Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa http://www.khamchuabenh.com/index.php Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học zh-cn Powered by Bo-blog 2.0.2 sp2 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4520 Tiện dụng mà bổ dưỡng như nho khô <> Dinh dưỡng Wed, 08 Sep 2010 11:54:10 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4520 Chuyên gia tâm lý ở CHLB Đức đã làm một thử nghiệm lý thú về sự lựa chọn nho tươi hay nho khô. Lạ là 7 trong 10 đứa trẻ 2 tuổi chọn ngay nho khô... Nho khô không chỉ hấp dẫn trẻ con mà thậm chí đã có chỗ đứng trân trọng trong lịch sử loài người.

Người tiền sử vì xem nho khô như quà tặng của thượng đế nên dùng món này làm vật trang sức, thậm chí khắc hình nho khô trên vách đá hang động. Theo truyền thuyết ở Trung Đông, cả ngàn năm trước công nguyên, người Do Thái đã dùng nho khô nộp thuế.

Nếu xét về giá trị dinh dưỡng thì nho khô là món ăn hữu ích cho sức khỏe vì rất ít chất béo nhưng lại sinh nhiều năng lượng, dễ bảo quản, nhờ đó là món ăn bỏ túi cho người phải lao tâm lao lực. Hơn thế nữa, nho khô là món ăn vặt như thuốc cho người bị cao huyết áp, nhờ tác dụng vừa lợi tiểu vừa bổ sung khoáng tố kalium.

Kết quả một công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy huyết áp của người hâm mộ nho khô ổn định hơn nhóm không khoái món này. Một số nhà điều trị thậm chí khuyến khích người từ độ tuổi 40 trở lên nên thường ăn nho khô để cầm chân huyết áp.

Nho khô chứa nhiều chất xơ nên là món ăn bầu bạn của người khổ vì táo bón và bệnh trĩ. Cũng nhờ tác dụng kéo chất béo qua đường ruột nên nho khô gián tiếp hạ cholesterol.

Nhiều thầy thuốc vì thế đã không ngần ngại xếp nho khô vào nhóm thực phẩm thích hợp cho người bị bệnh mạch vành. Theo kết quả một công trình nghiên cứu ở Mỹ, sau một tháng áp dụng, lượng LDL trong máu giảm đáng kể trên số bệnh nhân có 80 - 100g nho khô mỗi ngày trong khẩu phần.

Nho khô còn là nguồn giàu chất sắt. Người thiếu máu, đối tượng vừa qua cơn chấn thương xuất huyết, phụ nữ  mang thai, thiếu nữ hay bị rong kinh... nên chọn nho khô để bổ sung chất sắt cần thiết cho cấu trúc lành mạnh của huyết cầu thay vì trông cậy vào thịt, gan rồi khó tránh trục trặc với mỡ máu.

(BS Lương Lễ Hoàng, Dân Trí - NLĐ)
PNO ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4516 Đậu xanh: Khắc tinh của bệnh tật! <> Dinh dưỡng Wed, 08 Sep 2010 11:41:41 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4516
Món ăn giải độc


ĐX còn gọi là đậu chè, đậu tằm, đậu tắt, lục đậu. Có tên khoa học Vigna radiata (L.) Wilczek var. radiata (Phaseolus radiatus L.), thuộc họ Đậu -Fabaceae.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới

Cây ĐX thuộc loại cây thảo mọc đứng, cao cỡ 50cm. Lá có 3 lá chét, có lông ở cả hai mặt. Chùm hoa ở nách lá. Hoa màu vàng lục. Quả đậu hình trụ, mảnh, có lông, trong chứa nhiều hạt hình trụ ngắn, gần hình cầu, màu xanh, ruột màu vàng, có mầm ở giữa.

Hạt ĐX có kích thước nhỏ, đường kính khoảng 2 - 2,5mm. Người ta thu hái quả, phơi khô, lấy hạt để làm thực phẩm, chế biến các thức ăn như: cháo, xôi, bánh, chè, xay thành bột làm miến, rang vàng tán bột làm thực phẩm ngũ cốc dinh dưỡng… hoặc ủ cho lên mầm để làm giá ĐX.

Đậu xanh
Theo Đông y, ĐX có vị ngọt, hơi tanh, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trừ phiền nhiệt, ích khí lực, điều hòa ngũ tạng, giảm đau sưng. Thường dùng dưới dạng nấu cháo ăn, hoặc nấu nước uống trong các trường hợp: cảm sốt vào mùa hè, trúng nắng, tiêu khát (khát nước uống nhiều), đái tháo đường, đi tiểu khó, đau bụng do nhiệt, bụng nóng cồn cào, buồn phiền khó chịu, nhức đầu, nôn mửa, phụ nữ có thai bị nôn ọe, không yên.

Ngoài ra, ĐX rất có ích cho người hay bị các loại bệnh nhiệt ngoài da như: mụn nhọt, ghẻ lở, nổi mề đay; người bị cao huyết áp, cholesterol máu cao, viêm gan mãn tính, say rượu; trẻ em bị bệnh quai bị, sởi...

Nước nấu ĐX, cam thảo (ĐX 120g, cam thảo sống 60g), có tác dụng giải độc khi uống nhầm thuốc (thủy ngân, thạch tín...), uống thuốc quá liều (ô đầu, phụ tử…), giải độc do ngộ độc thức ăn, ngộ độc sắn, ngộ độc nấm.

Những món ăn phòngchống các loại bệnh ôn nhiệt vào mùa hè

Cháo ĐX, lá sen: ĐX (để nguyên vỏ) 100g, lá sen tươi 1 cái, gạo tẻ 100g. Lá sen rửa thật sạch, để ráo. ĐX và gạo đãi sạch rồi ninh nhừ thành cháo. Khi cháo chín, dùng lá sen đậy lên trên mặt nồi cháo. Đun lửa nhỏ một thời gian, đến khi cháo có màu xanh nhạt là được.

Hoặc dùng: ĐX (để nguyên vỏ) 100g, lá sen tươi l/4 lá, gạo tẻ 100g. ĐX rửa sạch, cho vào nồi nấu trước. Lá sen rửa sạch, cắt nhỏ. Gạo vo sạch, để ráo. Khi ĐX chín mềm, cho gạo tẻ và lá sen vào nấu nhừ thành cháo loãng. Ngày ăn 2 lần, mỗi lần 1 tô, vào lúc đói bụng.

Món ăn này có tác dụng bổ dưỡng cơ thể, thanh nhiệt, giải độc, tiêu thử trừ phiền, lợi thủy tiêu thũng, giúp giảm mỡ máu, hạ huyết áp và phòng chống béo phì.

Cháo ĐX, sắn dây: bột sắn dây 50g (hoặc củ sắn dây 100g), ĐX (để nguyên vỏ) 100g, gạo tẻ 50g.

Gạo tẻ và ĐX vo sạch, đem ninh nhừ thành cháo. Khi chín, cho bột sắn dây đã hòa nước vào, khuấy đều, đun thêm một lát là được (nếu dùng củ sắn dây thì cho vào cùng lần với gạo và ĐX).

Món ăn này có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thử lợi thủy, sinh tân dịch, giải khát, là món ăn có ích cho sức khỏe trong mùa hè nóng nực, rất tốt cho người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, thiểu năng tuần hoàn não.

Canh ĐX: nấu canh ĐX ăn rất tốt cho người bị bí tiểu. Trường hợp có đau rát ở đường niệu, có thể dùng 500g giá ĐX giã nát lấy nước, cho thêm đường vào uống.

Khi bị nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa do trúng độc hơi than, có thể nấu canh ĐX để ăn, hoặc dùng bột ĐX 30g, hòa với nước sôi để uống.

Lưu ý: nên dùng ĐX còn nguyên vỏ, vì theo Đông y, vỏ ĐX có vị ngọt, tính mát, không độc, tác dụng thanh nhiệt giải độc tốt hơn thịt hạt đậu, còn giúp sáng mắt, lợi tiểu, trừ phiền.

Dùng ngoài, ĐX được chế biến như sau:

- Chữa giời leo: ĐX rửa sạch, giã nát nhuyễn (hoặc nhai sống), lấy bã đắp vào chỗ đau.

- Bột ĐX, hoạt thạch: bột ĐX 20g, bột hoạt thạch 30g, hai thứ trộn đều, dùng xoa lên những chỗ bị rôm sảy.

- Chữa dị ứng sơn: ĐX sống 100g, rửa thật sạch, ngâm nước trong 12 giờ, lấy ra giã nát thành dạng vữa, cho thêm 30g kim ngân hoa đã nghiền nát, hai thứ trộn đều, đắp vào chỗ bị lở sơn.

Lương y ĐINH CÔNG BẢY
(suckhoe&doisong) ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4504 Thực phẩm có lợi cho não <> Dinh dưỡng Sun, 05 Sep 2010 08:56:19 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4504 Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Brain foods là những thực phẩm tốt cho hoạt động của não. Ví dụ, một chế độ ăn uống giàu axit béo omega-3 có tác dụng thông mạch và giúp các tế bào thần kinh hoạt động hiệu quả nhất. Axit béo omega-3 này có nhiều trong cá, vì vậy bạn nên ăn cá ít nhất 2 lần/ tuần.
Song song với đó, việc nhận biết các thực phẩm có hại cho não cũng rất quan trọng. Chúng ta điều biết rượu và các chất gây nghiện khác sẽ trực tiếp tiêu diệt các tế bào não, nhưng liệu bạn đã biết hết các thực phẩm gián tiếp ảnh hưởng đến não? Dưới đây là danh sách những thực phẩm có lợi và có hại cho não/
Có lợi:
Lê; Chuối; Dưa lưới (dưa vàng); Cam Thịt bò, gà; Cá hồi, cá ngừ; Trứng; Pho mát; Sữa; Sữa chua Súp lơ xanh; Khoai tây; Hạt các cây họ đậu; Rau diếp Mầm lúa mạch; Bơ lạc; Dầu thực vật; Yến mạch; Gạo nâu (chưa xát vỏ cám) Có hại:
Rượu; Nước uống có hàm lượng đường cao; Siro ngô Màu thực phẩm nhân tạo; Chất làm ngọt nhân tạo Kem phủ bánh Mỡ động vật Nicotine Bánh mỳ trắng Khoa học về Thực phẩm có lợi cho não
Carbohydrates (đường và tinh bột) khi vào cơ thể được chuyển hóa thành glucozo; lượng glucozo cơ thể hấp thụ này được đo bằng chỉ số GI (glycemic index). Vì carbohydrates là nguyên liệu chính cho hoạt động của não, nên muốn não hoạt động ổn định thì lượng carbohydrates cơ thể hấp thụ cũng phải ổn định, tức là chỉ số GI phải ổn định.
Carbohydrates đơn giản (trong các thực phẩm giàu tinh bột và đường) làm lượng đường trong máu bất ổn định (GI bất ổn định), khiến tuyến tụy phải tiết ra nhiều insulin (một chất kích thích sự đường phân) để cân bằng lại lượng đường trong máu.
Ngược lại, carbohydrates tổng hợp rất tốt cho não. Nhờ cấu tạo phức tạp của mình, thời gian carbohydrates tổng hợp bị phân hóa thành glucozo sẽ lâu hơn. Chính vì vậy carbohydrates tổng hợp cung cấp một nguồn năng lượng ổn định hơn.
Ngũ cốc: chỉ số GI trong yến mạch và vỏ cám là ít nhất, tiếp đó là spaghetti và cơm. Ngô và bánh mỳ trắng có chỉ số GI cao, không tốt cho não.
Hoa quả: nho, táo, cherry, cam có chỉ số GI thấp. GI trong hoa quả tươi thấp hơn trong nước ép vì chất xơ trong hoa quả làm giảm quá trình hấp thụ đường.
Rau củ và đậu: các loại đậu nành, đậu đỏ và đậu lăng là những thực phẩm rất tốt cho não. Chỉ số GI của chúng thấp nhất trong số các loại thực phẩm. Khoai tây và cà rốt có chỉ số GI cao hơn.
Những sản phẩm làm từ sữa: những sản phẩm này có chỉ số GI cao hơn đậu nhưng thấp hơn hoa quả.
(Theo vzone)
Đông y chữa bệnh h iệu quả cao. Tham khảo thông tin tại địa chỉ: Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn. Lô 22- Đường Lê Hồng Phong - Hải Phòng ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4501 Sự thật về các món ăn giúp bé thông minh <> Dinh dưỡng Fri, 03 Sep 2010 03:39:41 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4501 Không phải chỉ riêng mẹ Mít mà rất nhiều các mẹ khác đang ra sức tìm kiếm những đồ ăn giúp con thông minh. Âu cũng phải vì đa số người Việt Nam đều có quan niệm “Ăn gì bổ nấy”.
Các bố mẹ thường xuyên cho con ăn óc heo hấp trứng gà khi còn còn nhỏ để “bổ óc” giúp con phát triển trí não và tài giỏi. Khi con lớn hơn, đi học và đi thi, mẹ lại cho con ăn đậu đỏ nấu với bí đỏ để thi đậu, ăn xôi đỗ, mà tránh ăn chuối, trứng gà, trứng vịt.
aFamily đã thử làm một cuộc “điều tra” về ích lợi thật sự của các món ăn thông minh đó.
Món óc heo hấp lòng đỏ trứng gà
Óc heo là thực phẩm giàu chất béo, đặc biệt là cholesterol. Thành phần chủ yếu của óc heo là nước (80%), cholesterol (2195mg/100g), các acid béo no (2,080mg/100g). Óc heo chứa ít yếu tố vi lượng và vitamin nhưng lại nhiều nước nên năng lượng thấp (123Kcal/100g) và là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của vi khuẩn.
Trứng gà là thực phẩm chứa nhiều đạm, nhiều vitamin và cũng giàu chất béo. Trong 100g trứng gà toàn phần có 14,8g đạm, 11,6g chất béo, 470mg cholesterol, 700mcg vitamin A. Trong 100g lòng đỏ trứng gà có 13,6g đạm, 29,8g chất béo, 200mg cholesterol và 900mcg vitamin A.
Nhìn qua thành phần, món “óc hấp lòng đỏ trứng gà” có rất nhiều cholesterol, ít đạm và ít chất dinh dưỡng. Theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng, lượng cholesterol ăn vào trong 1 ngày của một người bình thường là dưới 300mg. Nếu ăn quá nhiều cholesterol sẽ gây ra bệnh xơ vữa động mạch, cao huyết áp đột quỵ. Trong thực tế các bé dễ bị tiêu chảy, nôn mửa khi ăn món này nếu không được bảo quản kỹ vì quá nhiều chất béo và dễ bị hư hỏng vì vi khuẩn dễ sinh sôi.
Món ăn này giúp bé có thông minh hơn không và có nên cho bé ăn không, mẹ hãy thử trả lời xem nhé!

Món đậu và bí đỏ
Đây là thực phẩm giàu đạm, giàu béo, giàu acid béo không no không cần thiết, giàu vi chất dinh dưỡng. Trong 100g đậu đỏ có 34g đạm, 18,4g chất béo, 165mg canxi, 11mg sắt, 236mg mange, 3,8mg kẽm, không cholesterol. Bí đỏ là thực phẩm giàu vitamin: Vitamin B1, PP, Betacaronten (Tiềm thân của Vitamin A), giàu vi chất như mangan, kali, đồng.
Ăn những thực phẩm này giàu đạm, giàu vi chất dinh dưỡng rất tốt cho sức khỏe nói chung và trong chế độ ăn hàng ngày chứ không phải chờ đến kỳ thi. Tuy nhiên nếu ăn nhiều bí đỏ trẻ em sẽ bị vàng da do dư betacaronten. Và trong những ngày thi trẻ lại cần những thức ăn cung cấp năng lượng ngay như các loại bột đường. Một bữa ăn cân đối, hợp khẩu vị sẽ tốt hơn một món ăn mà trẻ không thích tí nào. Hơn nữa, cứ đến  hẹn lại lên lại phải ăn món đó.
Thực tế, chưa có một nghiên cứu khoa học nào chứng minh được “ăn óc bổ óc” và qua đó tăng cường trí thông minh của trẻ, cũng như trẻ ăn đậu đỏ, bí đỏ thì thi dễ đậu hơn. Chỉ có những nghiên cứu thấy rằng nếu trẻ không bị suy dinh dưỡng bào thai và khi còn nhỏ thì sẽ phát triển tốt các chức năng trong đó có bộ não.
Các mẹ hãy cho con ăn một chế độ ăn đa dạng, đầy đủ dưỡng chất. Đó mới là cách giúp con phát triển một cách toàn diện.
(Theo afamily)
Đông y chữa bệnh hiệu quả cao. Tham khảo thông tin tại địa chỉ Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn - Lô 22 Lê Hồng Phong - Hải Phòng ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4500 7 chức năng của vitamin C <> Dinh dưỡng Fri, 03 Sep 2010 03:31:29 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4500 Vitamin C còn gọi là acid ascorbic. Nó tồn tại trong cơ thể chúng ta dưới hai dạng D và L, tham gia vào các hoạt động khác nhau của cơ thể. Dạng D không có hoạt tính sinh học. Dạng L khi bị ôxy hóa lần đầu chuyển thành acid dehydro ascorbic (hơi ngả màu) vẫn còn hoạt tính sinh học của vitamin C. Nếu tiếp tục ôxy hóa nữa sẽ thành diketo golunat (màu vàng sẫm) mất hoạt tính sinh học của vitamin C.

Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
1. Thúc đẩy sự hình thành collagen

Khi thiếu vitamin C, quá trình tổng hợp collagen gặp trở ngại, khiến các vết thương lâu lành dẫn đến xuất huyết ở nhiều mức độ khác nhau (vỡ mao mạch, chảy máu dưới da, chảy máu lợi, vỡ mao mạch, gây nhiều đám xuất huyết), thành mạch yếu… là các hiện tượng thường thấy ở bệnh scobat.

2. Chất kích hoạt enzyme

Vitamin C có thể bảo vệ vitamin A, vitamin E, và các axit béo thiết yếu khỏi bị tiêu huỷ; làm cho sắt (2) có trong thức ăn được duy trì trong trạng thái hoàn nguyên, thúc đẩy sự hấp thụ sắt và chuyển dịch tồn trữ sắt trong cơ thể. Làm cho can-xi trong thành ruột không bị kết tủa, giúp cải thiện tỷ lệ hấp thụ can-xi vào cơ thể. Tham gia phản ứng hydroxyt của cholesterol thành axit cholic, có hiệu quả nhất định trong điều trị thiếu hồng cầu.

3. Tham gia quá trình chuyển hóa cholesterol

Giúp 80% cholesterol chuyển hóa thành sulfat tan trong nước để bài tiết khỏi cơ thể, giảm hàm lượng cholesterol trong máu; loại bỏ cholesterol tích tụ trong động mạch; gia tăng các thành phần có ích của máu như lipoprotein, có ý nghĩa quan trọng trong phòng chống xơ vữa động mạch.

4. Tham gia quá trình bài tiết chất độc khỏi cơ thể

Tiếp tục ô-xy hóa thành glutathione (diketo golunat) cùng với chất độc trong cơ thể bị bài tiết ra ngoài.

5. Phòng chống ung thư

Việc giảm vitamin C trong đường tiêu hóa ngăn chặn sự hình thành nitrosamines, có hiệu quả ngăn ngừa sự xuất hiện của các khối u đường tiêu hóa; ngoài ra vitamin C còn tham gia trong tổng hợp collagen, giúp các tế bào kẽ duy trì cấu trúc bình thường, làm giảm quá trình phát triển của tế bào ung thư.

6. Chống cảm lạnh

Vitamin C có thể cải thiện khả năng kháng bệnh của các tế bào miễn dịch và tăng cường miễn dịch của cơ thể và miễn dịch humoral, loại bỏ các yếu tố gây bệnh, giữ hệ hô hấp được bảo toàn. Khi thiếu nó, biểu mô tế bào kháng bệnh ở khí quản và phế quản bị giảm xuống. Các thí nghiệm cho thấy, uống 1.000 mg vitamin C mỗi ngày có thể giảm 50% nguy cơ bị cảm lạnh và giảm 23% các triệu chứng cảm cúm.

7. Bảo vệ da, chống nếp nhăn

Vitamin C là chất kích hoạt enzyme, có thể gia tăng sự hoạt động của một số kim loại, giúp da chống lại các gốc tự do sinh ra bởi tia cực tím, tránh sự xuất hiện của tàn nhang, thúc đẩy sự trao đổi chất, góp phần ngăn ngừa lão hóa da.

Chú ý:

- Vitamin C chủ yếu có trong rau quả tươi. Các loại thực phẩm giàu VC như cam, táo, sơn tra, chanh, kiwi, cà chua, ớt xanh, giá đậu (đậu xanh giá đậu hơn giá đậu xanh), bông cải xanh và một loạt các loại rau lá sẫm.

- Nếu chế độ ăn uống không đáp ứng được nhu cầu vitamin C của cơ thể con người, bạn có thể thay thế bằng dạng viên bổ sung (2-3 viên mỗi ngày). Vitamin C là chất hòa tan trong nước, nếu lượng Vitamin C trong cơ thể đã dư thừa, chúng tự động bài tiết khỏi cơ thể, không mang độc tính. Ngoài ra, người hút thuốc lá, aspirin, thuốc tránh thai, thường xuyên căng thẳng tâm lý và làm việc trong môi trường nóng bức có thể tăng cường bổ sung lượng vitamin C cho cơ thể.

- Các sản phẩm mỹ phẩm thường chứa nhiều thành phần vitamin C, dùng không đúng cách sẽ gây ra tác dụng phụ. Vitamin C có tính thẩm thấu mạnh, sử dụng quá nhiều khiến da bị mất nước, khô da và thậm chí đỏ dát da. Vitamin C có trong mỹ phẩm có thể được điều chế qua nhiều hình thức. Vì vậy, phụ nữ muốn làm đẹp, hãy dùng rau quả tươi và hoa quả để sự hấp thụ vitamin C được tốt hơn.

(Theo Dân Trí)
]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4499 Hoa thiên lý chữa rôm sảy <> Dinh dưỡng Fri, 03 Sep 2010 03:22:48 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4499 mất ngủ, hoặc đau người, nhức xương, hay con bạn bị rôm sảy, giun kim..., hãy thử dùng thiên lý để cải thiện.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Ngoài tác dụng làm rau ăn, thiên lý còn được dùng chữa một số bệnh cho kết quả tốt. Thiên lý có chứa chất xơ, chất đạm, chất bột đường, các vitamin C, B1, B2, tiền vitamin A (caroten), photpho, sắt. Đặc biệt, nó còn chứa kẽm với hàm lượng khá cao, rất tốt cho trẻ em đang lớn, người già yếu mệt và giảm được chứng phì đại tuyến tiền liệt. Canh hoa thiên lý có tác dụng bổ dưỡng, an thần, bớt mệt mỏi, ngủ ngon giấc, chữa được chứng sốt nhẹ, lao lực, nóng trong người.
Chữa chứng mất ngủ: Lấy 30 gr hoa thiên lý, 10 gr hoa nhài, 15 gr tâm sen. Các vị trên sắc kỹ lấy nước uống trong ngày. Dùng  3 - 5 ngày.

Chữa chứng hoa mắt, chóng mặt: Hoa thiên lý, bạch cúc mỗi vị 10 gr, lá đinh lăng, rau má mỗi vị 8 gr, ngải cứu 12 gr rửa sạch, sắc uống ngày một thang, chia làm ba lần trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Chữa chứng đau người, nhức xương: Hoa thiên lý xào thịt bò, hoặc luộc chấm muối vừng ăn hằng ngày.

Phòng rôm sảy mùa hè: Trẻ lớn và người lớn ăn canh hoa thiên lý, lá thiên lý non, còn trẻ ăm dặm có thể nghiền lá non và hoa thiên lý, quấy bột, cháo cho trẻ rất tốt, rất mát.

Trị giun kim: Dùng 40 gr hoa thiên lý nấu canh ăn liên tục 7 - 10 ngày, cho kết quả rất tốt (theo kinh nghiệm dân gian)

Trị chứng sa dạ con ở phụ nữ (độ 1 - 2) và chứng trĩ ngoại: Lấy 100 gr lá thiên lý, 5 gr muối ăn. Lá thiên lý tươi non và bánh tẻ rửa sạch, giã nhỏ, thêm muối bọc trong miếng gạc sạch đắp vào búi trĩ hay dạ con bị sa (đã được rửa sạch bằng nước thuốc tím).
(Theo Đất Việt)
Đông y chữa bệnh hiệu quả cao. Tham khảo thông tin tại địa chỉ Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn - Lô 22 Đường Lê Hồng Phong - Hải Phòng ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4498 Lợi ích của dứa với sức khỏe <> Dinh dưỡng Fri, 03 Sep 2010 03:14:07 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4498 Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Dứa rất dồi dào nguồn vitamin và khoáng chất như kali, chất xơ, canxi, vitamin C. Đặc biệt, đây còn là loại trái cây không béo và ít cholesterol.
Ăn dứa sẽ giúp cơ thể bạn có bộ xương khỏe mạnh nhờ sự hiện diện của khoáng chất mangan. Ngoài ra, dứa cũng giúp duy trì nướu khỏe.
Bên cạnh đó, dứa còn chứa nhiều beta-carotene nên rất tốt cho đôi mắt, giúp bạn ngăn ngừa bệnh thoái hóa điểm vàng. Ăn dứa cũng giúp chúng ta kháng lại chứng viêm khớp.
Nếu bị cảm cúm hay ho, dứa cũng là loại trái cây bạn nên lựa chọn vì tác dụng giảm ho và tan đờm.
Dứa cũng là thực phẩm kích thích tiêu hóa và giúp ngăn ngừa nguy cơ máu vón cục.
Theo PNO
]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4487 Món ăn - bài thuốc từ cây ngải cứu <> Dinh dưỡng Tue, 31 Aug 2010 10:12:29 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4487 Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Ngải cứu còn gọi là ngải diệp, tên khoa học là Artemisia vulgaris L. thuộc họ cúc. Quanh năm đều có ngải cứu nhưng tốt nhất là hái cành và lá vào tháng 6 (gần tương ứng với mồng 5 tháng 5 âm lịch), phơi khô trong râm mát. Có khi hái về phơi khô, tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung, dùng làm mồi cứu để kích thích huyệt trong phương pháp châm cứu. Ngải cứu có tính ôn, hơi cay, dùng điều trị đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, động thai, thổ huyết...

Ngải cứu chữa bệnh

- Làm điếu ngải: Lấy lá ngải cứu khô vò nát, loại bỏ cành cuống, lấy phần còn lại là ngải nhung đem cuốn thành điếu như điếu thuốc lá hay to hơn tùy theo ý định sử dụng. Điếu ngải được đốt mang tính nóng ấm cao (thuần dương), nên khi dùng để làm nóng (cứu) các huyệt gọi sẽ làm khí huyết lưu thông mạnh, gây ấm nóng cơ thể, giảm đau, sưng, mỏi cơ, tiết dịch, giải độc, làm mềm chỗ cứng và tan máu tụ. Có thể dùng điếu ngải theo mấy cách sau:

- Để điếu ngải hơ lên huyệt đến khi bệnh nhân cảm thấy ấm dễ chịu (cứu ấm), dùng để trị các bệnh hư suy đau yếu.

- Đưa điếu ngải gần sát da, bệnh nhân cảm thấy nóng thì đưa lên (cứu mổ cò). Thực hiện 3-5 lần, cách cứu này để chữa các bệnh thực (bệnh mới phát).

- Đặt điếu ngải lên gần huyệt cho vừa đủ ấm thì di chuyển theo vòng tròn từ hẹp ra rộng cho đến khi thấy nóng nhiều ở vùng định cứu là được (làm 2-3 lần), cách cứu này để trị các bệnh ngoài da, mụn nhọt.

Làm thuốc điều kinh: Một tuần trước ngày kinh dự kiến, lấy mỗi ngày 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5-10g) hay dạng cao đặc (1-4g). Thuốc không có tác dụng kích thích với tử cung có thai nên không gây sảy thai. Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường chia uống 2 lần/ngày. Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày. Sau 1-2 ngày thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn.

- Giúp an thai: Những người đang mang thai, nếu thấy có hiện tượng đau bụng, ra máu, dùng 16gr lá ngải cứu, 16gr lá tía tô, sắc cùng với 600ml nước, sắc còn 100ml, chia làm 3-4 lần uống/ngày. Bài thuốc này có tác dụng an thai.

- Những người kiệt sức hay các bà mẹ đang cho con bú: Lấy 5 cành lá ngải cứu tươi (hoặc khô), rửa sạch, băm nhỏ, pha với một cốc nước sôi, uống hàng ngày sẽ mau hồi phục sức khỏe.

- Trị mụn trứng cá: Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục sẽ cho bạn làn da mịn màng và trắng hồng.

- Trị mẩn ngứa, ghẻ lở, rôm sảy ở trẻ: Với những trẻ nhỏ thường hay bị rôm sảy, xay nát lá ngải cứu, lọc lấy nước cốt rồi hòa vào nước tắm của trẻ. Làm liên tục trong vài ngày, các nốt ngứa sẽ lặn mất.


Món ăn với ngải cứu

- Canh ngải cứu nấu thịt nạc: Bài thuốc chữa các bệnh của phụ nữ (kinh nguyệt không đều, khí hư, đau bụng do lạnh...). Thịt nạc heo băm nhỏ, ướp hạt nêm, xào qua, nêm nước, đun sôi cho rau ngải cứu. Canh sôi đều, nêm hạt nêm vừa miệng, ăn nóng.

- Trứng gà tráng ngải cứu: Giúp lưu thông máu lên não trị bệnh đau đầu. Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín.

- Gà tần ngải cứu: Bồi bổ sức khỏe, hoạt huyết, xương cốt dẻo dai: 1 con gà đen khoảng 500gr, 3 trái táo đỏ, ý dĩ, kỷ từ, 3 lát sâm ta, ngải cứu, hạt sen, tam thất, hạt nêm. Gà làm sạch, mổ moi, nhồi tất cả các nguyên liệu vào trong gà, cho gà vào nồi, đổ săm sắp nước, nêm hạt nêm vừa miệng, tần cho đến khi gà mềm nhừ.

- Cháo ngải cứu có thể chữa động thai hoặc giảm đau thấp khớp. Cách nấu: Lá ngải cứu tươi 50g, gạo tẻ 100g, đường đỏ vừa đủ (có thể cho thêm lá lốt). Thái nhỏ lá ngải cứu, nấu lấy nước để nấu cháo. Khi ăn cho đường vừa phải, ăn nóng. Chia 2 lần ăn sáng, trưa. Ăn liên tục 3 - 5 ngày.

Theo Afamily
]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4478 Bí quyết dinh dưỡng cha mẹ nào cũng nên biết <> Dinh dưỡng Mon, 30 Aug 2010 11:26:06 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4478 Bấm xem ảnh ở cửa sổ mớiNếu bạn tuân thủ 10 bí quyết cơ bản dưới đây, con bạn chắc chắn sẽ đủ dinh dưỡng để phát triển khỏe mạnh.  
1. Đa dạng hoá là điểm mấu chốt của thức ăn bổ dưỡng. Nghiên cứu cho thấy, cho trẻ ăn nhiều loại thức ăn khác nhau từ 6 tháng trở đi thì sau này khả năng kén chọn thức ăn ở trẻ rất thấp.
2. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ khác với người lớn. Do tốc độ tăng trưởng của chúng rất nhanh, nhưng ăn lại không nhiều, bởi vậy chúng cần ăn những thức ăn giàu dinh dưỡng.
3. Sữa chưa tách mỡ, pho mát và những loại mỡ thiên nhiên trong các sản phẩm chế biến từ sữa giàu chất béo khác có thể cung cấp cho cơ thể người năng lượng và vitamin A, D hoà tan trong mỡ. Ăn một ít bánh sandwich pho mát, uống một cốc sữa bò nóng hoặc pho mát và táo có thể khiến trẻ đang mệt mỏi hồi phục nhanh chóng.
4. Không cần ăn hoa quả và rau vào bữa trưa và tối. Có thể ăn bữa phụ gồm hoa quả hoặc rau tươi thái lát (dưa chuột, cà rốt) giữa hai bữa, cũng có thể xay sinh tố rau và hoa quả, ăn kèm với thức ăn làm từ ngũ cốc vào buổi sáng. Cơ thể người không dự trữ vitamin C, do vậy cần đảm bảo cho trẻ ăn đủ hoa quả và rau mỗi ngày.
5. Cố gắng thay đổi các loại ngũ cốc trong bữa ăn hàng ngày của trẻ. Ngoài bột hoặc cháo gạo, bạn nên cho trẻ ăn thêm các loại thực phẩm làm từ ngũ cốc khác, như bánh sandwich, mì Ý... Ăn một loại thức ăn quá nhiều dễ gây cho trẻ cảm giác chán.
6. Chất xơ rất quan trọng cho đường ruột, song không nên để hệ thống tiêu hoá của trẻ phải hoạt động quá mức, nếu không vitamin và khoáng chất quan trọng vẫn chưa được hấp thu đã bị bài tiết ra khỏi cơ thể. Cho trẻ ăn thực phẩm xơ dễ tiêu hoá như hoa quả, rau và yến mạch. Sau khi trẻ đã quen với ăn dặm thì bổ sung thêm đậu khô, đậu cô ve.

7. Không nên cho đường vào thức ăn của trẻ dưới 1 tuổi, nên thay thế bằng hoa quả ngọt tự nhiên trộn lẫn hoa quả có vị chua. Đối với trẻ lớn hơn một chút, cần đặc biệt chú ý tới kẹo, chỉ cho trẻ ăn sau khi đã ăn cơm xong. Nước bọt bài tiết trong khi ăn sẽ giúp trung hoà đường bám trên răng, giảm bớt nguy cơ sâu răng.
8. Tốc độ phát triển của trẻ rất nhanh, do vậy, tính theo tỉ lệ cân nặng trẻ cần nhiều protein hơn người lớn.

9. Xem xét lại cách chế biến món ăn của mình. Vitamin C và B hoà tan trong nước rất dễ tan trong nước canh, do vậy khi chế biến rau nên chú ý đến thời gian.  
10. Cho trẻ uống đủ nước giữa 2 bữa ăn, uống nước hoa quả pha. Nên tránh cho trẻ uống nước ngọt có ga hoặc đồ uống có chất kích thích.
(Theo giadinh.net)
]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?4474 Đu đủ - dược phẩm của thiên nhiên <> Dinh dưỡng Sat, 28 Aug 2010 08:05:31 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?4474
Đối với chị em phụ nữa thì trái đu đủ chính là một dược phẩm mà thiên nhiên ban tặng. Có thể làm ra các loại mặt nạ dưỡng da với quả đu đủ, rất hiệu quả mà không lo bị kích ứng da. Nghiền nhuyễn đu đủ chín đắp lên mặt và rửa sạch sau khoảng 15 – 20 phút có tác dụng làm mềm mịn da, điều trị làn da thô ráp, ngăn ngừa mụn và phục hồi sự tươi trẻ cho làn da. Hoặc có thể kết hợp đu đủ với một số nguyên liệu khác như sữa tươi, sữa chua hoặc mật ong để làm mặt nạ.

Đu đủ còn có tác dụng với những bạn gái bị chứng rối loạn “nguyệt san”. Khi chưa cần phải dùng tới thuốc điều trị bạn hãy ăn lá còn xanh của cây đu đủ cũng có thể cải thiện tình hình. Những ai bị chai và mụn cơm chỉ cần lấy nhựa của lá cây đắp lên sẽ thấy hiệu quả ngay. Và nếu có ý định giảm cân thì mọi người hãy bổ sung thêm đu đủ vào thực đơn của mình.

Đu đủ xanh hầm với mọi loại thịt động vật đều làm cho thịt nhanh mềm. Nước ta các bà mẹ khi sinh con thường ăn chân giò hầm với đu đủ để giúp có nhiều sữa.

Dân gian dùng hạt đu đủ đực chữa bệnh hen phế quản bằng cách chưng hoặc hấp cơm cho trẻ uống. Hạt đu đủ còn có thể chữa gai cột sống. Đem xát cho sạch phần nhớt bao quanh hạt, giã nát trong túi vải rồi đắp lên vùng đau. Mỗi lần chỉ đắp tối đa trong 30 phút và theo dõi để tránh bị bỏng. Ngày làm một lần, liên tục trong vòng 20 – 30 ngày sẽ bớt đau.

Nước ép của trái đu đủ xanh cũng có rất nhiều tác dụng: đắp lên chỗ sưng phồng sẽ giúp ngăn bị nhiễm trùng và mưng mủ, hay trộn với một chút bơ bôi lên vết loét sẽ giúp làm se bề mặt và nhanh chóng làm lành vết thương. Theo các nhà nghiên cứu thì nước ép của trái đu đủ và nhựa khô là thành phần chính trong quá trình sản xuất các loại kem chống mụn và dầu gội dưỡng tóc.

Ăn đu đủ thường xuyên có tác dụng bổ máu, giúp hồi phục gan ở người bị sốt rét. Do có nhiều sinh tố C và caroten nên đu đủ có tác dụng chống oxy hóa, tăng sức đề kháng cho cơ thể.

H.P
(LĐ) ]]>