Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa http://www.khamchuabenh.com/index.php Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học zh-cn Powered by Bo-blog 2.0.2 sp2 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3854 Bệnh Sởi - Khoa học thường thức <> Bệnh rubella - sởi Wed, 20 Jan 2010 09:47:50 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3854 Bác Sĩ Nguyễn Thị Nhuận, Chuyên Khoa Nhi Đồng

Hầu như không một người Việt Nam nào không từng nghe nói tới bệnh sởi. Ðứa bé nào bị mọc nhiều nốt đỏ trong người cũng được cho là đang bị “ban sởi”. Một đứa bé dưới 5 tuổi có thể bị rất nhiều bệnh có kèm theo triệu chứng nổi những vết đỏ khắp người và lần nào cũng cho là lên ban, phải cữ ra nắng gió, phải cữ nước, nếu không thì sẽ bị “chạy hậu”… Vậy ban đỏ là gì?
Bệnh sởi là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp gây ra bởi một con siêu vi có mặt trên toàn thế giới. Những vết đỏ khắp người có thể làm người ta chú ý tới bệnh sởi. Nhưng thực ra đây chỉ là một trong những triệu chứng bên ngoài, những thay đổi bên trong mới nguy hiểm hơn. Bệnh sởi có thể nguy hiểm chết người, nhất là ở những trẻ nhỏ.
Từ vài chục năm nay, với thuốc chích ngừa sởi, bệnh sởi ít sẩy ra ở những quốc gia tiến bộ như Mỹ chẳng hạn, nhưng vẫn còn là một ám ảnh kinh hoàng cho những người dân các nước chậm tiến. Do đó, người Việt thường lo sợ khi nghe nói tơí bệnh sởi.
Bệnh lại rất hay lây và dễ dàng lan ra từ những người du lịch quốc tế. Hiện nay trên thế giới có đến 30 tới 40 triệu trường hợp bệnh sởi xẩy ra, gây ra hơn 750,000 cái chết.
Triệu Chứng - Khoảng 10 tới 12 ngày sau khi tiếp xúc với siêu vi sởi, những triệu chứng sau đây có thể xẩy ra:
1. Sốt
2. Ho khan
3. Chảy nước mũi
4. Mắt đỏ
5. Không chịu được ánh sáng
6. Những nốt nhỏ xíu với trung tâm mầu xanh trắng xuất hiện bên trong miệng nơi gò má. Những nốt này có tên là đốm Koplik.
7. Người mọc ra những đốm đỏ lớn, phẳng, chập vào nhau
Diễn Biến Của Bệnh
Bệnh sởi thường bắt đầu với một cơn sốt khá nhẹ, kèm theo những triệu chứng như ho, chảy mũi, mắt đỏ và đau cổ họng. Khoảng 2, 3 ngày sau, đốm Koplik nổi lên, đốm này là dấu hiệu đặc biệt của bệnh sởi. Sau đó, bệnh nhân có thể bị sốt cao lên tới 104 hay 105 độ F. Cùng lúc đó, những mảng đỏ nổi lên, thường là ở trên mặt, theo đường tóc và sau tai. Những vết đỏ hơi ngứa này có thể dấn lan xuống ngực, lưng và cuối cùng xuống tới đùi và bàn chân. Khoảng một tuần sau, những vết nhỏ này sẽ nhạt dần, vết nào xuất hiện trước sẽ hết trước.
Nguyên Nhân
Bệnh sởi gây ra do siêu vi sởi. Bệnh này hay lây đến nỗi 90% những người tiếp xúc với bệnh nhân sẽ bị lây sởi nếu chưa chích ngừa. Siêu vi sởi có ở mũi và cổ họng của bệnh nhân.
Họ thường đã có thể lây bệnh cho người khác 4 ngày trước khi vết đỏ xuất hiện. Khi bệnh nhân ho, hắt xì, hay nói chuyện, những giọt nước nhỏ xíu có chứa siêu vi sẽ bắn ra không khí và người khác có thể hít vào hoặc những giọt này có thể rơi xuống một nơi nào đó như mặt bàn, điện thoại…Khi ta sờ vào những nơi này và đưa tay lên mũi hay miệng, ta sẽ bị lây bệnh
Một khi siêu vi sởi vào cơ thể bệnh nhân, chúng thường mọc vào trong những tế bào đằng sau cổ họng và phổi. Sau đó bệnh sẽ lan khắp cơ thể kể cả hệ hô hấp và da.
Sau khi khỏi bệnh, cơ thể chúng ta sẽ có kháng thể chống bệnh nên ta sẽ không mắc bệnh sởi lại nữa. Nếu bạn sinh trước năm 1957, bạn thường đã có kháng thể chống bệnh dù chưa hề chủng ngừa. Ðó là vì bạn đã sống qua nhiều thời kỳ mà bệnh sởi hoành hành rất nhiều và nhiều phần bạn đã có nhiễm siêu vi dù có thể không lộ ra. Do đó bạn đã có miễn nhiễm.
Bệnh sởi ít có ở Mỹ nhưng vẫn xảy ra ở nhiều các nước khác và bệnh rất nặng nếu bệnh nhân bị thiếu vitamin A, một điều dễ thấy ở những nước chậm tiến, do dân chúng thường thiếu ăn.
Biến Chứng
Bệnh sởi thường kéo dài từ 10 tới 14 ngày. Ở vài nơi trên thế giới, bệnh sởi là một bệnh nặng có thể gây ra chết người. Ở các nước tiến bộ Tây phương, ít khi xẩy ra cái chết.
Bệnh nhân có thể bệnh nặng nhưng thường qua khỏi. Tuy nhiên biến chứng có thể xẩy ra:
1 - Nhiễm trùng tai xẩy ra ở 1 trong 10 trẻ bị sởi.
2 - Viêm não: xẩy ra ở khoảng 1 trong 1000 người mắc bệnh sởi. Não bị nhiễm siêu vi trùng gây ra ói mửa, giật kinh, có khi hôn mê. Viêm não có thể xẩy ra sau bệnh sởi hoặc có thể xẩy rất nhiều năm sau, vào tuổi vị thành niên, do một loại siêu vi mọc chậm, rất hiếm.
3 - Sưng phổi: khoảng 1/20 trườg hợp bị sởi. Có thể nguy hiểm chết người.
4 - Tiêu chảy và ói mửa: thường xẩy ra cho trẻ nhỏ.
5 - Sưng cuống phổi, sưng thanh quản hay “croup”.
6 - Ðàn bà co thai mắc bệnh sởi có thể hư thai, sanh sớm hay sanh trẻ nặng cân.
7 - Thiếu tiểu cầu (platelets) khiến khó đông máu.
Ngăn Ngừa Sởi
Thuốc chích ngừa sởi rất công hiệu. Trước khi có thuốc ngừa, có chừng 450,000 trường hợp bệnh gây ra khoảng 450 cái chết mỗi năm trên đất Mỹ. Việc chủng ngừa rộng rãi đã giảm con số này 99%. Vào những năm 80 khi số trường hợp bệnh hơi tăng lên, việc chích ngừa đã được đẩy mạnh hơn khiến hiện nay con số bệnh xuống thấp nhất từ trước đến giờ.
Thuốc ngừa sởi thường được gồm chung trong một loại thuốc tên MMR chứa 3 thứ: sởi, quai bị và ban Ðức. Thuốc được chích cho trẻ em từ 12 tới 15 tháng và thêm liều thứ hai chích lúc 4, 5 tuổi. Các em bé mới sinh được kháng thể của mẹ truyền qua nên được bảo vệ từ 4 tới 6 tháng. Nếu em bé được bảo vệ trước 12 tháng, thí dụ như sẽ đi du lịch những vùng nhiều bệnh, em có thể được chích ngừa nhưng phải chích lại lúc được 12 tháng.
Ai cần Chích Ngừa MMR (Sởi, Quai Bị và ban Ðức)?
Bạn sẽ KHÔNG cần chích nếu bạn
1. Là đàn ông sinh trước 1957
2. Thử nghiệm máu chứng tỏ có kháng thể bệnh trong máu
3. Là đàn bà sanh trước năm 1957 và không định sanh con nữa, đã có miễn nhiễm bệnh ban Ðức hay đã chích ngừa ban Ðức.
4. Lúc bé đã được chích ngừa liều MMR sau 1 tuổi.
Bạn cần chích ngừa nếu bạn không có một trong những điều kiện trên và bạn:
1 - Là đàn bà trong tuổi có thể mang thai và hiện đang không có thai.
2 - Ðang đi học đại học.
3 - Làm việc ở những cơ quan y tế hay trường học, nhà giữ trẻ…
4 - Ðang dự định đi du lịch.
Những người sau đây không nên chích ngừa:
1) Đàn bà có thai hoặc dự định có thai trong vòng 4 tuần kế tiếp.
2) Người đã từng có phản ứng dị ứng nặng nguy hiểm đến tính mạng với chất gelatin hay chất trụ sinh neomycin.
Nếu bạn đang bị ung thư, bệnh về máu hay một bệnh miễn nhiễm nào đó, bạn cần nói chuyện với bác sĩ trươc khi chích ngừa.
Phản Ứng Phụ Của Thuốc Ngừa:
Ða số người được chích ngừa không bị phản ứng nào cả. Có khoảng 10% sẽ bị sốt từ 5 tới 12 ngày sau khi chích và khoảng 5% bị nổi đỏ nhẹ. Ít hơn 1 phần triệu bị phản ứng dị ứng nặng.
Trước kia người ta thường tin rằng người bị dị ứng với trứng không nên chích ngừa sởi. Tuy nhiên điều này không đúng. Ngưòi dị ứng với trứng có thể chích ngừa sởi hay MMR.
Gần đây thường có dư luận liên kết việc chích ngừa sởi với bệnh “tự kỷ” autism. Tuy nhiên, báo cáo từ nhiều cơ quan y tế chính của Mỹ đều cho thấy không có sự liên hệ nào giữa hai việc này. Ða số những trẻ em bị autism được định bệnh vào khoảng 18 tới 30 tháng, vài tháng sau khi chích MMR. Do đó người ta dễ liên kết hai sự việc. Tuy nhiên, không có dữ kiện khoa học nào hiện nay cho thấy có sự liên kết cả.

Bs Nguyễn Thị Nhuận, Chuyên Khoa Nhi Đồng
(YDuocNgayNay)[i][/i] ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3853 Phân biệt sởi và các bệnh sốt phát ban khác <> Bệnh rubella - sởi Wed, 20 Jan 2010 09:45:59 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3853
Rubella - Bệnh sốt phát ban chủ yếu ở nước ta


Bệnh Rubella hay còn gọi là bệnh sởi Đức, do vi rút Rubella gây ra. Đây là bệnh sốt phát ban lành tính nhưng rất nguy hiểm đối với phụ nữ mang thai.



Bệnh rất dễ lây lan, chủ yếu là qua đường hô hấp và người nhiễm bệnh là nguồn bệnh duy nhất. Trẻ mắc hội chứng Rubella bẩm sinh sẽ là nguồn truyền nhiễm rất cao cho người tiếp xúc, vi rút có thể đào thải nhiều tháng sau khi sinh.


Những triệu chứng của bệnh Rubella rất nhẹ nên rất khó được phát hiện, đặc biệt ở trẻ em.


Bệnh khởi phát sau 10 ngày đến 15 ngày kể từ lúc tiếp xúc với người bệnh. Triệu chứng thông thường là mệt mỏi, sốt nhẹ, nhức đầu, sưng hạch kéo dài từ 1 - 7 ngày. Những nốt ban màu hồng mịn, bắt đầu từ mặt và nhanh chóng lan xuống thân, sau đó xuống cánh tay và chân trước trước khi biến mất. Ban tồn tại từ 1-5 ngày, nhưng thường gặp nhất là 3 ngày. Trong khoảng thời gian từ 7 ngày trước phát ban và trong lúc phát ban là thời gian mà người bệnh có khả năng lây bệnh cao nhất.


Sự nguy hiểm ở đây là bệnh rất dễ lây lan và nguồn lây bệnh không thể phát hiện được cho đến khi người bị nhiễm có triệu chứng phát ban 7 ngày sau đó. Biện pháp cách ly người bệnh đến thời điểm này cũng được xem là đã quá trễ.


Bệnh Rubella rất nguy hiểm cho phụ nữ mang thai đặc biệt là trong 3 tháng đầu của thai kỳ. 90% phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ sẽ sinh ra em bé bị hội chứng Rubella bẩm sinh như: điếc, đục thủy tinh thể, tật mắt nhỏ, tăng nhãn áp bẩm sinh, tật đầu nhỏ, viêm não, màng não, chậm phát triển tâm thần, gan to, lách to... Đối với những người bị bệnh cần phải được cách ly một tuần lễ kể từ lúc phát ban để tránh lây nhiễm cho những người tiếp xúc. Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh Rubella. Biện pháp phòng bệnh duy nhất là tiêm chủng. Loại vắc xin đang sử dụng hiện nay là vắc xin phối hợp ngừa 3 bệnh: sởi, quai bị, Rubella.


Lịch tiêm chủng của vắc xin ngừa 3 bệnh Rubella, sởi, quai bị được áp dụng như sau: Trẻ em: mũi thứ 1: 12 tháng tuổi; mũi thứ 2: 4-6 tuổi. Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản: một liều duy nhất (phụ nữ chỉ được có thai sau khi tiêm vắc xin được 3 tháng).


Phân biệt sởi với các sốt phát ban khác


Tác nhân gây bệnh Sởi là vi rút thuộc giống Morbillivirus của họ paramyxoviridae. Bệnh Sởi là tình trạng nhiễm vi rút cấp tính với sự lây truyền cao. Sau khi vi rút xâm nhập vào cơ thể, biểu hiện khởi đầu là sốt, viêm kết mạc, chảy nước mũi, ho và có nốt kiplik ở niêm mạc miệng.


Ban đỏ xuất hiện từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7 của bệnh. Ban bắt đầu mọc ở mặt, sau lan ra toàn thân và kéo dài từ 4 - 7 ngày, có những trường hợp bệnh kết thúc trong tình trạng tróc vảy. Trong thời gian mang bệnh, xét nghiệm máu sẽ tháy lượng bạch cầu giảm.


Sự nguy hiểm của bệnh Sởi chính là những biến chứng của bệnh, đó là do sự nhân lên của vi rút hoặc do bội nhiễm vi khuẩn gây ra các bệnh viêm tai giữa, viêm phổi, tiêu chảy, viêm thanh quản, phế quản, khí quản và viêm não. Tất cả mọi người chưa mắc bệnh hoặc được gây miễn dịch chưa đầy đủ đều có nguy cơ bị nhiễm bệnh. Trẻ em là đối tượng nhiễm bệnh dễ dàng và có thể xuất hiện những biến chứng nặng nề. Trẻ sinh ra từ những người mẹ đã bị bệnh sởi trước đây sẽ được miễn dịch thụ động do mẹ truyền cho trong vòng 6 - 9 tháng.


Hầu hết tử vong khi bệnh sởi xuất hiện thường không do vi rút Sởi gây ra mà do những biến chứng. Sự lây nhiễm của bệnh Sởi do vi rút từ những giọt nước bọt li ti của người bệnh bắn ra khi nói và người lành hít phải khi tiếp xúc, do vậy bệnh rất dễ lây thành dịch.


Chẩn đoán bệnh thường căn cứ vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học. Tuy nhiên cách xét nghiệm mẫu bệnh phẩm trong phòng thí nghiệm là đặc biệt cần thiết để phân biệt với các bệnh sốt phát ban khác như Rubella.


Vắc xin là biện pháp dự phòng tốt nhất


Trước khi có vắc xin sởi phòng bệnh thì đây là căn bệnh mà tuổi ấu thơ hầu như ai cũng mắc phải. Phòng bệnh bằng vắc xin được khuyến cáo khi trẻ đủ 9 tháng tuổi, tuy nhiên người ta thấy rằng việc tiêm một mũi vắc xin duy nhất không đủ tạo ra miễn dịch bền vững và rộng rãi trong cộng đồng vì tỷ lệ trẻ tiêm phòng bệnh sót cũng như tỷ lệ đạt được miễn dịch của vắc xin này cũng chỉ đạt xung quanh 90%. Do vậy cần phải tiêm nhắc lại mũi thứ 2, thời gian tiêm là khi trẻ đủ 6 tuổi, độ tuổi bước vào lớp 1. Việc tiêm liều thứ 2 có thể tạo miễn dịch tới 99%. Chương trình TCMR Việt Nam đã thực hiện mũi nhắc lại này trên cả nước từ năm 2006. Tại các địa phương còn xuất hiện những vụ dịch sởi nhỏ, khi đối tượng mắc không chỉ trẻ em thì cần thiết phải thực hiện những chiến dịch tiêm nhắc cho người dân khu vực này để tạo miễn dịch lớn và bền vững trong cộng đồng trong nhiều năm.


Hiệu quả của tiêm phòng vắc xin sởi còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng bảo quản, vận chuyển vắc xin. Nhiệt độ bảo quản vắc xin lý tưởng là từ 2-8oC. Có thể dùng loại vắc xin kết hợp sởi - quai bị - rubella (MMR) để phòng được 3 bệnh một lúc. Tất cả bậc cha mẹ nên đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch và tại các cơ sở y tế. Trước khi tiêm cán bộ y tế cần khám sơ loại, nếu trẻ đang mắc các bệnh khác thì có thể hoãn lịch tiêm đến khi trẻ khỏe mạnh bình thường.


Theo BS. Nguyễn Văn Dũng

Sức khỏe & Đời sống ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3782 Hỏi và Đáp: Xung quanh bệnh Rubella <> Bệnh rubella - sởi Thu, 24 Dec 2009 10:11:01 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3782
- Tại sao lại có tên là bệnh sởi Rubella, còn gọi là sởi Đức?
Soạn: AM 763353 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Những nốt đỏ nhỏ, đặc trưng của rubella, xuất hiện trên cánh tay của một người đàn ông trưởng thành.

Rubella là tên xuất phát từ Latin, nghĩa là “nốt đỏ nhỏ”, là một nhiễm trùng chủ yếu ảnh hưởng đến da và hạch bạch huyết. Thoạt tiên, người ta cho đây là một biến thể khác của sởi hay sốt phát ban, nên nó được gọi là “bệnh thứ ba”. Mãi đến năm 1841, lần đầu tiên y văn Đức mô tả nó như một căn bệnh độc lập. Do đó Rubella còn gọi là “German measles”, nhưng tên German không có nghĩa là nước Đức. Nó xuất phát từ gốc Latin “germanus”, có nghĩa là “tương tự - similar”, v ì rubella và sởi có nhiều triệu chứng giống nhau.

Nghiên cứu dịch tể học về rubella vào năm 1940 đã được Norman Gregg, một bác sĩ nhãn khoa người Úc, báo cáo vào năm 1941, về sự xuất hiện bệnh đục nhãn mắt bẩm sinh ở 78 trẻ sơ sinh của những bà mẹ bị nhiễm rubella trong thời kỳ đầu mang thai. Đây là báo cáo đầu tiên về hội chứng rubella bẩm sinh  (congenital rubella syndrome - CRS).
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

 - Bệnh này khác gì bệnh sởi?

Sởi thường gặp ở trẻ từ 1 tuổi trở lên, thời gian nung bệnh từ 7-10 ngày. Bệnh khởi phát trong 2-3 ngày với các triệu chứng: sốt đột ngột từ 38oC trở lên, mắt ướt, kèm nhèm, ho, chảy nước mũi, tiêu chảy... Khi bệnh toàn phát thì sốt cao 38,5-39oC, li bì, mệt mỏi, các ban sởi dày, mịn, xuất hiện đầu tiên ở sau tai, lan ra mặt, cổ xuống thân mình, tứ chi trong 1-2 ngày. Bệnh sẽ lui khi hết sốt, ban bay dần theo trình tự mọc và để lại vết thâm trên da.

Bệnh sởi hay để lại nhiều biến chứng khi bệnh toàn phát hoặc lui bệnh như: viêm phổi, viêm phế quản... có thể gây tử vong, nhất là ở trẻ dưới 1 tuổi; viêm tai giữa, viêm xoang, viêm răng lợi (nếu nặng bị cam tẩu mã); tiêu chảy có thể gây mất nước dẫn đến tử vong; suy dinh dưỡng; viêm loét giác mạc; lao và các bệnh nhiễm trùng khác.

Rubella thường phát triển mạnh vào dịp đông xuân. Bệnh xuất hiện từ nhiều năm nay ở Việt Nam, tuy nhiên lâu nay ít được chú ý vì có các triệu chứng và thời điểm bùng phát giống với sởi, và thường được thống kê chung vào bệnh này.

Bệnh Rubella có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nung bệnh từ 12-23 ngày, khởi phát với các triệu chứng sốt nhẹ, các dấu hiệu mắt ướt, ho, chảy nước mũi, ỉa lỏng... gần như không thấy. Khi bệnh toàn phát, các biểu hiện mới thấy rõ: mệt mỏi, sốt nhẹ, chảy nước dãi và rõ ràng nhất là nổi mẩn đỏ trên da giống như bệnh sởi. Trẻ ít khi nằm li bì, xung huyết mắt, da mặt, hạch to ở dọc hai bên cổ, không đau.

Các nốt ban trên da dạng chấm đỏ rải rác, mọc không có quy luật và có thể thấy đau khớp. Khi bệnh lui thường hết sốt, ban bay nhanh không theo quy luật, không để lại các dấu vết trên da, hạch trở về bình thường muộn hơn, thường sau 1 tuần.

Hầu hết các ca nhiễm rubella hiện nay xảy ra ở người lớn trẻ chưa có miễn dịch hơn là ở trẻ em. Trên thực tế, các chuyên gia ước tính hiện có 10% số người lớn trẻ tuổi mẫn cảm với rubella, gây nguy hiểm cho đứa con mà họ có thể có vào một ngày nào đó.

- Bệnh rubella lây truyền như thế nào?
Soạn: AM 763363 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Trẻ cũng bị mắc bệnh rubella

Bệnh gây bởi virus rubella (không phải là virus sởi), được phân lập lần đầu tiên vào năm 1962. Nó cũng là một bệnh truyền nhiễm nhưng mức độ không nhiều hơn so với bệnh sởi hay bệnh thuỷ đậu.

Người nhiễm rubella dễ lây bệnh cho người khác trong thời điểm từ 1 tuần trước đến 1 tuần sau khi phát ban. Người nhiễm bệnh nhưng không có triệu chứng vẫn có thể lây truyền bệnh.

Trẻ bị hội chứng rubella bẩm sinh có thể gieo rắc virus qua nước tiểu hoặc dịch tiết mũi họng trong một năm hoặc hơn và có thể lây virus sang người chưa có miễn dịch. thường lây qua không khí từ dịch tiết mũi họng.

Virus cũng có thể đi qua máu của người mẹ nhiễm vào thai nhi, gây nhiễm trùng bào thai. Vì nói chung đây là một bệnh nhẹ ở trẻ em, nên mối nguy hiểm chính của rubella là ở phụ nữ có thai, có thể gây hội chứng rubella bẩm sinh ở trẻ.

- Khi phát bệnh, dấu hiệu và triệu chứng của bệnh rubella như thế nào?

Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 12 - 23 ngày. Nhiễm rubella có thể bắt đầu bằng 1 - 2 ngày sốt nhẹ (37,2 - 37,8oC) và sưng đau hạch, thường ở mé sau cổ hoặc cạnh tai. Vào ngày thứ hai hoặc thứ ba, phát ban bắt đầu trên mặt và lan xuống dưới. Khi phát ban lan xuống người, thì ở mặt thường hết. Phát ban thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh mà cha mẹ nhận thấy.

Phát ban rubella trông giống như nhiều loại phát ban do virus khác. Ban biểu hiện thành những chấm hồng hoặc đỏ nhạt, có thể liên kết với nhau tạo thành những mảng phẳng đổi màu. Ban có thể ngứa và kéo dài tới 3 ngày. Khi ban lặn, da đôi khi bị bong vảy như tuyết.

Ở trẻ vị thành niên và người lớn, sau 1 – 5 ngày các triệu chứng của rubella thường hay gặp hơn, sẽ là: sốt nhẹ, đau đầu khó chịu, chán ăn; viêm kết mạc nhẹ (viêm lớp màng lót mí mắt và nhãn cầu); hắt hơi hoặc chảy nước mũi, sưng hạch ở các vùng khác của cơ thể, đau và sưng khớp (nhất là ở phụ nữ trẻ). Nhiều người bị rubella có rất ít hoặc hoàn toàn không có triệu chứng.  

- Bệnh rubella có nguy hiểm không?

Bệnh này đối với trẻ con thường là lành tính. Những biến chứng của bệnh này không phổ biến, thường ít xuất hiện ở trẻ con mà chủ yếu ở người lớn.  

Các biến chứng của Rubella chủ yếu là đau và sưng ở các khớp như ngón tay, cổ tay hay đầu gối, nhất là ở phụ nữ cao tuổi (chiếm 70%), viêm não, xuất huyết giảm tiểu cầu, viêm thần kinh, gây dị dạng thai nhi ở phụ nữ có thai.

Phụ nữ mắc bệnh Rubella khi đang mang thai có khả năng sinh con bị các dị tật bẩm sinh như: các bệnh tim bẩm sinh, bệnh đầu nhỏ, chậm phát triển tâm thần, đục thủy tinh thể, điếc, các tổn thương xương dài...
Soạn: AM 763365 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Những trẻ bị mắc Hội chứng rubella bẩm sinh dễ gặp các biến chứng nặng như bại não, tổn thương phổi, mù mắt... Trong ảnh: Trẻ bị di chứng mù mắt do nhiễm rubella bẩm sinh.

Những trẻ mắc Rubella bẩm sinh dễ gặp các biến chứng nặng nề như bại não, tổn thương phổi, mù mắt... Một số nước có quy định bắt buộc phá thai nếu người mẹ mắc Rubella trong 3 tháng đầu của thai kỳ.

Những biến chứng khác có thể là: tổn thương thai nhi (nhiều khuyết tật)  với 9/10 trường hợp có thai (trong 8 - 10 tuần đầu). Tổn thương thai nhi  1/5 đến 1/10 (từ 10-16 tuần). Sau 16 tuần, tổn thương thai nhi hiếm gặp. Các rối loạn máu  1/3.000. Viêm não 1/5.000

- Cách phòng ngừa và điều trị như thế nào?

Rubella hiện chưa có thuốc điều trị. Cách chữa chủ yếu vẫn là cho bệnh nhân nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và dùng các thuốc nâng cao thể trạng, đặc biệt là vitamin để tăng khả năng chống đỡ của cơ thể.

Ngoài ra, cách phòng ngừa đặc hiệu đối với bệnh Rubella là tiêm vắc-xin loại kết hợp phòng cả 3 bệnh rubella, sởi và quai bị. Sử dụng cho trẻ em trên 12 tháng tuổi và người lớn.

Vaccin sởi-quai bị-rubella (MMR) thường được tiêm cho trẻ 12 - 15 tháng tuổi. Liều MMR thứ hai được tiêm khi trẻ lên 4 - 6 tuổi, nhưng không nên quá 11-12 tuổi.  

Những phụ nữ trong độ tuổi mang thai, hoặc dự định mang thai trong thời gian này nên đi chích ngừa bệnh, nhờ đó ngăn chặn những ca khuyết tật bẩm sinh do hội chứng rubella bẩm sinh. Sản phẩm tạo miễn dịch trong thời gian rất dài và tác dụng bảo vệ vẫn còn nếu người phụ nữ chích ngừa mang thai nhiều năm sau đó.

Tuy nhiên, không nên tiêm vaccin rubella cho phụ nữ có thai hoặc phụ nữ có thể sẽ có thai trong vòng một tháng sau khi tiêm. Nếu bạn đang dự định có thai, hãy đảm bảo là bạn có miễn dịch với rubella thông qua xét nghiệm máu hoặc tiêm chủng. Nếu không, bạn nên tiêm vaccin ít nhất 1 tháng trước khi mang thai.

Phụ nữ có thai chưa có miễn dịch nên tránh tiếp xúc với người bị bệnh và nên tiêm vaccin sau đẻ để có miễn dịch cho lần mang thai sau.

Ngoài ra, có thể phòng bệnh bằng các biện pháp không đặc hiệu khác như mặc đủ ấm, ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, cách ly và thực hiện các biện pháp phòng lây lan vì bệnh truyền nhiễm rất nhanh qua đường hô hấp.

- Làm cách nào để biết trẻ bị mắc bệnh rubella?

Bởi vì những nốt ban của rubella trong tương tự các loại bệnh khác, cách chắc chắn duy nhất để xác định rubella là thực hiện các xét nghiệm.

- Khi nào cần đưa trẻ đi khám?

Rubella thường là bệnh nhẹ, nhất là ở trẻ em và ít cần sự chăm sóc đặt biệt tại nhà. Theo dõi nhiệt độ của trẻ, và đưa trẻ đi khám bác sĩ nếu sốt quá cao. Để làm giảm khó chịu, bạn có thể cho trẻ acetaminophen hoặc ibuprofen. Tránh dùng aspirin cho trẻ bị bệnh do virus vì sử dụng aspirin ở những trường hợp này có thể gây ra hội chứng Reye, dẫn đến suy gan và tử vong.

Đưa trẻ đi khám nếu trẻ bị sốt 38,9oC trở lên (trẻ dưới 6 tháng cần đi khám nếu nhiệt độ từ 38oC trở lên), hoặc nếu trẻ có vẻ bị ốm nặng hơn những triệu chứng nhẹ được mô tả ở trên.

- Bệnh có khả năng tái phát lần thứ hai?

Không chỉ ở trẻ em, bệnh rubella còn xảy ra ở nhiều lứa tuổi, người lớn cũng có thể mắc bệnh. Bệnh có thể xảy ra ở những người chưa mắc rubella lần nào, hoặc chưa từng được chủng ngừa trước đó. Rubella xảy ra rải rác quanh năm, nhưng có năm cũng xảy ra theo mùa (thường bệnh xảy ra nhiều vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 6). Những nơi đông người như trường học, công ty, xí nghiệp, khu nhà trọ là môi trường dễ làm lây nhiễm bệnh rất nhanh, bởi rubella lây qua đường hô hấp.

   *
     Hương Cát (Tổng hợp : Trung tâm Kiểm soát và Ngăn ngừa Dịch bệnh (Centers for Disease Control and Prevention – CDC), Viện Thông tin Y học Trung Ương Việt Nam) ]]>