên nhân của hầu hết những cơn đau mõi ở vùng  lưng, vai, cổ.   Ông Sensei Adam Rostocki, tác giả quyển sách “Chữa dứt điểm bệnh đau lưng”[iv] đã cho rằng (1) hầu hết các trường hợp thoát vị đĩa đệm đều không có triệu chứng biểu hiện và (2) 75% trường hợp thoát vị không gây đau.  Tiến sĩ John E. Sarno gọi những căn bệnh này thuộc hội chứng đau mõi cơ do tâm lý (Tension Myosity Syndrome), gọi tắt là TMS.

Cuộc sống càng nhiều áp lực, nhiều khó khăn, con người càng dễ bị tác động xấu bởi những stress.  Những cảm xúc dai dẳng về sự thù hận, giận dữ, cảm giác bị chèn ép hoặc sự lo sợ trong môi trường làm việc, trong đời sống gia đình hoặc học đường, thậm chí đã từng tồn tại từ thuở ấu thơ hoặc thời thanh niên, đều có thể là nguyên nhân gây ra những ức chế tâm lý, làm xáo trộn hệ thần kinh trưng ương, đặc biệt là hệ thần kinh tự động.  Hệ quả của rối loạn hệ thần kinh tự động là sự co mạch.  Mạch máu co lại khiến máu không lưu thông đủ đến vùng có liên quan, một số cơ, thần kinh hoặc dây chằng thiếu oxy và cảm giác đau xảy ra.

Những trường hợp điển hình.

Một trường hợp điển hình về đau lưng TMS được ông Sarno ghi lại như sau.

Bệnh nhân nam 29 tuổi có tiền sử đau thắt lưng và đau dọc theo chân phải.  Hai tháng trước, người bệnh đã được chụp cắt lớp và được xác định là đau do thoát vị đĩa đệm, được đề nghị ngưng vận động mạnh và phải tiến hành phẫu thuật. Là một vận động viên bóng rổ, anh rất buồn trước sự chẩn đoán nhất là khi được cho biết tương lai sẽ không còn được tham gia các môn thể thao có cường độ cao.  Anh không chấp nhận  phẫu thuật. Ngược lại,  vẫn tập các bài tập thể dục và vẫn tiếp tục chơi bóng rổ như trước. Thời gian nầy tình trạng bệnh vẫn giữ nguyên, không tiến triển cũng không xấu đi.  Tuy nhiên anh vẫn canh cánh nổi lo bệnh sẽ nặng thêm bất cứ lúc nào.  Đây cũng là lúc anh đến gặp bác sĩ Sarno.  Ông xác định không có dấu hiệu tổn thương thần kinh ở bất cứ chân nào.  Trắc nghiệm nâng chân ở cả 2 chân đều gây ra cảm giác đau ở mông phải.  Như thường xảy ra ở những trường hợp TMS, người bệnh cảm thấy đau khi có áp lực đè lên những vùng cơ mông, cơ  lưng dưới, cơ vai và cơ 2 bên cổ.  Ông cho rằng đau gây ra do TMS chớ không phải do đĩa đệm sai vị trí.  Người bệnh được giải thích cặn kẻ, được tham gia chương trình điều trị không dùng thuốc và khỏi đau trong vòng vài tuần.  Gặp lại 12 năm sau, anh vẫn khoẻ mạnh và vẫn là một vận động viên bóng rổ.

Tài liệu của ông Sarno cũng ghi lại một nghiên cứu  trên một nhóm gồm 109 bệnh nhân đau lưng đã được xác định là thoát vị đĩa đệm qua chụp CT và MRI.  Trong đó, qua giải thích và điều trị không dùng thuốc, 96 người (88%) đã khỏi bệnh, không còn đau, cử động không hạn chế; 11 người (10% ) bệnh biến chuyển tốt nhưng còn hơi đau, cử động còn bị giới hạn; có 2 người không kết quả.

Điều trị đau lưng do TMS.

Trong việc điều trị đau lưng thuộc TMS, bác sĩ Sarno đặc biệt đề cao “liệu pháp hiểu biết” (knowledge therapy).  Khi bệnh nhân được giải thích và hiểu rằng cơn đau không phải do những lệch lạc về cấu trúc vật chất mà chỉ là một hịên tượng tâm lý, không có thật, thì tự khắc cơn đau sẽ biến mất.  Ông cho rằng TMS là một dạng bệnh hystery.  Đau mõi ở đây là một cơ chế tự nhiên của cơ thể giúp bộ não quên đi những cảm xúc, những ký ức không mong muốn.  Ông cho biết một số người đau lưng TMS chỉ cần đọc xong quyển sách[v] của ông, hiểu ra bản chất của vấn đề cũng đã tự khỏi đựơc bệnh.  Giống như một người gặp phải ác mộng, sợ đến toát mồ hôi.  Khi tỉnh dậy hiểu ra mình vừa chiêm bao tự khắc mọi sợ hãi hoặc đau đớn gì cũng không còn.  Tuy nhiên, trên thực tế, không phải mọi trường hợp TMS đều được hoá giải dễ dàng như vậy.  Nhiều trường hợp bệnh mà nguyên nhân ức chế tâm lý đã bắt nguồn từ thời thơ ấu hoặc thậm chí xa hơn.  Edgar Cayce (1877-1945) là một người Mỹ có khả năng chữa bệnh thông qua khả năng tự thôi miên để tìm lại tiền kiếp và truy ra nguyên nhân gây bệnh của một số căn bệnh dai dẳng bất trị. Những ký lục do hội ARE (Association for Research and Enlightment) lưu giữ ở Virginia, Mỹ với khoảng 14.000 trường hợp bệnh lý đã cho thấy một số căn bệnh đã bắt nguồn từ những ức chế tâm lý từ một kiếp trước!

Nói chung, ngoài việc hiểu rõ cơ chế của căn bệnh, người bệnh có thể thực hành một số biện pháp không dùng thuốc gồm những phương pháp thở và một số động tác yoga thích hợp để vừa trực tiếp làm giãn nở mạch máu để tăng cường lưu thông khí huyết đến vùng đau vừa điều hoà thần kinh giao cảm  để  từng bước xoá dần những ức chế từ tiềm thức và lập trình lại bộ não, một bộ não của một cơ thể bình an và mạnh khoẻ.

Lương y VÕ HÀ
Theo SKĐS
Laser được 2 bác sĩ Mỹ là Choy và Ascher dùng để chữa bệnh này lần đầu tiên vào năm 1987. Sau khi dùng laser đốt cháy một phần đĩa đệm, áp lực trong đĩa đệm giảm xuống làm cho khối thoát vị nhỏ lại, không còn chèn ép để gây đau nữa.

Phương pháp trên gọi là PLDD (viết tắt của cụm từ tiếng Anh Percutaneous Laser Disc Decompression, nghĩa là giảm áp lực của đĩa đệm bằng laser xuyên qua da). Trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20, PLDD phát triển rộng rãi trên khắp thế giới, đặc biệt là ở các nước tiên tiến. Gần đây, do sự phát triển mạnh của nội soi, đặc biệt là phương pháp nội soi Yeung, sự ưa thích PLDD đã giảm xuống ở Mỹ và một số nước phát triển khác.

Nhiều công trình nghiên cứu của các bác sĩ nổi tiếng trên thế giới chứng minh rằng PLDD là phương pháp chữa bệnh rất tốt. Tuy nhiên, PLDD chỉ có hiệu quả nếu đĩa đệm thoát vị còn chưa xé rách dây chằng dọc sau (nằm phía sau của đĩa đệm). Còn nếu dây chằng dọc sau của bạn đã bị rách thì tốt nhất tìm một cách chữa bệnh khác. Việc nhận biết khối thoát vị đã xé rách dây chằng này hay chưa không phải là dễ dàng, cần có những bác sĩ giàu kinh nghiệm trong cả khám chữa bệnh thoát vị đĩa đệm và áp dụng PLDD.

Trong kỹ thuật này, người bệnh nằm nghiêng trên bàn mổ (nếu làm PLDD ở lưng) hoặc nằm ngửa (nếu làm PLDD ở cổ). Bác sĩ sát trùng và xác định nơi chích kim trên máy chiếu X-quang. Sau khi gây tê, họ sẽ chích kim từ ngoài da vào đĩa đệm. Một sợi dây bằng thủy tinh nối với máy phát laser được luồn qua kim tới đĩa đệm. Laser sẽ đốt cháy một phần đĩa đệm. Khi đốt, người bệnh sẽ có cảm giác nóng và tức nhẹ ở nơi đốt, gần cuối sẽ có cảm giác nóng chạy dọc theo tay hoặc chân.

Thời gian làm PLDD là khoảng 15 phút cho một đĩa đệm. Sau đó, người bệnh nằm nghỉ khoảng 1-2 giờ và về nhà trong ngày. Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5, một số người bị đau do quá trình viêm gây ra, sau khi dùng thuốc sẽ hết. Thường thì sau một tuần, họ có thể đi làm lại được; nhưng phải 3 tháng sau mới có thể đánh giá được chính xác kết quả PLDD.

Chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng PLDD đơn giản, ít đau đớn, không cần gây mê; người bệnh tiết kiệm được rất nhiều thời gian, đặc biệt là không phải nằm viện. So với mổ hở, biến chứng của PLDD ít gặp hơn rất nhiều và thường cũng không nặng nề. Một số bệnh nhân đau tăng lên đột ngột trong lúc làm PLDD do khi đĩa đệm bị đốt cháy, khói chưa kịp thoát ra làm cho khối thoát vị to thêm, gây chèn ép nhiều hơn. Nếu chọn lựa đúng bệnh nhân để làm PLDD và kỹ thuật này được thực hiện tốt thì tỷ lệ này chỉ chiếm 1/1.000 trường hợp.

Nhiều người bệnh e ngại rằng tia laser và tia X phát ra khi làm PLDD sẽ gây hại cho cơ thể. Thực ra, laser nếu được sử dụng đúng cách và đôi mắt có bảo hiểm tốt thì được coi là vô hại. Về tia X, bạn hãy yên tâm. Mặc dù được áo giáp che chở nhưng những bác sĩ làm PLDD cho bạn sau một thời gian sẽ lãnh lượng tia X cao gấp nhiều lần so với lượng mà bạn hấp thụ trong 1 lần nằm trên bàn mổ. Và nếu họ vẫn còn đủ khả năng làm PLDD cho bạn thì có nghĩa là lượng tia X mà bạn nhận chưa đủ để gây ra chuyện gì cả.????

PLDD cũng có một số nhược điểm nhất định. Đây là một phương pháp kén chọn bệnh nhân. Nhiều trường hợp được điều trị bằng PLDD vẫn còn có thể chữa được bằng thuốc và vật lý trị liệu. Ở những bệnh nhân này, PLDD giúp rút ngắn thời gian điều trị, tăng khả năng chữa hết bệnh và đặc biệt là giảm số lượng thuốc đưa vào cơ thể.

Khả năng chữa hết bệnh của PLDD mặc dù cao hơn nhiều so với dùng thuốc và vật lý trị liệu nhưng lại thấp hơn so với mổ hở hoặc nội soi.

BS Võ Xuân Sơn, Bệnh viện Chợ Rẫy
Theo Ykhoanet
Thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng - cùng là bệnh khá thường gặp trong cuộc sống, bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng tập trung ở lứa tuổi lao động từ 20-50 tuổi. Đối với bệnh lý này, biện pháp điều trị được áp dụng nhiều là nội khoa, tuy nhiên có khoảng 12% phải điều trị bằng phẫu thuật. Có nhiều phương pháp phẫu thuật như tạo hình nhân nhầy đĩa đệm, lấy đĩa đệm qua da, mổ nội soi, mổ mở, mổ vi phẫu… tùy thuộc vào mức độ thoát vị đĩa đệm và các bệnh lý kết hợp. Đối với các bệnh nhân thoát vị đĩa đệm kèm theo hẹp ống sống khi được phẫu thuật không chỉ lấy bỏ khối thoát vị mà phải cắt bỏ dây chằng vàng (đã bị cốt hóa) giải ép cả hai bên. Tuy nhiên, việc cắt cung sau rộng có thể dẫn đến trượt, yếu đốt sống... nên người bệnh cần được làm vững cột sống ngay trong phẫu thuật. Trước đây, bác sĩ sử dụng nẹp vít để làm vững cột sống nhưng lại làm cột sống trở nên cứng, cử động hạn chế. Khắc phục tình trạng này, các bác sĩ Khoa Phẫu thuật thần kinh - Bệnh viện 103 đã thực hiện làm vững cột sống bằng dụng cụ cố định liên gai sau DIAM. Kết quả cho thấy, khi phẫu thuật cho phép mổ giải ép rộng giúp người bệnh đỡ đau ngay sau mổ với tỷ lệ đạt trên 93%. Đồng thời còn tạo điều kiện cho người bệnh tập vận động phục hồi chức năng sớm, trên 74% người bệnh có thể tự đi lại sau 2-4 ngày phẫu thuật. Ngoài ra, dụng cụ DIAM còn không làm cứng đốt sống, tính năng đàn hồi mạnh mẽ và tương thích với chuyển động của cột sống đã giúp bệnh nhân trở lại lao động bình thường và chưa có trường hợp nào trượt đốt sống và sẹo dính phải phẫu thuật lại.        

 Hoàng Khánh
Theo SKĐS
Thoát vị đĩa đệm xảy ra bất kỳ phần nào của cột sống như phần cột sống cổ, cột sống thắt lưng, trong đó chủ yếu thoát vị cột sống thắt lưng với các triệu chứng đau, tê mỏi vùng thắt lưng lan xuống mông, đùi và cẳng chân, cảm giác yếu cơ,... Ðây là căn bệnh rất phổ biến và có thể gây tàn phế nếu không được điều trị. Do đó người bệnh cần đi khám và điều trị sớm khi thấy các triệu chứng của bệnh, không nên chủ quan, nhất là ở một số đối tượng có nhiều nguy cơ như: những người thường xuyên làm việc nặng nhọc, công nhân bốc vác, chơi thể thao, tư thế ngồi học, làm việc sai cách, mắc các bệnh lý cột sống như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống,…

Thoát vị đĩa đệm là gì?

Cột sống do nhiều đốt ghép lại. Giữa các đốt sống lại được ngăn với nhau bởi những đĩa đệm. Đĩa đệm nằm giữa các đốt sống, có tác dụng như một gối đỡ đàn hồi, giúp cột sống thực hiện các động tác cúi, ưỡn, nghiêng, xoay. Cấu trúc của đĩa đệm bao gồm có bao xơ bên ngoài, cấu tạo từ các vòng sợi dai, chắc và nhân nhầy ở dạng keo bên trong. Khi cấu trúc bao xơ bị yếu do đứt một số vòng sợi thì áp lực nhân nhầy sẽ đẩy chỗ đó phình ra khỏi vị trí bình thường, nhân keo của đĩa đệm thoát ra ngoài gọi là thoát vị đĩa đệm.


Nhận biết bệnh dựa trên các biểu hiện nào?

Cơn đau do thoát bị đĩa đệm thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại khỏi. Có khi đau âm ỉ nhưng thường đau dữ dội, đau tăng khi ho, hắt hơi, cúi. Ngoài ra còn có cảm giác kiến bò, tê cóng, kim châm tương ứng với vùng đau. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, thường có triệu chứng như: Đau vùng cổ, gáy, vai, dọc theo cánh tay. Tê cánh tay, bàn tay, các ngón tay. Teo, yếu cơ cánh tay, ngón tay. Đối với thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, thường có triệu chứng như: Đau, tê vùng thắt lưng, mông, dọc theo đùi, cẳng chân, bàn chân. Teo, yếu cơ đùi, cẳng chân, bàn chân. Dần dần, đau trở nên thường xuyên, kéo dài hàng tháng nếu không được điều trị. Khả năng vận động của bệnh nhân bị giảm sút rõ rệt.

Những di chứng của bệnh

Thoát vị đĩa đệm chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống gây các triệu chứng đau, tê, teo cơ, liệt cơ. Khi rễ thần thần kinh bị tổn thương thì bệnh nhân khó vận động các chi. Nếu tổn thương thần kinh cánh tay thì bệnh nhân không thể nhấc tay hay khó gấp, duỗi cánh tay, khả năng lao động và sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bệnh có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Người bệnh có thể bị tàn phế do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tuỷ cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cũng có thể dẫn đến đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Các chi dần bị teo cơ, có thể mất khả năng lao động và vận động.

Những trường hợp dễ bị thoát vị đĩa đệm?

Có nhiều nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm cột sống. Thứ nhất do chấn thương cột sống như tai nạn giao thông, tai nạn lao động,… Thứ hai là ở những người trên 30 tuổi, cột sống bắt đầu thoái hóa đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách khi nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống. Hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng sai cách. Thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng. Nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi làm việc không đúng cách gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp… Ngoài ra, các bệnh lý cột sống bẩm sinh như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây thoát vị đĩa đệm


Phẫu thuật thoát vị đĩa đệm tại Bệnh viện Việt Đức.  Ảnh: Tường Linh
Các phương pháp điều trị

Chụp Xquang cột sống thông thường không phát hiện được thoát vị đĩa đệm. Để chẩn đoán chính xác thoát vị đĩa đệm người bệnh cần chụp bao rễ cản quang, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ.

Khi có kết luận thoát vị đĩa đêm, tùy thuộc vào mức độ và những triệu chứng lâm sàng mà bác sĩ quyết định điều trị nội khoa hay chỉ định phẫu thuật. Đối với thoát vị mức độ nhẹ có thể dùng thuốc, thực hiện các bài tập, vật lý trị liệu phục hồi chức năng. Nếu thoát vị nặng, khối thoát vị chèn ép vào dây thần kinh có thể gây biến chứng như: liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn, thì phẫu thuật là phương pháp giúp bệnh nhân giảm chèn ép và tránh các biến chứng do thoát vị gây ra. Hiện nay có nhiểu phương pháp điều trị như làm giảm áp lực nhân đĩa đệm như: đưa sóng radio vào vùng đĩa đệm thoát vị làm cho khối thoát vị bị thu nhỏ, trở về vị trí cũ, giải phóng thần kinh bị chèn ép; dùng hiệu ứng nhiệt của tia laser để hủy phần đĩa đệm thoát vị, giải phóng chèn ép thần kinh; Lấy nhân đệm bằng phương pháp mổ hở, mổ nội soi,…

Cần có biện pháp phòng tránh

Thoát vị đĩa đệm gây nên những cơn đau khó chịu, thường xuyên tái phát, làm giảm khả năng vận động, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nếu không điều trị bệnh có thể gây biến chứng nặng nề, do đó người bệnh cần đi khám chuyên khoa khi có dấu hiệu của bệnh để được điều trị kịp thời. Không nên chủ quan cho đó là do tuổi tác, lao động nặng nhọc mới bị đau lưng, đến khi bệnh tiến triển nặng, người bệnh không thể chịu nổi các cơn đau thường xuyên hoặc xuất hiện biến chứng mới đi khám thì rất khó điều trị và điều trị rất tốn kém, thậm chí có thể bị tàn phế. Do đó, cần phải có biện pháp phòng tránh thoát vị đĩa đệm như: Luôn duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi hợp lý; thường xuyên tập thể dục rèn luyện để có một cơ thể khỏe mạnh và cột sống vững chắc. Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày (ngồi học, ngồi làm việc, mang vác vật nặng đúng cách...). Hạn chế mọi nguy cơ bị chấn thương khi lao động, tham gia giao thông, các vận động, động tác thể thao quá mức và kéo dài,…

Bác sĩ Trọng Nghĩa  
Theo SKĐS
Đặc trưng cơ bản của thoái hoá khớp là tổn thương thoái hoá của sụn khớp, hậu quả là mất sụn khớp và tế bào dưới sụn, mọc tổ chức xương cạnh khớp tân tạo. Một trong những vị trí hay gặp của thoái hoá khớp là thoái hoá cột sống, bao gồm cột sống thắt lưng (hay gặp nhất), cột sống lưng và cột sống cổ. Với thoái hoá cột sống, quá trình lão hoá thường xảy ra ở hai vị trí: đĩa đệm (nằm ở giữa hai đốt sống) và các khớp liên mấu đốt sống.


Thoái hóa đốt sống.
Thoái hoá nói chung và thoái hoá cột sống nói riêng có hai loại: thoái hoá nguyên phát (do tuổi tác cao, không có nguyên nhân) và thứ phát (có thể gặp cả ở người trẻ, thường tìm thấy nguyên nhân). Thoái hoá thứ phát ở cột sống thường gặp sau chấn thương, rối loạn cấu trúc đĩa đệm đốt sống bẩm sinh (ví dụ bệnh Scheuermann, loạn sản đốt sống- mấu đốt sống), mắc phải (viêm đĩa đệm đốt sống) hay các nguyên nhân khác gây sai lệch tư thế cột sống: gù, vẹo, quá ưỡn...
Về điều trị, tùy theo tình trạng bệnh mà có các biện pháp nghỉ ngơi, nằm ở tư thế thích hợp giảm đau. Các biện pháp không dùng thuốc có thể làm giảm đau và giảm co cứng cơ như các bài tập thể dục thích hợp; điều trị vật lý trị liệu như tia hồng ngoại, sóng ngắn, tắm bùn nóng, tắm suối khoáng nóng; mát-xa, bấm huyệt tại vùng đau. Thuốc chống viêm giảm đau không steroid như diclofenac, meloxicam, piroxicam... kết hợp với thuốc giãn cơ như mydocalm, myonal, thuốc giảm đau đơn thuần paracetamol... dùng ngắn ngày, trong đợt cấp khi bệnh nhân đau nhiều. Các thuốc điều trị thoái hoá tác dụng chậm, ít ảnh hưởng đến dạ dày như glucosamin, chondroitin, diacerin... có thể dùng kéo dài. Nếu không đỡ có thể tiêm corticoid loại nhũ dịch tại các khớp liên mấu sau hoặc tiêm ngoài màng cứng nhưng cần có chỉ định của bác sĩ chuyên khoa khớp trong điều kiện vô khuẩn tuyệt đối với liệu trình thích hợp, tránh lạm dụng. Mặc áo nẹp cột sống cổ hoặc cột sống thắt lưng trong các trường hợp thoái hoá kết hợp trượt đốt sống gây mất vững cột sống. Chỉ định ngoại khoa trong các trường hợp thoát vị đĩa đệm, không đáp ứng với điều trị nội khoa đúng cách hoặc khi có chèn ép thần kinh vùng cột sống thắt lưng gây liệt hai chi dưới, rối loạn cơ tròn hay liệt chi trên do chèn ép cột sống cổ.

Trong thư, bác không đề cập đến tình trạng bệnh, nguyên nhân gây bệnh nên chúng tôi không đưa ra thời khuyên cụ thể được. Bác nên đến chuyên khoa khớp để được khám kỹ, ở đó bác sĩ sẽ có chỉ định tốt nhất cho bác.

Với người chưa bị thoái hóa khớp, cách phòng bệnh tốt nhất là tránh các tư thế xấu trong sinh hoạt, lao động mà gây đau như ngồi lâu, đứng lâu một tư thế; tránh mang vác nặng quá mức hoặc các động tác quá mạnh, đột ngột và sai tư thế. Giữ cho cân nặng ở mức lý tưởng, tránh béo phì. Tập luyện, chơi các môn thể thao vừa sức như bơi lội, đi bộ, đạp xe... Phát hiện sớm các dị dạng cột sống để có biện pháp chỉnh hình nội khoa hay ngoại khoa thích hợp. Điều trị tốt các bệnh kèm theo dễ gây tổn thương đốt sống như viêm đĩa đệm đốt sống.

ThS. Bùi Hải
Theo SKĐS
Vị thuốc lô hội (A loe) là dịch cô đặc của lá cây lô hội. Lô hội được dùng cả trong đông y và tây y. Theo tài liệu cổ, lô hội vị đắng, tính hàn vào 4 kinh can, tỳ, vị và đại tràng. Có tác dụng sát khuẩn, thông tiện, thanh nhiệt, lương can. Theo sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của cố giáo sư Đỗ Tất Lợi thì lô hội có hai tác dụng: liều nhỏ (0,05- 0,10g) lô hội là một vị thuốc bổ, giúp sự tiêu hóa; liều cao nó là vị thuốc tẩy mạnh, nhưng tác dụng chậm gây xung huyết ở các cơ quan bụng, nhất là ở ruột già; liều quá cao (8g) có thể ngộ độc chết người. Hiện nay về chứng thấp khớp và viêm đa khớp, người ta đã chứng minh: thoa gel tươi (chất nhớt) trong lá lô hội có tác dụng làm giảm sưng và giảm đau trong các trường hợp sưng đau do ngã trật khớp hoặc thấp khớp. Trong lô hội có aloetin A là một glycoprotein được chứng minh có tác dụng viêm khớp trên chuột gây viêm bằng sarrog carrageene. Thông thường tác dụng của lô hội chỉ tốt khi dùng tươi. Còn dùng rượu ngâm lô hội nên thực hiện trong một liệu trình từ 7 đến 15 ngày rồi nghỉ một thời gian mới dùng tiếp. Theo thư bạn nói bị viêm đa khớp, tôi không hiểu bạn đã khám và điều trị ở đâu, đã dùng những thuốc gì, tiến triển ra sao. Theo tôi, bạn nên đi khám tại chuyên khoa xương khớp để được tư vấn điều trị cụ thể. Còn dùng rượu ngâm lô hội hay rượu gừng cũng là để hỗ trợ và nên kết hợp với thuốc điều trị khớp khác.
BS. Đỗ Minh Hiển
Thoái hoá khớp gối là những biến đổi của hiện tượng lão suy dẫn tới tăng sinh chất xương và hình thành “gai xương”. Đây là một bệnh rất thường gặp ở tuổi trung niên và người cao tuổi.

Biểu hiện khớp gối đau, đi lại khó khăn thường phải chống tay vào mới đứng được, nhất là khi lên xuống cầu thang, khi ngồi xuống đứng lên. Những triệu chứng này sau khi được điều trị và nghỉ ngơi thì có thể giảm nhiều. Nhưng nếu lại lao động quá độ hoặc thời tiết âm u lạnh giá thì có thể tăng nặng. Bệnh tiến triển dần thành mạn tính. Trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn tới teo cơ, biến dạng khớp, ảnh hưởng tới chất lượng sống sinh hoạt của người bệnh. Đây chính là viêm khớp dạng phì đại hay viêm khớp dạng thoái hoá.

Nguyên nhân dẫn tới viêm khớp xương rất nhiều: tổn thương, lao động mệt mỏi, bị lạnh, béo mập, ít hoạt động, dinh dưỡng thiếu, môi trường lao động quá ẩm ướt lạnh giá....

Đông y cho rằng, người ta đến tuổi trung niên chức năng gan thận không đầy đủ, gân xương mất nuôi dưỡng, lại thêm mệt mỏi kéo dài, giá lạnh xâm nhập, khí huyết lưu thông bị ngăn cản gây ra các chứng bệnh về khớp. Đông y cũng có nhiều phương pháp điều trị. Bài này xin giới thiệu cùng bạn đọc một số món ăn bài thuốc điều trị chứng bệnh thoái hóa khớp gối.


Khớp bình thường. -                                   Khớp bị thoái hóa.
Nguyên tắc ăn uống:

Tại giai đoạn phát cơn, khớp sưng đau rõ rệt, có khi kèm nóng, đỏ ở các mức độ khác nhau, nên ăn uống thanh đạm, chủ yếu các thức ăn giải nhiệt, thông ẩm như dưa hấu, bí xanh, ngó sen, đậu phụ... kiêng ăn các thức cay nóng, nướng, quay trợ hoả hoặc mỡ béo, ngọt sinh ẩm như ớt, rượu, thịt mỡ, thịt dê...

Ở giai đoạn giải trừ dần, do căn bản là gan thận không đầy đủ, gân xương mất nuôi dưỡng, do vậy ăn uống nên bồi ẩm, chủ yếu là các thức ăn bổ lách tiêu ẩm như hồng táo, ý dĩ nhân, thịt chó, thịt dê...

Bệnh này là sự suy thoái dạng toàn thân biểu hiện cục bộ ở khớp gối, nên chữa trị cần chú ý chăm sóc toàn thân như ăn sữa bò, sữa đậu nành, xích đậu, đại táo...

Đây là bệnh có tổn thương sụn khớp nên cần ăn nhiều thức ăn có giàu chất sụn và có lợi cho việc sửa chữa khôi phục sụn khớp như vây cá, tai lợn, gân móng khuỷu, xương sườn thực phẩm có mai vỏ, như cua, tôm tép, trứng ngâm dấm...

Một số món ăn bài thuốc:

Bài 1: Bí xanh 500g, xương sườn của lợn 250g, nấu canh ăn, nên ăn nhạt, dùng chữa giai đoạn phát cơn, chủ yếu là giai đoạn sưng, ít nóng đỏ, hoặc giai đoạn giải trừ bệnh để giữ gìn sức khỏe, phòng tái phát.

Bài 2: Mướp tươi 250g, đậu phụ 250g, gia vị vừa đủ nấu canh ăn, dùng chữa giai đoạn phát cơn cấp tính có sưng, nóng đỏ đau ở mức độ nhẹ.


Canh bí xanh sườn lợn.
Bài 3: Đậu xanh 100g, ý dĩ nhân 50g, đường cát, hoa quế vừa đủ, nấu canh ăn điểm tâm, sớm tối ngày 2 lần, dùng chữa giai đoạn cấp tính, sưng nóng đỏ đau rõ rệt, hạn chế cử động.

Bài 4: Hồng táo 10 quả, ý dĩ nhân 50g, không dùng đường nấu canh ăn điểm tâm, chia 2 lần sớm tối ăn hết, dùng chữa, giai đoạn giải trừ dần, sưng đau không còn rõ nữa, chỉ còn mệt mỏi.

Bài 5: Ý dĩ nhân 50g, đậu xanh 25g, bách hợp tươi 100g. Bách hợp tẽ cánh, xé bỏ màng trong, dùng chút muối tinh bóp nhẹ, rửa sạch để bỏ vị đắng, đậu xanh và ý dĩ nhân rửa sạch, đun sôi, đun nhỏ lửa tới khi đậu nhừ, sau thêm bách hợp cùng nấu tới đặc. Khi ăn thêm chút đường trắng, sớm tối mỗi lần ăn 1 bát con, dùng chữa âm hư, nóng trong, khớp gối sưng nóng đỏ đau nhiều.

Bài 6: Bột bạch phục linh 20g, xích tiểu đậu 50g, đại táo 10 quả, gạo tẻ 100g. Xích tiểu đậu nấu tới mười phần chín năm, rồi thêm gạo tẻ và đại táo vào nấu cháo, khi sắp đặc, thêm bột phục linh vào nấu thành cháo đặc, dùng chữa khớp gối sưng lan, hơi nóng.

Bài 7:  Nam ngũ gia bì 50g, gạo nếp 500g, ngũ gia bì rửa sạch, thêm nước ngâm no, sắc nước, cứ 30 phút lấy nước sắc một lần, cộng lại 2 lần, đem nước đó nấu với gạo nếp thành cơm nếp hơi khô, để nguội, thêm men rượu vừa đủ, trộn đều, lên men thành rượu cái. Mỗi ngày lượng vừa đủ ăn trong bữa ăn, dùng chữa giai đoạn giải trừ dần, có đau mỏi không chịu được gió lạnh.

Bài 8: Đậu tương 30g, hồng trà 2g, muối ăn 0,5g, nước 500ml. Nấu đậu tương tới chín, lấy nước, thêm hồng trà, muối ăn đun sôi. Mỗi lần uống 100ml, chia 4 lần, sau ăn đậu tương, mỗi ngày 1 thang, có tác dụng thông ẩm tiêu sưng, dùng chữa khớp gối sưng khá rõ nhưng không nóng đỏ.

BS. Thu Hương
Theo SKĐS
Thời tiết thay đổi, khí hậu lạnh là những yếu tố ngoại cảnh tác động lớn đến các khớp trong cơ thể, nhất là khớp gối và cột sống. Biểu hiện đau là dấu hiệu dễ nhận biết nhất, khi các khớp đã bị thoái hóa thì đau càng rõ ràng hơn, gây tâm lý lo lắng và ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sống của người bệnh. Tuy nhiên, nếu thực hiện những chỉ dẫn dưới đây, người bệnh vẫn có những biện pháp để loại trừ chứng đau do thoái hóa khớp.

Phương pháp điều trị thoái hóa khớp

Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động ở khớp, cần phải đi khám bệnh để các bác sĩ đánh gía tình trạng bệnh và cho các điều trị thích hợp. Việc điều trị sẽ bao gồm:

Điều trị không dùng thuốc: tăng cường các kiến thức về sức khỏe, đặc biệt sức khỏe xương khớp; vận động, tập luyện, làm việc vừa sức; ăn uống dinh dưỡng hợp lý; tránh dư cân, béo phì, tránh mang vác vật nặng, tránh tăng áp lực cho sụn khớp và đĩa đệm; phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý tại hệ thống xương khớp.

Điều trị bằng thuốc: điều trị triệu chứng đau và viêm cho người bệnh bằng thuốc giảm đau và các thuốc kháng viêm; làm chậm quá trình thoái hóa bằng các thuốc có thể cải thiện được tiến triển của bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ với nhiều thuốc hữu hiệu: glucosamine sulfate dạng tinh thể, diacerein, acid hyaluronic… Các thuốc này đều cần được điều trị đủ liều theo hướng dẫn của các thầy thuốc.

Phẫu thuật: Trong những trường hợp bệnh nặng, không đáp ứng với điều trị nội khoa cần xem xét việc điều trị ngoại khoa kết hợp: mổ nội soi để cắt xương, loại bỏ dị vật, sửa trục khớp; mổ thay khớp nhân tạo khi khớp bị mất chức năng.


Thoái hóa cột sống thắt lưng.
Các cách phòng ngừa thoái hóa khớp

Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi còn trẻ cần tập thể dục đều đặn, tránh bị dư cân, tránh những động tác quá mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống. Điểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là các biện pháp được các nhà chuyên môn khuyến cáo:

- Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp, tránh dư cân béo phì.

- Tập vận động thường xuyên và vừa sức: luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Đó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương và giảm khả năng té ngã trong sinh hoạt và lao động.

- Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng và cân bằng: Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

- Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng và tránh quá sức: khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay và khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân và nên tận dụng thêm sự hỗ trợ (của dụng cụ hay người khác).

- Giữ nhịp sống thoải mái và thường xuyên thay đổi tư thế: Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

- Điều trị tích cực các bệnh lý xương khớp mắc phải.

Biểu hiện của thoái hóa khớp

Đau:Triệu chứng sớm nhất của thoái hóa khớp là đau khi vận động, mới đầu chỉ đau khi khớp hoạt động, nghỉ sẽ hết đau; sau đó có thể đau âm ỉ, liên tục cả khi nghỉ, đau trội hơn khi vận động. Nếu thoái hóa khớp gối, người bệnh đau nhiều khi đi lại, đứng lên ngồi xuống khó khăn, nhất là lúc lên xuống thang gác hoặc đang ngồi xổm đứng lên, có khi đau quá bị khuỵu xuống đột ngột. Nếu thoái hóa cột sống thắt lưng, người bệnh bị đau âm ỉ ở vùng thắt lưng và thường đau trội lên về chiều sau một ngày làm việc phải đứng nhiều hay lao động nặng, lúc nằm nghỉ đau sẽ giảm. Khi đau, bệnh nhân làm các động tác cúi, nghiêng, ngửa hoặc xoay người rất khó khăn. Nếu thoái hóa khớp háng, người bệnh đau ở vùng bẹn, vùng trước trong đùi, có thể đau cả vùng mông lan xuống mặt sau đùi và dọc theo đường đi của thần kinh tọa.

Hạn chế vận động:Sau triệu chứng đau là tình trạng hạn chế vận động. Nếu bị thoái hóa khớp gối, các động tác gấp và duỗi thẳng chân bị hạn chế, đứng lên ngồi xuống khó khăn, có thể không ngồi được. Nếu bị thoái hóa khớp vai sẽ hạn chế các động tác đưa tay ra trước, ra sau, quay tay và không làm được một số động tác đơn giản như gãi lưng, chải đầu. Nếu bị thoái hóa khớp háng, người bệnh đi khập khiễng, giạng hay khép háng đều khó khăn, khó gập đùi vào bụng.

Tiếng kêu tại khớp:vận động khớp thường thấy tiếng lạo xạo hoặc lục khục.

Kèm theo có thể thấy đầu xương bị phì đại, lệch trục khớp, teo cơ…

PGS.TS.BS. Lê Anh Thư
(Khoa Nội cơ xương khớp - BV Chợ Rẫy)
Theo SKĐS
Viêm khớp phản ứng là một hội chứng đặc trưng bởi tình trạng viêm khớp vô khuẩn ở một khớp hay vài khớp, sau một bệnh nhiễm khuẩn. Triệu chứng của bệnh gồm: viêm một khớp hoặc vài khớp, thường gặp: khớp gối, cổ chân và ngón chân; các khớp: vai, khuỷu và cổ tay hiếm gặp. Viêm khớp thường kèm theo viêm nơi bám tận của gân cơ gây đau nhất là gân gót. Bệnh nhân có sốt nhẹ, mệt mỏi, chán ăn, sút cân. Tổn thương da tăng sừng ở lòng bàn tay, bàn chân, bìu, da đầu giống mụn mủ của vảy nến. Viêm niêm mạc miệng, lưỡi, bao quy đầu: thường nông, không đau tự lành không để lại sẹo. Viêm kết mạc, viêm màng bồ đào trước. Điều trị: dùng thuốc kháng viêm, vật lý trị liệu: nghỉ ngơi tại giường; tập vận động để ngăn ngừa teo cơ, cứng khớp; chườm lạnh tại chỗ để giảm đau. Kháng sinh chỉ dùng khi bệnh nhân có biểu hiện nhiễm khuẩn đường sinh dục hay tiêu hóa. Bôi cortiod và pomat acid salicylic chữa tổn thương da ở bàn tay, chân…

BS. Trần Thanh Tâm
Theo SKĐS
Thoái hóa khớp (THK) bàn tay là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân.

Ở Việt Nam, THK bàn tay chiếm tỷ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí THK thường gặp.

Ai hay bị thoái hóa khớp bàn tay?

Đầu tiên, THK thường đi kèm với người cao tuổi. Tuổi trung bình của bệnh nhân THK bàn tay là 60 – 65 tuổi. Tuy nhiên từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THK bàn tay. Tỷ lệ bệnh tăng dần theo tuổi, cao hơn ở nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 - 79 tuổi.


Tuổi càng cao, lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hoá sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp. Ngoài ra, người già vẫn phải làm việc để kiếm sống, chăm lo các công việc trong gia đình như giặt giũ, bế cháu, các công việc nội trợ khác. Họ lao động chân tay là chủ yếu, tạo điều kiện cho bệnh phát triển.
Bệnh cũng thường gặp ở nữ giới, gấp 3 lần so với nam giới. Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi hormon như estrogen dẫn đến thay đổi tế bào sụn khớp.

Những người béo phì cũng dễ bị THK bàn tay. Có tới 1/3 bệnh nhân THK bàn tay bị béo phì. THK bàn tay thường xuất hiện sau một số bệnh lý bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường...

Cách nhận biết

Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn vì đa số trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất khi cầm, nắm, mang, vác hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay, khớp ngón xa hay khớp ngón gần, khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan đến việc sử dụng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm, nắm đồ vật của bàn tay, do đó dễ bị tổn thương hơn. Hiện nay người ta đã chứng minh vai trò chắc chắn của yếu tố nghề nghiệp trong THK gốc ngón tay cái ở phụ nữ. Người bệnh than phiền đau khớp bàn tay 1 bên hoặc cả 2 bên, đau kiểu cơ học, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng lên khi mặc quần áo, khi cài khuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào ly và đỡ đau khi nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, người bệnh thấy khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 – 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở nên khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo khi cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ.

Ở các giai đoạn muộn, có 1/3 số bệnh nhân có các ngón tay bị biến dạng. Đó là do sự có mặt của các chồi xương, mọc ở khớp ngón xa (hạt Heberden) hay ở khớp ngón gần (hạt Bouchad), gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

Các xét nghiệm máu thường bình thường. Có thể sử dụng thêm chụp X-quang bàn tay để chẩn đoán THK bàn tay. Đây là kỹ thuật đơn giản, ít tốn kém, được sử dụng để đánh giá mức độ tổn thương của THK trong nhiều năm nay. Có 4 dấu hiệu cơ bản của THK bàn tay là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương.

Phòng tránh

Tránh lao động, mang vác nặng. Không nên sử dụng đôi tay trong thời gian liên tục, quá dài. Các thành viên trong gia đình và cộng đồng xã hội nên quan tâm, chia sẻ bớt gánh nặng của người cao tuổi. Tăng cường việc sử dụng máy móc hỗ trợ cho lao động và sinh hoạt nếu có thể. Việc phát hiện sớm THK bàn tay là cần thiết vì sẽ giúp điều trị sớm, giảm thiểu các hậu quả của bệnh. Khi có các dấu hiệu như đau khớp bàn tay, biến dạng khớp hay cứng khớp buổi sáng, hạn chế vận động bàn tay, nên đến khám chuyên khoa xương khớp để được tư vấn và điều trị kịp thời

PGS.TS.BS. NGUYỄN VĨNH NGỌC
Theo SKĐS
Viêm khớp dạng thấp là bệnh khớp mạn tính thường gặp nhất trong số các bệnh khớp viêm. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, song thường gặp ở tuổi 30-50.

Tuy không gây tử vong, nhưng viêm khớp dạng thấp gây mất chức năng vận động của khớp, khiến bệnh nhân nhanh chóng tàn phế với rất nhiều biến chứng và ảnh hưởng đến tuổi thọ. Việc điều trị bệnh sớm và đúng cách có thể giúp lấy lại sức khỏe và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

Viêm khớp dạng thấp được coi là bệnh tự miễn với nhiều yếu tố ảnh hưởng như môi trường, cơ địa, di truyền, hoặc hoóc môn. Biểu hiện đặc trưng là hiện tượng viêm các khớp ngoại biên, cụ thể là viêm màng hoạt dịch, dẫn đến hiện tượng hủy khớp, dính khớp. Các khớp tổn thương thường là khớp ở bàn tay, bàn chân, khuỷu, gối, cổ chân..., cả hai bên. Tình trạng viêm khớp diễn biến kéo dài, có những đợt tiến triển cấp tính và có xu hướng tăng dần. Tuy nhiên, do chưa nhận thức đúng về bệnh, khi thấy đau khớp, nhiều người thường coi đó chỉ là các hiện tượng nhức mỏi khớp thông thường do thời tiết, lao động nặng..., không đi khám. Điều này khiến cơ hội có thể can thiệp điều trị nhằm bảo toàn chức năng vận động của khớp bị bỏ qua, tình trạng bệnh ngày càng xấu. Nếu khớp đã bị hủy hoại nặng, dính khớp thì dù được điều trị tích cực, bệnh nhân cũng khó lòng phục hồi chức năng vận động của khớp.


Theo một số nghiên cứu, sau 5 năm bị bệnh, chỉ 40% số bệnh nhân còn chức năng khớp bình thường.
Ngoài ra, bệnh viêm khớp dạng thấp còn có các biểu hiện toàn thân (gầy sút, mệt mỏi, thiếu máu) cũng như biểu hiện về tim mạch và nhiều cơ quan khác. Việc điều trị thuốc không đúng, đặc biệt là lạm dụng các thuốc điều trị triệu chứng như chế phẩm chứa corticoid, khiến bệnh nhân có thể gặp nhiều tai biến (tổn thương dạ dày, tá tràng, tăng huyết áp, đái tháo đường, loãng xương, nhiễm khuẩn, suy thượng thận...).

Hiện viêm khớp dạng thấp vẫn chưa thể điều trị khỏi hoàn toàn. Mục đích cao nhất của điều trị bệnh là đạt được sự lui bệnh lâm sàng, giảm đau, giảm các triệu chứng khó chịu, ngăn ngừa các biến dạng và giữ gìn những chức năng bình thường của khớp. Trước đây các loại thuốc như Diclofenac, Ibuprofen, Meloxicam... hay corticoid được sử dụng để giảm đau và viêm tức thì, giúp bệnh nhân cảm thấy giảm bệnh. Tuy nhiên, hai nhóm này thực tế không thật sự đẩy lui bệnh. Các tổn thương khớp vẫn tiếp tục phát triển, khiến bệnh nhân dần trở nên tàn phế, cứ ngừng thuốc là khớp lại sưng đau. Bên cạnh đó, chúng còn có thể gây một số tác dụng phụ trong quá trình sử dụng thuốc như: viêm lóet dạ dày, tá tràng, chảy máu dạ dày - ruột, thủng dạ dày - ruột, các tác dụng phụ lên hệ tim mạch, thận gan… Với những trường hợp nặng, khi khớp mất chức năng, có thể phẫu thuật thay khớp nhân tạo. Tuy nhiên, phẫu thuật không làm thay đổi diễn tiến bệnh do viêm khớp dạng thấp có tổn thương rất nhiều khớp.

Những năm gần đây, các thuốc điều trị sinh học (Biological Therapy) giúp việc điều trị bệnh có hiệu quả cao, tác dụng nhanh, và dung nạp tốt hơn. Trong số các thuốc điều trị sinh học, những loại chứa Tocilizumab là thuốc đầu tiên trong nhóm ức chế thụ thể IL-6 (một tín hiệu hóa học trong cơ thể chịu trách nhiệm thông tin đau và viêm hệ thống ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp), được phép sử dụng để điều trị viêm khớp dạng thấp tại châu Âu (1/2009), Mỹ (1/2010) và tại Việt Nam (4/2011). Các nghiên cứu cho thấy Tocilizumab giúp giảm nhanh triệu chứng, hiệu quả điều trị tăng theo thời gian ở tuần thứ tư trở đi.

Với việc điều trị sớm bằng các thuốc như methotrexat kết hợp thuốc điều trị sinh học như Tocilizumab sẽ giúp kiểm soát được bệnh. Đây là cách để tránh tổn thương khớp không hồi phục, cải thiện triệu chứng, hạn chế tàn phế. Các thuốc này nói chung khá an toàn nếu được theo dõi, quản lý tốt. Trong mọi trường hợp người bệnh vẫn phải tuân thủ điều trị, tái khám đều đặn và kết hợp chặt chẽ với thầy thuốc.

PGS.TS.BS. Nguyễn Thị Ngọc Lan
Trưởng Khoa Cơ Xương Khớp, BV Bạch Mai
Theo Vnexpress
Một nghiên cứu gần đây cho thấy, những phụ nữ nuôi con bằng sữa của mình ít có khả năng bị viêm khớp mãn tính hơn những người không cho con bú.

"Ngoài tác dụng làm giảm nguy cơ ung thư vú và buồng trứng, giảm nguy cơ bị viêm khớp mãn tính có thể là một lợi ích nữa của việc cho con bú", tiến sĩ Elizabeth Wood Karlson tại Bệnh viện Brigham and Women, Boston, Mỹ, tuyên bố.

Karlson và cộng sự đã phân tích số liệu của nhiều phụ nữ để tìm hiểu vai trò của các yếu tố hoóc môn đối với bệnh viêm khớp. Họ nhận thấy những bà mẹ cho con bú với tổng thời gian từ 12 tới 23 tháng trong cuộc đời giảm được 30% nguy cơ bị viêm khớp mãn tính, còn những người cho con bú từ 24 tháng trở lên giảm được 50% nguy cơ.

Kết quả phân tích cũng cho thấy, chu kỳ kinh nguyệt không đều và tình trạng có kinh nguyệt sớm cũng làm tăng nguy cơ bị viêm khớp mãn tính. Song tình hình sử dụng thuốc tránh thai, số con và số tuổi của phụ nữ trong lần sinh nở đầu tiên không có tác động gì tới nguy cơ mắc bệnh.

Việt Linh (theo Reuters)
TTO - Những người có xu hướng mắc bệnh viên khớp di mặt truyền đồng thời vừa hút thuốc thì sẽ ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm hơn trong tương lai. Các nhà nghiên cứu cảnh báo.

Mọi người đều biết rằng những người hút thuốc thường có nguy cơ mắc bệnh viên khớp cao và bệnh viên khớp có thể di truyền sang người trong gia đình.

Một nhóm người Thuỵ Điển từ viện Karolinska đã cho thấy rằng kết hợp với hai yếu tố rủi ro trên sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh của con người lên đến 15 lần.

Các chuyên gia đã kết luận rằng đối với bệnh viêm khớp và thấp khớp, điều quan trọng là phải từ bỏ thuốc lá, như vậy mới hy vọng bảo vệ được sức khoẻ.

NHƯ BÌNH(Theo BBC)
ĐẠI CƯƠNG

Sưng đau các khớp theo Ðông y thuộc phạm vi chứng tý. Bệnh thuộc hệ cơ, khớp xương ở tứ chi và cơ nhục.

Tý có nghĩa là không thông của kinh lạc, khí huyết gây ra bệnh lý ở các phần kể trên.

Chứng tý tùy nguyên nhân gây bệnh khác nhau mà chia làm 3 loại: Phong thắng gọi là hành tý; Hàn thắng gọi là thống tý; Thấp thắng gọi là trước tý.

NGUYÊN NHÂN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH

Nguyên nhân do thời tiết ẩm thấp hoặc tiếp xúc, lao động, nằm ngồi nơi ẩm ướt, hay sau khi làm việc mệt nhọc, bị mưa, rét làm cho ba thứ khí: Phong, Hàn, Thấp nhân lúc chính khí hư yếu, tấu lý sơ hở, tà khí thừa cơ xâm nhập vào cơ thể, lưu lại ở kinh lạc, gân cơ, xương khớp làm cho khí huyết không lưu hành được mà phát ra bệnh.

BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ

1. Hành tý: Do phong tà là chính

Triệu chứng lâm sàng: Sưng đau hoặc đau mỏi các khớp, gân cơ, thớ thịt, đau di chuyển, có khi hết hẳn nhưng tự nhiên lại xuất hiện trở lại; sợ gió, rêu lưỡi trắng, mạch phù.

Phương pháp điều trị: Tán phong, khu hàn, trừ thấp.

Bài thuốc: Bài phòng phong thang:

Phòng phong 16g, hoàng cầm 12g, xuyên quy 16g, cát căn 16g, xích phục linh 12g, khương hoạt 10g, hạnh nhân 8g, quế chi 8g, tần giao 12g, cam thảo 6g.

Cách bào chế: Hạnh nhân bỏ vỏ, xuyên quy tẩm rượu, quế chi cạo bỏ vỏ. Mười vị trên + 2.000ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 250ml.

Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

2. Thống tý: Do hàn là chính

Triệu chứng lâm sàng: Sưng đau các khớp, cơ, xương. Ðau cố định dữ dội, ít hoặc không di chuyển. Tại vùng sưng đau không nóng, không đỏ, chân tay lạnh, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng. Mạch phù, trì hoặc nhu hoãn.

Phương pháp điều trị: Tán hàn, khu phong, trừ thấp, hành khí, hoạt huyết.

Bài thuốc: Ðộc hoạt tang ký sinh gia giảm.

Ðộc hoạt 12g, đương quy 12g, ngưu tất 8g, tang ký sinh 8g, thục địa 12g, nhân sâm 8g, tần giao 8g, thược dược 12g, phục linh 12g, phòng phong 8g, xuyên khung 6g, cam thảo 4g, tế tân 4g, đỗ trọng 8g, quế tâm 6g.

Cách bào chế: Các vị trên + 1.900ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 300ml.

Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

3. Trước tý: Do thấp tà là chính

Triệu chứng lâm sàng: Các khớp đau mỏi, nặng nề, vận động khó khăn, cảm giác tê, đôi khi sưng đau nếu thấp phối hợp với nhiệt có sưng nóng, người mệt mỏi rã rời. Rêu lưỡi dính, nhớt. Mạch nhu hoãn.

Phương pháp điều trị:

+ Nếu thiên về thấp hàn: Táo thấp khu hàn, tán phong.

+ Nếu thiên về thấp nhiệt: Táo thấp thanh nhiệt, tán phong.

Bài thuốc

+ Nếu thiên về thấp hàn: Bài trừ thấp quyên tý thang.

Thương truật 16g, trần bì 8g, bạch truật 16g, cam thảo 6g, phục linh 16g, khương hoạt 12g, trạch tả 16g, sinh khương trấp 4 giọt, trúc lịch 4 thìa cà phê.

- Cách bào chế: Thương truật tẩm nước gạo sao. Bảy vị trên (trừ sinh khương và trúc lịch) + 1.500ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 250ml.

- Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

+ Nếu thiên về thấp hàn, dùng bài Nhị diệu thang: thương truật 48g, hoàng bá 48g.

- Cách bào chế: Thương truật tẩm nước gạo sao, hoàng bá tẩm rượu vi sao. Hai vị trên + nước 1.200ml, sắc lọc bỏ bã lấy 200ml.

- Cách dùng: Uống ấm, chia đều 5 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 1 lần.

Chú ý: Trong quá trình biện chứng luận trị cần lưu ý 3 loại: phong, hàn, thấp tý thường phối hợp với nhau, nhưng khi thấp đã hóa nhiệt hoặc hợp với ngoại nhiệt, ngoại hàn gây các chứng thiên về phong thấp hàn hoặc thiên về phong thấp nhiệt; hoặc thiên về thấp hàn hoặc thấp nhiệt, phải gia giảm thuốc cho phù hợp để chữa trị có kết quả.

Nếu chứng tý đã lâu ngày làm cho khí huyết đều suy kém, khi chữa phải bổ chính khu phong tán hàn, trừ thấp. Thường dùng bài Tam tý thang:

Nhân sâm 8g, bạch truật 12g, phục linh 12g, cam thảo 4g, đương quy 12g, xuyên khung 6g, bạch thược 12g, hoàng kỳ 12g, bào ô đầu 2g, quế tâm 6g, phòng phong 8g, phòng kỷ 12g, tế tân 4g, sinh khương 8g, đại táo 7 quả.

- Cách bào chế: Các vị trên + 1.900ml nước, sắc lọc bỏ bã lấy 250ml.

- Cách dùng: Uống ấm, chia đều 6 lần, ngày uống 4 lần, tối uống 2 lần.

+ Nếu bệnh lâu ngày biểu hiện tổn thương: Tâm, can, thận, khí huyết nghiêm trọng gây ra các chứng sưng đau khớp, gầy yếu xanh xao, hồi hộp đánh trống ngực, mất ngủ..., khi chữa phải tư bổ can thận, an thần khu phong, trừ thấp; Thêm các vị táo nhân, viễn chí, thạch xương bồ.

Nếu bệnh lâu ngày biểu hiện khớp ngón tay, ngón chân to, cứng, hạn chế vận động do phong đàm bế tắc kinh lạc thì thêm các vị: Nam tinh, bán hạ, bạch giới để hóa đàm; Thiên ma, tần giao để thư cân.


Tác giả : BS. TRẦN VĂN BẢN (Tổng thư ký Hội Ðông y Việt Nam)
Theo Ykhoa
Việc tập luyện giúp giảm đau và cứng khớp, tăng sức dẻo dai, làm mạnh cơ bắp, khỏe tim. Nó còn giúp giảm cân và làm cơ thể khỏe khoắn. Tuy nhiên, nếu tập không đúng cách, bệnh sẽ nặng thêm.

Có 3 cách tập luyện tốt nhất cho người bị viêm khớp. Tập nhẹ (như khiêu vũ) giúp khớp hoạt động bình thường và giảm sự căng khớp; giúp duy trì và tăng sự dẻo dai. Tập mạnh (như cử tạ) làm mạnh cơ bắp; cơ có mạnh mới hỗ trợ và bảo vệ được các khớp bị viêm. Thể dục nhịp điệu (aerobic) hay tập luyện kéo dài (như đi xe đạp) giúp cải thiện tim mạch, kiểm soát trọng lượng cơ thể và cải thiện toàn bộ chức năng. Kiểm soát thể trọng là yếu tố rất quan trọng đối với người bị viêm khớp bởi sự dư cân sẽ làm tăng áp lực lên các khớp.

Để thiết lập chương trình tập luyện, nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa. Hãy khởi đầu việc tập luyện với sự giám sát của chuyên viên vật lý trị liệu. Trước hết, phải làm ấm các khớp bị viêm, khởi động với các bài tập nhẹ. Sau đó, thực hiện các bài tập nặng hơn một cách từ từ với các trọng lượng nhỏ, tập thật chậm.

Hãy chọn chương trình tập luyện phù hợp nhất và tập luyện thường xuyên với nó. Sau tập, cần dùng các túi chườm lạnh.

Các phương pháp sau sẽ giúp bạn chặn đứng cơn đau trong thời gian ngắn để thấy dễ chịu hơn khi tập luyện:

- Chườm nóng: Có thể sử dụng túi chườm nóng hay tắm nóng, thực hiện tại nhà, mỗi lần khoảng 15-20 phút, thực hiện 3 lần/ngày sẽ giúp giảm triệu chứng đau.

- Dùng sóng ngắn, vi ba và siêu âm để đưa nhiệt xuống sâu hơn ở những vùng khớp không bị viêm, thường dùng ở khớp vai để làm giãn cơ gân do tập luyện quá căng. Nhiệt sâu không được chỉ định đối với những bệnh nhân bị viêm khớp cấp tính.

- Chườm lạnh: Có thể sử dụng các túi đựng nước đá, làm giảm đau và viêm, thường dừng khoảng 10-15 phút mỗi lần. Chườm lạnh được chỉ định trong viêm khớp cấp tính.

- Thủy liệu pháp (hydrotherapy): Có thể làm giảm đau và căng cơ. Tập luyện trong bể rộng có vẻ dễ hơn bởi vì nước làm giảm sức nặng của cơ thể lên khớp bị viêm.

- Vật lý trị liệu: Bao gồm các biện pháp như kéo giãn, massage và tẩm quất. Với các chuyên viên, những phương pháp này có thể làm giảm đau và làm tăng độ dẻo dai của cơ khớp.

- Giãn cơ: Bệnh nhân cần học cách thư giãn để làm giãn cơ và giảm đau. Các chuyên viên có thể thực hiện những biện pháp giãn cơ chuyên nghiệp.

- Châm cứu: Đây là phương pháp cổ truyền của Trung Quốc có thể giúp giảm đau. Các nhà nghiên cứu tin rằng kim châm cứu sẽ kích thích các sợi thần kinh cảm giác sâu, sau đó được truyền lên não và làm giãn cơ.

BS. Nguyễn Văn Thông, Sức Khỏe & Đời Sống
GLUCOSAMINE LÀ GÌ?

Glucosamine là một amino-mono-saccharide có trong mọi mô của cơ thể con người. Glucosamine được cơ thể dùng để sản xuất ra các proteoglycan. Những phân tử proteoglycan này hợp với nhau thành mô sụn. Nguồn cung cấp để tổng hợp Glucosamine lấy từ glucose trong cơ thể.

Glucose è Glucosamin è proteoglycan è sụn khớp.

Trong các khớp bị viêm, lớp mô sợi của bao khớp và màng hoạt dịch làm giảm sự khuếch tán glucose vào mô sụn. Hơn nữa hiện tượng viêm trong khớp đã tiêu thụ lượng glucose có giới hạn của cơ thể. Chính vì thế có sự thiếu hụt Glucosamine.

Lúc này, Glucosamine sulfate ngoại sinh là nguồn cung cấp tốt nhất cho sự sinh tổng hợp các proteoglycan. Người ta thấy Glucosamine sulfate có ái lực đặc biệt với các mô sụn. Nó còn giúp ức chế các men sinh học như stromelysin và collagenase gây phá hủy sụn khớp.

Trong thực nghiệm trên thỏ con, người ta thấy Glucosamine sulfate chỉ làm tăng thành phần các proteoglycan trong các vị trí mô sụn hư cần phải sửa chữa mà không có tác dụng tương tự trên phần sụn khớp bình thường.

ỨNG DỤNG TRÊN LÂM SÀNG

Trong nhiều thập niên qua, việc điều trị viêm khớp chủ yếu là dùng các thuốc kháng viêm giảm đau nhằm mục đích giảm các triệu chứng đau và hạn chế vận động khớp viêm cho người bệnh. Tuy nhiên những thuốc này có rất nhiều tác dụng phụ và thường không cải thiện được tình trạng bệnh lý của sụn khớp bị hư hỏng. Vì vậy tác dụng của nhóm thuốc này chủ yếu chỉ nhằm giảm bớt hiện tượng viêm, cắt cơn đau mà thôi.

Ðến vài năm gần đây, người ta đã tìm ra một số loại thuốc tương tác lên bệnh lý của sụn khớp một cách hiệu quả, trong đó có Glucosamine. Thực tế lâm sàng cho thấy nó mang lại nhiều ưu điểm trong điều trị hơn hẳn NSAID.

Ưu điểm lớn nhất ghi nhận được đến nay là có rất ít tác dụng phụ khi sử dụng Glucosamine sulfate. Một vài trường hợp dị ứng không đáng kể đối với người có cơ địa quá mẫn cảm với thuốc.

Trước đây Glucosamine được xếp vào nhóm thuốc bảo vệ sụn (gồm có Glucosamine sulfate, Chondroitin sulfate và Diacerin) hay thuốc tác dụng chậm với các bệnh viêm khớp. Hiện nay nó được cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMEA) chấp nhận xét vào danh mục thuốc giúp cải thiện cấu trúc trong bệnh viêm khớp. Các loại khác chưa được chấp nhận vì không đáp ứng được các yêu cầu thực nghiệm lâm sàng.

Ðã có rất nhiều nghiên cứu thử nghiệm so sánh với các loại thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), cho kết quả như sau:

1. Cải thiện triệu chứng viêm khớp như đau, tầm độ khớp tương đương với NSAID trong thời gian ngắn và càng vượt trội hẳn nếu uống thuốc thời gian càng dài.

2. Tính an toàn hơn hẳn với các loại NSAID luôn luôn có rất nhiều tác dụng phụ kèm theo.

3. Người ta dùng phối hợp Glucosamine và NSAID cho kết quả tốt hơn khi dùng đơn độc NSAID trong thời gian ngắn. Sau đó ngưng NSAID, tiếp tục sử dụng Glucosamine thì tình trạng cải thiện vẫn tiếp tục được duy trì theo kiểu tuyến tính.

4. Người ta thấy dùng NSAID, những ích lợi giảm triệu chứng cho bệnh nhân sẽ nhanh chóng mất đi ngay sau khi ngưng thuốc. Ngược lại, ngưng uống Glucosamine tác dụng vẫn tiếp tục kéo dài trong nhiều tháng sau đó.

5. Với những bệnh nhân tuân thủ phác đồ điều trị dùng Glucosamine càng dài thì lợi ích kinh tế càng lớn vì tính an toàn và hiệu quả của nó càng được phát huy.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG

Liều khuyến cáo là 1.500mg mỗi ngày, dùng liên tục hay có chu kỳ trong một năm.

Tác dụng giảm đau thường có sau khoảng 10 ngày dùng thuốc. Vì thế người ta có khuynh hướng kết hợp với NSAID trong tuần lễ đầu tiên. Sau đó ngưng NSAID và tiếp tục sử dụng Glucosamine sulfate.

Sự phối hợp với chondroitin sulfate chưa có thử nghiệm nào cho thấy cho kết quả tốt hơn sử dụng đơn độc Glucosamine. Hơn nữa người ta khó đảm bảo được chất lượng của chondroitin do quá trình sản xuất chưa được chuẩn hóa.

Bệnh xương khớp đang là vấn đề lớn của thế giới vì nó có thể làm người bệnh tàn phế, suy giảm sức lao động của toàn xã hội. Vì thế 10 năm đầu của thế kỷ 21 đã được Tổ chức Y tế Thế giới chọn là thập niên xương khớp (Bone & Joint Decade). Việc tìm ra các loại thuốc mới nhằm giúp bệnh nhân khớp phục hồi lại được sức khỏe cộng đồng là những cống hiến quí báu cho nhân loại. Chúng ta hãy tiếp tục chờ đón những thành tựu mới nhằm cải thiện hơn nữa chất lượng điều trị các bệnh khớp.

BS. HUỲNH BÁ LĨNH (BV. Chấn thương Chỉnh hình TPHCM)
Theo Ykhoanet
I. CHỨC NĂNG CỦA CỘT SỐNG

Cột sống là một tập hợp 24 đốt sống, bắt khớp cùng nhau tạo một chuỗi xương dài hướng thẳng đứng, có 3 chức năng:

1. Là cột trụ chính chống đỡ cho cơ thể con người đứng thẳng.

2. Là một chuỗi khớp xương rất di động giúp cho đầu và thân vận động đa dạng, thoải mái. Cột sống cũng giúp cho sự vận động tứ chi của con người có thể lao động và hoạt động thể thao.

3. Là một ống dài bảo vệ tủy sống, phần kéo dài của não bộ và nơi xuất phát các rễ thần kinh đi khắp phủ tạng, các bắp thịt và da.

II. CÁC THÀNH PHẦN CẤU TẠO ĐOẠN ĐỐT SỐNG DI ĐỘNG

Mỗi khớp của cột sống (được gọi là đoạn đốt sống di động Junghanns) bao gồm các bộ phận:

1. Hai đốt sống (trên và dưới kề nhau) có hai phần:

a. Thân đốt sống ở phía trước.

b. Hai mõm khớp sau, bắt khớp nối hai đốt sống.

- Chức năng chính của các đốt sống là chịu lực và chống đỡ cơ thể.

- Các đốt sống không có các tận cùng thần kinh cảm giác nên không đau khi bị chấn thương.

2. Đĩa đệm

Là phần nằm xen kẽ giữa hai thân đốt sống, bao gồm:

a. Nhân keo đĩa đệm hình trái xoan ở trung tâm, nằm hơi lùi ra phía sau, thành phần chủ yếu là nước (88% khi mới sinh và 70% ở tuổi trung niên). Có thể di động trong đĩa đệm và xẹp thấp tạm thời.

b. Các vòng xơ sụn

Bao quanh nhân keo, số vòng xơ phía sau ít, chỉ bằng nửa số vòng phía trước, phần vòng xơ phía sau mỏng và yếu.

c. Các bản mặt sụn

Ở phía trên và phía dưới đĩa đệm, nối kết đĩa đệm với hai thân đốt sống trên và dưới.

- Chỉ có các vòng xơ ngoài cùng phía sau là có các tận cùng thần kinh cảm giác và đau đớn khi bị kích thích.

Đĩa đệm có hai chức năng:

- Là “một túi mềm” giữ chức năng như một “ống nhún giảm tốc” tiếp nhận mọi áp lực dư thừa tác động lên cột sống khi lao động.

- Là “một trục cầu bánh chè” giúp cho hai đốt sống vận động chung quanh một cách trơn tru (cúi ngửa, nghiêng hai bên, xoay cột sống), nhờ khả năng của đĩa đệm tạm thời thay đổi hình dạng khi các đốt sống vận động (thí dụ: cúi về trước, ngửa ra sau).

- Muốn các vận động của hai đốt sống thực hiện phù hợp với sự biến dạng của đĩa đệm, các vận động phải được tiến hành từ tốn, nhịp nhàng. Động tác vội vã, “lỗi nhịp” của các đốt sống sẽ làm kẹt đĩa đệm, gây đau đớn.

3. Các dây chằng

Là các bản sợi dẹt siết giữ vững vàng các đốt sống và đĩa đệm vào với nhau, giữ cho chuỗi cột sống ở tư thế thẳng đứng.

Chỉ có dây chằng dọc sau cột sống mới có tận cùng thần kinh cảm giác và gây đau đớn khi bị tổn thương.

4. Hệ thống các bắp thịt

- Không nằm trong đoạn đốt sống di động, song hệ thống các bắp thịt là thành phần rất quan trọng: tăng cường sự vững chắc của toàn bộ cột sống khi vận động và chia xẻ phần lớn sức nén ép lên cột sống khi lao động.

- Giống như các dây néo cột buồm.

- Các bắp thịt đều có các tận cùng thần kinh cảm giác và gây đau đớn khi bị tổn thương.

- Chỉ có thành phần xương là không có tận cùng thần kinh cảm giác và không gây đau đớn khi bị tổn thương.

Tất cả bốn yếu tố cấu tạo đoạn đốt sống di động nói trên lúc bình thường hoạt động phối hợp nhịp nhàng đồng bộ sẽ đảm bảo cho cột sống vận động tốt và tiếp nhận mọi lực nén lên cột sống khi lao động. Ta nói là có sự cân bằng giữa khả năng chịu lực và lao động của đoạn đốt sống di động (cung) với yêu cầu lao động trong các công việc hàng ngày (cầu), như vậy:

Khi cung = cầu, cột sống không bị đau đớn.

Ngược lại nếu mất cân bằng giữa cung và cầu: cung < cầu gây các chứng đau lưng.

III. CON NGƯỜI ĐỨNG THẲNG TRÊN HAI CHÂN

Một thách thức nghiệt ngã đối với khả năng chịu đựng của cột sống.

Các kết quả của ngành khảo cổ học đã khẳng định.

- Tổ tiên chung của loài người và loài khỉ hắc tinh tinh là Proconsul (Hopwood), một động vật không có đuôi còn đi trên bốn chân, di chuyển chậm trên cây, có khả năng chuyển từ cây này sang cây khác nhờ các bàn tay (bộ primate) sống cách đây khoảng mười tám triệu năm.

- Một trong các mẫu người đầu tiên đứng trên hai chân được D. Johanson phát hiện ngày 30/11/1974 (châu Phi) là một phụ nữ tuổi khoảng 20, cao chừng 1 mét cân nặng 30kg, được đặt tên nàng “Lucy”, ký hiệu AL 288-1 (Phạm Thành Hỗ, 1998).

- Điều chúng ta quan tâm ở đây là:

Cột sống của loài người hoàn toàn là hình mẫu của loài động vật đi bốn chân (chỉ trừ không có các đốt sống đuôi).

Có thể suy ra:

1. Ở vật đi bốn chân, trọng lượng cơ thể phân bổ đều cho từng đốt sống.

Ở người đứng trên hai chân thì đoạn đốt sống di động thắt lưng cuối cùng (L5-S1) chịu sức tì nén lớn nhất.

Nếu một người cân nặng 50kg thì áp suất tì nén lên đĩa đệm L5-S1 ở tư thế đứng nghỉ bằng 50%, tức là 25kg (Dupuis, 1986).

2. Các tư thế khác nhau (trừ tư thế nằm) và sự vận động của cột sống con người tạo nên các áp lực lên đĩa đệm L5-S1 đều lớn hơn áp lực tư thế đứng yên.

Một người dùng hai tay nhấc một quả tạ nặng 90kg, đầu gối duỗi thẳng thì áp lực lên đĩa đệm nói trên là 672,9kg (Dupuis, 1986).

Thực sự các cơ lưng và áp lực trong ổ bụng (cơ hoành và các cơ thành bụng) hỗ trợ chịu một phần lớn lực nén ép.

Kết luận

- Cột sống con người, đặc biệt ở vùng L5-S1, luôn luôn chịu một sức tì đè khủng khiếp trong hoạt động đi lại và lao động.

- Yamada (1962) cho rằng: Loài người chưa hoàn toàn thích nghi với tư thế thẳng đứng.

- Tư thế cột sống đứng thẳng là nguyên nhân cơ bản nhất làm cho cột sống mảnh mai, dễ bị các chứng đau lưng thông thường.
GS. BS. NGUYỄN QUANG LONG (Bộ môn Chấn thương -Chỉnh hình & phục hồi chức năng ĐHYDTP)
Theo Ykhoanet
Đau lưng luôn là nỗi ám ảnh của người lớn tuổi hoặc người lao động nặng. Đau lưng có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng ngại nhất là tình trạng thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ), chủ yếu gây đau vùng thắt lưng, cản trở hầu như mọi sinh hoạt thường nhật của bệnh nhân. Điều trị TVĐĐ có nhiều phương cách.

Thời gian gần đây, y học hiện đại đã mang đến cho bệnh nhân nhiều cơ hội mới.

Nguyên nhân thoát vị đĩa đệm

Đĩa đệm (ĐĐ) là chiếc gối đệm đàn hồi có dạng như một thấu kính lồi chêm vào giữa 2 đốt sống nhằm tạo sự uyển chuyển cho cột sống trong các động tác xoay, nghiêng, ưỡn, cúi... Đồng thời, ĐĐ còn là vật hộ thân giúp cột sống phân tán trọng lực và lực đè ép từ bên trên do khiêng vác vật nặng và chống rung lắc cho cơ thể. Để thực hiện được các chức năng trên, ĐĐ có một cấu tạo đặc biệt gồm nhân nhầy, bao quanh là các vòng sợi và dây chằng, TVĐĐ hình thành khi vì một lý do nào đó (lão hóa, thoái hóa, chấn thương...) các cấu trúc vòng ngoài xuất hiện “lỗ mọt” hay rách hẳn, mở đường cho nhân nhầy thoát ra chảy vào ống sống hay lỗ tiếp hợp, chèn vào búi thần kinh, gây ra hiện tượng đau thắt lưng dai dẳng. TVĐĐ hay xảy ra ở vùng thắt lưng lan xuống mông, chân, thường được gọi là đau thần kinh tọa.

Phương pháp chẩn đoán

Một thầy thuốc kinh nghiệm có thể xác định TVĐĐ qua thăm khám lâm sàng, nhưng để chẩn đoán chính xác cần nhìn qua phim X-quang hay bổ sung chụp cản quang, ghi điện cơ... Hiện nay, người ta còn sử dụng CT scan hay MRI (cộng hưởng từ) khá hiệu quả trong việc chẩn đoán.

Điều trị TVĐĐ thắt lưng

Tùy thuộc mức độ nặng - nhẹ (chủ yếu căn cứ vào lượng nhân nhầy thoát ra nhiều hay ít và mức độ chèn ép thần kinh), các thầy thuốc sẽ dành cho bệnh nhân những can thiệp vừa phải trước, sau đó tùy tình hình sẽ lựa chọn biện pháp triệt để hơn. Lần lượt gồm có:

- Kéo giãn cột sống thắt lưng bằng giường kéo:

Mục đích làm giảm áp lực đè lên các đốt sống thắt lưng mở đường cho nhân nhầy quay trở lại vị trí cũ. Giường kéo là một thiết bị chuyên dụng nhưng không phức tạp lắm, áp dụng nguyên lý đơn giản là cố định phần trên thân thể, phần dưới nối với hệ thống ròng rọc có treo quả cân nặng để duy trì lực kéo thường xuyên và từ từ. Trọng lượng quả cân sẽ tăng dần theo thời gian, đôi khi người ta dùng chính sức nặng của bệnh nhân làm lực kéo (nằm trên giường dốc xuống).

Ngoài ra, các thầy thuốc còn thêm vài trợ giúp như xông hơi thuốc, áp nhiệt, chiếu tia hồng ngoại, xung điện... nhằm mục đích giãn cơ, giảm đau. Mọi chi tiết về chỉ định, kỹ thuật, thời gian kéo sẽ được áp dụng cụ thể cho từng bệnh nhân. Những trường hợp thoát vị bán cấp hay mạn tính thường là lựa chọn của biện pháp này.

- Tiêm nội đĩa đệm:

Tác động vào chính ĐĐ với mong muốn thu nhỏ hay tiêu hẳn khối thoát vị để giảm áp lực căng phồng, giải phóng sự chèn ép của nó vào thần kinh. Biết được thành tố chính của nhân nhầy là một loại protein, nhiều chất tiêu đạm thịnh hành được mang ra dùng như chymopain (trích xuất từ một giống đu đủ), collagenase (men tiêu collagen)... Tuy có vẻ khả thi nhưng cho đến nay, nhiều thầy thuốc thường e dè biện pháp này vì những tai biến sốc phản vệ nguy hiểm. Gần đây, người ta đã tính đến việc tiêm máu tự thân của chính bệnh nhân vào ĐĐ với cùng mục đích trên nhưng có thể tránh được hiện tượng phản vệ.

- Phẫu thuật đĩa đệm:

Lựa chọn sau cùng có tính triệt để, nhất là sau khi các biện pháp bảo tồn thất bại, mở đường vào thẳng ĐĐ và lấy đi khối thoái vị.

- Laser điều trị:

Rất may là “cánh tay” ngày càng dài ra của laser đã vươn tới lĩnh vực điều trị TVĐĐ, triển khai vào thập niên 80 và ngày càng thâu tóm mọi ưu điểm mà các thầy thuốc mong muốn. Không ngoài cung cách phá hủy cấu trúc nhân nhầy giải phóng chèn ép (laser điều trị giảm áp đĩa đệm cột sống xuyên da - Percutaneous Laser Disc Decompresion - PLDD), các bác sĩ dùng kim chuyên dụng chọc vào ĐĐ và gửi theo nó một sợi quang học dẫn đường năng lượng bức xạ từ máy phát laser (loại Nd-YAR) vào khởi hoạt hiện tượng quang động làm bốc cháy và bay hơi một phần nhân nhầy.

Ít tai biến, không “động dao, động kéo” nhiều, thời gian hồi phục nhanh, PLDD thường được chỉ định trong khá nhiều trường hợp, trừ khi kèm theo thoát vị là nhiều tổn thương nặng nề khác như rách dây chằng ĐĐ, khối thoát vị quá to hay có các bất thường của cột sống liên quan... thì không còn cách nào khác là phẫu thuật để giải quyết trọn gói.

Sau cùng,  biện pháp nội khoa hỗ trợ như giảm đau, giảm cứng cơ, vật lý trị liệu... luôn được áp dụng song song. Với các cứu cánh trên cùng với sự hợp tác tích cực của bệnh nhân, đa số các trường hợp đau thắt lưng do TVĐĐ đều đạt kết quả khả quan. Vấn đề còn lại là thời gian, tổn phí nằm viện... có thể trở thành trở ngại lớn với bệnh nhân nghèo  là một trong những đối tượng mà bệnh đau thắt lưng hay “viếng thăm” nhất.

Anh Tuấn
(ĐH Y khoa Hà Nội)
Đau lưng là một hội chứng có nhiều nguyên nhân

Nếu đau lưng phía trên kèm theo tức ngực, có ho kéo dài với sốt nhẹ, người bệnh sút cân kéo dài đó là dấu hiệu thường gặp trong bệnh lao. Đau lưng ở vùng giữa, hay gặp ở người trẻ tuổi, đặc biệt thấy xương sống có chỗ gồ lên, có thể là lao cột sống. Đau lưng ở đoạn dưới và đau nhiều sau khi mang vác nặng có thể do bong gân, giãn dây chằng. Đau lưng nhiều ở đoạn cuối, xuất hiện một cách đột ngột khi nâng vật nặng hoặc khi vặn mình là nguyên do thoát vị đĩa đệm. Đặc biệt đau vùng thắt lưng kèm theo một bên đùi hoặc bàn chân thấy đau, tê và yếu có thể do dây thần kinh bị kẹt hoặc gai đôi. Ở những người có tác phong đứng ngồi sai tư thế để cho hai vai thõng xuống cũng là 1 nguyên nhân gây ra đau lưng.

Người có tuổi bị đau lưng lâu năm, kèm thêm làm việc chóng mệt, hay tối sầm mặt mày đó là dấu hiệu của bệnh thoái hóa cột sống, gây hội chứng thiếu máu não. Phụ nữ trong kỳ có kinh hoặc có thai thường đau ở vùng thắt lưng là chuyện bình thường. Ngoài ra các bệnh nhiễm trùng đường ruột, ở thận, niệu quản, bàng quang người bệnh cũng cảm thấy đau lưng cấp hoặc mãn.

Do tính chất phức tạp và nhiều nguyên nhân có thể gây ra đau lưng. Vì vậy khi bị đau lưng chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân để có cách phòng và chữa hiệu nghiệm.

Cách chữa trị

Đau lưng do lao, do nhiễm trùng đường tiết niệu, đường mật thì cần phải chữa nguyên nhân. Đau lưng thường, kể cả đau lưng ở phụ nữ có thai có thể chữa bằng cách sửa lại thói quen đứng, ngồi thẳng lưng hoặc nằm trên phản, giường cứng, không nằm đệm hoặc võng, thường xuyên tập luyện hoặc dùng châm cứu, bấm huyệt. Trường hợp đau lưng do giãn dây chằng hoặc nghi trượt đĩa đệm cần để người bệnh nằm ngửa, bất động trong vài ngày, nên kê đệm ở chỗ khoeo chân và lưng, nên dùng các thuốc giảm đau uống kèm theo đắp khăn nóng.

Trong vài ngày nếu đau lưng không đỡ bạn nên đến phòng khám bệnh chuyên khoa để được khám và điều trị đặc hiệu.


BS. NGUYỄN KHẰC VIỆN

 Học viện Quân y
Theo Ykhoanet
Nếu đang hút thuốc lá, bạn cần bỏ thói quen này, vì các kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng, thuốc lá làm giảm lượng máu chảy tới xương sống. Đó là một trong những lời khuyên giúp phòng tránh đau lưng mà các nhà khoa học tại trường Y Harvard (Mỹ) mới đưa ra.

Sau đây là những biện pháp khác để phòng chấn thương ở lưng:

- Khụy chân nhưng giữ thẳng lưng khi nhấc vật nặng.

- Thường xuyên tập luyện lưng và các cơ bụng.

- Mang giày thoải mái và có đế thấp.

- Giữ dáng đi thẳng.

- Giảm cân nếu thừa cân (vì tình trạng này khiến cơ thể mất thăng bằng).

Thanh Niên (theo HealthScout)
Hiện tượng đau cột sống do chấn thương hoặc thoái hóa khớp thường trở nên trầm trọng hơn nếu cột sống vẫn tiếp tục phải làm việc. Trái lại, sự nghỉ ngơi sẽ giúp cơn đau dịu đi.

Có rất nhiều yếu tố khiến ta đau lưng, trong đó có một nguyên nhân phổ biến là "chất liệu" của cột sống không giữ được độ bền qua năm tháng, chẳng hạn như thoái hóa sụn và đĩa đệm, xuất hiện từ tuổi 30-40. Phần trong đĩa đệm thì khô, phần ngoài bị nứt nên không còn tác dụng đệm tốt cho đốt sống. Chính trong giai đoạn này, người bệnh cảm thấy đau lưng nhưng không nặng nề. Có hai trường hợp gây đau lưng nặng:

- Đĩa đệm không nằm trong hai mặt khớp đốt sống trên và dưới mà thoát ra ngoài, chèn ép rễ thần kinh, gọi là thoát vị đĩa đệm. Nguyên nhân thường gặp nhất là lao động nặng.

- Do quá trình lao động, các mặt khớp tiếp xúc với nhau làm tổn thương xương, khiến xương dễ bị giòn, nứt sinh ra các gai xương. Khi các gai này chạm vào dây thần kinh thì sẽ gây đau.

Chứng đau lưng mạn tính xuất hiện ở tuổi trên 40. Bệnh nhân đau ngang thắt lưng và vùng hông khiến người còng xuống. Khi đứng lâu, ngồi lâu đều đau, ngủ dậy thấy đau, sau đó cảm giác đau giảm dần trong ngày. Đau tăng khi vận động nhiều hoặc nằm lâu bất động, thay đổi thời tiết. Nguyên nhân là đĩa đệm bị thoái hóa và lồi ra ngoài.

Đau lưng cấp thường xảy ra sau những động tác quá mạnh (mang, vác, đẩy, ngã...). Cảm giác đau xuất hiện đột ngột ở vùng thắt lưng, đau với cường độ cao một bên đốt sống, cơ cạnh cột sống bị co làm bệnh nhân không đi lại được. Mọi cử động, hắt hơi, thay đổi tư thế đều gây đau. Nguyên nhân là đĩa đệm bị rạn nứt rồi căng phồng, kích thích vào các dây thần kinh ở dọc cột sống.

Đau dây thần kinh tọa thường bắt đầu từ vùng lưng xuống mông, qua phía sau đùi, xuống cẳng chân tới cổ chân và có thể lan đến các ngón chân. Cảm giác đau như dao đâm, kiến bò, đau nhừ. Nguyên nhân thường là đĩa đệm cuối cùng hay gần cuối cùng thoát ra ngoài.

Các phương pháp điều trị đau lưng

Người bị đau thắt lưng nên nằm ngửa, người hơi ưỡn, hai gối co. Khi bị đau đột ngột, dữ dội, nên nghỉ ngơi tuyệt đối. Nếu đau mạn tính, dai dẳng, nên hạn chế làm việc nặng, nghỉ ngơi nhiều hơn. Không nên hoạt động sớm khi cơn đau mới thuyên giảm.

Có thể giảm đau bằng cách làm cho người nóng lên: dùng các loại dầu hay thuốc dạng kem bôi ngoài da. Khi cần, có thể sử dụng các dạng thuốc giảm đau kháng viêm hoặc thuốc chống co cơ với sự hướng dẫn của bác sĩ.

Phương pháp vật lý trị liệu rất có hiệu quả trong chứng đau lưng, chẳng hạn như xoa bóp, nắn khớp, chiếu tia hồng ngoại, châm tê tại chỗ... Việc áp dụng các phương pháp trên cần có sự hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa.

Ngoài ra, có thể giảm đau lưng bằng cách dùng áo nịt và đai lưng. Phẫu thuật đĩa đệm là phương pháp chữa bệnh triệt để và cuối cùng, được áp dụng khi các phương pháp trên không hiệu quả.

Để phòng đau lưng, khi làm công việc nội trợ phải dùng dụng cụ làm phù hợp với vóc dáng và cơ thể, dùng xe đẩy khi mua sắm, không đứng lâu, đi lại nhiều. Không nên mặc quần áo ẩm ướt hay quá dày nặng, tránh dùng giày dép cao gót; gót giày phải phẳng và có độ chịu lực tốt, không nên thay đổi giày dép nhiều vì khó quen chân.

Trong công việc hằng ngày, cần chọn tư thế thích hợp, mang vác vừa sức, khi cần mang vác nên đeo loại thắt lưng đặc biệt giúp bảo vệ cột sống. Khi ngồi lâu, nên chọn ghế chắc chắn, vừa tầm cao của cơ thể. Khi đứng làm việc, các đồ vật nên để ngang khuỷu tay, tránh tư thế với. Thỉnh thoảng nên giành thời gian nghỉ ngơi, thư giãn.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
Với sự gia tăng của tuổi thọ và sự phát triển xã hội, mỗi chúng ta đều được tận hưởng một cuộc sống lâu dài hơn, tiện nghi hơn, hạnh phúc hơn. Tuy nhiên chúng ta cũng phải đương đầu với không ít khó khăn của cuộc sống hiện đại. Riêng đối với ngành Thấp khớp học, ngoài việc phải đương đầu với nhóm bệnh phức tạp như bệnh tự miễn, còn phải đối phó với các bệnh lý đang có xu hướng gia tăng theo sự gia tăng của tuổi thọ như Loãng xương và Thoái hóa Khớp, và một loạt bệnh lý liên quan đến cuộc sống hiện đại - các bệnh lý xương khớp trong chấn thương (đặc biệt là trong tai nạn giao thông và trong thể thao).

Những tiến bộ vượt bậc về khoa học - kỹ thuật trong nhiều thế kỷ, đặc biệt thế kỷ XX vừa qua đã mang lại cho con người nhiều khả năng và giải pháp mới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có khả năng và giải pháp cứu chữa bệnh tật của Y học, nhờ đó sức khỏe và tuổi thọ của con người ngày càng được nâng cao rõ rệt.

Tuổi thọ ngày càng cao nên tỷ lệ người có tuổi (>= 65 tuổi) trong cộng đồng cũng ngày càng tăng. Theo thống kê gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới, người có tuổi đang chiếm 11 - 12% dân số, ước tính đến năm 2020 con số này sẽ lên đến 17%, thậm chí có thể lên tới 25% ở các nước Âu, Mỹ, tuổi thọ tăng cao, dân số thế giới ngày càng già đi và tuổi già đã trở thành thách thức của nhân loại. Nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người đặc biệt là cho người có tuổi, một bộ phận rất quan trọng trong mỗi gia đình và cộng đồng đang là một mục tiêu quan trọng của công tác y tế trong giai đoạn chuyển tiếp sang Thiên niên kỷ mới.

Mặc dù đã có rất nhiều tiến bộ Y học nhưng vẫn còn nhiều căn bệnh gây đau đớn, gây tàn phế và giảm chất lượng sống... vẫn tiếp tục đeo bám con người.

Thập niên Não bộ 1990 - 2000 đã kết thúc với nhiều kết quả đáng khích lệ, trong việc đầu tư nghiên cứu các bệnh lý của hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là các bệnh thoái hóa của hệ thần kinh trung ương mà điển hình là căn bệnh Alzheimer.

Các bệnh lý Xương Khớp thường gặp nhất (chiếm tỷ lệ cao nhất cả ở các nước phát triển và đang phát triển), gây đau đớn kéo dài cho hàng trăm triệu người, gây tàn phế cho nhiều người. Nhóm bệnh lý này gắn liền với nghỉ việc, giảm năng suất lao động và hạn chế hoạt động hàng ngày. Trong tương lai, tỷ lệ này còn đang tiếp tục tăng cao vì sự gia tăng tuổi thọ... Ngoài tác động rất lớn về kinh tế, xã hội, các bệnh Xương Khớp còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý tình cảm của con người. Chỉ riêng ở Mỹ, thiệt hại do nghỉ việc, giảm năng suất lao động của các bệnh Xương Khớp tương đương với 2,5% tổng sản phẩm quốc gia (GNP), các bệnh Xương Khớp ảnh hưởng hàng trăm triệu người mà ước tính tiêu tốn của xã hội tới 215 tỷ USD hàng năm.

Nhận thức rõ tầm quan trọng và ảnh hưởng to lớn của các bệnh Xương Khớp đối với toàn xã hội, GS. TS Lars Lidgren, Trưởng khoa Phẫu thuật Chỉnh hình Trường Đại học Lund Thụy Điển, Chủ tịch Hội nghiên cứu Chỉnh hình châu Âu đề xướng thập niên 2000 - 2010 là Thập niên Xương và Khớp và ý tưởng này đã được Hội đồng Nghiên cứu Y học Thụy Điển và Tổ chức Y tế Thế giới hết sức ủng hộ.

Tháng 4/1998, một cuộc hội thảo lớn với sự tham gia của các tổ chức nghề nghiệp và nhiều chuyên gia về Phẫu thuật Chỉnh hình, Thấp Khớp học, Loãng xương, Chấn thương, Y học thể lực, Phục hồi chức năng... Hội thảo đã thảo luận về tầm quan trọng và ảnh hưởng của các bệnh Xương Khớp đối với xã hội và nhất trí phát động Thập niên Xương và Khớp, 2000 - 2010.

Tháng 5/2000 vừa qua, ông Kofi Annan, Tổng thư ký Liên hiệp quốc đã gặp gỡ GS. TS Lars Lidgren và tiếp theo đó hàng trăm tổ chức từ gần 40 quốc gia đã ký kết tham gia chiến dịch quốc tế về Thập niên Xương và Khớp của Liên hiệp quốc và Tổ chức Y tế Thế giới.

1. Mục đích của chiến dịch

Nhằm tìm thêm những giải pháp hữu hiệu mới góp phần cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân Xương Khớp và giảm bớt các chi phí cho mỗi bệnh nhân và cho toàn xã hội.

2. Các vấn đề được tập trung nghiên cứu là

* Bệnh lý xương khớp ở người có tuổi

           - Thoái hóa khớp

           - Loãng xương

* Các bệnh lý Khớp, đặc biệt các bệnh tự miễn như: Viêm khớp dạng thấp (người lớn và trẻ em), Lupus ban đỏ hệ thống...

* Các bệnh lý cột sống ở người trẻ

           - Viêm cột sống dính khớp

           - Vẹo và dị tật cột sống

           - Đau thắt lưng

* Các chấn thương Xương Khớp liên quan tới tai nạn giao thông và hoạt động thể thao.

3. Các mục tiêu cụ thể

* Tăng cường các hiểu biết chung của toàn dân về những gánh nặng kinh tế, xã hội, tâm lý của các bệnh Xương Khớp lên toàn xã hội. Hiện tại đã có gần 40 quốc gia tham gia chiến dịch, dự tính, tới năm 2002, sẽ có 100 quốc gia tham gia.

* Tăng cường chương trình giáo dục cho các sinh viên đại học Y các kiến thức cơ bản, và cập nhật về Thấp khớp học, phương pháp khám bệnh và hỏi bệnh, các kỹ thuật thăm dò thường quy... trong Thấp khớp học. Tăng cường đào tạo sau đại học và đầu tư cho các nghiên cứu các bệnh Xương Khớp quan trọng và thường gặp ở từng quốc gia.

* Giáo dục phổ cập về các bệnh Xương Khớp cho bệnh nhân và cộng đồng. Khuyến khích người bệnh tham gia vào nhóm điều trị để có thể tự chăm sóc sức khỏe và góp phần cho việc điều trị đạt hiệu quả cao nhất.

* Khuyến khích dùng các biện pháp dự phòng, ngăn ngừa và ngăn chặn các hậu quả xấu của bệnh, đặc biệt những bệnh có thể dự phòng được như Thấp khớp cấp, Loãng xương, Vẹo cột sống, Đau thắt lưng, Chấn thương do tai nạn giao thông...

* Áp dụng các kiến thức mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ tàn phế của bệnh.

Thông tin về Thập niên Xương và Khớp đã lan rộng tới nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều quốc gia đã ký kết và hình thành các mạng lưới hoạt động của mình và với các quốc gia khác. Hy vọng những thành tựu mà Thập niên Xương và Khớp đem lại sẽ giúp cho việc cải thiện chất lượng sống cho các bệnh nhân Xương Khớp, các bệnh Xương Khớp ngày càng được quan tâm hơn, được đầu tư nghiên cứu nhiều hơn, được điều trị và phòng ngừa tốt hơn, đặc biệt ở một số nước đang phát triển như nước ta. Hy vọng rằng, vấn đề này sẽ được Chính phủ, Bộ Y tế, Hội Thấp khớp học và các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác quan tâm hơn nữa, đề ra kế hoạch hoạt động cụ thể để tham gia vào chiến dịch quốc tế này và để chiến dịch này thực sự mang lại lợi ích cho những bệnh nhân Xương Khớp của nước ta, giảm nhẹ những gánh nặng về kinh tế, xã hội, tâm lý - tình cảm cho mỗi gia đình và cho toàn xã hội.


TS. BS LÊ ANH THƯ

Bệnh viện Chợ Rẫy
Theo Ykhoanet
Các nhà khoa học đã dùng kim tiêm hút các tế bào mỡ dưới da bệnh nhân rồi nuôi cấy trong môi trường đặc biệt có trộn gluco-corticoid và chất tăng trưởng. Sau 14 ngày ủ ẩm, một mảnh sụn nhỏ đã hình thành, hoàn toàn giống như chất sụn của khớp bệnh nhân.

Mảnh sụn này sẽ được ghép vào khớp bị thoái hoá để khôi phục lại chức năng khớp. Phương pháp độc đáo này là sáng tạo của Tiến sĩ Fashid Guilak và các cộng sự thuộc Trung tâm Y khoa của Đại học Duke, Bắc Carolina (Mỹ). Nó có thể được áp dụng rộng rãi để thay thế cho phương pháp ghép sụn cổ điển theo kiểu "giật gấu vá vai" gây tổn thương cho khớp lành mạnh. Một ưu điểm nổi trội nữa của phát minh này là chi phí rẻ và rất dễ thực hiện

Sức Khoẻ & Đời Sống
Các nhà khoa học Singapore đã tìm ra một biện pháp hữu hiệu làm lành các vết rạn nứt trên đốt sống bằng xi măng sinh học. Dụng cụ cần cho cuộc phẫu thuật là một xi lanh, một kim tiêm, một lượng nhỏ xi măng sinh học, một lượng thuốc gây mê và giảm đau vừa đủ cho 3 ngày. Mỗi ca phẫu thuật chỉ kéo dài 1 giờ. Khi bệnh nhân tỉnh lại cũng là lúc xi măng đã gắn cố định vào vết rạn.

Xương của những người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ, ngày một mỏng hơn do chứng loãng xương. Một số trường hợp xương trở nên quá giòn, dễ gãy đến nỗi khi hoạt động mạnh, 1-2 đốt xương sống sẽ bị rạn nứt. Cho đến nay, giải pháp duy nhất đối với các trường hợp rạn đốt sống là dùng thuốc giảm đau và nghỉ ngơi. Nếu có tiến hành phẫu thuật thì tỷ lệ rủi ro cũng rất cao. Lý do là các vết nứt thường xuất hiện ở mặt trước xương sống, phía trong khoang bụng. Nếu mổ từ phía lưng, các bác sĩ phải làm gãy một số xương và đẩy các bộ phận trong khoang bụng sang một bên để tạo khoảng trống cho hoạt động giải phẫu.

Phương pháp điều trị bằng xi măng sinh học khắc phục được hoàn toàn những nhược điểm này. Nhờ công nghệ X-quang hiện đại, các chuyên gia giải phẫu có thể xem xét toàn bộ phần trong của cơ thể. Sau khi xác định vết nứt mà không làm ảnh hưởng đến các dây thần kinh dọc xương sống cũng như các bộ phận trong khoang bụng, họ tiêm một lượng nhỏ xi măng để gắn vết rạn. Sau khi gắn kết, xi măng sẽ là phần đệm đỡ phần xương bị nứt. Thành công của phương pháp này có thể giúp cho hàng trăm người già thoát khỏi sự hành hạ của bệnh đau lưng mỗi năm.

Đã có 36 ca phẫu thuật theo hướng này được thực hiện thành công ở Singapore. Gần đây nhất là cụ bà Tim Woon Yee 91 tuổi, được 2 bác sĩ Goh và Tsou phẫu thuật. Bác sĩ Tsou cho biết nếu không tiến hành phẫu thuật, vết nứt sẽ lớn dần, gây cong xương, khiến cho bệnh nhân bị gù và vẹo xương. Ngoài ra nó còn gây khó thở và tổn thương hệ hô hấp.

KH&ĐS (theo The Strait Times)
Thuốc dùng trong các bệnh viêm khớp, chủ yếu là viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthritis) và viêm khớp thoái hóa (Osteoarthritis) đều có tác dụng điều trị, nhưng bên cạnh đó cũng có thể gây những ảnh hưởng xấu cho sức khỏe. Ðể tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, các bệnh nhân viêm khớp cần có sự hiểu biết nhất định về một số loại thuốc thường dùng, đồng thời hợp tác chặt chẽ với bác sĩ để kịp thời tư vấn khi cần thiết.

ÐỀ PHÒNG PHẢN ỨNG PHỤ CỦA THUỐC

Tác dụng phụ là các phản ứng có hại cho người bệnh khi dùng thuốc đúng liều lượng. Trước khi đưa vào sử dụng, tất cả các loại thuốc đều được thử nghiệm trên người khỏe mạnh và bệnh nhân. Tác dụng chữa bệnh sẽ được so sánh với những tác dụng có hại để có sự chỉ định hợp lý cho việc dùng thuốc. Mặc dù vậy, có những phản ứng phụ không phổ biến, chỉ xảy ra ở 1-2 trên tổng số 1.000 người dùng thuốc cũng như các triệu chứng xuất hiện sau một thời gian dùng thuốc kéo dài đã không được nhắc đến trong đơn thuốc. Mặt khác, các tác dụng chữa bệnh của mỗi loại thuốc cũng thường giảm đi cùng với thời gian.

Một số phản ứng có hại của thuốc rất dễ được phát hiện như: dị ứng thuốc (tăng nhiệt độ, mẩn ngứa, nổi mề đay, nhức đầu, nôn mửa) hoặc shock phản vệ (ngứa toàn bộ cơ thể: nhất là ở bàn tay và bàn chân, phù ở mắt như bị bỏng nặng, phù cuống họng, khó thở, chóng mặt, tụt huyết áp và có thể ngất xỉu). Hiện tượng không dung nạp thuốc có thể xảy ra ở khoảng 25% bệnh nhân. Hệ miễn dịch không có vai trò trong loại phản ứng này. Ðau bụng, nôn mửa, đau gân, chóng mặt, buồn ngủ, tiêu chảy có thể là biểu hiện của tình trạng không dung nạp thuốc. Giảm liều thuốc hoặc dùng thuốc sau bữa ăn đôi khi làm thuốc dễ dung nạp hơn.

MỘT SỐ HỘI CHỨNG DO THUỐC ÐIỀU TRỊ CÁC BỆNH VIÊM KHỚP

Ngộ độc thuốc khi điều trị các bệnh khớp có thể từ nhẹ đến nặng, phục hồi hoặc không phục hồi được. Thường những xét nghiệm lâm sàng và cận lâm sàng sẽ giúp chúng ta phát hiện sớm các biểu hiện nhiễm độc như: cao huyết áp, loét và chảy máu đường tiêu hóa, hạ đường huyết, tổn thương hoàng điểm, tổn thương gan, thận, rối loạn về chuyển hóa và nội tiết, suy tủy dẫn đến giảm các tế bào máu... Bệnh nhân phải dùng thuốc ngay lập tức khi có các biểu hiện ngộ độc trên.

Ngoài các biến chứng thông thường vừa kể, một số hội chứng không điển hình dưới đây cũng cần được chú ý khi điều trị viêm khớp:

1. Các biểu hiện viêm khớp gia tăng: Bệnh nhân cảm thấy đau hơn, sưng hơn cùng với cứng khớp. Cần biết rằng ban đầu có thể xuất hiện các phản ứng theo xu hướng xấu do thuốc bắt đầu tác dụng. Nếu sau một ngày, các biểu hiện này không được cải thiện và tiếp tục phát triển thì rất có thể thuốc đã không có tác dụng, cần phải thay thế thuốc hoặc điều chỉnh lại liều dùng.

2. Tăng nhiệt độ: Nếu nhiệt độ tăng không đáng kể (dưới 380C), đó có thể là biểu hiện bình thường của phản ứng viêm khớp, nhưng nếu nhiệt độ tăng hơn nhiều (trên 380C), phải nghĩ đến khả năng về một bệnh nhiễm trùng. Nhiều thuốc trị viêm khớp đã làm suy giảm hệ miễn dịch cũng như giảm thiểu tuần hoàn và làm tăng một cách đáng kể nguy cơ bị các bệnh do vi trùng và siêu vi trùng. Các thuốc chính gây suy giảm hệ miễn dịch là: Methotrexate, Immuran, Remicade, Infliximab, Enbrel, Cyclosporine, Cytoxan. Phát hiện và điều trị kịp thời các biểu hiện nhiễm trùng sẽ giúp giảm bớt những biến chứng nặng nề có thể xảy ra.

3. Tê hoặc cảm giác kiến bò: Các phản ứng này có thể xảy ra vì sự đè nén do phù và viêm vào các dây thần kinh. Một nguyên nhân khác là do thoái hóa dây thần kinh, do hiện tượng viêm và tổn thương mạch máu. Ngoài ra, độc tính của một số thuốc kháng viêm cũng như thuốc làm suy giảm miễn dịch có thể làm tổn hại hệ thần kinh ngoại vi và gây ra cảm giác tê hoặc kiến bò. Bệnh nhân cần phải thông báo ngay với bác sĩ những biểu hiện này để tìm ra nguyên nhân và điều trị kịp thời.

4. Mẩn đỏ: Rất hiếm khi do các bệnh khớp gây ra, nguyên nhân của triệu chứng này thường là do các thuốc: Solganal, Myochrysine - các thuốc có gốc vàng; (Rheumatrex, Trexall) - Methoratrexate; (Arava) - Leflueno-mide và (Plaquenill) - Hydroxychloro-quine.

5. Ðỏ mắt: Có thể do nhiễm trùng mắt. Nếu kèm theo đau nhức nặng cần phải nghĩ đến bệnh viêm các mạch máu.

6. Không phân biệt được màu đỏ và xanh lá cây: Thường do Plaquenil làm tổn hại võng mạc gây ra. Bệnh nhân phải báo với bác sĩ và dùng thuốc ngay.

7. Buồn nôn: Hầu hết các thuốc trị viêm khớp đều có thể gây nên cảm giác rất khó chịu này, đặc biệt là: Ibuprofen, Naproxen và một số thuốc kháng viêm giảm đau khác như: Azathiprine - (Immuran), Prednisolone, Methotrexate.

8. Ho và đau ngực: Viêm các khớp liên sườn có thể gây đau ngực. Tuy nhiên cũng cần được khám để loại trừ khả năng có bệnh về tim và phổi. Như đã trình bày, khả năng bị nhiễm trùng đường hô hấp do tác dụng giảm miễn dịch của thuốc điều trị viêm khớp có thể xảy ra và phải được điều trị bằng kháng sinh kịp thời. Methotrexate có thể gây viêm phổi do làm tổn thương mô và mạch máu, biểu hiện đầu tiên là ho kéo dài. Các thuốc kháng viêm cũng thường gây ợ acid và đau rát ở lồng ngực.

Trên đây là một số dấu hiệu chính nhưng không phải hoàn toàn đầy đủ của các phản ứng do thuốc điều trị các bệnh viêm khớp có thể dẫn đến. Thuốc như con dao hai lưỡi, có thể gây ra bệnh tật, thậm chí tử vong nếu không được dùng đúng và không có bác sĩ theo dõi liên tục. Bệnh nhân cũng như thầy thuốc cần luôn cảnh giác để phát hiện và xử lý kịp thời những biến chứng để ngăn chặn các hậu quả nặng nề cũng như phải dùng thêm thuốc không cần thiết.

Tác giả : TS. HOÀNG XUÂN BA (Viện nghiên cứu về dị ứng, California)
Theo Ykhoanet
Thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) thắt lưng là một bệnh phổ biến hiện nay trong các loại bệnh đưa đến đau lưng . Đây là một loại bệnh làm mất khả năng lao động rất nhiều. Phần lớn bệnh nhân trong độ tuổi lao động bị TVĐĐ thắt lưng.

Dấu hiệu của bệnh thoát vị đĩa đệm thắt lưng

+ Đau vùng thắt lưng và đau thần kinh toạ. Triệu chứng từ nhẹ đến nặng.

+ Đau mỏi thắt lưng

+ Đau mông có thể lan ra háng. Lan xuống mặt sau đùi, bắp chân, bàn chân.

- Tê chân, cảmgiác kiến bò, cảm giác nóng rát chân.

- Bắt đầu teo cơ tứ đầu đùi (quadriceps), cơ bắp chuối (Gastroenemius).

- Liệt nhẹ chân.

- Các dấu hiệu dương tính: Lasèque (+). Déjerine (+). Sonnette (+). Test passiveextension (+)... góp phần xác định chẩn đoán. Ngoài ra, các xét nghiệm cận lâm sàng giúp chẩn đoán chính xác, nhất là MRI.

* Điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm

Như báo "Sức Khỏe & Đời Sống" số 76 đã đăng "điều trị đau lưng tại nhà" của BS Phan Hữu Phước. Ngoìa ra các bài tập làm mạnh cơ bụng, cơ lưng, kéo dãn cơ lưng, cơ Hamstrings (cơ ba đầu đùi),... vật lý trị liệu còn có kỹ thuật kéo xương chậu (Pelvic Traction) rất quan trọng cho việc phục hồi bệnh nhân bị TVĐĐ thắt lưng. Trọng lượng kéo thay đổi tùy theo tuổi, bệnh lý (tim mạch, loãng xương,...), tình trạng co cứng cơ duỗi lưng, thể lực của bệnh nhân,...

Thông thường bắt đầu kéo xương chậu từ 1/3 trọng lượng cơ thể và tăng dần từ từ đến 1/2 trong lượng cơ thể là tối đa. Dưới 1/4 trọng lượng cơ thể sẽ không có giá trị phục hồi.

* Mục đích kéo xương chậu:

Tứ thế bệnh nhân: nằm ngửa, hông và gối được nâng đỡ ở tư thế gập, sẽ có những ưu dđiểm sau:

- Giảm sức ép lên các đĩa đệm vùng thắt lưng, do cơ hông thăn (psoas) ở tư thế dãn, nghỉ.

- Giảm sức ăng lên dây thần kinh tọa.

- Tứ thế dễ chịu, giu1p bệnh nhân thư giãn.

Lực kéo xương chậu là hợp lực của 2 lực: một phía bờ trước hỏm chén và một phía bờ sau hõm chén của đầu trên xương đùi. Hợp lực này đi qua một ròng rọc cố định và hợp với mặt phẳng ngàng một góc không quá 30 độ.

Vật lý trị liệu rất cần cho bệnh nhân bị TVĐĐ thắt lưng trong điều trị bảo tồn. Trong đó với phương pháp kéo xương chậu đúng tư thế sinh cơ học (biómechanic) thắt lưng và đủ trọng lượng sẽ giúp bệnh nhân phục hồi rất nhanh từ 3 tuần đến 10 tuần tùy theo tình trạng nặng nhẹ (trừ trường hợp rách đĩa đệm và thoát vị đĩa đệm trung ương).

Phương pháp kéo đơn giản, dễ thực hiện, rẻ tiền và có hiệu quả cao, những bệnh nhân ở xa nơi điều trị có thể tự thực hiện tại nhà và kết quả vẫn tốt.

Giảm dùng thuốc quá lâu (gây loét dạ dày...) bệnh nhân chỉ dùng thuốc trong giai đoạn đầu, khi giảm đau trên 50% sẽ bỏ thuốc dần và tập vật lý trị liệu thuần túy (theo ý kiến BS).

Sau đây là thống kê 2 năm (1997 - 1998) số lượng bệnh nhân bị TVĐĐ được điều trị vật lý trị liệu tại Bệnh viện CTVT 8:

Thời gian tập VLTL

Số lượng bệnh nhân

Kết quả

Thất bại (mổ) TB Tốt

Dưới 1 tuần và tự bỏ

372



1/2 tháng

303

2 207 94

3 tuần

323

1 117 205

1 tháng

420

0 97 323

2 tháng đến 3 tháng

259

0 46 213

Tổng số bệnh nhân: 1677        Tự bỏ điều trị                 372

                                                           Phục hồi trung bình         467

                                                           Phục hồi tốt                               835

                                                           Thất bại                                    03

Thất bại : Bệnh nhân bị rách đĩa đệm trung ương nên cần can thiệp                         bằng phẫu thuật.

Trung bình : Giảm đau từ 40% đến 60%

Tốt       : Giảm đau trên 60%, Lasẽque (-) hay (+) yếu.

BS. CK II NGUYỄN ĐỨC HIỆP

Giám đốc BVGTVT 8

Cử nhân VLTL NGUYỄN THỊ THU
Theo Ykhoanet
Bệnh thường gặp ở phụ nữ trung niên, nhất là những người làm việc bàn giấy. Do ngồi một chỗ quá lâu, hay cúi khom về phía trước nên các cơ lưng bị căng, gây đau. Về lâu dài, chứng đau lưng có thể gây biến dạng cột sống như khòm lưng, lưng tôm…

Khi bị đau lưng do cơ bắp và khớp xương bị tổn thương, bạn nên:

- Tập thể dục bằng cách đi bộ để giúp xương và cơ lưng được dẻo dai.

- Ăn uống các loại thực phẩm có hàm lượng chất can xi cao, giảm chất béo.

- Uống các thuốc giảm đau theo chỉ định của thầy thuốc vì đa số thuốc kháng viêm, giảm đau có thể làm bạn bị đau dạ dày và thận do tác dụng phụ.

- Ở nơi làm việc, nên ngồi thật thẳng, không tựa hẳn vào lưng ghế, chỉ dựa từ thắt lưng trở xuống, chân đặt thẳng ngang với nền nhà, đầu gối vuông góc. Nếu làm việc với máy vi tính thì phần cao nhất của màn hình phải đặt ngang mắt bạn. Không nên ngồi một chỗ quá lâu, thỉnh thoảng đứng dậy thư giãn bằng cách vươn vai hay đi lại tại chỗ. Không nên đi giày cao gót thường xuyên.

- Ở nhà, nên mặc đồ lót bằng loại vải mềm mại, thoải mái, nếu cần mang vác một vật nặng hay nhặt lên một vật gì, đừng cúi rạp người xuống mà hãy giữ lưng thật thẳng, quỳ gối xuống từ từ nhấc lên.

- Khi ngủ, tránh nằm sấp. Nếu nệm quá mềm, quá lún, hãy thay một tấm nệm khác phẳng hơn. Trước khi rời giường, bạn nằm ngửa, giơ hai chân lên cao, làm động tác đạp xe đạp vài phút.

(Theo Đẹp)
Muối ăn còn có tên là Thực diêm.

Tên khoa học: Natrium Cloiloridum Curdum.

Muối có hình thể lập phương, dính kết nhau thành một tháp rỗng, không mùi, có vị mặn.

Muối rất hút nước khi có độ ẩm. Nhưng khi rang dòn thì tính chất hút nước sẽ không còn.

Thành phần hóa học của muối gồm: Natri clorua, Kali clorua, magiê clorua, muối canxi, magiê, sulfat và chất sắt... Muối trong công nghiệp dược phẩm là chất vô cùng quan trọng, được xem như một dung môi chủ yếu, còn hơn cả dược phẩm Corticoide có nhân Steroide. Trong tất cả những bệnh nội khoa (các đa chấn thương, bỏng) với tình trạng nguy kịch, nếu không có muối sẽ không có các dung dịch nước truyền buộc phải có muối. Muối chỉ chống chỉ định với bệnh huyết áp cao, cơn sản giật, phù thũng...

TÁC DỤNG CỦA MUỐI ĂN THEO ÐÔNG Y

Trong Ðông y, muối vào 3 kinh thận, tâm, vị. Tác dụng tả hỏa, thanh tâm lượng huyết, nhuận táo, dẫn các thuốc vào kinh lạc làm chất gây nôn, chữa viêm họng, đau răng, rửa vết bỏng...

Muối cũng có tác dụng tốt với các loại bệnh đau nhức khớp đầu ngón bàn tay, bàn chân, các dạng thấp, ra mồ hôi tay, viêm dây thần kinh ngoại vi...; Tác dụng theo cơ chế "Nóng giãn, lạnh co cục bộ". Vì trong thành phần có các muối, các cation (dương) và nation (âm) giúp cân bằng sự sống của cơ thể. Khi chườm muối rang trộn với lá náng trắng (Lá đại tướng quân) để điều trị đau lưng cấp; Hoặc khi rang muối bỏ vào túi vải thô chườm vùng rốn để điều trị đau bụng cấp..., muối sẽ hoạt động theo cơ chế trao đổi các cation và nation như một chất điện phân.

Theo phương pháp điều trị y học cổ truyền đối với đau nhức xương khớp, chúng ta thường dùng "lực" để đè ép, ấn, bấm và xoa bóp cục bộ vùng đau. Qua ứng dụng lâm sàng trong phối trợ điều trị các bệnh đau nhức xương khớp, chúng tôi đã thu được một số kết quả tốt. Nhiều bệnh nhân sau khi bị tai nạn trật cổ xương cẳng chân..., nhờ cho ngâm 2 chân với nước ấm có muối sống ngày 3 lần nên đã lành và đi lại rất tốt.

Qua phương pháp trị liệu ngâm muối sống với nước ấm cho nhiều bệnh nhân, tất cả đều cho biết có cảm giác dễ chịu, thoải mái. Muối điều trị khô bằng cách rang nóng trộn với lá trảy, ngải cứu, lá náng trắng gói vào giấy báo đắp lên vùng đau (Những nơi không thể ngâm nước được).

Thiết nghĩ có thể áp dụng phương pháp này cho các vận động viên tham dự SEA Games 22. Chẳng hạn ngâm chân tay với nước muối ấm trong thời gian 30-45 phút mỗi tối.

Ðây là một phương pháp điều trị tại nhà đơn giản, dễ làm lại không tốn kém, rất phù hợp với những bệnh nhân nghèo ở vùng sâu, vùng xa.
Tác giả : BS. TRANG XUÂN CHI
Theo Ykhoanet
1. Bệnh thống phong (Bệnh Gout - Goutty Arthritis)

           Thuộc nhóm các bệnh khớp vi tinh thể do rối loạn chuyển hóa Purine.

           Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,3% dân số người lớn, nghĩa là cứ 330 người lớn thì có 1 người mắc bệnh Gout.

           Thường gặp ở nam( chiếm tỉ lệ trên 90%)

           Tuổi bắt đầu mắc bệnh, trung niên, từ 35 đến trên 40.

           Khởi bệnh: Cấp tính, đột ngột, diễn biến từng đợt, giữa các đợt khớp hoàn toàn trở lại bình thường.

           Vị trí bắt đầu thường là các khớp chi dưới, đặc biệt là ngón 1 bàn chân(70%).

           Tính chất: Sưng nóng đỏ đau dữ dội, đột ngột.

           Ở một hoặc rất ít khớp, không đối xứng

           Có thể tự khỏi sau 3 - 7 ngày ( ở giai đoạn đầu)

           Giai đoạn muộn thể hiện ở nhiều khớp, có thể đối xứng, xuất hiện các u cục (Tophy) ở nhiều nơi đặc biệt quanh các khớp, ở vành tai.

           Dấu hiệu toàn thân: Khi bị viêm khớp cấp, có thể sốt cao, đột ngột kèm rét run.

           Thể trạng thường khỏe mạnh, mập mạp, sung túc.

           Có thể kèm cao huyết áp, tiểu đường, rối loạn lipid máu.

           Điều trị rất có hiệu quả khi kết hợp tốt giữa điều trị triệu chứng (thuốc kháng viêm giảm đau), điều trị phòng ngừa đều đặn, liên tục, lâu dài (thuốc làm giảm acid uric máu), điều trị các bệnh kèm theo, tuân thủ chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý.

2. Bệnh sốt thấp cấp / thấp khớp cấp / thấp tim (Rheumatic Fever)

           Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn gián tiếp (qua cơ chế miễn dịch).

           Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,5 - 0,6% dân số trẻ em (dưới 15 tuổi), nghĩa là cứ khoảng 200 trẻ thì có 1 trẻ bị bệnh, bệnh rất ít gặp ở người lớn.

           Gặp đều ở cả hai giới (nữ = nam)

           Bệnh thường mắc ở trẻ em lứa tuổi đến trường (thường từ 5 - 15 tuổi).

           Khởi bệnh thường là cấp tính với sốt, đau - viêm họng, đau - viêm khớp.

           Vị trí bắt đầu thường ở các khớp lớn (khớp gối, khớp khuỷu tay, khớp cổ chân).

           Tính chất: Sưng nóng đỏ đau, khớp lớn, không hoặc ít đối xứng.

           Di chuyển từ khớp này sang khớp khác, khi chuyển sang khớp mới khớp cũ hết đau, không để lại di chứng tại khớp.

           Có thể có viêm màng ngoài tim, màng trong tim, viêm cơ tim.

           Dấu hiệu toàn thân: Sốt, viêm họng, mệt mỏi, xanh xao, múa vờn, suy tim.

           Điều trị: Bệnh phải được chẩn đoán xác định sớm để có điều trị chống liên cầu tan huyết nhóm A ở họng, phòng thấp, ngừa tái phát, ngăn ngừa các tổn thương vĩnh viễn ở tim, van tim của trẻ.

           Điều trị phòng thấp phải liên tục, đều đặn, đủ thời gian, đủ liều lượng.

3. Bệnh lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erithematosus - SLE)

           Là bệnh nặng, thuộc nhóm các bệnh của tổ chức liên kết.

           Tỷ lệ mắc bệnh là: 0,02 - 0,1 % dân số người lớn (nghĩa là cứ 1.000 - 5.000 người lớn mới có một người bị bệnh, chỉ chiếm 1/30 - 1/5 số bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

           Đại đa số là nưõ (90%). Bệnh bắt đầu mắc ở lứa tuổi trẻ (20 - 40), 55% dưới 30 tuổi.

           Khởi bệnh: Có thể là cấp tính hoặc bán cấp, cũng có thể từ từ tăng dần, sốt dai dẳng.

           Vị trí bắt đầu thường không rõ ràng, ở nhiều khớp, ở toàn thân.

           Tính chất: Cứng khớp buổi sáng nhẹ và ngắn.

           Đau nhức, nhức mỏi là chính.

           Đối xứng, ít gây biến dạng khớp.

           Dấu hiệu toàn thân: Sốt kéo dài, xanh xao, ban cánh bướm ở mặt, mệt, khó thở, phù, xạm da, rụng tóc, loét miệng, rối loạn kinh nguyệt, viêm mạch máu.

           Điều trị: Đây là bệnh toàn thân khá nặng, các điều trị hiện nay đều nhằm kéo dài thời gian lui bệnh, điều trị triệu chứng và điều trị biến chứng ở tim, thận, phổi, thần kinh trung ương (nếu có) của bệnh.

Tiên lượng của bệnh rất dè dặt, đặc biệt khi bệnh nhân còn trẻ, tổn thương nhiều cơ quan (tim, thận, thần kinh trung ương.). Bệnh thường bột phát, nặng lên trong thời kỳ thai nghén, sinh đẻ và cho con bú.

4. Các bệnh viêm khớp do vi khuẩn gồm lao và vi khuẩn (tụ cầu, lậu cầu. )

           Thuộc nhóm bệnh khớp do nhiễm khuẩn trực tiếp.

           Vi khuẩn có thể vào khớp theo các đường chính: ngoài da, đường niệu, và đường máu.

           Trực khuẩn lao vào khớp hoặc cột sống (sụn khớp hoặc đĩa đệm) qua đường máu, sau nhiễm lao đặc biệt là lao phổi.

           Có thể gặp ở cả hai giới, mọi tuổi, đặc biệt trẻ em, người già và những người suy giảm sức đề kháng, suy giảm miễn dịch.

           Khởi bệnh thường là cấp tính (nếu do vi khuẩn) hoặc bán cấp (nếu do lao).

           Vị trí bắt đầu thường ở một khớp, khớp lớn (khớp gối, khớp háng, cột sống).

           Tính chất: Không cứng khớp buổi sáng.

           Sưng nóng đỏ đau một khớp, cố định. Không đối xứng.

           Dấu hiệu toàn thân: Sốt cao, dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân và tại chỗ.

           Có đường vào của vi khuẩn (ngoài da, đường niệu và đường máu.)

           Sốt về chiều, có dấu hiệu nhiễm lao, có nguồn lây bệnh.

           Điều trị: Thuốc kháng sinh đặc hiệu theo mầm bệnh (nếu viêm khớp do vi khuẩn).

           Thuốc kháng lao theo các phác đồ điều trị lao hiện hành (nếu lao khớp).

           Điều trị tại chỗ, bất động trong giai đoạn viêm cấp.

           Tập vận động, phục hồi chức năng sớm để tránh cứng khớp, teo cơ.

           Tiên lượng tốt, có thể chữa khỏi nếu điều trị đúng, đủ và sớm.

KẾT LUẬN

           Với hoàn cảnh và trang bị kỹ thuật hiện đại, các bệnh khớp thường gặp nêu trên có thể được xác định sớm bởi các thầy thuốc chuyên khoa ở các cơ sở y tế. Rất mong các thầy thuốc và người bệnh quan tâm hơn nữa tới việc xác định chuẩn đoán sớm các bệnh thấp khớp để việc điều trị đạt kết quả cao nhất, hạn chế các tác dụng bất lợi không đáng có của việc điều trị triệu chứng đơn thuần kéo dài, bảo vệ sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho một số rất lớn bệnh nhân là góp phần làm giảm bớt gánh nặng kinh tế cho mỗi gia đình và cho toàn xã hội.

TS - BS LÊ ANH THƯ

Bệnh viện Chợ Rẫy TP. Hồ Chí Minh
Theo Ykhoa net
Nhiều người tưởng rằng phong thấp là bệnh của tuổi già. Nhưng họ đã nhầm to, vì không hiếm người ở độ tuổi 20-40 cũng mắc bệnh này. Khi đó, phải chuẩn bị tư tưởng để chung sống suốt đời với nó.

Giai đoạn chuyển mùa là những ngày khổ cực nhất của người bị bệnh phong thấp. Họ thường than thở rằng da thịt, thậm chí toàn bộ xương cốt trong người cứ như bị bó chặt, đau tựa kim châm, như bị dao cứa...

Phong thấp chính là bệnh viêm khớp xương. Triệu chứng ban đầu là khớp xương sưng đau, mà trước tiên là các khớp ngón tay và cổ tay. Sau đó, hiện tượng này chuyển dần tới khuỷu tay, mắt cá chân và các khớp khác, chẳng bao lâu sau sẽ lan dần đến hai mươi khớp xương còn lại. Đặc trưng của bệnh là các khớp sưng đau có tính chất đối xứng. Nếu thấy xuất hiện thêm triệu chứng cứng chân, cứng tay vào sáng sớm khi ngủ dậy có nghĩa là bệnh đã chuyển thành mạn tính.

Triệu chứng của bệnh phong thấp rất dễ lẫn với một số bệnh xương khớp khác như chứng khớp xương biến dạng, hiện tượng xương và khớp bị lão hóa. Vì vậy, trong thực tế, đã có những người bị chẩn đoán mắc chứng phong thấp, nhưng khi khám kỹ ở chuyên khoa thì hóa ra lại bị khớp xương lão hóa, biến dạng.

Về điều trị, loại hoóc môn do vỏ bên ngoài tuyến thượng thận tiết ra rất công hiệu với bệnh. Tuy nhiên, ngoài những tình huống đặc biệt, không nên sử dụng vì hoóc môn này làm giảm sức đề kháng của cơ thể đối với vi khuẩn và gây những phản ứng phụ khó lường. Nhưng dù dùng loại thuốc nào, người bệnh đều phải nghiêm ngặt tuân theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Ngoài việc dùng thuốc, có thể áp dụng các phương pháp vật lý trị liệu như: dùng sóng cực ngắn, tắm hơi (xông hơi), tắm nước nóng, châm cứu, tắm nắng...

Điều tối quan trọng trong việc điều trị bệnh phong thấp là chuẩn bị tâm lý chữa bệnh. Đây là thứ bệnh chưa rõ nguyên nhân và chưa có phương sách gì điều trị dứt điểm. Vì vậy, cần chuẩn bị tư tưởng và có kế hoạch để "chiến đấu" lâu dài.

(Theo Khoa Học & Đời Sống)
Một nghiên cứu mới đây của Đại học Pittsburgh (Mỹ) cho thấy, những người hút thuốc thường bị đau lưng nhiều và kéo dài hơn so với người không hút.

Ông Jefbrey Gron, trưởng nhóm nghiên cứu của Trung tâm Y Dược Beth Israel, giải thích, chất nicotine làm hạn chế và tắc nghẽn sự lưu thông máu, khiến quá trình thẩm thấu protein và oxy nuôi dưỡng cơ thể bị chậm lại, dẫn đến đau lưng.

Triệu chứng này cũng xuất hiện ở những người có thân hình quá khổ. Họ thường có các cơ bắp vùng bụng và lưng yếu, dễ bị chấn thương. Chính vì vậy, bạn cần tập thể dục đều đặn, ăn uống hợp lý nếu thấy vóc dáng của mình vượt “quá cỡ thợ mộc”.

Các môn thể thao như đi bộ và đạp xe là bài tập tốt nhất cho vùng lưng. Ngoài ra, các động tác thư giãn, duỗi dài cơ thể ở lưng, bụng, hông... cũng rất quan trọng trong việc giúp các vùng này dẻo dai hơn.

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy, việc sử dụng tấm nệm cũ bị thủng, mềm... cũng có thể ảnh hưởng xấu cho lưng. Các đốt xương lưng sẽ cong một cách bất thường khi bạn nằm trên loại nệm này. Nếu thay đổi tư thế như nằm sấp hay nghiêng, lưng bạn vẫn sẽ bị đau nhức.

Tốt nhất, bạn nên chọn loại nệm phẳng, có độ cứng vừa phải, phù hợp cho các đốt xương lưng và tạo cảm giác thoải mái cho cơ thể.

Để tránh đau lưng, bạn cũng đừng khiêng đồ vật nặng sai tư thế. Nếu nghiêng lưng hơn là ngồi xổm khi khuân vác hay khiêng các đồ vật nặng, bạn sẽ chỉ vận dụng các cơ lưng thay vì dùng sức mạnh ở chân và cơ bụng. Những phụ nữ có con nhỏ thường bế bé lên không đúng cách nên dễ bị đau lưng. Phụ nữ địu con trước ngực cũng không tránh khỏi tình trạng này.

Khi bạn khuân một đồ vật nặng, hãy ngồi xổm xuống, kéo vật lại gần người, dùng sức ở chân, cơ bụng... để nâng lên. Khuân vác đúng tư thế giúp bạn tránh bệnh thoát vị đĩa đệm sau này.

Ông Winifred D. Bragg, chuyên gia vật lý trị liệu thuộc ở Virginia, Mỹ, cho biết, những đôi giày cao gót cũng là thủ phạm khiến phụ nữ mắc chứng đau lưng, nhất là những đôi đế cao và mỏng. Khi mang giày cao, người bạn đổ dồn về phía trước, làm cong lưng, ảnh hưởng đến xương sống”.

Để bảo vệ sức khỏe, đặc biệt là vùng lưng, bạn không nên chạy theo thời trang bằng mọi giá. Nếu buộc phải mang giày cao gót, nên chọn loại có đế bản to.

(Theo Tiếp Thị & Gia Đình)
Tác giả : BS. VŨ VIỆT VÂN

Ðau là một động thái bảo vệ cơ thể, báo hiệu cho ta một bộ phận, một phần cơ thể nào đó bị tổn thương và tạo phản ứng để chống đau. Hiệp hội Thế giới nghiên cứu về đau (International Association for The Study of Pain) đã định nghĩa đau như sau: Ðó là một cảm giác khó chịu, xuất hiện cùng lúc với sự tổn thương của các mô tế bào. Ðau là kinh nghiệm được lượng giá bởi nhận thức chủ quan tùy theo từng người, từng cảm giác về mỗi loại đau, là dấu hiệu của bệnh tật và phải tìm nguyên nhân để chữa.

CHIROPRACTIC, PHƯƠNG PHÁP CHỮA ÐAU LƯNG HỮU HIỆU

Ðau lưng là một chứng bệnh thường gặp. Trong chúng ta không mấy ai không mắc phải chứng đau lưng trong suốt cuộc đời mình. Có rất nhiều nguyên nhân gây đau lưng, nguyên nhân do chấn thương hay do bệnh lý của cột sống cũng tương đối hay gặp. Nhưng thường gặp nhất là do lao động không đúng cách. Bài viết này đề cập đến đau lưng do thoát vị đĩa đệm (Lumbar Dics Herniation) hay ta thường gọi là bệnh "cụp xương sống".

Nguyên nhân phát sinh ra bệnh là do sinh động (biomechanic), khi mang hay vác một vật nặng, chạy nhảy nhiều... Khi ấy cột sống phải chịu sự đè nén của vật nặng, sức nặng đè lên xương, xương ép vào lớp sụn, gây sức dồn ép quá mức sẽ làm đĩa đệm giãn phình ra (bulging dics) chèn ép lên các dây thần kinh gây ra cảm giác đau. Nếu vật nặng quá sức chịu đựng của đĩa đệm, hoặc đột ngột nhảy từ trên cao thẳng xuống đất..., lớp ngoài của sụn bị vỡ, nhân của đĩa đệm di chuyển và lồi ra ngoài (protrusion dics) chèn chặt vào các dây thần kinh gây đau lưng dữ dội. Nặng hơn là lớp nhân sụn lồi ra và bị đứt nhân sụn (prolapse dics), loại này cần phải can thiệp phẫu thuật.

Ðiều chỉnh cột sống bằng phương pháp Chiropractic rất hữu hiệu trong trường hợp bulging dics và protrusion dics.

Phương pháp điều chỉnh bằng trọng tâm

- Ðể người bệnh nằm sấp trên ghế Hylo hoặc ghế tự tạo, phần lưng ghế có thể điều chỉnh lên xuống được, điều chỉnh cho lưng hơi cong.

- Ðứng về phía đau của người bệnh, dùng bàn tay phải đặt vào chỗ lồi của xương bàn tọa S1, S2 đẩy về phía sau. Dùng bàn tay trái để vào cột sống lưng L5 và đẩy cho ngược lên trên để mở rộng góc độ lớp sụn bị dập vỡ đè vào tủy sống hoặc dây thần kinh. Nếu lớp sụn đè vào giữa thì người và tay phải thẳng góc với xương lưng, dùng một lực thật mạnh và nhanh ấn xuống cho mặt ghế ở phần lưng sập xuống, trọng lực đẩy lớp sụn nhưng không đè vào tủy sống hoặc dây thần kinh. Người bệnh sẽ thấy bớt đau ngay. Áp dụng kỹ thuật điều chỉnh kể trên lập lại vài lần cho trọng lực ở phần lưng của ghế Hylo hoặc ghế tự tạo đẩy lớp sụn vào sâu thêm.

- Cho người bệnh ngồi dậy một cách cẩn thận và từ từ. Bảo người bệnh đi qua đi lại vài bước. Họ sẽ thấy dễ chịu và bớt đau. Sau đó cho đứng lại vào ghế Hylo, từ từ hạ ghế xuống rồi bắt đầu điều chỉnh xương lưng theo trọng lực khoảng 2-3 lần.

- Ðể người bệnh nằm yên, cho chạy máy Muscle Stimulation với tốc độ vừa hoặc thấp, không quá mạnh trong 25 phút.

- Cho người bệnh dậy đeo nịt lưng ngay để giữ đốt xương không vặn vẹo gây ép lớp sụn, sẽ dẫn đến lớp sụn lồi ra lại.

Người bệnh sẽ đỡ trong vòng 1-2 tuần, thường sẽ không nằm ở tư thế thẳng lưng ngay được vì lớp sụn sẽ bị chèn ép lại chút ít và cần điều chỉnh cột sống bằng phương pháp Chiropractic.

Ngoài ra có thể kết hợp với phương pháp kéo giãn xương sống (lumbar traction). Một đề nghị kéo giãn tốt nhất là nằm ngang, trong trạng thái không bị trọng lực ép vào xương vai, dùng 30% sức nặng của cơ thể để kéo xương hông giãn ra, giảm áp suất vào sụn, giảm sức ép vào dây thần kinh và tủy sống. Mỗi lần kéo từ 30-40 phút và có thể làm nhiều lần trong ngày. Chú ý không kéo giãn trong các trường hợp sau: Ung thư, lao, bệnh xốp xương, tim mạch, cao huyết áp và thai nghén...
Theo Ykhoanet
TTO - Thuốc chống viêm khớp Celebrex có thể tăng cường khả năng của hệ miễn nhiễm để tấn công khối u não và có thể những lọai ung thư khác nữa, theo các nhà nghiên cứu Mỹ.

Các bác sĩ tại Trung tâm Y khoa Cedars-Sinai ở Los Angeles cho biết enzyme COX-2 là thủ phạm kích họat một tiến trình trong tế bào làm gián đọan phản ứng của hệ miễn nhiễm, cho phép các tế bào ung thư nhân lên. Các thuốc ức chế COX-2 trong đó có Celebrex và Vioxx (mới bị thu hồi) có tác dụng chống lại đau nhức trong bệnh viêm khớp bằng cách cô lập enzyme COX-2 gây ra tình trạng viêm.

Kết quả cuộc nghiên cứu hậu thuẫn ý tưởng cho rằng các thuốc tấn công enzyme này cũng có thể tăng cường khả năng của hệ miễn nhiễm trong việc nhận biết và tấn công các tế bào ung thư.

Q.HƯƠNG - Reuters
Tác giả : BS. TRƯƠNG BÍCH NGUYỆT (BV. Điều Dưỡng phục hồi chức năng - Bưu điện II)

Trong các bệnh khớp, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp gối và bệnh goute chiếm tỷ lệ tương đối cao; nhất là ở các nước nhiệt đới, có đôï ẩm như nước ta. Việc điều trị các bệnh này thường lâu dài, tốn kém và hay gặp các tác dụng phụ nghiêm trọng do thuốc gây ra trên niêm mạc dạ dày, tá tràng. Bài viết sau xin giới thiệu một phương pháp điều trị các bệnh cơ xương khớp đã được ứng dụng từ lâu ở nhiều nước trên thế giới là tắm nước khoáng hoặc bùn khoáng..

Việc điều trị bằng nước khoáng, bùn khoáng với nhóm bệnh này là một hướng mới ở Việt Nam, đã được áp dụng tại nhiều nơi như suối khoáng bùn Mỹ Lâm (Nha Trang - Khánh Hòa), Tuyên Quang, khu Suối nước nóng Bình Châu (Vũng Tàu)...

Bùn khoáng

Là loại bùn thiên nhiên được hình thành do những biến đổi địa chất, có nguồn gốc từ thực vật hoặc đất đai, là một nhóm của sản phẩm tự nhiên, của môi trường đất đai do thảo mộc, cây cỏ, hoa bị chôn vùi tạo nên. Bùn được phân bố ở khắp mọi nơi, gồm các chất hữu cơ, vô cơ, các chất có chứa carbon. Bùn khoáng màu đen huyền, đa số có mùi thơm, có tính acid, có thể hút nước.

Nước khoáng

Nước khoáng có tác dụng chống viêm, chống rối loạn chức năng do lão hóa; Tăng tái tạo tế bào cơ, xương, thần kinh; Phục hồi chức năng đối với các bệnh nội, ngoại, phụ khoa, các bệnh xương khớp, đau thần kinh tọa, các bệnh tai mũi họng như viêm mũi, viêm họng, các bệnh tiêu hóa như viêm đại tràng, táo bón, các bệnh lý về da...

Bùn khoáng trong điều trị viêm khớp dạng thấp

Ở đây xin nhấn mạnh đến tác dụng điều trị rất hiệu quả của bùn khoáng đối với viêm khớp dạng thấp.

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh hệ thống, mãn tính, không rõ nguyên nhân, đặc trưng bởi viêm màng hoạt dịch mãn tính, gây sự bào mòn sụn, tổn thương xương và dính khớp. Bệnh được xếp vào nhóm bệnh tự miễn với sự tham gia của nhiều yếu tố như:

Yếu tố tác nhân có thể là virus, vi khuẩn; Yếu tố cơ địa như giới tính, tuổi; Yếu tố di truyền...

Lâm sàng:

Biểu hiện tại khớp:

- Vị trí thường gặp: Khớp cổ tay, khớp ngón gần, gối, cổ chân...

- Tính chất: sưng đau, ít nóng đỏ, đau kiểu viêm kèm dấu hiệu cứng khớp buổi sáng.

- Các di chứng: Bàn tay gió thổi, cổ tay hình lưng lạc đà, đốt gần dưới ngón, ngón chân hình vuốt thú.

- Biểu hiện toàn thân: Hạt dưới da, viêm mao mạch, viêm gân.

Cận lâm sàng:

- Tốc độ lắng máu tăng.

- Các xét nghiệm miễn dịch: Tìm yếu tố dạng thấp (walle, Rose, latex); Điện di miễn dịch

Điều trị:

Nguyên tắc chung: Viêm khớp dạng thấp là bệnh mãn tính kéo dài nhiều năm, vì vậy việc điều trị phải kiên trì, liên tục, kết hợp nhiều biện pháp nội - ngoại khoa, vật lý trị liệu, chỉnh hình... Điều rất quan trọng cần lưu ý là điều trị phục hồi chức năng - chỉnh hình.

Vừa qua, phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp bằng bùn khoáng - nước khoáng ở một số bệnh viện phục hồi - chức năng đã đạt được một số kết quả hết sức khích lệ:

- Giảm 50% thời gian cứng khớp so với trước điều trị.

- Giảm 40% số khớp sưng đau so với trước điều trị.

- Cải thiện chức năng khớp tổn thương 35% so với trước điều trị.

- Không có phản ứng phụ ở tất cả các bệnh nhân viêm khớp dạng thấp trong quá trình trị liệu.

Phương pháp tắm, ngâm bùn khoáng - nước khoáng có tác dụng điều trị tốt viêm khớp dạng thấp và bệnh nhân thoái hóa khớp gối.

Ngoài ra, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh việc tắm bùn khoáng, nước khoáng còn chữa được rất nhiều loại bệnh khác như các bệnh lý về da (vẩy nến, viêm da mạn tính...), suy nhược thần kinh, mất ngủ...

Chú thích ảnh:

Tắm bùn có tác dụng rất tốt cho các bệnh cơ xương khớp.
Theo Ykhoa.net
Tác giả : BS. HUỲNH BÁ LĨNH (BV. Chấn thương Chỉnh hình - TPHCM)

Thoái hóa khớp là nguyên nhân hàng đầu gây ra chứng đau khớp ở người trưởng thành. Từ chuyên môn gọi là viêm xương khớp (osteoarthritis). Trước đây người ta xem nó là căn bệnh của người cao tuổi. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy có rất nhiều người dưới 40 tuổi cũng bị thoái hóa khớp. Thường gặp nhất là do chấn thương và khớp làm việc quá tải. Ngoài ra còn một nguyên nhân trước đây ít gặp nhưng nay khá phổ biến là bệnh béo phì. Hiếm gặp hơn là các nguyên nhân về di truyền (gen) hay khiếm khuyết bẩm sinh về xương khớp.

Ðiểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được. Sau đây là 10 biện pháp được các nhà chuyên môn đề nghị:

1. Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp

Khi bạn càng béo, sức nặng đè lên khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối và bàn chân.

2. Siêng vận động

Luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Ðó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương trong vận động.

3. Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng

Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa, vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

4. Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng

Khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay là khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân.

5. Giữ nhịp sống thoải mái

Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

6. Phải biết "lắng nghe" cơ thể

Cơ thể chúng ta có cơ chế báo động rất tuyệt vời. Khi có vấn đề nó sẽ báo động ngay cho bạn. Trong đó đau là dấu hiệu báo động chủ yếu. Phải ngưng ngay lập tức các vận động nếu chúng gây đau.

7. Thay đổi tư thế thường xuyên

Nên thường xuyên thay đổi các tư thế sinh hoạt. Tránh nằm lâu, ngồi lâu, đứng lâu một chỗ vì sẽ làm ứ trệ tuần hoàn và gây cứng khớp. Có thể đây là yếu tố chính yếu gây ra thoái hóa khớp do nghề nghiệp, nhất là ở những người lao động trí óc.

8. Sự luyện tập "như một chiến binh" sẽ làm hại bạn

Khi khớp của bạn có vấn đề, lời khuyên nên vận động của bác sĩ có thể được bạn hăng hái thực hiện một cách quá mức. Nguyên nhân thường là nỗi lo sợ thầm kín báo hiệu tuổi già của những người thành đạt trong cuộc sống, là sự âu lo nếu bạn là trụ cột của gia đình. Những lý do này khiến bạn vội vã lao vào tập luyện như những người lính cứu hỏa dập tắt đám cháy. Tuy nhiên điều này không thể áp dụng cho tổn thương khớp. Do sụn khớp phải trải qua một thời gian dài tác động mới bị hư hỏng (thoái hóa), vì vậy khi bạn cảm thấy đau nghĩa là nó đã hư khá nặng. Sự nghỉ ngơi sẽ làm ngừng gia tăng mức độ tổn thương. Còn sự vận động sẽ giúp nó phục hồi nhưng cần phải tăng dần cường độ. Nếu bạn quá gắng sức hay nóng nảy trong luyện tập để đốt giai đoạn, thì vô tình sẽ làm chết lớp sụn mới còn non yếu do các lực tác động quá mức của chính mình. Nên bắt đầu bằng những động tác nhẹ nhàng và chậm rãi, sau đó mới tăng dần lên tùy vào sự phản ứng của cơ thể.

9. Bảo vệ cơ thể trước những bất trắc trong sinh hoạt

Khi ra khỏi nhà, bạn nên cẩn thận chuẩn bị những dụng cụ bảo vệ cổ tay và khớp gối, nhằm đề phòng những tình huống bất ngờ có thể làm bạn bị chấn thương.

10. Ðừng ngại ngần khi có yêu cầu trợ giúp

Bạn không nên cố gắng làm một việc gì đó quá sức của mình. Nếu cảm thấy khó khăn, nên nhờ người khác trợ giúp. Mang vác hay xách một vật nặng có thể làm bạn đau nhức kéo dài nhiều ngày. Tình trạng đau nhức này thể hiện sự tổn thương của cơ thể. Từ những lỗ nhỏ có thể phát triển thành những sang thương lớn hơn trên mặt sụn khớp.
Theo Ykhoa.net
Câu hỏi 1: Các triệu chứng chủ yếu của viêm khớp mãn tính là gì ?

Trả lời: Đau khi hoạt động hoặc nghỉ ngơi, cứng khớp, sưng, nóng khớp...

Câu hỏi 2:  Khi  đi khám, nên nói những gì với bác sỹ ?

Trả lời:  Bạn nên thông báo với bác sỹ các triệu chứng kèm theo ngày giờ gặp phải. Các triệu chứng này là tự phát hay xảy ra sau một tai nạn nào đó. Các cơn đau xảy ra thỉnh thoảng, chỉ khi vận động hay cả khi nghỉ ngơi? Vị trí của chỗ đau? Chỗ đau có bị sưng hay nóng không ?

Câu hỏi 3:  Tôi nên điều trị nội khoa bao nhiêu lâu trước khi đến gặp bác sỹ phẫu thuật về chấn thương chình hình ?

Trả lời: Bạn nên tìm đến các bác sỹ chuyên khoa về phẫu thuật chấn thương chỉnh hình sau khi mà các biện pháp chữa trị dùng thuốc thông thường không mang lại kết quả đáng kể, trạng thái đau và hạn chế vận động không giảm đi mặc dù bạn đã dùng hoặc thay nhiều loại thuốc khác nhau. Các bác sỹ phẫu thuật là những người có các khả năng chữa trị các cơn đau của bạn. Bác sỹ phẫu thuật sẽ căn cứ vào các cơn đau của bạn, phim chụp X quang cũng như thăm khám trực tiếp từ đó đưa ra các phương pháp điều trị thích hợp.

Chúng tôi cho rằng, sau một chấn thương mà điều trị thuốc 2 đến 3 tuần vẫn không khỏi bạn nên gặp bác sỹ ngoại chấn thương chỉnh hình. Đối với các cơ đau xảy ra không liên quan đến một chấn thương cụ thể, tốt nhất là sau 2 đến 3 tháng điều trị thuốc thông thường không hiệu quả, bạn nên sắp xếp lịch đến gặp bác sỹ ngoại chuyên khoa. Tuy là một bác sỹ ngoại, nhưng bác sỹ chấn thương chỉnh hình có cả các khả năng đưa ra các giải pháp nội và ngoại khoa điều trị dạng bệnh lý này.

Câu hỏi 4: Có các dạng điều trị không dùng đến phẫu thuật nào đối với điều trị viêm khớp gối mãn tính?

Trả lời: Có rất nhiều biện pháp điều trị để lựa chọn trước khi chọn biện pháp cuối cùng là phẫu thuật. Biện pháp đơn giản nhất là thay đổi lối sống và dùng các công cụ hỗ trợ để đi lại như gậy ba tong. Biện pháp thứ hai là áp dụng các bài tập thể dục, chạy vật lý trị liệu. Phương pháp này giúp cho bệnh nhân hồi phục các chức năng vận động. Ngoài ra còn có các phương pháp điều trị khác bằng cách dùng các loại thuốc giảm đau, chống viêm khác... Biện pháp điều trị nội khoa cuối cùng có thể là phải tiêm thuốc trực tiếp vào khớp bị tổn thương.

Tuy nhiên phương pháp này phải có chỉ định của bác sỹ chuyên khoa, bệnh nhân không thể tự mình quyết định được.

Câu hỏi 5: Tiêm thuốc vào khớp để điều trị viêm khớp là như thế nào ? Để thực hiện nó cần các điều kiện gì ?

Trả lời: Có nhiều loại thuốc được người ta sử dụng để tiêm vào khớp nhằm điều trị viêm khớp. Tuy nhiên, công dụng thực sự của phương pháp này chưa được hoàn toàn chứng minh. Có một số thuốc được tiêm trực tiếp vào ổ viêm nhằm mục đích kích thích cơ thể tiết dịch khớp và do đó làm giảm đau cho khớp khi vận động. Tiêm thuốc dòng steroid vào khớp ngoài tác dụng giảm đau ngắn hạn còn có tác dụng chẩn đoán liệu cơn đau có nguồn gốc từ khớp bị bệnh hay không hay là do đau lan toả từ các bộ phận khác.

Câu hỏi 6: Có các bài tập thể dục nào giúp cho luyện tập và phục hồi khả năng vận động của khớp gối, do đó giúp cho loại trừ hoặc giảm đi các cơn đau ?

Trả lời: Nói chung, các bài tập co duỗi, không mang vác vật nặng, xoay chuyển khớp khối nhưng không di chuyển đi lại nhiều đều có tác dụng tốt đối với các khớp gối bị viêm. Sẽ rất khó đưa ra các bài tập thể dục đúng nếu không xem phim chụp X quang khớp gối bị viêm.

Tốt nhất bạn nên đến gặp các bác sỹ ngoại chấn thương chỉnh hình, người tốt nhất có thể đưa ra các lời khuyên về các bài tập thể dục cũng như các phương pháp điều trị vật lý trị liệu cần thiết.

Câu hỏi 7: Khớp gối bị kêu răng rắc khi chuyển động có phải là một triệu chứng của viêm không ?

Trả lời: Điều đó chưa hoàn toàn là triệu chứng viêm khớp. Bạn nên tiếp tục theo dõi hoặc tham  khảo ý kiến của bác sỹ.

Câu hỏi 8: Bệnh viêm khớp có thể phòng ngừa được không ?

Trả lời: Do nguyên nhân của viêm khớp chưa thật sự được biết rõ nên không có một biện pháp cụ thể nào cũng như vắc xin để phòng bệnh.

Câu hỏi 9: Nếu điều trị nội khoa 1 đến 2 tháng không khỏi thì nên làm gì ?

Trả lời: Nếu điều trị nội khoa không khỏi thì cần cân nhắc đến loại thuốc gì đã sử dụng. Biện pháp cuối cùng là can thiệp ngoại khoa. Hiện nay, phẫu thuật thay khớp nhân tạo ngày càng phát triển mang lại chất lượng cuộc sống tốt hơn đối với hàng triệu người trên thế giới.

Câu hỏi 10: Thay khớp gối có phải là biện pháp giải quyết triệt để bệnh viêm khớp không?

Trả lời: Hầu hết các bệnh nhân sau khi được tiến hành thay khớp gối đúng kỹ thuật do các chuyên gia thay khớp thực hiện, sau 2 tháng luyện tập phục hồi chức năng, sẽ bình phục gần như hoàn toàn. Bệnh nhân sẽ hết đau, kể cả lúc vận động cũng như lúc nghỉ ngơi và ngủ. Bệnh nhân sẽ đi lại vận động gần như lúc bình thường, bệnh nhân có thể đi bộ và tập các động tác thể dục nhẹ nhàng, tham gia các hoạt động xã hội như du lịch.

Với sự phát triển về kỹ thuật, công nghệ trong y tế hiện nay cũng như trong tuơng lai, có thể nói rằng thay khớp gối là một biện pháp triệt để giải quyết nhu cầu giảm đau và phục hồi vận động bình thường của các bệnh nhân viêm thoái khớp gối.
Theo Y khoa.net
Đây là vấn đề phổ biến nhất trong nhóm bệnh viêm khớp liên quan đến cột sống, thường gặp ở nam giới 13-19 tuổi. Hầu hết người mắc đều được phát hiện muộn khi đã có nhiều biến chứng; không ít người bệnh bị tàn phế ngay khi còn rất trẻ.

Mới đầu, bệnh có một số biểu hiện như đau cứng nhẹ vùng cột sống thắt lưng, đau vùng hông và mông, người mệt mỏi, xanh xao, gầy, sốt nhẹ. Biểu hiện nặng hơn là đau cột sống, cứng các cơ ở cổ, teo cơ đùi, viêm mống mắt, tim thường có rối loạn dẫn truyền, hở động mạch chủ nhẹ. Nếu không được điều trị, bệnh nặng dần, dẫn tới dính khớp và biến dạng toàn bộ. Khi dính khớp hoàn toàn, khớp sẽ hết đau nhưng vận động sẽ rất hạn chế. Thường các khớp sẽ dính ở những tư thế xấu làm người bệnh bị gù, vẹo cột sống nặng, chân co quắp (dính khớp háng), không đứng thẳng, không ngồi xổm được, rất khó vận động. Thậm chí, bệnh có thể gây ra những biến chứng như suy hô hấp, tâm phế mãn, lao phổi, liệt hai chi dưới.

Vì vậy, theo tiến sĩ Lê Anh Thư, Trưởng khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Chợ Rẫy, khi có những dấu hiệu của bệnh, nên đến ngay các cơ sở y tế chuyên khoa để được chẩn đoán xác định, áp dụng những biện pháp khống chế bệnh ngay từ lúc đầu. Bác sĩ Anh Thư cũng lưu ý, viêm cột sống dính khớp là một bệnh mạn tính, cần điều trị lâu. Do vậy, bệnh nhân phải kiên nhẫn dùng thuốc và tập vật lý trị liệu để giảm các di chứng.

Nếu được phát hiện và điều trị sớm, đúng, người bệnh sẽ không có di chứng gì tại khớp. Sau khoảng 5 năm điều trị, họ hồi phục gần như bình thường. Bệnh khởi phát mạnh ở độ tuổi 10-19 nhưng đến tuổi 30-40, bệnh sẽ giảm dần hoặc không tiến triển nữa.

Cho đến nay, khoa học chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh viêm cột sống dính khớp. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã hướng đến yếu tố nhiễm khuẩn và yếu tố cơ địa của người bệnh. Do vậy, để giảm nguy cơ viêm cột sống dính khớp, cần phòng ngừa các bệnh đường tiêu hóa, nhiễm trùng và bệnh đường tiết niệu; nếu mắc phải thì điều trị ngay. Ngoài ra, nên tránh một số yếu tố khác như chấn thương, gắng sức, điều kiện vệ sinh kém...

(Theo Người Lao Động)