Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa http://www.khamchuabenh.com/index.php Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học zh-cn Powered by Bo-blog 2.0.2 sp2 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3904 Canh hoa thiên lý giúp giảm stress <> Bệnh Thần kinh Tue, 09 Mar 2010 10:40:21 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3904 Trong hoa thiên lý có 3% chất xơ, chất đạm 2,8% và còn có chất bột đường, các vitamin C, B1, B2, PP và tiền vitamin A (caroten), cùng các khoáng chất cần cho cơ thể như canxi, phospho, sắt, đặc biệt là kẽm (Zn) chứa hàm lượng khá cao.

Cây thiên lý cả lá non, ngọn và hoa đều là thực phẩm quý có tác dụng bổ dưỡng giúp trẻ chóng lớn, lại giúp người già giảm được chứng phì tuyến tiền liệt, làm tăng cường sức đề kháng.

Ngoài ra sự có mặt của chất kẽm còn có thể đẩy chì ra khỏi tinh dịch, chữa chứng vô sinh ở nam giới do nhiễm chì...


Hoa thiên lý còn tác dụng trợ dương cho nam giới

Ngoài ra, hoa thiên lý còn tác dụng trợ dương cho nam giới. Sau đây xin giới thiệu cụ thể các phương thuốc từ cây hoa lý để chọn lựa sử dụng sao cho phù hợp và hiệu quả.

* Phòng rôm sảy ngày hè: Hằng ngày nấu canh hoa thiên lý ăn. Với trẻ có thể nghiền lá và hoa thiên lý ra nấu lẫn với bột khi cho ăn dặm.

* Trị giun kim: Lấy lá thiên lý non nấu canh cho trẻ ăn liền từ 7 - 10 ngày sẽ hiệu quả.

* Làm giảm đau mình mẩy, nhức xương cốt: Hằng ngày lấy hoa thiên lý xào với thịt bò hoặc chấm với muối vừng ăn sẽ tác dụng.

* Làm thư giãn sau các buổi làm việc căng thẳng, người khoan khoái, ngủ dễ ngon giấc, đỡ mệt mỏi, giảm tiểu đêm: Hằng ngày lấy hoa thiên lý nấu canh ăn.

* Chữa đinh nhọt: Lấy lá cây thiên lý 30 - 50g giã nhỏ đắp vào chỗ mụn nhọt, ngày thay một lần, vài 3 ngày sẽ khỏi.

* Chữa đái buốt, đái ra máu, đái dắt, cặn trắng: Lấy rễ cây thiên lý từ 10 - 20g, sắc lấy nước uống 2 - 3 lần trong ngày.

Chú ý: Không ăn chung hoặc xào nấu thiên lý với các thức ăn giàu chất  sắt như gan, tiết, thịt nạc lợn, rau muống... vì chất sắt (Fe) có trong các loại thực phẩm này sẽ đẩy kẽm (Zn) ra khỏi cơ thể.

BS Tuấn Linh (bee.net.vn)

]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3903 Thực phẩm cho nam giới hiếm muộn <> Nam khoa Tue, 09 Mar 2010 10:38:03 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3903 - Bầu dục xào khổ qua: bầu dục lợn 300g, khổ qua (mướp đắng) 300g, gia vị, hành, gừng đủ dùng. Bầu dục rửa sạch, bóc bỏ lớp màng và phần trắng bên trong, thái miếng mỏng. Mướp đắng rửa sạch, bỏ hạt thái mỏng. Cho dầu ăn vào chảo, đợi nóng cho hành phi thơm, cho bầu dục vào đảo tái rồi cho mướp đắng vào xào chín là dùng được. Món ăn này giàu vitamin C, A, E, có tác dụng giảm mỡ máu, bổ thận tráng dương. Những người bị di tinh, ra mồ hôi trộm, hay ra mồ hôi, xuất tinh sớm nên dùng.

- Thịt dê xào tỏi: 500g thịt dê tươi, tỏi 100g, gừng, hạt tiêu, gia vị mỗi thứ một ít. Thịt dê, tỏi rửa sạch thái miếng mỏng. Cho chảo lên bếp đổ dầu ăn phi thơm vàng 1 ít tỏi rồi đổ cả thịt và chỗ tỏi còn lại vào, nêm gia vị vào là dùng được. Món ăn này giàu protein, có thể giảm cholesteron trong máu. Những người thận dương hư, liệt dương, ra mồ hôi trộm thích hợp với món ăn này.

- Hải sâm nấu mực, chim cút: chim cút 1 con, hải sâm, mực khô mỗi thứ 50g, hành hoa, gừng, gia vị mỗi thứ một ít. Chim cút làm sạch lông, nội tạng rửa sạch; mực và hải sâm ngâm nước cho nở, rửa sạch thái nhỏ. Cho chim cút và mực vào hầm khoảng 30 phút, sau đó cho hải sâm, gia vị vào nấu sôi là dùng được. Món ăn này có tác dụng bổ thận dưỡng huyết, cường gân tráng cốt. Những người xuất tinh sớm, di tinh do thận nên dùng.

Theo BS. Đào Minh Sơn (Sức Khoẻ & Đời Sống)

]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3902 Rễ hoa súng nấu chè chữa cảm cúm <> Mẹo vặt Tue, 09 Mar 2010 10:33:04 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3902
* Chữa mất ngủ an thần: Hoa súng 15 - 30g. Sắc 200ml nước còn lại 50ml, uống 1 lần trong ngày, uống 7 - 10 ngày liền. Hoặc phối hợp với các vị khác: Hoa súng 15g, tâm sen 10g, hoa nhài 10g. Tất cả các vị này đều sấy khô tán nhỏ để hãm với nước sôi và lấy nước uống 2 lần trong ngày. Uống liền nhiều ngày.


* Chữa đái dắt, viêm bàng quang: Hoa súng 15g, râu ngô 15g, rễ cỏ tranh 10g, rau má 10g, rau diếp cá 10g. Sắc lấy nước uống 2 lần trong ngày.

* Làm thuốc bổ thận: Rễ củ súng 40g, thục địa 40g, thạch hộc 30g, hoài sơn 30g, táo nhân 20g, tỳ giải hoặc thổ phục linh 20g. Thục địa thái mỏng chưng cách thuỷ sau giã nhuyễn. Các dược liệu còn lại phơi khô sao vàng tán thành bột nhỏ mịn rồi trộn với thục địa đã giã nhuyễn cùng mật ong để viên hoàn.

Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g. Hoặc lấy rễ hoa súng 20g, ba kích 12g, cẩu tích 12g, tỳ giải 12g (tẩm rượu sao), hà thủ ô chế với đậu đen 12g, ngưu tất 12g. Tất cả sắc với 400ml nước còn lại 100ml chia 2 lần uống trong ngày.

* Thuốc viên hoàn: Tác dụng chữa thận hư, tâm can suy nhược, di tinh, mộng tinh, hoạt tinh, đau lưng, ù tai, viêm ruột mạn, khí hư ở nữ, trẻ đái dầm. Thành phần dược liệu: Rễ hoa súng 15g, quả kim anh 15g, mật ong vừa đủ làm hoàn.

Cách bào chế: Rễ hoa súng cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô rồi sao qua, lấy 15g. Quả kim anh cạo hết gai, bổ đôi, nạo sạch hạt và lông rồi cũng sao vàng, lấy 15g. Hai vị trên tán nhỏ mịn, trộn với mật ong để viên hoàn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần từ 5 - 10g.

* Chữa cảm nắng: Lấy rễ  hoa súng nấu chè ăn trong ngày.

* Chữa ho, rát cổ, sốt cao: Lấy rễ hoa súng phơi khô, sau nấu lấy 2 lần nước để cô thành cao lỏng, cho đường làm thành si-rô mà uống, ngày uống 2 - 3 lần, cần uống vài ngày liền.

BS Tuấn Linh

]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3901 Đông y chữa liệt thần kinh số 7 ngoại biên <> Bệnh Thần kinh Wed, 03 Mar 2010 01:40:12 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3901 Đông y chữa liệt thần kinh số 7 ngoại biên Viết bình luậnLưu bài này

Cơm cứ dồn lại một bên khóe miệng, cứ phải cho ngón tay vào móc cơm ra. Còn uống nước, nước dồn lại một bên và chực trào ra ngoài. Mắt một bên không nhắm kín được. Chúng tôi khám và kết luận: Bà Hiếu bị liệt thần kinh số 7 ngoại biên do lạnh.

Thần kinh số 7 ngoại biên là gì?

Liệt thần kinh số 7 ngoại biên do nhiều nguyên nhân: Do nhiễm khuẩn, viêm tai giữa. Do sang chấn sau mổ. Tai biến mạch máu não, do va chạm vỡ xương đá. Do nhiễm lạnh. Bình thường trong các trường hợp liệt thần kinh số 7 ngoại biên thì có đến 80% là do nhiễm lạnh. Liệt thần kinh số 7 ngoại biên có thể xảy ra bên phải hay bên trái. Nếu liệt bên nào thì nếp nhăn trán, nếp múi má bên đó mờ. Nhân trung lệch về bên lành. Nếu ăn cơm, cơm sẽ đọng lại bên bệnh. Uống nước, nước sẽ chảy ra bên bệnh.

Lưỡi lệch về bên lành vì thế người bệnh rất khó phát âm, không huýt sáo miệng được. Khác nhau giữa thần kinh số 7 ngoại biên và trung ương là phản ứng dấu: Charleber-Bell (hiện tượng mắt nhắm không kín). Nếu là tổn thương thần kinh số 7 ngoại biên do lạnh mắt bị bệnh sẽ nhắm không kín. Ngược lại tổn thương thần kinh số 7 trung ương do tai biến mạch máu não thì miệng bị méo, mắt vẫn nhắm kín bên bị bệnh. Liệt thần kinh số 7 ngoại biên do lạnh, bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi giới tính, bất kỳ thời tiết nào, mùa hè hay mùa đông đều có thể xảy ra.

Điều trị:

Tiên lượng của bệnh tùy thuộc và thời gian điều trị. Điều trị càng sớm, khả năng phục hồi càng nhanh. Nếu điều trị không đúng cách hoặc không kịp thời bệnh có thể chuyển thành mãn tính. Từ 6 tháng trở lên thời gian điều trị lâu hơn. Nếu một năm thì khả năng phục hồi là rất khó. Trước đây cũng có một số phương pháp điều trị bằng cách tiêm nhóm Glucocorticoid. Ví dụ như dexametazole ngày từ 15 mg đến 20 mg. Điều trị kéo dài hàng tháng. Glucocorticoid là nhóm thuốc gây nhiều tác dụng phụ như giữ muối và nước, gây loãng xương, đục thủy tinh thể, tiểu đường và gan nhiễm mỡ.

Thần kinh số 7 ngoại biên do lạnh là bệnh chữa tốt, phục hồi nhanh bằng phương pháp đông y: giác hơi nóng, châm cứu.

Châm cứu: Châm huyệt giáp xa xuyên sang huyệt địa thương. Huyệt dương bạch xuyên huyệt ngư yêu. Huyệt thái dương, châm xuyên sang huyệt đồng tử liêu. Toản trúc xuyên sang huyệt tịnh minh. Quyền liêu xuyên sang huyệt đồng tử liêu.

Châm các huyệt: Thính cung, nghinh hương, ế phong bên bị bệnh và huyệt nhân trung. Châm thêm huyệt hợp cốc bên lành. Điện châm. Nếu bệnh mới mắc: Châm tả. Nếu bệnh trên 6 tháng: Châm bổ. Liệu trình mỗi ngày 1 lần.

Trước các cụ hay dùng thịt lươn dán vào vùng mặt bị bệnh, hy vọng dùng thịt lươn để kéo miệng bị méo. Ngày nay không dùng phương pháp điều trị đó. Về thuốc uống hỗ trợ, các bài thuốc cổ phương có tác dụng hành khí, hoạt huyết, khu phong, trừ thấp, tán hàn. Bài thuốc thường dùng:

Kinh phòng bại độc tán

Khương hoạt 15g, độc hoạt 15g, sài hồ 20g, tiền hồ 15g, chỉ xác 10g, xuyên khung 10g, kinh giới 20g, phòng phong 15g, bạch linh 15g, cát cánh 15g, sinh khương 3 lát, tế tân 10g. Sắc uống ngày 1 thang kết hợp chườm nóng vùng mặt bị bệnh.

Thủy châm: Trinauvite (H5) thủy châm vào các huyệt vùng mặt mỗi huyệt 0,4 ml – 0,8 ml (test) nếu bệnh nhân ngại tiêm vào mặt thì có thể tiêm vào huyệt túc tam lý hai bên.

Kết luận: Thần kinh số 7 ngoại biên do lạnh điều trị bằng phương pháp châm cứu điện châm đem lại hiệu quả rất tốt, nếu điều trị kịp thời đúng phương pháp bệnh sẽ khỏi trong vòng 20-25 ngày. Cũng có trường hợp đến gần 1 tháng như trường hợp bà Hồ Thị Hiếu, người xã Quỳnh Lương (Quỳnh Lưu - Nghệ An) với 28 ngày điều trị, châm cứu 1 tuần nghỉ 1 ngày. Bà đã hồi phục hoàn toàn.

(Baomoi.com)
Đông y chữa bệnh hiệu quả cao. Tham khảo địa chỉ 116 Đà Nẵng - NGô Quyền - Hải Phòng
[url=null]http://thaythuoccuaban.com[/url] ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3900 Điều trị bệnh lao hạch cổ bằng đông y <> Hô hấp Wed, 03 Mar 2010 01:02:06 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3900
Bệnh này có thể điều trị bằng cả phương pháp đông và tây y. Nếu tự điều trị bằng đông y, người bệnh có thể tham khảo bài thuốc sau:

1. Phượng vĩ thảo 90g, sắc uống ngày một thang, uống liền trong 8 ngày. 2. Cây bạc đầu 30g, cát cánh 12g, cam thảo 9g, sắc uống ngày một thang. 3. Cỏ táu đèn tươi 50g, vỏ bí đao 15g, sắc uống ngày một thang. 4. Cây xà môi tươi 100g, sắc uống ngày một thang.

Khi mắc bệnh, người bệnh phải chú ý nghỉ ngơi và bồi dưỡng sức khỏe, không nên ăn những thứ cay, đắng, nhiều dầu mỡ; kiêng rượu, thuốc lá và những thứ kích thích; hạn chế sinh hoạt vợ chồng.

BS Nguyễn Hùng ( Suckhoedoisong)
Đông y chữa bệnh hiệu quả cao: Tham khảo tại http://thaythuoccuaban.com ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3899 Rễ cây dâu- vị thuốc chữa ho, trừ đờm <> Hô hấp Mon, 01 Mar 2010 01:34:18 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3899
Chế biến “tang bạch bì”: Lấy tang bạch bì cắt thành từng đoạn 3 - 4cm, tẩm với mật ong, cứ 1.000g tang bạch bì dùng 150g mật ong. Thêm một ít nước sạch vào mật ong, thường tỷ lệ 1:1. Quấy đều rồi đổ vào tang bạch bì, vừa trộn vừa bóp cho mật ngấm đều. Ủ 1 - 4 giờ, sao nhỏ lửa đến khi vị thuốc có màu vàng đậm, sờ không dính tay, có mùi thơm của mật ong là được. Sau khi chế như vậy, tang bạch bì rất dễ bị hút ẩm, chảy nước và dễ mốc. Cần bảo quản nơi thông thoáng và thường xuyên chăm sóc. Tốt nhất nên chế lượng đủ dùng cho từng đợt.

Theo YHCT, vị thuốc ngọt, tính bình, không độc; quy kinh: tâm, phế, tỳ, vị, đại tràng. Công năng thanh phế chỉ khái, kiện tỳ, nhuận táo. Tang bạch bì được dùng trong một số trường hợp sau:

- Trị ho ra máu: Tang bạch bì tán bột, ngày uống 10 - 20g với nước cơm. Uống liền 1 - 2 tuần lễ.

- Trị ho do phế nhiệt, viêm phế quản, khó thở, viêm họng có sốt: tang bạch bì, địa cốt bì, mỗi vị 20g; cam thảo 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 2 - 3 tuần lễ.

- Trị các chứng ho có đờm đặc, khó thở hoặc viêm phổi: tang bạch bì, hoàng liên, hạnh nhân, hoàng cầm, mỗi thứ 12g; kim ngân hoa, ngư tinh thảo, lô căn, đình lịch tử, mỗi vị 20g; liên kiều 16g, ma hoàng 8g, cam thảo 6g, thạch cao 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 2 - 3 tuần lễ.

- Trị ho có phù do thận: tang bạch bì 20g, đậu đỏ 40g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống liền 2 -3 tuần lễ.
(suckhoedoisong)
Đông y chữa bệnh hô hấp, các bài thuốc đông y chữa bệnh hô hấp: tham khảo tại http://www.thaythuoccuaban.com ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3898 Quất, cây thuốc quý <> Nam dược Mon, 01 Mar 2010 01:30:21 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3898 Truyện kể rằng, cách đây hơn 800 năm, vào giữa tiết trời đông giá lạnh, cả kinh thành Thăng Long vô cùng lo lắng bởi nhà vua và văn võ bá quan trong triều cùng hàng ngàn người dân đột nhiên mắc một chứng bệnh thời khí như sổ mũi, hắt hơi, đau nhức chân tay mình mẩy. Vua Lý Thần Tông đã hạ chiếu cho pháp sư Giới Không Thiền Sư lập đàn tế lễ, nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm mà ngày một lan rộng. Các quan ngự y được lệnh sưu tầm dược liệu để chế ra những phương thuốc trị bệnh. Sau một thời gian chạy chữa, các chứng bệnh lui dần, duy chỉ còn chứng ho, mất tiếng là dai dẳng kéo dài đến tận giáp Tết Nguyên đán. Nhà vua phải xuống chiếu cho nhân dân cả nước xem ai biết môn thuốc gì chữa khỏi chứng ho kéo dài này sẽ được trọng thưởng. Chiếu chỉ ban hành được vài ngày thì có một nông dân tên là Hoàng Quyết xin dâng lên nhà vua một vị thuốc dân gian, đó là quả quất luyện với đường phèn để chữa bệnh. Nhà vua bèn dùng thử thấy thuốc vừa chua, vừa ngọt, lại cay tê, đắng đắng, thơm mùi quất, chỉ trong hai ngày là khỏi bệnh. Bài thuốc được phổ biến rộng rãi trong nhân dân và từ đó, cây quất cũng được trồng và dùng làm thuốc chữa bệnh tại kinh thành Thăng Long.

Quấy - cây cảnh ngày Tết, quả để ăn và làm thuốc chữa bệnh
Từ xa xưa, trong dịp Tết Nguyên đán, quất được dùng làm cây cảnh trang trí trong nhà. Những quả quất màu vàng au hoặc đỏ cam tròn trĩnh và xinh xắn xen lẫn lá xanh dày tượng trưng cho mùa xuân đầy sức sống và sự vươn lên.

Quất chẳng những là cây cảnh của mùa xuân, từ quả quất chín mọng, qua bàn tay khéo léo của con người được chế biến thành mứt quất, một món ăn của ngày Tết, nếu một lần được thưởng thức sẽ chẳng bao giờ quên bởi hương vị đặc trưng: ngọt, thơm, cay dịu... Quất còn là vị thuốc chữa được nhiều bệnh.

Quả quất có mùi thơm, vị ngọt, chua và tinh dầu thơm cay của vỏ. Quả quất được dùng dưới dạng quả còn non hoặc đã chín.

Theo Đông y, quả quất vị ngọt chua, tính ấm, vào các kinh phế, vị, can. Nó có công năng hóa đảm, trị ho, giải uất, tiêu thực, giải rượu. Vỏ có tác dụng mạnh hơn. Quất để càng lâu càng tốt. Hạt quất có tác dụng giảm ho, cầm máu, chống nôn, lá quất có nhiều tinh dầu, có tác dụng chữa cảm mạo phong hàn rất tốt.

Những bài thuốc chữa bệnh bằng quất

Cảm mạo: Lá quất 30g, đổ 3 bát nước sắc còn 1 bát, hòa đường vừa đủ, uống lúc nóng.

Nôn mửa: Vỏ quất, gừng tươi, đất nung mỗi thứ 9g, sắc uống.

Nghẹn: Vỏ quất 20g, sấy khô, tán thành bột, sắc uống nóng.

Sa nang sưng đau: Rễ quất 15 - 16g, sắc uống.

Ho nhiều đờm: Quất 5 quả, đường phèn vừa đủ, hấp cách thủy, ngày ăn 2 lần, liền trong 3 ngày.

Ho gà trẻ em: Quất 10g, gừng tươi 6g, thiên trúc hoàng 6g, sắc uống mỗi ngày 1 lần.

Ho do phế nhiệt: Dùng quả quất với củ cải ép lấy nước uống.

An thần giảm ho: Quất 2 quả (bỏ vỏ, hạt, vách múi), bột ngó sen một ít, đường 100g, một ít hoa quế, nấu chè ăn.

Chữa hậu sản, phù nề, vàng da: Quả quất non 50g, nghệ vàng 100g, nghệ đen 100g, hương phụ 100g, cặn nước tiểu 5g. Tất cả thái mỏng, phơi khô, tán bột mịn, trộn với mật ong làm viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10 viên.

Nước giải khát có tác dụng bổ, dễ tiêu: Quả quất chín 1kg rửa sạch, để ráo nước. Dùng kim sạch châm sâu vào quả 5 - 6 lỗ rồi cho vào lọ rộng miệng cùng với đường kính 2kg; cứ một lớp quất lại một lớp đường. Đậy kín, để trong 7 ngày, được dịch quất đường (sirô quất) màu vàng mùi thơm. Khi dùng, lấy 1 - 2 thìa to sirô này pha với 150ml được đun sôi để nguội. Khuấy đều rồi uống.

Chữa ho lâu ngày không khỏi: Hạt quất 10g, lá thạch xương bồ 10g, thêm 20g đường phèn hấp cơm, uống 2 - 3 lần mỗi ngày, mỗi lần 5 - 10ml (1 thìa café).

Chữa nôn ra máu: Hạt quất 20g, bóc bỏ vỏ lấy nhân, sao vàng, giã nhỏ, sắc lấy nước uống 2 lần/1 ngày. Cần chú ý tránh nhầm lẫn giữa hạt quất và hạt quýt (y học cổ truyền gọi là quất hạch).

Ngoài ra, trong vỏ của quất, cam, quýt có chất tinh dầu giúp ngăn ngừa phát sinh ung thư gan, thực quản, đại tràng, da... Các nhà khoa học Nhật Bản cho biết, ăn quất cả vỏ sẽ cho vitamin C, chất xơ rất có lợi cho tiêu hóa và hạ được cholesterol, làm vững chắc thành mạch, chữa bệnh tăng huyết áp.
(theo suckhoedoisong)
[color=#D2691E]Đông y chữa bệnh hiệu quả cao: Tham khảo tại[url=null] thaythuoccuban.com[/url][/color] ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3897 Trà xanh giảm căng thẳng cho mắt <> Các bệnh về mắt Mon, 01 Mar 2010 01:24:44 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3897 Theo các nhà nghiên cứu, trong trà xanh chứa các hoạt chất chống oxy hóa có tên gọi là catechin giúp giảm căng thẳng cho mắt. Nhóm chống oxy hóa catechin bao gồm: vitamin C, vitamin E, lutein, zeaxanthin được biết đến là những chất mang đặc tính hiệu quả trong vấn đề phòng ngừa các bệnh về mắt.

Nghiên cứu được tiến hành trên loài chuột để thử nghiệm tác dụng của catechin. Khi các bác sĩ kiểm tra giác mạc, thủy tinh thể, võng mạc, màng cứng, màng trạch, thủy dịch và pha lê dịch, thì kết quả cho thấy những cấu trúc trên mắt của từng cá thể có sự khác nhau sau khi hấp thụ lượng catechin. Ở võng mạc mắt, sự hấp thụ lượng gallocatechin cao nhất và ở thủy dịch là epigallocatechin (gallocatechin và epigallocatechin là những thành phần hóa học chứa trong trà xanh). Họ cũng nhận ra rằng, thời gian tập trung tối đa của nhóm catechin thay đổi từ nửa tiếng đến 12 tiếng và hiệu quả mang lại của chúng là có thể giảm căng thẳng cho mắt kéo dài tới 20 tiếng đồng hồ sau khi tiêu thụ trà xanh.

TS Chi Pui Pang, Bệnh viện Mắt Hồng Kông cùng các đồng nghiệp cho biết: “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra tác dụng của trà xanh có lợi cho mắt. Tuy nhiên, cần thiết phải tiến hành nhiều nghiên cứu sâu hơn để xác định những tác động tương tự có xảy ra trên người hay không”.
(Theo phunuonline) ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3896 Tác dụng trị bệnh của cây đào <> Bệnh ngoài da Wed, 24 Feb 2010 01:29:57 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3896
Chữa ho, hen suyễn: 4,5 - 9g. Sắc uống trong ngày.

Chữa kinh nguyệt không đều, thống kinh: Đào nhân, hồng hoa, ngưu tất, tô mộc, nghệ vàng, mần tưới, mỗi vị 6 - 8g. Sắc nước uống.

Chữa máu kết thành cục không tan trong bụng (Đào nhân hồng hoa thang): Đào nhân (bỏ vỏ), hồng hoa, tô mộc, mỗi thứ 3g. Thanh bì 2,5g, ô dược 1g, độc hoạt 2g, bạch tật lê (bỏ gai) 3,5g sắc uống.

Nhiều bộ phận của cây đào đã được dùng làm thuốc chữa bệnh.

Chữa huyết bế sau sinh: Đào nhân (bỏ vỏ) 12 hạt, ngó sen 1 cái sắc uống.

Chữa bế kinh, ứ huyết đau kinh: Đào nhân 6g, đương quy 10g, xích thược 10g, xuyên khung 3g, hồng hoa 5g sắc uống, chia nhiều lần trong ngày.

Lá đào

Chữa ghẻ lở, viêm kẽ chân, chữa sưng tấy, vết thương, vết đứt: Lá đào tươi giã nát, đắp tại chỗ. Nước sắc lá đào dùng để tắm, ngâm rửa chỗ viêm kẽ chân. Lá đào + lá dâu tằm giã nát, đắp tại chỗ vết thương, vết nứt. Lá đào + lá cà tím + lá cỏ roi ngựa, lượng bằng nhau, giã đắp chữa sưng tấy.

Chữa ho: Nước cất từ lá đào tươi.

Chữa đại tiện không thông: Lá đào tươi một nắm rửa sạch, giã nát, vắt nước uống.

Chữa sốt rét: Lá đào tươi 70g, sắc uống ngày một lần, dùng liên tục 5 ngày.

Chữa mề đay: Lá đào tươi 500g thái nhỏ, ngâm vào trong 500ml cồn từ 24 - 48 giờ, lọc bỏ bã. Dùng bôi ngoài da ngày 2 - 3 lần.

Chữa ngứa âm hộ: Lá đào tươi, vỏ cây xoan, hoàng bá tươi, mỗi thứ 30g, vỏ rễ lựu tươi 50g, lá khuynh diệp tươi 25g, hạt tiêu 20 hạt. Đun sôi, bỏ bã, cho thêm băng phiến. Dùng nước xông rửa, ngâm bên ngoài. Không được uống.

Tuy nhiên, lá đào có axit cyanhydric, có thể gây ngộ độc. Thận trọng khi sử dụng. Dùng liều vừa đủ, kể cả khi uống lẫn khi bôi, đắp, ngâm, rửa... bên ngoài.
(Theo bee.net.vn)

]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?3895 Không những giảm béo, thanh long còn chữa ho <> Hô hấp Wed, 24 Feb 2010 01:26:31 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?3895
Theo Đông y, quả thanh long có vị ngọt, chua, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, nhuận phế, chỉ khái, hoá đàm. Thân cây có tác dụng thư cân hoạt lạc (giúp gân cốt co duỗi khoẻ khoắn và làm thông suốt các kinh lạc) và giải độc. Hoa có tác dụng bổ phế, trừ ho.

Người mập phì, người có hàm lượng cholesterol huyết áp tăng cao nên ăn thanh long. Ảnh:Myopera

Đặc biệt, chất nhầy trong quả thanh long giúp làm giảm cholesterol của thức ăn và muối mật. Do đó, người mập phì, người có hàm lượng cholesterol huyết áp tăng cao nên ăn thanh long. Thanh long còn thích hợp với người bệnh đái tháo đường, cao huyết áp, táo bón kinh niên.

Thân cây thanh long gọt bỏ vỏ và gai, rửa thật sạch với nước muối loãng, giã nát lấy nước bôi hay dùng bã để đắp chữa bỏng lửa, bỏng nước sôi, viêm tuyến mang tai, đinh nhọt, gãy xương.

Hoa khi nở có màu trắng đẹp như hoa quỳnh, được dùng chữa viêm phế quản, viêm hạch bạch huyết thể lao, giải độc rượu. Liều dùng 15 - 30g tươi, sắc uống hoặc 10 - 12g khô sắc uống, hãm trà để uống.

Có thể nấu hoa thanh long với thịt heo nạc để làm món súp bổ dưỡng, chữa tình trạng phổi yếu hay bị ho đàm. Thanh long là nguồn vitamin C cần thiết cho cơ thể giúp chữa một số chứng bệnh do thiếu vitamin C.
(theo bee.net.vn)
[url=null]Đông y chữa bệnh hiệu quả cao. tham khảo tại địa chỉ thaythuoccuaban.com[/url] ]]>