Khám chữa bệnh, bài thuốc, y học, Y khoa http://www.khamchuabenh.com/index.php Khám chữa bệnh, khám bệnh, chữa bệnh, bài thuốc, y học zh-cn Powered by Bo-blog 2.0.2 sp2 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7075 Trầm cảm ở người đái tháo đường - Cách phát hiện và chữa trị? <> Bệnh trầm cảm Tue, 31 Jan 2012 10:14:54 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7075
Cũng như các bệnh mạn tính khác, bệnh đái tháo đường (dù là týp 1 hay týp 2) đều có thể gây ra trầm cảm. Các số liệu nghiên cứu của các bác sĩ Khoa Tâm thần - Bệnh viện 103 cho thấy, có đến 95% số bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị tại Bệnh viện 103 có biểu hiện trầm cảm mức độ nhẹ và vừa, một số bệnh nhân có trầm cảm mức độ nặng.

Các biểu hiện của trầm cảm ở bệnh nhân đái tháo đường

Khí sắc giảm: Nét mặt của bệnh nhân thiếu linh hoạt, ít biểu lộ cảm xúc. Khi nhìn vào, chúng ta dễ dàng nhận thấy nét mặt của họ rất đơn điệu, ít thay đổi, các nếp nhăn trên mặt như giãn ra và mờ đi.

Mất dần các sở thích: Bệnh nhân mất dần các sở thích vốn có. Họ chẳng còn quan tâm gì đến các vấn đề mà họ vốn rất yêu thích trước đây (như bóng đá, ca nhạc, đi du lịch, giao lưu, mua sắm…).

Mệt mỏi: Bệnh nhân đái tháo đường vốn dĩ đã hay mệt mỏi, đặc biệt là các bệnh nhân đường huyết không ổn định. Triệu chứng mệt mỏi ở bệnh nhân có trầm cảm thường là mệt về buổi sáng, nhất là sau khi ngủ dậy. Đến trưa và chiều thì biểu hiện mệt mỏi giảm đi rõ rệt.


Bệnh nhân đái tháo đường dễ có nguy cơ bị trầm cảm.
Mất ngủ: Bệnh nhân đái tháo đường rất hay mất ngủ. Những người đái tháo đường týp 1 hay mất ngủ đầu giấc. Họ rất khó vào giấc ngủ. Có khi phải nằm trằn trọc 2-3 tiếng đồng hồ trên giường thì mới ngủ được. Còn bệnh nhân đái tháo đường týp 2 thì hay có mất ngủ cuối giấc. Nghĩa là họ vẫn đi ngủ tương đối dễ, nhưng đến tầm 2-3 giờ sáng thì tỉnh giấc và không sao ngủ lại được.

Hay cáu gắt: Bệnh nhân rất dễ nổi cáu mà không có nguyên nhân gì rõ ràng. Vợ (chồng) và con cái của bệnh nhân thường là những đối tượng đầu tiên chịu hậu quả của sự khó tính của bệnh nhân.

Bi quan, chán nản: Bệnh nhân luôn buồn phiền vì tình trạng bệnh tật của mình. Do gặp nhiều khó khăn và trở ngại trong điều trị (dùng thuốc liên tục) và sinh hoạt (ăn kiêng chặt chẽ) khiến bệnh nhân nhìn nhận tương lai rất mờ mịt. Họ cho rằng mình là gánh nặng cho gia đình.

Chán ăn hoặc ăn mất ngon: Nhìn chung bệnh nhân đái tháo đường thường ăn nhiều, nhưng các bệnh nhân đái tháo đường bị trầm cảm lại ăn ít do ăn mất ngon. Vì thế họ thường là những người gầy. Tuy nhiên, vẫn có một số bệnh nhân đái đường týp 2 ăn rất nhiều và béo phì.

Chú ý và trí nhớ kém: Bệnh nhân rất khó tập trung chú ý lâu vào một việc gì đó. Do vậy, họ thường không xem hết được một chương trình tivi, không đọc xong một bài báo… Mặt khác, các bệnh nhân này có trí nhớ gần rất kém. Họ hay quên đồ đạc, quên những việc cần phải làm.

Ý định và hành vi tự sát: Ý định tự sát khá phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường. Do bi quan, chán nản cho rằng mình là gánh nặng cho gia đình, bệnh nhân muốn chết để kết thúc. Tuy nhiên, hành vi tự sát lại hiếm gặp hơn rất nhiều, nghĩa là bệnh nhân đái tháo đường ít khi tự sát.

Đau: Hay gặp nhất là đau đầu, đau khớp, đau bộ phận sinh dục, đau bụng, đau chân, tay… Các triệu chứng này cản trở nhiều khả năng lao động và sinh hoạt của bệnh nhân.

Nguyên nhân trầm cảm ở bệnh đái tháo đường là do bệnh này và các biến chứng của nó là các kích thích kéo dài (được coi là stress nội sinh), dần dần gây ra trầm cảm.

Các thuốc chống trầm cảm được khuyên sử dụng

Lợi ích của điều trị trầm cảm ở bệnh nhân đái tháo đường

Các triệu chứng trầm cảm ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng lao động và sinh hoạt của bệnh nhân. Khi điều trị trầm cảm, các bệnh nhân này sẽ lạc quan hơn, ngủ tốt hơn, giảm mệt mỏi, chất lượng cuộc sống sẽ được cải thiện rõ rệt. Từ đó khiến họ tin tưởng và hợp tác tốt hơn với bác sĩ trong việc điều trị. Tuy nhiên, điều trị trầm cảm không thay thế được điều trị đái tháo đường, nghĩa là vẫn phải lấy điều trị đái tháo đường là chính, còn điều trị trầm cảm là điều trị kết hợp.

Nên chọn thuốc chống trầm cảm có hiệu quả tốt, chỉ cần dùng 1 lần/ngày vào buổi tối và ít tác dụng phụ. Cần lưu ý không chọn các thuốc gây kích thích ăn ngon miệng vì sẽ gây khó khăn trong việc thực hiện chế độ ăn kiêng của bệnh nhân. Các thuốc đều dùng sau bữa ăn tối.
- Sertraline, viên 50mg và 100mg. Đây là thuốc chống trầm cảm mới, rất ít tác dụng phụ. Bệnh nhân dung nạp thuốc rất tốt.

- Paroxetine, viên 20mg. Đây cũng là thuốc chống trầm cảm mới, dễ dung nạp, ít tác dụng phụ.

- Fluvoxamine, viên 100mg. Cũng là thuốc chống trầm cảm mới, ít tác dụng phụ, hiệu quả tốt và xuất hiện nhanh (sau 2 tuần dùng thuốc).

- Clomipramine, viên 25mg. Đây là thuốc chống trầm cảm 3 vòng. Thuốc tuy có một số tác dụng phụ như khô, đắng miệng, táo bón trong thời gian đầu dùng thuốc nhưng thuốc này tỏ ra rất có hiệu quả cho các trường hợp đau, mất ngủ, lo lắng của bệnh nhân đái tháo đường.

- Amitriptylin, viên 25mg. Đây là thuốc chống trầm cảm 3 vòng tuy có nhiều tác dụng phụ như mệt mỏi, đắng miệng, táo bón, bí đái ở người có u tiền liệt tuyến… Nhưng thuốc lại rất hiệu quả cho các trường hợp đau, mất ngủ, lo lắng… Tuy nhiên, thuốc có thể gây ăn nhiều, vì vậy cần lưu ý khi bệnh nhân phải thực hiện chế độ ăn kiêng.          

  TS. Bùi Quang Huy
(Chủ nhiệm Khoa Tâm thần - Bệnh viện 103)
Theo SKĐS ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?7074 Bệnh tiểu đường - Giữ đường huyết ở mức an toàn để phòng ngừa biến chứng <> Bệnh tiểu đường Tue, 31 Jan 2012 10:12:38 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7074
Theo nghiên cứu UKPDS - 1 nghiên cứu chuẩn về tiểu đường týp 2 tại châu Âu, khi HbA1C tăng 1% (tương ứng đường huyết tăng khoảng 2mmol/l) thì nguy cơ bị các biến chứng thận, mắt, thần kinh tăng 25% và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng 16%. Ngược lại, khi đường huyết hạ thấp dưới 3mmol/l thì bệnh nhân có nguy cơ rất cao bị hôn mê, thậm chí tử vong. Do đó, theo dõi đường huyết thường xuyên giúp kiểm soát tốt đường huyết là 1 trong những yếu tố quyết định điều trị thành công bệnh tiểu đường và đề phòng có hiệu quả với các biến chứng của tiểu đường.

Hiện nay, theo khuyến cáo mới của Hiệp hội tiểu đường Hoa Kỳ và Canada được nhiều thầy thuốc chuyên khoa ủng hộ và thực hiện thì các bệnh nhân tiểu đường cần được điều trị sớm và tích cực hơn, phối hợp thuốc sớm hơn để đưa đường huyết nhanh chóng về mức càng gần bình thường càng tốt, hạn chế tối đa các biến chứng.

Điều đặc biệt của bệnh tiểu đường là khi đường máu cao trong khoảng 7-16mmol/l hoặc là thấp tới 3-4mmol/l thì cảm giác của đa số người bệnh vẫn là bình thường. Do đó, để tránh xa vùng “đường huyết nguy hiểm” thì cần kiểm tra đường huyết thường xuyên, hàng ngày, từ đó điều chỉnh chế độ ăn uống, thuốc để đưa đường huyết về mức an toàn.


Cần theo dõi đường huyết thường xuyên.
Đo đường huyết thế nào cho đúng?

Cách sử dụng máy đo đường huyết tại nhà rất đơn giản, gồm 3 thao tác chính là gắn que thử vào máy, thấm máu vào que và đợi máy báo kết quả sau 5 giây. Khi mới được chẩn đoán hoặc khi thay đổi chế độ điều trị thì các bệnh nhân nên thử 2-4 lần mỗi ngày vào trước các bữa ăn chính và trước khi đi ngủ. Còn khi đường huyết đã tương đối ổn định thì vẫn nên thử 1-3 lần mỗi tuần. Ngoài ra, bệnh nhân tiểu đường cũng nên chú ý đo đường huyết sau bữa ăn 2 giờ hoặc khi có biểu hiện hạ đường huyết hay bị ốm. Nhiều nghiên cứu cho thấy tăng đường huyết sau ăn có khả năng gây biến chứng tương đương với tăng đường huyết lúc đói, nhất là các biến chứng tim mạch. Riêng đối với các bệnh nhân tiểu đường là phụ nữ có thai thì yêu cầu là phải theo dõi đường huyết chặt chẽ hơn (gồm trước, sau bữa ăn và nửa đêm) trong suốt thời gian mang thai để kịp thời điều chỉnh sao cho đường huyết luôn trong giới hạn bình thường, bảo đảm cho thai phát triển tốt và mẹ thì tránh được các biến chứng nặng của bệnh tiểu đường.

Dự án Phòng chống bệnh đái tháo đường
Theo SKĐS ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?7073 Giúp người đái tháo đường vui xuân <> Bệnh tiểu đường Tue, 31 Jan 2012 10:10:16 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7073
Tết năm ngoái, ông L.Th. (Đống Đa, Hà Nội) đã phải vào Bệnh viện Nội tiết Trung ương (BVNTTW) cấp cứu do mức đường huyết tăng vọt, không kiểm soát được. Sau 5 ngày nằm viện điều trị, đường huyết của ông đã ổn định và được xuất viện. Lúc này, ông và gia đình mới biết, dù ông đã uống thuốc, tiêm insulin đúng giờ nhưng do ngon miệng nên mỗi ngày ông ăn thêm một miếng bánh chưng, nên đường huyết mới tăng như vậy.
Ông Th. chỉ là một trong số rất nhiều bệnh nhân phải nhập viện sau mấy ngày Tết vì đường huyết “lên lên, xuống xuống” không ổn định. Theo ThS. Phạm Thúy Hường – Trưởng khoa Khám bệnh theo yêu cầu, BV Nội tiết Trung ương thì sau Tết, bệnh viện thường gặp bệnh nhân trong tình trạng đường huyết cao quá, ít trường hợp bị hạ đường huyết. Sở dĩ có tình trạng trên là do sinh hoạt của người bệnh bị đảo lộn, không giữ được chế độ ăn và tập luyện đều đặn trong mấy ngày Tết. Các thức ăn gây tăng đường huyết là bánh, kẹo, của nếp, uống nước có ga, cà phê, thuốc lá, rượu bia…

Vậy làm thế nào để bệnh nhân ĐTĐ vui Tết mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe và gây các tai biến do căn bệnh của họ từ những cám dỗ của đồ ăn, nước uống và những sinh hoạt khác thường trong mấy ngày Tết? Theo TS. Nguyễn Vinh Quang - Phó Giám đốc BVNTTW thì để phòng tránh những trục trặc không đáng có, đảm bảo niềm vui đón xuân của bản thân và gia đình, sự chủ động của người bệnh ĐTĐ đóng vai trò rất quan trọng. Những điều bệnh nhân ĐTĐ cần chuẩn bị là:

Chế độ điều trị

Bệnh nhân cần kiểm tra lại toàn diện tình trạng sức khỏe trước Tết; thảo luận với bác sĩ của mình về chế độ sinh hoạt, chế độ sử dụng thuốc. Cần thực hiện đúng chỉ dẫn điều trị của bác sĩ, nếu có dấu hiệu bất thường phải thông báo kịp thời với bác sĩ.

Không được quên uống thuốc hoặc quên tiêm insulin. Trong trường hợp quên thì không được tăng liều cho lần sau.


Người bệnh nên tự kiểm tra đường huyết để có hướng xử trí kịp thời. Nếu đường huyết không ổn định thì nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để điều chỉnh chế độ thuốc phù hợp.

Khi đi chơi, bệnh nhân nên luôn mang thuốc theo mình, insulin để sử dụng đúng thời gian. Bệnh nhân cũng nên tham khảo ý kiến bác sĩ để chuẩn bị một ít thuốc dự phòng, tránh tình trạng hết thuốc trong ngày Tết.

Chế độ dinh dưỡng

Không có một chế độ ăn chung cho bệnh nhân ĐTĐ, bởi lượng thức ăn còn phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể, cường độ làm việc của bệnh nhân… Trong ngày Tết, bệnh nhân ĐTĐ vẫn có thể ăn uống vui vẻ cùng gia đình, bè bạn. Nhưng cũng không nên quên rằng ăn, uống là một trong các biện pháp điều trị bệnh - cùng với việc tăng hoạt động thể lực và dùng thuốc. Do đó, ngoài việc vẫn giữ chế độ luyện tập và thuốc như ngày thường, người bệnh có kế hoạch chủ động phân chia bữa ăn. Ví dụ, có thể ăn làm nhiều bữa trong ngày; cũng có thể uống một chút rượu nhưng cũng nên tham khảo ý kiến của thầy thuốc để biết được nên uống loại rượu nào. Cần tránh các đồ uống có ga; các loại bánh, hoa quả ngọt. Nên duy trì ăn đúng bữa, ăn thêm rau xanh để hạn chế khả năng gây tăng đường huyết của các món ăn ngày Tết.

Người bệnh nên chủ động mang theo thực phẩm dành cho người ĐTĐ như: sữa, bánh, ngũ cốc dành cho người ĐTĐ để có thể ăn khi đến bữa mà bữa ăn chưa được chuẩn bị sẵn hoặc đang di chuyển trên đường.

Trong chế độ dinh dưỡng, bệnh nhân ĐTĐ rất cần có sự quan tâm, chăm sóc của gia đình. Do đó trong dịp Tết, người nội trợ cũng cần chú ý tới việc lựa chọn thực phẩm nào, chế biến ra sao để cả gia đình vẫn có thể ăn uống vui vẻ, vừa đáp ứng các nhu cầu về dinh dưỡng của cả nhà mà không làm ảnh hưởng tới chế độ ăn của người bệnh.

Nếp sống sinh hoạt

Dù sinh hoạt trong mấy ngày Tết có bị thay đổi đến đâu, thì bệnh nhân ĐTĐ vẫn nên duy trì thói quen đi bộ (ít nhất 30 phút/ngày) và tham gia dọn dẹp nhà cửa, tránh ngồi xem tivi cả ngày. Không thức quá khuya hoặc ngủ quá nhiều.

Khi tham gia các cuộc du xuân, tốt nhất là nên thảo luận với bác sĩ theo dõi sức khỏe của mình về lộ trình mà mình định tham gia; bác sĩ sẽ có lời khuyên chuẩn bị những gì cho phù hợp. Không nên tham gia các hoạt động thể thao, vui chơi ngày Tết có cường độ cao mà không có sự chuẩn bị trước vì người bệnh, đặc biệt bệnh nhân tiêm insulin có nguy cơ hạ đường huyết trong và sau khi kết thúc tập luyện.            

Trọng Nhân
Theo SKĐS ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?7072 Trà đen giúp đẩy lùi bệnh tiểu đường, tim mạch <> Bệnh tiểu đường Tue, 31 Jan 2012 09:59:24 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7072 Đó là kết quả 40 cuộc nghiên cứu về mối liên hệ giữa uống trà và ngừa bệnh tật do các bác sĩ Anh thực hiện và được công bố trên chuyên san Dinh dưỡng Anh.


Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Theo các chuyên gia Anh cho rằng, đó là nhờ hợp chất chống ôxy hóa flavonoids và theanine có trong trà đen giúp chống lại bệnh tật.

Những chất trên có trong trà đen giúp ngăn ngừa máu vón cục, đồng thời giúp kiểm soát huyết áp và cải thiện lưu lượng máu trong cơ thể.

Kim Thu(Daily mail, 1/2012)
Theo SKĐS ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?7071 Điều trị bệnh viêm mũi xoang với ớt <> Bệnh viêm xoang Tue, 31 Jan 2012 09:58:00 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7071 Các nhà khoa học đến từ Đại học Cincinnati (Mỹ) đã thử chiết xuất các hoạt chất quý từ ớt rồi đem chế theo phương pháp riêng, tạo thành một dung dịch xịt mũi. Người ta đã lấy dung dịch xịt mũi này xịt cho 44 người bị các trục trặc về mũi xoang và hô hấp nhưng không có cơ địa dị ứng. Ngày xịt 2 lần và kéo dài suốt 2 tuần. Sau đó cho các yếu tố độc hại của môi trường như lạnh, nóng, bụi… để xem khả năng thụ bệnh. Thật tuyệt vời, những người được thử nghiệm dùng ớt giảm hẳn khả năng bị bệnh. Không những thế, nó còn có tác dụng đẩy nhanh sự hồi phục, người bệnh gần như chỉ đôi ba phút sau là thấy dễ chịu và nhẹ người.


Điều đó chứng tỏ ớt có thể giúp chữa trị một số bệnh viêm mũi xoang thường gặp. Và biết đâu, mai sau chúng ta lại có những lọ xịt mũi từ quả ớt đầy thú vị.

Tuy nhiên, chúng ta không nên dại dột tự chế “thuốc ớt” để nhỏ vì có thể gây nguy hiểm.

Hồng Phong
(Theo Allergy, Asthma & Immunology 2011),
Theo SKĐS ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?7070 Bệnh giang mai: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị <> Bệnh tình dục Tue, 31 Jan 2012 09:47:03 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7070
Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh giang mai rất nhiều, do đó trước khi phương pháp xét nghiệm huyết thanh học ra đời thì việc chẩn đoán chính xác bệnh giang mai rất khó khăn bởi vì nó thường bị nhầm lẫn với các bệnh khác, đặc biệt là trong giai đoạn.



xoắn khuẩn giang mai

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH GIANG MAI:

Bệnh giang mai gây nên do xoắn khuẩn nhạt (Treponema pallidum) do Schaudinn và Hoffmann phát hiện ra năm 1905. Đây là 1 loại xoắn khuẩn hình lò xo có 6-10 vòng xoắn, đư­ờng kính ngang không quá 0,5µ, dài 6-15µ. Xoắn khuẩn có thể  có 3 loại di động:

-         Di động theo trục dọc kiểu vặn đinh ốc.

-         Di động qua lại nh­ưmột quả lắc đồng hồ.

-         Di động l­ợn sóng.

Ở môi trư­ờng ẩm ­ớt cả 3 loại di động này có thể tồn tại và kéo dài đến  2 ngày .

Xoắn khuẩn giang mai là 1 loại vi khuẩn yếu, ra ngoài cơ thể nó không sống quá đư­ợc vài tiếng đồng hồ, nó chết nhanh chóng ở nơi khô, ở nơi ẩm ­ớt nó sống dai dẳng hơn. ở trong nư­ớc đá và độ lạnh -20ºC  nó vẫn di động đ­ược rất lâu.Ở 45ºC nó bị bất động và có thể sống đ­ược 30 phút. Xà phòng có thể giết đ­ược xoắn khuẩn sau vài phút.Xoắn khuẩn vào cơ thể qua chỗ da và niêm mạc bị xây xát thư­ờng là do tiếp xúc trực tiếp do giao hợp,đ­ường sinh dục,đư­ờng hậu môn grain đ­ường miệng. Từ đó xoắn khuẩn đi vào hạch và 1 vài giờ sau  nó đi vào máu và lan truyền khắp cơ thể.

Nguồn bệnh và đ­ường lây:
Những năm gần đây bệnh giang mai đã tăng ở nhiều n­ước. Bệnh tăng rõ rệt ở các nư­ớc nhiệt đới và các n­ước phát triển.

Hình thái lâm sàng có khác nhau tuỳ theo giống ng­ười. Thí dụ: ở ng­ười da đen thư­ờng grain có biểu hiện viêm nhiều hạch trong giang mai sớm hoặc grain có sẩn hình nhẫn, mụn mủ, viêm xư­ơng khớp, viêm mống mắt hoặc trong giang mai muộn thì grain gặp biến chứng tim mạch. Ngư­ợc lại giang mai thần kinh, ( tabes) liệt toàn thân lại rất hiếm gặp ở ng­ười da đen.

Ở Việt Nam trư­ớc năm 1945 và trong thời kỳ Pháp tạm chiếm cho đến năm 1954, bệnh giang mai đứng hàng thứ 2 sau lậu. Phần nhiều bệnh nhân tự chữa hoặc đến thầy thuốc t­ nhân nên số liệu không chính xác.
Từ 1956-1964 ở Miền Bắc giải phóng, đời sống ổn định, ở các nhóm có nguy cơ cao đư­ợc kiểm tra. Đã phát hiện trong những năm đầu là 1000-1500 ca/năm. Tỷ lệ so với dân số là 0,1/1000.
Số l­ượng giảm dần, cho đến 1963-1964 mỗi năm chỉ phát hiện khoảng 20 ca (tỷ lệ so với dân số lúc đó là 0,01/1000). Bệnh giang mai cũng nh­ các bệnh LTQĐTD  khác đã giảm 10 lần so với năm 1954.
Từ 1965-1975 là  thời kỳ chiến tranh, trật tự và nếp sống bị đảo lộn, tâm lý sinh hoạt không bình th­ường, y tế khó khăn, các bệnh hoa liễu tăng lên ở miền Bắc và đặc biệt đến  năm 1975 khi đất n­ước đ­ược thống nhất, số ng­ười bị mắc bệnh giang mai đã lên tới 160.000 ca, tỷ lệ là 5/1000 (so với tổng số dân lúc đó là 45 triệu).
Số gái mãi dâm tăng, ở thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30.000 ng­ời   (64% trong số này có thử nghiệm huyết thanh  + ).
Tỷ lệ giang mai bẩm sinh: 1,25%.
Tỷ lệ sản phụ bị giang mai: 4,5%.
Nguồn bệnh: là ng­ười mắc bệnh giang mai kể cả giang mai kín, giang mai. Ngoài ra không có nguồn nào khác nh­ từ động vật hoặc côn trùng.

Đư­ờng lây truyền: là đ­ường trực tiếp tiếp xúc giữa ng­ười bệnh và ngư­ời  lành hoặc gián tiếp qua đồ vật. Ta có thể khái quát có 3 đ­ường chính sau:

- Lây truyền qua đ­ường tình dục.

- Lây truyền qua đ­ường máu(tiêm truyền máu hoặc tiêm chích matriarch tuý mà bơm tiêm không vô khuẩn).

- Truyền từ mẹ sang criminal (qua nhau thai từ tháng thứ 4 trở đi).



II. CHUẨN ĐOÁN BỆNH GIANG MAI:

Bệnh giang mai phát triển theo bốn giai đoạn chính: giai đoạn 1, giai đoạn 2, giai đoạn ủ bệnh và giai đoạn 3

Giai đoạn 1

Đây là giai đoạn rất quan trọng để phát hiện và điều trị kịp thời. Khoảng 3-90 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh (trung bình 21 ngày), sẽ xuất hiện tổn thương da ở các điểm tiếp xúc. Vết loét xuất hiện ở những nơi tiếp xúc với xoắn khuẩn giang mai, thường là ở bộ phận sinh dục như: môi lớn, môi bé, âm đạo, cổ tử cung, quy đầu, dương vật hoặc trực tràng.Tổn thương này, được gọi là hạ cam, là một dạng viêm loét, có đặc điểm nông, hình tròn grain bầu dục kích thước 0.3 đến 3cm, bờ nhẵn, màu đỏ, không ngứa, không đau, không có mủ; đáy vết loét thâm nhiễm cứng và kèm theo nổi hạch hai bên vùng bẹn, cứng và cũng không đau. Các triệu chứng trên có thể tự biến đi sau 3 đến 6 tuần lễ kể cả không điều trị nên nhiều người tưởng lầm là khỏi bệnh nhưng thực sự là vi khuẩn lúc đó đã vào máu, bệnh vẫn tiếp tục phát triển với những biểu hiện khác.

Giai đoạn 2

Giai đoạn 2 xảy ra từ 4 đến 10 tuần sau giai đoạn 1. Giai đoạn này có rất nhiều biểu hiện khác nhau, ví dụ như: nốt anathema đối xứng, màu hồng nhưhoa đào (đào ban) không ngứa trên toàn thân hoặc tứ chi bao gồm cả lòng bàn tay, bàn chân, hình ảnh đào anathema màu đỏ hồng hoặc hồng tím nhưcánh hoa đào, ấn vào thì mất, không nổi cao trên mặt da, không bong vảy và tự mất đi. Thường khu trú hai bên mạng sườn, ngực, bụng, chi trên. Đào anathema xuất hiện dần trong vòng 1 đến 2 tuần, tồn tại không thay đổi trong vòng 1 -3 tuần sau đó nhạt màu dần rồi mất đi.

Hoặc bệnh có thể làm xuất hiện các mảng sẩn, nốt phỏng nước, vết loét ở da và niêm mạc. Mảng sẩn, sẩn các loại, có nhiều kích thước khác nhau, như bằng hạt đỗ, đinh gim, hoặc sẩn hình liken, ranh giới rõ ràng màu đỏ như quả dâu, không liên kết với nhau, thường grain bong vảy và có viền da ở xung quanh sẩn, nếu các sẩn có liên kết với nhau sẽ tạo thành các mảng, grain sẩn mảng, các sản ở kẽ da do bị cọ sát nhiều có thể bị trợt ra, chảy nước, trong nước này có chứa rất nhiều xoắn khuẩn nên rất dễ lây khi tiếp xúc với những bệnh nhân này. Sẩn mủ ít gặp hơn đào anathema và các loại sẩn trên, chủ yếu ở những người nghiện rượu, trông giống như viêm da mủ nông và sâu. Tại các khu vực ẩm ướt của cơ thể (thường là âm hộ hoặc bìu), phát anathema trở nên bằng phẳng, rộng, màu trắng, hoặc các thương tổn giống như mụn cóc.  Các triệu chứng khác thường gặp ở giai đoạn này bao gồm sốt, đau họng, mệt mỏi, sụt cân, đau đầu, nổi hạch. Một số trường hợp hiếm gặp có thể kèm theo viêm gan, thận, viêm khớp, viêm màng xương, viêm dây thần kinh thị giác, viêm màng bồ đào, và viêm giác mạc kẽ.  Các triệu chứng này thường tự biến mất sau 3-6 tuần

Giai đoạn tiềm ẩn

Giang mai tiềm ẩn được xác định khi có bằng chứng huyết thanh của bệnh nhưng không có dấu hiệu hoặc triệu chứng của bệnh. Giai đoạn này chia làm 2 loại: thời gian tiềm ẩn dưới 1 năm sau giai đoạn 2 (sớm) và thời gian tiềm ẩn kéo dài hơn 1 năm sau giai đoạn 2 (muộn). Giang mai tiềm ẩn sớm có thể tái phát các triệu chứng bệnh, giang mai tiềm ẩn muộn không có triệu chứng và không lây bằng giang mai tiềm ẩn sớm.

Giai đoạn 3

Giang mai giai đoạn 3 có thểxảy ra khoảng 3-15 năm sau những triệu chứng của giai đoạn 1 và được chia thành ba hình thức khác nhau: giang mai thần kinh (6,5%), giang mai tim mạch (10%) và củgiang mai (15%). Những người bịbệnh giang mai giai đoạn này không lây bệnh

Củ giang maixuất hiện từ 1-46 năm sau khi nhiễm bệnh (trung bình 15 năm), có hình cầu hoặc mặt phẳng không đối xứng, màu đỏ như mận, hơi ngả tím, kích thước bằng hạt ngô, mật độ chắc, ranh giới rõ ràng, các củ giang mai tiến triển không lành tính, nhất thiết hoại tử hoặc hoại tử teo hoặc tạo loét, rất chậm lành và ít lây hơn, sau khi khỏi thường để lại sẹo. Nếu củ, gôm khu trú vào các tổ chức quan trọng và không được điều trị sẽ đe doạ tính mạng bệnh nhân.
Giang mai thần kinhlà bệnh liên quan đến hệ thống thần kinh trung ương. Nó có thể xảy ra sớm: không có triệu chứng hoặc biểu hiện lâm sàng bằng viêm màng não, grain sự phân ly giữa biến đổi dịch não tủy đã rõ rệt và triệu chứng lâm sàng còn thô xơ. Hoặc xảy ra muộn: gây ra tổn thương ngoài viêm màng não, mạch máu não, còn tổn thương não khu trú hoặc tổn thương thoái hóa ở não. Giang mai thần kinh thường xảy ra 4-25 năm sau khi nhiễm bệnh. Bệnh có thể gây suy nhược trầm cảm, rối loạn ý thức từng thời kỳ, động kinh, đột quỵ grain gây ra ảo giác đối với người bệnh.
Giang mai tim mạchthường xảy ra 10-30 năm sau khi nhiễm bệnh. Các biến chứng thường gặp nhất là phình mạch.
III. ĐIỀU TRỊ BỆNH GIANG MAI:

Tuy là bệnh nguy hiểm nhưng có thuốc điều trị khỏi hẳn với hiệu quả cao, miễn là phải được phát hiện sớm và điều trị đúng chỉ dẫn của thầy thuốc.

Giai đoạn đầu

Lựa chọn đầu tiên cho việc điều trị các bệnh giang mai không biến chứng là một liều duy nhất penicillin G tiêm bắp. Doxycycline và tetracycline cũng là sự lựa chọn thay thế, tuy nhiên không thể sử dụng ở phụ nữ mang thai.. Ceftriaxone có thể có hiệu quả tương tự nhưđiều trị bằng penicillin

Giai đoạn biến chứng

Do penicillin G ít xâm nhập vào hệ thống thần kinh trung ương cho nên đối với những bệnh nhân giang mai thần kinh nên được tiêm penicillin liều cao vào tĩnh mạch tối thiểu là 10 ngày. Nếu bị dị ứng với penicilline thì có thể được sử dụng cetriaxone thay thế. Điều trị tại thời điểm này sẽ hạn chế sự tiến triển hơn nữa của bệnh, nhưng không thể cải thiện các thiệt hại do bệnh đã gây ra

Phản ứng Jarisch-Herxheimer

Một trong những tác dụng phụ của điều trị là phản ứng Jarisch-Herxheimer. Phản ứng phụ thường bắt đầu trong vòng một giờ sau khi tiêm thuốc và kéo dài trong 24 giờ với các triệu chứng sốt, đau cơ, nhức đầu, và nhịp tim nhanh.

Phòng ngừa bệnh giang mai:

Hiện negative vẫn chưa vác xin chủng ngừa có hiệu quả cho công tác phòng chống. Không nên quan hệ tình dục grain tiếp xúc vật lý trực tiếp với một người bị bệnh để tránh lây truyền bệnh giang mai, có thể sử dụng bao cao su đúng cách, tuy nhiên vẫn có thể không hoàn toàn an toàn. Giang mai không lây qua nhà vệ sinh, các hoạt động hàng ngày, bồn tắm, grain dụng cụ ăn uống hoặc quần áo.

Dịch tễ học

12 triệu người nhiễm giang mai vào năm 1999 với hơn 90% trường hợp ở các nước đang phát triển. Nó ảnh hưởng từ 700.000 và 1.600.000 thai phụ mỗi năm dẫn đến xẩy thai tự nhiên, thai chết lưu, và giang mai bẩm sinh. Trong vùng Sahara ở châu Phi, giang mai góp phần làm tử vong khoảng 20% trẻ sơsinh.

Trong thế giới phát triển, các ca nhiễm bệnh giang mai đã suy giảm cho đến năm 1980 và 1990 do sử dụng rộng rãi các thuốc kháng sinh. Từ năm 2000, tỷ lệ giang mai đã gia tăng tại Mỹ, Anh, Australia và châu Âu chủ yếu ở nam giới quan hệ tình dục với nam giới (đồng tính luyến ái) do thực hành tình dục không an toàn.

Tại Hoa Kỳ, nhân viên y tế báo cáo khoảng 32.000 người mắc bệnh giang mai trong năm 2002, phần lớn ở tuổi 20–39. Cao nhất ở nữ tuổi 20–24 và nam tuổi 35–39. Năm 2001 có 492 trẻ sơ sinh bị cha mẹ truyền bệnh giang mai, năm 2002 số này tụt xuống một chút – 412.
Theo Bantinsuckhoe.com ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?7069 Bệnh Lậu: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị <> Bệnh tình dục Tue, 31 Jan 2012 09:45:35 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7069
Vi khuẩn gây bệnh lậu không thể sống bên ngoài cơ thể quá vài phút, cũng như không thể sống trên bề mặt da của bàn tay, cánh tay, grain chân. Vì thế, bệnh lậu không lây qua những hình thức giao tiếp thông thường như bắt tay, ôm hôn … Vi khuẩn lậu thường được tìm thấy ở âm đạo và đặc biệt hơn nữa là ở cổ tử cung ở nữ và trong đường niệu đạo ở nam.

Lậu là một loại bệnh dễ lây lan và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời. Đối với phụ nữ mang thai, bệnh lậu không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và cơ quan sinh dục của mẹ mà thông qua tiếp xúc trực tiếp với lậu cầu thai nhi cũng gặp phải nhiều nguy hiểm.



Tiết dịch  mủ trắng ở âm đạo bệnh nhân lậu

I. NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH LẬU:

Tác nhân gây bệnh là strain cầu khuẩn lậu Neisseria gonorrhoeae. Lậu điển hình strain cầu khuẩn hình hạt cà phê bắt màu Gram âm, lèn chặt trong tế bào bạch cầu đa nhân TT thoái hóa. Lậu không điển hình vi khuẩn nằm rải rác trong và ngoài tế bào bạch cầu đa nhân TT, khi lậu cấp tính thường có hình ảnh rõ, khi lậu mạn thường phải nuôi cấy để chẩn đoán xác địnhTrong môi trường nuôi cấy, vi khuẩn lậu đa dạng, kích thước thay đổi và sắp xếp không điển hình, biến đổi theo điều kiện của môi trường nuôi cấy. Các môi trường nuôi cấy thường được sử dụng như Martin- Thayer, Martin- Lewis… điều kiện nuôi cấy 3-10% CO2,nhiệt độ 35-370, độ ẩm 70%, pH 7,3. (nuôi cấy trong môi trường thạch máu có CO2), dùng hình ảnh đại thể và phân lập trên môi trường đường để xác định vi khuẩn lậu.
Sức đề kháng vi khuẩn lậu kém, ra môi trường ngoài cơ thể và các thuốc sát trùng thông thường đều diệt được. Lậu cầu tồn tại rất ngắn ngoài cơ thể người (khoảng 5 phút), nhiệt độ lạnh và khô vi khuẩn lậu chết nhanh.- Cấu trúc màng lậu cầu:Cấu trúc màng phức tạp và đặc biệt cho từng type, kháng nguyên LPS là kháng nguyên ngoài màng nhưng có ý nghĩa trong chẩn đoán bệnh.- Pili: dạng T1 và T2, Pili giúp lậu cầu bám vào tế bào, giúp trao đổi vật liệu di truyền giữa các chủng pili.- Plasmid: có 3 dạng Loại 1: Plasmid 24,5 Md có khả năng hoạt hóa các plasmid khácLoại 2: Plasmid 2,6Md chưa rõ chức năng.Loại 3: Plasmid quy định sinh b-lactamase

Bệnh lậu lây truyền như thế nào?

Bệnh lậu có nguyên nhân là do vi khuẩn gây ra. Vi khuẩn gây bệnh lậu không thể sống bên ngoài cơ thể quá vài phút, cũng như không thể sống trên bề mặt da của bàn tay, cánh tay, grain chân. Vì thế bệnh lậu không lây qua những hình thức giao tiếp thông thường như bắt tay, ôm hôn … Vi khuẩn lậu thường được tìm thấy ở âm đạo và đặc biệt hơn nữa là ở cổ tử cung.

Lây qua đường tình dục chủ yếu do tiếp xúc sinh dục – sinh dục, hậu môn – sinh dục, miệng – sinh dục. Lây gián tiếp thì hiếm gặp (như qua dụng cụ khám bệnh có dây mủ lậu chưa được tiệt trùng kỹ)
Lây từ mẹ sang criminal (mẹ bị lậu không được phát hiện điều trị, trong cuộc đẻ criminal chui qua đường sinh dục bị dây mủ lậu bị lậu mắt)
+ Cơ chế bệnh sinh: sau khi quan hệ với bạn tình có bệnh, vi khuẩn lậu bám dính vào màng tế bào biểu mô trụ của đường tiết niệu sinh dục người lành, nên việc nhiễm bệnh xảy ra rất nhanh ngay sau khi quan hệ tình dục.
+ Tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn lậu: cho đến negative các kháng sinh sau đây còn có tác dụng (xếp theo giảm dần).
Ceftriaxone, Spectinomycine, Erythromycin, Ciprofloxacin.

II. TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH LẬU:

Ở nam giới.

+ Ủ bệnh: là 3 – 5 ngày sau khi quan hệ tình dục với người bị bệnh lậu (ở 90% trường hợp).
+ Lâm sàng: Sau khi phơi nhiễm với nguồn bệnh khoảng 2-10 ngày, khoảng 25% nam giới sẽ phát triển thành bệnh lậu. Trong đó, 85-90% sẽ có triệu chứng viêm niệu đạo (Urethritis) điển hình (đái buốt, đái khó và chảy nhiều mủ). 10-15% bệnh nhân viêm niệu đạo không điển hình hoặc không có triệu chứng gì; những bệnh nhân này thường không được điều trị dẫn tới tỷ lệ mắc bệnh lậu không điển hình hoặc không triệu chứng ở cộng đồng tăng tới 40% và đây là nguồn lan truyên bệnh trong cộng đồng.
- Viêm niệu đạo trước cấp tính: gặp trên 90% các trường hợp. Triệu chứng lâm sàng sớm nhất là có cảm giác ngứa nhiều hoặc ít ở miệng sáo, hố thuyền, các mép của miệng sáo trở nên tấy đỏ. Lậu cầu phát triển ở niêm mạc niệu đạo trước gây viêm xuất tiết. Chất nhầy chảy ra kèm theo cảm giác đái nóng, buốt nhẹ. Sau đó chảy mủ màu trắng đục hoặc vàng đục. Cảm giác nóng buốt tăng lên rõ, có khi đái rất buốt làm bệnh nhân phải đái từng giọt, thử nghiệm nước tiểu 2 cốc thì chỉ có cốc nước tiểu thứ nhất đục.
- Viêm niệu đạo toàn bộ: khi bệnh không được điều trị kịp thời và đầy đủ, sau 10- 15 ngày, bệnh nhân bị đái dắt, đái khó, có thể đái ra vài giọt máu cuối bãi, mủ chảy ra nhiều, hạch bẹn có thể sưng đau, grain bị cường dương và đau rát khi dương vật cương lên. Thử nghiệm nước tiểu 2 cốc thì cả 2 cốc đều đục.
-Sau 1 tháng nếu không điều trị sẽ trở thành lậu mạn tính khi đó các triệu chứng đái buốt đái dắt giảm,. chỉ có giọt nhầy mủ lúc sáng sớm chưa đi tiểu gọi là dấu hiệu giọt anathema mai.
- Mặc dầu đã được điều trị đúng một số trường hợp bệnh vẫn có thể chuyển thành bán cấp với các tổn thương sau:
. Viêm các tuyến khu trú cạnh giây hãm ở rãnh qui đầu.
. Viêm các ống và các tuyến khu trú cạnh miệng sáo.
. Viêm các tuyến Littre.
. Viêm tuyến Cowper.
+ Biến chứng xa hơn:
- Viêm ống dẫn tinh và mào tinh hoàn(Epididymitis).
- Viêm túi tinh(Seminal vesiculitis) và ống phóng tinh.
- Viêm dưới niêm mạc niệu đạo gây nhiều túi mủ xung quanh niệu đạo, ít khi vỡ ra ngoài. -viêm tuyến tiền liệt (Prostatitis)-Viêm bàng quang (cystitis).-Viêm trực tràng (Proctitis, biểu hiện dâu, ngứa hoặc cảm giác buốt mót, có mủ)-viêm hầu họng (Pharyngitis)-viêm kết mạc (Conjunctivitis, do tiếp xúc với tay hoặc các vật dụng có vi khuẩn).
-Hẹp niệu đạo (Urethral stricture): hiện nay, trong kỷ nguyên của kháng sinh thì biến chứng này ít gặp. Gặp sau khi bị viêm tuyến tiền liệt và viêm bàng quang. Biểu hiện là sự giảm sút và bất thường của dòng nước tiểu.
Ở nữ giới.

+ Ủ bệnh: thường từ 2 tuần trở lên.
+ Lâm sàng:
- Rất hiếm khi có triệu chứng lâm sàng cấp tính. Biểu hiện lâm sàng bằng đái dắt, đau sau khi giao hợp, đau vùng xương chậu. Khám thấy viêm niệu đạo, viêm cổ tử cung có mủ, viêm âm hộ, âm đạo, có khi viêm tuyến Bartholin, viêm niệu đạo và tuyến Skène.
- Đa số các trường hợp bệnh bắt đầu bằng viêm niệu đạo kín đáo. Bệnh nhân đái khó, có cảm giác nóng grain rát khi đi tiểu, lỗ niệu đạo bình thường, ấn vào niệu đạo có mủ chảy ra (khám sau khi đi tiểu ít nhất 3 giờ).
- Viêm cổ tử cung: (Cervicitis) là biểu hiện thường gặp nhất, biểu hiện bằng ra khí hư, lỗ cổ tử cung có thể đỏ, trợt phù, lộ tuyến.
- Viêm phần phụ (vòi trứng): viêm lan từ âm đạo, cổ tử cung lên. Hiếm khi theo đường máu. Ít gặp hơn là Viêm kết mạc (conjunctivitis), viêm trực tràng (Proctitis), viêm hầu họng (Pharyngitis).
Bệnh viêm tiểu khung (Pelvic inflammatory illness – PID): đau vùng hố chậu hoặc hạ vị gợi ý nhiễm trùng lên tới tử cung, vòi trứng, buồng trứng, phúc mạc. Đau ở giữa, một bên hoặc hai bên; sốt, buồn nôn, nôn. Có thể dẫn tới các biến chứng như chửa ngoài tử cung hoặc vô sinh.
Hội chứng Fitz-Hugh-Curtis (viêm quanh gan)
Nhiễm khuẩn lậu lan tỏa (Disseminated Gonococcal Infection – DGI).

Bệnh lậu tiến triển như thế nào?

Bệnh lậu tiến triển chậm, âm ỉ, thỉnh thoảng có các đợt cấp thì mới có biểu hiện như trên đã mô tả. Các biểu hiện có thể tự mất đi mà không cần điều trị gì, sau một thời gian lại tái diễn. Trong thời gian bệnh không có biểu hiện vẫn có thể lây bệnh cho bạn tình.

III. BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH LẬU:

+ Viêm hậu môn – trực tràng do lậu do giao hợp đường hậu môn. Hậu môn – trực tràng đau và tiết dịch mủ.
+ Viêm họng do lậu: quan hệ đồng giới.
+ Viêm khớp do lậu (xảy ra đồng thời với lậu cấp ở đường sinh dục).
Biểu hiện ở da vùng sinh dục: có những túi mủ, mụn mủ khu trú gần bộ phận sinh dục.
Phản ứng toàn thân có thể có dát đỏ, anathema mề đay hoặc hồng anathema đa dạng do phản ứng quá cảm ứng của cơ thể với strain cầu lậu.
+ Viêm quanh gan hoặc hội chứng Fitr- Hugh và Curtis.
+ Biến chứng ở tim: viêm nội tâm mạc do lậu cầu khuẩn.
+ Lậu mắt: viêm kết mạc có mủ ở trẻ sơ sinh do lậu (vi khuẩn được truyền sang trẻ sơ sinh trong khi sinh đẻ). Có thể có biến chứng loét giác mạc, thủng giác mạc.

Biến chứng của bệnh lậu chủ yếu là vô sinh, chửa ngoài tử cung, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, tăng nguy cơ nhiễm HIV/AIDS….

IV. MỘT SỐ DẠNG BỆNH LẬU:

. Lậu mắt trẻ sơ sinh:Trẻ sơ sinh bị viêm kết mạc hai bên, ở những bà mẹ bị bệnh đẻ bằng đường dưới. Viêm kết mạc mắt trẻ sơ sinh do lậu xuất hiện sau sinh 3 ngày. Triệu chúng: mắt đỏ, sưng, đau và tiết dịch.
Thường xuất hiện cả hai mắt, mi mắt trẻ biến dạng, phù nề, dính vào nhau, tiết nhiều mủ vàng xanh, kết mạc đỏ cương tụ và xuất huyết.Nếu không được điều trị có thể gây biến chứng loét thủng kết mạc, giác mạc có thể dẫn đến mù.

Viêm họng do lậu:Do quan hệ tình dục lạc chỗ, trên 80% trường hợp không có triệu chứng rõ rệt. Triệu chứng đau họng, khám họng viêm đỏ, viêm mủ amygdales, một số trường hợp có sốt, rét run.Một số ít có hạt trắng dưới niêm mạc amygdales Một số trường hợp có mủ, loét nông niêm mạc họng, anathema đầu ít sau tiết dịch nhiều, loét đến bờ bên lưỡi.

Viêm hậu môn- trực tràng do lậu:Gặp ở người quan hệ đồng giới grain khác giới, có khi tự lây truyền.Triệu chứng lâm sàng im lặng nhưng dễ lây.Thể bán cấp: có ít triệu chứng cơ năng, có thể có cảm giác ngứa và khó chịu ở hậu môn, tiết dịch hậu môn có khi có máu. Soi trực tràng thấy mủ thành đảo hoặc thành sợi trên niêm mạc trực tràng đỏ đều. Hậu môn viêm rõ, niêm mạc đỏ cương tụ giống trĩ.Thể cấp tính: đau, cảm giác nặng nóng rát ở hậu môn. Đau tăng lên khi ngồi lâu, đi nhiều grain đi đại tiện kèm theo cảm giác mót rặn và mủ vàng xanh ở hậu môn. Hậu môn cương tụ, các nếp gấp sưng to, có mủ trong các vết nứt loét.

Nhiễm trùng huyết do lậu (lậu lan tỏa):(Disseminated gonococcal infection – DGI):Xuất phát từ ổ nhiễm khuẩn tiên phát từ sinh dục, kết mạc họng, trực tràng, kết mạc, da. Những thể lâm sàng không triệu chứng, không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Đối với phụ nữ có thai thường xảy ra 3 tháng cuối của thai kỳ gặp ở 1-3% bệnh nhân lậu, chủ yếu ở phụ nữ, biểu hiện chủ yếu ở da và khớp.
+ Sốt: thường dưới 39oC.
+ Da: sẩn, mụn nước, mụn mủ, dát hoại tử. Ngoài ra, còn có thể có những tổn thương xuất huyêt, hồng anathema nút, mày đay và hồng anathema đa dạng. Vị trí: grain gặp ở thân mình, chi, lòng bàn tay, bàn chân; thường không có ở: mặt, đầu, và niêm mạc miệng.
+ Khớp: hầu hết các bệnh nhân có viêm đa khớp.
+ Viêm bao hoạt dịch gân (Tenosynovitis).
+ Thần kinh: viêm màng não.
+ Tim mạch: viêm nội tâm mạc.
+ Cơ: áp xe cơ.

Viêm khớp do lậu:Có thể trực tiếp do lậu cầu vào khớp theo đường máu hoặc độc tố lậu cầu gâyphản ứngtại khớp. Có thể 1 grain nhiều khớp, khớp sưng nóng – đỏ- đau. Toàn thân sốt cao, rét run.

Viêm quanh gan(hội chứng Fitz- Hugh – Curtis).Gặp ở phụ nữnhiễm khuẩn từ dưới lan lên vòi trứng, rồi đến rãnh giữa thành bụng và kết tràng lan đến vùng gan. Ở nam giới, vi khuẩn theo đường máu qua hạch bạch huyết sau màng bụng.

Biến chứng ở tim:Viêm nội tâm mạc do lậu có thể gây ra sau viêm niệu đạo kéo dài. Có trường hợp nhiễm khuẩn huyết do lậu xuất hiện viêm cầu thận , viêm nội tâm mạc, thương tổn outpost tim, suy tim.

V. CHUẨN ĐOÁN BỆNH LẬU:

Chẩn đoán lâm sàng dựa vào.
- Tiền sử: hỏi bệnh, hoàn cảnh mắc bệnh, thời gian mắc bệnh.
-Thăm khám lâm sàng:
- Nam giới: hội chứng viêm niệu đạo cấp, mạn và tiết dịch niệu đạo.
- Nữ giới: hội chứng đau bụng dưới và ra khí hư.

Chẩn đoán xét nghiệm:
- Phương pháp xét nghiệm trực tiếp: nhuộm bệnh phẩm, soi thấy vi khuẩn lậu bắt màu gram (-) nằm trong và ngoài bạch cầu đa nhân.
- Phương pháp nuôi cấy, phân lập:
Môi trường thích hợp nhất là môi C, CO2 3%-°trường chọn lọc Thayer- martin hoặc thạch sôcola, nhiệt độ 35- 36 10%. Xác định sự có mặt các khuẩn lạc nghi ngờ lậu từ 24 giờ đến 48 giờ.

Chẩn đoán phân biệt Chẩn đoán phân biệt :

+ Với các viêm niệu đạo không phải do vi khuẩn lậu .

- Do nấm Candida.

- Do ký sinh trùng Trichomonat.

- Do tụ cầu, liên cầu.Cần xác định bằng lâm sàng và xét nghiệm tìm căn nguyên.+

Lưu ý phát hiện các bệnh LTQĐTD khác như giang mai, nhiễm HIV/AIDS, xét nghiệm kiểm tra để loại trừ.

Nữ:
Viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis: nhiều khí hư mùi hôi, có bọt; đôi khi có viêm niệu đạo. Soi với nước muối sinh lý dưới kính hiển vi để xác định chẩn đoán.
Viêm âm đạo do Candida albicans: khí hư dạng kem hoặc vón cục, ngứa.
Viêm âm đạo vi khuẩn.
Nam:chẩn đoán phân biệt với viêm niệu đạo không do lậu (nongonococcal urethritis – NGU) grain còn gọi là viêm niệu đạo sau lậu (postgonococcal urethritis – PGU).
Đây là viêm niệu đạo với biểu hiện đái khó, tiết dịch niệu đạo và xét nghiệm không có vi khuẩn lậu. So với viêm niệu đạo do lậu thì NGU có thời gian ủ bệnh dài hơn, ít cấp tính hơn, tiết dịch ít hơn. Các tác nhân gây bệnh NGU thường là đồng tác nhân gây viêm niệu đạo cùng với vi khuẩn lậu; sau một đợt kháng sinh điều trị lậu vẫn còn biểu hiện viêm niệu đạo, nên người ta còn gọi là viêm niệu đạo sau lậu. Từ năm 1970, người ta đã xác định được ít nhất 2 tác nhân gây NGU là C. trachomatis và Ureaplasma urealyticum

VI. ĐIỀU TRỊ BỆNH LẬU:

Nguyên tắc chung.
+ Điều trị theo phác đồ qui định trên cơ sở dựa vào tính nhạy cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn địa phương.
+ Điều trị cả vợ chồng và bạn tình của bệnh nhân.
+ Bệnh nhân cần phải nghỉ ngơi, tránh đi xe đạp, đi ngựa, chạy nhảy gây sang chấn bộ phận sinh dục – tiết niệu.
+ Kết hợp điều trị các nhiễm khuẩn sau lậu (C. trachomatis, liên cầu, tạp khuẩn…).
+ Định kỳ khám lâm sàng và xét nghiệm lại.

Điều trị theo phác đồ

Người lớn:
Lậu niệu đạo, cổ tử cung không biến chứng; viêm mào tinh hoàn
Một trong những thuốc sau: Rocephine tiêm bắp. Cefixime uống. Spectinomycin (Trobicin) tiêm bắp. Điều trị tác nhân gây bệnh kết hợp: Doxycyclin .

Lậu miệng họng
Ceftriaxon 250mg tiêm bắp.
Spectinomycin hiệu quả kém.
Điều trị tác nhân gây bệnh kết hợp: Doxycyclin .

Viêm kết mạc
Ceftriaxon 1g, tiêm bắp, liều duy nhất
Nhiễm khuẩn lậu lan tỏa:điều trị nội trú, chọn một trong các thuốc sau:
Ceftriaxon 1g tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 24giờ/lần.
Cefotaxim 1g tiêm tĩnh mạch 8giờ/lần.
Ceftizoxim 1g tiêm tĩnh mạch 8giờ/lần.
Spectinomycin 2g tiêm bắp 12giờ/lần.
Các phương pháp điều trị phải tiếp tục 24-48h sau khi bệnh cải thiện. Sau đó chuyển sang 1 trong các kháng sinh sau ít nhất 1 tuần:
Cefixim 400mg, uống 2lần/ngày.
Cefpodoxim 400mg uống 2lần/ngày.
Viêm màng não và viêm nội tâm mạc do lậu
Ceftriaxon 1–2g, tiêm tĩnh mạch 12giờ một lần.
6.2.2.Trẻ sơ sinh:
Lậu mắt
Ceftriaxon 25–50mg/kg tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, liều duy nhất, tổng liều không quá 125mg
Nhiễm khuẩn lậu lan tỏa và áp xe da đầu do lậu
Ceftriaxone 25–50 mg/kg/ngày, tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 1lần trong ngày trong 7ngày; 10-14ngày nếu viêm màng não.
Hoặc
Cefotaxim 25 mg/kg, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp 12giờ một lần trong 7ngày, 10–14ngày nếu viêm màng não.
Điều trị dự phòng lậu mắt ở TSS:tra một lần một trong các thuốc tra mắt sau:
Mỡ tra mắt Erythromycin 0.5%.
Mỡ tra mắt Tetracyclin 1%.
Trẻ em
Trẻ em 45kg:điều trị như người lớn.
Trẻ em ≤45kg bị lậu không biến chứng(viêm âm hộ âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm niệu đạo, viêm họng, viêm trức tràng do lậu)
Ceftriaxon 125mg, tiêm bắp liều duy nhất
Hoặc Spectinomycin40mg/kg tiêm bắp, liều duy nhất.

Trẻ em 45kg có nhiễm khuẩn huyết hoặc viêm khớp
Ceftriaxon 50 mg/kg (liều lớn nhất 1g) tiêm bắp hoặc tĩnh mạch, một lần trong 1ngày trong vòng 7ngày.Phối hợp với một trong các loại thuốc sau để điều trị đồng thời nhiễm Chlamydia trachomatis, rất thường gặp cùng với bệnh lậu. Doxycyclin,Tetraxyclin, Erythromycin, Clarythromycin, Azithromycin (zithromax) (Không dùng doxycyclin và tetracyclin cho phụ nữ có thai và cho criminal bú, và trẻ dưới 7 tuổi)

PHÒNG BỆNH LẬU:

+ Chưa có vacxin phòng bệnh đặc hiệu.
+ Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục để hạn chế lây bệnh lậu
+ Giáo dục, thông tin về các bệnh STD, tình dục an toàn.
+ Khi có các biểu hiện nghi ngờ bị viêm niệu đạo phải đi khám bệnh ngay.
+ Không mặc chung đồ lót, dung chung khăn tắm với người khác.
+ Nếu bạn đã bị nhiễm lậu, hãy tránh quan hệ tình dục trước khi được điều trị bằng kháng sinh và quá trình điều trị chấm dứt. Bạn vẫn có thể tiếp tục bị nhiễm lậu trở lại, vì vi khuẩn lậu không gây được đáp ứng miễn dịch vĩnh viễn.

ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH LẬU:

Ảnh hưởng tới sức khỏe của mẹ

Sau khi lậu cầu xâm nhập vào cơ thể thông qua niệu đạo, vi khuẩn có khuynh hướng ưa thích tế bào mô bì trụ ở niệu mạc đường tiết niệu, đưa đến phản ứng viêm tại chỗ, kéo theo bạch cầu đa nhiễm đến để thực bào. Từ đó trở thành tổ chức hoại tử trong quá trình viêm và được thoát ra ngoài theo nước tiểu. Nếu đi tiểu thấy màu trắng hơi vàng gọi là tiểu ra mủ. Vi khuẩn tiếp tục phát triển và đi dọc theo chiều dài của niệu đạo, đi đến đâu gây viêm đến đó, gây viêm tiền liệt tuyến, viêm túi tinh, viêm tinh hoàn ở nam giới; viêm ống dẫn trứng, buồng trứng ở nữ giới và là nguyên nhân gây vô sinh. Thai phụ mắc bệnh lậu cũng tăng khả năng bị mắc thêm chứng nhiễm trùng đường tiểu.

Nếu mắc bệnh do quan hệ tình dục qua đường miệng sẽ gây đau họng, nuốt đau và sưng đỏ vòm họng, amidan. Nếu vi khuẩn lan truyền vào mắt do tiếp xúc, mắt có thể bị viêm, đau, sưng đỏ…và lậu mắt có thể gây mù.

Nếu quan hệ đường hậu môn, thai phụ sẽ cảm thấy bị đau, ngứa ngáy hậu môn mỗi lần đi tiêu.

Ảnh hưởng tới sức khỏe thai nhi

Nhóm thai phụ mắc bệnh lậu có nguy cơ cao về sảy thai, nhiễm trùng ối hoặc chuyển dạ sớm. Trong quá trình chuyển dạ, nếu mẹ mắc bệnh lậu thì vi khuẩn của bệnh có thể truyền sang cho bé. Bệnh lậu sẽ ảnh hưởng đến mắt của bé sơ sinh, nếu không được điều trị, bé có thể bị mù. Ngoài ra, bệnh lậu từ mẹ có thể ảnh hưởng đến các phần khác trên cơ thể bé như nhiễm trùng máu, nhiễm trùng khớp gối và chứng viêm màng não.



Biến chứng ở mắt trẻ bị nhiễm bệnh lậu

Mối nguy nếu bệnh lậu không được điều trị

Nếu không được chữa trị, vi khuẩn lậu sẽ tấn công vào tử cung, ống dẫn trứng, gây nên các chứng bệnh thuộc khung xương chậu. Triệu chứng điển hình là đau bụng dưới, đau lưng, đau khi quan hệ; ra máu âm đạo, sốt và nôn. Trường hợp mắc bệnh lậu ngoài giai đoạn có thai, vi khuẩn lậu sẽ đe dọa ống dẫn trứng, dẫn tới những cơn đau khung xương chậu, giảm khả năng sinh sản. Một số trường hợp, bệnh còn dẫn tới nguy cơ mang thai ngoài tử cung (sau này, khi bạn có thai).

Trường hợp hiếm, vi khuẩn lậu sẽ di chuyển vào mạch máu. Triệu chứng điển hình khi đó là sốt, ớn lạnh, đau da, đau háng. Cũng có khi, bệnh lậu sẽ ảnh hưởng đến chức năng gan, tim, gây nên hiện tượng viêm màng não. Điều trị lậu trong thai kỳ.

Khi có quan hệ tình dục với người mắc bệnh lậu hoặc có những tiếp xúc với các vật dụng có nhiễm cầu lậu trong quá trình mang thai (như dùng chung khăn tắm với người mắc bệnh lậu), bạn nên sớm đến gặp bác sĩ chuyên khoa để khám chữa, vì đây là bệnh rất nguy hiểm ở phụ nữ và đặc biệt là với phụ nữ có thai. Nếu bạn để đến lúc thai được 6 tháng, thời gian lâu như vậy sợ bệnh sẽ ngày một trở nên nặng, gây nguy hiểm đến thai nhi, và cũng khó điều trị khỏi sớm.

Lậu có thể được bác sĩ chỉ định điều trị bằng kháng sinh – loại an toàn dành cho bà bầu. Nếu thai phụ vừa mắc lậu, vừa mắc kèm theo một bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, như chứng bệnh Chlamydia thì bác sĩ sẽ điều trị đồng thời 2 bệnh. Phụ nữ mang thai bị bệnh lậu không nên đi nạo thai. Vì vết thương do nạo thai để lại sẽ tạo điều kiện và cơ hội để khuẩn cầu đôi gây bệnh lậu xâm nhập vào cổ tử cung, từ đó gây viêm nhiễm khoang chậu và cơ quan nội tạng, thậm chí dẫn đến vô sinh. Cần thăm khám ở bác sĩ thường xuyên sau khi được điều trị bằng kháng sinh để đảm bảo rằng vi khuẩn lậu đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Phòng tránh bệnh lậu trong thai kỳ. Dù có được khám và điều trị kịp thời thì bệnh lậu cũng ít nhiều ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và bé trong thai kỳ, vì vậy phòng bệnh vẫn là cách tốt nhất.
Theo Bantinsuckhoe.com ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?7068 Bệnh hôi nách và một số cách chữa trị <> Bệnh hôi nách Tue, 31 Jan 2012 09:32:58 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7068


Nam hay nữ đều có thể hôi nách, nhưng ở nữ có tỷ lệ cao hơn.

Nguyên nhân:

Cơ thể người có hai loại tuyến mồ hôi. Tuyến mồ hôi thường (khoảng 2-3 triệu) phân phối khắp bề mặt da và nhiều nhất là lòng bàn tay bàn chân, da đầu và quanh bụng, lưng…, có chức năng điều tiết nhiệt cơ thể. Còn tuyến mồ hôi lớn (hay tuyến mồ hôi nhầy) có ở nách, vùng sinh dục, chỉ bắt đầu phát triển từ tuổi dậy thì, hoạt động trong độ tuổi sinh dục và giảm hoạt động khi nhiều tuổi. Mồ hôi nhày ngoài thành phần giống như mồ hôi thường còn có thêm glycogen, cholesterol…

Nhiều nhà y học cho rằng hôi nách xuất hiện do sự cấu tạo đặc biệt nào đó của thành phần mồ hôi và chất bã nhờn với quá nhiều hợp chất amoniac, axit béo có trọng lượng phân tử thấp… Vi khuẩn hoặc nấm làm phân hủy tổ chức đã bị ngấm mồ hôi tạo nên một tổ hợp mùi khó chịu ở nách.

Điều trị:

Để khắc phục hôi nách, có thể uống thuốc chlorophyl, mỗi lần 1-2 viên (50 mg/viên) ngày 3 lần, cách nhau 8 giờ. Mỗi đợt dùng thuốc 30 ngày, nghỉ một tuần, nếu vẫn còn mùi hôi thì dùng tiếp đợt nữa. Thuốc không độc, không có tác dụng phụ.

Có thể dùng thuốc đặc trị hôi nách như Dr Paul, Deodorant dạng phun hơi, sáp hay bi lăn. Công thức của chúng gồm chất diệt vi khuẩn, chất làm giảm tiết mồ hôi nách (muối nhôm, axit tanic) và các chất bắt giữ mùi hôi. Các chất này tác dụng với các chất có mùi hôi ở nách, tạo thành một hợp chất không có mùi hôi… Phun xịt, hoặc lăn vào nách mỗi ngày 2 lần, khi bớt thì dùng duy trì 1 lần/ngày.

Dùng bột hoạt thạch nghiền thành bột mịn, rửa nách rồi bôi bột đó lên, ngày 1-2 lần, sau vài ngày sẽ bớt hôi nách.

Dùng dung dịch formalin 2-3% hoặc dung dịch tannin 2-5% bôi lên nách, có thể ức chế tiết mồ hôi và trừ mùi hôi khét.

Cũng có thể dùng phẫu thuật chữa hôi nách cho những người bị hôi nách nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động giao tế và sinh hoạt gia đình.

Cũng có thể áp dụng kinh nghiệm dân gian: Sau khi tắm rửa sạch sẽ, dùng phèn chua phi lên tán thành bột, mỗi tuần xát 3-4 lần vào nách, mồ hôi ở nách ra gặp phèn chua mùi hôi bị khử đi. Hoặc tắm xong, lấy cục phèn chua to (bằng quả quýt) xát vào nách, bảo đảm trong 2-3 ngày mùi hôi nách không tỏa ra. Sắp vào nhà ai, nếu mồ hôi đang đầm đìa, hãy lấy ngay cục phèn chua xát vào nách sẽ hết mùi hôi.

BS Vũ Hướng Văn, Sức Khỏe & Đời Sống ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?7067 Bài thuốc chữa viêm gan mạn <> Bệnh Gan- Viêm gan Tue, 31 Jan 2012 03:31:17 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7067
Nguyên nhân theo y học cổ truyền  là do công năng của tỳ vị, can bị rối loạn, ảnh hưởng tới âm huyết hoặc tân dịch, từ đó ảnh hưởng tới sự hoạt động của cơ thể. Sau đây xin giới thiệu một số bài thuốc điều trị theo từng thể bệnh:
Thể can nhiệt tỳ thấp: viêm gan có vàng da kéo dài (Đông y gọi là âm hoàng). Người bệnh thường thấy đắng miệng không muốn ăn, bụng đầy trướng, ngực sườn đầy tức, miệng khô nhợt, đau nóng ở vùng gan, da sạm tối. Tiểu tiện ít, vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền. Phép chữa là thanh nhiệt lợi thấp, thoái hoàng, kiện tỳ trừ thấp. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: nhân trần 20g, chi tử 12g, uất kim 8g, ngưu tất 8g, đinh lăng 12g, hoài sơn 12g, ý dĩ 16g, biển đậu 12g, rễ cỏ tranh 12g, sa tiền tử 12g, ngũ gia bì 12g. Sắc uống ngày 1 thang.


Bài 2:

Nhân trần ngũ linh tán gia giảm: nhân trần 20g, bạch truật 12g, sa tiền, đẳng sâm 16g, phục linh 12g, trư linh 8g, trạch tả 12g, ý dĩ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Hoàng cầm hoạt thạch thang gia giảm: hoàng cầm 12g, hoạt thạch 12g, đại phúc bì 12g, phục linh 8g, trư linh 8g, bạch đậu khấu 8g, kim ngân 16g, mộc thông 12g, nhân trần 20g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể can uất tỳ hư, khí trệ: Hay gặp ở viêm gan mạn do viêm gan siêu vi. Người bệnh có biểu hiện mạng sườn phải đau, ngực sườn đau tức, miệng đắng, ăn kém, người mệt mỏi, đại tiện phân nát, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền. Phép chữa là sơ can kiện tỳ lý khí. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: rau má 12g, mướp đắng 12g, thanh bì 8g, chỉ thực 8g, uất kim 8g, hậu phác 8g, ý dĩ 16g, hoài sơn 16g, biển đậu 12g, đinh lăng 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Sài hồ sơ can thang gia giảm: sài hồ 12g, bạch thược 8g, chỉ thực 6g, xuyên khung 8g, hậu phác 6g, cam thảo 6g, đương quy 6g, đại táo 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Sài thược lục quân thang: bạch truật 12g, đẳng sâm 12g, phục linh 8g, cam thảo 6g, trần bì 6g, bán hạ 6g, sài hồ 12g, bạch thược 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4: Tiêu dao tán gia giảm: sài hồ 12g, bạch thược 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, bạch linh 12g, cam thảo 4g, gừng sống 2g, uất kim 4g. Sắc uống ngày 1 thang.


Mạch môn là vị thuốc trị viêm gan mạn thể can âm bị thương tổn.
Thể can âm bị thương tổn:

Người bệnh có biểu hiện đầu choáng, hồi hộp, ngủ ít, hay mê, lòng bàn tay bàn chân nóng, chất lưỡi đỏ, táo bón, nước tiểu vàng, mạch huyền sác. Phép chữa là tư âm dưỡng can. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: sa sâm 12g, mạch môn 12g, thục địa 12g, thiên môn 8g, kỷ tử 12g, huyết dụ 16g, hoài sơn 16g, ý dĩ 16g, hà thủ ô 12g, tang thầm 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Nhất quán tiễn gia giảm: sa sâm 12g, sinh địa 12g, nữ trinh tử 12g, mạch môn 12g, bạch thược 12g, kỷ tử 12g, hà thủ ô 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

- Nếu mất ngủ gia toan táo nhân 10g; sốt hâm hấp gia địa cốt bì 12g, thanh hao 8g.

Thể khí trệ huyết ứ: Hay gặp ở thể viêm gan mạn có kèm theo hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch chủ. Người bệnh có biểu hiện sắc mặt tối sạm, môi thâm, lưỡi tím, lách to, người gầy, ăn kém, tuần hoàn bàng hệ ở bụng, đại tiện phân nát, nước tiểu vàng ít, chất lưỡi đỏ hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi vàng dính, mạch huyền sác. Phép chữa la sơ can lý khí hoạt huyết. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: kê huyết đằng 12g, cỏ nhọ nồi 12g, uất kim 8g, tam lăng 8g, nga truật 8g, chỉ xác 8g, sinh địa 12g, mẫu lệ 16g, quy bản 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Tứ vật đào hồng gia giảm:  bạch thược 12g, đương quy 8g, xuyên khung 12g, đan sâm 12g, hồng hoa 8g, đào nhân 8g, diên hồ sách 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu lách to gia tam lăng 12g, nga truật 12g, mẫu lệ 20g, mai ba ba 20g.      

Lương y Thái Hòe
Theo SKĐS ]]>
http://www.khamchuabenh.com/read.php?7066 Cải bó xôi tốt cho người tăng huyết áp <> Bệnh cao huyết áp Tue, 31 Jan 2012 03:21:41 +0000 http://www.khamchuabenh.com/read.php?7066
Cải bó xôi
Một số cách dùng cải bó xôi chữa tăng huyết áp:
Bài 1: Cải bó xôi 300g, gừng tươi 15g, hành 10g, xì dầu 10g, dầu vừng 10g, muối 6g, tỏi 5g. Tỏi, gừng giã nhuyễn vắt lấy nước, hành tỉa hoa, cải bó xôi rửa sạch, nhúng nước sôi vắt ráo. Cho tất cả vào trộn đều. Ngày ăn 2 lần với cơm. Công dụng: Bổ âm nhuận phế, hạ huyết áp, dưỡng huyết, chỉ huyết.

Bài 2: Cải bó xôi, sứa biển lượng tùy ý, dầu vừng, muối, gia vị một ít. Cải bó xôi rửa sạch nhúng vào nước sôi 2-3 phút rồi vớt ra. Sứa biển rửa sạch thái nhỏ nhúng qua nước sôi. Cả hai thứ cho vào bát, cho thêm dầu vừng, ít muối, gia vị trộn đều ăn. Công dụng: chữa huyết áp cao gây đỏ mặt (bốc hỏa), nhức đầu.

Bài 3: Cải bó xôi 250g, rau cần 250g, dầu vừng, gia vị vừa đủ. Cải bó xôi rửa sạch bỏ rễ, thái khúc nhúng vào nước sôi khoảng 2-3 phút rồi vớt ra, cho vào bát, thêm dầu vừng, gia vị vào trộn đều, ăn với cơm hoặc để nấu cháo. Công dụng: hạ huyết áp.

Bài 4: Cải bó xôi 300g, mực tươi 300g, tỏi 20g, xì dầu 10g, dầu 50g, hành 10g, muối 5g. Cải bó xôi rửa sạch cắt đoạn 5cm, mực tươi làm sạch cắt khúc 4cm. Đổ dầu vào chảo, phi thơm hành tỏi cho mực vào xào sơ rồi cho rau và các gia vị vào xào chín. Ngày ăn 1 lần với cơm. Công dụng: Bổ âm dưỡng huyết, chữa tăng huyết áp

BS. Phó Đức Thuần
Theo SKĐS ]]>